Vào ngày 144 và ngày 56 năm 1972, Vương quốc Anh và Cộng hoà Liên bang Đức đã khởi kiện Cộng hòa Iceland về vấn đề tranh chấp đề xuất mở rộng giới hạn khu vực khai thác thủy hải sản của Iceland. Theo đó kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1972, Iceland kéo dài giới hạn độc quyền đánh bắt cá từ 12 lên đến 50 hải lý và có hành động loại trừ tàu cá của Anh ra khỏi vùng biển này. Anh cho rằng, việc này “không có cơ sở trong luật pháp quốc tế” và đã kiện nộp đơn kiện Iceland. Tuy nhiên, Iceland đã tuyên bố rằng Tòa án không có thẩm quyền xét xử và từ chối tham gia tố tụng hay nộp khiếu nại.Liên tiếp nhiều lần Iceland đã không xuất hiện hay đệ trình bất cứ bản tự bảo vệ nào trước Toà án: từ phiên điều trần được tổ chức vào tháng 81972 liên quan đến yêu cầu của Anh đưa ra các biện pháp bảo vệ tạm thời; đến các phiên liên quan đến thẩm quyền của Tòa án để giải quyết tranh chấp. Bản án của Tòa án ngày 02021973, trong đó Tòa án quyết định rằng Tòa có thẩm quyền giải quyết đơn của Anh, vẫn có hiệu lực. Trong bức thư ngày 11011974, Iceland tuyên bố rằng không chấp nhận bất kỳ tuyên bố hoặc các cáo buộc hay sự xung đột pháp luật nào có trong các Bản Đệ trình của các bên liên quanSau khi kết thúc Hội nghị về Luật biển lần thứ nhất vào năm 1958, Iceland ra một thông báo sơ bộ về ý định của mình nhằm bảo vệ quyền đánh bắt cá trong một khu vực kéo dài 12 hải lý từ đường cơ sở và chỉ dành cho ngư dân Iceland, mở rộng vùng đánh bắt vì lý do sửa đổi đường cơ sở, và sau đó vào ngày 3061958 ban hành các quyết định mới là Các Nghị quyết liên quan đến Giới hạn khai thác ngoài Iceland”. Nghị quyết này nhấn mạnh rằng giới hạn 12 hải lý được khẳng định trong Nghị quyết năm 1958 là một bước tiến mới trong tiến trình của Iceland đối với mục tiêu của mở rộng khu vực đánh cá trên toàn bộ vùng biển của quốc gia này. Tuy nhiên, Anh không chấp nhận hiệu lực Nghị quyết này, và các tàu đánh cá của Anh tiếp tục đánh bắt bên trong khu vực về sau là khu vực tranh chấp. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhưng đến cuối cùng thì tranh chấp vẫn chưa được giải quyết.Sau Hội nghị về Luật Biển lần thứ hai vào năm 1960, Anh và lceland bắt tay vào một loạt các cuộc đàm phán nhằm giải quyết sự khác biệt của họ liên quan đến khu vực 12 hải lý và các đường cơ sở do Iceland quy định năm 1958. Hồ sơ của các cuộc đàm phán khẳng định rằng Iceland, như một quốc gia đang trong tình trạng đặc biệt, sẽ nhận được ưu đãi thậm chí xa hơn 12 hải lý. Các biện pháp bảo tồn nghề cá nằm ngoài giới hạn 12 hải lý, bao gồm các khu vực dành cho đánh bắt cá ở Iceland, đã được thảo luận. Nhưng Anh khẳng định rằng không có thoả thuận nào về nghề cá bên ngoài giới hạn 12 hải lý đã được quy định trước đó. Trong các cuộc thảo luận này, Anh nhấn mạnh vấn đề việc mở rộng quyền khai thác thủy sản trong tương lai của Iceland và một điều khoản thỏa hiệp về giải quyết tranh chấp sau đó được đưa vào Trao đổi Ghi chú đã được các Bên nhất trí vào ngày 11 31961. Ngày 1271972, Iceland tuyên bố rằng các quy định mới sẽ cấm tất cả tàu nước ngoài câu cá trong vùng biển giới hạn 50 hải lý sau ngày 0191972. Theo yêu cầu của Anh, vào năm 1973 Tòa án đã xác nhận các biện pháp tạm thời để hạn chế Iceland sử dụng tàu đánh bắt cá, áp dụng các quy định mới về việc mở rộng quyền khai thác thủy sản, và hạn chế việc đánh bắt hàng năm của tàu thuyền trong khu vực tranh chấp đến mức tối đa. Trong các phán quyết ngày 25 tháng 7 năm 1974, Tòa đã nhận ra rằng các quy định của Iceland về việc mở rộng giới hạn quyền khai thác độc quyền nghề cá lên 50 hải lý không hoàn toàn hạn chế quyền khai thác của Vương quốc Anh hay Cộng hoà Liên bang Đức, cho rằng Iceland không có quyền đơn phương loại trừ tàu cá của các quốc gia trên ra khỏi khu vực tranh chấp, và các bên phải cùng chung một nghĩa vụ để tiến hành đàm phán trong thiện chí, giải quyết hợp lý sự khác biệt của họ.
Trang 1MỤC LỤC
I Nội dung vụ tranh chấp 4
II Lập luận của các bên 5
1 Lập luận về thẩm quyền 5
1.1 Về phía Vương quốc Anh 5
1.2 Về phía Iceland 6
1.3 Phán quyết và phân tích phán quyết về thẩm quyền của Tòa 9
2 Lập luận về nội dung 14
2.1 Về việc mở rộng phạm vi độc quyền khai thác lên đến 50 hải lý 15
2.2 Về quyền đơn phương loại trừ tàu cá ra khỏi khu vực tranh chấp 19
III Nhận định, đánh giá của nhóm 22
IV Bài học cho Việt Nam 23
4.1 Hiệu lực của các hiệp ước quốc tế được kí kết bởi các quốc gia: 23
4.2 Việc bác bỏ thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế và không xuất hiện tại các buổi có mặt của 24
4.3 Việc cáo buộc một quốc gia đe dọa sử dụng vũ lực để đạt được thỏa thuận cần phải có dẫn chứng 25
4.4 Sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản để chấm dứt một hiệp ước phải dẫn đến sự chuyển đổi cơ bản mức 26
4.5 Vấn đề xem xét một quốc gia phụ thuộc đặc biệt vào nghề cá 26
Trang 2I Nội dung vụ tranh chấp
Vào ngày 14/4 và ngày 5/6 năm 1972, Vương quốc Anh và Cộng hoà Liên bang Đức đã khởikiện Cộng hòa Iceland về vấn đề tranh chấp đề xuất mở rộng giới hạn khu vực khai thác thủy hải sảncủa Iceland Theo đó kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1972, Iceland kéo dài giới hạn độc quyền đánh bắt cá từ
12 lên đến 50 hải lý và có hành động loại trừ tàu cá của Anh ra khỏi vùng biển này Anh cho rằng, việcnày “không có cơ sở trong luật pháp quốc tế”1 và đã kiện nộp đơn kiện Iceland Tuy nhiên, Iceland đãtuyên bố rằng Tòa án không có thẩm quyền xét xử và từ chối tham gia tố tụng hay nộp khiếu nại
Liên tiếp nhiều lần Iceland đã không xuất hiện hay đệ trình bất cứ bản tự bảo vệ nào trước Toàán: từ phiên điều trần được tổ chức vào tháng 8/1972 liên quan đến yêu cầu của Anh đưa ra các biệnpháp bảo vệ tạm thời; đến các phiên liên quan đến thẩm quyền của Tòa án để giải quyết tranh chấp.Bản án của Tòa án ngày 02/02/1973, trong đó Tòa án quyết định rằng Tòa có thẩm quyền giải quyếtđơn của Anh, vẫn có hiệu lực Trong bức thư ngày 11/01/1974, Iceland tuyên bố rằng "không chấpnhận bất kỳ tuyên bố hoặc các cáo buộc hay sự xung đột pháp luật nào có trong các Bản Đệ trình củacác bên liên quan"
Sau khi kết thúc Hội nghị về Luật biển lần thứ nhất vào năm 1958, Iceland ra một thông báo sơ
bộ về ý định của mình nhằm bảo vệ quyền đánh bắt cá trong một khu vực kéo dài 12 hải lý từ đường cơ
sở và chỉ dành cho ngư dân Iceland, mở rộng vùng đánh bắt vì lý do sửa đổi đường cơ sở, và sau đóvào ngày 30/6/1958 ban hành các quyết định mới là "Các Nghị quyết liên quan đến Giới hạn khai thácngoài Iceland” Nghị quyết này nhấn mạnh rằng giới hạn 12 hải lý được khẳng định trong Nghị quyếtnăm 1958 là một bước tiến mới trong tiến trình của Iceland đối với mục tiêu của mở rộng khu vực đánh
cá trên toàn bộ vùng biển của quốc gia này Tuy nhiên, Anh không chấp nhận hiệu lực Nghị quyết này,
và các tàu đánh cá của Anh tiếp tục đánh bắt bên trong khu vực về sau là khu vực tranh chấp Nhiều nỗlực đã được thực hiện để giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhưng đến cuối cùng thì tranh chấpvẫn chưa được giải quyết
Sau Hội nghị về Luật Biển lần thứ hai vào năm 1960, Anh và lceland bắt tay vào một loạt cáccuộc đàm phán nhằm giải quyết sự khác biệt của họ liên quan đến khu vực 12 hải lý và các đường cơ
sở do Iceland quy định năm 1958 Hồ sơ của các cuộc đàm phán khẳng định rằng Iceland, như mộtquốc gia đang trong tình trạng đặc biệt, "sẽ nhận được ưu đãi thậm chí xa hơn 12 hải lý" Các biện phápbảo tồn nghề cá nằm ngoài giới hạn 12 hải lý, bao gồm các khu vực dành cho đánh bắt cá ở Iceland, đã
Trang 3được thảo luận Nhưng Anh khẳng định rằng không có thoả thuận nào về nghề cá bên ngoài giới hạn 12hải lý đã được quy định trước đó Trong các cuộc thảo luận này, Anh nhấn mạnh vấn đề việc mở rộngquyền khai thác thủy sản trong tương lai của Iceland và một điều khoản thỏa hiệp về giải quyết tranhchấp sau đó được đưa vào Trao đổi Ghi chú đã được các Bên nhất trí vào ngày 11/ 3/1961
Ngày 12/7/1972, Iceland tuyên bố rằng các quy định mới sẽ cấm tất cả tàu nước ngoài câu cátrong vùng biển giới hạn 50 hải lý sau ngày 01/9/1972
Theo yêu cầu của Anh, vào năm 1973 Tòa án đã xác nhận các biện pháp tạm thời để hạn chếIceland sử dụng tàu đánh bắt cá, áp dụng các quy định mới về việc mở rộng quyền khai thác thủy sản,
và hạn chế việc đánh bắt hàng năm của tàu thuyền trong khu vực tranh chấp đến mức tối đa
Trong các phán quyết ngày 25 tháng 7 năm 1974, Tòa đã nhận ra rằng các quy định của Iceland
về việc mở rộng giới hạn quyền khai thác độc quyền nghề cá lên 50 hải lý không hoàn toàn hạn chếquyền khai thác của Vương quốc Anh hay Cộng hoà Liên bang Đức, cho rằng Iceland không có quyềnđơn phương loại trừ tàu cá của các quốc gia trên ra khỏi khu vực tranh chấp, và các bên phải cùngchung một nghĩa vụ để tiến hành đàm phán trong thiện chí, giải quyết hợp lý sự khác biệt của họ
II Lập luận của các bên
1 Lập luận về thẩm quyền
Khi kết thúc tranh tụng, các văn bản đệ trình sau đây đã được đệ trình lên Ban Thư ký Toà ánbởi Anh Quốc:
“Bên phía Anh Quốc tranh luận rằng:
(a) Bản ghi chú về Trao đổi năm 1961 vẫn còn có hiệu lực cho tới hiện tại
(b) Thế nên, theo khoản 1 điều 36 của Quy chế Tòa án, Bản ghi chú có hiệu lực, và một đệ trình của cả hai bên về thẩm quyền của Toà án trong trường hợp tranh chấp liên quan đến một yêu cầu của Iceland để mở rộng khu vực khai thác thủy sản của mình vượt quá các giới hạn đã thoả thuận trong Ghi chú
(c) Vì thế, Vương quốc Anh từ bác bỏ tính hợp lệ của hành vi đơn phương của Iceland về ý định mở rộng giới hạn nghề cá trong Nghị quyết của Iceland 1972, tranh chấp tồn tại
Trang 4giữa Iceland và Vương quốc Anh cấu thành tranh chấp thuộc các điều khoản của thỏa thuận trong Ghi chú về Trao đổi ngày 11 tháng 3 năm 1961
(d) Rằng ý định chấm dứt hiệu lực của Ghi chú vào ngày 11 tháng 3 năm 1961 của Iceland nhằm loại bỏ thẩm quyền của Toà án không có hiệu lực pháp lý; và
(e) Vậy, căn cứ vào đơn Yêu cầu đã nộp cho Tòa ngày 14 tháng 4 năm 1972, tòa có thẩm quyền xét xử.”.
Trong bản ghi nhớ: “Chính phủ Vương quốc Anh đệ trình lên Toà án rằng họ có quyền tuyên bố
và cho rằng rằng Toà án có thẩm quyền đầy đủ để tiến hành giải quyết đơn yêu cầu của Anh về nội dung của vụ tranh chấp.”.
Để xác định thẩm quyền của Tòa, Anh căn cứ vào khoản 1 điều 36 Quy chế của Tòa án Công lý
Quốc tế: “Tòa án tiến hành xét tất cả các vụ tranh chấp mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề được
nêu riêng trong hiến chương Liên hợp quốc hay các điều ước quốc tế hiện hành.”
Trong phụ lục của Ghi chú năm 1961 giữa Anh và Iceland cũng đã chỉ ra rằng: “Chính phủ
Iceland sẽ tiếp tục làm việc để thực hiện Nghị quyết ngày 5 tháng 5 năm 1959 về việc mở rộng thẩm quyền về khai thác thủy sản ở Iceland, nhưng sẽ thông báo cho Chính phủ Vương quốc Anh sáu tháng
về việc mở rộng, và trong trường hợp tranh chấp liên quan đến việc mở rộng, sẽ được chuyển tới tòa
án quốc tế, nếu có yêu cầu của một trong hai bên.”.
Về hoàn cảnh mà Iceland đưa ra là sự thay đổi cơ bản dẫn đến việc Ghi chú 1961 không có hiệulực nữa, Anh cho rằng cho rằng những thay đổi và tiến bộ trong kỹ thuật đánh bắt cá chưa phát triển ởvùng biển xung quanh Iceland và do đó thay đổi không phải là một yếu tố cơ bản hoặc quan trọng Bảnghi nhớ chỉ ra rằng, về năng lực của đội tàu, sự tăng hiệu quả đánh cá đã được cân bằng bởi việc giảmtổng số tàu trong đội tàu cá quốc gia đánh cá trong vùng biển xung quanh Iceland, và số liệu thống kêcho thấy tổng số lượng loài cá đánh bắt hàng năm đã thay đổi rất nhiều từ năm 1960
Anh cũng đưa ra cơ sở để phản bác lại hành động của Iceland về việc bác bỏ hiệu lực của Ghichú năm 1961 trên cơ sở hoàn cảnh đã thay đổi cơ bản do Iceland đưa ra, đó là căn cứ vào điều 65 và
66 của Luật Điều ước Quốc tế 1969 quy định rằng Nếu trong vòng 12 tháng sau ngày có sự phản đối vềhiệu lực của Điều ước mà không đi đến một giải pháp nào chiểu theo khoản 3 Điều 65, thì sẽ áp dụngthủ tục đưa ra cơ quan tài phán để giải quyết
Trang 51.2 Về phía Iceland
Về phía Iceland, không có yêu cầu nào được nộp, cũng không có đại diện nào tại quá trình tốtụng, và do đó không có đệ trình nào được trình bày Việc này đã được gửi tới Bộ trưởng Bộ Ngoạigiao Iceland ngày 29/5/1972, tức là vào ngày 14/4/1972 (ngày nộp đơn), không có căn cứ nào đểIceland không thể trao thẩm quyền cho Toà án Sau khi Toà án đã quyết định, bằng Phán quyết củamình của ngày 02/02/1973, rằng Tòa có thẩm quyền giải quyết các vấn đề tranh chấp, Bộ trưởng BộNgoại giao Iceland, bằng thư đề ngày 11/01/1974, đã đưa ra kết luận rằng:
“Với sự tham chiếu đến thời hạn nộp Bản Phản biện của Iceland do Tòa án ấn, chúng tôi xin thông báo cho các bên biết rằng quan điểm của Iceland về vấn đề thủ tục tố tụng được đề cập vẫn không thay đổi, và do đó, không có Bản Phản biện nào sẽ được đệ trình Đồng thời, lceland không chấp nhận bất
kỳ lời tuyên bố, các cáo buộc hay sự xung đột pháp luật có trong Bản Yêu cầu của các Bên liên quan.”.
Lá thư kết luận rằng: “Sau khi các quy định trong Ghi chú năm 1961 hết hiệu lực, không có căncứ theo Điều lệ Tòa án để thực hiện quyền tài phán trong trường hợp Vương quốc Anh đề cập đếnChính phủ Iceland cho rằng vấn đề này liên quan đến lợi ích thiết yếu của người dân Iceland, xin thôngbáo cho Tòa án rằng họ không trao thẩm quyền cho Toà án trong bất kỳ trường hợp nào liên quan tớiphạm vi của các hạn ngạch nghề cá của Iceland và đặc biệt trong trường hợp được Chính phủ Vươngquốc Anh và Bắc Ailen đề cập vào ngày 14 tháng 4 năm 1972 Trên những cơ sở nêu trên, sẽ không có
cơ quan nào được chỉ định để đại diện cho Chính phủ của Iceland tham gia tố tụng.”
Ngày 29 tháng 5 năm 1972, Iceland gửi cho Cơ quan tiếp nhận đơn của Tòa bởi Bộ trưởng BộNgoại giao Băng Đảo có nội dung như sau: “Ghi chú năm 1961 diễn ra dưới tình hình cực kỳ khó khăn,khi Hải quân Hoàng gia Anh đã sử dụng vũ lực để chống lại giới hạn đánh cá 12 hải lý được Chính phủIceland ban hành năm 1958." Tuyên bố này có thể được diễn giải như một sự buộc tội Vương QuốcAnh và được ghi trong Bản Ghi nhớ của Iceland
Cũng trong lá thư ngày 29/05/1972 đó, Ice đưa ra quan điểm cho rằng thỏa thuận năm 1961
"không có tính chất vĩnh viễn" và bổ sung rằng: ”Cụ thể, việc cam kết giải quyết vụ án không thể coi là
có tính chất vĩnh viễn Không có gì trong tình huống đó, hoặc theo bất kỳ nguyên tắc chung nào của luật quốc tế hiện nay, biện minh cho bất kỳ quan điểm nào khác.”.
Quan điểm phản đối thẩm quyền của Tòa dựa trên các lập luận sau đây: “Vì điều khoản thỏa
hiệp không có điều khoản chấm dứt, nó có thể được coi là có tính chất vĩnh viễn; nhưng điều khoản
Trang 6thỏa hiệp không thể có tính chất vĩnh viễn; do đó nó phải bị loại bỏ bằng cách thông báo đầy đủ cho các bên.”.
Lý luận này dường như là nền tảng cho ý kiến phản đối thẩm quyền của Tòa của Chính phủ
Iceland trong văn bản của quốc gia này ngày 31 tháng 8 năm 1971: "Theo ý kiến của Chính phủ Băng
Đảo đối tượng và mục đích của điều khoản áp dụng để giải quyết các vấn đề nhất định được đề cập trong đoạn văn được trích dẫn ở trên (nghĩa là, điều khoản thỏa hiệp) đã được thực hiện đầy đủ.”.
Việc đưa ra quan điểm trên của Iceland căn cứ trên việc Iceland mặc định cho rằng việc đạt được thỏathuận về giới hạn vùng lãnh hải là 12 hải lý theo Ghi chú năm 1961 đã được hoàn tất và đưa vào ápdụng, vì vậy mục đích của Ghi chú năm 1961 đã hoàn thành đầy đủ dẫn tới các điều khoản về thẩmquyền của Tòa về giải quyết tranh chấp không còn có hiệu lực Cũng trong thư ngày 29/05/1972
Iceland gửi cho Cơ quan đăng ký, Bộ trưởng Ngoại giao của lceland đề cập đến “các hoàn cảnh thay
đổi do sự khai thác ngày càng tăng của các nguồn lợi thủy sản trong vùng biển xung quanh Iceland”.
Thông báo của cơ quan tư pháp cũng nên tuyên bố về chủ đề này trong các tài liệu do Iceland đưa ra
Tòa án Như vậy, nghị quyết được Nghị viện chấp thuận ngày 15/02/1972 có tuyên bố rằng "do hoàn
cảnh thay đổi, các Ghi chú liên quan tới giới hạn nghề cá được trao đổi năm 1961 là không được áp dụng nữa".
Trong những tuyên bố này, Chính phủ Iceland đang tự dựa trên nguyên tắc chấm dứt hiệp ước
vì lý do thay đổi hoàn cảnh Luật pháp quốc tế thừa nhận rằng một sự thay đổi cơ bản trong hoàn cảnh
là nếu nó có dẫn đến một sự chuyển đổi cơ bản về mức độ nghĩa vụ, trong một số điều kiện nhất định,thì nó có thể buộc bên chịu nghĩa vụ coi như là nền tảng cho việc viện dẫn chấm dứt hoặc đình chỉ hiệpước Nguyên tắc này, cùng các điều kiện và ngoại lệ mà nó phụ thuộc, được thể hiện trong Điều 62 củaCông ước viên về Luật Điều ước quốc tế, trong nhiều khía cạnh, có thể được xem như là pháp điển hóacác tập quán về vấn đề chấm dứt mối quan hệ hiệp ước do thay đổi hoàn cảnh
Một trong những yêu cầu cơ bản được thể hiện trong Điều khoản đó là sự thay đổi hoàn cảnhphải là một điều cơ bản Liên quan đến sự phát triển của nghề cá, Iceland đã ban hành ấn bản chínhthức về Thẩm quyền Nghề cá ở Iceland về việc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản trong nhữngvùng biển xung quanh vùng đất lưỡng cư và với nguy cơ tiếp diễn khai thác vì sự gia tăng khả năngđánh bắt cá của đội tàu Các tuyên bố của Iceland nhắc lại sự đặc biệt phụ thuộc vào đánh bắt cá củaquốc gia cho sự tồn tại và phát triển kinh tế, vì vậy Iceland cho rằng cần có biện pháp để bảo tồn cácloài cá trong khu vực đánh bắt Iceland khẳng định rằng họ có trách nhiệm trong vấn đề này, thế nên
Trang 7Iceland cần có quyền quản lý độc quyền khu vực biển 50 hải lý kéo dài từ đường cơ sở của Iceland.Trong thư ngày 29/5/1972, Iceland trưởng tuyên bố:
“Chính phủ Iceland, cho rằng về những lợi ích quan trọng của người dân có liên quan, trân trọng thông báo cho Tòa án rằng trong bất kỳ trường hợp nào cũng không muốn trao thẩm quyền cho Toà, bao gồm phạm vi giới hạn đánh cá của Iceland .”
Lời kêu gọi về "những lợi ích quan trọng", không phải là vấn đề bảo đảm sự chấp nhận nghĩa vụ
về thẩm quyền theo Thỏa thuận Ghi chú năm 1961, được giải thích tại sao coi đây là nền tảng của
những thay đổi về kỹ thuật đánh bắt cá tồn tại trước đấy trong bối cảnh khẳng định rằng của nhữnghoàn cảnh cơ bản đã thay đổi Giải thích này tương ứng với quan điểm truyền thống rằng những thayđổi cơ bản và quan trọng của hoàn cảnh là nguyên nhân gây cản trở cho sự tồn tại hay sự phát triểnthiết yếu của một trong các bên
1.3 Phán quyết và phân tích phán quyết về thẩm quyền của Tòa
Vào ngày 19/7/1972, Đại diện của Anh đã nộp đơn lên Ban Thư ký của Toà án yêu cầu chỉ địnhbiện pháp bảo vệ tạm thời theo Điều 41 của và Điều 61 của Quy chế của Tòa án Công lý Quốc tế đãthông qua vào ngày 06/5/1946 Theo lệnh ngày 17/8/1972, Toà án chỉ ra một số biện pháp bảo vệ tạmthời và theo một lệnh tiếp theo ngày 12/7/1973, Toà án xác nhận rằng các biện pháp này cần phải, như
đã đề cập, vẫn còn hiệu lực cho đến khi Toà án đã đưa ra phán quyết cuối cùng
Theo Lệnh ngày 18/8/1972, Toà án đã quyết định giải quyết các yêu cầu trước tiên về thẩmquyền của Toà án để giải quyết tranh chấp, và ấn định thời hạn cho đệ trình Bản Đệ trình của Anh vàBản Phản biện của Iceland Tuy nhiên, Iceland liên tục trả lời Tòa và các bên liên quan khác bằngnhững văn bản nhằm phủ nhận thẩm quyền của Tòa trong việc giải quyết vụ tranh chấp này Việc Tòaxem xét thẩm quyền xét xử của họ căn cứ vào khoản 1 và khoản 6 điều 36 của Quy chế Tòa án Công lýQuốc tế:
1 Tòa án tiến hành xét tất cả các vụ tranh chấp mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề được nêu riêng trong hiến chương Liên hợp quốc hay các điều ước quốc tế hiện hành
…
6 Trong trường hợp tranh chấp về quyền xét xử được đưa đến Tòa án thì vấn đề đó sẽ được Tòa án xác định và giải quyết.
Trang 8Rõ ràng rằng, cả Anh và Iceland đều là thành viên của Liên hợp quốc trước lúc tranh chấp củacác bên diễn ra, vì vậy, trước tiên, tòa phải giải đáp được vấn đề tranh chấp của các bên về thẩm quyềnxét xử của Tòa trong vụ việc này.
Để trả lời cho các văn bản phủ nhận thẩm quyền của Tòa, Toà đã cho rằng theo quy định củaQuy chế Tòa và các quy tắc khác, phải xem xét về vấn đề thẩm quyền của mình trong việc xem xétĐơn của Vương quốc Anh Hơn nữa, trong vụ việc hiện tại, nghĩa vụ của Toà án thực hiện việc xem xétnày được củng cố bởi quy định tại khoản Điều 53 của Quy chế của Toà án Công lý Quốc tế:
có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo hướng có lợi cho mình.
của vụ án đối với Tòa án, theo các điều 36 và 37, mà cần phải thấy rõ là yêu sách đó có đủ cơ sở thực
tế và pháp lý hay không.
Theo quy định này, bất cứ khi nào một trong hai bên không xuất hiện trước Toà án, hoặc khôngbảo vệ được quan điểm của mình, Toà án phải có nghĩa vụ tự đảm bảo thẩm quyền trước khi xem xétnội dung của vụ việc Điều này xuất phát từ việc Iceland không xuất hiện trong giai đoạn này của vụ án
và họ đã không tuân thủ các điều khoản của Điều 62 trong Quy tắc của Toà án:
ích nào đó có tính chất pháp lý của quốc gia đó thì nước đó có thể yêu cầu Tòa án quyết định cho tham gia vào vụ việc đó.
Thông qua lịch sử đàm phán giữa hai quốc gia trên, Tòa án đã phần nào xác định được thẩmquyền giải quyết của Tòa trong các vụ việc phát sinh kể từ khi Ghi chú 1961 được kí kết, được bổ sungcác điều khoản về quyền tài phán của Tòa Tòa án đã ghi nhận ý kiến sau trong bản ghi chú năm 1961:
“Chính phủ Iceland sẽ tiếp tục làm việc để thực hiện Nghị quyết ngày 5 tháng 5 năm 1959 về việc mở rộng thẩm quyền về khai thác thủy sản ở Iceland, nhưng sẽ thông báo cho Chính phủ Vương quốc Anh sáu tháng về việc mở rộng, và trong trường hợp tranh chấp liên quan đến việc mở rộng, sẽ được chuyển tới tòa án quốc tế, nếu có yêu cầu của một trong hai bên.”
Trang 9Thực tế cho thấy, về vấn đề trên, các bên trong quá trình trao đổi Ghi chú năm 1961 đã liên tụcđưa ra các quan điểm khác nhau về việc giải quyết tranh chấp xảy ra Iceland ban đầu giữ vững quanđiểm lựa chọn cơ quan tài phán là Trọng tài Quốc tế, thế nhưng về phía Anh, họ lại chọn giải pháp làđưa vụ việc tranh chấp ra Tòa án Quốc tế Ngoài việc lựa chọn cơ quan tài phán, các bên trước đó cũng
đã không thống nhất được với nhau về vấn đề quyền đưa vụ việc trên ra cơ quan tài phán Vào năm
1960, Iceland liên tục đưa ra quan điểm việc đưa vụ việc ra cơ quan tài phán cần có “sự đồng ý của các
bên”, về phía Anh luôn giữ vững lập trường là thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh khi “có yêu cầu của một trong các bên” Mãi cho đến năm 1961, hai bên đã thống nhất được với nhau về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp phát sinh Cụ thể là vào ngày 06/08/1961, Ghi chú năm 1961 đã được đăng
kí với Ban Thư ký của Liên Hợp Quốc với nội dung cơ về giải quyết tranh chấp như sau: “Chính phủ
Iceland sẽ tiếp tục làm việc để thực hiện Nghị quyết ngày 5 tháng 5 năm 1959 về việc mở rộng thẩm quyền về khai thác thủy sản ở Iceland, nhưng sẽ thông báo cho Chính phủ Vương quốc Anh sáu tháng
về việc mở rộng, và trong trường hợp tranh chấp liên quan đến việc mở rộng, sẽ được chuyển tới Tòa
án Quốc tế, nếu có yêu cầu của một trong hai bên.”`
Lịch sử về các đàm phán của các bên cũng đã củng cố lập luận rằng Tòa án có thẩm quyềntrong trường hợp này và nhấn mạnh rằng ý định thực sự của các bên là đưa ra cho Chính phủ Vươngquốc Anh một sự đảm bảo có hiệu quả tạo điều kiện quan trọng và không phải là điều kiện để chấm dứthiệu lực của thỏa thuận (cụ thể là việc bác bỏ hiệu lực của Ghi chú năm 1961 về việc việc mở rộngthẩm quyền nghề cá của Iceland trước tòa trong vùng biển phía trên thềm lục địa giới hạn 12 hải lý đãquy định) Do đó, việc thực thi thẩm quyền của Toà án để giải quyết yêu cầu này nằm trong điều khoảnthỏa hiệp và phù hợp với ý định và mong muốn của cả hai Bên khi họ thảo luận và đồng ý với điềukhoản đó Do đó, xuất phát từ điều khoản của điều khoản thỏa hiệp, Toà án có thẩm quyền giải quyết
vụ việc trên Tuy nhiên, nó đã được tranh cãi rằng thoả thuận ban đầu là vô hiệu hoặc đã hét hiệu lực.Tòa án sẽ xem xét cụ thể những yếu tố khác được nêu ra bởi Iceland
Để trả lời cho vấn đề ”Cụ thể, việc cam kết giải quyết vụ án không thể coi là có tính chất vĩnh
viễn Không có gì trong tình huống đó, hoặc theo bất kỳ nguyên tắc chung nào của luật quốc tế hiện nay, biện minh cho bất kỳ quan điểm nào khác”, “điều khoản thỏa hiệp về thẩm quyền của Tòa không
Trang 10có giá trị sau khi các đối tượng của việc thỏa hiệp và mục đích của thỏa hiệp đã đạt được mục đích cuối cùng (các bên đã hoàn thành và đạt được mục đích của Ghi chú năm 1961”, Toà án cho rằng, mặc
dù điều khoản thỏa hiệp trong Bản Trao đổi Ghi nhớ năm 1961 không có quy định rõ ràng về thời hạn,nghĩa vụ liên quan đến một yếu tố thời gian điều chỉnh khả năng áp dụng Do đó, nó không được coi là
có tính chất vĩnh viễn hoặc là một trong những yếu tố ràng buộc các bên Ghi chú năm 1961 đã khôngthiết lập một thời hạn nhất định để Iceland có thể đưa ra một yêu cầu trong quá trình thực hiện Nghịquyết của Nghị viện Iceland về việc mở rộng thẩm quyền nghề cá Do đó, có thể sẽ không có quy địnhnào về thời hạn cho quyền tương ứng của Anh để phản kháng sự mở rộng này, dù cho mục đích và đốitượng của Ghi chú năm 1961 đã đạt được, nếu không có thỏa thuận đạt được khác hay tranh chấp vẫntiếp tục, nhằm viện dẫn thẩm quyền của Toà án Các quyền của Anh do đó sẽ kéo dài cho đến khiIceland có thể tìm cách thực hiện giải pháp Điều này, tất nhiên, dưới sự kiểm soát của Chính phủIceland mà trong năm 1971, mười năm sau khi Ghi chú được kí kết, đã đưa ra yêu sách về quyền độcquyền nghề cá trên toàn bộ thềm lục địa xung quanh lãnh thổ và do đó, việc tự động áp dụng quyền củaAnh cầu viện Toà án là cần thiết
Điều khoản thỏa hiệp trong Bản Trao đổi Thỏa thuận năm 1961 có thể được coi như là một thỏathuận quy định về thẩm quyền của Toà án theo yêu cầu đơn phương của một trong hai bên, một loạihình tranh chấp cụ thể đã được dự kiến và đoán trước bởi các bên Quyền viện dẫn thẩm quyền của toà
án do đó đã được tạm thời không sử dụng tới, cho đến khi xảy ra các sự kiện rõ ràng trong tương lai mà
do đó dẫn đến tình trạng thẩm quyền của Tòa phát sinh Nói cách khác, Thẩm quyền của Tòa phải cóđiều kiện cụ thể để có hiệu lực, bất cứ lúc nào, nếu Iceland tuyên bố mở rộng giới hạn nghề cá củamình và quyền yêu cầu Toà án giải quyết phản đối của Anh chỉ có thể được viện dẫn trong trường hợpnày
Về vấn đề Iceland đưa ra rằng “Ghi chú năm 1961 diễn ra dưới tình hình cực kỳ khó khăn, khi
Hải quân Hoàng gia Anh đã sử dụng vũ lực để chống lại giới hạn đánh cá 12 hải lý được Chính phủ Iceland ban hành năm 1958.", Có thể nghi ngờ, như được quy định trong Hiến chương của Liên hợp
quốc và được công nhận trong Điều 52 của Công ước Viên về Luật Điều ước và đồng thời theo luậtquốc tế hiện nay, một hiệp định được kí kết dưới sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực là vô hiệu Rõ ràng làtòa án không thể xem xét một cáo buộc có bản chất nghiêm trọng như trên cơ sở một cáo buộc chung
Trang 11chung mơ hồ không được minh chứng bằng bằng chứng cụ thể Lịch sử đàm phán dẫn tới việc thiết lậpGhi chú năm 1961 cho thấy những thỏa thuận giữa các bên này được các bên đàm phán một cách tự dotrên cơ sở bình đẳng và tự do quyết định của cả hai bên Trên thực tế không có một sự kiện nào về quân
sự dù chỉ nhỏ nhất được trình ra trước Tòa án
Tòa xem xét tuyên bố của Iceland, "do hoàn cảnh thay đổi, các Ghi chú liên quan tới giới hạnnghề cá được trao đổi năm 1961 là không được áp dụng nữa", dưới khía cạnh trong mối liên hệ sự phụthuộc của Iceland vào hoạt động thủy sản của quốc gia này đối với sự tồn tại và sự phát triển được côngnhận rõ ràng trong Bản ghi nhớ của năm 1961, và Toà án, trong Lệnh ngày 17 tháng 8 năm 1972, tuyên
bố rằng “nó cũng là cần thiết để ghi nhận sự phụ thuộc đặc biệt của Iceland khi thủy sản ven biển cho
sự tồn tại và phát triển kinh tế của Iceland”
Quan điểm của Iceland, dưới cương vị là một quốc gia ven biển đặc biệt phụ thuộc vào nghề cáven biển cho cuộc sống hoặc phát triển kinh tế đã gây ra một đã tranh cãi trước Toà án rằng trong phạm
vi mà Iceland có thể khẳng định nhu cầu thiết lập một chế định bảo tồn nghề cá đặc biệt trong vùngbiển gần bờ biển, Iceland có thể theo đuổi mục tiêu một cách hợp pháp bằng cách hợp tác và thoả thuậnvới các nước khác có liên quan, nhưng không phải bằng đơn phương cai trị độc quyền trong vùng biển
đó Sự phụ thuộc ngoại lệ của Iceland vào nghề cá và nguyên tắc bảo tồn trữ lượng cá đã được côngnhận, vẫn còn câu hỏi liệu lceland có hay không thẩm quyền đơn phương để khẳng định thẩm quyềnđộc quyền nghề cá, mở rộng thẩm quyền của mình vượt quá giới hạn 12 hải lý
Hơn nữa, với mục đích rằng sự thay đổi hoàn cảnh có thể làm tăng cơ sở viện dẫn chấm dứt mộthiệp ước, cũng cần thiết rằng nó phải dẫn đến sự chuyển đổi cơ bản mức độ các nghĩa vụ vẫn phải đượcthực hiện Sự thay đổi phải tăng gánh nặng các nghĩa vụ cần thực hiện trong phạm vi đưa ra về cácnghĩa vụ cơ bản khác với những gì ban đầu được thỏa thuận Đối với nghĩa vụ mà Tòa đang xem xét,tình trạng này hoàn toàn chưa thuyết phục; sự thay đổi hoàn cảnh được đưa ra bởi Iceland không thểnói rằng đã thay đổi hoàn toàn mức độ nghĩa vụ pháp lý được ấn định trong Trao đổi Ghi chú năm
1961 Điều khoản thỏa hiệp cho phép một trong các bên đệ trình Tòa án bất kỳ tranh chấp nào liên quanđến việc mở rộng thẩm quyển nghề cá của Iceland Tranh chấp hiện tại phù hợp với đặc tính được dựđoán trong điều khoản thỏa hiệp của Trao đổi Ghi chú
Trang 12Tòa cũng đồng ý với quan điểm của Anh về việc phản đối tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Ghichú năm 1961 do Iceland đưa ra lý do có sự thay đổi cơ bản, căn cứ theo điều 65 và 66 của Luật Điềuước Quốc tế năm 1969 Tòa đưa ra ý kiến, cho rằng một trong các bên không bao giờ được tự ý hànhđộng để tự động chấm dứt một hiệp ước hoặc để cho phép một bên đơn phương buộc tội; nó chỉ thựchiện để trao quyền yêu cầu chấm dứt và, nếu yêu cầu đó gây tranh chấp thì phải đệ trình lên một số cơquan, tổ chức có thẩm quyền quyết định các điều kiện cho phép thực hiện việc chấm dứt nói trên.
Iceland đã vô tình tự làm mất đi quyền áp dụng Điều 65 của Luật Điều ước Quốc tế để có thểđưa ra tuyên bố rằng Ghi chú năm 1961 đã vô hiệu, vì trên thực tế, hành động đơn phương độc quyềnhóa khu vực khai thác chung của các quốc gia theo Ghi chú đã gây nên sự phản đối mạnh mẽ từ cácquốc xung quanh, từ đó có thể thấy rằng, trong thời hạn 12 tháng đã có những sự phản đối liên quanđến vấn đề nà Do đó căn cứ theo khoản 1 điều 65 của Luật Điều ước Quốc tế, Có một tranh chấp tồntại rõ ràng trong vụ này và Tòa án cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc thể theo nguyện vọng củacác bên được nếu trong Ghi chú năm 1961
Từ những phân tích nêu trên, Tòa đưa ra phán quyết Thấy rằng Tòa có thẩm quyền giải quyếtĐơn kiện của Chính phủ Vương quốc Anh và Iceland
2 Lập luận về nội dung
Trong Đơn kiện của mình, Anh yêu cầu Tòa án xét xử và tuyên bố:
(a) Không có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế về yêu cầu của Iceland có quyền mở rộng phạm
vi khai thác bằng cách thành lập một vùng khai thác cá độc quyền kéo dài đến 50 hải lý từ đường cơ
sở Điều đó là không hợp lệ;
(b) Do đó những vấn đề liên quan đến việc bảo tồn các loài cá trong vùng biển xung quanh Iceland không do luật pháp quốc tế quy định vì sự mở rộng đơn phương phạm vi khai thác độc quyền tại Iceland đến 50 hải lý so với các đường cơ sở nói trên, nhưng vấn đề là có thể được quy định, theo thoả thuận thống nhất giữa hai quốc gia …
Sau đó, Anh bổ sung thêm một số yêu cầu Tòa án xét xử và tuyên bố:
(a) Việc Iceland được hưởng độc quyền khu vực khai thác thủy hải sản 50 hải lý từ các đường
cơ sở xung quanh bờ biển lceland là không có cơ sở trong luật pháp quốc tế;
Trang 13(b) Do đó, Iceland không có quyền đơn phương khẳng định độc quyền khai thác vượt quá giới hạn theo thoả thuận trong Trao đổi Ghi chú năm 1961;
(c) lceland không có quyền đơn phương để loại trừ tàu đánh bắt cá của Anh từ khu vực biển quốc tế vượt quá giới hạn theo như thỏa thuận trong Trao đổi Ghi chú năm 1961 hoặc đơn phương áp đặt những hạn chế về hoạt động trong khu vực đó;
(d) Những hành động của Iceland như được đề cập đến trong Phần V của Bản Yêu cầu, có nghĩa là sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực với tàu cá của Anh đang hoạt động trong khu vực biển cả, là bất hợp pháp và do đó Iceland phát sinh nghĩa vụ bồi thường cho Vương quốc Anh (hình thức và số tiền bồi thường được đánh giá, không theo thoả thuận giữa các Bên, mà theo cách thức mà Toà án có thể biểu thị); và
(e) Về sự cần thiết đối với việc bảo tồn môi trường thủy sản, qua các bằng chứng khoa học, đã nêu ra những hạn chế của hoạt động đánh bắt cá trong khu vực biển nói trên, Iceland và Vương quốc Anh đang có nghĩa vụ cùng nhau ngay thẳng kiểm tra (song phương hoặc cùng với những quốc gia quan tâm khác; thể hiện bằng sự thỏa thuận mới hoặc thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế hiện có trong vấn đề này, chẳng hạn như Ủy ban Nghề cá Đông Bắc Đại Tây Dương) sự tồn tại, mức độ cần thiết, sự tương tự để thương lượng nhằm thành lập của một quy tắc cho nghề cá của khu vực, liên quan đến lợi ích của các quốc gia khác, sẽ đảm bảo cho Iceland có sự ưu tiên phù hợp như là một Nhà nước đặc biệt phụ thuộc vào các nghề cá và cũng đảm bảo cho Vương quốc Anh một vị trí phù hợp với truyền thống và các quyền có được và phụ thuộc vào những nghề cá đó."
Như vậy, những nội dung được Tòa Án giải quyết tranh chấp giữa Anh và Iceland xung quanhmối bất đồng về mức độ phân bổ và phạm vi quyền của mỗi bên trong việc khai thác các nguồn lợithủy sản; và về việc bảo tồn và phát triển nguồn lực thủy sản
Trong phạm vi nghiên cứu vụ tranh chấp, nhóm chọn vấn đề nội dung về mức độ phạm viquyền của mỗi bên trong việc khai thác các nguồn lợi thủy sản để phân tích và làm rõ lập luận của haibên và Tòa án Dựa trên tình tiết vụ tranh chấp, phần phân tích của nhóm chia ra hai vấn đề cơ bản:
Về việc mở rộng phạm vi độc quyền khai thác lên 50 hải lý; và về quyền đơn phương loại trừ tàu cá
ra khỏi khu vực tranh chấp