1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng một số vấn đề lý luận và thực tiễn

80 478 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 786,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Miễn trừ trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng 49 được nghĩa vụ hợp đồng do quy định của pháp luật hoặc do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 51 Chương 3 MỘT SỐ BẤT CẬP TRO

Trang 1

NGUYỄN HOÀNG LONG

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐÌNH NGHỊ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Hoàng Long

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công

bố trong bất kì công trình khoa học nào khác./

Trang 3

Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc

sỹ Luật học Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Phó giáo

sư, Tiến sỹ của khoa Pháp luật Dân sự đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Đình Nghị người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập./

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Long

Trang 4

Trang

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 3

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu 4

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO

VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG

6

1.3 Sơ lược lịch sử pháp triển của pháp luật dân sự Việt

Nam về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp

đồng

13

Trang 5

đồng thời kỳ Pháp thuộc

đồng từ năm 1945 đến trước ngày Bộ luật dân sự năm 1995

có hiệu lực

16

đồng từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực đến trước

ngày Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực

18

Chương 2 TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ

HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN

SỰ NĂM 2005

20

đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 20

2.1.1 Các loại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp

Trang 6

Miễn trừ trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng 49

được nghĩa vụ hợp đồng do quy định của pháp luật hoặc do

quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

51

Chương 3 MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ

LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI

PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG

55

3.1 Một số bất cập trong việc áp dụng các quy định của

BLDS năm 2005 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng

55

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của

BLDS năm 2005 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa

Trang 7

BLDS Bộ luật Dân sự

BLDS 1995 Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 1995 BLDS 2005 Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 2005 BTTH Bồi thường thiệt hại

CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

BLDS 2005 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định của BLDS 1995 Nó đánh dấu kết quả của việc tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng luật qua nhiều năm của nhiều tầng lớp xã hội, thể hiện đầy đủ nhất việc bảo đảm pháp chế XHCN, là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý xã hội Kể

từ khi ra đời và có hiệu lực pháp luật, BLDS 2005 đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, đặc biệt là các quan hệ về HĐDS BLDS 2005 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, góp phần hạn chế các hành vi

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cũng như là cơ sở áp dụng các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng xảy ra

Qua gần 10 năm thực hiện, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được BLDS 2005 cũng đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định cần phải có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với sự phát triển đa dạng và không ngừng của các quan hệ dân sự trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế Tiêu biểu phải kể đến đó là các quy định về HĐDS, căn cứ phát sinh TNDS do

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, các loại TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, các trường hợp miễn trừ NVDS chính những nguyên nhân này đã dẫn đến việc áp dụng pháp luật của Tòa án để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng trên thực

tế còn nhiều bất cập, vướng mắc cần phải được tháo gỡ

Trước thực tế này, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định của BLDS

2005 nói chung và các quy định về TNDS do vi phạm nghĩa vụ đồng của BLDS 2005 nói riêng để từ đó tìm ra những hạn chế, bất cập và đưa ra những

Trang 9

giải pháp nhằm hoàn thiện chúng là một điều hết sức cần thiết Xuất phát từ

những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Trách nhiệm dân sự do vi phạm

nghĩa vụ hợp đồng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng không phải là một vấn đề mới của pháp luật dân sự Cho đến nay, vấn đề này đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các sách chuyên khảo, các luận văn, luận án, các bài viết trong các tạp chí pháp luật của các luật gia Tiêu biểu phải

kể đến như: PGS TS Trần Thị Huệ, "Trách nhiệm dân sự và một số vấn đề xác định thiệt hại", Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3/2003; TS Phạm Văn Tuyết,

"Về sự tương đồng và khác biệt giữa giữa nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự", Tạp chí Luật học số 10/2006; Ths Đinh Hồng Ngân, "Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng", Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; Ths Vũ Tiến Vinh, "Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006; Trần Việt Anh, "Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng", Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010; Nguyễn Thị Minh, "Một số điểm khác nhau trong chế độ trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Australia", tạp chí luật học số 2/1999

Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của TNDS, đặc điểm của TNDS, TNDS do vi phạm hợp đồng đồng thời xây dựng được một số khái niệm theo quan điểm cá nhân về TNDS, TNDS

do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, so sánh TNDS trong hợp đồng với TNDS ngoài

Trang 10

hợp đồng; nêu và phân tích các trường hợp phát sinh TNDS và các loại TNDS trong hợp đồng; các trường hợp miễn trừ TNDS, điều kiện để được miễn trừ trách nhiệm Ngoài ra, các luật gia còn đi vào nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐDS, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này

Tuy nhiên, theo tác giả đây là một vấn đề phức tạp, việc nghiên cứu làm rõ

để đưa ra cách hiểu thống nhất, làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng là một điều hết sức cần thiết Chính vì vậy, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp luật dân sự về hợp đồng, tác giả đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn đi sâu vào phân tích, làm rõ các các quan điểm của các nhà khoa học, pháp luật của một số nước trên thế giới, những quy định của BLDS 2005

về TNDS nói chung, các loại TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; điều kiện pháp sinh TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; các trường hợp miễn trừ nghĩa

vụ và thực tiễn áp dụng các quy định này ở Việt Nam, từ đó đưa ra những đánh giá, quan điểm riêng của cá nhân về các vấn đề có liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, so sánh và phương pháp lịch sử để giải quyết những vấn đề cần nghiên cứu Trong các phương pháp này, phương pháp phân tích là phương pháp chủ đạo được tác giả sử dụng nhằm làm sáng tỏ những quy định của pháp luật hiện hành về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để đối chiếu, so sánh những nét tương đồng cũng như

Trang 11

những điểm khác nhau giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước khác trên thế giới khi chúng cùng điều chỉnh một quan hệ giống nhau

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn: trên cơ sở phân tích các quy định của

pháp luật thực định về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (có tham chiếu với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới) cũng như tìm hiểu thực tiễn vận dụng pháp luật về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, Luận văn đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ

thể như sau:

- Xây dựng khái niệm và chỉ ra những đặc điểm của TNDS nói chung và TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nói riêng;

- Tìm hiểu sơ lược về quá trình hình thành, phát triển quy định TNDS do vi

phạm nghĩa vụ hợp đồng của pháp luật Việt Nam, đưa ra căn cứ để áp dụng TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; các loại TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng;

- Phân tích, đánh giá những quy định của BLDS 2005 về TNDS do vi phạm

nghĩa vụ hợp đồng làm cơ sở để so sánh với pháp luật của một số nước khác trên thế giới;

- Chỉ ra được một số bất cập trong quy định của BLDS 2005 hiện hành về

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm ba chương:

Chương 1 Lý luận chung về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Chương 2 Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

Chương 3 Một số bất cập trong các quy định của Bộ luật dân sự năm

2005 và hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG 1.1 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm dân sự

1.1.1 Khái nhiệm trách nhiệm dân sự

BLDS 2005 không có một điều khoản cụ thể nào quy định TNDS là gì mà chỉ quy định các loại TNDS được áp dụng trong những trường hợp cụ thể (Điều 303; Điều 304; Điều 305; Điều 306 và Điều 307) Chính vì vậy, việc xây dựng khái niệm TNDS từ đó đi đến cách hiểu thống nhất và chính xác về TNDS là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Muốn xây dựng được khái niệm TNDS trước tiên chúng ta phải hiểu thế

nào là trách nhiệm? Theo từ điển Tiếng Việt, "trách nhiệm chính là điều phải

làm, điều phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình" Trong ngôn ngữ hàng ngày,

thuật ngữ "trách nhiệm" được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực hoặc hoàn cảnh cụ thể Trong lĩnh vực chính trị, đạo đức "trách nhiệm" được hiểu theo nghĩa bổn phận, vai trò, nó luôn mang tính tích cực xuất phát từ sự ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với xã hội, đối với những người thân thích chẳng hạn như: trách nhiệm với gia đình, trách nhiệm với bạn bè, trách nhiệm với đất nước

Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ "trách nhiệm" cũng được dùng theo hai nghĩa: theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ - điều mà pháp luật yêu cầu phải làm, ví dụ như trách nhiệm của công chức, viên chức đối với

cơ quan, đơn vị công tác; nghĩa thứ hai, trách nhiệm được hiểu là hậu quả pháp

lý bất lợi (tổ chức, cá nhân nào đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật) - đó là những phản ứng của nhà nước và xã hội đối với những chủ

Trang 14

thể vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội Với ý nghĩa này, các nhà làm luật đã xây dựng khái niệm "trách nhiệm pháp lý" và quy định cụ thể các loại trách nhiệm pháp lý trong các văn bản pháp luật

Trách nhiệm pháp lý là sự bắt buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được pháp luật xác lập và điều chỉnh Trong đó chủ thể vi phạm pháp luật bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định [32, tr.216] Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành: trách nhiệm hình sự; trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật và TNDS Trong đó, trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do toà án áp dụng đối với những chủ thể có hành vi phạm tội, còn TNDS là loại trách nhiệm pháp lý do tòa án hoặc chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật dân sự

TNDS được đề cập trong một số công trình khoa học chuyên ngành luật: Trong cuốn sách "Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của BLDS", TNDS

được hiểu theo nghĩa rộng "là các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng

nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm", theo

nghĩa hẹp "là các biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người có hành

vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình (trong đó có bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng)

[21, tr.168]

Trong cuốn "Từ điển giải thích thuật ngữ luật học" của Trường Đại học

Luật Hà Nội thì: “TNDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp

dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất,

Trang 15

tinh thần cho người bị thiệt hại” [33, tr.128] Còn theo quan điểm của luật gia

Vũ Văn Mẫu: "Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ không căn

cứ vào ý chí của đương sự, tức là nguồn gốc bất hợp pháp; vì vậy trách nhiệm dân sự làm phát sinh ra nghĩa vụ bồi thường đối với người đã làm một hành vi trái luật gây tổn thiệt cho một người khác [18, tr.431]

Nhìn chung, các khái niệm về TNDS mà các học giả đã xây dựng đều phản ánh được những đặc điểm cơ bản của TNDS như: là một loại trách nhiệm pháp lý; được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm NVDS; nhằm mục đích bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, trong các khái niệm này các học giả chưa làm rõ được đặc điểm quan trọng về mặt chủ thể của TNDS

Qua những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về TNDS như sau:

TNDS là trách nhiệm pháp lý do Tòa án hoặc chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm nghĩa vụ dân sự, buộc các chủ thể này phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại

1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm dân sự

TNDS mang một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, TNDS là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, do cơ quan

nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật dân sự Việc áp dụng TNDS được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, đó là chế tài được áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật dân sự

Thứ hai, TNDS chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự

Hành vi vi phạm pháp luật dân sự ở đây có thể là: gây thiệt hại cho người khác bằng hành vi trái pháp luật; chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có

Trang 16

căn cứ pháp luật; hủy hoại tài sản của người khác; vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết và có hiệu lực pháp luật…

Thứ ba, khi TNDS được áp dụng bao giờ nó cũng mang lại những hậu quả

bất lợi đối với bên vi phạm, đó là những hậu quả bất lợi về mặt tài sản đối với bên vi phạm Bởi vì, khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, thiệt hại gây ra thường là những thiệt hại về tài sản Ngay cả khi thiệt hại gây ra là thiệt hại về tinh thần thì để bù đắp cho những tổn thất tinh thần đó, cũng chỉ có thể được thực hiện bằng việc bù đắp về mặt tài sản Việc áp dụng TNDS nhằm bù đắp những tổn thất mà người bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của người có hành vi vi phạm gây ra

Thứ tư, chủ thể chịu TNDS có thể là người thực hiện hành vi vi phạm hoặc

không phải là người thực hiện hành vi vi phạm Thông thường người thực hiện hành vi vi phạm sẽ phải tự mình gánh chịu TNDS Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt người gánh chịu TNDS lại không phải là người thực hiện hành vi vi phạm Đó là trong các trường hợp như: người của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân mà gây thiệt hại thì pháp nhân sẽ là người phải bồi thường; trường hợp người đại theo pháp luật của người chưa thành niên phải bồi thường khi người chưa thành niên gây thiệt hại mà người đại diện theo pháp luật đó có lỗi trong việc quản lý

Ngoài ra chúng ta cần phân biệt hai khái niệm TNDS với NVDS vì chúng

là hai khái niệm khác nhau nhưng lại có mối liên hệ mật thiết với nhau Điều

280 BLDS 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó một hoặc

nhiều chủ thể được gọi là bên có nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác được gọi là bên có

Trang 17

quyền” Từ điều luật này, có thể thấy NVDS là quan hệ pháp luật dân sự có nội

dung: một bên chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc nhất định vì lợi ích của bên kia Trong khi đó, TNDS được hiểu là hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm Như vậy, về mặt nội dung, TNDS cũng giống như một quan hệ NVDS Tuy nhiên, xét về căn cứ phát sinh, TNDS chỉ phát sinh trên cơ sở NVDS – một người nào đó có NVDS

mà vi phạm NVDS sẽ phải gánh chịu TNDS; xét về nguồn gốc, nếu NVDS có thể hình thành từ sự thỏa thuận giữa các bên hoặc do pháp luật quy định thì TNDS chỉ được hình thành theo quy định của pháp luật

1.2 Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Khi một HĐDS được giao kết và có hiệu lực pháp luật, nó sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng Chỉ trên cơ sở thực hiện đúng nội dung của hợp đồng thì quyền lợi của các bên mới được bảo đảm Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, mặc dù HĐDS có hiệu lực pháp luật nhưng quyền lợi của một bên sẽ không thể được bảo đảm khi có sự vi phạm nghĩa vụ từ bên kia,

sự vi phạm nghĩa vụ đó được thể hiện thông qua hành vi vi phạm hợp đồng Câu hỏi đặt ra là: thế nào là hành vi vi phạm hợp đồng? Hành vi vi phạm hợp đồng phải được hiểu là có ít nhất một bên trong quan hệ hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự đã thỏa thuận trong hợp đồng

Ví dụ như: bên bán đã giao không đúng tài sản cho bên mua trong hợp đồng

Trang 18

mua bán tài sản; bên có nghĩa vụ đã thực hiện công việc không đúng thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ

Hiện chưa có một định nghĩa rõ ràng về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng BLDS 1995 và BLDS 2005 đều quy định về TNDS nói chung, tức là nó được áp dụng cho cả TNDS ngoài hợp đồng và TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Pháp luật của một số nước trên thế giới lại không có sự phân biệt rạch ròi

về TNDS trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng Ví dụ, pháp luật dân sự của Nhật Bản, TNDS trong hợp đồng không được quy định cụ thể mà pháp luật chỉ chia ra hai trường hợp chịu trách nhiệm là trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ [6] Còn trong BLDS của Pháp thì chỉ có quy định về BTTH do không thực hiện nghĩa vụ, theo đó người có nghĩa vụ phải BTTH nếu không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ, trừ khi chứng minh được rằng việc không thực hiện nghĩa vụ hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ là do một nguyên nhân khách quan không thuộc trách nhiệm của mình

mà không do ác ý [7]

Từ việc phân tích khái niệm và đặc điểm của TNDS nói chung và biểu hiện của hành vi vi phạm hợp đồng nói riêng, có thể rút ra khái niệm về TNDS

do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng như sau: TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

là trách nhiệm pháp lý do cơ quan nhà nước hoặc chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải chịu hậu quả bất lợi về mặt tài sản nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm

1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Trang 19

TNDS là một dạng của trách nhiệm pháp lý nói chung đồng thời TNDS do

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cũng là một dạng cụ thể của TNDS Chính vì lẽ đó, TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của

TNDS nói chung như: là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm NVDS, mang lại những hậu quả bất lợi về mặt tài sản đối với bên vi phạm

Bên cạnh đó, TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng còn mang một số đặc điểm riêng biệt giúp chúng ta có thể phân biệt TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với TNDS ngoài hợp đồng và các loại trách nhiệm pháp lý khác, đó là:

Thứ nhất, TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng luôn gắn với sự tồn tại

của một HĐDS được ký kết giữa các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Hợp đồng đó phải hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, nói cách khác hợp đồng được xác lập không rơi vào trường hợp bị coi là vô hiệu theo quy định của BLDS 2005 Sự hiện diện của một hợp đồng chính là cơ sở để áp dụng TNDS

do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Nếu giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có

ký kết hợp đồng, nhưng hợp đồng đó vô hiệu thì coi như không hề tồn tại một quan hệ hợp đồng giữa các bên và TNDS được áp dụng trong trường hợp đó không phải là trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

Thứ hai, TNDS do vi phạm nghĩa hợp đồng chỉ được áp dụng khi có hành

vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chính là cơ

sở để áp dụng TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Biểu hiện cụ thể của hành

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chính là bên có nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng

đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình trước bên có quyền và hậu quả của hành vi này đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền

Trang 20

Thứ ba, TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bao giờ cũng liên quan trực

tiếp hoặc gắn liền với tài sản Khi xác lập quan hệ hợp đồng các bên có thể có những động cơ khác nhau nhưng luôn hướng đến một lợi ích nhất định, chính

vì lẽ đó việc vi phạm nghĩa vụ của bên này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của bên kia Do vậy, trách nhiệm của bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng luôn là phải bù đắp cho bên bị vi phạm những lợi ích vật chất mà họ đã bị thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm gây ra

Thứ tư, mức độ phải gánh chịu hậu quả pháp lý của bên vi phạm không

chỉ phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, vào thiệt hại thực tế xảy ra mà còn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng Khi có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, chế tài buộc phải thực hiện, thực hiện đúng nghĩa vụ ngay lập tức sẽ được áp dụng; ngoài ra nếu sự vi phạm nghĩa vụ gây ra thiệt hại cho bên kia thì chế tài bồi thường thiệt hại có thể sẽ được áp dụng Đây là hai chế tài “cứng” mà pháp luật đã dự liệu Trong trường hợp hai bên thỏa thuận về việc phạt hợp đồng thì chỉ cần có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, chế tài phạt hợp đồng sẽ được áp dụng Chế tài phạt hợp đồng chỉ được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận về việc PVP trong hợp đồng, nói cách khách nó phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng

1.3 Sơ lược lịch sử pháp triển của pháp luật dân sự Việt Nam về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

1.3.1 Pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thời kỳ phong kiến

Ở Việt Nam từ thời phong kiến các quy định về TNDS đã được tìm thấy trong các bộ luật cổ Cụ thể là trong hai bộ luật: Quốc triều hình luật thời nhà

Lê và Bộ luật Gia Long (còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) thời nhà Nguyễn Các

Trang 21

bộ luật này không chia TNDS thành TNDS trong hợp đồng và ngoài hợp đồng Các quan hệ HĐDS giữa các chủ thể được thực hiện thông qua các khế ước Mặc dù vậy, trong Quốc triều hình luật lại không có quy định nào về khế ước Các điều luật thường được quy định các hành vi dân sự cụ thể như: mua, bán, vay, cầm cố… trong đó TNDS được áp dụng cho từng hành vi cụ thể Ví dụ, Điều 366 Quốc triều hình luật (tức Điều 25 chương điền sản) quy định về trách

nhiệm dân sự của những người làm văn khế như sau: "Những ai làm văn khế

mà không do quan trưởng làng viết thay và chứng kiến thì bị tội đánh 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Văn khế ấy bị coi như không có giá trị, biết chữ thì cho phép tự viết lấy"

Có thể thấy trong các quy định của pháp luật thời phong kiến là TNDS được áp dụng mang đậm tính chất hình sự Các hành vi vi phạm dù là vi phạm hợp đồng hay vi phạm pháp luật đều phải gánh chịu những hình phạt theo quy định của pháp luật Pháp luật Phong kiến Việt Nam hầu như không quy định riêng về việc bồi thường thiệt hại mà cơ bản là dự liệu những chế tài hình sự để trừng phạt những kẻ đã xâm phạm tài sản hoặc nhân thân của người khác Hơn nữa, vì mang tính hình phạt sâu sắc nên số tiền bồi thường được quy định thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần mức thiệt hại thực tế Ví dụ, Điều 588 Quốc triều hình luật (Điều 36 chương tạp luật) quy định trách nhiệm dân sự của

người vay nợ phải trả đúng hạn như sau: "Mức nợ quá hạn không trả thì xử

trượng, tùy nặng nhẹ, nếu con nợ nhất quyết không trả thì xử biếm hai tư, đền gấp hai, quá niên hạn mà không đòi thì mất nợ" Đây là điểm rất khác biệt so

với pháp luật của nước ta hiện nay

Trong Quốc triều hình luật, TNDS được quy định mang tính chất chung cho các trường hợp bất kể giữa các bên có quan hệ khế ước hay không Đặc

Trang 22

điểm này được thể hiện rất rõ tại Điều 579 Quốc triều hình luật: “Những người

nhận của ai gửi giữ súc vật và của cải mà đem dùng hay đem tiêu đi thì xử phạt

80 trượng và đền tiền theo như số tổn thất; nói dối là chết hay mất, thì phải biếm một tư và đền tiền gấp đôi; nếu mà đánh mất thì xử phạt 80 trượng và đền theo giá tiền súc vật làm mất” Pháp luật phong kiến Việt Nam thời bấy giờ

chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật phong kiến Trung Quốc Quốc triều hình luật của nhà Lê mô phỏng theo pháp luật Trung Quốc, đặc biệt là luật nhà Đường nên có nhiều điều khoản được sao chép từ luật của nhà Đường và nhà Minh Bên cạnh đó thì xã hội thời kỳ này chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử trong xã hội được tôn trọng và đề cao, điều này cũng ảnh hưởng đến tư tưởng lập pháp thời bấy giờ Chính vì vậy TNDS thời kỳ này mang nặng tính trừng phạt chứ không mang tính bù đắp về mặt tài sản như hiện nay

1.3.2 Pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thời kỳ Pháp thuộc

Thời kỳ này các quan hệ pháp luật dân sự phát sinh trong nước không được điều chỉnh bởi một văn bản pháp luật thống nhất trên toàn quốc mà chịu

sự điều chỉnh của ba bộ luật tương ứng với ba miền: bộ Dân luật Giản yếu (1883) áp dụng tại Nam Kỳ; bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931) áp dụng ở miền Bắc và

bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) áp dụng tại miền Trung Mặc dù, được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng nhìn chung những quy định về TNDS của thời kỳ này mang đậm dấu ấn của BLDS Pháp Chế định về khế ước hay hợp đồng đã được ghi nhận trong hai bộ luật: Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ Cùng với đó, chế định về TNDS cũng đã được tách rời khỏi trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, thời kỳ này vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa

Trang 23

TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng TNDS được

áp dụng chung cho cả các hành vi vi phạm khế ước và vi phạm pháp luật Nguyên nhân do BLDS Pháp cũng không phân biệt TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng Mặc dù vậy, đây cũng được coi là điểm tiến bộ của pháp luật thời kỳ này so với thời kỳ phong kiến Các bộ luật thời kỳ

này ảnh hưởng nhiều của BLDS Pháp bởi hai nguyên nhân Thứ nhất, do nước

ta bị Pháp xâm lược và đô hộ, để tạm thời ổn định xã hội, thực dân Pháp đã mang pháp luật của mình áp dụng luôn vào nước ta nhằm giải quyết được ngay

yêu cầu cấp bách trước mắt của chúng Thứ hai, khi Pháp xâm lược nước ta,

người Pháp chỉ muốn khai thác tối đa thuộc địa phục vụ cho chính quốc, họ cũng không có ý định nâng cao và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta thời bấy giờ

1.3.3 Pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng từ năm 1945 đến trước ngày Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực

Ngay sau khi nước ta giành được độc lập, ngày 10/10/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và cho ban hành Sắc lệnh số 90/SL ngày 22/5/1950 với nội dung cho phép tạm thời áp dụng một số luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam cho đến khi có thể ban hành những văn bản pháp luật thống nhất trên toàn quốc Do chủ yếu vẫn áp dụng ba bộ luật cũ nên những quy định về TNDS nói chung và quy định về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nói riêng hầu như không có gì thay đổi Đến năm 1959, việc thực thi ba bộ luật này đã được chấm dứt bằng Chỉ thị số 772/CT-TATC ngày 10/07/1959 về việc đình chỉ áp dụng luật pháp cũ của phong kiến và đế quốc

Từ năm 1959 đến năm 1975, nước ta tiếp tục cuộc chiến tranh chống Mỹ, lúc này nước ta bị chia cắt làm hai miền Bắc – Nam Trong hoàn cảnh chiến

Trang 24

tranh liên miên chúng ta không có điều kiện để tiến hành xây dựng và củng cố

hệ thống pháp luật quốc gia Do đó, chỉ có một số văn bản được ban hành nhưng chủ yếu để phục vụ công cuộc kháng chiến

Năm 1975, đất nước ta giành được độc lập, hai miền Bắc – Nam thống nhất, cả nước bắt tay vào xây dựng lại đất nước sau chiến tranh Vấn đề xây dựng pháp luật trong thời kỳ này vẫn chưa được quan tâm Các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp Tính mệnh lệnh trong các quan hệ hành chính được sử dụng cho các quan hệ dân sự đã làm mất đi bản chất đặc trưng của các quan hệ dân sự là bình đẳng, tự thỏa thuận, tự định đoạt giữa các chủ thể, tiêu biểu phải kể đến các văn bản: Thông tư số 287/Ttg ngày 22/08/1975 bổ sung chính sách, chế độ đối với những người tư sản dân tộc tiếp thu cải tạo XHCN; Thông tư số 288/Ttg ngày 22/08/1975 về việc quy định chính sách đối với tiền vốn của người tiểu chủ hợp doanh với Nhà nước và tiền

Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã quyết định chuyển đổi nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Thời kỳ này, yếu tố kinh tế được đặt lên hàng đầu, các giao lưu dân sự cũng rất phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật dân

sự Nhiều văn bản đã được ban hành trong đó phải kể đến: Pháp lệnh về thừa

kế năm 1990, Pháp lệnh về HĐDS năm 1991 Pháp lệnh về HĐDS đã quy định những vấn đề chung nhất của HĐDS và dành cả chương IV để quy định

về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Đây là một bước phát triển lớn của pháp luật dân sự Việt Nam về HĐDS nói chung và TNDS do vi phạm nghĩa

Trang 25

vụ hợp đồng nói riêng, đặt nền móng cho việc xây dựng chế định hợp đồng trong BLDS sau này

1.3.4 Pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực đến trước ngày Bộ luật dân sự năm

2005 có hiệu lực

Trong giai đoạn này, TNDS đã được nâng lên thành luật với sự ra đời của BLDS 1995 Bộ luật đã kế thừa những quy định về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của Pháp lệnh về HĐDS sự năm 1991 sao cho phù hợp với bối cảnh đất nước Lần đầu tiên yếu tố “lỗi” đã được định nghĩa rõ ràng, góp phần quan trọng trong việc xác định TNDS của người có hành vi vi phạm Trong BLDS

1995, PVP được quy định là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, mức phạt tối đa không được vượt quá 5% phần giá trị nghĩa vụ

bị vi phạm (Điều 378 BLDS 1995) Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chỉ phải nộp tiền PVP mà không phải BTTH hoặc vừa phải nộp PVP và vừa phải BTTH; nếu không có thoả thuận trước về mức BTTH thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Khi các bên có thoả thuận về việc lựa chọn biện pháp PVP hoặc BTTH thì quyền lựa chọn thuộc về bên có quyền bị vi phạm Trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về PVP mà không thoả thuận trước hoặc pháp luật không có quy định về BTTH, thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền PVP (Điều 379 BLDS 1995)

1.3.5 Pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong BLDS 2005 được quy định trên cơ sở kế thừa các quy định về TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của BLDS 1995 theo hướng phù hợp với thực tiễn xã hội hiện nay Trong BLDS

Trang 26

2005, PVP không còn được coi là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nữa, thay vào đó nó được coi là một điều khoản trong hợp đồng và chỉ có ý nghĩa khi các bên có thỏa thuận (khoản 5 Điều 424 BLDS 2005) Sở dĩ có quy định này vì các nhà lập pháp cho rằng nếu trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, bảo lãnh bên nhận bảo đảm được giữ một tài sản nhất định hay giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản của bên bảo đảm thì sẽ dễ dàng xử lý được những tài sản đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Riêng đối với PVP chỉ là một điều khoản mà các bên thỏa thuận ngay cả khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì bên bị vi phạm cũng khó bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình được Bộ luật cũng không quy định rõ PVP là một hình thức của TNDS do vi phạm hợp đồng, điều này cũng gây ra không ít những mâu thuẫn khi áp dụng pháp luật về hợp đồng trên thực tiễn

Trang 27

Chương 2 TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 2.1 Nội dung trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

Khi một quan hệ hợp đồng được xác lập hợp pháp, nó sẽ phát sinh hiệu lực và các bên có những quyền và nghĩa vụ với nhau theo hợp đồng Việc không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng của một bên sẽ dẫn đến những thiệt hại về tài sản cho bên kia Chính vì vậy, để bảo đảm cho lợi ích hợp pháp của các bên, BLDS 2005 đã quy định cụ thể các loại TNDS do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, bao gồm: trách nhiệm buộc thực hiện đúng NVDS; trách nhiệm BTTH và PVP (nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng) Tùy vào từng trường hợp cụ thể, các bên có quyền lựa chọn một trong các loại TNDS để áp dụng hoặc song song tiến hành các biện pháp này để thỏa mãn quyền lợi hợp pháp của mình

2.1.1 Các loại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong BLDS năm 2005

2.1.1.1 Trách nhiệm buộc thực hiện đúng nghĩa vụ

Trong quan hệ hợp đồng, khi một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, loại TNDS đầu tiên mà các bên thường lựa chọn để áp dụng đó là buộc thực hiện đúng nghĩa vụ Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ có thể được thể hiện thông qua một trong các hành vi sau: buộc thực hiện đúng nghĩa vụ giao vật; buộc thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng Khi đó, bên có nghĩa vụ sẽ phải thực hiện đúng

Trang 28

nghĩa vụ, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng sẽ phải chịu TNDS trước bên có quyền

a Trách nhiệm do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ giao vật

Khi một quan hệ hợp đồng được xác lập hợp pháp, các bên trong quan hệ

đó phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhau theo nguyên tắc: “Bên có

nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội” (Điều 283 BLDS

2005) Không thực hiện nghĩa vụ giao vật được hiểu là bên có nghĩa vụ chuyển giao vật là đối tượng của hợp đồng theo thỏa thuận đã không chuyển giao vật cho bên có quyền khi thời hạn chuyển giao trong hợp đồng đã hết Lúc này, bên có quyền sẽ có thể lựa chọn một số hành vi sau: yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật đặc định, trường hợp nếu vật đặc định không còn hoặc bị hư hỏng thì có quyền yêu cầu bên có nghĩa

vụ phải thanh toán giá trị của vật; nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật cùng loại thì có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán giá trị của vật; nếu việc không thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì bên có quyền còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 303 BLDS 2005)

Ví dụ: Ngày 20/1/2008 A thỏa thuận mua của B 10 tấn gạo với mức giá 50 triệu đồng và hẹn 1 tuần sau B sẽ giao hàng cho A Tuy nhiên đến hết ngày 27/1/2008 B không giao cho A một kg gạo nào Trường hợp này được coi là không thực hiện nghĩa vụ và A có quyền: yêu cầu B thanh toán giá trị của 50 tấn gạo đồng thời yêu cầu B bồi thường thiệt hại nếu việc không giao gạo cho

A của B gây thiệt hại cho A

Trang 29

Thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao vật có thể được hiểu là việc bên có nghĩa vụ chuyển giao vật đã thực hiện một trong số các hành vi sau đây: giao vật không đúng chất lượng; giao vật không đúng thời hạn; giao vật sai địa điểm thực hiện nghĩa vụ; giao vật không đúng phương thức; giao vật không đúng số lượng; không giao đúng vật đồng bộ; giao vật không đúng chủng loại theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Thực hiện không đúng nghĩa vụ giao vật cũng được coi là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng và phải chịu TNDS trước bên có quyền

TNDS trong trường hợp giao vật không đúng chất lượng Thông thường

trong quan hệ hợp đồng, các bên sẽ cùng thỏa thuận về chất lượng của vật là đối tượng của hợp đồng Hành vi giao vật không đúng chất lượng theo thỏa thuận được hiểu là bên có nghĩa vụ thay vì phải giao vật với chất lượng đã thỏa thuận đã giao vật tương tự nhưng có chất lượng tốt hơn hoặc xấu hơn chất lượng vật đã thỏa thuận Ngay cả trong trường hợp bên có nghĩa vụ giao vật có chất lượng tốt hơn so với chất lượng của vật đã thỏa thuận trong hợp đồng cũng

bị coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Ví dụ như C ký hợp đồng bán cho D 20 tấn gạo chất lượng loại 2 nhưng khi thực hiện nghĩa vụ, vì muốn đẩy hàng đi để kiếm lời nhiều hơn C đã giao cho B 20 tấn gạo chất lượng loại 1, hành vi của C trong trường hợp này cũng là hành vi vi phạm nghĩa vụ Mặc dù vậy, không phải trong mọi trường hợp các bên cũng thỏa thuận trước với nhau về chất lượng của vật là đối tượng của hợp đồng Trong những trường hợp này, bên có nghĩa vụ có nghĩa vụ giao vật theo đúng mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại (khoản 3 Điều 430 BLDS 2005)

TNDS trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ không đúng thời hạn Khi giao

kết HĐDS nếu các bên có thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì bên có

Trang 30

nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn đó Thời hạn thực hiện nghĩa

vụ có thể là một thời điểm hoặc một khoảng thời gian xác định Ví dụ: ngày 18/10/2013 E ký hợp đồng mua của F 100 bông hoa hồng với giá 10.000 đồng một bông Thời hạn F giao hoa cho E là 10h 30 phút ngày 20/10/1013 Trong trường hợp này, thời hạn thực hiện nghĩa vụ là thời điểm 10h 30 phút ngày 20/10/2013 Một ví dụ khác: ngày 20/11/2013 M ký hợp đồng mua của N 1000 quả trứng gà, trong hợp đồng ghi rõ thời hạn để N giao trứng cho M là 3 ngày

từ ngày 21 đến ngày 24/11/2013 Thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp này là một khoảng thời gian Bên có nghĩa vụ sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ nếu thực hiện nghĩa vụ không đúng thời hạn đã thỏa thuận Khi các bên không có thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền có quyền yêu cầu bên

có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào, cũng như bên có nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên có quyền tiếp nhận nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho nhau một khoảng thời gian hợp lý (khoản 3 Điều 432 BLDS 2005) Trong trường hợp thực hiện sớm nghĩa vụ, bên có quyền có thể lựa chọn tiếp nhận hoặc không tiếp nhận nghĩa vụ đó Khi bên có quyền chấp nhận việc thực hiện sớm nghĩa vụ, thì được coi là trường hợp các bên có thỏa thuận lại về thời hạn thực hiện hợp đồng và sẽ không đặt ra vấn đề trách nhiệm của bên có nghĩa vụ Việc thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn mà xảy ra thiệt hại là lỗi hoàn toàn thuộc về bên có nghĩa vụ và bên có nghĩa vụ phải gánh chịu những rủi ro

đó Bên có quyền cũng không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại và cũng không có quyền chấm dứt hợp đồng vì chưa đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà các bên cam kết Vì vậy, theo tác giả, khi bên có nghĩa

vụ thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn thì không đặt ra vấn đề TNDS của bên có nghĩa vụ

Trang 31

TNDS trong trường hợp giao vật không đúng với số lượng đã thỏa thuận

Hành vi giao vật không đúng số lượng vật đã thỏa thuận ở đây được hiểu là bên

có nghĩa vụ đã giao thừa hoặc giao thiếu số lượng vật đã thỏa thuận Ví dụ: J và

K ký một hợp đồng theo đó J bán cho K 8 cái nồi cơm điện tuy nhiên trên thực

tế J lại giao cho K 10 cái Theo quan điểm cá nhân của tác giả, chỉ khi bên có nghĩa vụ giao thiếu vật mới bị coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng còn trong trường hợp giao thừa vật thì không thể coi là có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

bởi hai lý do: thứ nhất, việc giao thừa số lượng thường là do lỗi vô ý của bên

có nghĩa vụ, nó không những không đem lại lợi ích mà còn có thể gây thiệt hại

cho chính bên có nghĩa vụ; thứ hai, khi tiếp nhận nghĩa vụ bên có quyền có

quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra, nếu nhận thì việc thanh toán được thực hiện theo thỏa thuận đối với phần dôi ra (khoản 1 Điều 435 BLDS 2005), nếu không nhận phần dôi ra mà chỉ nhận đủ số lượng như đã thỏa thuận thì nghĩa vụ giao vật cũng đã được hoàn thành

Trách nhiệm dân sự trong trường hợp bên có nghĩa vụ không giao đúng đối tượng hợp đồng là vật đồng bộ Vật đồng bộ là một tập hợp các vật mà chỉ

khi có đủ các vật đó nó mới có giá trị sử dụng đầy đủ được Chính vì vậy, đối với những hợp đồng được xác lập hợp pháp và phát sinh hiệu lực có đối tượng

là vật đồng bộ thì khi thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đồng bộ đó Ví dụ: A và B là người Bắc Ninh, A đến cửa hàng của B để mua một bộ bàn ghế đặt trong phòng ăn để ăn cơm Hai bên đã thỏa thuận theo đó B bán cho A một bộ với giá 5 triệu đồng, trong hợp đồng không có điều khoản quy định B sẽ phải giao cho A bao nhiêu cái ghế, tuy nhiên B vẫn phải giao đủ cho A 6 cái ghế (theo phong tục người miền Bắc mâm cỗ có 6 người) Nếu B không giao đủ 6 cái ghế thì sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Trang 32

Khi bên có nghĩa vụ chuyển giao vật không chuyển giao đúng vật đồng

bộ, làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được thì bị coi là vi phạm hợp đồng và phải chịu TNDS trước bên có quyền Lúc này, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 436 BLDS 2005, bên có quyền có thể lực chọn thực hiện một số hành vi sau: có quyền nhận và yêu cầu bên bán giao tiếp phần hoặc bộ phận còn thiếu; yêu cầu bồi thường thiệt hại và hoãn thanh toán phần hoặc bộ phận

đã nhận cho đến khi vật được giao đồng bộ

Trách nhiệm dân sự trong trường hợp giao vật không đúng chủng loại

Bên có nghĩa vụ giao vật không được lấy vật khác thay thế cho vật đã thỏa thuận Ví dụ, K ký hợp đồng mua của H 1 tivi Sony 29 inch Khi giao hàng cho

K, vì cửa hàng không còn loại tivi Sony 29 inch nên H đã giao cho K 1 tivi Samsung 29 inch Hành vi này của H cũng bị coi là vi phạm nghĩa vụ (giao vật không đúng chủng loại) Khi bên bán giao vật không đúng chủng loại mà các bên đã thỏa thuận, thì bên mua có một trong các quyền sau: nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận; yêu cầu giao đúng chủng loại và BTTH; hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu BTTH (Điều 437 BLDS 2005) Áp dụng vào ví dụ trên, trường hợp này K có thể lựa chọn một trong 3 hành vi sau: thứ nhất, nhận chiếc tivi Samsung 29 inch và thanh toán theo giá thỏa thuận với H; thứ hai, yêu cầu

H giao đúng chiếc tivi Sony 29 inch và BTTH; thứ 3, hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu H BTTH

b Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện một công việc hoặc không đuợc thực hiện một công việc

Điều 282 BLDS 2005 quy định: "1 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự có thể

là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện

2 Đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải xác định cụ thể

Trang 33

3 Chỉ có những tài sản có thể đem giao dịch được, những công việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của nghĩa vụ dân sự"

Từ điều luật này chúng ta có thể thấy, đối tượng NVDS bao gồm ba loại: tài sản; công việc phải thực hiện và công việc không được thực hiện Quan hệ hợp đồng với tính chất là một dạng cụ thể của quan hệ NVDS - chính vì thế đối tượng của quan hệ NVDS cũng chính là đối tượng của quan hệ hợp đồng Nói cách khác, đối tượng của quan hệ hợp đồng cũng gồm ba loại: tài sản; công việc phải thực hiện hoặc công việc không được thực hiện Tùy thuộc vào tính chất, nội dung của từng quan hệ hợp đồng cụ thể mà đối tượng của nó có thể là tài sản, là công việc phải thực hiện hay công việc không được thực hiện

Công việc phải thực hiện được coi là đối tượng của nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng nếu trong hợp đồng đó, các bên có thỏa thuận với nhau bên có nghĩa

vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định Công việc phải làm có thể được biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể (thể hiện trong các hợp đồng gia công); công việc phải làm cũng có thể không thể hiện dưới dạng vật chất (thể hiện trong các hợp đồng dịch vụ) Công việc phải làm có thể được hoàn thành với một kết quả nhất định, ví dụ như G và H xác lập một hợp đồng theo đó G trả cho H 2 triệu đồng để H vẽ một bức tranh chân dung G; hoặc cũng có thể không gắn liền với một kết quả nào, ví dụ như C ký kết một hợp đồng tư vấn pháp luật cho D

Công việc không được làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ trong quan

hệ hợp đồng nếu trong hợp đồng đó các bên có thỏa thuận, theo đó bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc theo nội dung đã xác định Lúc này, việc không thực hiện một hành vi nhất định là đối tượng của nghĩa vụ hợp

Trang 34

đồng, tức là bên có nghĩa vụ bị coi là vi phạm hợp đồng khi có hành vi thực hiện công việc đó Ví dụ: J bán cá ở chợ, K là con của J vì không muốn J phải vất vả đi bán cá nên đã thỏa thuận trả cho J mỗi ngày 100.000 đồng với điều kiện J không được đi bán cá nữa Việc không được đi bán cá nữa chính là đối tượng trong hợp đồng này và nếu J còn đi bán cá sẽ được coi là vi phạm nghĩa

Thứ nhất, nếu đối tượng của quan hệ hợp đồng là tài sản thì nó phải là tài

sản được phép lưu thông trong giao lưu dân sự Những tài sản không được phép lưu thông như: vũ khí quân dụng, thuốc nổ, thuốc độc không thể trở thành đối tượng của quan hệ hợp đồng

Thứ hai, nếu đối tượng của quan hệ hợp đồng là công việc phải thực hiện

hoặc công việc không được thực hiện, trường hợp này chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của TS Phạm Văn Tuyết, những công việc phải thực

hiện hoặc không được thực hiện này phải mang 2 đặc điểm sau: một là, phải

Trang 35

đáp ứng được một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền Lợi ích ở đây có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần Việc phải làm hay không được làm công

việc là đối tượng của hợp đồng phải hướng tới lợi ích của người có quyền; hai

là, công việc đó phải có thể thực hiện được Nếu đối tượng của hợp đồng là

công việc không thể thực hiện được thì sẽ không thể thỏa mãn được lợi ích cho bên có quyền [39]

Khi các bên đã thỏa thuận đối tượng của hợp đồng là công việc phải thực hiện mà bên có nghĩa vụ không thực hiện công việc đó thì bên có nghĩa vụ sẽ

phải chịu TNDS trước bên có quyền Khoản 1 Điều 304 BLDS 2005: “Trong

trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.”

Theo Điều luật này, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc

mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể lựa chọn thực hiện một trong

ba hành vi sau: yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện công việc và BTTH;

tự mình thực hiện công việc đồng thời yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý cho việc thực hiện và BTTH hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý cho việc thực hiện công việc và BTTH

Trường hợp các bên đã thỏa thuận đối tượng của hợp đồng là công việc không được thực hiện mà bên có nghĩa vụ lại thực hiện công việc đó thì cũng được coi là có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Khi đó, bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và BTTH (khoản 2 Điều 304 BLDS 2005)

Trang 36

c Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

Một trong những yếu tố quan trọng giúp các bên thực hiện hợp đồng đúng tiến độ và bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng là thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn cam kết Thời gian thực hiện nghĩa vụ có thể là một thời hạn hoặc một thời điểm bất kỳ tùy theo sự thỏa thuận của các bên Các bên

có thể thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ trong một khoảng thời hạn nhất định, trong khoảng thời hạn này, bên có nghĩa vụ có thể thực hiện nghĩa vụ bất kì lúc nào và bên có quyền phải tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó Hoặc các bên cũng có thể thỏa thuận với nhau một thời điểm xác định để thực hiện nghĩa vụ của mình và bên có nghĩa vụ sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ nếu không thực hiện đúng thời điểm đó Chẳng hạn, A giao kết với B hợp đồng cung cấp rau sạch và thỏa thuận thời điểm giao hàng là vào ngày 01/01/2012, hoặc cũng có thể thỏa thuận trong thời hạn 2 tuần kể từ ngày giao kết hợp đồng A có nghĩa vụ phải giao hàng cho B Nếu việc giao hàng được thực hiện sau thời điểm hoặc thời hạn trên thì bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ

Theo Đại từ điển Việt Nam, chậm là “sau thời điểm quy định hoặc thời

điểm thường lệ” [41, tr.322] Theo nghĩa này, việc chậm thực hiện nghĩa vụ có

nghĩa là nghĩa vụ được thực hiện sau thời điểm mà các bên đã thỏa thuận

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì "Chậm thực hiện nghĩa vụ

là thực hiện không đúng, không đầy đủ hay không thực hiện nghĩa vụ khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết” [33] Theo quan điểm của tác giả, hiểu theo

cách này là không chính xác Chậm thực hiện nghĩa vụ và không thực hiện nghĩa vụ là hai trường hợp khác hẳn nhau Khoản 1 Điều 286 BLDS 2005 quy

định: “Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện

hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết” Đối

Trang 37

với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ phải có hành động cụ thể - đó là thông báo cho bên có quyền biết về việc mình không thể hoàn thành nghĩa vụ đúng thời hạn Bản thân bên có nghĩa vụ phải có các biện pháp, hành

vi chứng tỏ việc thực hiện nghĩa vụ của mình vẫn diễn ra và vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Còn việc không thực hiện nghĩa vụ là trường hợp bên có nghĩa

vụ hoàn toàn không có ý thức muốn thực hiện nghĩa vụ, khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình và cũng không hề có hành động thông báo cho bên có quyền biết

Bên cạnh đó, trách nhiệm phát sinh trong trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ và không thực hiện nghĩa vụ cũng khác hẳn nhau Việc chậm thực hiện nghĩa vụ vẫn khiến bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nốt nghĩa vụ của mình (trừ trường hợp bên có quyền yêu cầu không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ) Còn đối với việc không thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đó nữa, vì việc thực hiện tiếp nghĩa vụ không còn có ý nghĩa đối với bên có quyền

Việc tự nguyện thực hiện nghĩa vụ sau khi thời hạn kết thúc cũng thuộc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, việc chậm thực hiện sẽ gây thiệt hại cho bên có quyền, đôi khi làm cho nghĩa vụ sẽ không còn giá trị đối với bên có quyền Trong các trường hợp đó nếu hành vi chậm thực hiện gây ra thiệt hại cho bên có quyền, bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho bên

có quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 305 BLDS 2005: “Khi nghĩa vụ dân

sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần

Trang 38

thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại”

Trong trường hợp nghĩa vụ hợp đồng bị chậm thực hiện, bên chậm thực hiện phải có nghĩa vụ thông báo ngay cho bên có quyền được biết về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn theo quy định (khoản 2 Điều 305 BLDS 2005) Việc thông báo này phải nhanh chóng và kịp thời để đảm bảo cho bên có quyền có các biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu những rủi ro do việc chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên có nghĩa vụ gây ra Cũng tương ứng với quy định về việc bên có nghĩa vụ phải thông báo về việc chậm thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ thực hiện tiếp nghĩa

vụ đã cam kết Việc gia hạn này giúp cho các bên có thể hoàn thành hợp đồng như mục đích ban đầu

Tuy nhiên, BLDS 2005 mới chỉ quy định về nghĩa vụ thông báo của bên chậm thực hiện nghĩa vụ và quyền gia hạn của bên có quyền, mà không hề có một quy định nào về sự đốc thúc của bên có quyền khi đến thời hạn thỏa thuận, bên có nghĩa vụ chưa thực hiện được nghĩa vụ Trong BLDS của Cộng hòa Pháp

tại Điều 1146 quy định: “người có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu bị

đốc thúc mà vẫn không thực hiện nghĩa vụ…” [7] Theo quy định trên, tới thời

hạn nghĩa vụ phải thực hiện mà bên có nghĩa vụ chưa thực hiện, bên có quyền bao giờ cũng có một sự đốc thúc đến bên có nghĩa vụ, chỉ sau khi có sự đốc thúc của bên có quyền, mà bên có nghĩa vụ vẫn không thi hành, thì sự chậm trễ đó mới khiến cho bên có nghĩa vụ phải chịu TNDS Việc đốc thúc ấy có thể được thể hiện dưới hình thức miệng hoặc hình thức bằng văn bản Pháp luật Việt Nam không quy định buộc bên có quyền phải có sự đốc thúc nào đối với bên có nghĩa

vụ Chỉ cần chậm thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn, bên bị vi phạm hợp đồng có

Trang 39

quyền khởi kiện bên chậm thực hiện nghĩa vụ ra tòa, tòa án vẫn có trách nhiệm giải quyết mà không cần phải có sự đốc thúc của bên có quyền

d Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trong quan hệ hợp đồng, nếu bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng thì bên có quyền cũng có nghĩa vụ tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ

đó Khi bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải gánh chịu TNDS trước bên có quyền Do đó, khi bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ cũng bị coi là vi phạm hợp đồng và cũng có thể phải gánh chịu TNDS trước bên có nghĩa vụ

Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thì "Chậm tiếp nhận việc thực

hiện nghĩa vụ dân sự là tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ muộn hơn thời hạn

đã cam kết, thỏa thuận” [33] Điều 288 BLDS 2005 quy định: “Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự là khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện theo thỏa thuận nhưng bên có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó” Trong quan hệ nghĩa vụ, bên có quyền có

quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn đồng thời có nghĩa vụ tiếp nhận sự thực hiện nghĩa vụ đó Vì vậy, khi bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì cũng bị coi là có hành vi vi phạm hợp đồng và có thể phải gánh chịu TNDS theo quy định tại Điều 306 BLDS 2005:

“Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại cho người đó và phải chịu mọi rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Khác với việc chậm thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu BTTH Khi hủy bỏ hợp đồng, bên có nghĩa vụ sẽ không tiếp

Trang 40

tục thực hiện nghĩa vụ nữa Nhưng đối với trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ, thì bên có nghĩa vụ vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nhưng được pháp luật bảo đảm một số quyền lợi Nếu việc chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ của bên có quyền dẫn đến bên có nghĩa vụ bị thiệt hại thì bên có quyền có trách nhiệm BTTH

Hành vi tiếp nhận việc thực hiện NVDS liên quan rất chặt chẽ đến vấn đề chuyển giao rủi ro Theo quy định của BLDS 2005, đối với những hợp đồng có đối tượng là tài sản mà pháp luật không quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm chuyển giao rủi ro gắn liền với thời điểm chuyển giao tài sản

Khoản 1 Điều 440 BLDS 2005 quy định: "Trong hợp đồng mua bán có đối

tượng là tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu, bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao cho bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận tài sản, nếu không có thỏa thuận khác" Từ quy định này có thể thấy, nếu bên mua chậm tiếp nhận việc thực hiện

nghĩa vụ thì vẫn phải chịu mọi rủi ro về tài sản kể từ thời điểm chậm tiếp nhận Pháp luật quy định trách nhiệm chịu rủi ro của bên chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là hoàn toàn hợp lý Một mặt, nó bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên có nghĩa vụ, mặt khác hạn chế được sự tùy tiện của bên có quyền, tránh cho việc bên có quyền lấy những lý do không hợp lý để chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dẫn đến thiệt hại cho bên có nghĩa vụ

Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra ở đây là: có phải trong mọi trường hợp, rủi

ro về tài sản đều chuyển cho bên mua từ thời điểm bên mua nhận tài sản không? Câu trả là không Khoản 2 Điều 440 BLDS 2005 quy định: "Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng kí quyền

sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng kí, bên mua

Ngày đăng: 27/03/2018, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w