Tuy nhiên, trong trường hợp người đó đã chết nhưng người thực hiện hành vi tấn công tin rằng người đó vẫn sống thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội giết người nếu các yếu tố khác của cấu thàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BOUN THAVY SIVILAI
TỘI GIẾT NGƯỜI – SO SÁNH GIỮA BỘ LUẬT HÌNH SỰ LÀO VÀ
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG VĂN HÙNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin được sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của luận văn
Tác giả luận văn
Boun Thavy Sivilai
Trang 3Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận, được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn, giảng dạy của quý thầy cô cùng với sự đóng góp của bạn bè Việt Nam, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ luật học Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng các thầy cô trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thúc, kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Hoàng Văn Hùng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tội xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình du học tại Việt Nam
Trang 4DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỘI GIẾT NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS VIỆT NAM HIỆN HÀNH 5
1.1 Định nghĩa tội giết người theo Luật hình sự Việt Nam 5
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo quy định của BLHS Việt Nam 6
1.2.1 Khách thể của tội giết người 6
1.2.2 Mặt khách quan của tội giết người 10
1.2.3 Chủ thể của tội giết người 16
1.2.4 Mặt chủ quan của tội giết người 20
1.3 Đường lối xử lý đối với tội giết người 23
1.3.1 Trường hợp giết người thông thường (Khoản 2 Điều 93 BLHS 23
1.3.2 Các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng (Khoản 1 Điều 93 BLHS) 23
1.3.3 Hình phạt bổ sung 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 TỘI GIẾT NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS LÀO – SO SÁNH VỚI BLHS VIỆT NAM 36
2.1 Định nghĩa tội giết người theo BLHS Lào 38
2.2 Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội giết người theo BLHS Lào – So sánh với Việt Nam 39
2.2.1 Khách thể của tội giết người theo BLHS Lào – So sánh với Việt Nam 39
2.2.2 Mặt Khách quan của tội phạm giết người theo BLHS Lào – so sánh với Việt Nam 39
2.2.3 Chủ thể của tội giết người theo BLHS Lào – So sánh với Việt Nam 45 2.2.4 Mặt chủ quan của tội giết người trong BLHS Lào – so sánh với Việt Nam 46
Trang 52.3.2 Các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng – So sánh
với BLHS Việt Nam 50
2.3.3.Trường hợp giết người có tình tiết định khung giảm nhẹ 54
2.4 Hình phạt bổ sung 55
2.5 Trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt 57
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 69
Trang 6BLHS Bộ luật hình sự
BLHS 1999 Bộ luật hình sự năm 1999 TNHS Trách nhiệm hình sự
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm là vấn nạn của mọi quốc gia, xâm hại trực tiếp đến sự ổn định chính trị và sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Đi đôi với sự phát triển
đó, tình hình tội phạm đang diễn biến theo chiều hướng hết sức phức tạp trong những năm gần đây Trong đó, diễn biến phức tạp của các tội phạm xâm phạm tính mạng sức khỏe của con người là một điều đáng lưu tâm
Trong số các tội xâm phạm nhân thân, tội giết người là loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm và xảy ra khá phổ biến trong xã hội, nó xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người, tàn phá những giá trị đạo đức truyền thống, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, kéo theo sự mất ổn định trật
tự an toàn xã hội Ở mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước đều có những quy định về tội giết người và biện pháp xử lý đối với loại tội này trong các chế định pháp lý hình sự Mặc dù những năm gần đây, hoạt động xét xử của ngành tòa án về tội phạm này từng bước được nâng cao, song bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế, mà một trong những nguyên nhân là các cơ quan bảo
vệ pháp luật không đánh giá đúng bản chất của hành vi phạm tội dẫn đến xác định sai tội danh, hoặc xử oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Để khắc phục tình trạng trên thì vấn đề cốt lõi đầu tiên là phải nắm vững các quy định của pháp luật về tội phạm, nhận thức đúng bản chất của hành vi phạm tội, từ đó có đường lối xử lý đúng đắn, đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Có thể nói, trong số các tội phạm xảy ra thì tội giết người là tội phạm “nổi cộm” về tính chất phức tạp, đa dạng cũng như tỷ lệ ngày càng gia tăng Vì vậy, nghiên cứu các quy định về tội giết người là một trong những nghiên cứu
có tính cấp thiết trong khoa học hình sự hiện nay
Trang 8Hiện nay, Lào đang trên con đường đổi mới toàn diện với mọi lĩnh vực của đời sống, xây dựng nhà nước pháp quyền theo con đường xã hội chủ nghĩa, đó là xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Do vậy tăng cường pháp chế, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể luôn luôn được coi là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội Tuy nhiên hiện nay, tình hình tội giết người xảy ra tại Lào ngày càng phổ biến, thủ đoạn ngày càng nguy hiểm, tinh vi xảo quyệt Do nhận thức chưa đúng về mặt pháp luật nên tình trạng oan sai còn xảy ra ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân
Từ những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Tội giết người – So sánh giữa Bộ luật hình sự Lào và Bộ luật hình sự Việt Nam” để làm đề tài luận văn thạc sỹ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tội giết người là một trong những loại tội nguy hiểm và phổ biến cả ở Việt Nam và Lào Vì vậy đã có không ít các công trình nghiên cứu khoa học
về loại tội này
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tội giết người khá nhiều, có thể kể đên như:
- Luận văn thạc sỹ luật học “Tội giết người trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà năm 2001;
- Luận văn tiến sỹ Luật học “Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam
và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này” của tác giả Đỗ Đức Hồng
Hà
Đây là một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tất
cả các vấn đề liên quan đến tội giết người dưới góc độ Luật Hình sự và Tội phạm học
Trang 9Một số bài nghiên cứu về tội giết người trên các tạp chí: “Tội giết người
và một số vướng mắc qua thực tiễn xét xử loại tội phạm này” của tác giả Lê Hồng Quang đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2009; “Phân biệt dấu hiệu cơ bản của tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” của tác giả Phạm Văn Cần, tạp chí Kiểm sát số 2/2010; “Phân biệt tội giết người và cố ý gây thương tích (trường hợp dẫn đến chết người)” của Th.s Nguyễn Nông trên tạp chí Kiểm sát số 21/2005
Ở Lào, các công trình nghiên cứu về tội giết người chưa nhiều, nổi bật chỉ có luận văn thạc sĩ “Tội giết người trong BLHS Lào” của Khít Nạ Pha Xay Sẻng Xúc và bài viết “So sánh tội giết người và tội xâm phạm thân thể người khác” của Nang Kham My
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Tội giết người – So sánh giữa Bộ luật hình sự Lào và Bộ luật hình sự Việt Nam” nhằm mục đích sau:
- Phân tích và làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa quy định
về tội giết người ở BLHS Lào và BLHS Việt Nam
- Từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định về tội giết người theo BLHS Lào dựa trên những kinh nghiệm của Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những quy định hiện hành về tội giết người của BLHS Việt Nam;
- Nghiên cứu quy định hiện hành về tội giết người của BLHS Lào và so sánh với Việt Nam, tìm ra điểm giống và khác nhau
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định về tội giết người theo BLHS Lào dựa trên kinh nghiệm của việt Nam
Trang 10 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và so sánh luật Tác giả tập trung tìm hiểu tội giết người theo BLHS Việt Nam hiện hành, tội giết người theo BLHS Lào, sau đó đưa ra những nét giống và khác nhau tương ứng
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài là so sánh luật Ngoài ra trong luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp…
5 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống về tội giết người trong BLHS Việt Nam với BLHS Lào, từ đó đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai Bộ luật của hai quốc gia Đây là luận văn đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tội giết người dưới góc độ so sánh luật của Việt Nam và Lào
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành hai chương
Chương 1: Tội giết người theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành Chương 2: Tội giết người theo quy định của BLHS Lào – So sánh với BLHS Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 TỘI GIẾT NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH CỦA BLHS
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Trong BLHS Việt Nam năm 1985 và các văn bản pháp luật hình sự trước năm 1999 thì tội giết người bao gồm tất cả các trường hợp giết người được luật hình sự quy định Vì vậy nghiên cứu tội giết người trong các văn bản đó cũng đồng thời là nghiên cứu tội giết người trong nói chung Tuy nhiên, tội giết người được đề cập trong luận văn này chỉ là trường hợp giết người được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 Những trường hợp giết người khác như giết con mới đẻ (Điều 94 BLHS), giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 BLHS) và giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 BLHS) chỉ được nghiên cứu ở từng khía cạnh nhất định để so sánh với tội giết người tại Điều 93
1.1 Định nghĩa tội giết người
BLHS Việt Nam không quy định định nghĩa tội giết người trực tiếp trong Bộ luật Tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Theo quan điểm của tác giả tại cuốn “Hệ thống hóa luật lệ về hình sự” thì: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác” Theo các tác giả này, tội giết người được hiểu rất đơn giản, đó là hành
vi “tước đoạt tính mạng của người khác” Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt
“tước đoạt tính mạng” là “tước và chiếm lấy sự sống của con người” Như
vậy “tước đoạt” đã bao hàm cả sự cố ý nên việc quy định thêm cả cụm từ “cố ý” là không cần thiết
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực TNHS cố ý tước bỏ quyền sống của người khác” Theo quan điểm này, hành vi giết người là hành vi “cố ý tước bỏ quyền sống của người khác”, tương tư quan điểm trên, cụm từ tước bỏ cũng đã bao hàm sư cố
Trang 12ý Quan điểm này đã đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS và dấu hiệu tuổi
Một quan điểm khác lại cho rằng: “Tội giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật” Như vậy, cả ba quan điểm trên đều đã
nêu được bản chất của tội giết người, đó là hành vi cố ý và hậu quả của hành
vi phải là làm chết người khác Tuy nhiên, xuất phát từ khái niệm tội phạm
theo Điều 8 BLHS 1999 Việt Nam “ tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố hoặc vô ý, xâm phạm….”, có thể thấy các khái niệm về tội giết người
đưa ra trên chưa đầy đủ và chưa chính xác Quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ ba chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS và dấu hiệu tuổi
Từ phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa tội giết người như sau: Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo quy định của BLHS Việt Nam
1.2.1 Khách thể của tội giết người
1 “ Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại” [20, 78]
Tội giết người trực tiếp xâm phạm đế một khách thể rất quan trọng đó là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là một trong những quyền cơ bản, tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, được ghi nhận tại Điều 20 của
Hiến Pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2013) : “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự” [15, 22]
Trang 13Thực tiễn ngày nay đã khẳng định vị trí, vai trò của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại Con người được coi là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn gốc của cải, vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia Khi quyền sống của con người bị xâm phạm thì mục tiêu, động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội sẽ bị triệt tiêu, sẽ không còn tồn tại
Chính vì vậy mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế
độ Từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống con người mà tội giết người được coi là tội nguy hiểm nhất trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người được quy định tại Chương XII BLHS 1999 và được đặt ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia
Tội giết người xâm phạm quyền sống của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động – con người đang sống Việc xác định đúng đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi lẽ nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống của con người nên không phạm tội giết người
Khái niệm con người đang sống là đối tượng tác động của loại tội phạm này bao gồm tất cả mọi người tồn tại với tư cách là một thực thể sống độc lập Vậy thế nào là con người đang sống?
Hiện nay trong BLHS cũng như các văn bản dưới luật khác chưa quy định cụ thể về vấn đề này Do đó trên thực tế, quan niệm về thời điểm bắt đầu
và kết thúc sự sống của con người còn nhiều vấn đề bàn cãi và tranh luận
Quan niệm về thời điểm bắt đầu sự sống của con người
Do cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về thời điểm sinh ra đứa trẻ nên
có nhiều quan điểm xung quanh về vấn đề này như sau:
Trang 14“Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cuộc sống của một con người được bắt đầu khi người mẹ đang đẻ, vào thời điểm một phần cơ thể của thai nhi được nhìn thấy từ bên ngoài cửa mình của người mẹ Theo quan điểm này thì thời điểm bắt đầu sự sống của con người là thời điểm bắt đầu quá trình sinh đứa trẻ
Quan điểm thứ hai cho rằng: chỉ được coi là con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thể người mẹ và tồn tại độc lập bên ngoài thế giới khách quan Theo quan điểm này thì thời điểm bắt đầu sự sống của con người lại là thời điểm kết thúc quá trình sinh
Trong hai quan điểm trên người viết đồng tình với quan điểm thứ nhất, bởi vì kể từ thời điểm bắt đầu sinh ra, đứa trẻ đã tách khỏi bào thai của cơ thể
mẹ Lúc này, đứa trẻ chỉ còn dính với cơ thể người mẹ qua nhau thai Tất cả mạch máu, dây chằng, đường dẫn khí và dinh dưỡng từ mẹ vào con đều đã bị
“cắt đứt” Do đó có thể coi thời điểm này là thời điểm đứa trẻ đã “tách khỏi
cơ thể người mẹ”, chuẩn bị “chui” ra ngoài để trở thành một thực thể tự nhiên độc lập Như vậy có thể cho rằng thời điểm bắt đầu sự sống của con người là
từ thời điểm người mẹ bắt đầu sinh đứa trẻ Quan điểm thứ hai cho rằng chỉ được coi là con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thể người mẹ, khi đó quyền sống của con người mới được bảo vệ thì sẽ là quá muộn Thực tế có trường hợp đứa trẻ đang được sinh ra thì đã bị người khác
cố ý tước đoạt tính mạng Vụ án sau đây là một ví dụ: y tá Nguyễn Thị H phải
đỡ đẻ cho một sản phụ khó sinh, H nhận ra sản phụ này chính là người đã
“cướp” chồng mình Để trả thù, H đã dùng dụng cụ y tế cố kẹp mạnh vào đầu đứa trẻ làm đứa trẻ chết…Nếu theo quan điểm thứ nhất “ cuộc sống của con người được bắt đầu khi người mẹ đang đẻ, vào thời điểm một phần cơ thể của thai nhi được nhìn thấy từ bên ngoài cửa mình của người mẹ thì H đã phạm tội giết người, nhưng nếu theo quan điểm thứ hai cho rằng: chỉ được coi là
Trang 15con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thể mẹ và tồn tại đôc lập trong thế giới khách quan” thì H lại không phạm tội giết người” [3, 16] Xét về tính chất nguy hiểm của hành vi thì việc cho rằng hành vi của H không phạm tội là không thỏa đáng vì rõ ràng H đã cố ý tước đoạt quyền sống của đứa trẻ
Con người đang sống là đối tượng tác động của tội giết người, quyền sống của con người là khách thể của tội giết người nói chung Tuy nhiên hành
vi xâm phạm quyền sống của con người mới được sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi trở lại khi chủ thể của tội phạm là người mẹ và thỏa mãn một số dấu hiệu
do luật định lại cấu thành tội phạm khác – Tội giết con mới đẻ được quy định tại Điều 94 BLHS Việt Nam năm 1999
Quan điểm về thời điểm kết thúc sự sống của con người
Về thời điểm kết thúc sự sống của con người, đa số quan điểm cho rằng:
đó là khi con người đã chết sinh vật, bởi vì đây là giai đoạn cuối cùng của sự chết Ở giai đoạn này, sự sống của con người không có khả năng hồi phục [25, 11]
Còn theo cuốn giáo trình Giám định pháp y của Trường đại học Y Hà Nội, thì một người bị coi là đã chết sinh vật khi:
(1) “ Hệ thần kinh bị mất hết tri giác, cảm giác và các phản xạ;
(2) Lồng ngực không di động, đặt bông vào hai lỗ mũi không thấy bông di động, để gương trước mũi không thấy gương mờ và nghe phổi không thấy rì rào phế nang;
(3) Đặt tay lên ngực trái không thấy tim đập, bắt mạch không thấy mạch nẩy và nghe tim không thấy tiếng tim;
(4) Ghi điện tâm đồ: trên băng giấy sóng điện tim cho một đường thẳng;
Trang 16(5) Kiểm tra điện não đồ: trên băng giấy hoàn toàn mất dao động, chỉ còn một đường thẳng “[23, 11]
Như vậy kể từ thời điểm sự sống của con người kết thúc thì hành vi xâm phạm không bị coi là phạm tội giết người Đối tượng tác động của tội giết người chỉ bao gồm là con người đang sống Tuy nhiên, trong trường hợp người đó đã chết nhưng người thực hiện hành vi tấn công tin rằng người đó vẫn sống thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội giết người nếu các yếu tố khác của cấu thành tội phạm thỏa mãn (trường hợp chưa đạt vô hiệu) Ví dụ: A và B có mâu thuẫn từ trước, để trả thù B, A đã lên kế hoạch lẻn vào nhà B vào buổi đêm và sẽ bất ngờ dùng dao đâm chết B trong khi B đang ngủ Đêm hôm ấy,
A đã thực hiện trót lọt kế hoạch của mình Nhưng cơ quan giám định lại kết luận rằng, B bị cảm và tử vong trước khi A có hành vi phạm tội Tuy nhiên ý thức chủ quan của A vẫn cho rằng B đang còn sống, lỗi của A trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích là phải giết bằng được B Do đó, A vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
Như vậy để thống nhất trong nhận thức và áp dụng các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn về vấn đề này theo hướng: thời điểm bắt đầu sự sống của con người là thời điểm bắt đầu quá trình sinh đứa trẻ, khi một phần cơ thể của thai nhi đã được nhìn thấy từ bên ngoài cửa mình của người mẹ; thời điểm kết thúc sự sống của con người là thời điểm chết sinh vật – khi hoạt động của bộ não đã hoàn toàn chấm dứt [3, 25]
1.2.2 Mặt khách quan của tội giết người
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả (QHNQ) giữa hành vi và hậu quả Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều phải có những biểu hiện bên ngoài, không có
Trang 17những biểu hiện bên ngoài thì không có những yếu tố khác của tội phạm và
do vậy cũng không có tội phạm [20, 72] Dấu hiệu hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản, là nguyên nhân gây thiệt hại cho quyền sống của con người
Hành vi khách quan của tội giết người
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước bỏ tính mạng của người khác trái pháp luật Hành vi tước bỏ tính mạng (quyền sống) của con người được hiểu là hành vi đó có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Những hành vi không có khả năng này không được coi là hành vi khách quan của tội giết người Ví dụ: X (12 tuổi) bằng lời nói
đã xúc phạm ông nội mình khiến ông A ức uất bỏ ăn, bỏ uống và ốm chết Hành vi xúc phạm nghiêm trọng ông A của X không thể tước bỏ tính mạng của ông A được nên X không phạm tội giết người
Hành vi khách quan của tội giết người được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động Dạng hành vi giết người bằng hành động
có thể là một hành động diễn ra trong một thời gian ngắn như: dùng dao để đâm, dùng súng để bắn…nhưng cũng có thể bằng nhiều động tác khác nhau như vừa đấm vừa đá, vừa bóp cổ nạn nhân cho đến chết,…hoặc thể hiện dưới dạng không hành động Đó là trường hợp người phạm tội có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc nhất định và có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ đó của mình Ví dụ: Người mẹ không cho đứa con bú làm đứa trẻ chết
“Hành vi khách quan của tội giết người phải thỏa mãn ba dấu hiệu:
(1) Hành vi này phải có tính nguy hiểm cho xã hội (khi hành vi đó gây ra hoặc
đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ; (2) Hành vi này phải là hoạt động có ý thức và có ý chí (khi sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan là kết quả hoạt động ý chí của chính họ chứ không do sự tác động trực tiếp của sức mạnh bên ngoài);
Trang 18(3) Hành vi khách quan này phải là hành vi trái pháp luật hình sự (là hành
vi thỏa mãn đầy đủ những dấu hiêu của hành vi khách quan của tội giết người được quy định trong BLHS)”
Những hành vi tuy có khả năng gây ra cái chết cho người khác nhưng không trái pháp luật như hành vi phòng vệ chính đáng, thi hành án tử hình,…thì đều không phải là hành vi khách quan của tội giết người Hành vi khách quan của tội giết người phải được biểu hiện ra ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể, có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí Những biểu hiện không được ý thức kiểm soát hoặc tuy được
ý thức kiểm soát nhưng không được ý chí điều khiển thì không phải là hành vi khách quan của tội phạm Ví dụ như phản xạ không điều kiện; “biểu hiện” trong tình trạng bộ não mất khả năng kiểm tra, điều khiển mặt thực tế của
“biểu hiện” do rối loạn ý thức…là những biểu hiện thuộc loại này
Về phạm vi tính trái pháp luật của hành vi gây ra cái chết cho người khác, hiện nay trên thế giới còn có nhiều quan điểm khác nhau Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người có hành vi gây ra cái chết cho người mắc bệnh hiểm nghèo trong mọi trường hợp vẫn bị coi là trái pháp luật hình sự Cụ thể là:
- Nếu hành vi của người phạm tội có tính chất quyết định đối với cái chết của nạn nhân thì định tội danh là tội giết người Ví dụ: Chị A là một bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối Nghĩ cảnh gia đình mình khó khăn lại thương chồng con suốt ngày phải lo vay mượn tiền chữa bệnh nên chị đã đề nghị với bác sỹ N (người trực tiếp theo dõi bệnh tình của chị A) tiêm thuốc độc vào cơ thể của chị để chấm dứt sự đau đớn của bản thân và sự vất vả của chồng con Nghe thấy cảm động, bác sỹ N đã tiêm thuốc cho chị A Hậu quả là chị A đã chết Ở đây, việc tiêm thuốc độc vào cơ thể của chị A là hành vi trực tiếp và
Trang 19cũng là quyết định dẫn đến cái chết của chị A Do đó trong tình huống này bác sỹ N phạm tội giết người
- Nếu hành vi của người phạm tội chỉ là tạo điều kiện về mặt vật chất hoặc tinh thần cho người mắc bệnh hiểm nghèo tự tước đoạt tính mạng của họ thi phạm tội giúp người khác tự sát Ví dụ: Cũng là nội dung ví dụ trên, nhưng bác sỹ N không tiêm thuốc độc trực tiếp vào cơ thể của chị A mà lại đưa thuốc độc cho chị uống Hậu quả là sau khi uống chị A đã chết Trong trường hợp này, quyền quyết định uống thuốc hay không uống là thuộc về nạn nhân, bác sỹ N chỉ là người tạo điều kiện về mặt vật chất là đưa thuốc cho chị A mà thôi Do đó bác sỹ N chỉ phạm tội giúp người khác tự sát
Như vậy nếu như pháp luật một số nước như Bỉ, Hà Lan cho rằng người
có hành vi (cố ý) gây ra cái chết cho người mắc bệnh hiểm nghèo trong một
số trường hợp không phạm tội giết người thì pháp luật Việt Nam lại quy định mọi trường hợp vẫn bị coi là trái pháp luật, vẫn (có thể) phạm tội giết người Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi khách quan của tội giết người Những hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết người Ví dụ: Hành vi tước đoạt tính mạng người khác trong trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 15 BLHS) hay trong trường hợp thi hành bản án
tử hình
Hậu quả của tội giết người
Tính nguy hiểm của tội phạm là ở chỗ, tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Sự gây thiệt hại này là một nội dung biểu hiện của mặt khách quan của tội phạm, chính là hậu quả của tội phạm Hậu quả trong cấu thành tội giết người là sự thiệt hại về tính mạng do hành vi phạm tội gây ra Vì giết người là tội phạm có cấu thành vật chất nên thời điểm hoàn thành của tội phạm là thời điểm nạn nhân chết sinh vật – giai đoạn cuối cùng của sự chết mà ở đó sự sống của con người
Trang 20không có khả năng hồi phục [3, 29] Nếu hậu quả chết người đã xảy ra thì tội phạm được coi là đã hoàn thành
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội giết người
Quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là biểu hiện độc lập so với biểu hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nó là mối quan hệ khách quan luôn luôn tồn tại giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó gây ra Trong việc áp dụng luật hình sự, để buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội,
cơ quan áp dụng pháp luật phải chứng minh hậu quả nguy hiểm cho xã hội đó
là do hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể gây ra Để chứng minh điều này, cơ quan áp dụng pháp luật phải xác định sự tồn tại mối quan hệ nhân quả [4, 73] Chính vì vậy, việc định tội theo cấu thành tội giết người không chỉ đòi hỏi phải xác định hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà còn đòi hỏi phải xác định
cả mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của tội giết người và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội (hậu quả chết người) nếu hậu quả nguy hiểm đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả có thể thấy mối quan
hệ nhân quả của hành vi khách quan của tội giết người và hậu quả của tội giết người thể hiện như sau:
Thứ nhất, hành vi khách quan của tội giết người xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian Ví dụ sau khi bị bắn, nạn nhân chết Tuy nhiên không phải bất
cứ hành vi nào xảy ra trước hâu quả chết người đều là nguyên nhân mà chỉ những hành vi có mối quan hệ nội tại, tất yếu với hậu quả thì mới là nguyên nhân Mối quan hệ nội tại tất yếu đó thể hiện ở chỗ: khi cái chết của nạn nhân
có sơ sở ngay cả trong hành vi người phạm tội; hành vi của người phạm tội đã
Trang 21mang trong đó mầm mống sinh ra hậu quả chết người; hành vi của người phạm tội trong những điều kiện nhất định phải dẫn đến hậu quả chết người chứ không thể khác được Ví dụ một người dùng súng có đạn bắn vào đầu người khác, tất yếu sẽ dẫn đến cái chết của người này [13, 24]
Thứ hai, hành vi khách quan của tội giết người độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hay nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người “Khả năng này chính là khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người, hay nói cách khác là làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm - con người đang sống” [3, 30] Ví dụ, khả năng gây chết người của hành động dùng súng bắn vào đầu nạn nhân hay của không hành động không cho trẻ ăn, uống…
Thứ ba, hậu quả chết người đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan của tội giết người hoặc là khả năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động – con người đang sống Căn cứ này phải được đặt ra và đòi hỏi phải được kiểm tra vì trong thực tế không phải hành vi nào, dù chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người cũng đều gây ra hậu quả đó và trong nhiều trường hợp hậu quả chết người đó xảy ra lại là kết quả của hành
vi trái pháp luật khác Ví dụ, A đâm vào vùng ngực của B Trên đường đưa đi bệnh viên, B bị ô tô do C lái cán tiếp vào làm giập sọ não và B đã chết ngay Giám định pháp y khẳng định: Việc B chết không phụ thuộc vào vết thương
do A đã gây ra; vết thương do A gây ra tuy nguy hiểm đến tính mạng nhưng vẫn có thể cứu chữa được Trong trường hợp này hành vi của A có khả năng thực tế làmphát sinh hậu quả chết người nhưng khả năng này chưa phát huy thì hành vi trái pháp luật của C đã xen vào phá vỡ khả năng đó và tạo ra một mối quan hệ mới [4, 75]
Trang 22Như vậy, quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan của tội giết người
và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội giết người tồn tại dưới hai dạng:
quan hệ nhân quả trực tiếp và quan hệ nhân quả kép trực tiếp “Quan hệ nhân quả trực tiếp là dạng quan hệ nhân quả trong đó chỉ có một hành vi khách quan của tội giết người đóng vai trò là nguyên nhân của hậu quả chết người Quan hệ nhân quả kép trực tiếp là dạng quan hệ nhân quả trong đó có nhiều hành vi khách quan của tội giết người đóng vai trò là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người Trong dạng quan hệ nhân quả này, có thể mỗi hành vi khách quan của tội giết người đều có khả năng trực tiếp làm phát sinh hậu quả, nhưng cũng có thể mỗi hành vi đều chưa có khả năng này Khả năng này chỉ hình thành khi các hành vi đó kết hơp với nhau” [3, 30]
Việc xác định mối quan hệ nhân quả của hành vi khách quan của tội giết người và hậu quả chết người là rất quan trọng Xác định đúng nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người không những giúp cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ vấn đề có hành vi giết người xảy ra hay không mà còn có thể kết luận
ai là người đã thực hiện hành vi đó Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm giết người trong những năm gần đây cho thấy, không ít trường hợp, do xác định không đúng mối quan hệ nhân quả nên đã xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm Ngoài ra việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người còn
có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh và phân biệt tội giết người với các tội phạm khác cùng dấu hiệu hậu quả chết người
1.2.3 Chủ thể của tội giết người
Chủ thể của tội phạm là chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong luật hình sự Theo pháp luật hình sự thì chủ thể của tội phạm nói chung và chủ thể của tội giết người nói riêng là con người có thỏa mãn hai điều kiện: có năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS) và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Trang 23NLTNHS là năng lực chủ quan của chủ thể, là năng lực nhận thức được đòi hỏi của xã hội và năng lực điều khiển được xử sự của mình phù hợp với đòi hỏi đó NLTNHS không phải là năng lực bẩm sinh mà nó là năng lực của
tự ý thức được hình thành trong quá trình phát triển của cá thể về mặt tự nhiên
và xã hội BLHS Việt Nam không quy định trong luật thế nào là người có năng lực TNHS mà chỉ gián tiếp quy định các trường hợp không có năng lực TNHS tại Điều 13 BLHS 1999, đó là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi Như vậy có hai dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực TNHS – dấu hiệu y học (mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động thần kinh) và dấu hiệu tâm lý (mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển) Chỉ khi thỏa mãn
cả hai dấu hiệu này thì người phạm tội mới được xem là không có năng lực TNHS Vì vậy trong thực tế có những trường hợp người phạm tội giết người mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi (hoặc có thể bị hạn chế) vẫn phải chịu TNHS Người say rượu mặc dù lúc say rượu họ thực hiện hành vi phạm tội bị hạn chế hành vi nhận thức, khả năng điều khiển hành vi thậm chí bị loại trừ song họ vẫn phải chịu TNHS vì họ có năng lực TNHS trước khi đặt mình vào tình trạng say Họ đã tự tước bỏ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của mình, họ là người có lỗi với tình trạng say của mình và do vậy họ có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong khi say Vì vậy, trong trường hợp tước bỏ tính mạng của người khác trong tình trạng say vẫn phải chịu TNHS như những trường hợp bình thường Ví dụ:
Ngày 11/10/2008, sau khi đi uống rượu say về, Nguyễn Công Thân, 33 tuổi, ở Huyện Hoài Đức (Hà Nội) thấy mẹ đang giục cháu lên gác học bài Thân bước vào quát mắng rồi cầm chén uống nước ném về phía đứa cháu Biết chú say rượu, đứa cháu sợ hãi chạy lên phòng và khóa bên trong Thân
Trang 24hùng hỗ đạp vỡ cửa kính và chửi bới ầm ĩ Mọi người phải nhờ tới công an xã tới giải quyết Thấy đồng chí Nhâm, công an viên xa Dương Liễu (Hoài Đức,
Hà Nội) tới nhắc nhở hành vi say rượu rồi quậy phá, Nguyễn Công Thân đã cầm con dao gây sự với đồng chí Nhâm rồi lừa lúc không để ý, Thân dùng dao dâm vào ngực đồng chí Nhâm gây tử vong Nguyễn Công Thân đã bị Hội đồng xét xử tuyên phạt mức án tù chung thân
Về độ tuổi, Điều 12 BLHS Việt Nam quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
Theo Điều 93 BLHS quy định thì tội giết người là tội rất nghiêm trọng (khoản 2 Điều 93 BLHS) và đặc biệt nghiêm trọng (khoản 1 Điều 93 BLHS), lỗi là lỗi cố ý Vì vậy độ tuổi của chủ thể của loại tội này là từ đủ 14 tuổi trở lên Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm liên quan đến vấn đề này:
“Quan điểm thứ nhất đề nghị giảm độ tuổi chịu TNHS của người phạm tội giết người xuống 12 hoặc 13 cho rằng, hiện nay do kinh tế - xã hội có sự phát triển nhanh chóng, năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi phù hợp với sự nhận thức của con người được hình thành sớm hơn so với trước Vì vậy, ở lứa tuổi 12 hoặc 13 cũng có thể nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng tự chịu trách nhiệm độc lập về hành vi đó Cho nên, 12 hoặc 13 tuổi là phải chịu NLTNHS về tội rất nghiêm trọng do cố ý nói chung và tội giết người nói riêng.Quan điểm thứ hai đề nghị tăng độ tuổi chịu TNHS của người phạm tội giết người lên 15 hoặc 16 lại cho rằng, mặc dù độ tuổi là điều kiện để xác định năng lực TNHS, nhưng nó cũng có tính độc lập và là điều kiện thứ hai của chủ thể của tội phạm Tính độc lập của độ tuổi thể hiện ở chỗ nó vừa là điều kiện để con người có năng lực TNHS lại vừa thể hiện chính sách hình sự
Trang 25và truyền thống lập pháp của một quốc gia trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội Do đó, xã hội ngày càng phát triển thì độ tuổi chịu TNHS càng cao” [3, 37-38]
Theo tác giả, cả hai quan điểm trên chưa thực sự phù hợp với thực tiễn quá trình đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam Bởi lẽ việc hạ thấp độ tuổi chịu TNHS là không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam – một nước có tỷ lệ lao động nông nghiệp trên 50% dân số, trình độ dân trí chưa cao, vì vậy khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội ở độ tuổi 12 hoặc 13 có phần hạn chế hơn so với các nước có nền kinh tế phát triển Ví dụ như ở Canada là từ đủ 12 tuổi, ở Anh là từ đủ 10 tuổi…Tuy nhiên trước diễn biến phức tạp của tội giết người do người chưa thành niên thực hiện, việc tăng
độ tuổi chịu TNHS sẽ không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm Vì vậy, việc lựa chọn độ tuổi bắt đầu chịu TNHS về tội giết người
là từ đủ 14 tuổi như quy định tại Điều 12 BLHS Việt Nam là phù hợp với lý luận và thực tiễn
Về cách tính tuổi chịu TNHS của tội giết người theo quy định của BLHS Việt Nam là “đủ 14 tuổi”, tức là tính theo tuổi tròn, kể từ ngày người
đó sinh ra đến ngày người đó thực hiện tội phạm Trường hợp không có điều kiện để xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh và nếu không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì xác định ngày sinh là 31 tháng 12 của năm sinh Việc xác định độ tuổi của người phạm tội chủ yếu phải căn cứ vào giấy khai sinh của người đó, tuy nhiên thực tiễn lại có nhiều trẻ em không có giấy khai sinh hoặc tuy có ghi trong nhưng tuổi trong giấy khai sinh không phải là tuổi thực Trong trường hợp này không việc xác định đúng tuổi của người phạm tội là hết sức khó khăn, không đủ cơ sở để xác định đúng tuổi của người có hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác, dẫn đến trường hợp không truy cứu TNHS người đã
Trang 26đủ 14 tuổi hoặc truy cứu TNHS cả những người chưa đủ 14 tuổi về tội giết người Do đó, để giải quyết tồn tại và vướng mắc này, việc xác định về mặt sinh học (giám định xương và giám định sự phát triển cơ thể) để xác định chính xác tuổi của người phạm tội có một ý nghĩa quan trọng [1, 46] Đồng thời, theo hướng dẫn tại Mục 11 Phần II Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của TANDTC về cách tính tuổi chịu TNHS của người phạm tội nói chung và tội giết người nói riêng thì tuổi của bị can bị cáo được xác định như sau: Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào của tháng đó thì lấy ngày cuối cùng trong tháng đó; nếu xác định được quý cụ thể của năm nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó; Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng năm nào trong nửa đầu hay nửa cuối của năm đó thì lấy ngày 30/6 hoặc ngày 31/12 tương ứng trong năm đó; Nếu không xác định được tháng nào, quý nào, nửa năm nào trong năm thì lấy ngày 31/12 của năm đó làm ngày sinh của bị can,
bị cáo để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo Đây là cách tính tuổi có lợi cho người phạm tội [3, 39]
1.2.4 Mặt chủ quan của tội giết người
Nếu như mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan lại là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, động cơ, mục đích Việc xác định mặt chủ quan trong tội giết người rất quan trọng vì thực tiễn cho thấy có những hành vi khách quan giống nhau, hậu quả chết người cũng xảy ra nhưng diễn biến bên trong của tội phạm khác nhau nên tội danh khác nhau Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc “quy tội khách quan” mà không xem xét đến lỗi của người phạm tội
Trang 27Trong các dấu hiệu của mặt chủ quan thì lỗi là dấu hiệu duy nhất bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của cấu thành tội giết người Chủ thể bị coi
là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu họ đã lựa chọn hành
vi đó trong khi có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội “Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý” [1, 136] Tội giết người luôn được thực hiện với lỗi cố
ý, do đó những trường hợp xâm phạm tính mạng người khác do vô ý thì người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người mà tùy từng trường hợp có thể phạm tội khác như tội vô ý làm chết người (Điều
98 BLHS), tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 BLHS)…
Căn cứ vào thái độ của người phạm tội đối với hậu quả chết người có thể phân biệt thành hai trường hợp giết người với lỗi cố ý trực tiếp và trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp “Theo quy định của Điều 9 và Điều 93 BLHS thì lỗi cố ý trực tiếp giết người là lỗi trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể hoặc tất yếu làm nạn nhân chết và mong muốn nạn nhân chết Lỗi cố ý gián tiếp giết người
là lỗi trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể làm nạn nhân chết, tuy không mong muốn nhưng vẫn
có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra” [3, 41]
Trong thực tiễn việc xác định và đánh giá lỗi nhiều khi rất phức tạp, xác định lỗi sai sẽ dẫn đến việc định tội danh sai và quyết định hình phạt không phù hợp Nghiên cứu và xác định đúng dấu hiệu lỗi trong cấu thành tội phạm giết người sẽ giúp phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác cũng gây ra hậu qảu chết người như: tội cố ý gây thương tích (dẫn đến chết người); tội hiếp dâm (làm nạn nhân chết); tội cướp tài sản (làm chết nạn nhân )…Bởi
Trang 28lẽ trong tội giết người lỗi của người phạm tội đối với hành vi gây ra cái chết cho nạn nhân và đối với hậu quả nạn nhân chết đều là cố ý (mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả chết người) thì trong các tội phạm khác như trên lỗi của người phạm tội chỉ là lỗi cố ý đối với hành vi (gây thương tích, hiếp dâm, cướp tài sản…) còn đối với hậu quả chết người thì lỗi của họ chỉ là lỗi vô ý (không thấy trước hậu quả chết người hoặc tuy thấy trước nhưng có ý thức loại trừ hậu quả xảy ra Để xác định và đánh giá đúng lỗi nhất thiết phải trả lời đúng hai câu hỏi, thứ nhất, người phạm tội có thấy trước hậu quả chết người không? Và thứ hai là, nếu thấy trước thì họ mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả này xảy ra? Để xác định người phạm tội có thấy trước được hậu quả chết người hay không, phải xuất phát từ năng lực nhận thức của
họ cũng như từ những điều kiện nhận thức cụ thể và bằng việc phân tích xác định người đó đã nhận thức được như thế nào từng yếu tố khách quan tạo nên khả năng gây ra hậu quả chết người của hành vi phạm tội Và để trả lời câu hỏi thứ hai cần dựa trên các tình tiết phản ánh sự quan tâm đến hậu quả chết người như sự lựa chọn, chuẩn bị phương tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách thức sử dụng phương tiện, phương pháp, diễn biến thái độ của người phạm tội trong khi thực hiện hành vi phạm tội có thể phản ánh người đó có quan tâm đến hậu quả chết người hay không? [5, 107 - 116]
Khác dấu hiệu lỗi, trong mặt chủ quan của tội giết người động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc Dấu hiệu động cơ, mục đích trong tội giết người có thể làm thay đổi mức độ nguy hiểm của hành vi cho xã hội Trong một số cấu thành tăng nặng của tội giết người thì động cơ, mục đích là dấu hiệu định khung hình phạt và trong một số trường hợp vẫn được xem như là dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan để phân biệt với một số tội phạm khác cũng có hành vi gây ra cái chết cho nạn nhân, Ví dụ: tội khủng
bố (Điều 84 BLHS), tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97
Trang 29BLHS), tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 BLHS), tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 BLHS)…
Tóm lại, trong mặt chủ quan của tội giết người, lỗi là dấu hiệu chính để xác định tội danh nhưng ta phải xem xét, đánh giá lỗi trong mối quan hệ với động cơ, mục đích để xác định môt cách chính xác khả năng nhận thức của người phạm tội, từ đó mới xác định đúng thái độ chủ quan của họ
1.3 Đường lối xử lý đối với tội giết người
Tội giết người xâm phạm quyền sống của con người – quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất Hậu quả của hành vi giết người để lại là rất lớn, không chỉ tước đi quyền sống của nạn nhân mà còn gây đau thương tang tóc mất mát cho gia đình nạn nhân, phá vỡ tế bào của xã hội, gây mất trật tự trị an
ở địa phương và tạo tâm lí hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân Vì vậy, đường lối xử lý của nhà nước ta đối với tội giết người rất nghiêm khắc Tội giết người là một trong những loại tội có hình phạt cao nhất là hình phạt
tử hình Theo quy định tại Điều 93 BLHS 1999 thì tội giết người được chia làm hại khung: khung cơ bản gồm các trường hợp giết người thông thường (Khoản 2 Điều 93 BLHS) và khung tăng nặng bao gồm các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng (Khoản 1 Điều 93 BLHS)
1.3.1 Trường hợp giết người thông thường (Khoản 2 Điều 93 BLHS
Giết người thông thường được quy định tại Khoản 2 Điều 93 BLHS là CTTP cơ bản của tội giết người Theo đó, người nào giết người không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 93 BLHS, tức là không
có tình tiết định khung tăng nặng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
1.3.2 Các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng (Khoản
1 Điều 93 BLHS)
Trang 30Khoản 1 Điều 93 BLHS quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoăc tử hình” Gồm 16 tình tiết định khung tăng nặng sau:
Giết nhiều người (điểm a Khoản 1 Điều 93)
Giết nhiều người là trường hợp người phạm tội có ý định giết từ hai người trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nhiều người chết xảy ra
Về việc áp dụng hoặc không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “giết nhiều người” vẫn còn có những quan điểm trái ngược nhau Có quan điểm cho rằng chỉ coi là giết nhiều người nếu có từ hai người chết trở lên, nếu người phạm tội có ý định giết nhiều người, nhưng chỉ có một người chết thì không coi là giết nhiều người Quan điểm này không có cơ sở khoa học và thực tiễn Bởi vì thực tiễn xét xủ không ít trường hợp không có ai bị chết cả nhưng vẫn có người bị xét xử về tội giết người Đó là trường hợp giết người chưa đạt Trong trường hợp giết nhiều người cũng vậy, chỉ cần xác định người phạm tội có ý định giết nhiều người thì thuộc trường hợp này rồi mà không nhất thiết phải có nhiều người chết mới là giết nhiều người Ví dụ: A mâu thuẫn với gia đình B nên A có ý định giết cả nhà B Nhằm lúc gia đình B đang quây quần bên mâm cơm, A rút chốt lựu đạn ném vào chỗ cả nhà B đang ăn cơm nhưng lựu đạn không nổ [13, 28]
Nếu người phạm tội cố ý gián tiếp gây ra cái chết cho nhiều người thì chỉ
áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “giết nhiều người” khi hậu quả đã xảy
ra, nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này Bởi vì, trong trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra cho nên hậu quả xảy ra đến đâu thì xử người phạm tội đến đó
Giết phụ nữ mà biết là có thai (điểm b khoản 1 Điều 93 BLHS)
Trang 31Giết phụ nữ mà biết là có thai theo nội dung điều luật đươc hiểu là trường hợp người phạm tội biết rõ người mình giết là phụ nữ đang có thai (không kể tháng thứ mấy)
Nếu người bị giết có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tội không biết họ đang có thai thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội giết phụ nữ mà biết là có thai Trong trường hợp người phụ nữ bị giết không có thai nhưng người phạm tội tưởng nhầm là có thai và sự lầm tưởng này của người phạm tội là có căn cứ thì người phạm tội vẫn bị xét xử về tội giết người trong trường hợp “giết phụ nữ mà biết là có thai”
Giết phụ nữ mà biết là có thai là dấu hiệu thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội chứ không phải là dấu hiệu khách quan như trường hợp phạm tội đối với phụ nữ có thai quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS Trường hợp quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS chỉ cần xác định người bị hại là phụ nữ
có thai là đủ căn cứ xác định là tình tiết tăng nặng rồi mà không cần phải xác định người phạm tội có biết hay không biết rõ người phụ nữ có thai hay không
Giết trẻ em (điểm c Khoản 1 Điều 93 BLHS)
Giết trẻ em là trường hợp người phạm tội cố ý gây ra cái chết cho người dưới 16 tuổi (Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo duc trẻ em thì người dưới 16 tuổi là trẻ em) Giết trẻ em được coi là trường hợp tăng nặng, không chỉ xuất phát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo
vệ lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn bảo vệ những người không có khả năng tự bảo vệ mình
Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm d khoản 1 Điều 93 BLHS)
Công vụ ở đây được hiểu là những công việc vì lợi ích chung mà việc thực hiện công việc đó đòi hỏi người thi hành phải có những quyền hành nhất định đối với những công dân khác Giết người đang thi hành công vụ là trường hợp giết người mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ, tức là
Trang 32người bị giết đang thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó Đối với những người tuy không được giao nhiệm vụ chính thức nhưng họ được huy động tham gia vào việc giữ gìn trật tự an toàn xã hội
ở địa phương trong một số trường hợp nhất định như: dân phòng, tổ tự quản ở địa phương…cũng được coi là thi hành công vụ
Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân là trường hợp giết người mà động cơ của hành vi giết người gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân Giết nạn nhân để không cho nạn nhân thì hành công vụ hay giết nạn nhân để trả thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ
Tính nguy hiểm của trường hợp giết người này là ở chỗ nó không chỉ xâm phạm đến tính mạng con người mà đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cản trở hoạt động chung xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an
Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo,cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 93 BLHS)
Đây là trường hợp giết người mà nạn nhân là người có quạn hệ đặc biệt với người phạm tội Trong mối quan hệ này, người phạm tội phải là người hơn ai hết biết ơn và kính trọng nạn nhân Với hành vi phạm tội của mình, người phạm tội trong trường hợp này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm nghiêm trọng truyền thống, đạo lý làm con, cháu, làm trò, làm người được nuôi dưỡng Do đó, người nào giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo phải bị trừng trị nghiêm khắc
Đối với trường hợp giết thầy, cô giáo của mình, hiện nay trong nghiên cứu khoa học cũng như trong thực tiễn, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm giết người vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về tình tiết định khung tăng nặng
này: Quan điểm thứ nhất cho rằng,khung tăng nặng giết thầy giáo, cô giáo của
mình nếu thỏa mãn hai điều kiện: một là, nạn nhân là thầy giáo, cô giáo của người phạm tội, thuộc hệ thống công lập, dân lập hay các hình thức đào tạo
Trang 33khác như gia sư, truyền nghề; hai là, người phạm tội giết nạn nhân với động
cơ phản trắc [13, 35] Quan điểm thứ hai lại cho rằng, để bảo vệ truyền thống tôn sư, trọng đạo, cứ giết thầy giáo, cô giáo, dù nạn nhân không phải thầy giáo, cô giáo của mình cũng bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này
Cả hai quan điểm này đều có có điểm chưa thuyết phục và chưa đầy đủ, phù hợp Để việc xét xử được dễ dàng và thống nhất, cơ quan chức năng nên áp dụng tình tiết định khung tăng nặng giết thầy giáo, cô giáo của mình khi thỏa mãn ba điều kiện sau: một là, nạn nhân là người làm việc trong các cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề được cơ quan có thẩm quyền Nhà nước cho phép hoặc công nhận; hai là, nạn nhân đã hoặc đang trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chức năng giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho người phạm tội; ba là, động cơ giết người (phải) xuất phát từ mối quan hệ thầy trò như: giết thầy vì bị thầy cho điểm kém, vì thầy cô không cho thi…
Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (điểm e khoản 1 Điều 93 BLHS)
Đây là trường hợp người phạm tội phạm hai tội, trong đó có một tội giết người, giữa hai tội này phải thỏa mãn các điều kiện sau: 1) Tội thực hiện trước hoặc sau tội giết người phải là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; 2) Xét về phương diện chủ quan thì giữa tội giết người và tội nghiêm trọng khác không có mối liên hệ với nhau Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt với tình tiết “giết người để che dấu một tội phạm khác”; 3) Về mặt thời gian, hành vi giết người trong trường hợp này phải diễn ra liền trước hoặc ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác Liền trước hoặc ngay sau đó có nghĩa là hành vi phạm có thể diễn ra kế tiếp nhau, diễn ra trong một thời gian ngắn, không có sự gián đoạn đáng kể về mặt thời gian Hành vi này thể hiện tính nguy hiểm cao độ về
Trang 34nhân thân người phạm tội Nếu hai tội cách xa nhau về mặt thời gian thì không thỏa mãn dấu hiệu tình tiết này
Giết người để thực hiện hoặc để che giấu một tội phạm khác (điểm g khoản 1 Điều 93 BLHS)
Đây là trường hợp người phạm tội phạm 2 tội, trước khi giết người, người có hành vi giết người đã thực hiện một tội phạm và để che giấu tội phạm đó nên người phạm tội đã giết người Giữa hai tội này phải thỏa mãn các điều kiện sau: 1) Tội phạm khác có thể là bất ký loại tội phạm nào (tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng); 2) giữa tội giết người và tội phạm khác có mối liên quan với nhau Việc thực hiện tội phạm khác là động cơ thực hiện tội phạm giết người – nghĩa là người phạm tội cho rằng nạn nhân sẽ là người cản trở, gây khó khăn cho việc thực hiện tội phạm khác nên đã giết nạn nhân để thực hiện tội phạm khác, hoặc nạn nhân sẽ là người tố cáo nên đã giết nạn nhân để che dấu tội phạm đã thực hiện; 3) Khoảng cách thời gian giữa hai tội có thể liên tục hoặc
Thực hiện tội phạm một cách man rợ (điểm i khoản 1 Điều 93 BLHS)
Thực hiện tội phạm một cách man rợ là trường hợp giết người một cách đặc biệt tàn ác, dã man, làm cho nạn nhân đau đớn rất nhiều trước khi chết (giết người bằng cách hành hạ, tra tấn cho đến chết…) hoặc gây ra cho người
Trang 35khác sự khủng khiếp, rùng rợn (chặt chân tay, khoét mắt nạn nhân,…) Các hành vi trên, người phạm tội thực hiện trước khi tội pham hoàn thành hoặc sau khi nạn nhân chết
Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (điểm k khoản 1 Điều 93 BLHS)
Đây là trường hợp người phạm tội đã sử dụng nghề nghiệp của mình để làm phương tiện giết người dễ dàng và cũng dễ dàng che giấu tội phạm như: bác
sỹ giết bệnh nhân nhưng lại lập bệnh án là nạn nhân chết do bệnh hiểm nghèo; bảo vệ bắn chết người nhưng lại vu cho họ là kẻ cướp…Lợi dụng nghề nghiệp
để giết người là phạm tội với thủ đoạn rất xảo quyệt, nên nhà làm luật không chỉ dừng lại ở quy định là tình tiết tăng nặng theo Điều 48 BLHS mà coi thủ đoạn này là tình tiết định khung hình phạt
Phải xác định rõ người phạm tội đã lợi dụng nghề nghiệp của mình để giết người thì mới thuộc trường hợp phạm tội này Nếu người có hành vi giết người bằng phương pháp có tính chất nghề nghiệp, nhưng đó không phải là nghề nghiệp của y mà lại lợi dụng người có nghề nghiệp đó rồi thông qua người này thực hiện ý đồ của mình thì không thuộc trường hợp phạm tội này
Ví dụ: Một kẻ đã đánh tráo ống thuốc tiêm của y tá điều trị, thay vào đó một ống thuốc giả có nhãn hiệu như ống thuốc thật, nhưng có độc tố mạnh để mượn tay y tá giết chết bệnh nhân mà y có oán thù
Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người (điểm
l khoản 1 Điều 93 BLHS)
Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người là trường hợp giết người mà người phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện hoặc thủ đoạn phạm tội có khả năng làm chết nhiều người (trong hoàn cảnh
cụ thể) Ví dụ: dùng chất nổ giết nạn nhân đang ở trong nhà cùng với những người khác…
Trang 36Hậu quả của hành vi sử dụng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người có thể chết người mà người phạm tội mong muốn và có thể chết người khác, có thể chết nhiều người và cũng có thể không ai bị chết Do vậy hậu quả chết người có xảy ra hay không, điều đó không phải là nội dung của tình tiết này Nếu không có ai bị chết thì người phạm tội được áp dụng Điều 18 BLHS
về trường hợp giết người chưa đạt
Thuê giết người hoặc giết người thuê ((điểm m khoản 1 Điều 93 BLHS)
Thuê giết người là trường hợp trả cho người khác tiền hoặc lợi ích vật chất để họ giết người mà mình mong muốn Cũng giống như trường hợp thuê làm một việc, người phạm tội vì không trực tiếp thực hiện hành vi giết người nên đã dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để thuê người khác giết người Người trực tiếp giết người trong trường hợp này là người giết thuê Thuê giết người và người giết thuê có mối quan hệ mật thiết với nhau, cái này là tiền đề của cái kia, thiếu một trong hai cái thì không có trường hợp giết người này xảy ra
Giết người thuê là trường hợp người phạm tội lấy việc giết người làm phương tiện để kiếm tiền hoặc lợi ích vật chất khác Vì muốn có tiền nên người phạm tội đã nhận lời với người thuê mình để giết một người khác Việc trừng trị đối với tội giết người thuê là nhằm ngăn chặn tình trạng đâm thuê chém mướn, nhất là trong nền kinh tế thi trường như hiện nay
Giết người có tính chất côn đồ (điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS)
Là trường hợp khi giết người, người phạm tội rõ ràng đã coi thường những nguyên tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, giết người
vô cớ hoặc giết người vì nguyên cớ nhỏ nhặt Ví dụ: giết người vì bị nạn nhân nhìn đểu, giết người vì bị nạn nhân đụng vào người…
Khi xác định trường hợp giết người có tính chất côn đồ cần phải có quan điểm xem xét toàn diện, tránh xem xét một cách phiếm diện như chỉ
Trang 37nhấn mạnh đến nhân thân người phạm tội hoặc địa điểm xảy ra vụ án, hành vi
cụ thể gây ra cái chết cho nạn nhân Cần xem xét đến mối quan hệ giữa người phạm tội đối với nạn nhân Cần xem xét đến mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, thái độ của người phạm tội khi gây án, nguyên do dẫn đến việc người phạm tội giết người
Giết người có tổ chức (điểm o khoản 1 Điều 93 BLHS)
Là trường hợp nhiều người tham gia vào một vụ giết người, có sự câu kết chặt chẽ giữa người cùng thực hiện việc giết người, có sự phân công, có kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc giết người Nếu nhiều người cùng tham gia vào một vụ án giết người nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, mà chỉ có sự đồng tình có tính chất hời hợt thì không phải là giết người có tổ chức
Giết người thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm (điểm p khoản 1 Điều
93 BLHS)
Là trường hợp trước khi giết người, người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích hoặc đã tái phạm và chưa được xóa án tích (khoản 2 Điều 49 BLHS) Ví dụ: A bị kết án 10 năm tù về tội cướp tài sản, chưa được xóa án tích lại phạm tội giết người Có ý kiến cho rằng không nên coi trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết phạm tội bị xử phạt theo khoản 1 Điều 93 BLHS vì trong nhiều trường hợp không thể hiện tính chất nguy hiểm cao của hành vi giết người Các đặc điểm về nhân thân chỉ nên coi là tình tiết tăng nặng theo Điều
48 BLHS là đủ Nếu coi trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt đối với tội giết người thì chỉ nên coi trường hợp tái phạm về tội này, tức là đã bị kết án về tội giết người chưa được xóa án tích mà còn giết người [13, 46] Theo tác giả thì quan điểm trên là hoàn toàn hợp lý bởi lẽ người phạm tội mặc dù đã có hành vi giết người trước đó nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi giết người mặc dù biết đây là một trong những hành vi đặc
Trang 38biệt nghiêm trọng, là hành vi tước đoạt sự sống của con người, việc lặp lại hành vi nói trên thể hiện tính nguy hiểm cao độ rõ hơn so với trường hợp người phạm tội tái phạm về tội khác
Giết người vì động cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 93 BLHS)
Giết người vì động cơ đê hèn là trường hợp giết người mà tính chất của động cơ phạm tội đã làm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi giết người tăng lên một cách đáng kể so với những trường hợp bình thường Động cơ đê hèn là những động cơ xấu xa cao độ, thể hiện sự đồi bại tột cùng của đạo đức
Thực tiễn xét xử thừa nhận những động cơ phạm tội sau bị coi là động
cơ đê hèn: 1) Giết vợ hoặc chồng để tự do lấy vợ hoặc chồng khác; 2) Giết chồng để lấy vợ hoặc giết vợ để lấy chồng nạn nhân; 3) Giết người tình mà biết họ đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; 4) Giết chủ nợ để trốn nợ; 5) Giết người để cướp của; 6) Giết người là ân nhân của mình Ngoài các trường hợp được hướng dẫn trên đây, thực tiễn xét xử còn coi những trường hợp: giết người để trả thù, giết người ốm đau, bệnh tật để khỏi phải chăm sóc họ…cũng là những trường hợp giết người vì động cơ đê hèn
1.3.3 Hình phạt bổ sung
Theo quy định tại khoản 3 Điều 93 BLHS Việt Nam thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm Đây là hình phạt bổ sung kèm theo hình phạt chính mà Tòa án có thể áp dụng trong những trường hợp cần thiết
Riêng đối với hình phạt tù chung thân cũng có ý kiến cho rằng, Tòa án
có thể áp dụng hình phạt bổ sung, vì người bị phạt tù chung thân có thể được giảm thời hạn phạt tù Tuy nhiên, hình phạt tù chung thân là hình phạt tù không có thời hạn, không ai biết được người phạm tội bị phạt tù chung thân đến khi nào họ chấp hành xong hình phạt, do đó khi tuyên án Tòa án có thể
Trang 39quyết định cấm cư trú hay quản chế người phạm tội mấy năm sau khi chấp hành hình phạt tù Tuy nhiên, hiện chưa có quy định nào hướng dẫn về vấn đề này nên Tòa án không thể áp dụng hình phạt bổ sung đối với họ
Để việc áp dụng được dễ dàng, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản theo hướng: hình phạt bổ sung nếu áp dụng với người bị phạt tù chung thân thì hình phạt bổ sung sẽ đươc thi hành nếu người bị kết án được giảm hình phạt xuống tù có thời hạn theo quy định của Bộ Luật hình sự
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1 Tội giết người là loại tội phạm cực kì nguy hiểm, xâm phạm đến
quyền thiêng liêng nhất của con người Trong BLHS Việt Nam tội giết người được quy định tại Điều 93- Điều đầu tiên của Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người, sau chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia BLHS không mô tả thế nào là tội giết người trong Bộ luật Định nghĩa tội giết người được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong khoa học pháp lý hình sự Có thể hiểu, tội giết người là hành vi cố ý gây
ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu tráchnhiệm hình sự thực hiện BLHS 1999 đã tách tội giết người năm 1985 thành ba tội: tội giết người (Điều 93), giết con mới đẻ (Điều 94) và giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều
95)
2 Điều 93 BLHS Việt Nam gồm có 3 Khoản, Khoản 1 quy định về
khung tăng nặng bao gồm các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng, Khoản 2 quy định về khung cơ bản bao gồm các trường hợp giết người thông thường Khoản 3 quy định hình phạt bổ sung mà người phạm tội
có thể bị áp dụng sau khi chấp hành xong hình phạt chính Việc đưa khung tăng nặng lên trước khung cơ bản là điều ít thấy trong BLHS Điều này nhằm nhấn mạnh tính chất đặc biệt nguy hiểm của các trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng, đồng thời thể hiện chính sách của Việt Nam trong việc nghiêm
khắc trừng trị trong các trường hợp này
3 Người phạm tội bị áp dụng điều 93 BLHS Việt Nam nếu thỏa mãn
đầy đủ bốn yếu tố của cấu thành tội phạm Về khách thể, hành vi giết người xâm phạm đến quyền sống của con người, đối tượng của tội phạm phải là con người đang sống Về mặt khách quan, bao gồm: Người phạm tội phải có hành
vi tước bỏ tính mạng của người khác trái pháp luật, được biểu diễn dưới dạng