Trong những năm 1928-1929 kỹ sư nổi tiếng người Pháp E.Freyssinet đã lần đầu tiên chứng minh có thể và cần sử dụng loại thép có cường độ cao để nâng lực gây ứng suất trước trong bê tông
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“THIẾT KẾ SÀN BÊTÔNG ỨNG LỰC TRƯỚC, NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA
SÀN BT ƯLT SO VỚI BTCT THƯỜNG”
Giảng Viên Hướng Dẫn : KS: NGUYỄN VĨNH SÁNG
Sinh Viên Thực Hiện : LÂM BÁ HOÀN - 1051012296 LÊ THỊ THÚY - 1051012642 Lớp : S13-K52C_XD
TP.HCM 12/2014
Trang 2Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại lớp S13K52C-XD, Khoa xây dựng dân
dụng và công nghiệp, Trường Đại Học Thủy Lợi Cơ Sở 2, dưới sự giảng dạy của
các thầy giáo trong khoa, sự giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn trong nhóm
nghiên cứu đề tài khoa học sinh viên, cộng với sự nỗ lực của bản thân, chúng em đã
hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học với đề tài: “Thiết kế sàn bêtông ứng lực
trước, những ưu nhược điểm của sàn ứng lực trước so với sàn bêtông cốt thép
thường”
Chúng em xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo Trường Đại Học Thủy
Lợi Cơ Sở 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu tại trường
Chúng em đặc biệt cảm ơn thầy giáo Th.s: Bùi Sĩ Mười và KS Nguyễn Vĩnh
Sáng – Người đã có công lớn trong việc hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo chúng
em để có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khoa học này
Trong việc tính toán và tìm hiểu vấn đề cũng không thể tránh khỏi sai sót
mong các thầy trong Bộ môn Xây dựng dân dụng và công nghiệp cho chúng em ý
kiến đóng góp để chúng em có cách nhìn tổng quan hơn, chính xác hơn vấn đề
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
MỞ ĐẦU 1
* Lý do nghiêncứu 1
* Mụcđíchnghiêncứu 1
* Phươngphápnghiêncứu 1
* Phạmvinghiêncứu 1
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SÀN BÊTÔNG CỐT THÉP THƯỜNG 2
I.1 Kháiniệmvềsànbêtôngcốtthép (BTCT) thường 2
I.2 Phươngpháptínhsàn BTCT thường 2
I.2.1 Phânloạibảnsàn 2
I.2.2 Chọn sơ bộ kích thước bản sàn, dầm phụ, dầm chính 2
I.2.3 Tínhnộilựcsàn 3
CHƯƠNG II: CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI SÀN BÊTÔNG ỨNG LỰC TRƯỚC 8
II.1 Tìmhiểuvềlịchsửhìnhthànhcủabêtôngứnglựctrước 8
II.2Giớithiệukháiquátvềviệcsửdụngbêtôngứngsuấttrước ở Việt Nam hiện nay Phântíchưunhượcđiểmvàứngdụngthựctiễn 9
II.2.1Giớithiệukháiquátvềviệcsửdụngbêtôngứngsuấttrước ở Việt Nam hiện nay 9
II.2.2Đánhgiávềưuđiểm, nhượcđiểmcủasànbêtôngứngsuấttrước 12
II.3.Tìmhiểuvềkếtcấubêtôngứngsuấttrướcbaogồmcáckháiniệm, cácphươngphápgâyứngsuấttrước, nhữngvậtliệusửdụngtrongbêtôngứngsuấttrướcvàcácthiếtbịsửdụngtạoứngsuấttrước 13
II.3.1Kháiniệmchungvềbêtôngứngsuấttrước 13
II.3.2Cácphươngphápgâyứngsuấttrước 13
II.3.3Nhữngvậtliệusửdụngtrongbêtôngứngsuấttrước 16
II.3.4Cácthiếtbịsửdụngtạoứngsuấttrước 19
II.3.4.1Phươngphápcăngtrước 19
Trang 4II.4Cácphươngpháptínhtoánsànbêtôngứngsuấttrước 22
II.4.1Cácquanniệmphântíchkếtcấubêtôngứnglựctrước 22
II.4.2.Cácphươngpháptínhtoánnộilựctrongsànphẳng 25
II.4.2.1Phươngphápphânphốitrựctiếp: 25
II.4.2.2Phươngphápkhungtươngđương 27
II.4.2.3Phươngphápphầntửhữuhạn 30
II.4.3Thiếtkếbêtôngứngsuấttrướcvớilướicộtđềuđặnvàlướicộtngẫunhiên 31
II.4.3.1Thiếtkếbêtôngứngsuấttrướcvớilướicộtđềuđặn 31
II.4.3.2Thiếtkếbêtôngứngsuấttrướcvớilướicộtngẫunhiên 39
CHƯƠNG III: VÍ DỤ TÍNH TOÁN SO SÁNH 43
III.1 Tínhtoánsànbêtôngcốtthépthường 43
III.1.1Chọnsơbộkíchthướccáccấukiện 43
III.1.2Xácđịnhtĩnhtải, hoạttải 44
III.1.3Tínhtoáncụthểcho ô bảnđiểnhình 45
Tínhtoánmômen 45
Tínhtoáncốtthép 46
Tínhtoánvõng 47
III.2.Tínhtoánvàthiếtkếsànứnglựctrước 53
III.2.1Các quan niệm phân tích kết cấu BT ƯLT 54
III.2.1.1Quanniệmthứnhất 54
III.2.1.2Quanniệmthứhai 54
III.2.1.3Quanniệmthứba 54
III.2.2Thôngsốđầuvào 56
III.2.2.1Kích thước sàn 56
III.2.2.2Vật liệu 58
III.2.3Tải trọng cân bằng 58
III.2.3.1Tải trọng tác dụng 58
III.2.4Thiết kế ô sàn 59
Trang 5III.2.4.2Thông số về ứng lực trước 59
III.2.4.3Tổn hao ứng suất trước 59
III.2.5Tính toán số lượng cáp cần bố trí 61
III.2.5.1Chọn đường cáp ứng lực trước 61
III.2.5.2Tải trọng cân bằng tính toán 63
III.2.6Phânphốicápứnglựctrước 65
III.2.7Xácđịnhđặctrưngcủakhungtươngđươngtheophương A’ – B – C – D’ 66
III.2.7.1Cột tương đương 67
III.2.7.2Xác định tiết diện cấu kiện khung tương đương 70
III.2.7.3Xác định nội lực khung 71
III.2.8Kiểmtraứngsuấttrongbêtông 71
III.2.8.1Kiểmtraứngsuấttảithờiđiểmbulông neo 71
III.2.8.2Kiểm tra ứng suất tải thời điểm sử dụng 74
III.2.8.3Kiểmtraứngđiềukiệnchịuuốn 77
III.2.9Lựccắtvàcườngđộmômentruyềntải ở cộtngoài 80
III.2.9.1Lựccắtvàmômentruyềntải ở cộtngoài 80
III.2.9.2 Lựccắtvàmô men truyềntải ở cộtgiữa 82
III.2.10Tínhđộvõngcủasàn 85
III.2.10.1Tínhđộvõngcủadảisàntrênhàngcộttheophươngngangnhà 85
III.2.10.2Độvõngcủa ô sàn 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
MỘT SỐ KÝ HIỆU, VIẾT TẮT……… 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6Më ®Çu
* Lý do nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập và phát triển hiện nay, việc hiểu biết tiêu chuẩn thiết kế
của các nước tiên tiến đối với những người làm công tác kỹ thuật là cần thiết Tiêu chuẩn
ACI318 – 2008 của Mỹ đã được áp dụng nhiều trên thế giới về bê tông ứng lực trước
Hiện nay, sàn bê tông ứng lực trước căng sau được ứng dụng ngày càng phổ biến
trong các công trình xây dựng Trong tiêu chuẩn TCVN 5574 : 2012 đã ban hành chủ yếu
đề cập đến thiết kế cấu kiện dầm bêtông ứng lực trước
Đề tài “Thiết kế sàn bê tông ứng lực trước căng sau,những ưu nhược điểm của
sàn ứng lực trước so với sàn bê tông cốt thép thường” sẽ đề cập tổng quan về tiêu chuẩn
ACI318 – 2002 và trình tự thiết kế cụ thể cho sàn không dầm bêtông ứng lực trước
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định về vật liệu, tải trọng và nguyên lý cấu tạo đối với sàn bê
tông ứng suất trước
Nghiên cứu quy trình thiết kế sàn không dầm bê tông ứng lực trước theo tiêu
chuẩn ACI318 – 2002
Trên cơ sở đó để so sánh, đánh giá một cách tổng quan về sàn bê tông ứng lực
trước và sàn bê tông cốt thép thường
* Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiêu chuẩn ACI318-2002, TCVN 5574-2012 và các tài liệu liên quan
* Phạm vi nghiên cứu
Sàn không dầm bê tông cốt thép ứng lực trước căng sau trong nhà cao tầng
Trang 7CHƯƠNG I:
SƠ LƯỢC VỀ TÍNH TOÁN SÀN BÊ TÔNG CỐT THÉP THƯỜNG
I.1 Khái niệm về sàn bê tông cốt thép (BTCT) thường:
Sàn là kết cấu chịu trực tiếp tải trọng sử dụng, hệ sàn được đỡ bởi hệ dầm, dầm truyền tải
lên cột và cột truyền xuống móng
Sàn BTCT được sử dụng rất phổ biến vì những ưu điểm của nó như: chịu lực lớn, chống
cháy tốt, độ ổn định lớn,… nhưng sàn BTCT vẫn có những khuyết điểm như cách âm
chưa thật tốt (cần phối hợp với các vật liệu cách âm), thi công phức tạp, trọng lượng bản
thân lớn
I.2 Phương pháp tính sàn BTCT thường:
I.2.1 Phân loại bản sàn:
Theo sơ đồ kết cấu ta chia thành các loại sàn như sau:
- Sàn loại bản – dầm: (hay còn gọi là sàn 1 phương) là dạng sàn chịu uốn theo 1
phương hoặc 2 phương nhưng phương còn lại chịu uốn rất nhỏ Liên kết có thể là
kê lên tường hoặc đổ liền khối với dầm, nhưng chỉ ở 1 hoặc 2 cạnh đối diện
- Sàn loại bản kê bốn cạnh (còn gọi là sàn 2 phương): là dạng sàn chịu uốn theo 2
phương, liên kết có thể là kê lên tường (gối) hoặc đổ liền khối với dầm (ngàm), các
liên kết với dầm có ở nhiều hơn 2 cạnh kề
Hay ta có bảng so sánh như sau để phân biệt rõ hơn về sàn 1 phương và sàn 2 phương:
Bảng I.1 Phân biệt sàn 1 phương và sàn 2 phương
Trang 8Với ô bản liên kết 4 cạnh, chịu uốn hai phương m = 40 50
Với ô bản một phương dạng bản công xôn m = 10 15
Tính nội lực sàn theo sơ đồ đàn hồi
I.2.3.1 Nội lực của bản một phương:
I.2.3.1.1 Tính mômen
a Sơ đồ tính toán
Với bản một phương, để tính toán nội lực người ta thường lấy một dải bản rộng là b làm
đại diện, tính nội lực của dải bản như đối với dầm Thông thường b = 1m
Tải trọng toàn phần trên dải bản là q phân bố đều:
q = (g+p).b(kN/m)(I-2) Với ô bản tĩnh định chỉ dùng một sơ đồ để xác định nội lực, có thể tham khảo ở phụ lục 1
trang 151 sách “Sàn Sườn Bê Tông Toàn Khối” của GS.TS Nguyễn Đình Cống
Tải trọng: Tĩnh tải g (trọng lượng bản thân bản BTCT và các lớp cấu tạo )
Hoạt tải p (tải trọng sử dụng trên sàn) phân bố đều trên mặt sàn được quy
vềphân bố đều trên dải bản
Với bản siêu tĩnh, liên tục, có thể dùng sơ đồ đàn hồi hoặc sơ đồ dẻo.Ở đây ta sẽ tính với
sơ đồ đàn hồi
Trang 9b Tính bản theo sơ đồ đàn hồiTính dải bản một phương, liên tục theo sơ đồ đàn hồi có
thể dùng các phương pháp của cơ học kết cấu về tính toán dầm liên tục Trong trường
hợp các nhịp lt bằng nhau, có thể dùng công thức sau:M = (αa.g + αb.p)𝑙𝑡2(I-3)
Với các hệ số αa, αb được tính sẵn như bảng I.2 bên dưới
Bảng I.2 Hệ số để tính toán mô men dải bản nhiều nhịp bằng nhau, chịu tải trọng phân bố
đều, theo sơ đồ đàn hồi
I.2.3.1 Nội lực của bản hai phương:
a Sơ đồ tính toán:
Xét ô bản có liên kết 4 cạnh với nhịp tính toán lt1 và lt2 trong đó lt2 là cạnh dài hơn Tính
toán ô bản chịu uốn hai phương khi 2
1
2
t t
l với l1 và l2 là nhịp nguyên theo hai phương (nhịp nguyên là khoảng cách các trục
giữa gối tựa)
Trang 10Hình 1-1 Sơ đồ tính toán ô bản hai phương
Khi tính toán ô bản theo phương pháp phần tử hữu hạn người ta chia bản thành các phần
tử tấm, tính toán mô men theo hai phương của mỗi phần tử
Khi tính toán bằng các công thức người ta lấy hai bản giao nhau ở giữa ô bản, tính toán
mô men cho hai dải đại diện đó Có thể tính toán theo sơ đồ dẻo hoặc sơ đồ đàn hồi
Ở đây ta cũng tính theo sơ đồ đàn hồi
b Tính bản theo sơ đồ đàn hồi
Ô bản đơn có liên kết ngàm:
Hình 1-2 Mômen trong ô bản có cạnh ngàm
Trang 11Công thức tính toán của các mômen là:
M1 = α1.q.lt1.lt2 ; M2 = α2.q.lt1.lt2,(I-4, I-5)
Trong đó hệ số α1, α2 tra bảng phụ lục 6, loại ô bản số 0 (α01 ; α02) trang 160 sách “Sàn
Sườn Bê Tông Toàn Khối” của GS.TS Nguyễn Đình Cống
MA1 và MB1 tính theo công thức:
MA1 = β1.q.lt1.lt2 ; MB1 = β2.q.lt1.lt2 (I-6, I-7)
MA2 và MB2 tính theo công thức:
MA2 = β1.q.lt1.lt2 ; MB2 = β2.q.lt1.lt2 (I-8, I-9)
Tính toán bản liên tục theo sơ đồ đàn hồi:
Khi nhịp tính toán lt1, lt2 (hoặc nhịp nguyên l1, l2) gần bằng nhau theo mỗi phương cũng
có thể tách thành các ô bản đơn để tính toán Lúc này kể đến vị trí bất lợi của hoạt tải p
người ta xem xét các trường hợp hoạt tải cách ô và hoạt tải đặt trên toàn bản
Với mô men âm MA, MB trên các gối tựa lấy hoạt tải trên toàn bản, tính MA, MB theo
α 01 , α 02 Giá trị α1, α2 ứng với bản có bốn cạnh kê tự do
α 1 , α 2 Giá trị ứng với bản có các gối giữa ngàm
I.2.3.1.2 Tính lực cắt
Trang 12Trong bản của sàn sườn thường không đặt cốt thép ngang chịu lực cắt do đó chiều dày
bản phải được chọn để cho riên bê tông đủ khả năng chống cắt Thông thường lực cắt
trong bản của sàn sườn là khá bé, điều kiện vừa nêu thường được thỏa mãn nên có thể bỏ
qua việc tính toán và kiểm tra theo lực cắt
Trường hợp bản chịu tải trọng khá lớn, nếu cần kiểm tra về lực cắt thì có thể tính theo
công thức sau đối với bản liên tục một phương theo sơ đồ đàn hồi
Q = (βa.g + βb.p).lt(I-14)
Hệ số βa và βb cho ở bảng I.3 dưới đây:
Bảng I.3 Hệ số lực cắt dải bản nhiều nhịp bằng nhau, tải trọng phân bố đều,
theo sơ đồ đàn hồi
Trang 13CHƯƠNG II
CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SÀN BÊTÔNG ỨNG LỰC TRƯỚC
II.1 Tìm hiểu về lịch sử hình thành của bê tông ứng lực trước:
Một trong những phát minh lớn trong kỹ thuật xây dựng ở thế kỷ 20 chính là bê tông
ứng lực trước Nó được ứng dụng rộng rãi tại hầu hết các nước tiến tiến trên thế giới từ
hơn 50 năm nay
Trong những năm 1928-1929 kỹ sư nổi tiếng người Pháp E.Freyssinet đã lần đầu tiên
chứng minh có thể và cần sử dụng loại thép có cường độ cao để nâng lực gây ứng suất
trước trong bê tông lên tới trên 4000 kg/cm2 mới có thể triệt tiêu được tòan bộ các tổn
hao ứng suất do các nguyên nhân xảy ra trong quá trình thi công và sủ dụng kết cấu Đến
năm 1933 ông đã phát minh ra công nghệ dự ứng lực trước
Thành công trong việc gây ứng lực trước bằng việc sử dụng cốt thép cường độ cao đã
nhanh chóng đưa kết cấu bê tông ứng lực trước vào các công trình xây dựng Đến năm
1939 E.Freyssinet đã sáng chế ra công cụ căng thép bằng loại kích rỗng 2 thì và bộ neo
hình côn có độ tin cậy cao trong việc giữ 2 hoặc 1 đầu cốt thép được căng không bị tuột
bảo đảm cho sự truyền lực căng vào kết cấu trong quá trình đang thi công và sử dụng
Ở châu Âu kết cấu bê tông ULT phát triển nhanh chóng ở Pháp, Bỉ, rồi đến Anh, Đức,
Thụy Sỹ, Hà Lan Trong gần 500 cầu được xây dựng ở Đức từ năm 1949 đến 1953 đã có
350 cầu bê tông ứng lực trước Ở Liên Xô trước đây và CH Liên bang Nga hiện nay các
cấu kiện bê tông đúc sẵn như tấm sàn từ 6m, dầm, dàn khẩu độ từ 18m trở lên đều quy
định dùng bê tông ULT Trong các nhà máy bê tông đúc sẵn thường sử dụng các bệ đúc
có chiều dài từ 30m đến 180m rất tiện lợi cho chế tạo hàng loạt các cấu kiện bê tông ULT
theo công nghệ căng trước
Những cấu kiện có khẩu độ lớn tới 100m tỏ ra rất có hiệu quả khi dùng bê tông ULT
Tại Mỹ chú trọng ứng dụng bê tông ULT vào xây dựng các bể chứa nhiên liệu có dung
tích từ 10 000 m3 trở lên
Trong lĩnh vực xây dựng nhà cao tầng, sử dụng bê tông ULT cho phép tăng kích thước
lưới cột, hoặc giảm chiều dày sàn, khối lượng thép cũng được giảm đáng kể Các ô sàn
phẳng không dầm khẩu độ lớn tới 15,6 m mà chiều dày bê tông ULT không quá 15cm
dầm đã sớm được ứng dụng ở Mỹ Trong các phương pháp thi công bằng hệ kích nâng
sàn bê tông ULT đúc sẵn, mỗi tấm sàn phẳng có trọng lượng từ 300 tấn đến 800 tấn cũng
được áp dụng phổ biến ở châu Âu
Ở châu Á, nhất là các nước trong khu vực, các kết cấu bê tông ứng lực trước được áp
dụng phổ biến một phần nhờ đã sản xuất được các loại thép cường độ cao, các loại cáp
Trang 14ứng lực trước, các loại neo và phụ kiện kèm theo phù hợp với các tiêu chuẩn tiên tiến có
giá thành hợp lý như Trung Quốc, Singapore, Inđôneia, Thái Lan… Chẳng hạn ở
Inđônexia có tới 80% khối lượng kết cấu các ngôi nhà cao tầng được sử dụng bê tông ứng
lực trước Nhiều ngôi nhà cao 30-40 tầng xây dựng ở Thái Lan được sử dụng hệ sàn
phẳng không dầm bê tông ứng lực trước
Tại Singapore ngoài các chung cư, khách sạn, trụ sở cao tầng còn dùng sàn bê tông ứng
lực trước trong công trình bệnh viện, trường học với lưới cột thông dụng 8m x 8m
Năm 2003 công ty Pryssinet đã được thành lập tại Việt Nam
Ta thấy cho đến nay tại Việt Nam vẫn chưa có một tiêu chuẩn , quy phạm chính
thức nào được biên soạn để đảm bảo thống nhất trong việc thiết kế, thi công, nghiệm thu
kết cấu bê tông ứng lực trước Trong xây dựng dân dụng do gặp nhiều khó khăn trong
thiết kế , thi công kết cấu bê tông ứng lực trước nên nhiều công trình lớn chỉ dùng giải
pháp truyền thống là bê tông cốt thép thông thường đặc biệt đối với sàn phẳng nên không
đem lại hiệu quả cao về thẩm mỹ và kinh tế Sàn phẳng bê tông ứng lực trước được
nghiên cứu để thiết kế cho những ô sàn khẩu độ lớn dùng nhiều trong nhà cao tầng và các
công trình văn hoá thể thao hiện đại như nhà hát lớn , các khu hội chợ triển lãm, siêu thị,
bảo tàng, sân vân động …
II 2 Giới thiệu khái quát về việc sử dụng bê tông ứng suất trước ở Việt Nam hiện
nay Phân tích ưu nhược điểm và ứng dụng thực tiễn
II.2.1 Giới thiệu khái quát về việc sử dụng bê tông ứng suất trước ở Việt Nam hiện
nay
Từ đầu những năm 1990 trở lại đây, trước yêu cầu xây dựng nhà nhiều tầng, nhà
nhịp lớn tăng mạnh và do công nghệ nước ngoài được đưa vào nhiều theo cùng với vốn
đầu tư nước ngoài, công nghệ ứng lực trước đã bắt đầu được dùng trong kết cấu nhà cửa
ở Việt Nam chủ yếu là trong kết cấu sàn, và có xu hướng trở nên phổ biến hơn
Tại Hà Nội, TP.HCM và các TP khác của nước ta trong những năm qua đã có
những bước đột phá trong việc xây dựng các khu chung cư cao tầng, nhà làm việc, văn
phòng cho thuê hay các khu tổ hợp đa chức năng Trong những năm vừa qua (tính đến
thời điểm Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009) tổng diện tích nhà ở tăng thêm 706
triệu m2, tăng gần gấp đôi so với năm 1999 Chất lượng nhà ở ngày được nâng cao, tỷ lệ
nhà ở kiên cố tăng từ 12,8% (năm 1999) lên 46,77% (năm 2009)
Ở Việt Nam việc ứng dụng công nghệ bê tông ứng lực trước đã được thực hiện từ
những năm 70, 80 Tuy nhiên phạm vi áp dụng còn hạn hẹp Chỉ trong những năm gần
đây, với chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá các doanh nghiệp trong
ngành bê tông đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ dự ứng lực trong việc sản xuất các cấu
kiện bê tông dự ứng lực như: Dầm cầu của Bê tông Châu Thới, cột điện
của Bê tông Thịnh Liệt, cọc dự ứng lựccủa cty Phan Vũ, ống cấp nước của Bê tông Tân
Trang 15Bình, Bê tông Chèm, dầm cầu, dầm sàn nhà dân dựng và công nghiệp của công ty cổ
phần BT & XD Vinaconex Xuân Mai
Năm 1991 Preyssinet Group đã mở văn phòng đại diện tại Việt Nam
Năm 1997, Tổng công ty VINACONEX đã nhập công nghệ bê tông ứng lực trước tiền
chế của nước Cộng Hoà Pháp để sản xuất dầm sàn nhẹ cho xây dựng nhà ở (hệ PPB) tại
công ty cổ phần BT & XD Vinaconex Xuân mai Sản phẩm này hiện nay đã được áp
dụng rộng rãi cho các công trình nhà công nghiệp và nhà ở dân dụng tại Hà Nội và đặc
biệt đã phát triển để xây dựng trên 10.000 căn nhà sàn vượt lũ tại các tỉnh ĐBSCL
và dự án nhà ở tái định cư công trình Thuỷ điện Sơn La
Năm 1999, Liên doanh VINAROSE (hợp tác giữa VINACONEX và Hãng RONVEAUX
- Vương quốc Bỉ) đã hợp tác triển khai công nghệ bê tông ứng lực trước tại công ty cổ
phần bê tông và xây dựng Xuân Mai để sản xuất các cấu kiện vượt khẩu độ lớn bằng
phương pháp căng kéo trước phục vụ cho xây dựng nhà ở dân dụng, nhà công nghiệp, sân
vận động và đặc biệt sản xuất dầm cầu phục vụ cho giao thông Phạm vi áp dụng rất
rộng rãi, giải quyết hầu hết các phương án xây dựng hiện đại mang tính công nghiệp cao
Năm 2003 công ty Pryssinet đã được thành lập tại Việt Nam
Công nghệ này được áp dụng xây dựng các nhà chung cư cao tầng tại khu đô thị mới
Trung Hoà - Nhân Chính, khu chung cư cao cấp Mỹ Đình - Sông Đà (Hà Nội) đã đem lại
hiệu quả to lớn về: Giá thành hạ, thời gian thi công nhanh và chất lượng công trình đảm
bảo
Hình 2.1 Tòa nhà Keangnam ở Hà Nội
Trang 16Hình 2.2 Tòa nhà 165 Đội Cấn ở Hà Nội
Hình 2.3 Công trình khách sạn Senla Boutique số 64 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé,
Quận 1, Tp.HCM
(nhà thầu ECI Saigon đã tiến hành đổ bê tông sàn lửng áp dụng công nghệ “Bê tông ứng
suất trước căng sau dạng liên kết”)
Trang 17II.2.2 Đánh giá về ưu điểm, nhược điểm của sàn bê tông ứng suất trước:
Ưu điểm:
- Làm tăng độ cứng của kết cấu, do vậy cho phép giảm được kích thước tiết diện,
giảm được trọng lượng bản thân kết cấu và vượt được các khẩu độ lớn;
- Có khả năng khống chế sự hình thành vết nứt và độ võng;
- Tiết kiệm được vật liệu bêtông và cốt thép do việc sử dụng vật liệu cường độ cao
- Trong kết cấu công trình dân dụng, hệ thống sàn được quan tâm nhiều nhất khi áp
dụng công nghệ ứng lực trước là do: sàn là bộ phận kết cấu có chi phí đáng kể nhất,
chiếm phần lớn khối lượng BTCT so với các cấu kiện khác
- Trọng lượng bản thân sàn được giảm nhẹ Bề dày sàn ứng lực trước giảm xuống
còn khoảng 50 – 80% bề dày của sàn bê tông cốt thép bình thường với cùng kích
thước nhịp và điều kiện tải trọng Khối lượng cốt thép cũng được giảm mạnh tuy
nhiên giá thành thép cường độ cao rất lớn (gấp 3-4 lần thép xây dựng bình thường)
nên chi phí về cốt thép không thay đổi bao nhiêu Tuy vậy, việc giảm trọng lượng
bản thân sàn sẽ kéo theo việc giảm khối lượng vật tư cho nhiều kết cấu khác như
cột, tường móng, …và đảm bảo có lợi cho kết cấu nhà ở vùng chịu động đất do lực
ngang quán tính giảm cùng với khối lượng sàn
- Tiến độ thi công sàn tăng nhanh, do sử dụng bê tông mác cao kết hợp với phụ gia
Một số công trình đã được xây dựng cho thấy tiến độ thi công trung bình 7-10
ngày/ tầng cho diện tích xây dựng 400-500m2/sàn Công tác và khuôn khá đơn giản
nhất là với loại sàn không dầm, được sử dụng chủ yếu trong nhà cao tầng có sàn
ứng lực trước
- Ngoài ra việc mở rộng lưới cột, giảm chiều cao tầng nhà và các thiết bị, phụ kiện
phục vụ cho việc gây ứng lực trước ngày càng được hoàn thiện, gọn nhẹ và hiệu
quả, cũng đóng góp nhiều phần quan trọng vào sự thành công của sàn bê bê tông
ứng lực trước
Tuy nhiên sử dụng kết cấu bê tông ứng lực trước nói chung và công nghệ căng sau
nói riêng đều đòi hỏi các nhà tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu xây dựng cần có
những kiến thức và kinh nghiệm nhất định mới đem lại hiệu quả mong muốn
Trang 18Đặc biệt với thiết kế chịu động đất, hệ sàn đóng vai trò rất quan trọng trong sự làm
việc tổng thể của kết cấu chịu động đất Chúng làm việc như những tấm cứng ngang, tiếp
nhận các lực quán tính sang hệ kết cấu thẳng đứng và bảo đảm cho các hệ kết cấu này
cùng nhau làm việc khi chịu tác động của động đất theo phương ngang
Nhược điểm:
- Việc gây ứng suất nén trong bê tông tại một số vùng có thể gây ứng suất kéo tại
một số vùng khác của kết cấu ( cần tính toán để loại trừ khả năng nứt bê tông do
các ứng suất kéo này gây ra)
- Kết cấu bê tông ứng suất trước sử dụng bê tông cường độ cao và cốt thép cường độ
cao, do đó giá thành sẽ cao
- Kết cấu bê tông ứng suất trước căng sau, ngoài các vật liệu bê tông và cốt thép, còn
phải có các vật liệu khác như neo, ống gen, vữa bơm…
- Thi công kết cấu bê tông ứng suất trước phải sử dụng các thiết bị chuyên dụng như
kích, neo công cụ, bệ căng (trường hợp căng trước)…
- So với kết cấu bê tông cốt thép thì thi công kết cấu bê tông ứng suất trước đòi hỏi
nhiều chi phí nhân công hơn, yêu cầu tay nghề thi công cao
- Công tác kiểm soát chất lượng đối với các kết cấu bê tông ứng suất trước đòi hỏi
cao hơn so với kết cấu bê tông cốt thép
II.3 Tìm hiểu về kết cấu bê tông ứng suất trước bao gồm các khái niệm, các phương
pháp gây ứng suất trước, những vật liệu sử dụng trong bê tông ứng suất trước và
các thiết bị sử dụng tạo ứng suất trước
II.3.1 Khái niệm chung về bê tông ứng suất trước:
Bê tông ứng lực trước(BT ƯLT) là bê tông, trong đó thông qua lực nén trước để tạo ra và
phân bố một lượng ứng suất bên trong phù hợp nhằm cân bằng với một lượng mong
muốn ứng suất do tải trọng ngoài gây ra Với các cấu kiện BT ƯLT, ứng suất thường
được tạo ra bằng cách kéo thép cường độ cao
II.3.2 Các phương pháp gây ứng suất trước:
Phương pháp căng trước:
Phương pháp này thường được sử dụng cho quy trình sản xuất các cấu kiện đúc
sẵn Cốt thép ƯLT được neo một đầu cố địnhvào bệ còn đầu kia được kéo ra với
Trang 19lực kéo N Dưới tác dụng của lực N, cốt thép được kéo trong giới hạn đàn hồi và
sẽ giãn ra một đoạn, tương ứng với các ứng suất xuất hiện trong cốt thép Khi đó,
đầu còn lại của cốt thép được cố định nốt vào bệ Đổ bê tông, đợi cho bê tông
đông cứng và đạt cường độ cần thiết thì buông cốt thép Như một lò xo bị kéo
căng, các cốt thép này có xu hướng co ngắn lại và thông qua lực dính giữa thép và
bê tông, cấu kiện sẽ bị nén với giá trị bằng lực N đã dùng khi kéo cốt thép Ưu
điểm của phương pháp căng trước là có thể phân bố lực nén đều đặn trong cấu
kiện Nhược điểm của phương pháp này là phải lắp đặt bệ tỳ phức tạp
Hình 2.4 Sơ đồ phương pháp căng trước
a Trước khi buông cốt thép ƯLT
b Sau khi buông cốt thép ƯLT
1_ Cốt thép ULT;2_Bệ căng;3_Ván khuôn;4_Thiết bị kéo thép;5_Thiết bị cố định thép
Phương pháp căng sau:
Phương pháp này thường được sử dụng cho kết cấu bê tông đổ tại chỗ Trước hết đặt thép
ƯLT và cốt thép thường và đổ bê tông Khi bê tông đạt đến cường độ nhất định thì tiến
hành căng cốt thép với ứng suất quy định Sau khi căng xong, cốt thép ƯLT được neo
chặt vào đầu cấu kiện, thông qua các neo đó, cấu kiện sẽ bị nén bằng lực đã dùng khi kéo
căng cốt thép Trong phương pháp căng sau, kết cấu BTCT ƯLT được chia làm 2 loại:
kết cấu bê tông ƯLT dùng cáp dính kết và kết cấu bê tông ƯLT dùng cáp không dính kết
Loại kết cấu bê tông ƯLT dùng cáp dính kết khi thi công phải đặt sẵn ống gen để luồn
cáp, sau khi kéo căng cốt thép, tiến hành bơm phụt vữa xi măng mác cao để chèn lấp khe
hở giữa cáp thép và ống gen Đầu cáp thép được neo chặt bằng nêm vào bê tông và trở
thành các điểm tựa truyền lực nén vào bê tông
Trang 20Ưu điểm của phương pháp căng sau là không cần bệ tỳ riêng, có thể dễ dàng thi công kéo
căng thép tại vị trí kết cấu tại công trình như thân xi lô, ống khói, dầm sàn…
Hình 2.5 Sơ đồ phương pháp căng sau
a_Trong quá trình căng; b_Sau khi căng
1_Cốt thép ULT; 2_Cấu kiện BTCT; 3_Ống rãnh; 4_Thiết bị kích; 5_Neo
Một số công nghệ khác tạo ứng suất trước:
Ngoài 2 phương pháp căng trước và căng sau, trong BTCT ứng suất trước còn sử
dụng một số phương pháp sau:
+ Sử dụng xi măng nở tạo ứng suất trước trong bê tông:
Theo phương pháp này, trong quá trình ninh kết và phát triển cường độ, xi măng
nở làm tăng thể tích, các cốt thép trong bê tôngsẽ ngăn cản sự giãn nở của xi
măng, kết quả là trong bê tông có một lực nén khoảng 600-700 Mpa
Người ta có thể sử dụng loại xi măng đặc biệt cho sự nở trương này Song,
thực tế cũng có thể biến xi măng Pooclang thông thường thành loại xi măng đặc
biệt này bằng cách trộn thêm phụ gia aluminat và thạnh cao Loại xi măng trương
nở tự tạo ứng suất trước này có thể chế tạo các kết cấu như bể chứa, cầu tàu, cọc,
dầm, panel mái che nhà công nghiệp Phương pháp này còn gọi là phương pháp
hóa học để tạo ƯLT
+ Dùng kích ép ngoài để tạo ứng suất trước:
Khác với 2 phương pháp căng trước và căng sau, kích đặt ở 2 đầu kết cấu
không dùng để kéo căng cốt thép ra mà dùng để ép chặt cấu kiện bê tông lại, cáp
hoặc cốt thép được neo vào các gối tựa Sau đó bỏ kích ra, tạo ra trường ƯLT luôn
được duy trì trong kết cấu
Trang 21Hình 2.6 Sơ đồ cấu tạo ULT bằng kích ép ngoài
1_ Cấu kiện BTCT ULT; 2_ Kích; 3_Bệ tỳ
II.3.3 Những vật liệu sử dụng trong bê tông ứng suất trước:
Bê tông cường độ cao:
Bê tông ứng suất trước yêu cầu sử dụng bê tông đạt cường độ chịu nén cao trong
thời gian ngắn với cường độ chịu kéo tương đối cao hơn so với bê tông thông thường, độ
co ngót thấp, tính từ biến thấp nhất và giá trị mô đun đàn hồi lớn Theo tiêu chuẩn ấn Độ
IS:1343-1980, cường độ chịu nén của khối lập phương tại 28 ngày tuổi là 40Mpa đối với
cấu kiện căng trước và 30Mpa đối với cấu kiện căng sau Theo tiêu chuẩn ACI318, bê
tông đạt cường độ chịu nén tại 28 ngày tuổi từ 27.58 đến 68.95 Mpa
- Ứng suất cho phép trong bê tông theo tiêu chuẩn ACI 318-2002: ứng suất cho phép
trong bê tông được quy định và khống chế tuỳ theo từng tiêu chuẩn Theo tiêu
chuẩn ACI 318-2002 được quy định như sau:Ứng suất trong bê tông ngay sau khi
truyền lực ứng suất trước (trước khi xảy ra tổn hao ứng suất) không được vượt quá
các giá trị sau:
+ Ứng suất nén lớn nhất: 0,60𝑓𝑐𝑖′
+ Ứng suất kéo tại 2 đầu mút của cấu kiện có gối tựa đơn giản: 0,5 𝑓𝑐𝑖′
+ Ứng suất kéo tại các vị trí khác: : 0,25 𝑓𝑐𝑖′
Nếu ứng suất kéo vượt quá các giá trị trên thì cần bố trí thêm thép chịu kéo (thép thường
hoặc thép ứng suất trước) vào vùng chịu kéo để chịu tổng lực kéo trong bê tông được tính
toán với giả thiết tiết diện không bị nứt
- Ứng suất ứng với tải trọng làm việc (sau khi đã xảy ra tổn hao ứng suất):
+ Ứng suất nén lớn nhất do tải trọng dài hạn: 0,45𝑓𝑐′
+ Ứng suất nén lớn nhất do tổng tải trọng: 0,60𝑓𝑐′
+ Ứng suất kéo lớn nhất với tiết diện không cho phép nứt: 0,5 𝑓𝑐′
+ Ứng suất kéo lớn nhất với tiết diện cho phép nứt: 𝑓𝑐′
Trang 22Ứng suất có thể vượt quá ứng suất cho phép nếu phân tích và kiểm tra chứng tỏ được kết
cấu không bị hư hỏng
- Mô đun đàn hồi của bê tông:
Đặc trưng ứng suất - biến dạng của bê tông khi chịu nén không phải là tuyếntính nhưng
với tải trọng không vượt quá 30% cường độ phá hoại thì có thể giả thiếtbiến dạng là
tuyến tính Cần xác định đặc tính biến dạng của bê tông dưới tác dụngcủa tải trọng ngắn
hạn và tải trọng dài hạn để xác định cường độ chịu uốn và mô đunđàn hồi, từ đó tính toán
độ võng của cấu kiện ứng suất trước
Mô đun đàn hồi của bêtông tăng lên cùng với cường độ chịu nén trung bình của bê tông
nhưng với tốc độchậm hơn Theo tiêu chuẩn ACI 318-2002, mô đun đàn hồi của bê
tông:Ec=4730 𝑓𝑐′(Mpa)
Thép cường độ cao:
Thép ứng suất trước có thể là sợi, cáp hoặc thanh thép hợp kim.Thép sợi sử dụng cho
bêtông ƯLT nói chung tuân theo tiêu chuẩn ASTM A-421 Sợi thép được quấn thành
cuộn và được cắt và lắp ở nhà máy hay tại hiện trường Trước khi thi công, sợi thép cần
được vệ sinh bề mặt để tăng lực dính kết với bê tông
Cáp ứng suất trước phổ biến nhất là loại cáp 7 sợi, có cường độ chịu kéo tới hạn
fpu là 1720Mpa và 1860Mpa, kết dính hoặc không kết dính
Hiện nay, ngoài loại cáp đơn 7 sợi còn có loại cáp bao gồm nhiều cáp đơn kết
hợp với nhau Loại cáp này có ưu điểm là mỏng, nhẹ và dẻo
Thép thanh sử dụngcho bê tông ƯLT tuân theotiêu chuẩn ASTM A-322 và A-29, với yêu
cầu có ứng suất phá hoại đạt tới 90% cường độ giới hạn Mặc dù cường độ giới hạn thực
tế thường đạt tới 1100 MPa, nhưng giá trị tiêu chuẩn nhỏ nhất thường lấy là 1000 MPa
Hầu hết các tiêu chuẩn thường đưa ra giới hạn chảy nhỏ nhất là 896 MPa mặc dù giá trị
thực tế còn cao hơn Độ giãn dài nhỏ nhất tại lúc phá hoại ở vị trí chiều dài bằng 20 lần
đường kính là 4%, với độ giảm nhỏ nhất của tiết diện tại lúc phá hoại là 25%
Thép cường độ cao được sản xuất từ hợp kim bao gồm mangan, silic, cacbon,…bằng
phương pháp cán nguội hoặc bằng phương pháp cán nóng và được tôi, làm cho cứng
Trang 23Hình 2.7 Các loại cáp ứng suất trước
a_Cáp 7 sợi (cáp đơn) b_Cáp dẹp c_ Cáp nhiều sợi
Ứng suất kéo cho phép trong thép theo ACI:
+ Ứng suất lớn nhất do căng thép (trước khi truyền ứng suất) không được vượt quá số
nhỏ hơn của: 0.80fpu và 0.94fpy
+ Ứng suất kéo lớn nhất ngay sau khi truyền lực ứng suất trước không được vượt quá số
nhỏ hơn của: 0.74fpu và 0.82fpy
+ Ứng suất lớn nhất trong thép căng sau tại vùng neo ngay sau khi neo thép: 0.70fpu
Bảng II.1 Một số đặc tính của cáp ứng suất trước:
Loại cáp
EN318 hoặc
BS 5896 super
ASTM A416 Grade 270
EN318 hoặc
BS 5896 super
ASTM A416 Grade 270
Trang 24o Ống gen:
Đối với bê tông ULT căng sau dính kết thì cần đặt sẵn ống gen trong bê tông Có 2 loại
ống gen thường dùng:
- Loại bằng tôn mỏng 0.2 - 0.3mm có pha chì để làm giảm masát cuộn mép và
cuốn theo kiểu xoắn ruột gà
- Ống gen bằng các loại ống kim loại, ống tròn trơn có bề dày 2 - 4mm Yêu cầu ống gen
là phải chống thấm tốt để giữ cho nước xi măng không thấm vào ống trong quá trình đổ
bê tông vàbảo vệ cáp, ống phải bền không bị hư hỏng biến dạng trong quá trình thi công
Tuy nhiên, ống lại phải mềm để đặt cong theo thiết kế và ma sát giữa ống gen với cáp
không được quá lớn
Hình 2.8 Cấu tạo ống gen
1_Ống gen; 2_Bó cáp; 3_Lỗ phụt vữa
o Vữa phụt
Sau khi căng cáp và neo, cần lấp đầy kẽ hở trong ống gen bằng vữa xi măng Vữa được
phụt vào ống gen dưới áp lực khoảng 6atm Cường độ của vữa sau 7 ngày ít nhất phải đạt
2000Mpa
II.3.4 Các thiết bị sử dụng tạo ứng suất trước:
II.3.4 1 Phương pháp căng trước:
Hệ thống tạo ƯLT bao gồm hai khối neo đặt cách nhau một khoảng cách nào đó, thép
ƯLT được căng giữa hai khối neo này trước khi đổ bê tông, lực căng được tạo bởi các
kích thuỷ lực hoặc kích vít lớn
II.3.4 2 Phương pháp căng sau:
Các thiết bị cần thiết đối với phương pháp căng sau bao gồm:
- Bơm và kích tạo ƯLT
- Neo
- Máy luồn cáp
Trang 26Hình 2.12Máy kéo ứng suất trước loại đơn cáp
Máy luồn cáp và thiết bị để bơm vữa chỉ cần thiết đối với cấu kiện bê tông ƯLT sử
dụng cáp dính kết Cáp có thể được luồn vào ống dẫn trước khi đặt ống dẫn vào vị trí
hoặc sau khi đặt ống dẫn vào vị trí Nếu cáp ngắn thì không cần sử dụng máy luồn cáp
Neo được thiết kế để cố định cáp ở cả hai đầu cáp Đối với cáp không dài lắm (dưới
30m), có thể bố trí một đầu neo cố địnhvà một đầu neo công tác Khi cáp quá dài thì bố
trí neo công tác tạo ƯLT ở cả hai đầu để tránh tổn hao ứng suất do ma sát Cấu tạo neo
đơn giản, cáp cần phải dài quá đầu neo một đoạn và sẽ được cắt ngắn sau khi truyền lực
ứng suất Hiện nay neo công tác được sử dụng phổ biến nhất là hệ neo Freyssinet dùng
nêm hình côn để kẹp chặt sợi cáp Neo bao gồm bản đệm bằng thép có lỗ để cáp luồn
qua, nêm hình côn vàlò xo để tránh ứng suất cục bộ trong bê tông vùng neo Nêm hình
côn sẽ tự động dịch chuyển về phía bản đệm để khoá cáp và có tác dụng như một bộ phận
truyền ứng suất tự động Neo đựợc chế tạo để thuận lợi cho việc đo độ dãn dài của cáp và
gia tải ƯLT
Có 4 dạng thiết bị căng thép
- Căng bằng thiết bị cơ khí: thiết bị này thường bao gồm các khối nặng có hoặc không có
bộ truyền lực đòn bẩy, bộ truyền lực bánh răng kết hợp với khối ròng rọc có hoặc không
có bánh răng và máy cuốn sợi Thiết bị này được sử dụng chủ yếu đểsản xuất các thành
phẩm bê tông ƯLT trong nhà máy với quy mô lớn
- Căng bằng thiết bị thuỷ lực: đây là thiết bị đơn giản nhất để tạo ra lực ULT lớn, được
sử dụng rộng rãi Các kích thuỷ lực thông dụng có lực căng từ 5-100 tấn Các kích thuỷ
lực lớn có lực căng từ 200-600 tấn.Khi sử dụng kích thuỷ lực, quan trọng nhất là phải đo
chính xác lực căng trong suốt quá trình căng
- Căng bằng nguyên lý điện học: phương pháp này tạo lực ƯLT bằng cách nung nóng
cáp bằng dòng điện, cáp được neo trước khi đổ bê tông Thép được nung nóng ở nhiệt độ
Trang 27300-4000C trong vòng 3-5 phút Thép sẽ giãn dài ra khoảng 0.4-0.5% Sau khi nguội,thép
sẽ co ngắn lại nhưng bị neo cản trở Thời gian thép nguội khoảng 12-15 phút Phương
pháp này có thể tạo ra ứng suất căng ban đầu từ 500-600 Mpa
- Căng bằng phương pháp hoá học: sử dụng xi măng trương nở để tạo ULT, độ
giãn nở được điều chỉnh bằng phượng pháp bảo dưỡng
Hình 2.13 Cấu tạo neo
a_neo công tác: b_Neo cấu tạo
1_Cáp:2_Đai xoắn;3_Bản thép đệm;4_Neo;5_Vữa xi măng bịt lỗ neo;6_Cấu kiện bê tông
II.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN SÀN BÊTÔNG ỨNG SUẤT TRƯỚC
II.4.1 Các quan niệm phân tích kết cấu bê tông ứng lực trước
Hiện nay, việc phân tích cấu kiện bê tông ULT dựa trên ba quan niệm cơ bản sau:
- Quan niệm thứ nhất:
Quan niệm này coi bê tông ƯLT như vật liệu đàn hồi, tính toán theo ứng suất cho
phép
Bê tông là vật liệu chịu nén tốt, chịu kéo kém Nếu không phải chịu ứng suất kéo do
đã được nén trước thông qua việc kéo trước cốt thép, trong bê tông sẽ không bị xuất hiện
Trang 28vết nứt, như vậy có thể xem như bê tông ƯLT là vật liệu đàn hồi Với quan niệm này, khi
bê tông đặt vào trạng thái chịu lực thì ứng suất kéo gây ra do tải trọng ngoài sẽ bị triệt
tiêu bởi ứng suất nén trước, nhờ vậy sẽ hạn chế được bề rộng vết nứt và khi vết nứt chưa
xuất hiện thì có thể sử dụng các phương pháp của lý thuyết đàn hồi để tính toán
- Quan niệm thứ hai:
Quan niệm này coi bê tông ƯLT làm việc như BTCT thường với sự kết hợp giữa bê tông
và thép cường độ cao, bê tông chịu nén và thép chịu kéo và gây ra một cặp ngẫu lực
kháng lại mô men do tải trọng ngoài gây ra Nếu sử dụng thép cường độ cao đơn thuần
như thép thường thì khi bê tông xuất hiện vết nứt, thép vẫn chưa đạt đến cường độ Nếu
thép được kéo trước và neo vào bê tông thì sẽ có được sự biến dạng và ứng suất phù hợp
với cả hai loại vật liệu
- Quan niệm thứ ba:
Quan niệm này coi ƯLT như một thành phần cân bằngvới một phần tải trọng tác dụng lên
cấu kiện trong quá trình sử dụng, tính toán theo phương pháp cân bằng tải trọng Đây là
phương pháp khá đơn giản và dễ sử dụng để tính toán, phân tích cấu kiện BT ƯLT Cáp
ULT được thay thế bằng các lực tương đương tác dụng vào bê tông Cáp tạo ra một tải
trọng ngược lên, nếu chọn hình dạng cáp và lực ƯLT phù hợp sẽ cân bằng được các tải
trọng tác dụng lên sàn, do đó độ võng của sàn tại mọi điểm đều bằng 0
Bảng II.2 Các hình dạng cáp và tải trọng cân bằng
Trang 29Một số nhận xét
Việc thiết kế sàn bê tông ULT đều có thể sử dụng các quan niệm phân tích ở trên
Mỗi phương pháp đều có các ưu nhược điểm riêng Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với người
thiết kế là lựa chọn quan niệm nào để đơn giản hoá việc phân tích và tính toán, phù hợp
với công cụ thiết kế hiện có
Kết cấu BTCT nói chung và kết cấu bê tông ULT nói riêng được tính toán theo hai trạng
thái giới hạn:
- Trạng thái giới hạn thứ nhất: về khả năng chịu lực
- Trạng thái giới hạn thứ hai: về điều kiện sử dụng bình thường (điều kiện về biến dạng
võng và nứt)
Khi tính toán kết cấu bê tông ULT, tuỳ theo từng quan niệm tính toán có thể xuất phát từ
trạng thái giới hạn thứ nhất hoặc thứ hai rồi kiểm tra kết cấu với trạng thái còn lại
Quan niệm thứ nhất và thứ ba dễ dàng đánh giá sự là việc của cấu kiện trong giai đoạn
sử dụng nhưng không tính toán được trực tiếp khả năng chịu lực Với quan niệm thứ hai
thì việc kiểm tra trạng thái giới hạn thứ 2 phức tạp hơn
Phương pháp cân bằng tải trọng cho phép người thiết kế dự đoán được dễ dàng độ võng
của cấu kiện ngay từ khi chọn tải trọng cân bằng, nhất là đối với hệ kết cấu siêu tĩnh Ứng
với các giai đoạn làm việc của sàn có các trường hợp kiểm tra như sau:
- Kiểm tra lúc buông neo:
Lúc buông neo, sàn chịu tác dụng của các lực: lực ULT, trọng lượng bản thân sàn
- Kiểm tra trong giai đoạn sử dụng:
Vói các tải trọng: lực ULT, tĩnh tải tiêu chuẩn và hoạt tải tiêu chuẩn
- Kiểm tra khả năng chịu lực của sàn:
Khả năng chịu tải của sàn bao gồm khả năng chịu cắt và chịu uốn Lúc này, cấu kiện làm
việc cấu kiện chịu uốn BTCT thường Tải trọng tính toán bao gồm tĩnh tải tính toán và
hoạt tải tính toán
- Kiểm tra độ võng, nứt:
Độ võng của sàn bao gồm độ võng tức thời do hoạt tải và độ võng tổng cộng do tải
trọng thường xuyên Do lực ULT sẽ gây ra độ vồng trong cấu kiện nên một phần độ võng
do tải trọng bản thân của sàn được kháng lại bởi độ võng do lực ULT
Độ võng từ biến do tải trọng dài hạn được tính gần đúng bằng cách lấy độ võng do
Trang 30tải trọng dài hạn nhân với hệ số từ biến
II.4.2 Các phương pháp tính toán nội lực trong sàn phẳng
Để phân tích sàn, tính toán nội lực, ứng suất trong sàn có thể sử dụng nhiều cách khác
nhau Dưới đây giới thiệu 3 phương pháp thông dụng hiện nay
II.4.2.1 Phương pháp phân phối trực tiếp:
Trong tính toán bản sàn theo phương pháp phân phối trực tiếp, mômen uốn M0của từng ô
bản được phân phối cho các miền mômen âm và mômen dương dựa trên bảng tra các hệ
số được lập sẵn Phương pháp phân phối trực tiếp mang tính ứng dụng cao, dễ sử dụng và
đơn giản Tuy nhiên phạm vi sử dụnghơi bị hạn chế
Phương pháp phân phối trực tiếp theo tiêu chuẩn ACI:
Để đảm bảo khả năng chịu uốn của sàn ở trạng thái giới hạn đủ để chịu được mômen âm
và mômen dương do tải trọng bất lợi nhất gây ra, tiêu chuẩn ACI đưa ra các điều kiện
sau:
- Phải có ít nhất 3 nhịp liên tục theo mỗi phương
- Các nhịp phải đều nhau Theo từng phương, các nhịp kề nhau không được chênh nhau
quá 1/3 chiều dài nhịp lớn hơn
- Tất cả các tải trọng đều là tải trọng đứng, hoạt tải phải là tải trọng phân bố đều và nhỏ
hơn 2 lần tĩnh tải
- Các ô sàn phải là hình chữ nhật, tỷlệ nhịp dài và nhịp ngắn không được vượt quá 2
- Cột không được lệch vị trí quá 10% khoảng cách giữa các đường tim cột của các cột kế
tiếp nhau theo mỗi phương
Quy trình tính toán theo phương pháp phân phối trực tiếp
Xác định mômen tổng cộng
Mô men tổng cộng do tải trọng tính toán M0:
2 2 0
w8
Trang 31ln: chiều dài thông thuỷ của nhịp, được tính là khoảng cách giữa 2 mặt trong của
gối tựa (cột, mũ cột, hoặc vách) nhưng không được nhỏ hơn 0,65l11(l1là khoảng
cách tâm 2 gối tựa)
Phân phối mômen cho các ô bản:
Đối với các nhịp trong, mô men M0 được phân phối 65% cho mô men âm và 35%
cho mômen dương Giá trị này xấp xỉ như dầm ngàm 2 đầu chịu tải trọng phân bố dựa
trên giả thiết góc xoay của các điểm liên kết phía trong là không đáng kể Tiết diện tới
hạn đối với mô men âm là tiết diện tại vị trí mặt gối tựa (cột, tường, mũ cột) của bản sàn
Với cột tròn, tiết diện tới hạn đối với mô men âm nằm tại vị trí cạnh hình vuông tương
đương
Đối với các cột biên, lực chỉ tác dụng lên cột ở một phía nên sẽ gây ra mômen
không cân bằng Góc xoay sẽ làm giảm mômen âm và tăng mômen dương ở giữa nhịp và
ở gối trong đầu tiên Độ lớn góc xoay của cột biên phụ thuộc vào độ cứng của cột tương
đương Nếu độ cứng của cột lớn so với độ cứng của dầm - bản, cột sẽ ngăn cản góc xoay
của biên ngoài của sàn và đóng vai trò như một liên kết ngàm, tỷ lệ phân phối mô men
M0 sẽ tương tự như các nhịp trong (65% tại gối và 35% tại nhịp) Ngược lại, nếu độ cứng
của cột không đủ lớn, cột đóng vai trò như một gối cố định Lúc này, mômen tại gối
ngoài sẽ bằng 0, mômen giữa nhịp là 0,63M0, mômen tại gối trong đầu tiên bằng 0,75M0
Nếu sàn không có dầm biên, tỷ lệ phân phối lần lượt cho các tiết diện trên sẽ là
0,26M0;0,50M0; 0,70M0 Nếu sàn có dầm biên: 0,30M0; 0,50M0; 0,70M0
Phân phối mô men cho các dải nhịp và dải cột:
Sau khi phân phối mô men cho các ô bản, cần phân phối mô men cho các dải nhịp và dải
cột của ô bản
Hình 2.14 Sơ đồ dải cột và dải nhịp
Trang 32Sự phân phối mô men âm và mô men dương cho các dải cột phụ thuộc vào tỷ số l2/l1 và
αl2/l1, với sàn không dầm α=0 Sau khi phân phối mô men cho dải cột, lượng mômen còn
lại sẽ phân phối cho dải nhịp
- Đối với mô men dương, 60% sẽ phân phối cho dải cột
- Đối với mô men âm:
Đối với nhịp giữa, 75% mô men âm phân phối cho dải cột
Đối với nhịp biên, sự phân phối mô men phụ thuộc l2/l1,αl2/l1, độ cứng chống
xoắn của dầm biên βt
2
cb t
cs s
E I
(II-2) Trong đó: Ecb và Ecs : mô đun đàn hồi của bê tông dầm và bê tông sàn
Is : mô men quán tính của dầm bản
C: hằng số liên quan đến độ cứng chống xoắn của dầm biên
𝐶 = (1 − 0,63𝑥
𝑦)𝑥3𝑦
3 (II-3) Với x là cạnh ngắn, y là cạnh dài của tiết diện chữ nhật thành phần trong tiết diện
ngang chịu xoắn trong phạm vi chiều cao tiết diện cột
Nếu βtrất nhỏ, gần bằng 0, 100% mômen âmsẽ phân phối cho dải cột Nếu
βt ≥2.5 thì 75% mô men âm sẽ phân bố cho dải cột
II.4.2.2 Phương pháp khung tương đương:
Vì lực cắt và mô men uốn trong sàn là do tải trọng thẳng đứng tác dụng lên từng sàn
nên có thể phân tích độc lập từng sàn Phương pháp khung tương đương được dùng để
xác định nội lực cho sàn, số nhịp bất kỳ, nhịp có thể là đều hoặc không đều nhau Theo
phương pháp này, tưởng tượng cắt toàn bộ sàn dọc theo đường tim của sàn, tạo thành
khung theo cả 2 phương, gọi là khung tương đương
Khung tương đương có phần tử cột bao gồm 2 cột ở tầng trên và tầng dưới kế tiếp nhau
của sàn và phần tử dầm có chiều rộng tính từ tâm 2 nhịp kế tiếp nhau, chiều cao bằng
chiều dày sàn Cột được giả thiết là ngàm 2 đầu
Trang 33Hình 2.15 Sơ đồ khung tương đương
Mô men quán tính của dầm - bản:
Mô men quán tính của dầm - bản thay đổi dọc theo trục dầm - bản do ảnh hưởng của kích
thước các bộ phận kết cấu cột, mũ cột và bản mũ cột (nếu có)
Độ cứng của bản sàn tại vị trí cột hoặc trong phạm vi mũ cột có thể xem như cứng tuyệt
đối, tại gần vị trí với mũ cột hoặc cột, độ cứng của dầm - bản nhỏ hơn
Từ tim cột đến mặt cột hoặc mép mũ cột, mô men quán tính của dầm - bản lấy bằng
mômen quán tính tại mặt cột hoặc tại mặt mũ cột chia cho (1 - c2/l2)2, trong đó c2 là kích
thước của cột hoặc mũ cột, l2 là kích thước nhịp theo phương đang xét
Cột tương đương:
Trong khung tương đương, đối với sàn không dầm, toàn bộ phần mô men trong sàn giữa
các cạnh cột và dầm - bản sẽ truyền thông qua lực xoắn Để mô tả phản ứng của kết cấu
đối với sự truyền mô men giữa sàn và cột do uốn và xoắn, giả thiết rằng cột có cánh tay
đòn về 2 phía của cột Cánh tay đòn này sẽ truyền mô men từ sàn vào cột thông qua xoắn
Cột phía trên và cột phía dưới sàn cùng với cánh tay đòn này được coi như một cấu kiện,
được gọi là cột tương đương
Trang 34Trong đó: Kec : độ cứng của cột tương đương
𝐾𝑐 : tổng độ cứng của cột phía trên và phía dưới sàn
Độ cứng của cột : Kc = kcEI/lc , với cột tiết diện không đổi thì kc = 4
lc chiều dài của cột được tính từ tâm sàn tầng dưới đến tâm sàn tầng trên
Kt : độ cứng chống xoắn của cánh tay đòn
3 2 2 2
9 1
cs t
K
c l l
C: mô men chống xoắn của cánh tay đòn
Với tiết diện hình chữ nhật:
3
1 0.63
3
x x y C
Trong đó x là cạnh ngắn, y là cạnh dài của tiết diện chữ nhật thành phần trong tiết diện
ngang chịu xoắn trong phạm vi chiều cao tiết diện cột
Nếu có dầm theo phương vuông góc với phương tính toán chạy qua cột thì Kt nên tăng
lên Isb/Isvới Is là mô men quán tính của bản không kể đến thân dầm, Isblà mô men quán
tính đồng thời của bản và dầm
Trang 35 Tính toán mô men trong khung tương đương:
Có thể sử dụng máy tính với các chương trình tính toán theo phương pháp phần tử hữu
hạn để xác định mô men trong khung tương đương
II.4.2.3 Phương pháp phần tử hữu hạn:
Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin và các phần mềm tính toán theo
phương pháp phần tử hữu hạn (PTHH), việc tính toán ngày càng trở nên thuận tiện và
chính xác Phuơng pháp PTHH là một công cụ có hiệu lực để giải các bài toán từ đơn
giản đến phức tạp trong nhiều lĩnh vực Thực chất của phuơng pháp này là chia vật thể
biến dạng thành nhiều phần tử có kích thuớc hữu hạn gọi là phần tử hữu hạn Các phần tử
này đuợc liên kết với nhau bằng các điểm gọi là nút Các phần tử này vẫn là các phần tử
liên tục trong phạm vi của nó, nhung do có hình dạng đơn giản nên cho phép nghiên cứu
dễ dàng hơn dựa trên cơ sở của một số quy luật về sự phân bố chuyển vị và nội lực Kết
cấu liên tục đuợc chia thành một số hữu hạn các miền hoặc các kết cấu con có kích thước
càng nhỏ càng tốt nhưng phải hữu hạn
Các miền hoặc các kết cấu con được gọi là các PTHH, chúng có thể có dạng hình
học và kích thước khác nhau, tính chất vật liệu được giả thiết không thay đổi trong
mỗi phần tử nhưng có thể thay đổi từ phần tử này sang phần tử khác
Kích thước hình học và số lượng các phần tử không những phụ thuộc vào hình dáng
hình học và tính chất chịu lực của kết cấu (bài toán phẳng hay bài toán không gian, hệ
thanh hay hệ tấm vỏ ) mà còn phụ thuộc vào yêu cầu về mức độ chính xác của bài toán
đặt ra Lưới PTHH càng mau, nghĩa là số lượng phần tử càng nhiều hay kích thước của
phần tử càng nhỏ thì mức độ chính xác của kết quả tính toán càng tăng, tỷ lệ thuận với số
phương trình phải giải
Các đặc trưng của các PTHH được phối hợp với nhau để đưa đến một lời giải tổng thể
cho toàn hệ Phương trình cân bằng của toàn hệ kết cấu được suy ra bằng cách phối hợp
các phương trình cân bằng của các PTHH riêng rẽ sao cho vẫn đảm bảo được tính liên tục
của toàn bộ kết cấu Cuối cùng, căn cứ vào điều kiện biên, giải hệ phương trình cân bằng
tổng thể để xác định giá trị của các thành phần chuyển vị Các thành phần này được dùng
để tính ứng suất và biến dạng
II.4.3 Thiết kế bê tông ứng suất trước với lưới cột đều đặn và lưới cột ngẫu nhiên
II.4.3.1 Thiết kế bê tông ứng suất trước với lưới cột đều đặn:
Trang 36Các phương pháp thiết kế: phân phối trực tiếp, khung tương đương và PTHH đều có
thể sử dụng trong thiết kế sàn bê tông ULT và đều dựa trên quan niệm bê tông ULT là vật
liệu đàn hồi Phương pháp phân phối trực tiếp có phạm vi áp dụng hẹp hơn 2 phương
pháp còn lại và khó khăn trong việc tính toán bản sàn theo trạng thái giới hạn thứ 2 (kiểm
tra võng và nứt) Phương pháp khung tương đương có phạm vi áp dụng rộng rãi hơn, có
thể xác định được tải trọng ở các giai đoạn làm việc và cho phép người thiết kế đánh giá
được độ võng của sàn một cách trực quan thông qua việc áp dụng các chương trình máy
tính
Hiện nay, phương pháp phổ biến và hiệu quả để thiết kế sàn bê tông ULT là phương
pháp cân bằng tải trọng, sử dụng khung tương đương để phân phối mô men do lực ULT
và do các tải trọng tác dụng lên sàn
II.4.3.1.1 Quy trình thiết kế
1- Chọn sơ bộ chiều dày sàn
Bảng II.3 Độ dày tối thiểu của sàn BT ULT
Trong tỷ lệ nhịp/chiều dày sàn thì nhịp là nhịp dài của ô sàn
2- Xác định tải trọng cân bằng w
3- Chọn hình dạng cáp và tính toán ULT yêu cầu
Hình dạng cáp càng gần với biểu đồ mô men do tải trọng ngoài gây ra càng tốt
- Đối với sàn liên tục chịu tải phânbố đều, cáp có thể bố trí như sau:
Hình 2.17 Sơ đồ cáp với sàn liên tục
Lực ULT yêu cầu:
2
wL8
yc
P
s
(II-8)
Trang 37Độ võng s trong công thức trên có thể là s1 hoặc s2
- Đối với bản công xôn:
Hình 2.18 Sơ đồ cáp đối với bản công xôn
Lực ULT yêu cầu:
2
wL2
yc
P
s
(II-9)
s là khoảng cách từ trọng tâm ô bản đến trọng tâm bó cáp ƯLT
4- Tính toán các tổn hao ƯLT
Chọn ứng suất căng ban đầu: f pl ≤ 0.8f pu(II-1UWLT
fpu là giới hạn bền của thép ƯLT
Tính các hao ƯLT:
- Hao do ma sát
- Hao do biến dạng neo
- Hao do các nguyên nhân khác: do co ngót của bê tông, do từ biến của bê tông, do
Lực ULT của một cáp: P1cap = fse x A1(II-12)
Lực căng yêu cầu cho dầm – bản rộng 1m: P = Pyc x l(II-13)
Số lượng cáp cần thiết: n = P/P1cap (II-14)
Cáp ULT qua cột hoặc xung quanh mép cột góp phần lớn hơn vào khả năng chịu tải so
với thép ULT ở xa cột Vì vậy nên bố trí khoảng 65-75% cáp cho dải cột, còn lại bố trí
cho dải giữa
6- Kiểm tra các giai đoạn làm việc của sàn, khả năng chịu lực, võng, nứt
Trang 38Sử dụng khung tương đương để tính toán, kiểm tra sàn
- Kiểm tra các giai đoạn làm việc của sàn: Sàn được kiểm tra lúc buông neo và trong giai
đoạn sửdụng Trong các giai đoạn làm việc của sàn, ứng suất trong bê tông không được
vượt quá giá trị cho phép trong phần II.3.3
Ứng suất trong bê tông: f P M
- Kiểm tra khả năng chịu lực của sàn:
+ Khả năng chịu uốn:
Coi vật liệu làm việc trong giai đoạn đàn hồi, mô men do tải trọng tính toán gây ra không
được vượt quá mô men giới hạn Mf ≤ Mu (II-17)
Hình 2.20 Khả năng chịu uốn của tiết diện chữ nhật
γP: hệ số phụ thuộc vào loại cáp ƯLT, có các giá trị
= 0,55 nếu (fpy/fpu) ≥ 0,80
= 0,40 nếu (fpy/fpu) ≥ 0,85
Trang 39d d
Trang 40Nếu
'
' 1
ứng suất trong thép chịu nén nhỏ
hơn fy, có thể bỏ qua hiệu quả của thép chịu nén và có thể xác định momen nứt theo công
thức II.19
Đối với cáp không dính kết:
Nếu tỷ lệ (nhịp/chiều cao tiết diện) 35, ứng suất phá hoại trong cáp:
' 70 100.
Nếu tỷ lệ (nhịp/chiều cao tiết diện) 35, ứng suất phá hoại trong cáp:
' 70 300.
Nếu hàm lượng thép vượt quá 0,36β1, momen giới hạn:
Ac: Diện tích tiết diện giới hạn bao quanh cột
Jc: momen quán tính của tiết diện giới hạn bao quanh cột
M: Tổng momen truyền vào cột
α: hệ số truyền momen do ứng suất cắt