1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và thực tiễn thực hiện ở việt nam hiện nay

80 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 753,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với bối cảnh đó và với mong muốn góp phần vào việc thực hiện tốt các quyền của người cao tuổi đặc biệt là quyền của họ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, em đã chọn đề tài “Quyền của ngườ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐÀO THỊ TUYỀN

QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới cô giáo – Phó Giáo sư - Tiến sỹ Hà Thị Mai Hiên – người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn và đồng hành cùng em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, các thầy cô khoa Sau Đại học, đặc biệt là các thầy cô khoa Dân sự – những người đã giảng dạy, giúp đỡ và vun đắp kiến thức cho em trong suốt thời gian qua

Cuối cùng, em xin gửi lời tri ân, biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè – những người đã nuôi dưỡng, tạo mọi điều kiện thuận lợi, luôn quan tâm, cổ vũ

và động viên em trong cuộc sống

Mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng do vốn hiểu biết còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy, cô và toàn thể bạn đọc đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2014

Học viên

Đào Thị Tuyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đào Thị Tuyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 4

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4

6 Điểm mới của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH 6

1.1 Người cao tuổi và vị trí, vai trò của người cao tuổi trong gia đình 6

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 6

1.1.2 Các căn cứ xác định quyền của người cao tuổi 6

1.1.3 Vị trí, vai trò của người cao tuổi trong gia đình Việt Nam 11

1.2 Chính sách và pháp luật về quyền của người cao tuổi 12

1.2.1 Nội hàm quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình 12

1.2.2.Chính sách và pháp luật quốc tế liên quan đến quyền của người cao tuổi 14

1.2.3.Chính sách và pháp luật Việt Nam về quyền của người cao tuổi 16

1.3 Quá trình ghi nhận của các chính sách, pháp luật Việt Nam về quyền của người cao tuổi 17

1.3.1 Truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc 17

1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi 19

1.3.3 Chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quyền của người cao tuổi qua các thời kỳ lịch sử 20

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25 2.1 Những thành tựu đạt được trong việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân gia đình 26

2.1.1 Thành tựu trong việc thực hiện quyền được kết hôn, ly hôn của người cao tuổi 26 2.1.2 Thành tựu trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản, thừa kế tài sản của người cao tuổi 28 2.1.3 Thành tựu trong việc thực hiện quyền được chăm sóc, phụng

dưỡng, được cấp dưỡng của người cao tuổi 29 2.1.4 Thành tựu trong việc thực hiện quyền nhận nuôi con nuôi của người cao tuổi 33

2.2 Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó 34

2.2.1 Những điểm hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền của

người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân gia đình 34 2.2.2 Nguyên nhân của những điểm hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình 51

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG 57 VIỆC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI 57 CAO TUỔI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH TRƯỚC BỐI CẢNH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 57 3.1 Yêu cầu khách quan của việc tăng cường bảo đảm quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình ở Việt Nam hiện nay 57

3.1.1 Xu hướng chung của thế giới 57 3.1.2 Bối cảnh trong nước 58

Trang 6

3.1.3 Tăng cường bảo đảm quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn

nhân, gia đình ở Việt Nam hiện nay 60

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam 62

3.2.1 Nhóm các giải pháp nâng cao nhận thức của các thành viên trong gia đình có người cao tuổi 63

3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao sự tích cực, chủ động của người cao tuổi trong việc tự chăm sóc bản thân 66

3.2.3 Nhóm các giải pháp hỗ trợ từ phía Nhà nước 67

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Truyền thống từ lâu đời của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng các bậc cao

niên, coi họ là những “cây cao bóng cả”, là kho tàng những kinh nghiệm sống,

là tầng lớp cần nhận được sự tôn kính trong xã hội Đảng và Nhà nước ta cũng luôn có những ưu tiên đặc biệt đối với tầng lớp này bằng việc đưa ra những chính sách pháp luật quy định các quyền lợi của người cao tuổi cũng như các chính sách nhằm bảo đảm thực hiện các quyền đó trên thực tế Tuy nhiên, đất nước ta còn là một nước đang phát triển, do đó việc thực hiện tốt các quyền của người cao tuổi còn gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình, lĩnh vực được coi là gần gũi nhất, đi sâu nhất vào đời sống của người cao tuổi thì lại chưa có quy định cụ thể nào về các quyền mà người cao tuổi được hưởng Đây cũng là một bất cập khiến cho những quyền chính đáng của người cao tuổi đã và đang bị xâm phạm trên thực tế

Như nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng như trong khu vực, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với các vấn đề, thách thức lớn liên quan đến tầng lớp người cao tuổi trong xã hội như: số lượng người cao tuổi tăng nhanh, nhiều người cao tuổi sống ở mức nghèo và cận nghèo, hầu hết người cao tuổi có sức khoẻ kém và càng ngày càng sống thu mình, bởi sự hỗ trợ truyền thống từ đại gia đình họ cũng bị thu hẹp lại do số thanh niên đang ở độ tuổi lao động đi làm

ăn xa ngày càng tăng…

Năm 2008, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 9.5% tổng dân

số Việt Nam Đến năm 2029, con số này sẽ lên đến 16.8% [6] Với số lượng dự kiến tăng như vậy, tỉ lệ nghèo đói ở họ cũng đặt ra nhiều trở ngại lớn để đạt được các mục tiêu phát triển của Việt Nam trong thời gian tới

Về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam thì nhiều người cao tuổi không có cơ hội được trang bị kiến thức về thực hành chăm sóc sức khoẻ hoặc hiểu biết về tình trạng sức khoẻ của mình, điều đó dẫn đến

Trang 8

việc tăng nguy cơ nhiễm các bệnh mãn tính Số liệu nghiên cứu cho thấy, khoảng 80% người cao tuổi ở Việt Nam được báo cáo là có ít nhất một bệnh mãn tính [6]

Có thể nói, trong cuộc sống gia đình, truyền thống trọng lão luôn được duy trì, người cao tuổi luôn có vị trí cao trong gia đình Họ luôn được kính trọng, tiếng nói luôn có ảnh hưởng quyết định đến các hoạt động của gia đình Hơn nữa, người cao tuổi cũng được chăm sóc một cách tốt nhất là tại gia đình của mình, bởi con cháu của mình Tuy nhiên, một xu hướng đang làm tăng sự tổn thương ở người cao tuổi tại Việt Nam, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, miền núi nơi có điều kiện sống khó khăn đó là sự di cư hàng loạt của thanh niên ở độ tuổi lao động ra thành phố tìm việc làm Họ thường đi làm ăn xa, để lại bố mẹ và cũng là người trông nom con cái họ ở quê Xu hướng này cũng sẽ làm tăng sự đơn độc của người cao tuổi trong tương lai Và trong những năm tới, người cao tuổi sẽ dần ít được con cháu chăm sóc hơn những thế hệ trước

Với bối cảnh đó và với mong muốn góp phần vào việc thực hiện tốt các quyền của người cao tuổi đặc biệt là quyền của họ trong lĩnh vực hôn nhân gia

đình, em đã chọn đề tài “Quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân,

gia đình và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay” làm Luận văn tốt nghiệp

cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về người cao tuổi trong việc bảo vệ quyền lợi, chăm sóc sức khỏe cho họ cũng như vị trí, vai trò của họ trong gia đình và toàn xã hội Có thể kể tới các công trình như:

- Dự án Thúc đẩy quyền của người cao tuổi thiệt thòi ở Việt Nam (VIE022)

do Hội liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam – VWU; Tổ chức Hỗ trợ Người Cao Tuổi Quốc tế - HAI; Hội Người Cao Tuổi Việt Nam – VAE; Trung tâm Trợ giúp

Trang 9

- Một số các bài báo, tạp chí viết về người cao tuổi

Tuy nhiên, những dự án, tác phẩm trên chủ yếu đề cập tới vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, các quyền của người cao tuổi nói chung… chứ chưa đi sâu nghiên cứu về quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình Và cũng tính tới thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích trực tiếp các quyền của người cao tuổi dưới góc độ Luật học, về sự phát triển của các quy phạm pháp luật về các quyền của người cao tuổi và thực tiễn thực hiện các quyền đó trên thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình Luận văn có thể được coi là công trình nghiên cứu đầu tiên về các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình dưới góc độ luật học cũng như thực tiễn thực hiện các quyền đó trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một cách hệ thống những quyền cơ bản của người cao tuổi nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình nói riêng, chỉ ra những thành tựu đã đạt được cũng như những điểm hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quyền đó trên thực tế Từ đó đề xuất một số giải pháp hữu ích nhằm nâng cao việc thực hiện các quyền của người cao tuổi

giúp họ thực sự được “sống vui, sống khỏe và sống có ích”

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu một số văn bản quốc tế và quá trình ghi nhận cũng như chính sách pháp luật Việt Nam về quyền của người cao tuổi nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình nói riêng cũng như thực tiễn thực hiện các quyền đó trên thực tế

Trang 10

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn nghiên cứu việc ghi nhận cũng như việc thực hiện một số quyền cụ thể, được xem là quan trọng nhất đối với người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình theo pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò của người cao tuổi, đồng thời kết hợp với việc sử dụng linh hoạt các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích được sử dụng để làm sáng tỏ các nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn;

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn nhằm tạo tính logic, chặt chẽ, khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống;

- Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 1 của luận văn khi nói về các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của người cao tuổi;

- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh việc thực hiện cũng như bảo vệ quyền của người cao tuổi theo pháp luật Việt Nam trên cơ sở những Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của người cao tuổi nói riêng;

- Phương pháp thống kê được sử dụng để cung cấp một số số liệu liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền của người cao tuổi nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình nói riêng

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống những nội dung về các quyền cơ bản của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình theo pháp luật Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: luận văn đã phân tích được những thành tựu đạt được

Trang 11

cũng như những điểm hạn chế trong việc thực hiện các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình trên thực tế Từ đó góp phần vào việc nâng cao sự nhìn nhận đúng đắn của toàn xã hội về vị trí, vai trò của người cao tuổi trong gia đình và trong xã hội, góp phần nâng cao việc thực hiện tốt các quyền của người cao tuổi giúp họ sống vui, sống khỏe, sống có ích

Ngoài ra, luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật ở nước ta

6 Điểm mới của luận văn

- Tiếp cận một cách khoa học các vấn đề lý luận về vị trí, vai trò cũng như

quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình Đồng thời đưa ra được khái niệm quyền của người cao tuổi và quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình

- Đánh giá một cách khách quan về các quy định của pháp luật cũng như thực

tiễn thực hiện các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình

- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng

cao hiệu quả của việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình trên thực tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì phần Nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực

hôn nhân, gia đình

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền của người

cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường việc bảo đảm thực hiện

quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình trước bối cảnh hiện nay ở Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH

1.1 Người cao tuổi và vị trí, vai trò của người cao tuổi trong gia đình

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

Người cao tuổi hay còn gọi là “phụ lão”, “cao niên” hay “người già”

Trong các tài liệu quốc tế, thuật ngữ dùng để mô tả người cao tuổi khá đa dạng, bao gồm: “người cao tuổi”, “người già”, “người già cả”, "thế hệ thứ ba”,

“người có tuổi”; và để biểu thị người từ 80 tuổi trở lên, thuật ngữ được dùng là

“thế hệ thứ tư” Ủy ban Công ước Liên hợp quốc đã sử dụng thuật ngữ “người

cao tuổi” (older person, trong tiếng Pháp là personnes agee) trong các Nghị

quyết 47/5 và 48/98 của Đại hội đồng, bao gồm những người từ 60 tuổi trở lên Riêng các nước thuộc Liên minh châu Âu coi “người cao tuổi” là những người

từ 65 tuổi trở lên, vì tuổi về hưu ở các nước này thông thường là 65 tuổi và xu

hướng nghỉ hưu ngày càng muộn hơn

Ở Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi năm 2010 thì “Người cao tuổi được

quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” (Điều 2)

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam thì người cao tuổi là người từ đủ 60 tuổi trở lên Đây là lớp người cao tuổi nhất trong xã hội, có nhiều kinh nghiệm sống và

cũng là “nhóm người dễ bị tổn thương bởi những đặc điểm về tâm, sinh lý ” Với những nhận định như trên, có thể hiểu, "người cao tuổi là nhóm người

lớn tuổi nhất trong xã hội, thường từ 60 tuổi trở lên,có nhiều kinh nghiệm sống

và là nhóm người dễ bị tổn thương bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý."

1.1.2 Các căn cứ xác định quyền của người cao tuổi

Trang 13

Người cao tuổi là một bộ phận trong quy mô dân số của mỗi quốc gia cũng như toàn cầu Do đó, ngoài việc được hưởng những quyền cơ bản của con người, người cao tuổi còn được hưởng những quyền mang tính chất đặc thù dựa vào các căn cứ về độ tuổi, vị trí vai trò của họ trong gia đình và xã hội và đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng của pháp luật về quyền con người

1.1.2.1 Người cao tuổi là thành viên của gia đình và xã hội có mọi quyền

tự do, bình đẳng

Quyền của người cao tuổi là quyền con người của nhóm người có độ tuổi cao theo chuẩn mực chung của xã hội Do đó, theo nguyên tắc bình đẳng, người cao tuổi có đầy đủ tất cả các quyền con người, kể cả trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Xuất phát từ thực tiễn xã hội, các văn kiện của các Ủy ban Công ước Liên

hợp quốc nhận định rằng, “người cao tuổi là một nhóm dân số đa dạng và không

đồng nhất, tình trạng của họ phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, vào các yếu

tố nhân học, môi trường, văn hóa và công ăn việc làm; ở cấp độ cá nhân thì phụ thuộc vào tình trạng gia đình, trình độ giáo dục, môi trường sống và nghề nghiệp, việc vẫn còn tham gia lao động hay đã nghỉ hưu."

Trong số những người cao tuổi, có những người còn sức khỏe và có tình trạng tài chính tốt, trong khi nhiều người không có đủ các nguồn hỗ trợ, ngay cả

ở những nước phát triển, thậm chí một số người rơi vào nhóm dễ bị tổn thương,

bị cô lập hóa và ít được bảo vệ nhất Trong thời kỳ diễn ra những suy thoái và

thay đổi về cơ chế kinh tế, người cao tuổi đặc biệt bị rủi ro”[1] Chính vì vậy,

việc bảo đảm, bảo vệ các quyền của người cao tuổi là trách nhiệm của các quốc gia thành viên các Công ước quốc tế về quyền con người

Tuổi thọ của dân số thế giới đang ngày càng gia tăng đáng kể Tổng số người có tuổi thọ từ 60 trở lên tăng từ 400 triệu vào năm 1982 lên 600 triệu vào năm 2001 và dự đoán sẽ ở mức 1,2 tỷ vào năm 2025 Những con số đó minh

Trang 14

chứng cho những thành quả phát triển, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề về cơ cấu kinh tế, xã hội, gây ra những hậu quả lâu dài về xã hội cả ở cấp độ toàn cầu

và quốc gia[2]

1.1.2.2 Các yếu tố về tuổi tác, sức khỏe, yếu tố tâm sinh lý của người cao tuổi

So với các lứa tuổi khác thì người cao tuổi có các yếu tố về tuổi tác, sức khỏe, tâm sinh lý đặc thù Cụ thể:

Thứ nhất, về thể lý Cái yếu ớt của người già được ví tương tự với sự yếu

ớt của một em bé Tuy nhiên, ở lứa tuổi em bé, những yếu ớt sẽ dần dần được củng cố và phát triển theo thời gian Còn ở người cao tuổi, sự yếu ớt đó lại từ từ

đi xuống cho tới khi họ không làm được gì nữa Từ đó sẽ dẫn tới những căn bệnh hiểm nghèo do thân thể, tứ chi và nội tạng sẽ như một chiếc máy rệu rạo, hoạt động rất giới hạn và trí thông minh cũng bị hạn chế

Thứ hai, về tâm sinh lý Người cao tuổi thường sống với ký ức và hoài

niệm của mình với tuổi đời chồng chất, trải quan bao thăng trầm thì tuổi già là thời gian mà người cao tuổi sống lại với những kỷ niệm ấy trong sinh hoạt hàng ngày của họ Đây cũng là nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn giữa quá khứ và hiện tại Những gì họ mới nghe, mới nói vài phút đã quên nhưng những chuyện

đã xảy ra trong quá khứ thì họ nhớ rất kỹ Điều này cũng tạo nên mặc cảm tự ti

và tự tôn ở người cao tuổi Một mặt họ cho rằng mình có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết nhưng mặt khác, họ lại thu gọn mình trong cuộc sống hiện tại và cho rằng mình vô dụng… Bởi vậy, họ luôn thích đóng góp ý kiến, truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu và bên cạnh đó, họ cũng rất muốn được "chiều chuộng", được "cung phụng", muốn trở thành một người quan trọng trong gia đình, được mọi người chú ý…

Với những sự khác biệt về cả thể chất lẫn tâm sinh lý kể trên của người cao tuổi có thể thấy, người cao tuổi là lớp người được coi là "gần đất xa trời", thời gian họ sống cùng con cháu, cùng xã hội không còn nhiều Hơn nữa, với

Trang 15

đặc thù người cao tuổi Việt Nam là họ đã phải trải qua rất nhiều khó khăn trong quá khứ do chiến tranh, loạn lạc… thì họ xứng đáng được hưởng các quyền ưu tiên riêng biệt

1.1.2.3 Vị trí, vai trò của người cao tuổi trong gia đình và xã hội

- Người cao tuổi là thành viên đáng kính của xã hội Việt Nam

Ở Việt Nam, người cao tuổi là lớp người có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội Đây cũng là thế hệ đã trải qua các cuộc kháng chiến trường

kỳ chống quân xâm lược, mang lại độc lập, tự do cho tổ quốc Lịch sử Việt Nam

từ xa xưa đến nay, từ cấp nhà nước đến cấp làng, xã đều ghi nhận, quan tâm, coi trọng người cao tuổi Đó cũng là một trong những truyền thống tốt đẹp của

người Việt Nam “kính già, yêu trẻ” Người cao tuổi là lớp người được tôn kính

nhất trong xã hội, là tầng lớp chứa cả một kho tàng những kinh nghiệm sống,

“cây cao bóng cả” luôn sẵn sàng tỏa bóng mát cho các thế hệ sau

Xét ở xã hội phương Đông như Việt Nam, người già căn bản đều nương tựa vào gia đình đặc biệt là ở giai đoạn cuối đời Đây cũng được coi là một trong những điểm khác biệt của xã hội phương Đông và phương Tây Do đó đã hình thành một truyền thống vô cùng tốt đẹp của người dân Việt Nam đó là hiếu thảo, kính lễ đối với ông bà, cha mẹ Cũng từ đó mà gia đình trở thành đơn vị gốc của

xã hội và sự chung sống giữa người già và người trẻ dưới cùng một mái nhà thường rất hài hòa, ổn định Sống dưới mái ấm đại gia đình, người cao tuổi nhận được sự chăm sóc chu đáo cả về vật chất lẫn tinh thần Điều này đã góp phần làm tăng cường sức khỏe, sự dẻo dai của các cụ

- Người cao tuổi có vị trí, vai trò vô cùng to lớn đối với toàn xã hội, đặc

biệt là trong mỗi gia đình cụ thể Bởi gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình

có tốt thì xã hội mới tốt Do đó, người cao tuổi trong gia đình giữ một vai trò hết sức quan trọng tạo nên một văn hóa gia đình tốt đẹp

Trang 16

Có thể nói “văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội”[57] Những dấu ấn để lại trong đời sống gia đình ở các cộng đồng, quốc gia dân tộc không giống nhau tạo nên tính đa dạng của văn hóa gia đình Vì vậy, nhiều quốc gia có trình độ văn minh như nhau hoặc trình độ phát triển như nhau nhưng văn hóa gia đình lại khác nhau

Văn hóa gia đình là những sáng tạo cụ thể, thể hiện thông qua đời sống sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của các thành viên gia đình; thông qua cách thức lao động sản xuất, sinh con đẻ cái, chăm sóc ông bà, cha mẹ, con cái; cách thức ăn, mặc, ở, đi lại; cách thờ cúng tổ tiên, các vị thần linh Văn hóa gia đình thể hiện qua đạo đức, quy tắc xử sự, cách giáo dục trong gia đình, thể hiện rõ đạo lý làm người của một dân tộc, đồng thời thể hiện mối quan hệ ứng xử có tính nhân văn giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên

và con người với toàn xã hội

Văn hóa gia đình có hai chức năng cơ bản đó là: chức năng truyền tải các giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác và chức năng hình thành các giá trị văn hóa mới Và người cao tuổi trong gia đình giữ một vai trò chính, cốt yếu trong việc thực hiện, duy trì và phát huy hai chức năng này [57] Đời sống gia đình Việt Nam vẫn còn giữ được nếp sống cổ truyền đó là, người già trong gia đình sẽ được con cháu nể trọng, trở thành những nhân vật tiêu biểu cho trật tự và tình đoàn kết của các thành phần gia đình Các cụ giữ vai trò xúc tác cho các hoạt động của con cháu

Như vậy, với các căn cứ nêu trên có thể thấy, người cao tuổi có những quyền lợi bình đẳng so với mọi tầng lớp, lứa tuổi khác Bên cạnh đó, họ cũng có những quyền ưu tiên đặc thù Hơn nữa, người cao tuổi cũng có những quyền riêng biệt trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình cần được Nhà nước ghi nhận và bảo hộ

Trang 17

1.1.3 Vị trí, vai trò của người cao tuổi trong gia đình Việt Nam

Trong gia đình, người cao tuổi chính là ông, bà, cha, mẹ, hoặc nếu gia đình

tứ đại đồng đường thì họ là các cụ cùng với tổng thể các thành viên con, cháu, chắt của gia đình Nếp sống, văn hóa gia đình đang tồn tại là nhờ vào công sức không nhỏ của lớp người cao tuổi Trước hết, người cao tuổi là người có vai trò dẫn dắt con, cháu thực hiện đầy đủ các chức năng cơ bản của văn hóa gia đình

Thứ nhất, hoạt động văn hóa, giáo dục của người cao tuổi Hoạt động giáo

dục bao gồm ba vấn đề cơ bản: giáo dục đạo đức – nhân văn; giáo dục trí thức

và giáo dục hướng nghiệp – dạy nghề Tất cả các hoạt động này người cao tuổi đều giữ vai trò rất lớn Từ khi bắt đầu làm ông, làm bà, làm cha, làm mẹ, những người lớn trong gia đình đã dạy con cháu của mình những điều tưởng chừng như đơn giản nhất đó là việc “học ăn, học nói, học gói, học mở” Học các cách để ứng xử với mọi người trong gia đình và với toàn xã hội theo những phong tục, tập quán mang nét riêng của mỗi gia đình, hình thành nên “gia phong”, nếp sống của gia đình

Mặt khác, người cao tuổi cũng là lớp người mang trong mình cả một kho tàng các kinh nghiệm sống luôn sẵn lòng truyền đạt lại cho thế hệ sau Điều này góp phần nâng cao đạo đức, lối sống lành mạnh cũng như những hiểu biết, tri thức quý báu cho các thành viên trẻ trong gia đình Chỉ trong việc giáo dục nghề

- hướng nghiệp, lớp người cao tuổi là các nghệ nhân tại các làng nghề đã không ngừng truyền lại cho con cháu kế thừa những kinh nghiệm quý báu, những tinh hoa trong làm nghề của cha ông ta kết hợp với những công nghệ tiên tiến, hiện đại đã góp phần giữ vững được làng nghề quê hương cũng như giữ được những

“đường nét”, “dấu ấn” của ông cha để lại

Ngoài ra, thông qua các loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể như những làn điệu dân ca, lời ru, tiếng hát, tiếng kèn, tiếng chiêng, tiếng sáo cũng được người cao tuổi một mặt hết lòng truyền đạt lại cho con cháu, một mặt cũng hết

Trang 18

sức sáng tạo thêm những làn điệu mới dễ đi vào lòng người để những bản sắc đó không thể mai một theo sự đổi thay của năm tháng Điều này là rất đáng ghi nhận Văn hóa gia đình còn chứa đựng cách ứng xử của các thành viên trong gia đình Người cao tuổi trở thành trụ cột hướng dẫn, uốn nắn con cháu hoạt động, học tập theo nề nếp đã được hình thành

Thứ hai, hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh cũng mang sắc thái văn

hóa riêng của mỗi gia đình Điều này một phần là do sức sáng tạo riêng của mỗi gia đình và phần nhiều là do được ông cha truyền dạy lại qua các thế hệ Hàng hóa xuất phát từ các gia đình khác nhau thì cũng mang sắc thái khác nhau cả về mặt hàng, hình dáng, giá cả Ông cha ta thường có câu “khách hàng là thượng đế”, “phi thương bất phú” Áp dụng những lời dạy này đến ngày hôm nay vẫn đúng Sự phát triển của kinh tế gia đình đó là nhờ vào kinh nghiệm được cha ông truyền dạy kết hợp với sự vận dụng công nghệ tiên tiến tạo nên những sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng qua các thời đại

Thứ ba, trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cũng mang những nét đặc thù

của từng gia đình Đó là việc sử dụng các bài thuốc dân gian để chữa bệnh, phòng bệnh, để chăm sóc người ốm, người già, trẻ nhỏ Điều này là do có sự truyền dạy của lớp người cao tuổi trong gia đình tạo nên những giá trị quý báu cho nhân loại

Như vậy, người cao tuổi có vai trò rất lớn trong việc hình thành những giá trị văn hóa gia đình, là người chọn lọc kế thừa, phát triển và cũng là người truyền lại những giá trị tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau Người cao tuổi được coi là hạt nhân, là lực hấp dẫn giữ vững cấu trúc gia đình

1.2 Chính sách và pháp luật về quyền của người cao tuổi

1.2.1 Nội hàm quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình

Trang 19

Quyền của người cao tuổi là quyền con người, quyền công dân, bình đẳng với mọi chủ thể khác trong xã hội Xét dưới góc độ quyền con người, người cao tuổi có đầy đủ các quyền tự do về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo các Văn kiện quốc tế về quyền con người và được thể hiện khá đầy đủ trong Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam Do tính chất của quyền con người là một chỉnh thể thống nhất, có mối liên hệ hữu cơ, không phân chia, nên việc nghiên cứu quyền của người cao tuổi trong phạm vi đề tài, mặc dù chỉ tập trung vào một

số loại quyền chủ yếu nhất trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình cũng luôn được đặt trong mối liên hệ hữu cơ đó

Có thể hiểu quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình là quyền của người cao tuổi nhấn mạnh đến những đặc thù của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình Các quyền này có phạm vi hẹp hơn bởi được

đề cập trực tiếp trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình Để hiểu rõ về các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trước hết cần tìm hiểu về

“quyền của người cao tuổi”

Dưới góc độ ngôn ngữ học thì “quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội

công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”[27, tr 786]

Dưới góc độ pháp lý, “quyền là những việc mà một người được làm mà

không bị ai ngăn cản, hạn chế Phân loại quyền gồm có: 1 Quyền đương nhiên như quyền làm người, quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc; 2 Quyền do luật pháp cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm (quyền pháp lý); 3 Quyền do điều lệ của tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng cho phép hội viên được làm; 4 Quyền do người khác uỷ quyềnNhư

vậy, từ những phân tích trên có thể hiểu, “quyền của người cao tuổi là khả năng

xử sự, những lợi ích mà người cao tuổi được hưởng, những việc mà người cao tuổi được làm, pháp luật không ngăn cấm và bảo hộ.”[26, tr 395-396]

Trang 20

Từ đó cũng có thể thấy “quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân

gia đình là những lợi ích, những việc mà người cao tuổi được làm, được hưởng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Các thành viên trong gia đình có người cao tuổi có nghĩa vụ thực hiện, tôn trọng các quyền đó của người cao tuổi và quyền này được Nhà nước bảo hộ.”

Nói đến các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình là nói tới mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình mà cụ thể là mối quan hệ biện chứng giữa các thành viên trong gia đình có người cao tuổi với người cao tuổi đó Và trong trường hợp này, các thành viên trong gia đình có người cao tuổi chính là chủ thể có nghĩa vụ thực hiện các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân gia đình Do đó có thể thấy, nội dung quyền sẽ tập trung chủ

yếu ở các nhóm quyền: quyền kết hôn, ly hôn, quyền về sở hữu tài sản, thừa kế

tài sản, quyền được chăm sóc, phụng dưỡng, được cấp dưỡng; quyền nhận nuôi con nuôi… Theo đó có thể thấy, đây được coi là những quyền quan trọng nhất

của người cao tuổi nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình nói riêng Bởi việc sống cùng con cháu, được con cháu tôn trọng, chăm sóc, phụng dưỡng chu đáo là niềm mong mỏi duy nhất đối với người cao tuổi

1.2.2 Chính sách và pháp luật quốc tế liên quan đến quyền của người cao tuổi

1.2.2.1 Các chính sách quốc tế về người cao tuổi

Năm 1982 Hội nghị thế giới về người cao tuổi đã thông qua Kế hoạch hành động quốc tế Viên về người cao tuổi Đây là tài liệu quan trọng hướng dẫn về các biện pháp mà các Quốc gia thành viên cần áp dụng để bảo vệ quyền của người cao tuổi trong bối cảnh của các công ước quốc tế về quyền con người Năm 1991, Đại hội đồng đã thông qua các nguyên tắc của Liên hợp quốc về người cao tuổi Nguyên tắc này được chia làm năm phần, có liên quan chặt chẽ

với các quyền được ghi nhận trong Công ước Phần thứ nhất, “Độc lập” bao

Trang 21

gồm được tiếp cận đầy đủ lương thực, nước uống, nhà ở, quần áo và chăm sóc y

tế; Phần thứ hai, “Tham gia" nghĩa là người cao tuổi cần được tham dự tích cực

vào quá trình hình thành và thực hiện những chính sách có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và chia sẻ kiến thức và kỹ năng của họ với thế hệ trẻ cả trong gia

đình và ngoài xã hội; Phần thứ ba có tiêu đề “Chăm sóc" chỉ ra rằng, người cao

tuổi phải được hưởng sự chăm sóc của gia đình, chăm sóc y tế, hưởng các quyền

và tự do cơ bản của con người, được hưởng các dịch vụ chăm sóc hay điều trị

Thứ tư, sự chăm sóc người cao tuổi cần dựa trên nguyên tắc “tự thực hiện”,

nghĩa là để người cao tuổi theo đuổi những cơ hội được phát triển đầy đủ khả năng của mình thông qua việc tiếp cận với các nguồn lực về giáo dục, văn hóa,

tinh thần và giải trí trong xã hội; Thứ năm, phần có tiêu đề “Nhân phẩm” chỉ ra

rằng người cao tuổi cần được sống trong nhân phẩm và an ninh, không bị lạm dụng, bóc lột về thể chất và tinh thần, được đối xử công bằng bất kể tuổi tác, giới tính, chủng tộc, sắc tộc, sự khuyết tật, tình trạng tài chính hay bất cứ một tình trạng nào khác, và phải đánh giá một cách độc lập những đóng góp kinh tế của họ

Năm 1992, đại hội đồng đã thông qua tám mục tiêu toàn cầu về người cao tuổi cho năm 2001; đồng thời thông qua Tuyên bố về người cao tuổi trong đó có nhiều nội dung quan trọng như: kêu gọi sự hỗ trợ sáng kiến quốc gia về người cao tuổi, nhấn mạnh cần thiết công nhận những đóng góp to lớn của phụ nữ cao tuổi, gia đình được hỗ trợ trong việc chăm sóc và tất cả các thành viên gia đình được khuyến khích hợp tác để chăm sóc người cao tuổi Năm 1999 được công nhận là năm quốc tế của người cao tuổi nhằm cảnh báo rằng dân số của nhân loại “ bước vào thời kỳ cao tuổi”

1.2.2.2 Các Điều ước quốc tế về quyền của người cao tuổi

Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc (năm 1948) và các công ước về quyền con người (năm 1966) đều khẳng định nguyên tắc bình đẳng của tất cả

Trang 22

các thành viên trong xã hội Theo đó, mọi người đều có quyền không bị phân

biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật

Các Công ước quốc tế đều không đưa ra quy định cụ thể nào về quyền của

người cao tuổi Tuy nhiên, người cao tuổi cũng là một thành phần của xã hội, quyền và nghĩa vụ của họ được pháp luật ghi nhận Do đó, có thể nói rằng, người cao tuổi có đầy đủ tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa

và xã hội Trên cơ sở đó, xác định quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn

nhân, gia đình sẽ bao gồm các quyền nhân thân và tài sản như: quyền kết hôn, ly

hôn; quyền về sở hữu tài sản, thừa kế tài sản; quyền được con cháu kính trọng, quyền được chăm sóc, được cấp dưỡng; quyền nhận nuôi con nuôi…

1.2.3 Chính sách và pháp luật Việt Nam về quyền của người cao tuổi

Việt Nam là Quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người Các văn bản pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp đã ghi nhận đầy

đủ các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Theo pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là Luật người cao tuổi năm 2010 thì, người cao tuổi được hưởng các quyền sau:

“a) Được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc

sức khỏe;

b) Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; c) Được ưu tiên sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi;

đ) Được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò người cao tuổi;

Trang 23

h) Được tham gia Hội người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều

lệ Hội;

i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.”[20, khoản 1, Điều 3]

Từ những quy định của Luật Người cao tuổi, có thể thấy rằng, sự nhấn mạnh các quyền này chủ yếu là trên cơ sở các khuyến nghị của Ủy ban Liên hợp quốc về các biện pháp thúc đẩy thực thi Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa,

xã hội Còn các quyền trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình lại là nội dung được ghi nhận trong Công ước về các quyền dân sự và chính trị

Từ những quyền nêu trên có thể hiểu, nội dung quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình có phần bó hẹp hơn so với nội dung các quyền của người cao tuổi nói chung bởi có sự khác nhau về đối tượng có nghĩa vụ thực hiện quyền của người cao tuổi cũng như phạm vi được hưởng quyền Việc chỉ ra được các quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình sẽ tạo cơ

sở cho việc phân tích thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện

có hiệu quả các quyền đó trên thực tế

1.3 Quá trình ghi nhận của các chính sách, pháp luật Việt Nam về quyền của người cao tuổi

1.3.1 Truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ Bắt nguồn từ nền văn hóa phương đông nói chung và truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng,

Trang 24

người cao tuổi luôn được gia đình cũng như toàn xã hội tôn kính Nhìn lại lịch

sử Việt Nam, trải qua các triều đại, Nhà nước luôn có các chính sách ưu đãi, bảo

vệ các quyền lợi cơ bản của người cao tuổi

Điều này phải kể tới đầu tiên đó là thời kỳ Lão quyền Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau với những thăng trầm từ thời công xã thị tộc cho đến khi chuyển sang công xã nông thôn, Lão quyền vẫn tiếp tục tồn tại và được duy trì đến nửa đầu thế lỷ XX, biểu hiện ở vị trí vai trò của già làng, người phụ nữ ở Tây Nguyên, vùng cao hay các bô lão ở đồng bằng luôn là những người được tôn kính nhất trong cộng đồng Đến thời kỳ phong kiến từ thời Trần, Lê và tiếp sau đó, cùng với Thần quyền, Quân quyền và Tộc quyền, Lão quyền có phần suy yếu hơn nhưng vẫn tồn tại song song mặc dù không được ghi chép một cách

rõ ràng như trong kho tàng văn hóa dân gian, tuy nhiên vị trí, vai trò của người cao tuổi vẫn được đề cao

Đến năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, vua Trần Thánh Tông đã cho họp các vị bô lão trong Hội nghị Diên Hồng để hỏi kế đánh giặc Và với quyết tâm của các vị bô lão có mặt tại Hội nghị là quyết định giết giặc cứu nước thì đã càng làm cho vai trò của người cao tuổi được nâng cao trong lịch sử Việt Nam

Đến thời Lê đã ghi rõ luật Trọng lão trong từng các thôn làng Theo đó, hương thôn có người già phải tôn kính, kính trọng, nếu ai không kính nể, dám tự ngồi ăn cùng một mâm, một chiếu thì lấy tội khinh nhờn mà luận tội, phạt 30 trượng Ngoài ra còn có chính sách ân xá cho người cao tuổi khi mắc tội Đối với việc làng, việc xã thì người cao tuổi cũng luôn là lớp người được Nhà nước, làng xã coi trọng, giữ các trọng trách quan trọng trong cộng đồng như trưởng thôn, trưởng xã

Như vậy, những chính sách của Nhà nước Việt Nam, những hương ước, lệ làng trong lịch sử nước ta đã tôn vinh, đề cao vai trò của người cao tuổi Đây có

Trang 25

thể coi là tiền đề quan trong để Nhà nước ta có các chính sách mới nhằm chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cũng như phát huy hơn nữa trí tuệ, tài năng của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng đất nước

1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm tới lớp người cao tuổi trong xã hội cũng như khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của lớp người cao tuổi Người đã từng viết “Trách nhiệm của các vị phụ lão chúng ta đối với nhiệm

vụ đất nước thật là trọng đại Đất nước hưng thịnh do phụ lão xây dựng, đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức Nước mất phụ lão cứu Nước suy sụp phụ lão phù trì Nước nhà hưng, suy, tồn, vong, phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề”[55]

Ngay những ngày đầu thành lập nước, thù trong giặc ngoài, Bác Hồ đã quan tâm, đánh giá cao và phát huy vai trò của người cao tuổi Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, Người đã từng nói “Càng già càng anh hùng”,

“Tuổi cao chí khí càng cao, chống Mỹ - cứu nước già nào kém ai”… Người luôn đánh giá cao vai trò của các tầng lớp nhân dân trong kiến thiết và bảo vệ nền độc lập nước nhà, trong đó có vai trò tiềm năng của lớp người cao tuổi Theo Người,

để lớp người cao niên trong xã hội phát huy được vai trò của mình thì việc tiên quyết là phải đưa người cao tuổi vào sinh hoạt trong một tổ chức nhất định đó là

“Phụ lão cứu quốc hội” Qua đó Người cũng nêu rõ, đối với người cao tuổi, tuy sức khỏe không bằng lúc còn trẻ nhưng có những mặt mạnh cơ bản đó là: có lòng yêu nước nồng nàn, tuổi cao chí khí càng cao, tích lũy được vốn kiến thức, kinh nghiệm phong phí, có sự tín nhiệm cao

Có thể thấy, cốt lõi của tư tưởng tiến bộ, toàn diện của Hồ Chí Minh về

người cao tuổi đó là sự kính trọng và niềm tin sâu sắc “người cao tuổi là của

quý vô giá của dân tộc, của đất nước.” Tư tưởng này được thể hiện xuyên suốt

qua cuộc đời của Người Dù bận trăm công ngàn việc nhưng Người không quên

Trang 26

dành những tình cảm sâu sắc nhất cho lớp người cao tuổi Qua đó, Người cũng không quên động viên người cao tuổi phải tự mình học tập thường xuyên, nâng cao dân trí, tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước, trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ sau noi theo,

để “chẳng những làm kiểu mẫu, siêng năng cho con cháu mà còn tỏ rõ ý chí

hùng mạnh của dân tộc Việt Nam”

Trong giai đoạn xây dựng đất nước Người cũng đã nói:

“Tuổi già nhưng chí không già

Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”[55]

Kế tục truyền thống của Hội Phụ lão Cứu quốc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập năm 1941, những thắng lợi của cách mạng nước nhà luôn gắn liền với những hoạt động, đóng góp của người cao tuổi Việt Nam Qua các thời

kỳ đấu tranh cách mạng, người cao tuổi đã thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cách mạng cao cả, ý chí chiến đấu quật cường, đóng góp công sức to lớn trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ, xây dựng quê hương, đất nước, sẵn sàng

hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do và chủ nghĩa xã hội

1.3.3 Chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quyền của người cao tuổi qua các thời kỳ lịch sử

1.3.3.1 Sự ghi nhận của Hiến pháp Việt Nam về quyền của người cao tuổi

Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946

Trang 27

“Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật,

hoặc mất sức lao động ”.[11, Điều 32]

Đến Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 quy định:

“ Người già và người tàn tật không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ ”[12, Điều 74]

Điều 64 Hiến pháp năm 1992 quy định “ Con cháu có bổn phận kính trọng

và chăm sóc ông bà, cha mẹ”[13] Điều 67 quy định “ Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”[13]

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có hiệu lực ngày 28/11/2013 cũng dành quy định tại khoản 3 – Điều 37 nói về quyền của

người cao tuổi: “3 Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng,

chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”[14]

Như vậy, sự ghi nhận của Hiến pháp về quyền của người cao tuổi có thể nói

là sự ghi nhận quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất đối với người cao tuổi Việt Nam

vì Hiến pháp được coi là đạo luật tối cao, có giá trị pháp lý cao nhất, là luật của luật Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 của nước ta là sự kế thừa những quy định về người cao tuổi của các bản Hiến pháp trước Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 cũng có sự phát triển khi dành riêng một điều khoản nói về quyền của người cao tuổi và vai trò của người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây cũng có thể coi là một trong những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 Qua đó, quyền cũng như vị trí, vai trò của người cao tuổi Việt Nam được ghi nhận một cách cụ thể và rõ ràng hơn, góp phần ổn định quan trọng trong giai đoạn già hóa dân số ở nước ta hiện nay

1.3.3.2 Sự ghi nhận về quyền của người cao tuổi thông qua các chính sách của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước

Trang 28

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng các quyền cũng như công tác chăm sóc người cao tuổi qua các thời kỳ lịch sử Điều đó được thể hiện:

Ngày 27/9/1995, Ban Bí thư trung ương Đảng Khoá VII đã ban hành Chỉ

thị số 59-CT/TW về chăm sóc người cao tuổi, trong đó nhấn mạnh: “Người

cao tuổi có công sinh thành, nuôi dạy con cháu giữ gìn và phát triển giống nòi, giáo dục các thế hệ thanh niên Việt Nam về nhân cách, phẩm chất và lòng yêu nước; một bộ phận đông đảo người cao tuổi Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.” [33]

Kế tiếp truyền thống tốt đẹp đó, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Người cao tuổi năm 2010 là sự ghi nhận đầy đủ nhất các quyền của người cao tuổi cũng như trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cá nhân, tổ

chức trong xã hội đối với người cao tuổi Luật gồm 6 Chương với 31 Điều “quy

định về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; Hội người cao tuổi Việt Nam” [20, Điều 1] Sự ra đời của Luật Người cao

tuổi là sự ghi nhận đầy đủ nhất các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người cao tuổi Việt Nam, đồng thời là trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội trong việc bảo đảm cho các quyền lợi của người cao tuổi được hưởng

Bên cạnh đó, không chỉ có Luật Người cao tuổi quy định về chăm sóc và

phát huy vai trò người cao tuổi, Đảng và Nhà nước ta còn ban hành Luật Bảo vệ

sức khoẻ nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Lao động, Bộ Luật Dân

sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình… đều có các quy định

nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi Cụ thể:

Điều 41, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân quy định “Người cao tuổi, thương

binh, bệnh binh và người tàn tật được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của

Trang 29

mình” “Bộ Y tế, Tổng cục Thể dục Thể thao hướng dẫn phương pháp rèn luyện

thân thể, nghỉ ngơi và giải trí để phòng, chống các bệnh người già” Luật Hôn nhân và Gia đình quy định con cái có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà không còn con được quy định tại các chương: Chương IV: Quan hệ giữa cha mẹ và con; Chương V: Quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa các thành viên trong gia

đình, Chương VI: Cấp dưỡng… Luật phòng chống bạo lực gia đình quy định: "3

Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện

hoàn cảnh của họ…; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người

cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ."

Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, các Chiến lược, các Chương trình hành động quốc gia liên quan đến người cao tuổi như: Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có người cao tuổi; Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2005-2010… Chính phủ Việt Nam cũng cam kết thực hiện Chương trình hành động quốc tế Madrid về người cao tuổi

Ngoài ra, nhằm quan tâm, chăm sóc và phát huy hơn nữa vai trò của người cao tuổi đáp ứng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ năm

2004 Việt Nam đã thành lập Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam Đây

là tổ chức liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, phối hợp các hoạt động phục vụ công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, trong đó Chủ tịch Ủy ban là một Phó Thủ tướng

Cũng nhằm phát huy truyền thống vẻ vang của các lớp người cao tuổi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 26/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 772-QĐ/TTg, lấy ngày 06/06 hàng năm

là “Ngày truyền thống Người Cao tuổi Việt Nam” Điều 6 của Luật Người cao tuổi Việt Nam cũng quy định: “Ngày 06 tháng 6 hằng năm là ngày Người cao

Trang 30

ra và trưởng thành trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, ít có điều kiện bảo

vệ sức khỏe và tích lũy vật chất cho tuổi già Do đó, trong thời gian tới, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cần chủ trì phối hợp với các ngành, đoàn thể liên quan, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về người cao tuổi Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn xã hội chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi” Tăng ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia dân số - kế hoạch hóa gia đình, giữ vững, ổn định quy mô dân số, thích ứng với “già hóa dân số” và tiến tới “già hóa chủ động”

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN, GIA

ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Người cao tuổi nước ta là lớp người cây cao bóng cả có vai trò quan trọng trong việc kết nối các giá trị truyền thống về đạo đức, lịch sử và văn hóa giữa các thế hệ Đây cũng là lớp người trải qua các cuộc kháng chiến gian khổ, có công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, là lớp người đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ cũng như sự nghiệp đổi mới, phát triển quê hương, đất nước

Ngày nay, trong đời sống xã hội hiện đại thì vai trò của người cao tuổi càng được thể hiện một cách rõ nét Người cao tuổi là một trong những lực lượng nòng cốt ở cơ sở và trong mỗi gia đình Là lớp người nêu gương sáng, kiên trì động viên con cháu chấp hành các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Hơn ai hết, lớp người cao tuổi hiểu rõ những giá trị đạo đức, lối sống và niềm hạnh phúc được sống trong một xã hội phồn vinh, yên ổn Do đó, nâng cao việc thực hiện các quyền của người cao tuổi nói chung và các quyền trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nói riêng là nghĩa vụ và trách nhiệm không chỉ đối với gia đình có người cao tuổi

mà còn đối với toàn xã hội

Như đã trình bày trong chương 1, luận văn đã đưa ra những quyền cụ thể

mà người cao tuổi được hưởng trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình Đó là các

quyền: quyền được kết hôn, ly hôn; quyền được sở hữu tài sản, thừa kế tài sản;

quyền được chăm sóc, phụng dưỡng, cấp dưỡng; quyền nhận nuôi con nuôi…

Đây được coi là những quyền cụ thể mà người cao tuổi được hưởng trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình rút ra từ những quyền chung Do đó, những thành tựu cũng như những điểm hạn chế nêu trong chương 2 của luận văn sẽ tập trung

Trang 32

2.1.1 Thành tựu trong việc thực hiện quyền được kết hôn, ly hôn của người cao tuổi

Có thể nói nếu như ở xã hội xưa việc người cao tuổi kết hôn, ly hôn có lẽ là không bao giờ xảy ra, có thể trở thành một trong những điều cấm kỵ thì ở xã hội ngày nay, con người cũng đã có những nhận thức phóng khoáng hơn về vấn đề này Đặc biệt là pháp luật nước ta cũng có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này khi không có quy định về hạn chế độ tuổi được kết hôn cũng như có những chính

sách về xử phạt vi phạm hành chính đối với những người có hành vi "cản trở

người cao tuổi kết hôn tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác hoặc có hành vi hành hạ, đối xử tàn ác, tồi tệ gây đau khổ về thể xác, tinh thần nhằm mục đích cưỡng ép, cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ bị phạt tiền từ 1 đến 3 triệu đồng…"[53]

Đây được coi là những căn cứ pháp lý giúp quyền được kết hôn cũng như quyền được ly hôn tự nguyện của người cao tuổi được bảo đảm

Kết hôn ở người cao tuổi có thể là kết hôn lần đầu và cũng có thể là tái hôn

Trang 33

Việc kết hôn này mang lại nhiều lợi ích cho người cao tuổi như được thoải mái, vui vẻ đặc biệt là được giải tỏa về mặt tâm lý, tinh thần Bởi có một nỗi sợ thường trực khi về già đó là sự cô đơn, nhất là đối với những người già độc thân

Họ thường xuyên rơi vào tình trạng trầm cảm, chán nản, buồn phiền vì không có

ai chia sẻ tâm tư, tình cảm Do vậy, khi kết hôn cũng có nghĩa là họ có người để chia sẻ tâm tư, tình cảm và có người chăm sóc mình mỗi khi trái gió trở trời… Việc này không chỉ làm tăng chất lượng sống của người cao tuổi mà còn kéo theo nhiều lợi ích khác cho con cháu Chẳng hạn như đối với người tái hôn thì con cháu đỡ phải vất vả khi ông bà có đôi, ông bà vui tất nhiên cuộc sống gia đình sẽ thoải mái, dễ chịu… Thực tế có những người già hay đau yếu nhưng khi được thoải mái về tinh thần, có chỗ nương tựa về tình cảm sẽ xuất hiện hiện tượng "bệnh tự khỏi" Đặc biệt là trong vấn đề tình dục của người già Cần quan niệm đây không phải là trò lố, là cần ngăn cấm mà đó là những cảm xúc giúp họ thăng hoa trong cuộc sống

Ngoài ra, việc kết hôn của người cao tuổi còn giúp họ cùng chăm sóc lẫn nhau Ông bà ta thường có câu, "con chăm cha không bằng bà chăm ông" đã chứng minh việc người già lấy nhau là tạo điều kiện cho hai bên cùng chăm sóc nhau dưới danh nghĩa vợ chồng sẽ quý hơn rất nhiều so với các mối quan hệ khác Việc phản đối người già kết hôn vì lý do vật chất là quan niệm ích kỷ, sai lầm khiến chất lượng sống của người già bị giảm sút Theo nghiên cứu khoa học[…], đàn ông khi về già thường rơi vào trầm cảm, stress hơn phụ nữ Đàn ông thời trẻ thường chăm về việc kiếm tiền, còn phụ nữ dù có hướng ngoại những vẫn dành thời gian chăm sóc gia đình mình nhiều hơn Do đó, khi gặp hoàn cảnh cô đơn, họ ít bị những cú sốc tâm lý hơn đàn ông Đàn ông khi cô đơn thường sống dựa vào phụ nữ, nhờ phụ nữ chăm lo cuộc sống cũng như sức khỏe cho mình Bởi vậy, những người trẻ không nên cản trở, mà nên có thái độ gần gũi, cảm thông với mong muốn của người lớn tuổi khi họ có nhu cầu muốn đến với nhau Và ngày nay, xã hội cũng như những người trong gia đình có người

Trang 34

cả mọi việc "Trong quá khứ, hôn nhân là chuyện bền vững mãi mãi Trách

nhiệm duy trì hôn nhân đổ lên người phụ nữ Người chồng không hạnh phúc là

do lỗi của người vợ Bên cạnh đó, tên tuổi của người phụ nữ gắn liền với người chồng " [49] Có thể người phụ nữ đã cố duy trì hôn nhân vì muốn níu giữ hạnh

phúc gia đình, vì con cái nhưng khi các con đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, họ lại muốn giải thoát cho mình Điều này đã, đang và sẽ được con cháu

Khoản 2, Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định "Quyền sở hữu tư nhân và

quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ"

Từ đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định vợ chồng có quyền sở hữu đối với tài sản chung cũng như tài sản riêng, và có quyền thừa kế tài sản của nhau

Mặt khác, Bộ luật Dân sự nước ta cũng quy định về quyền sở hữu tài sản của cá nhân cũng như cha mẹ là đối tượng thuộc diện và hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 164, Điều 676 và khoản 1 Điều 669 Bộ luật Dân sự 2005

Trang 35

2.1.3 Thành tựu trong việc thực hiện quyền được chăm sóc, phụng dưỡng, được cấp dưỡng của người cao tuổi

Đây có thể được coi là quyền quan trọng nhất của người cao tuổi nói chung

và trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình nói riêng Bởi ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy", mọi phồn hoa, hư danh đều sẽ lùi về quá khứ, họ cũng không mong muốn

gì hơn là việc được con cháu hiếu thảo, chăm lo đời sống của mình cả về vật chất lẫn tinh thần

2.1.3.1 Chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi về mặt vật chất – quyền được cấp dưỡng

Theo báo cáo của Ủy ban quốc gia về người cao tuổi đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014 thì thời gian qua, công tác người cao tuổi được triển khai đồng bộ từ trung ương tới địa phương tạo sự thống nhất trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với người cao tuổi Nhiều chính sách về người cao tuổi đã được Nhà nước ban hành, cụ thể hóa qua Luật, Nghị định, Thông tư đã góp phần nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi về mọi mặt Các chính sách pháp luật này cũng được coi là cơ sở

để các thành viên trong gia đình có người cao tuổi thực hiện tốt các quyền của người cao tuổi Ngoài ra, đây cũng được coi là cơ sở pháp lý để kiểm chứng việc thực hiện các quyền đó cũng như việc chịu trách nhiệm khi có vi phạm Có thể hiểu, quyền được bảo đảm các nhu cầu về đời sống vật chất ở đây không chỉ là việc đáp ứng nhu cầu về tiền bạc mà còn bao gồm cả các vấn đề về ăn, ở, đi lại

và việc chăm sóc sức khỏe về mặt thể chất cho người cao tuổi Đặc biệt là vấn

Trang 36

đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi bởi đây là lớp người mà sức khỏe đang ngày càng yếu dần và vấn đề sức khỏe có thể coi là vấn đề đáng quan tâm nhất của người cao tuổi Người cao tuổi nước ta đã và đang được hưởng sự chăm sóc

đó từ gia đình cũng như từ toàn thể xã hội

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì tính đến nay cả ngước có hơn 1.54 triệu người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng Trong đó, người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa là 102.695 người; người

từ 80 tuổi trở lên là 1.439 người với mức thấp nhất được hưởng là 180.000 đồng/tháng Như vậy, với số tiền trợ cấp đó có thể nói phần nào đã đáp ứng được những nhu cầu cơ bản nhất cho người cao tuổi về ăn, ở, mặc Mặc dù là chưa đầy đủ nhưng với hoàn cảnh nước ta còn là một nước đang phát triển thì mức trợ cấp đó cũng đã giúp kéo gần khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa những người cao tuổi sống ở những vùng miền khác nhau

Công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi được các bộ, ngành địa phương quan tâm thực hiện Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên và người cao tuổi thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đã được hưởng trợ cấp

xã hội hàng tháng, được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ xóa nhà tạm Trong năm qua, Bộ Y tế đã tiếp tục chỉ đạo xây dựng, củng cố mạng lưới y

tế chăm sóc sức khỏe người cao tuổi với bốn bệnh viện: Hữu nghị, Lão khoa

TW, C Đà Nẵng và Thống Nhất với khoảng 1.680 giường bệnh Nhiều bệnh viện tuyến tỉnh đã thành lập khoa Lão khoa hoặc có một số giường điều trị dành cho người cao tuổi Cả nước có 59 bệnh viện cấp tỉnh có khoa Lão khoa, khoảng gần 2.3 triệu người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe định kỳ chiếm 26% trên tổng số người cao tuổi toàn quốc Tuyến cơ sở chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cũng ngày càng được chú ý và củng cố

Thực hiện chính sách “Mắt sáng cho người cao tuổi” trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế tổ chức khám, tư vấn miễn phí các bệnh

Trang 37

về mắt cho trên 1.5 triệu người cao tuổi, trên 167.000 người cao tuổi được chữa mắt với nguồn kinh phí là gần 237 tỷ đồng Nhờ vậy, cuộc sống của người cao tuổi càng được chăm lo tốt hơn cả về vật chất lẫn tinh thần

Người cao tuổi ở những vùng miền khác nhau lại có đời sống vật chất khác nhau Trong đó, người cao tuổi sống ở vùng nông thôn, miền núi thường có cuộc sống thiếu thốn, vất vả hơn so với người cao tuổi sống ở thành thị Nắm được thực trạng đó, Nhà nước ta cũng đã có những chính sách nhằm hỗ trợ thiết thực cho người cao tuổi Đó là việc huy động các nguồn lực xã hội để xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tạm, dột nát cho người cao tuổi Tỷ lệ người cao tuổi sống ở nông thôn chiếm 68,2% tổng số người cao tuổi Tổng số người cao tuổi trong cả nước từ 80 tuổi trở lên là hơn 1.883 triệu người, trong đó có hơn 1.815 triệu người được hưởng lương hưu và bảo hiểm xã hội Số người được hưởng trợ cấp

xã hội hàng tháng là 1.5 triệu người [37] Ngoài ra các cấp ủy, chính quyền cơ

sở hàng năm đã hỗ trợ ngân sách, tạo điều kiện để Hội người cao tuổi hoạt động

có hiệu quả

Truyền thống tốt đẹp trong gia đình Việt Nam từ xưa tới nay đó là con cháu thảo hiền, kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ Đặc biệt với lớp người cao tuổi, khi sức khỏe càng ngày càng đi xuống sẽ rất cần sự chăm sóc từ phía con

cháu Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã quy định: "Con có nghĩa vụ

và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ"[19, khoản 2, Điều 36]; "Con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình"[19, Điều 57]; "Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng… trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản

để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này"[19, khoản 2, Điều 59]

Trang 38

2.1.3.2 Chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi về mặt tinh thần

Có thể nói, người già rất sợ cô đơn và dễ bị trầm cảm nếu không được con cháu quan tâm, hỏi han kịp thời Ở vào độ tuổi được coi là “gần đất xa trời” thì tất cả những ý thức về ngành nghề, giới tính, địa vị xã hội, vinh quang trong quá khứ dần dần lùi xa Sức khỏe giảm sút, địa vị kinh tế có sự thay đổi, người cao tuổi thường không có những đòi hỏi cao về hưởng thụ vật chất mà mong muốn lớn nhất của họ là được sự tôn trọng của con cháu, của thế hệ trẻ, được an hưởng tuổi già trong vui vẻ, thanh thản Đôi khi, yếu tố tinh thần sẽ chi phối mọi hoạt động của người cao tuổi, có thể theo hướng tích cực, và cũng có thể theo chiều hướng tiêu cực

Với đặc thù của xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng, khi người cao tuổi phần lớn là sinh sống cùng con cháu thì, việc con cháu thường xuyên quan tâm, chăm sóc, hỏi han, không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ không những giúp người cao tuổi sống vui, khỏe mà còn giúp hạn chế bệnh tật cũng như có tác động tích cực tới quá trình chữa bệnh của người cao tuổi Nhìn chung, người cao tuổi luôn tích cực tham gia các hoạt động, phong trào xã hội như “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”, cuộc vận động “toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, và cuộc vận động “Toàn xã hội chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi” Con cháu luôn tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia các hoạt động xã hội giúp cho họ sống vui, sống khỏe, sống có ích, làm gương cho con cháu trong việc rèn luyện thân thể, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, thể thao truyền thống của dân tộc

Trang 39

Như vậy, cùng với sự quan tâm, chăm sóc của con cháu cũng như sự ưu tiên đặc biệt của Đảng và Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi đã được cải thiện cùng với sự phát triển của đất nước Người cao tuổi, người cô đơn được hưởng chính sách của Nhà nước hỗ trợ cuộc sống và chăm sóc sức khỏe Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng phong phú, đa dạng đáp ứng được nhu cầu thực tế Người cao tuổi nghèo, có cuộc sống khó khăn được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, được cấp thẻ bảo hiểm xã hội miễn phí Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở cộng đồng được tổ chức rộng rãi hơn và người cao tuổi ốm đau được hưởng sự chăm sóc của gia đình và cộng đồng Đây là những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện các quyền của người cao tuổi nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình nói riêng

2.1.4 Thành tựu trong việc thực hiện quyền nhận nuôi con nuôi của người cao tuổi

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: "… Người trên 15 tuổi

có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn." [19,

Điều 68]

Trong Luật Nuôi con nuôi cũng quy định: "Việc nuôi con nuôi phải bảo

đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và của người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội" và "Nhà nước bảo hộ quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi…"[21, khoản 4, Điều 6]

Như vậy, với những quy định trên của pháp luật có thể thấy, người cao tuổi già yếu, cô đơn có quyền nhận nuôi con nuôi để trông cậy khi về già Là chỗ dựa tinh thần cũng như vật chất Quy định này chứng tỏ sự quan tâm của Nhà nước tới những thân phận người già cô đơn, để họ thực sự sống vui, khỏe và có ích Ngoài ra, pháp luật cũng có quy định, con nuôi được hưởng tất cả các quyền và

Trang 40

lợi ích như con đẻ Do đó, không có sự kỳ thị, phân biệt giữa con nuôi và con đẻ, người cao tuổi có thể yên tâm sống nốt phần đời còn lại trong sự đầm ấm có cha

mẹ, con cái, cháu chắt

2.2 Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó

Như cũng đã trình bày ở trên, có thể thấy người cao tuổi Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, làm nông nghiệp và là nông dân, số lượng này gấp 2,6 lần số người cao tuổi sống ở thành thị Trong đó, chỉ có 35,6% người cao tuổi

ở thành phố và 21,9% người cao tuổi ở nông thôn có lương hưu hoặc trợ cấp

từ Nhà nước [37] Số người cao tuổi còn lại phải tự mình kiếm sống hoặc dựa vào sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cái Tuy nhiên, xu hướng mô hình gia đình ở Việt Nam đang thay đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân, con cái ngày càng có xu hướng sống độc lập với cha mẹ Do đó, việc phải sống một mình đôi khi là sự lựa chọn duy nhất của người cao tuổi Bởi vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được kể trên vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quyền của người cao tuổi cần phải được khắc phục nhanh chóng

2.2.1 Những điểm hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền của người cao tuổi trong lĩnh vực hôn nhân gia đình

2.2.1.1 Quyền được kết hôn, ly hôn của người cao tuổi

Kết hôn, ly hôn có thể coi là một trong những vấn đề vô cùng nhạy cảm bởi

có sự tác động của các yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Đặc biệt hơn lại là sự kết hôn hay ly hôn của những người cao tuổi, đó là những người từ 60 tuổi trở lên – độ tuổi mà những vấn đề "nhạy cảm" như vậy thường không bao giờ được đặt ra Do đó, để thực hiện quyền này trên thực tế đã gặp rất nhiều khó khăn mà hậu quả của nó là sự thiệt thòi của những người cao tuổi

Ngày đăng: 27/03/2018, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w