Mục đích nghiên cứu Qua nghiên cứu, đánh giá về thực trạng công tác tổ chức KTQT chi phí tạicông ty Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Thọ Quang, cùng với việc tìm hiểu nhu cầuthông tin chi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng các` chiến lược sản xuất kinh doanh, điều
vô cùng quan trọng mà không một doanh nghiệp nào được phép bỏ qua là phải tínhđến việc các chi phí sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào, đồng vốn bỏ ra hiệuquả đến đâu, có đem lại lợi nhuận và hiệu quả như mong muốn ban đầu hay không.Tri thức quản lý chi phí là một yếu tố thiết yếu trong đầu tư và kinh doanh, nếukhông có kiến thức cơ bản về quản lý chi phí, thì nhà quản lý không thể nào nhậnbiết được tình hình thực tế của những dự án đầu tư, các kế hoạch kinh doanh cũngnhư thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
Hiện nay, chế biến thủy sản là một trong những ngành đang được Nhà nướcquan tâm hỗ trợ nhằm phát triển chương trình kinh tế biển, khai thác lợi thế về biểncủa Việt Nam Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, một trong những thách thức lớnđối với doanh nghiệp chế biến thủy sản là tiếp tục duy trì vị trí cạnh tranh ngay tạithị trường nội địa và mở rộng thị trường xuất khẩu Trong bối cảnh đó, các doanhnghiệp này sẽ phải tìm cho mình một lợi thế cạnh tranh nhất định trong cuộc chơimới này Một trong những giải pháp mà doanh nghiệp chế biến thủy sản cần phảitính đến, đó chính là việc quản lý và tiết kiệm chi phí ngày càng hiệu quả hơn đểsản phẩm chế biến của mình ngày càng có chất lượng và giá cả phù hợp hơn vớikhách hàng
Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang, một đơn vị thành viêncủa Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung, cũng là một doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản Để phát huy lợi thế so sánh vànâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, yêu cầu đặt ra cho Công ty là phải kiểmsoát chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của thị trường Đểthực hiện được yêu cầu này, Công ty cần tổ chức hệ thống thông tin nội bộ hoànchỉnh để cung cấp thông tin cho lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng quản lý Quatìm hiểu thực tế tại Công ty thì việc triển khai ứng dụng KTQT chi phí vào hoạt
Trang 2động quản lý chưa được quan tâm một cách đúng mức Như vậy, nhằm đáp ứng nhucầu thông tin có chất lượng cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ sử dụng cho các cấp
quản trị tại Công ty, vấn đề Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty chế biến
và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung thực sự là rất cấp thiết cần được sớm nghiên cứu và đưa vào thực hiện.
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu, đánh giá về thực trạng công tác tổ chức KTQT chi phí tạicông ty Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Thọ Quang, cùng với việc tìm hiểu nhu cầuthông tin chi phí đầu vào của các cấp quản lý tại Công ty, mục đích nghiên cứu củaluận văn chính là xác lập lại quy trình và nội dung hoàn thiện công tác tổ chứcKTQT chi phí, sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và đáp ứngđược nhu cầu thông tin chi phí phục vụ cho từng chức năng quản trị của các cấpquản lý tại công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí tại công ty chếbiến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủysản Miền Trung
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề có liên quan đến việc tổchức, xây dựng hệ thống thông tin chi phí phục vụ cho quản lý tại công ty chế biến
và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang, một đơn vị thành viên của công ty Cổ phần Xuấtnhập khẩu thủy sản Miền Trung
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện theo hướng nghiên cứu khám phá, mô tả từ đóphân tích nhằm chỉ ra những mặt làm được, những mặt còn hạn chế trong công tácxây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí, với vai trò là công cụ quản lýtại Công ty chế biến và xuất khẩu Thủy sản Thọ Quang
Qua tìm hiểu thực tế, luận văn đã thu thập được các số liệu sơ cấp, đó chính
là các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty
mà trọng tâm là các số liệu về chi phí bao gồm cả chi phí thực tế và chi phí dự toán
Trang 3Các số liệu này được thống kê lại, tính toán trên Excell nhằm xác định biến phí đơn
vị và tổng định phí, đây là cơ sở để triển khai các nội dung về KTQT chi phí tạiCông ty
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực tiễn vận dụng KTQT chi phí tại Công ty, tác giả đãxây dựng quy trình và nội dung hoàn thiện công tác KTQT chi phí tại Công ty Chếbiến và Xuất khẩu thủy sản Thọ Quang
Đề tài có tính thực tiễn cao, có khả năng đưa vào áp dụng thực tế tại Công ty
6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương.Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về kế toán quản trị chi phí trong các doanhnghiệp sản xuất, đây là nền tảng lý luận cho việc trình bày các nội dung trongchương 2 và chương 3 Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty chế biến vàxuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sảnMiền Trung được trình bày trong chương 2 Trên cơ sở phân tích những vấn đề còntồn tại trong chương 2, luận văn trình bày các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổchức kế toán quản trị chi phí tại Công ty chế biến và xuất khẩu Thủy sản ThọQuang thuộc công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung ở chương 3
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Kế toán cũng như các ngành khoa học khác được hình thành và phát triểngắn liền với sự phát triển của xã hội Khi nền sản xuất phát triển, kế toán cũng pháttriển tương ứng để đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý Kế toán được định nghĩa
là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc racác quyết định điều hành hoạt động của một tổ chức
Kế toán chủ yếu tập trung vào việc ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tàichính của một tổ chức, các báo cáo này nhằm truyền đạt thông tin tài chính của một
tổ chức đến các đối tượng bao gồm đối tượng bên trong và đối tượng bên ngoài của
tổ chức đó Khi nền sản xuất xã hội phát triển cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt,buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến thông tin cho quá trình ra quyết định, màthông tin hàng đầu là thông tin về chi phí của hoạt động kinh doanh Cùng với sựphát triển nhanh chóng của công nghệ sản xuất, sự hình thành và phát triển của cáccông ty lớn, tập đoàn kinh tế nên đã có sự thay đổi về nhu cầu thông tin và cácphương pháp tiếp cận của nhà quản trị đối với các lĩnh vực khác nhau trong kinhdoanh Từ đó yêu cầu hình thành một hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho cácđối tác bên ngoài doanh nghiệp gọi là kế toán tài chính và một hệ thống kế toáncung cấp thông tin nội bộ cho các nhà quản trị để đề ra các quyết định kinh doanh làKTQT KTQT được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, kể cả tổ chức phi lợinhuận như trường học, cơ quan chính phủ, các tổ chức từ thiện bởi lẽ nhà quản lýcủa mọi tổ chức đều cần thông tin để điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức,
tổ chức có quy mô càng lớn thì nhu cầu thông tin đối với các nhà quản lý càngnhiều Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức.Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạtđộng của tổ chức KTQT được áp dụng đầu tiên ở Bắc Mỹ và ở Anh vào nửa thế kỷ
Trang 519 trong các ngành công nghiệp dệt lụa, đường sắt, sau đó thâm nhập vào các ngànhcông nghiệp luyện kim, hóa chất…và đến năm 1925 đã thâm nhập vào hầu hết cácngành kinh tế và được nghiên cứu phát triển cho đến nay
KTQT là một chuyên ngành kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng,đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội
bộ và ra quyết định quản trị Có rất nhiều định nghĩa về KTQT:
- Theo luật kế toán Việt Nam ban hành số 03/2003/QH11 ngày 17.06.2003thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế theo yêucầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
- Theo định nghĩa của Viện Kế toán viên quản trị Hoa kỳ thì KTQT “là quátrình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạtthông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ
tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lựccủa tổ chức đó.” [4,tr 11]
Theo đó, kế toán quản trị có bản chất đặc trưng như sau:
Thứ nhất, Kế toán quản trị hình thành từ nhu cầu thông tin của những nhà
quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, chính sự thay đổi nhu cầu thông tin quản trị củanhững nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp thúc đẩy sự phát triển của kế toán quản trị
Thứ hai, Kế toán quản trị ra đời gắn liền với nghiên cứu đối tượng là các
nguồn lực kinh tế liên quan đến quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Thứ ba, bản chất của thông tin trong KTQT không chỉ là thông tin tài chính
đơn thuần mà là thông tin quản lý, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trìnhvận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanhnghiệp đó Thông tin mà KTQT cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính vàthông tin phi tài chính, bao gồm những thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụcủa DN, thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kếhoạch hướng đến các mục tiêu trên thị trường của DN và những thông tin đặc thù đểgiúp các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh
Trang 61.2 NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN CHO QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
KTQT được xem như là sự giao thoa giữa kế toán và quản trị Chức năng củanhà quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyếtđịnh Để thực hiện các chức năng này, nhà quản trị phải thu thập thông tin từ nhiềuchuyên gia như chuyên gia mar, chuyên gia tài chính, chuyên gia kỹ thuật, chuyêngia kế toán…Trong đó, chuyên gia kế toán có vị trí vô cùng quan trọng bởi mục tiêucủa quản lý là tối đa hóa lợi nhuận
1.2.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị nhưng trước hết
nó phải là kế toán chi phí bởi vì giai đoạn đầu của kế toán quản trị được hình thành
từ kế toán chi phí, giúp cho việc xác định và điều tra chi phí của các nhà quản trị.Tuy nhiên, giữa kế toán quản trị chi phí và kế toán chi phí có những điểm khác biệtnhau Thông tin mà kế toán chi phí cung cấp là những thông tin quá khứ được xử lý
từ các số liệu lịch sử và được lấy từ các báo cáo chi phí, bảng tính giá thành, baogồm cả thông tin về kế toán tài chính và thông tin về kế toán quản trị Thông tin mà
kế toán quản trị chi phí cung cấp bao gồm thông tin quá khứ và những thông tin cótính chất dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phínhằm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, đồng thời là căn cứ cho các quyết định vềgiá bán sản phẩm, quyết định ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài giacông…
Kế toán quản trị chi phí không phân tích chi phí theo quan điểm của kế toántài chính mà nhân diện chi phí theo nhiều hướng khác nhau Đặc biệt kế toán quảntrị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của nhà quản trịthuộc các cấp quản lý nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quả trị với chi phí phátsinh thông qua hình thức thông tin chi phí được cung cấp theo các trung tâm quản lýchi phí Kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp thông tin về sự biến động của chi phítheo mức biến động của đơn vị, từ đó giúp cho nhà quản trị có thể phát hiện đượcnhững biến động bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh một cách
Trang 7kịp thời Từ đó cho thấy kế toán quản trị chi phí mang nặng bản chất của kế toánquản trị hơn là kế toán tài chính thuần tuý.
Như vậy, có thể hiểu kế toán quản trị chi phí là bộ phận của kế toán quản trịthực hiện việc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việcthực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểmsoát và ra quyết định
1.2.2 Quản trị doanh nghiệp và yêu cầu từ hệ thống thông tin KTQT chi phí
Quản trị doanh nghiệp là đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình phát triểnkinh tế thị trường vì mục tiêu chính mà các doanh nghiệp luôn theo đuổi là tối đahóa lợi nhuận trong việc khai thác tối đa và hiệu quả các nguồn lực của mình Quátrình quản lý bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện
kế hoạch, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định
Lập kế hoạch yêu cầu các nhà quản trị phải xác định rõ mục tiêu kinh doanh
và những giải pháp tích cực để thực hiện mục tiêu đó Với việc tổ chức thực hiện,đòi hỏi các nhà quản trị phải gắn kết, phân công và phối hợp một cách hợp lý nhấtcác nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kế hoạch đề ra Với việc kiểm tra vàđánh giá, các nhà quản trị phải theo dõi và giám sát mọi hoạt động trong doanhnghiệp nhằm phát hiện ra những sai sót và kịp thời đưa ra các giải pháp để hạn chếnhững sai sót đó Trên cơ sở thu nhận các kết quả, so sánh sự chênh lệch và đánhgiá các phương án đề xuất thì các nhà quản trị cần lựa chọn một phương án kinhdoanh có hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp từ nhiềuphương án khác nhau
Do doanh nghiệp có tính tự chủ trong việc sử dụng các nguồn lực của mìnhnên người quản lý doanh nghiệp cần có thông tin để hoạch định, tổ chức, kiểm soáttoàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình Nhu cầu thông tin kế toán củanhà quản lý các cấp ở doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú và thay đổi liên tục.Trong điều kiện đó, KTQT phải cung cấp thông tin toàn diện để nhà quản lý có cơ
sở ra quyết định
Các doanh nghiệp muốn đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt
Trang 8hiện nay thì cần phải đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững.Một trong các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải quản lý, kiểm soát,tiết kiệm chi phí để sản phẩm, dịch vụ ngày càng có chất lượng, giá cả phù hợp.Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí để thực hiện tốtcác mục tiêu chiến lược của tổ chức là hệ thống kế toán quản trị chi phí Một hệthống KTQT chi phí hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kếhoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ doanh nghiệp sẽ giúpcho các nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng quản trị.
1.2.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin cho các chức năng quản trị doanh nghiệp
Sự kết nối, tính ổn định, định hướng của mối quan hệ giữa nội dung KTQTchi phí với nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng quản trị của nhà quản trịtrong nội bộ doanh nghiệp sẽ tạo nên “cặp mắt quản trị” đảm bảo cho tính khả thicủa kế toán quản trị trong hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp
Trong mỗi giai đoạn quản trị, nhà quản trị có nhu cầu thông tin KTQT chiphí khác nhau, do đó nội dung của KTQT chi phí đáp ứng nhu cầu thông tin trongmỗi chức năng quản trị cũng khác nhau Vì vậy, KTQT chi phí phải được xây dựng,
tổ chức, xử lý sao cho phù hợp với các chức năng quản trị, để KTQT phát huy đượcvai trò của mình trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin cho nhà quản trị Có thể tómtắt mối quan hệ giữa nội dung KTQT chi phí với các chức năng quản trị qua sơ đồsau (Hình1.1):
Trang 9Hình 1.1 Sơ đồ nội dung KTQT
1.2.3.1 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong giai đoạn lập kế hoạch
Là chức năng đầu tiên của nhà quản lý để hướng hoạt động, chỉ đạo hoạtđộng đạt mục tiêu chiến lược Việc lập kế hoạch phải dựa vào các căn cứ khoa họcđáng tin cậy, thông tin do KTQT chi phí trong giai đoạn này là các dự toán chi phí,giá thành sản phẩm để cụ thể hóa việc huy động và sử dụng nguồn lực của doanhnghiệp trong một khoảng thời gian nhất định
* Dự chí chi phí
Dự toán là những tính toán dự kiến một cách toàn diện và phối hợp, làm căn
cứ để huy động kinh doanh của doanh nghiệp, được xác định bằng một hệ thống cácchỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai
Dự toán chi phí là phương tiện cung cấp thông tin cho chức năng hoạch định vàkiểm soát chi phí Dự toán chi phí được lập chính xác và đầy đủ sẽ đảm bảo chohoạt động sản xuất kinh doanh được hiệu quả Thông tin dự toán giúp các nhà quảntrị sẽ có kế hoạch về nguồn lực để đảm bảo thực hiện các hoạt động, đồng thờilường trước những khó khăn có thể xảy ra và có biện pháp phòng ngừa rủi ro trong
Trang 10kinh doanh nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.
Dự toán bao gồm dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt Dự toán linh hoạt là dựtoán được lập với các quy mô sản xuất khác nhau Trong doanh nghiệp sản xuất, dựtoán chi phí bao gồm các dự toán sau:
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
- Dự toán chi phí sản xuất chung
- Dự toán chi phí bán hàng
- Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Để xây dựng dự toán chi phí cần thiết phải xây dựng các định mức về chiphí Doanh nghiệp cần định mức cả về giá lẫn về lượng vì cả hai yếu tố này đều tácđộng đến sự thay đổi của chi phí:
+ Định mức giá: Định mức giá được ước lượng bằng cách tổng cộng tất cảcác khoản chi phí liên quan đến việc mua hàng hay nguyên vật liệu (đối với địnhmức giá nguyên vật liệu) hay lương và các chi phí liên quan (đối với định mức chiphí lao động)
+ Định mức lượng: Để xây dựng và thực hiện hệ thống định mức lượng,doanh nghiệp cần phải quyết định số lượng, chủng loại, thành phần kết hợp cácnguyên vật liệu để tạo ra từng loại sản phẩm; lượng và loại lao động để sản xuấtmột sản phẩm Những định mức kỹ thuật này do các chuyên gia lập ra và đòi hỏiphải có những kỹ năng làm việc như nghiên cứu phương pháp làm việc và xây dựngcác chỉ tiêu đánh giá từng công việc cụ thể
Khi định mức lượng, doanh nghiệp có thể dùng hai loại định mức sau:
- Định mức lý tưởng là loại định mức được xây dựng dựa trên điều kiện làmviệc hoàn hảo Tuy nhiên, điều kiện hoàn hảo này gần như không có được ở hầu hếtcác doanh nghiệp, do những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của một tổchức Định mức lý tưởng có thể giúp nhà quản lý thấy rõ những điểm khác biệtchính tuy nhiên khó áp dụng trong thực tế
Trang 11- Định mức dự kiến (định mức thực tế): loại định mức này thường dễ ápdụng hơn định mức lý tưởng Đây là các định mức mang tính chất thực tế, vì chúngcho phép một mức độ sai lệch chấp nhận khi thực hiện Nếu người thực hiện chi phíđược quản lý tốt và sẵn sàng hợp tác thì doanh nghiệp dễ đạt được định mức dựkiến.
Thứ hai, giúp nhà quản lý nổ lực trong việc giảm thấp chi phí sản phẩm, cógiải pháp cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường
Thứ ba, là cơ sở để nhà quản lý xây dựng một chính sách giá bán hợp lý, và
ra nhiều quyết định tác nghiệp khác
Có 2 phương pháp để lập dự toán giá thành sản phẩm như sau:
- Lập dự toán giá thành theo phương pháp toàn bộ: Là phương pháp tính giá
mà toàn bộ chi phí phát sinh tại nơi sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm hoànthành Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếpChi phí nhân công trực tiếpChi phí sản xuất chungTuy nhiên, lập dự toán theo phương pháp này chỉ cung cấp số liệu cho các
DN lập các BCTC theo quy định, song xét về góc độ quản trị phương pháp nàykhông đáp ứng được yêu cầu cho nhà quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạtđáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuấtkhác nhau, đặc biệt khi mà các doanh nghiệp sản xuất phải đương đầu với sự cạnhtranh gay gắt về giá trong việc tìm kiếm thị trường Mặt khác do quy trình công
Trang 12nghệ sản xuất và chất lượng mỗi loại sản phẩm khác nhau nên việc lựa chọn tiêuthức phân bổ chi phí sản xuất chung rất khó đảm bảo tính chính xác dẫn đến chi phíđơn vị và kết quả từng mặt hàng không chính xác Điều này dẫn đến các sai sóttrong các quyết định của nhà quản lý khi lựa chọn mặt hàng kinh doanh Phươngpháp lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp sẽ đáp ứng được yêu cầutrên.
- Lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp: Là phương pháp tính
giá mà theo đó giá thành sản phẩm chỉ bao gồm các khoản biến phí sản xuất sảnphẩm tại phân xưởng Phần định phí sản xuất chung cố định không được tính vàogiá thành sản phẩm hoàn thành Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếpChi phí nhân công trực tiếpBiến phí sản xuất chungTheo phương pháp này, chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theocách ứng xử chi phí Các biến phí sản xuất sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợpchi phí, phần định phí sản xuất chung sẽ được tập hợp riêng Các nhà quản trị quanniệm định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là chi phí này luôn phát sinh
để duy trì và điều hành hoạt động sản xuất cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong
kỳ trong giới hạn quy mô phân xưởng Định phí sản xuất chung gần như ít thay đổiqua các năm, trước khi có sự thay đổi quy mô đầu tư Do vậy, sẽ bất hợp lý khi tínhđịnh phí sản xuất chung cho sản phẩm hoàn thành vì định phí này không gắn liềnvới hoạt động sản xuất như các biến phí sản xuất Cách nhìn nhận định phí sản xuấtchung là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa không xem chi phí này là chi phí sảnphẩm, khi đó định phí sản xuất chung là yếu tố cần giảm trừ để báo cáo sự thật vềkết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Phương pháp trực tiếp đã loại trừ được những hạn chế của phương pháp toàn
bộ trong việc phân bổ chi phí chung cho từng sản phẩm, phương pháp này được sửdụng nhiều trong KTQT để định giá bán sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báocáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ CVP, xác
Trang 13định sản lượng hòa vốn Phương pháp tính giá được sử dụng rộng rãi trong các DNsản xuất.
1.2.3.2 Nội dung kế toán quản trị trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Trên cơ sở các kế hoạch lập ra, nhà quản trị cần tiến hành tổ chức thực hiện
để quyết định cách sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các
Nhận diện chi phí
Trong giai đoạn này, vấn đề đặt ra là làm sao để kiểm soát được chi phí Việcnhận diện và thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại chi phí một cáchthường xuyên là điểm mấu chốt để KTQT chi phí có thể thu thập và cung cấp các sốliệu chi phí thích hợp cho nhu cầu của các nhà quản trị, giúp họ phát hiện các hoạtđộng tốn kém quá nhiều để thiết kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạt động tốn kémchi phí hoặc cải tiến để làm cho hoạt động hiệu quả hơn
KTQT chi phí có thể nhận diện và phân loại chi phí như sau:
a Chi phí thực tế, chi phí tiềm ẩn
- Chi phí thực tế: Là các chi phí đã phát sinh trong kỳ và gắn liền với hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Chi phí tiềm ẩn: gồm chi phí cơ hội và chi phí phát sinh trong tương lai.Chi phí cơ hội là tổng giá trị kinh tế tiềm tàng bị mất đi do tiến hành một quyết địnhkinh doanh Chi phí tương lai là chi phí phát sinh do chịu ảnh hưởng của sự thay đổimôi trường sản xuất kinh doanh
b Chi phí theo tính chất ban đầu
- Là chi phí thể hiện theo tính chất của các yếu tố liên quan đến chi phí như
Trang 14chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao, chi phí công cụ dụngcụ, phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh Chi phí theo tính chất ban đầuthể hiện hình thái vật chất , nguồn vật chất ban đầu liên quan đến chi phí phát sinhtrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
c Chi phí kinh doanh, chi phí tài chính, chi phí thuế
- Chi phí kinh doanh là các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp gồm có chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lýdoanh nghiệp
- Chi phí tài chính là chi phí liên quan đến hoạt động khai thác, sử dụng vốn
- Chi phí thuế là chi phí thể hiện thực hiện nghĩa vụ thuế trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
d Chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ
- Chi phí sản phẩm là các chi phí liên quan đến sản xuất sản phẩm hay muahàng và cấu tạo nên giá vốn sản phẩm
- Chi phí thời kỳ là các khoản chi phí gắn liền với từng thời kỳ kinh doanh vàkhông cấu thành nên giá vốn sản phẩm
Chi phí sản phẩm hay chi phí thời kỳ thể hiện quan hệ giữa chi phí đầu vàovới kết quả đầu ra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
e Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp
- Biến phí là các chi phí có tổng số thay đổi tỉ lệ thuận theo mức hoạt động.Tổng biến phí tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Còn nếu tính trên mộtđơn vị mức độ hoạt động thì biến phí lại không biến đổi trong phạm vi phù hợp.Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động
Biến phí bao gồm các chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phíbao bì đóng gói, chi phí hoa hồng,
Xét về tính chất tác động, biến phí được chia làm hai loại là biến phí tỷ lệ vàbiến phí cấp bậc, trong đó:
Biến phí tỷ lệ là loại biến phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động
Trang 15của mức hoạt động căn cứ Biến phí tỷ lệ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí hoa hồng, chi phí nhân công trực tiếp (doanh nghiệp tính lương theo sảnphẩm)
Biến phí cấp bậc là loại biến phí chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổinhiều và rõ ràng Nói cách khác biến phí cấp bậc cũng có quan hệ tỷ lệ nhưngkhông tuyến tính với biến động của mức độ hoạt động Biến phí cấp bậc bao gồmchi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì, Chiến lược của nhà quản trị trong việcứng phó với biến phí cấp bậc là phải nắm được toàn bộ khả năng cung ứng của từngbậc để tránh khuynh hướng huy động quá nhiều so với nhu cầu, vì điều này sẽ gâykhó khăn khi nhu cầu lại giảm đi
- Định phí là các chi phí có tổng số gần như không thay đổi theo mức độ hoạtđộng trong phạm vi phù hợp, tuy nhiên nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt độngthì định phí có quan hệ tỷ lệ nghịch với biến động của mức hoạt động, khi mức hoạtđộng tăng thì định phí tính cho một đơn vị giảm và ngược lại Định phí bao gồm chiphí khấu hao, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí lãi vay, Trong các chi phí này, địnhphí cũng được phân làm hai loại:
Thứ nhất, loại định phí có bản chất sử dụng lâu dài và không thể cắt giảmđến không cho dù mức độ hoạt động bị giảm xuống hoặc sản xuất bị gián đoạn,định phí này được gọi là định phí bắt buộc Đó là chi phí khấu hao, chi phí bảohiểm, tiền lương của các thành viên trong cơ cấu tổ chức cơ bản của doanh nghiệp
Do định phí bắt buộc có bản chất lâu dài và có ảnh hưởng đến mục tiêu của doanhnghiệp nên khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định, nhà quản lý cần cân nhắc kỹlưỡng vì một khi đã quyết định đầu tư thì doanh nghiệp buộc phải gắn chặt vớiquyết định đó trong thời gian dài
Thứ hai, loại định phí có bản chất ngắn hạn và trong những trường hợp cầnthiết, nhà quản lý có thể cắt giảm Mỗi năm các doanh nghiệp phải có báo cáo hoạchđịnh cho một kế hoạch tài chính Trong đó, có hoạch định một khoản nhất định chocác khoản chi thường niên tùy thuộc vào tình hình tài chính và chiến lược kinhdoanh của các công ty Tuy nhiên chiến lược có thể thay đổi trong trường hợp cần
Trang 16thiết Thuộc loại chi phí này gồm có chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo phát triển,
- Chi phí hỗn hợp là chi phí với hỗn hợp các thành phần biến phí và định phí.Chi phí hỗn hợp vừa mang đặc tính của biến phí, vừa mang đặc tính của định phínên về mặt quản trị, chi phí hỗn hợp phải được phân tích thành biến phí và định phí
f Chi phí hữu ích và chi phí không hữu ích
- Chi phí hữu ích là chi phí gắn liền gắn liền với hoạt động hữu ích hay hoạtđộng tạo nên giá trị hữu dụng thỏa mãn nhu cầu khách hàng và được khách hàngtrao đổi bằng lợi ích kinh tế
- Ngược lại là chi phí không hữu ích
Chi phí hữu ích và chi phí không hữu ích thể hiện tính hữu ích chi phí, làthước đo quan hệ và sự phù hợp của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để cắtgiảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh
g Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là các khái niệmchi phí phản ánh phạm vi quyền hạn của nhà quản trị đối với những khoản chi phíphát sinh trong phạm vi quyền hạn của mình Một khoản chi phí là kiểm soát đượcđối với một cấp quản lý nào đó khi cấp quản lý đó có quyền quyết định về khoảnchi đó và ngược lại Nhà quản lý ở cấp bậc càng cao thì phạm vi kiểm soát chi phícàng rộng
k Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất đi vì lựa chọn phương án và hành động nàythay vì phương án hành động khác Phương án khác ở đây là phương án tối ưu cósẵn đã bị bỏ qua Như vậy ngoài những chi phí kinh doanh đã được tập hợp, phảnánh trên sổ sách kế toán, trước khi ra quyết định, nhà quản lý còn phải xem xét đếnchi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh đó có thể sử dụng theo cáchkhác mà cách này cũng mang lại lợi nhuận
l Chi phí chìm và chi phí chênh lệch
- Chi phí chìm là các chi phí đã phát sinh, sẽ chắc chắn phát sinh và luôn
Trang 17luôn tồn tại trong tất cả sự lựa chọn, tình huống và các phương án kinh doanh.
- Chi phí khác biệt là các chi phí phát sinh khác biệt giữa các tình huống,phương án hoạt động sản xuất kinh doanh hay còn gọi là chi phí khác biệt
Chi phí chìm và chi phí khác biệt thể hiện sự khác biệt về chi phí trong quan
hệ so sánh, thay đổi hoạt động kinh doanh
1.2.3.3 Báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Trong giai đoạn này, nội dung của KTQT chi phí còn báo cáo về chi phí sảnxuất và tính giá thành từng loại sản phẩm nhằm cung cấp thông tin tình hình phátsinh và phân bổ chi phí sản xuất cho sản phẩm đầu ra để tính giá vốn sản phẩm.Trong sản xuất, theo phương pháp tính giá hàng tồn kho, tính sản lượng hoàn thànhtương đương được thực hiện theo hai phương pháp chủ yếu là phương pháp trungbình và phương pháp nhập trước xuất trước
1.2.3.4 Nội dung kế toán quản trị trong giai đoạn kiểm tra đánh giá
Trong quá trình thực thi các quyết định, nhà quản trị phải thường xuyên giámsát, kiểm tra đánh giá để đảm bảo rằng các mặt hoạt động của doanh nghiệp đang điđúng theo chiến lược đề ra Trong giai đoạn này, nội dung KTQT chi phí gồm:
- Phân tích biến động chi phí
- Kiểm soát chi phí thông qua các trung tâm quản lý chi phí
Phân tích biến động chi phí
Chi phí phát sinh thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với định mức banđầu, điều này tạo nên sự biến động chi phí so với định mức Biến động có thể là bấtlợi khi chi phí thực tế cao hơn chi phí định mức hoặc có lợi khi chi phí thực tế thấphơn chi phí định mức Mục đích phân tích biến động chi phí nhằm đánh giá tìnhhình thực hiện kế hoạch chi phí để xác định rõ các nguyên nhân ảnh hưởng bất lợiđến quá trình tạo ra giá trị của doanh nghiệp KTQT chi phí cần phân tích một sốkhoản mục chi phí như sau:
a Phân tích các biến động chi phí NVLTT
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là một loại biến phí, khi chi phí nguyên vật
Trang 18liệu thực tế khác với định mức chi phí nguyên vật liệu thì ta gọi mức chênh lệch đó
là biến động chi phí nguyên vật liệu Sự biến động này gồm biến động lượng sửdụng và biến động giá nguyên vật liệu Trong thực tế, sự biến động giá phụ thuộcvào cả nguyên nhân khách quan như quan hệ cung cầu trên thị trường, sự thay đổichính sách của Nhà nước,… và nguyên nhân chủ quan như chất lượng hàng mua,phương pháp tính trị giá nguyên liệu xuất kho,… Biến động về lượng nguyên vậtliệu sử dụng phụ thuộc vào trình độ quản lý nguyên vật liệu, tay nghề của côngnhân trực tiếp sản xuất, tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị, điều kiện nơi sảnxuất,…
Sự phân tích các biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải được tiếnhành càng sớm càng tốt, nhằm phát hiện kịp thời những bất hợp lý để điều chỉnhnhằm tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chiphí nguyên vật liệu
b Phân tích các biến động chi phí NCTT
Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp bao gồm biến động năng suấtlao động, biến động thời gian nhàn rỗi, biến động đơn giá tiền lương, trong đó:
+ Biến động năng suất lao động phụ thuộc vào công nhân phải mất thời giansản xuất nhiều hay ít hơn so với định mức Nhà quản lý cần đặc biệt quan tâm vềbiến động năng suất bất lợi, và xác định rõ người chịu trách nhiệm và lý do vì saothời gian sản xuất lại kéo dài Năng suất lao động tăng hay giảm có thể thường doảnh hưởng của các nguyên nhân: Sự thay đổi cơ cấu lao động, năng suất lao động cábiệt, tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị, chất lượng của nguyên liệu được sửdụng, các biện pháp quản lý sản xuất, chính sách trả lương cho công nhân,…
+ Biến động thời gian nhàn rỗi hay còn gọi là biến động chi phí thời gian xảy
ra khi thời gian công nhân không có công việc để làm lâu hơn so với dự kiến
+ Biến động lương xảy ra khi doanh nghiệp phải trả lương thực tế cho côngnhân cao hơn hoặc thấp hơn so với dự kiến Đơn giá tiền lương tăng do nhiềunguyên nhân, có thể tổng hợp thành hai nguyên nhân:
+ Do đơn giá tiền lương của các bậc thợ tăng lên
Trang 19+ Sự thay đổi về cơ cấu lao động: Tiền lương tăng lên khi cơ cấu lao động thay đổitheo hướng tăng tỷ trọng công nhân bậc cao và giảm tỷ trọng công nhân bậc thấptính trên tổng số giờ lao động được sử dụng.
c Phân tích biến động chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là một loại chi phí khá phức tạp, bởi nó là một chi phígián tiếp với nhiều loại chi phí khác nhau về tính chất và được tính vào giá thànhcác sản phẩm thông qua sự phân bổ, vì vậy sẽ không có một mô hình duy nhất vềphương pháp để phân tích chung cho các doanh nghiệp Thông thường phân tíchbiến động chi phí sản xuất chung được thực hiện như sau:
+ Phân tích biến động biến phí sản xuất chung: Sự tăng giảm biến phí sảnxuất chung giữa thực tế và định mức (hay dự toán) có thể chia thành hai loại biếnđộng: Biến động giá và biến động năng suất Mặc khác, do chi phí sản xuất chung
có nhiều khoản mục nên doanh nghiệp cần lập một bảng tính toán tổng hợp các biếnđộng và xem đó là báo cáo thực hiện biến phí sản xuất chung
+ Phân tích biến động định phí sản xuất chung: đặc điểm cơ bản của chi phíbất biến là không thay đổi cùng với những thay đổi của các mức độ hoạt động Dovậy, khi phân tích chi phí sản xuất chung bất biến cần lưu ý một số điểm sau:
Mọi sự chia nhỏ định phí đều có bản chất giả tạo vì chúng không phụ thuộcvào mức hoạt động
Xây dựng đơn giá phân bổ định phí sản xuất chung là cần thiết cho quá trìnhtính toán biến động nhưng không có giá trị đối với việc kiểm soát chi phí
đặt trong mối quan hệ với mức hoạt động
Vì những lý do này nên biến động chi phí sản xuất chung bất biến thườngđược biểu hiện dưới dạng vật chất thay vì tiền tệ Sự thể hiện các biến động dướihình thái vật chất sẽ cung cấp cho nhà quản lý một cách rõ ràng và cụ thể hơnnguyên nhân biến động, từ đó sẽ có biện pháp kiểm soát biến động hữu hiệu hơn
d Phân tích biến động chi phí bán hàng và quản lý: Phân tích biến động đốivới hai khoản mục chi phí này tương tự như chi phí sản xuất chung
Trang 20Kiểm soát chi phí thông qua các trung tâm quản lý chi phí.
Sự xuất hiện của trung tâm chi phí gắn liền với sự phân cấp về quản lý, mà ở
đó người quản lý có quyền và chịu trách nhiệm đối với kết quả của hoạt động thuộcphạm vi mình quản lý
Quan niệm các trung tâm quản lý chi phí ở đây không có nghĩa là tập hợptoàn bộ các bộ phận hoặc các phòng ban trong doanh nghiệp làm trung tâm quản lýchi phí Chỉ bộ phận nào mà nhà quản lý muốn tính và kiểm soát chi phí hoạt độngcủa nó thì chúng ta mới nên thành lập trung tâm quản lý chi phí Trung tâm quản lýchi phí là nơi giúp chúng ta xác định, tập hợp chi phí và gắn với một đơn vị tính phí.Trung tâm quản lý chi phí có thể là: Một phòng ban trong một doanh nghiệp, mộtnơi làm việc, một dây chuyền máy, một người hay một bộ phận cụ thể
Việc phân chia chi phí ra thành nhiều trung tâm quản lý chi phí sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho công tác thu thập thông tin về chi phí dễ dàng hơn, qua đó cung cấpthông tin về chi phí phát sinh ở nhiều bộ phận khác nhau của doanh nghiệp Hơnnữa, người quản lý của một trung tâm chi phí nào đó có thể được cấp khoản ngânsách và thông qua đó giúp họ có thể kiểm soát được chi phí
Trong các doanh nghiệp sản xuất, trung tâm chi phí thường tổ chức gắn liền vớicác bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh và có thể chia thànhcác trung tâm: trung tâm cung ứng, trung tâm sản xuất, trung tâm tiêu thụ, trung tâmquản lý
- Đối với trung tâm cung ứng
Báo cáo về tình hình cung ứng các yếu tố đầu vào, giá thực tế mua vào, chiphí vận chuyển, bốc dỡ cũng như chất lượng của từng loại vật tư Trong báo cáophản ánh số liệu dự toán và số liệu thực tế, phân tích sự biến động của đơn giá muanhằm đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch, nổ lực trong việc tiết kiệm các yếu tốđầu vào Qua đó dự đoán được xu hướng biến động của giá, tình hình cung ứng vật
tư giúp DN chủ động trong sản xuất, tiết kiệm chi phí
- Đối với trung tâm sản xuất
Trang 21Báo cáo chi phí sản xuất bao gồm chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phíSXC theo số liệu thực tế và dự toán để làm cơ sở đánh giá trách nhiệm Tuy nhiên,báo cáo kết quả của trung tâm sản xuất phải được lập chi tiết theo từng công đoạnsản xuất, từng phân xưởng sản xuất để kiểm soát chi phí gắn với trách nhiệm quản
lý của từng bộ phận
- Đối với trung tâm tiêu thụ
Báo cáo về chi phí bán hàng, cơ sở để đánh giá so sánh giữa chi phí thực tếvới kế hoạch đặt trong mối quan hệ tương quan với mức tăng doanh số bộ phận tiêuthụ
- Đối với trung tâm quản lý
Báo cáo về chi phí quản lý DN đặt trong mối quan hệ so sánh chênh lệchgiữa thực tế và dự toán nhằm đánh giá tình hình thực hiện dự toán, kiểm soát chi phícủa từng phòng ban chức năng thuộc bộ phận quản lý DN
- Đối với trung tâm đầu tư
Ngoài việc báo cáo về tình hình chi phí, doanh thu, lợi nhuận; nhà quản lýcòn chịu trách nhiệm báo cáo về các khoản vốn đầu tư, khả năng huy động và sửdụng các nguồn tài trợ Số liệu đánh giá dựa trên thực tế so với dự toán
1.2.3.5 Nội dung KTQT chi phí trong giai đoạn ra quyết định
Đây là chức năng quan trọng nhất, xuyên suốt các khâu quản trị doanhnghiệp từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra, ra quyết định Saukhi lập dự toán, kiểm soát quá trình phát sinh chi phí thực tế, KTQT chi phí sẽ tiếnhành phân tích chi phí một cách linh hoạt để đưa ra các quyết định sách lược nhưquyết định chấp nhận hay tư chối đơn đặt hàng, quyết định mua ngoài hay tự sảnxuất, Nội dung KTQT chi phí trong giai đoạn này gồm:
- Thông tin chứng minh quyết định dựa vào kỹ thuật phân tích CVP
- Thông tin chứng minh quyết định dựa vào phương pháp phân tích thông tinthích hợp
Thông tin chứng minh quyết định dựa vào kỹ thuật phân tích CVP
Trang 22Phân tích mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận sẽ cung cấp thông tincho nhà quản trị có những quyết định tốt hơn trong việc lựa chọn kết cấu sản phẩm,mức sản lượng sản xuất để đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong những điềukiện giới hạn như: sự ổn định về cơ cấu mặt hàng sản xuất, về giá bán sản phẩm vàđịnh phí là cố định
Để có ý kiến tư vấn cho doanh nghiệp trong loại quyết định này kế toán quảntrị chi phí phải xử lý thông tin theo qui trình sau (Hình 1.2):
Bước 1
Bước 2
Bước 3
Hình 1.2 Quy trình phân tích CVP
Nội dung của phân tích CVP gồm:
- Phân tích điểm hòa vốn: Là bước đầu của phân tích CVP Mặc dầu điểmhòa vốn không phải là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhưng phân tích điểmhòa vốn sẽ chỉ ra mức hoạt động cần thiết để doanh nghiệp tránh lỗ Ngoài ra nó còncung cấp thông tin có giá trị liên quan đến cách ứng xử chi phí tại các mức tiêu thụkhác nhau
- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lãi mong muốn
- Phân tích sự ảnh hưởng của thay đổi chi phí đối với lợi nhuận
- Phân tích sự ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng đối với sự thay đổi lợi nhuận
- Phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi tức và sự thay đổi dự tính vềbiến phí và định phí
Để phân tích CVP, KTQT thường sử dụng các công cụ phân tích sau:
- Số dư đảm phí: Là phần chênh lệch giữa doanh thu với biến phí sản xuấtkinh doanh Chỉ tiêu số dư đảm phí có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng mối
Phân loại chi phí, toàn bộ chi phí được phân thành 2 loại
là chi phí biến đổi và chi phí cố định.
Sử dụng khái niệm SDĐP, ĐBKD, … để phân tích các phương án với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Lựa chọn phương án và đề xuất ý kiến tư vấn
Trang 23quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận, do đó nó được sử dụng nhiều trong việc racác quyết định kinh doanh của nhà quản trị.
- Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu thể hiện bằng số tương đối quan hệ tỷ lệgiữa tổng số dư đảm phí với doanh thu, hoặc giữa phần đóng góp với giá bán Khiđạt mức sản lượng trên điểm hòa vốn, doanh thu tăng lên lợi nhuận sẽ tăng một mứcbằng tỉ lệ số dư đảm phí Có nghĩa là khi tăng cùng một lượng doanh thu, sản phẩmnào có tỷ lệ số dư đảm phí lớn hơn sẽ đạt mức lợi nhuận cao hơn
- Kết cấu chi phí: Kết cấu chi phí là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệgiữa tỷ lệ định phí và biến phí chiếm trong tổng chi phí kinh doanh Kết cấu chi phí
có ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch lợi nhuận tại doanh nghiệp, những doanhnghiệp nào có tỷ lệ biến phí cao trong tổng chi phí thì tỷ lệ số dư đảm phí sẽ thấphơn doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao trong tổng chi phí
- Đòn bẩy kinh doanh: Đòn bẩy kinh doanh đo lường mức độ sử dụng địnhphí trong đơn vị, nó là lớn nhất khi định phí chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí vàngược lại Một công ty sử dụng độ lớn đòn bẩy cao thì lợi nhuận rất nhạy cảm trước
sự thay đổi của doanh thu, chỉ một sự thay đổi nhỏ về doanh thu sẽ gây ra sự biếnđộng lớn về lợi nhuận
Tuy nhiên, các chỉ tiêu phân tích này có một số hạn chế vì nó dựa trên giảthuyết kết cấu sản phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy móc thiết
bị không đổi, giá trị đồng tiền ổn định Vì vậy, tính khả thi và sự chính xác khi raquyết định dựa vào quan hệ CVP cần phải xem xét trong những điều kiện nhất định.Trong khi đó các nhà quản trị lại phải thường xuyên đưa ra các quyết định phức tạp,khó khăn trước sự biến động của những thông tin phức tạp liên quan hoạt động sảnxuất kinh doanh Do đó, cần có một phương pháp khoa học tổng hợp, phân tích vàbáo cáo ngắn gọn, nhanh chóng những thông tin cần thiết đảm bảo cho việc ra cácquyết định của nhà quản trị chính xác hơn, đó là phương pháp phân tích thông tinchi phí thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh
Thông tin chứng minh quyết định dựa vào phương pháp phân tích thông tin thích hợp
Trang 24Phương pháp phân tích thông tin chi phí thích hợp sẽ hỗ trợ cho các nhà quảntrị trong việc lựa chọn các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định kinhdoanh Qúa trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau, mỗiphương án bao gồm rất nhiều thông tin kế toán Trong đó thông tin về chi phí luôn
là yếu tố quan trọng mà các DN cần xem xét để lựa chọn khi ra các quyết định thíchhợp
Quá trình phân tích thông tin chi phí thích hợp bao gồm các bước (Hình 1.3):Bước 1
Bước 2
Bước 3
Hình 1.3 Quy trình phân tích thông tin chi phí thích hợp
Thông tin chi phí thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh lựa chọn các phương ánkinh doanh khác ở những điều kiện và môi trường kinh doanh khác nhau Tuynhiên, tùy theo từng mục đích mà kế toán sử dụng thông tin thích hợp cho việc raquyết định Các nhà kế toán quản trị chi phí phải phân loại và nhận diện chi phí mộtcách đúng đắn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị chi phí Mô hình phân tích thông tinchi phí thích hợp giúp nhà quản trị có được thông tin cần thiết nhanh hơn nhưng vẫnđảm bảo tính khoa học và chính xác
1.3 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Kế toán quản trị đã hình thành, phát triển vô cùng nhanh chóng về lý luận,thực tiễn trong các doanh nghiệp trên thế giới Môi trường cạnh tranh buộc các DNphải tìm mọi biện pháp mở rộng và phát triển thị trường KTQT chi phí là công cụhữu hiệu cho phép các DN kiểm soát chi phí, đánh giá hiệu quả của từng bộ phận để
có quyết định hợp lý và hữu hiệu Quá trình phát triển của KTQT chi phí vừa mang
Tập hợp chi phí liên quan đến các phương án bao gồm cả chi phí ước tính, chi phí cơ hội, chi phí tiềm ẩn
Loại bỏ chi phí chìm và các chi phí phát sinh như nhau ở các phương án, chi phí còn lại là thông tin khác biệt
Thiết kế thông tin chi phí thích hợp theo các dạng báo cáo phục vụ cho nhà quản trị ra các quyết định
Trang 25những điểm chung, vừa tạo nên nhữngkhuynh hướng riêng ở từng quốc gia Để tìmhiểu về sự hình thành và phát triển của KTQT chi phí ở các nước trên thế giới.
1.3.1 KTQT chi phí trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ
Anh và Mỹ là những nước có nền KTQT chi phí tiên phong trên thế giới với
kỹ thuật cung cấp thông tin hữu ích cho các quyết định quản lý bằng những môhình, kỹ thuật định lượng thông tin
Với sự xuất hiện lâu đời của nền kinh tế thị trường, KTQT chi phí ban đầuđược tổ chức trong DN sản xuất có quy mô nhỏ dưới hình thức kế toán chi phí Sau
đó, để đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ thông tin, KTQT chi phí tiếp tục phát triển với nhiều nội dung phongphú Quá trình đó, KTQT chi phí đã trải qua bốn giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1 - Thông tin để kiếm soát và định hướng chi phí, sản xuất
Giai đoạn 2 - Thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính hoạt độngSXKD
Giai đoạn 3 - Thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế sử dụngcủa quy trình SXKD
Giai đoạn 4 - Thông tin để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế tạo ragiá trị
Ngày nay, KTQT chi phí trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ vẫn thịnh hànhnhững nội dung là: Phân loại chi phí nhận thức cách ứng xử chi phí, kế toán chi phí
và tính giá thành sản phẩm theo công việc hoặc theo quy trình sản xuất, phân tíchmối quan hệ chi phí- khối lượng- lợi nhuận, đinh lượng ảnh hưởng phương pháp chiphí toàn bộ và phương pháp chi phí trực tiếp trong thiết lập công cụ quản lý, kế toánchi phí trên cơ sở hoạt động, chi phí tiêu chuẩn và sự cân bằng các nguồn lực kinh
tế, dự toán chi phí linh hoạt và phân tích biến động chi phí sản xuất chung, báo cáo
bộ phận và các sự phân quyền trong một tổ chức, chi phí thích hợp cho quyết địnhkinh doanh ngắn hạn, dự toán vốn đầu tư dài hạn, định giá sản phẩm dịch vụ, phântích báo cáo tài chính Với sự đề cao vai trò cá nhân, vai trò của những nhà quản lýcao cấp, KTQT chi phí được xem như một công cụ bổ khuyết thông tin quản lý nên
Trang 26KTQT chi phí trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ được thiết kế tập trung vào chủ đềphân tích thông tin chi phí phục vụ cho các quyết định quản lý Những năm gầnđây, mặc dầu vẫn duy trì khuynh hướng đặc trưng như trước nhưng kế toán quản trịtrong DN ở Anh, Mỹ đã xuất hiện một vài thay đổi về cấu trúc thông tin, nâng caotính định tính của thông tin chi phí, tính kiểm soát để bổ sung cho những thiếu sót,lạc hậu, không hữu hiệu so với thế giới.
1.3.2 KTQT chi phí trong DN ở các nước Châu Âu
Đặc trưng của KTQT chi phí trong DN sản xuất ở các nước châu Âu nhưPháp, Đức, Tây Ban Nha chính là sự gắn kết chặt chẽ của nó với kế toán tài chính,
đề cao thông tin kiểm soát nội bộ và có sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước
Nền kinh tế thị trường đã xuất hiện khá lâu ở những nước Đông Âu nhưngKTQT chi phí trong DN hình thành, phát triển chậm hơn KTQT trong DN sản xuất
ở các nước Anh, Mỹ Được hình thành với mục đích ban đầu chủ yếu là cung cấpthông tin để các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước giám sát chi phí hoạt động
DN nên KTQT chi phí gần như là sự chi tiết thêm thông tin kế toán tài chính, kếtoán chi phí khuôn mẫu
Những năm gần đây, KTQT ở những nước này bắt đầu bắt nhịp phát triểnvới KTQT của Anh, Mỹ, Nhật, cập nhật một số nội dung mới như: đưa ra bằngchứng giúp nhà quản lý tìm được phương thức tốt nhất khai thác tiềm năng kinh tếphát triển DN trong tương lai, nhận định tình hình tiến hành ở các trung tâm tráchnhiệm quản lý để dự báo, điều chỉnh hành động phù hợp với kế hoạch, giám sát tìnhhình hiện tại và tương lai của những nhà quản lý ở từng bộ phận nhằm đảm bảochiến lược, kế hoạch, và khai thác tốt nhất năng lực các nhà quản lý, tiềm năng từng
bộ phận trong cấu trúc tổ chức hoạt động SXKD Với quan điểm là một công cụcung cấp thông tin kiểm soát, KTQT ở các nước châu Âu luôn được tổ chức thànhmột bộ phận thuộc kế toán, do kế toán đảm trách
1.3.3 KTQT chi phí ở Nhật
Kinh tế thị trường, xuất hiện từ lâu ở Nhật, nhưng chỉ thực sự đúng nghĩa sauchiến tranh thế giới thứ II và KTQT cũng hình thành, phát triển nhanh từ đó Những
Trang 27năm 1950 đến 1970, KTQT bắt đầu hình thành từ khởi xướng của Chính phủ Nhậtqua xúc tiến giới thiệu, áp dụng KTQT Âu, Mỹ cho DN KTQT chi phí trong DNsản xuất ở Nhật thời kỳ này chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm KTQT chi phí Âu-Mỹ vớinội dung đơn giản và hướng đến trọng tâm kiểm soát dự toán chi phí Sau nhữngnăm 1980 đến những năm cuối thế kỷ 20, KTQT chi phí phát triển mạnh khi nềnkinh tế Nhật đã khôi phục, ổn định, phát triển nền kinh tế thị trường cạnh tranh vàbắt đầu hướng ra thị trường quốc tế
Với nguồn lực hạn hẹp, các DN Nhật phải đương đầu với sự bất ổn, sức épcạnh tranh từ DN ở các nước cùng với bản sắc văn hoá người Nhật Đây cũng làtiền đề nảy sinh KTQT chi phí kiểu Nhật, ảnh hưởng sâu rộng đến nội dung KTQTchi phí trên thế giới Đó là KTQT với trọng tâm nâng cao về mặt định tính củathông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế sử dụng của quy trình SXKD,thông tin để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế tạo ra giá trị Tuy nhiên,KTQT chi phí ở Nhật vẫn tiếp tục duy trì những tiến bộ của phương pháp kỹ thuậtđịnh lượng thông tin theo khuynh hướng riêng tạo nên nội dung KTQT thịnh hànhngày nay chủ yếu như: xây dựng tiêu chuẩn và phân loại chi phí, xây dựng hệ thống
dự toán chi phí hoạt động hằng năm, xây dựng kế toán chi phí theo phương pháptoàn bộ và trực tiếp, kế toán chi phí theo mục tiêu, kế toán chi phí theo cơ sở hoạtđộng, phân tích biến động chi phí, xây dựng hệ thống điều hành và đánh giá chi phí,bảng cân đối thành quả, phân tích tính cân đối chi chí- lợi ích Xuất phát từ đề caotính an toàn, tính tập thể, tính kiểm soát, kiểm soát định hướng hoạt động, KTQTchi phí ở Nhật có nhiều mối liên hệ với kế toán tài chính, gắn kết với hệ thống kếtoán chung, một bộ phận trong tổ chức bộ máy kế toán DN
1.3.4 KTQT ở Trung Quốc
KTQT ở Trung Quốc còn non trẻ và chưa có khuynh hướng riêng gắn liềnquá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thịtrường
Những dấu hiệu kinh tế thị trường chỉ mới xuất hiện ở Trung Quốc nhữngnăm cuối 1980 và KTQT chi phí bắt đầu hình hình thành phát triển từ đó Năm
Trang 281980, KTQT chi phí xuất hiện với nội dung cơ bản như KTQT chi phí ở Anh, Mỹnhững năm 1965 Sau đó, KTQT chi phí được cải tiến, nâng cao nhưng với mức độkhông đồng đều, thường tập trung vào những chủ đề sau: xây dựng hệ thống dựtoán chi phí, phân tích chi phí sản xuất, bán hàng, quản lý, hệ thống khoán chi phí
bộ phận Tuy mới bước ra từ tư duy quản lý kinh tế tập trung, bao cấp; tuy nhiên,KTQT chi phí đã nhanh chóng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống kế toán DN.KTQT chi phí luôn được xem là một bộ phận chuyên môn, phân hệ của kế toánnhưng khuynh hướng, tổ chức thực hiện rất đa dạng Đây cũng chính là đặc điểmchung tổ chức KTQT trong những nước mới phát triển ở Châu Á, của những nước
từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường
1.3.5 KTQT ở một số nước khu vực Đông Nam Á
KTQT ở một số nước khu vực Đông Nam Á còn non trẻ, lệ thuộc và hỗn hợpcác khuynh hướng khác nhau
Các nước khu vực Đông Nam Á hầu như có nền kinh tế thị trường mới pháttriển DN ở các nước này có thể chia làm hai loại: một là những DN nhỏ bé; hai lànhững chi nhánh của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia từ nước ngoài Từ đó, hoạtđộng và tổ chức, quản lý hoạt động SXKD cũng đa sắc thái nên KTQT rất đa dạng;một phần được chuyển giao, chịu ảnh hưởng từ mô hình KTQT của các công ty mẹ
ở nước ngoài rất hiện đại; một phần được các DN trong nước xây dựng, cập nhậttheo nền tảng hoạt động quản lý của họ như khá lạc hậu và có những DN hoàn toànkhông quan tâm đến KTQT Thực trạng đó dẫn đến KTQT trong DN sản xuất ở cácnước khu vực Đông Nam Á tồn tại đa dạng về khuynh hướng, nội dung, trình độ.[14]
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán quản trị là công cụ không thể thiếu để thực hiện quản trị doanhnghiệp một cách khoa học và hiệu quả, trong đó kế toán quản trị chi phí là một bộ
phận của kế toán quản trị, thực hiện chức năng xử lý và cung cấp thông tin về chi
phí nhằm thực hiện tốt chức năng quản trị Quản lý chi phí là một phần của cácchiến lược tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp nhằm không những cắt giảmchi phí mà còn tạo ra các ưu thế cạnh tranh rõ rệt trên thị trường
Trong phần này, luận văn đã dành phần lớn trình bày những vấn đề lý luận
về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất, qua đó giúp doanh nghiệp
có thể kiểm soát ngân quỹ, nâng cao hiệu quả chi tiêu và làm tăng lợi nhuận doanhnghiệp Từ đó luận văn cũng xin trình bày nội dung của việc tổ chức kế toán quảntrị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất bao gồm những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận văn phân tích bản chất của kế toán quản trị, kế toán quản trịchi phí nhằm tạo lập cơ sở cho việc xác định nội dung cũng như phương pháp thựchiện kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Thứ hai, luận văn chú trọng xây dựng nội dung của kế toán quản trị chi phígắn liền theo từng chức năng quản trị nhằm đảm bảo tính khả thi trong việc vậndụng, tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp Trong từng giai đoạn quản trị,luận văn đã xác định được những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí, cụthể như sau:
Trong giai đoạn hoạch định, thông tin kế toán quản trị chi phí là dựtoán chi phí, giá thành sản phẩm – những thông tin này phản ánh được những dựkiến, tính toán chi tiết của nhà quản trị trong việc huy động và sử dụng nguồn lựctại doanh nghiệp
Trong giai đoạn tổ chức thực hiện, kế toán quản trị chi phí cần thiếtphải nhận diện, phân loại chi phí và thực hiện báo cáo về chi phí sản xuất, giá thànhsản phẩm giúp nhà quản lý quyết định cách sử dụng hợp lý nguồn lực, từ đó có thểkiểm soát và tiết kiệm chi tiêu cho doanh nghiệp
Trang 30Trong giai đoạn kiểm tra đánh giá, phân tích biến động chi phí vàkiểm soát chi phí là những giải pháp tài chính thiết yếu để đảm bảo các kế hoạch vềchi phí của doanh nghiệp được triển khai đúng hướng
Trong giai đoạn ra quyết định, kế toán quản trị chi phí cần linh hoạtvận dụng kỹ thuật phân tích CVP và kỹ thuật phân tích thông tin thích hợp nhằmcung cấp thông tin chứng minh cho các quyết định của nhà quản lý
Đồng thời, luận văn cũng đã trình bày thực tiễn vận dụng kế toán quản trị ởmột số nước trên thế giới, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai tổchức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp
Tóm lại nội dung kế toán quản trị chi phí là tổng hợp, phân tích, đánh giáthực trạng về việc sử dụng nguồn vốn và chi phí, từ đó giúp nhà quản lý đưa rađược những quyết ngắn hạn và dài hạn Đây là cơ sở lý thuyết cho việc phản ánhthực trạng về kế toán quản trị chi phí trong Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sảnThọ Quang, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí,phát huy vai trò của kế toán quản trị chi phí phục vụ thông tin cho nhà quản lý tạiCông ty
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN THỌ QUANG THUỘC CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU
THỦY SẢN MIỀN TRUNG
2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH, TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN THỌ QUANG THUỘC CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN MIỀN TRUNG
2.1.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh tại Công ty
Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang – một đơn vị trực thuộccủa công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung – được biết đến như mộttrong những nhà cung ứng tôm, mực, cá và thủy sản sạch được tin cậy ở Việt Nam.Ngoài tôm sú và tôm thẻ chân trắng vốn là sản phẩm chủ đạo, Công ty còn sản xuấtcác loại thủy sản khác như mực nang, mực ống, bạch tuộc, cá biển, các tra, basa vàcác mặt hàng giá trị gia tăng đa dạng về chủng loại và thành phần
Sản phẩm của ngành thủy sản là sản phẩm đa dạng, chu kỳ sản xuất ngắn.Trong cùng một quá trình sản xuất, cùng loại nguyên liệu có thể cho ra nhiều loạisản phẩm có kích cỡ và phẩm cấp khác nhau Cùng quy trình công nghệ sản xuấtnhưng có thể có những yêu cầu về chất lượng sản phẩm khác nhau do các đơn đặthàng khác nhau
Để hoà nhập vào thị trường thế giới, Công ty tổ chức lại mô hình sản xuất,đẩy mạnh đổi mới, nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh với mục tiêu chính: uy tín,chất lượng, hiệu quả đồng thời phải biết gắn liền giữa sản xuất với thị trường Công
ty không thiên về số lượng sản phẩm mà chú trọng trong việc tăng về giá trị sảnlượng bằng cách tăng phẩm cấp mặt hàng, giữ vững, mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm theo hướng bền vững, tăng cường số lượng sản phẩm xuất khẩu, chú trọngsản phẩm có giá trị kinh tế cao
Trang 32Hiện nay, Công ty đang hướng đến những thị trường có nhu cầu về nhữngsản phẩm chế biến từ nguồn nguyên liệu khai thác tự nhiên Một trong những mụctiêu hàng đầu của công ty hiện nay là cung ứng các sản phẩm có chất lượng caonhằm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng về dinh dưỡng và vệ sinh Các sản phẩmcủa Công ty được tiêu thụ với doanh số lớn ở nhiều thị trường trên thế giới bao gồmNhật, Mỹ, châu Âu, châu Úc…
Sau đây là giá trị các chỉ tiêu thể hiện kết quả kinh doanh của Công ty:
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của Công ty qua ba năm
1 Tổng kim ngạch xuất khẩu
(Nguồn số liệu: Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang)
Như vậy, kết quả mà Công ty đạt được đều có sự gia tăng qua ba năm Về tổng kim ngạch xuất khẩu, năm 2008 tăng 60,4% so với năm 2007, năm 2009 tăng 3% so với năm 2008, trong khi đó về lợi nhuận Công ty năm 2008 chỉ tăng 48,65%
so với năm 2007, nhưng đến năm 2009 chỉ tiêu này tăng đến 445,45% so với năm
2008 Sự gia tăng không tương xứng của hai chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả kinh doanh của Công ty đạt được là rất lớn, góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người cho cán bộ công nhân viên trong Công ty
2.1.2 Quy trình chế biến thủy sản và tổ chức quản lý tại Công ty
2.1.2.1 Quy trình chế biến thủy sản
Chế biến thủy sản là quá trình chuyển hóa, bảo quản các nguyên liệu tươithủy sản thành các lại thực phẩm hải sản có dạng sống hoặc chín Quy trình côngnghệ chế biến sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến đặc điểm chi phí của các doanh nghiệpthuộc lĩnh vực này Hầu hết các mặt hàng đông lạnh tại công ty đều được chế biếntheo qui trình khái quát như sau (Hình 2.1):
Trang 33Hình 2.1 Quy trình chế biến thủy sản tại Công ty
Trong qui trình chế biến:
- Tiếp nhận nguyên vật liệu, trên thực tế khi đưa vào sử dụng cho chế biến đềuphải qua các khâu như: tuyển chọn, giám sát chất lượng, số lượng…
- Chế biến sản phẩm: trong công đoạn này, công nhân tiến hành lột đầu, vỏ, …của tôm, cá
- Cấp đông, báo gói, bảo quản và nhập kho thành phẩm là công đoạn cuốicùng để đi đến một chu kỳ sản xuất
Công nghệ sản xuất hiện đại mà công ty sư dụng đã nâng cao năng suất lên một cách đáng kể, góp phần tăng lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn công ty trong những năm qua
2.1.2.2 Tình hình thu mua nguyên liệu
Mạng lưới thu mua: Chuẩn bị nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất là khâu
quan trọng và là cơ sở tiền đề của quá trình sản xuất, tại công ty việc thu muanguyên vật liệu được tiến hành như sau:
- Từ các ngư dân: các ngư dân là người trực tiếp đánh bắt thuỷ sản rồi đembán lại cho công ty Việc mua nguồn hàng này có ưu điểm là giá cả rẻ nhưng khóđảm bảo được chất lượng và chung lọai kích cỡ theo yêu cầu
- Từ các hộ nuôi trồng thuỷ sản: nguồn hàng cung cấp từ các hộ nuôi trồng
có phần đảm bảo chất lượng hơn và tạo được nguồn cung cấp nguyên liệu lâu dài
- Từ các đầu nậu: là những người có kinh nghiệm buôn bán lâu năm , khimua theo cách này tuy giá cả cao hơn nhưng nguồn hàng được đảm báo về chấtlượng, chủng loại đồng thời công ty có thể tiết kiệm được một khoản chi phí giaodịch
Tiếp nhận NVL
Chế biến SP Cấp đông SP
Đóng gói hoàn chỉnh Bảo quản thành phẩm
Trang 34- Từ các doanh nghiệp khác: trong trường hợp công ty không đủ nguồnnguyên liệu để sản xuất thì có thể mua từ nguồn hàng này nhằm đảm bảo hợp đồngvới khách hàng.
Giá cả và phương thức thanh toán: Công ty tiến hành định giá nguồn hàng
mua dựa trên mức giá chung trên thị trường, trên cơ sở tính toán lãi lỗ chi phí vậnchuyển.Tuy nhiên, việc định giá này được thực hiện một cách linh hoạt tuỳ từng
trường hợp cụ thể
Phương thức thanh toán chủ yếu của công ty là bằng tiền mặt, chỉ những giaodịch ở xa thì mới thanh toán thông qua ngân hàng
Vận chuyển, bảo quản nguồn hàng thu mua: Nguyên liệu thu mua đều phải
được kiểm tra, bảo quản cẩn thận trước khi đưa vào chế biến và được chuyên chở,lưu kho bằng xe đông lạnh và kho lạnh
Sản lượng nguyên liệu thu mua: Do tính chất công việc phụ thuộc vào thời
tiết, mùa vụ…nên khi quyết định thu mua bao nhiêu công ty cân nhắc rất kỹ về sốlượng, chủng loại, chất lượng nhằm tránh trường hợp mua nhiều dẫn đến tốn kémchi phí tồn kho, chất lượng bị giảm sút
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý
Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang được tổ chức quản lý theo mô hình sau (Hình 2.2):
Trong đó,
- Giám đốc: Là người đứng đầu Công ty, có trách nhiệm cao nhất, trực tiếpchỉ đạo, điều hành và quản lý các mặt trong hoạt động sản xuất của Công ty Giámđốc có quyền qui định bộ máy tổ chức và nhân sự, bổ nhiệm các chức danh từtrưởng phòng trở xuống, có quyền tăng lương, chi thưởng cho các cá nhân có thànhtích trong công tác
- Phó giám đốc: Gồm hai Phó giám đốc, có nhiệm vụ tham mưu hỗ trợ chogiám đốc về việc điều hành, quản lý, xây dựng các phương án sản xuất kinh doanhtại Công ty Trong phạm vi quyền hạn được phân công, phó giám đốc có quyền tổ
Trang 35chức chỉ đạo các công việc được giao Thường xuyên phản ánh vướng mắc tồn tại
để giám đốc ra quyết định giải quyết kịp thời
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyếnQuan hệ chức năng
Hình 2.2 Mô hình tổ chức quản lý tại Công ty
- Phòng nhân sự - hành chính: Quản lý các hoạt động hoạch định nhân sự,tuyển dụng và bố trí nhân viên trong công ty
- Phòng kế hoạch sản xuất: Chức năng mở rộng ngành nghề, khai thác sảnphẩm và thị trường tiêu thụ, cố vấn cho giám đốc về các lĩnh vực kinh doanh, lập kếhoạch sản xuất kinh doanh cho từng đơn vị sản xuất kinh doanh cho từng đơn vị.Tiến hành thu mua nguyên vật liệu cho sản xuất, thực hiện các cuộc trao đổi vớikhách hàng
- Phòng kế toán – tài vụ: Bao gồm một kế toán trưởng, một kế toán tiền vàmột kế toán vật tư; đảm nhận hạch toán tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại
Phòng Nhân
sự - Hành chính
Phòng Kế
hoạch sản
xuất
Phòng Kế toán – tài vụ
Phòng Quản
lý chất lượng
Phân xưởng
cơ điện
Trang 36công ty, chịu trách nhiệm giám đốc về hệ thống kế toán tài chính và ngân sách củacông ty, lập báo cáo tài chính theo định kỳ và gửi lên Công ty Cổ phần xuất nhậpkhẩu thủy sản Miền Trung, quản lý và lưu trữ tài liệu hồ sơ chứng từ.
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN THỌ QUANG
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp trong nước nói chung vàCông ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang nói riêng đều phải đối đầu với
sự cạnh tranh gay gắt về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ Để tồn tại vàphát triển trong điều kiện này, đòi hỏi Công ty phải kiểm soát chặt chẽ chi phí để cónhững quyết định hợp lý về giá bán nhằm đem lại lợi nhuận và nâng cao hiệu quảkinh doanh cho Công ty KTQT chi phí đã hình thành tại Công ty xuất phát từ nhucầu thực tiễn của quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, công tác tổ chức KTQTchi phí tại Công ty chỉ dừng lại ở một số nội dung đơn giản, các thông tin về KTQTchi phí được thiết kế trên cơ sở phát triển số liệu từ KTTC để cung cấp thông tincho ban quản lý Hơn nữa, Công ty chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện KTQTchi phí, mà nội dung KTQT chi phí được thực hiện đan xen giữa các bộ phận trongCông ty: phòng kinh doanh, phòng kế toán, bộ phận thống kê phân xưởng Từ thực
tế đó, nội dung KTQT chi phí tại Công ty bao gồm:
- Phân loại chi phí theo công dụng của chi phí
- Lập dự toán chi phí sản xuất và dự toán giá thành sản phẩm
- Kiểm soát chi phí sản xuất thông qua các báo cáo thống kê tại phân xưởngsản xuất
2.2.1 Công tác phân loại chi phí tại Công ty
Hiện nay, công ty phân loại chi phí theo công dụng của chi phí Cách thứcphân loại chi phí này chỉ đáp ứng yêu cầu của kế toán tài chính, phục vụ cho côngtác tính giá thành và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Theo đó toàn bộ chiphí sản xuất kinh doanh của công ty được phân loại như sau:
2.2.1.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 37Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh chủ yếu tại các phân xưởng sảnxuất, bao gồm toàn bộ giá trị nguyên liệu chính và vật liệu phụ xuất dùng trực tiếptrong quá trình chế biến tạo ra thành phẩm như: chi phí thu mua tôm, cá, mực cácloại … Đây là loại nguyên liệu vật liệu chủ yếu không thể thiếu khẳng định sự tồntại và phát triển của Công ty.
- Chi phí nguyên liệu chính
Mặt hàng kinh doanh chủ yếu tại Công ty là các sản phẩm đông lạnh do đóhoạt động chủ yếu tại các phân xưởng của Công ty là sơ chế các sản phẩm thuỷ sản.Nguồn nguyên liệu chính là những nguyên liệu thuỷ sản được đánh bắt và nuôitrồng như tôm, cá, mực… với các kích cỡ đa dạng Chính vì vậy, chi phí nguyên vậtliệu chính đưa vào quá trình sản xuất chiếm tỷ trọng rất lớn, thường 80% - 90%trong tổng chi phí phát sinh tại các phân xưởng cũng như toàn Công ty
- Chi phí vật liệu phụ
Trong quá trình chế biến ngoài nguyên liệu chính còn có nguyên vật liệu phụkết hợp với nguyên liệu chính để tạo nên sản phẩm hoặc để bảo quản, tăng chấtlượng sản phẩm Vật liệu phụ chủ yếu là: các loại hóa chất khử vi sinh, nước, đábào, bao PE, bao PA, thùng carton…chi phí này chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng chi phíphát sinh tại các phân xưởng
2.2.1.2 Chi phí nhân công trực tiếp
Tại công ty chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền cơm ca và cáckhoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, đây chính là tổng quỹ tiềnlương của bộ phận trực tiếp sản xuất tại các phân xưởng sản xuất Theo đó tổng quỹtiền lương của từng bộ phận được tính dựa trên đơn giá tiền lương do phòng tổ chứchành chính công ty xây dựng và tổng lượng thành phẩm do bộ phận đó sản xuấttrong kỳ
2.2.1.3 Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung tại Công ty bao gồm nhiều khoản mục chi phí sau:
Trang 38- Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm tiền lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên phục vụ tại phân xưởng như bộ phận vệ sinh, KCS, tổ sửa chữabảo trì máy móc,…
- Chi phí vật tư sữa chữa phục vụ sản xuất: bao gồm các khoản chi về mua các
loại vật tư không xuất dùng trực tiếp cho từng sản phẩm mà nó phục vụ chung chotoàn phân xưởng chế biến như chi phí vật tư để sử chữa trang thiết bị, các loại dầubôi trơn, các hoá chất cồn, các loại ga NH3, clorin, axít chanh, xà phòng, muối mìchính, dụng cụ thuỷ tinh dùng cho kiểm nghiệm …
- Chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm giá trị của dao cắt, DP bổ sung Board ổ
điện, đồ bảo hộ lao động, ổ khóa, decal, rổ, xốp,…
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao nhà xưởng và khấu hao máy
móc thiết bị như tủ đông, thiết bị chạy đông,… mức trích khấu hao hàng kỳ là dođơn vị cấp trên giao xuống, đơn vị sử dụng mức trích này để hạch toán chi phí trongkỳ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác: Bao gồm tiền điện,
điện thoại, chi phí vệ sinh công nhân, cước phí vận chuyển,…
2.2.1.4 Chi phí bán hàng
Ngoài việc chế biến tạo ra thành phẩm, Công ty còn phải tổ chức tiêu thụ sảnphẩm Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Công ty phải bỏ ra một khoản chi phí nhấtđịnh, những chi phí này được gọi là chi phí bán hàng Chi phí này được chia thànhcác khoản mục chi phí sau:
+ Chi phí vận chuyển, bốc xếp
+ Phí uỷ thác xuất khẩu: Công ty thường không trực tiếp đứng ra thực hiện
các hợp đồng xuất khẩu hàng mà phải qua một công ty trung gian thông qua hoạtđộng uỷ thác Chính vì vậy, Công ty phải chi trả một khoản chi phí cho bên nhận uỷthác, chi phí này được gọi là phí thác xuất khẩu
+ Chi phí bán hàng khác như các khoản chi phí như tiền công tác phí, chi tiếp
khách, chi đóng hàng vào container, phí thông báo LC, phí chuyển tiền, phí chứngtừ…
Trang 392.2.1.5 Chi phí quản lý doanh nghiệp
Để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Công ty phải chi racác khoản chi phí phục vụ cho quản lý chung toàn Công ty, bao gồm:
- Tiền lương và các khoản trích theo lương bộ phận quản lý: bao gồm tiền
lương và các khoản trích theo lương của giám đốc, phó giám đốc, nhân viên cácphòng ban,…
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm chi phí khấu hao phòng làm việc và máy
móc thiết bị văn phòng
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm tiền điện, tiền điện thoại
- Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm chi tiếp khách, chi văn phòng phẩm, chi
thanh toán lệnh xe, tiền xăng, vé máy bay, chi chăm sóc cây cảnh, hỗ trợ đoàn làmphim,…
Công tác phân loại chi phí tại Công ty được thể hiện qua Bảng 2.2, trang 41
Nhận xét về công tác phân loại chi phí tại Công ty
Qua tìm hiểu về thực tế công tác phân loại chi phí tại Công ty, luận văn xinđưa ra một số nhận xét như sau:
a Về ưu điểm
- Thứ nhất, tại Công ty, các chi phí phát sinh được phân loại theo công dụngcủa chi phí, theo đó chi phí được xây dựng theo năm khoản mục chi phí (Chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp) Việc phân loại chi phí như vậy có ýnghĩa trong việc xác định chi phí sản xuất, tính giá thành theo phương pháp toàn bộcho sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là lập báo cáo tài chính cho Công ty
- Thứ hai, đối với các chi phí sản xuất, Công ty đã vận dụng tiêu thức căn cứvào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí, ngoài chi phí sản xuấtchung là chi phí gián tiếp, thì chi phí sản xuất trực tiếp bao gồm chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, công ty đã hạch toán các chi phí nàytheo từng mặt hàng sản xuất Đây là cơ sở để Công ty có thể lập dự toán chi phí cho
Trang 40từng mặt hàng trong từng kỳ phục vụ cho công tác kiểm soát chi phí và cung cấpthông tin chi phí về từng mặt hàng cho các cấp quản trị.
- Thứ ba, qua công tác phân loại chi phí như trên, Công ty có thể phân biệtđược chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản xuất; phân biệt được chi phí sản phẩm vàchi phí thời kỳ Từ đó có thể mô tả được vai trò của chi phí trên báo cáo thu nhập vàbảng cân đối kế toán
b Tồn tại
Trong quá trình điều hành và quản lý hoạt động của Công ty, nhà quản trị luônluôn cần các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh Đứng trên quan điểm kếtoán, các thông tin mà nhà quản trị cần đa số thường có liên quan đến chi phí củaCông ty Tuy nhiên, công tác phân loại chi phí tại Công ty chưa thực sự quan tâmđến kế toán quản trị, đến nhu cầu thông tin chi phí của nhà quản lý bởi lẽ công tácnày còn tồn tại các nhược điểm như sau:
- Việc vận dụng các tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp còn hạn chế như tiêuthức phân bổ chưa xác đáng Tại Công ty chi phí sản xuất chung được phân bổ chocác sản phẩm theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Hơn nữa các chi phí được tậphợp theo từng khoản mục sau đó mới phân bổ cho các mặt hàng, điều này dẫn đến
độ chính xác của chi phí phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí chưa cao
- Công ty chưa vận dụng tiêu thức phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi
phí Việc phân loại chi theo cách ứng xử là một trong những cách phân loại cung
cấp nhiều thông tin hữu ích cho nhà quản trị, qua đó sẽ giúp nhà quản trị Công tyđưa ra những quyết định trong ngắn hạn hoặc dài hạn Cách phân loại chi phí thànhbiến phí và định phí là cơ sở quan trọng trong việc phân tích điểm hoà vốn, đồngthời áp dụng cách phân loại này trong phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng -lợi nhuận là một việc làm thiết thực đối với Công ty bởi vì nó giúp cho nhà quản lýthấy được sự liên quan giữa 3 yếu tố quyết định sự thành công của công ty mình, từkhối lượng bán ra và các chi phí tương ứng công ty sẽ xác định được lợi nhuận Mặtkhác, Công ty sẽ dựa trên mô hình chi phí - khối lượng - lợi nhuận để đề ra nhữngchiến lược kinh doanh hiệu quả