1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn

75 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 640,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hành vi xâm phạm đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân của các chủ thể nói riêng nên vấn đề đặt ra là cần phải có phương thức bảo vệ quyền nhân thân

Trang 1

TRẦN THỊ HÀ

PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60.38.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS ĐINH VĂN THANH

HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn sử dụng trong luận văn này đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của tôi

Tác giả luận văn

Trần Thị Hà

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Phương thức bảo vệ quyền nhân

thân trong pháp luật dân sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô

Khoa Luật Dân sự, Ban giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau đại học Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đinh Văn Thanh - Thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014

Trần Thị Hà

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ Luật dân sự

BLTTDS : Bộ Luật tố tụng dân sự

BLHS : Bộ Luật hình sự

BTTH : Bồi thường thiệt hại

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và phương thức

bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

08

1.1 Khái quát chung về quyền nhân thân trong pháp luật

dân sự Việt Nam

08

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân 08

1.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của quyền

nhân thân theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1.3.4 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ

hôn nhân và gia đình của cá nhân

18

1.1.3.5 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến các đối

tượng của quyền sở hữu trí tuệ

18

1.2 Khái quát chung về phương thức bảo vệ quyền nhân

thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

19

1.2.1 Khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân 19

1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật

bảo vệ quyền nhân thân

21

1.2.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân của các

chủ thể

24

Trang 6

Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật về phương thức bảo

vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

26

2.1 Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp

luật dân sự Việt Nam hiện hành

2.1.3 Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu

cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại

Chương 3: Thực tiễn và một số kiến nghị về phương thức bảo vệ

quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

47

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật dân sự Việt

Nam hiện hành về phương thức bảo vệ quyền nhân

thân

47

3.2 Một số yêu cầu và kiến nghị về phương thức bảo vệ

quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

hiện hành

55

3.2.1 Một số yêu cầu về phương thức bảo vệ quyền nhân thân 55

3.2.2 Một số kiến nghị về phương thức bảo vệ quyền nhân

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xã hội hiện nay, nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều thuận lợi

cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng chính nền kinh tế thị trường

đó làm phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, dẫn đến số lượng các vi phạm pháp luật gia tăng Đặc biệt, đó là những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của các chủ thể Thực tiễn cho thấy, những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của các chủ thể đã gây ra những hậu quả lớn cho chính đối tượng

mà hành vi đó tác động đến Hậu quả đó có thể là những thiệt hại đã xảy ra hoặc đe dọa xảy ra khi hành vi xâm phạm quyền nhân thân được thực hiện Những hành vi xâm phạm đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân của các chủ thể nói riêng nên vấn đề đặt ra là cần phải có phương thức bảo vệ quyền nhân thân cho các chủ thể bị xâm phạm bởi hành vi không được phép thực hiện

Đi kèm với vấn đề quyền nhân thân luôn luôn và không thể thiếu được

là vấn đề bảo vệ quyền nhân thân Bảo vệ quyền nhân thân đòi hỏi không chỉ ngăn chặn ngay hành vi xâm phạm quyền nhân thân, mà còn cần phải có những biện pháp chế tài đối với những chủ thể vi phạm và những biện pháp khôi phục lại những quyền đó Tuy nhiên, quyền nhân thân sẽ không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật Chỉ khi thông qua pháp luật, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc mang tính xử

sự bắt buộc chung cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội Chính vì thế, pháp luật

là phương tiện hữu hiệu để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể

Quyền nhân thân đã được pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ trong nhiều văn bản pháp luật Theo Điều 12 Tuyên ngôn thế giới về quyền con

Trang 8

người năm 1948 khẳng định: “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc

đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy” Quy định này được tái khẳng định trong Công ước quốc tế về các

quyền dân sự, chính trị năm 1966 tại Điều 17, cụ thể: “Không ai bị can thiệp

một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”

Ngày 24/9/1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tề về các quyền dân sự chính Khi trở thành thành viên của Công ước, trách nhiệm thực hiện Công ước chính thức có hiệu lực đối với thành viên Để giải thích cho Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Ủy ban nhân quyền đã

giải thích: “Điều 17 cũng đặt ra trách nhiệm với các quốc gia thành viên

trong việc ban hành các quy định pháp luật cần thiết để bảo vệ danh dự và uy tín của cá nhân Các quy định này cho phép mọi người có khả năng tự bảo vệ trước những sự xâm phạm bất hợp pháp xảy ra và có cơ chế hiệu quả chống lại những người phải chịu trách nhiệm Các quốc gia cũng cần chỉ ra trong báo cáo của mình về mức độ danh dự và uy tín của các cá nhân được bảo vệ bởi pháp luật và sự bảo vệ này có thể đạt được bằng cách nào trong hệ thống pháp luật” (Bình luận chung số 16) Việt Nam là một trong những thành viên

của Công ước nên Việt Nam cần phải ban hành các quy định pháp luật cần thiết để bảo vệ danh dự và uy tín của cá nhân và pháp nhân

Mặc dù, phương thức bảo vệ quyền nhân thân đã được quy định trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật chuyên ngành Nhưng số lượng các quy định về phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật Việt Nam hiện nay còn khiêm tốn chưa tương xứng với thực tế và nhu cầu xã hội Hiến

Trang 9

pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,

xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14) “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư,

bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn” (Điều 21) Tiếp đó, BLDS 2005 cũng quy định về phương thức bảo vệ quyền nhân thân tại Điều 25 Tuy nhiên, những quy định trên còn quá chung chung, chưa thực sự phát huy được khả năng điều chỉnh các quan

hệ xã hội liên quan đến quyền nhân thân của các chủ thể, chưa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bởi hành vi xâm phạm quyền nhân thân

Để khắc phục tình trạng nêu trên, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác cải cách tư pháp Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; và ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị qu yết số 49-NQ/TW “về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” Qua đó, Đảng và Nhà nước nhấn mạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và quy định của pháp luật nói riêng để bảo đảm quyền dân sự, trong đó có quyền nhân thân của các chủ thể Có thể thấy, khi nền kinh tế phát triển người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề có cơm ăn,

áo mặc mà còn quan tâm đến giá trị tinh thần, đó là giá trị nhân thân Việc tôn trọng và bảo vệ quyền nhân thân đang là sự quan tâm của xã hội, cùng với phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay

Vì vậy, đây là vấn đề thời sự, được nhiều người quan tâm và là các vấn đề cấp thiết

Trang 10

Với những luận điểm trên, em lựa chọn đề tài: “Phương thức bảo vệ

quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” là đề tài cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong các công trình khoa học pháp lý ở Việt Nam từ trước đến nay, quyền nhân thân đã được đề cập đến nhiều, như một số đề tài nghiên cứu điển hình sau: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do TS Lê Đình Nghị và

đ.t.g (2008): “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân trong

pháp luật dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong đề tài này, các tác giả

đã đưa ra một số khía cạnh có liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân và các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân; Luận án của Tiến sỹ Lê Đình Nghị

(2008): “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”,

Trường Đại học Luật Hà Nội Một số bài viết trên các tạp chí: TS Bùi Đăng

Hiếu (số 7/2009), “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân”, tạp chí luật học; PGS.TS Phùng Trung Tập (2013): “Bàn thêm về các quyền nhân thân

của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005”, tạp chí nghiên cứu lập

pháp…Ngoài ra, cũng nhiều công trình khoa học đề cập tới quyền nhân thân của các chủ thể nhưng hầu như chưa có một công trình khoa học lớn nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề phương thức bảo vệ quyền nhân thân

Vì vậy, tác giả hy vọng luận văn của mình sẽ là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu tổng quát và chuyên sâu một lĩnh vực quan trọng của quyền nhân thân – phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về phương thức bảo vệ quyền nhân thân; nội dung các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về phương thức bảo vệ quyền nhân thân; thực tiễn thực hiện

Trang 11

các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay về phương thức bảo vệ quyền nhân thân và kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật

Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên phạm vi của luận văn là chỉ tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của phương thức bảo vệ quyền nhân thân; nội dung các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về phương thức bảo vệ quyền nhân thân và thực tiễn thực hiện các quy định đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là phương pháp luận triết học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp

Quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp lịch sử để nắm bắt được sự hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay về các phương thức bảo vệ quyền nhân thân Trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp logic pháp lý, phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các vấn đề liên quan đến các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam Ngoài ra, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng phương pháp tình huống trong từng vấn đề cụ thể

5 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

a Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, nội dung các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện vấn đề phương thức bảo vệ quyền nhân thân Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự về phương thức bảo vệ quyền nhân thân và nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề này trên thực tế

Trang 12

b Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam;

- Phân tích làm rõ các nội dung cơ bản của vấn đề phương thức , biện pháp bảo vệ quyền nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam;

- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện vấn đề phương thức bảo vệ quyền nhân thân, tìm ra những điểm bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó;

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện phương thức bảo vệ quyền nhân

6 Những đóng góp mới của luận văn

Kết quả của việc nghiên cứu đề tài: “Phương thức bảo vệ quyền nhân

thân trong pháp luật dân sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

đem lại những điểm mới sau đây:

Thứ nhất: Kết quả của đề tài đưa ra một cách nhìn toàn diện về phương thức bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam;

Thứ hai: Phân tích thực trạng của các quy định pháp luật và thực tiễn

áp dụng các quy định pháp luật về phương thức bảo vệ quyền nhân thân;

Thứ ba: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như một số giải pháp khác liên quan đến phương thức bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể khi bị xâm phạm

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn “Phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân

sự Việt Nam” được kết cấu gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần

nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và phương thức bảo

vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 13

Chương 2: Nội dung các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay

Chương 3: Thực tiễn và nội dung kiến nghị về phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ

PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG

PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

Xã hội văn minh ngày càng đề cao con người và những quyền về con người, bao gồm cả quyền chính trị, quyền dân sự và quyền xã hội Quyền về con người như là trung tâm, động lực và mục tiêu của phát triển Trải qua quá trình đấu tranh phát triển của xã hội, các quyền của cá nhân ngày càng được phát triển, mở rộng và trở thành một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lý có giá trị cao cũng đã đề cập tới vấn đề quyền nhân thân của con người như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948; công ước quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1992 và hiện nay là Hiến pháp 2013; Bộ luật dân sự 1995

và Bộ luật dân sự 2005 của nước ta đã ghi nhận và có những quy định cụ thể

để bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể Luật dân sự điều chỉnh các quan

hệ nhân thân bằng cách quy dịnh những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của quyền nhân thân đó, đồng thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ quyền nhân thân Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo vệ quyền nhân

thân

1.1 Khái quát chung về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân

1.1.1 1 Định nghĩa quyền nhân thân

Trang 15

Thuật ngữ “quyền nhân thân” được ra đời khá muộn so với lịch sử lập pháp nước ta Lần đầu tiên quyền nhân thân được đề cập dưới góc độ pháp lý

là trong BLDS năm 1995 BLDS 1995 đã thể chế hóa những quy định của Hiến pháp về quyền dân sự của công dân, trong đó có quy định cụ thể về quyền nhân thân của cá nhân

Thế nào là “Quyền nhân thân”? theo từ điển Tiếng Việt “Quyền” là điều mà Nhà nước và pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi [23, tr.815] Quyền là một phạm trù mang tính xã hội và cũng mang tính pháp lý Nó quyết định hành vi của các chủ thể và do sự tác động của quyền đối với hành vi của các chủ thể và sự phát triển của xã hội cho nên ở những mức độ khác nhau, dù muốn hay không tất cả các Nhà nước đều phải thừa nhận và bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bằng ghi nhận trong hệ thống pháp luật

“Nhân thân” là gì? Theo từ điển Tiếng việt thì “Nhân thân được hiểu là tổng hợp các đặc điểm về thân thể, tính cách và cuộc sống cá nhân của một con người” [23, tr.560] Như vậy, theo nghĩa thông thường, nhân thân của một người bao gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, dân tộc, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hoàn cảnh gia đình, quá trình hoạt động chính trị…Tuy nhiên, không phải mọi yếu tố liên quan đến con người đều là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự Luật dân sự chỉ quy định các quyền nhân thân mang bản chất dân sự

Khái niệm “Quyền nhân thân” hiện nay, được đề cập trong một số công trình khoa học Ví dụ như: Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”

của trường Đại học Luật Hà Nội có ghi: “Quyền nhân thân là giá trị nhân

thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…” [28, tr.105] Hay trong cuốn

Trang 16

Luận án Tiến sĩ luật học “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” của Tiến sĩ Lê Đình Nghị có định nghĩa về quyền nhân thân là:

Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù

pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình

Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn

liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp luật có quy định khác

[15, tr18]

Còn theo pháp luật dân sự, khái niệm quyền nhân thân được quy định

tại Điều 24 BLDS năm 2005: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật

này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo định nghĩa này

thì có thể thấy quyền nhân thân mang hai dấu hiệu cơ bản là: gắn liền với mỗi

cá nhân cụ thể, liên quan trực tiếp đến cá nhân đó và không thể chuyển giao cho chủ thể khác Tuy nhiên, bên cạnh quyền nhân thân của cá nhân, Điều

604, Điều 611 BLDS 2005 còn quy định về “danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác” Như vậy, bên cạnh việc công nhận và bảo vệ các quyền nhân thân của cá nhân, pháp luật dân sự còn bảo vệ các quyền nhân thân của pháp nhân và các chủ thể khác Vì vậy, quyền nhân thân có thể định nghĩa khái quát như sau:

Quyền nhân thân là quyền dân sự do pháp luật quy định gắn liền với mỗi chủ thể và các chủ thể không thể chuyển giao quyền này cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trang 17

1.1.1.2 Đặc điểm quyền nhân thân

Quyền nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh mang các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, quyền nhân thân là quyền dân sự do pháp luật quy định

Không phải bất kỳ một quyền nào của công dân được quy định trong Hiến pháp thì cũng lại được quy định trong BLDS Tuy rằng, BLDS là đạo luật cụ thể hoá những tư tưởng chỉ đạo của Hiến pháp, nhưng chỉ cụ thể hoá những quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự Do đó, các quyền nhân thân được ghi nhận trong pháp luật dân sự là sự chính thức thừa nhận việc bảo vệ các quyền nhân thân của cá nhân và các chủ thể khác

Ở mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, quyền nhân thân được quy định khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội Đây có thể xem là tính khách quan của quyền nhân thân

Thứ hai, quyền nhân thân gắn liền với giá trị tinh thần của chủ thể

Quyền nhân thân thường gắn với đời sống tình cảm hoặc giá trị tinh thần của cá nhân hay tổ chức Lợi ích tinh thần có thể hiểu là những giá trị tinh thần được pháp luật ghi nhận và mọi người tôn trọng như danh dự, nhân phẩm, uy tín Những lợi ích tinh thần đó cũng có thể là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người (các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học…) Đặc điểm này cho thấy quyền nhân thân rất khác biệt đối với quyền tài sản Trong quan hệ đối với tài sản thì lợi ích vật chất hay tài sản luôn là yếu tố chi phối trong quan hệ tài sản

Thứ ba, quyền nhân thân gắn liền với chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác, trừ những trường hợp pháp luật quy định khác

Phần lớn các quyền nhân thân mang tính chất cá biệt hóa chủ thể hoặc gắn liền với thân thể của cá nhân nên luôn gắn liền với chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác, không thể là đối tượng của các giao dịch giữa các chủ thể Ví dụ: quyền đối với hình ảnh, họ tên không thể đổi từ người này

Trang 18

sang người khác được… Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật, cụ thể là theo quy định của pháp luật dân sự về sở hữu trí tuệ thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác Ví dụ, theo quy định tai điểm c, khoản 2 Điều 738 BLDS 2005 “Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm” của tác giả Nhưng như đã khẳng định ở trên quyền nhân thân là một số đối tượng nhất định và chỉ có một số quyền nhân thân mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng này

Đặc điểm này của quyền nhân thân cũng cho thấy nó có sự khác biệt rõ rệt đối với quyền tài sản Quyền tài sản trong quan hệ tài sản (các tài sản được phép tham gia giao dịch dân sự) thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân

sự được tự do trao đổi, chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch dân sự: mua bán, tặng cho, vay… mà không bị hạn chế như đối với quyền nhân thân Nói cách khác, do có những đặc trưng nên việc chuyển giao về phương thức bảo vệ quyền nhân thân khác với quyền tài sản nên pháp luật có những quy định riêng

Thứ tư, quyền nhân thân có tính chất phi tài sản

Quyền nhân thân luôn gắn với giá trị tinh thần, do đó không thể đong,

đo, đếm trị giá được bằng tiền Như vậy, có thể hiểu giá trị nhân thân và tiền

tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Mặc dù, quyền nhân thân có gắn với tài sản, là những giá trị nhân thân khi được xác lập sẽ làm phát sinh các quyền tài sản Quyền nhân thân là tiền

đề làm phát sinh các quyền tài sản: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, vật nuôi…Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận rõ bản thân của quyền nhân thân không phải là tài sản, không mang lại giá trị về kinh tế nhưng do một sự kiện pháp lý xảy ra chủ thể không chỉ được hưởng lợi ích tinh thần mà còn được hưởng lợi ích vật chất Ví dụ: Điều 51 BLDS 2005 quy định về “Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo” thì bản thân

Trang 19

quyền này không phải là tài sản nhưng những phát minh đó hay nghiên cứu

đó mang lại giá trị kinh tế…

1.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của quyền nhân thân theo pháp luật dân sự Việt Nam

Thời kỳ cổ luật

Hệ thống văn bản pháp luật của nước ta thời kỳ này khá rời rạc Những điều luật được soạn thảo ra trong “Quốc triều hình luật” hay “Luật Hồng Đức” và trong “Hoàng Triều Luật Lệ” hay “Luật Gia Long” thực chất là xuất phát từ ý nguyện của các vị vua và cho dù nó gắn bó với thực tiễn cuộc sống nhưng về cơ bản nó mang những tư tưởng, tình cảm và quan niệm của các vua Hơn nữa, pháp luật thời kỳ này “là công cụ trong tay giai cấp phong kiến thống trị, pháp luật là ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến được nâng lên thành luật pháp mà nội dung của ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp phong kiến Pháp luật phong kiến là phương tiện để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến mà trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến”[13, tr 242] Do đó, các quy định về quyền nhân thân thời kỳ này được đề cập đến chủ yếu là bảo vệ cho vua chúa, cụ thể: Điều 22 – chương vi chế quy định: “Người nào vẽ và cất giấu những chân dung các vua và hoàng hậu bản triều thì bị xử phạt 50 roi biếm một tư” [29, tr.84] Hay trong Điều 31 – chương vi chế: “Dâng thư nói đến triều vua trước, lại có ý chê bai thì phải tội

đồ làm chủng điền binh, nếu nói miệng thì xử phạt 60 trượng, biếm hai tư” [29, tr.86]…

Thời kỳ Pháp thuộc

Thời kỳ này chúng ta có ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu 1883; Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931; Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 Tất cả các bộ luật này đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc đại cương của Bộ Dân Luật Pháp 1804 nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đời sống, sinh hoạt người Việt

Trang 20

Tuy nhiên, các quy định dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng được thực dân Pháp quy định chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị trong xã hội Các vấn đề về quyền nhân thân thời kỳ này chưa được quy định và bảo đảm cho người dân thực hiện các quyền của mình

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Hiến pháp 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn bản Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân – một trong những nội dung cơ bản nhất của Hiến pháp Đến nay, quyền nhân thân của cá nhân luôn được pháp luật bảo vệ và ngày càng được coi trọng Các quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và được cụ thể hoá trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 Hiện nay, bản Hiến pháp

2013 trong chương về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" cũng có nhiều điểm mới về nhận thức và cách thức thể hiện Qua mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử, các quy định pháp luật về nhân thân có những bước phát triển nhất định:

Thời kỳ từ 1946 đến 1992

Thấm nhuần tư tưởng nhân quyền của chủ tịch Hồ Chí Minh, kể từ Hiến pháp đầu tiên 1946 cho đến Hiến pháp 1992 đều thể hiện xuyên suốt việc đề cao các quyền công dân, trong đó có các quy định về quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng Bốn bản Hiến pháp là bốn nấc thang về việc ghi nhận và phát triển các quyền cũng như cơ chế bảo vệ các quyền công dân, các quyền nhân thân ở Việt Nam Các quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng có bước phát triển theo từng thời kỳ Nếu Hiến pháp 1946 có 28 điều về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp 1959 có 21 điều; Hiến pháp 1980 có 28 điều; Hiến pháp 1992 có 34 điều trên tổng 147 điều của toàn bộ Hiến pháp thì đến Hiến pháp 2013 có 36 điều trên tổng 120 điều của toàn bộ Hiến pháp

Trang 21

2005, các quyền nhân thân của cá nhân có bổ sung một số quyền rất quan trọng: quyền được hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác, quyền được xác định lại giới tính…Ngoài việc thêm mới một số quyền nhân thân, hầu hết các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 1995 được kế thừa có chọn và sửa đổi bổ sung cho phù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều 27 BLDS 2005), quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005), Điều 31, 32, 37, 38 BLDS 2005…

Và hiện nay, theo bản Hiến pháp 2013 có thể thấy quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền nhân thân nói riêng là điểm nhấn xuyên suốt toàn bộ Hiến pháp sửa đổi Theo đó, mọi người có quyền sống, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nhà ở, về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; pháp luật bảo hộ quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác theo quy định của luật Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, có quyền kết hôn, ly hôn và thực hiện hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, một vợ một chồng, vợ

Trang 22

chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em…

1.1.3 Các nhóm quyền nhân thân

Trong khoa học pháp lý có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại quyền nhân thân

Nếu dựa vào chủ thể mang quyền nhân thân thì có thể chia thành hai nhóm là: các quyền nhân thân của cá nhân và các quyền nhân thân của các chủ thể khác Các quyền của cá nhân được quy định từ Điều 26 đến Điều 51 BLDS 2005 chiếm số lượng chủ yếu Quyền nhân thân của các chủ thể khác chỉ được quy định ở Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005, bao gồm hai quyền nhân thân là quyền đối với danh dự và uy tín

Nếu dựa vào căn cứ phát sinh thì các quyền nhân thân được chia thành các quyền nhân thân gắn với tài sản và các quyền nhân thân không gắn với tài sản Quyền nhân thân không gắn với tài sản là quyền nhân thân tồn tại một cách độc lập không liên quan đến tài sản Ví dụ: Quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự của cá nhân… Quyền nhân thân gắn với tài sản là quyền nhân thân khi được xác lập sẽ là tiền đề phát sinh quyền tài sản Ví dụ: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả mà các quyền nhân thân này chỉ được xác lập cùng với sự hình thành tài sản trí tuệ ( tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học…)

Trong phần này, các quyền nhân thân được phân chia thành năm nhóm căn cứ vào đối tượng của quyền:

1.1.3.1 Nhóm các quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân

Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền đối với họ, tên (Điều

26 BLDS 2005); Quyền thay đổi họ, tên (Điều 27 BLDS 2005); Quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005); Quyền được khai sinh, khai tử ( Điều 29, Điều 30 BLDS 2005); Quyền đối với hình ảnh (Điều 31 BLDS 2005); Quyền

Trang 23

xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS 2005); Quyền đối với quốc tịch (Điều

45 BLDS 2005) Đây là những quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, là quy định cá biệt hóa cá nhân, để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá nhân với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong quan hệ pháp lý, việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác là vô cùng quan trọng và cần thiết Mỗi cá nhân có tên gọi, hình ảnh và các yếu tố lý lịch khác nhau mà tổng hợp các yếu tố đó giúp chúng ta có thể nhận biết cá nhân, từ đó xác định rõ những quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân đó

1.1.3.2 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến thân thể cá nhân

Nhóm quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân bao gồm các quyền: Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều

32 BLDS 2005); Quyền hiến bộ phận cơ thể; Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết; Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 33, 34, 35 BLDS 2005) BLDS 2005 đã bổ sung cho sự hạn chế và thiếu sót của BLDS 1995 khi đã quy định quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với các bộ phận cơ thể, xác của mình sau khi chết Những quyền này ghi nhận một loại giá trị nhân thân rất đặc biệt đó là tính mạng, sức khỏe, thân thể nên loại quyền nhân thân này chỉ có thể là quyền của cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác Hơn nữa, nhóm quyền này bị vi phạm thì việc khôi phục là hầu như không thể thực hiện được Ví dụ: nếu như một người bị xâm phạm về tính mạng thì việc khôi phục là không thể thực hiện được…

1.1.3.3 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể

Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37 BLDS 2005); Quyền đối với bí mật đời tư (Điều

38 BLDS 2005); Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 46 BLDS 2005);

Trang 24

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47 BLDS 2005); quyền tự do đi lại,

tự do cư trú (Điều 48 BLDS 2005); Quyền lao động (Điều 49 BLDS 2005); Quyền tự do kinh doanh (Điều 50 BLDS 2005); Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 51 BLDS 2005) Việc thực hiện những quyền này luôn mang lại những lợi ích tinh thần cho chính các chủ thể

1.1.3.4 Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân

và gia đình của cá nhân

Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền kết hôn (Điều 39 BLDS 2005); Quyền bình đẳng vợ chồng (Điều 40 BLDS 2005); Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 41 BLDS 2005); Quyền ly hôn (Điều 42 BLDS 2005); Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con (Điều 43 BLDS 2005); Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44 BLDS 2005) Đây là nhóm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện quyền được hỗ trợ để bảo vệ gia đình…Theo các quyền này thì nam, nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất cứ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo Nam và

nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi

ly hôn…Điều này khẳng định, gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội, được Nhà nước và xã hội bảo vệ BLDS 2005 đã có nhiều quy định cụ thể về quyền nhân thân trong nhóm quan hệ này Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân

và gia đình 2000, cũng đã quy định chi tiết các quyền nhân thân thuộc nhóm này Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để các cá nhân trong mối quan hệ hôn nhân, gia đình được bảo vệ

1.1.3.5 Nhóm quyền nhân thân liên quan đến các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ

Theo quy định tại phần thứ sáu BLDS 2005 về Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ và Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; Quyền đứng tên thật

Trang 25

hoặc bút danh trên tác phẩm hay trên văn bằng bảo hộ (đối với sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng), quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm (Điều

738 BLDS 2005) Quyền nhân thân của người biểu diễn bao gồm các quyền được nêu tên khi biểu diễn hoặc khi phát hành bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn; Quyền bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng khi biểu diễn (Điều 745 BLDS 2005) Quyền nhân thân của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng bao gồm: Quyền được đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về đối tượng đó (Điều 751 BLDS 2005) Trước đây các quy định này được quy định chi tiết trong BLDS 1995 nay được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2006, sửa đổi, bổ sung 2009

1.2 Khái quát chung về phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân

Cho tới nay, khái niệm bảo vệ quyền nhân thân, chủ thể của quyền nhân thân, nội dung của bảo vệ quyền nhân thân vẫn là những vấn đề còn tranh luận giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn pháp luật Để làm rõ khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân trước hết cần phải làm rõ bảo vệ quyền nhân thân là gì? Theo Từ điển tiếng Việt “Bảo vệ” là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn” [23, tr.40] Trong BLDS 2005, “Bảo vệ quyền nhân thân” được quy định tại Điều 25: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1 Tự mình cải chính;

Trang 26

2 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại”

Theo đó, bảo vệ quyền nhân thân bao gồm quyền bảo vệ của chủ thể quyền nhân thân qua việc áp dụng các biện pháp như: yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền nhân thân theo quy định của luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; khởi kiện ra Tòa án

để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, theo quy định của Điều 25 BLDS 2005 thì không đưa ra định nghĩa bảo vệ quyền nhân thân là gì

mà chỉ dự liệu các phương thức bảo vệ quyền nhân thân sau khi có hành vi xâm phạm quyên nhân thân của chủ thể Hơn nữa, theo quy định tại Điều 25 thì chỉ có chủ thể là cá nhân mới được bảo vệ quyền nhân thân Trong khi, như đã phân tích ở trên quyền nhân thân không chỉ có cá nhân mà pháp nhân cũng có quyền nhân thân và cần phải được bảo vệ bằng các phương thức theo pháp luật quy định

Khái niệm bảo vệ quyền nhân thân cũng được đề cập trong một số các công trình khoa học khác nhau Trong Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Đình Nghị định nghĩa: “Bảo vệ quyền nhân thân là tổng thể các biện pháp được pháp luật quy định cho các chủ thể nhằm đảm bảo cho các quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận cho cá nhân bảo đảm trên thực tế” [15, tr.98]

Còn trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ với đề tài “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” có đưa ra khái niệm bảo vệ quyền nhân thân như sau:

“Bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của BLDS là các biện pháp cần thiết được pháp luật quy định mà cá nhân người bị vi phạm tự áp dụng hay

Trang 27

yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng để buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, phải cải chính hoặc xin lỗi công khai, phải bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại thực tế xảy ra) cho người có quyền nhân thân bị xâm phạm [25, tr 34] Như vậy, có thể thấy việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể chỉ đặt ra khi các quyền nhân thân này bị xâm phạm

Từ đó có thể hiểu: Thứ nhất, theo phương diện khách quan: Bảo vệ

quyền nhân thân là tổng hợp các quy định của pháp luật công nhận chủ thể quyền nhân thân được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền nhân thân được pháp luật thừa nhận

Thứ hai, theo phương diện chủ quan: Bảo vệ quyền nhân thân là những

biện pháp cụ thể được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền nhân thân tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm

Theo quy định của pháp luật, các chủ thể có thể sử dụng các phương thức khác nhau để bảo vệ quyền nhân thân của mình trong trường hợp bị xâm phạm Việc lựa chọn phương thức nào để bảo vệ quyền nhân thân của mình hoàn toàn do chủ thể quyền nhân thân bị xâm phạm tự quyết định Pháp luật không quy định chủ thế có quyền nhân thân bị xâm phạm buộc phải thực hiện phương thức bảo vệ này hay phương thức bảo vệ khác

Từ những vấn đề được trình bày ở trên có thể rút ra kết luận: Phương

thức bảo vệ quyền nhân thân là cách thức mà Nhà nước và chủ thể sử dụng

để bảo vệ chủ thể quyền nhân thân khỏi những hành vi xâm hại đến quyền nhân thân, khắc phục những thiệt hại vật chất và tinh thần cho chủ thể

1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật bảo vệ quyền nhân thân

Mỗi quy định của pháp luật đều dựa trên những cơ sở nhất định Qua việc nghiên cứu cho thấy cơ sở để pháp luật dân sự quy định các phương thức bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể trong dân sự bao gồm các cơ sở sau:

Trang 28

Thứ nhất, cơ sở lý luận

Việc Nhà nước thừa nhận các quyền, lợi ích của các chủ thể là rất cần thiết, bảo đảm được sự tôn trọng cần thiết đối với các quyền, lợi ích của các chủ thể, góp phần ổn định các quan hệ xã hội và tạo điều kiện cho xã hội phát triển Tuy nhiên, nếu Nhà nước chỉ công nhận các quyền, lợi ích của các chủ thể bằng việc quy định trong pháp luật thôi thì cũng chưa đủ và chưa thực sự thực hiện được trong đời sống xã hội Do vậy, bên cạnh việc công nhận quyền, lợi ích của các chủ thể trong các văn bản pháp luật thì Nhà nước còn phải tạo được các điều kiện thuận lợi bảo đảm cho nó thực hiện trên thực tế Trong trường hợp quyền, lợi ích của chủ thể bị xâm phạm do lỗi cố ý hoặc vô

ý và nếu chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có yêu cầu thì Nhà nước phải xử lý các hành vi trái pháp luật để bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích đó Nếu quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể và lợi ích của Nhà nước

bị xâm phạm mà Nhà nước không bảo vệ thì người dân sẽ thiếu tin cậy vào Nhà nước Vì vậy, trong mối quan hệ giữa công nhận và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thế cũng rất quan trọng và không thể thiếu được Đối với việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể cũng vậy, ngoài việc công nhận Nhà nước còn phải bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể được thực hiện trên thực tế Vì thế, xét về mặt lý luận thì bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể dân sự được pháp luật quy định trước hết xuất phát từ mối quan hệ giữa pháp luật công nhận và bảo vệ các quyền nhân thân của các chủ thể trên thực tế

Trong các phương thức bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể thì phương thức yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; bồi thường thiệt hại là

có nhiều ưu điểm nhất Ví dụ: Tòa án là cơ quan xét xử, có quyền lực, để buộc người vi phạm chấm dứt các hành vi trái pháp luật và khắc phục hậu quả của nó Các quyết định của Tòa án lại được bảo đảm bằng cưỡng chế Nhà

Trang 29

nước nên có tác dụng bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể

Do đó, các phương thức bảo vệ quyền nhân thân khi được pháp luật quy định một cách cụ thể sẽ có tác dụng hạn chế những vi phạm pháp luật có thể xảy ra xâm phạm đến quyền nhân thân của các chủ thể

Như vậy, cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể

là xuất phát từ mối quan hệ giữa việc công nhận và thực hiện các quyền nhân thân của các chủ thể, từ những ưu điểm và yêu cầu của phương thức bảo vệ quyền nhân thân mà pháp luật quy định

Thứ hai, cơ sở thực tiễn

Hiện nay ở nước ta, đang trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh những thành tựu đạt được thì mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội Chạy theo lợi ích về kinh tế, đã

có không ít những người vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp nói chung, quyền nhân thân nói riêng của các chủ thể Những năm gần đây ngày một nhiều các vụ xâm phạm quyền nhân thân của các chủ thể, chủ yếu là quyền nhân thân của cá nhân Trong đó, các quy định pháp luật về quyền nhân thân còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn tới việc áp dụng trên thực tiễn các quy định pháp luật về quyền nhân thân của các chủ thể không được bảo đảm Ví dụ: Điều 38 BLDS 2005 quy định về quyền bí mật đời tư nhưng không đưa ra định nghĩa thế nào là bí mật đời tư? Dẫn tới tình trạng khi có hành vi xâm phạm thì lúng túng khó giải quyết…Bên cạnh đó, quy định pháp luật về các phương thức bảo vệ quyền nhân thân chưa cụ thể, hơn nữa khả năng nhận thức, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên khi quyền nhân thân của mình bị xâm phạm các chủ thể không biết áp dụng phương thức bảo vệ nào cho phù hợp và đảm bảo nhất Vì vậy, để giúp các chủ thể có thể bảo vệ được quyền nhân thân của mình khi bị xâm phạm pháp luật phải quy định cụ thể các phương thức bảo vệ quyền nhân thân có thể áp dụng

Trang 30

1.2.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân

Theo quy định pháp luật hiện hành về quyền nhân thân, quyền nhân thân là quyền dân sự tuyệt đối của cá nhân và các chủ thể khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Việc tôn trọng quyền nhân thân của người khác là nghĩa

vụ của mọi người và cũng là nghĩa vụ của chính người đó Khi thực hiện quyền nhân thân của mình về nguyên tắc không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Mỗi một hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của các chủ thể ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của chủ thể bị xâm phạm Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể trong trường hợp bị xâm phạm có ý nghĩa rất quan trọng

Thứ nhất, ý nghĩa về chính trị - xã hội

Một trong các quyền tự do dân chủ của con người trong xã hội chủ nghĩa là quyền nhân thân và việc bảo vệ quyền nhân thân đó Trong các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đều thể hiện “chăm lo cho con người, bảo vệ lợi ích hợp pháp của con người” Điều này cũng đã được cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp, gần đây nhất là bản Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành cũng đã đề cao và thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ nội dung các văn bản này Quyền nhân thân của các chủ thể được bảo vệ trong dân sự giúp các chủ thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ nên góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân Vì vậy, ngoài ý nghĩa thực hiện dân chủ trong dân sự, việc bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể trong dân sự còn có ý nghĩa góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Để bảo đảm việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể thì các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải phổ biến, giải thích cho các chủ thể biết các quy định của pháp luật liên quan đến các quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận; đặc biệt là quy định của pháp luật về các phương thức, biện pháp

Trang 31

bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể Mặt khác, việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể còn có ý nghĩa giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân

Như vậy, về chính trị - xã hội thì việc bảo vệ quyền nhân thân cho các chủ thể có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện dân chủ trong dân sự, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta và góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân

Thứ hai, ý nghĩa về mặt pháp lý

Trên cơ sở của quy định pháp luật về các phương thức bảo vệ quyền nhân thân các chủ thể sẽ được tạo các điều kiện cần thiết để thực hiện các quyền dân sự của họ Đó là việc các chủ thể được tạo điều kiện tự mình thực hiện các quyền dân sự, tạo được sự tôn trọng cần thiết đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể Khi các chủ thể tự mình thực hiện được việc bảo vệ quyền nhân thân của mình như tự cải chính, yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai…thì phần nào khắc phục được hậu quả xấu, ngăn chặn được các hành vi xâm phạm quyền nhân thân Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể có ý nghĩa bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh

Trang 32

Chương 2 NỘI DUNG CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Quyền nhân thân là một trong các quyền cơ bản của công dân nên pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có những quy định để bảo vệ quyền nhân thân Như đã định nghĩa ở trên thì bảo vệ quyền nhân thân được hiểu là những biện pháp trong khuôn khổ pháp luật tác động đến hành vi xử sự của con người, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến quyền nhân thân, khắc phục những thiệt hại tinh thần cho chủ thể Còn phương thức bảo vệ quyền nhân thân là cách thức mà Nhà nước và chủ thể (pháp nhân và

cá nhân) sử dụng để bảo vệ họ khỏi những hành vi xâm hại đến quyền nhân thân, khắc phục những thiệt hại tinh thần cho chủ thể Quyền nhân thân được bảo vệ bằng các biện pháp hình sự, hành chính hay dân sự

2.1 Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự

BLDS năm 2005 đã quy định cụ thể tại Điều 25 về các phương thức bảo vệ quyền nhân thân khi bị xâm phạm của cá nhân Ngoài ra, quy định về bảo vệ quyền nhân thân còn nằm rải rác ở một số điều khác, theo đó, chủ thể

có quyền bảo vệ quyền nhân thân thông qua các phương thức sau:

2.1.1 Biện pháp tự mình cải chính

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 BLDS 2005, khi quyền nhân thân

bị xâm phạm thì người có quyền đó được bảo vệ bằng cách tự mình cải chính

mà không phải chờ người có hành vi xâm phạm thực hiện việc cải chính Như vậy, có thể thấy biện pháp tự cải chỉnh được thực hiện sau khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Cải chính” là chữa cho đúng sự thật và tuyên bố trước đông người [23, tr.240] Tự mình cải chính là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể bị xâm phạm do người có hành vi trái pháp

Trang 33

luật đưa ra hình ảnh không đúng, tiết lộ các thông tin về bí mật đời tư, đưa tin sai sự thật… mà không được sự cho phép, xúc phạm tới danh dự, nhân phẩm

uy tín của chủ thể bị xâm phạm Người có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể tự cải chính như thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (đăng bài cải chính trên báo, đài hay các trang mạng xã hội như facebook, blog…) hoặc trình bày trước đông người Mặc dù, pháp luật quy định các chủ thể khi bị xâm phạm quyền nhân thân có quyền tự mình cải chính cho đúng sự thật, nhưng hiệu quả của biện pháp bảo vệ này không cao Vì về tâm lý thì không mấy ai tin việc cải chính của chính người có quyền nhân thân bị xâm hại Ví dụ: Gần đây, ngày càng nhiều vụ hacker xâm nhập vào tài khoản cá nhân, tung tin, clip nóng của các cô gái trẻ trên mạng Khổ chủ thường tự mình cải chính (giải thích) là bị hack Facebook Tuy nhiên, người nghe cũng không rõ thật hư ra sao, nhưng dù có bị hack thật thì những hình ảnh, clip thầm kín bị công khai trên mạng cũng không thể vãn hồi Thanh danh của các cô gái bị tổn hại cũng không thể lấy lại, cuộc sống của người con gái bị ảnh hưởng rất nhiều về sau này

Ví dụ: Mới đây, một nữ sinh bị công khai ảnh nóng trên Facebook Cô gái này tá hoả khi phát hiện những bức ảnh khoe thân, ảnh "giường chiếu" chụp cùng người yêu bỗng nhiên chình ình trên Facebook của mình Ngay cả tên Facebook là T.B bị kẻ gian đổi thành "Chuyên bán dâm" và đăng kèm những lời lẽ không đứng đắn T.B đã phải khoá ngay tài khoản Facebook và

đi giải thích với bạn bè rằng mình bị hack, nhưng lúc này, hình ảnh phản cảm của cô đã bị nhiều người nhìn thấy, lời bàn ra tán vào không ngớt [32]

2.1.2 Yêu cầu người xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai

Theo khoản 2 Điều 25 BLDS 2005 quy định khi quyền nhân thân của

cá nhân bị xâm phạm thì người có quyền đó được yêu cầu cơ quan, tổ chức có

Trang 34

thẩm quyền bảo vệ thông qua việc buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai Như vậy, có thể hiểu người bị xâm phạm quyền nhân thân có thể trực tiếp yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai Tuy nhiên, việc yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai cũng khó áp dụng hiệu quả Vì khi người bị xâm phạm quyền nhân thân trong những trường hợp này chủ yếu liên quan đến quyền hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy tín hoặc quyền bí mật đời tư Những quyền nhân thân này khi bị xâm phạm thường do các hành vi đăng tải hình ảnh, video nhạy cảm …hoặc tung tin đồn sai sự thật nhằm bôi nhọ, nói xấu cá nhân và tổ chức trên báo, trên các website… tốc độ lan truyền thông tin rất nhanh chóng, đặc biệt là trong môi trường mạng xã hội facebook Bên cạnh đó, việc xác định được ai là người có hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân để yêu cầu chấm dứt hành vi, xin lỗi hoặc cải chính thông tin cũng gặp khó khăn Trong nhiều trường hợp dù xác định được người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân, yêu cầu họ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai nhưng người này không nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và cũng không thực hiện một trong các hành vi mà người bị xâm phạm yêu cầu thì cũng rất khó đảm bảo bảo vệ quyền nhân thân cho các chủ thể bị xâm phạm

Ví dụ: Chị Lan và chị Hoa là nhân viên văn phòng của công ty TNHH Bảo Lâm có trụ sở tại B3, Tiên Thắng, Tiên Lãng-Hải Phòng Ngày 29/06/2006, chị Hoa cùng với người yêu đến cơ sở tư nhân huyện để phá thai Cùng ngày thì chị Lan cũng đến khám bệnh và bắt gặp chị Hoa ở đó Do hiếu

kỳ, chị Lan đã hỏi và tìm hiểu thông qua nhân viên của sở y tế này và được biết chị Hoa đến đây để phá thai Do mâu thuẫn trong công việc, khi về công

ty chị Hoa đã lan truyền khắp công ty, cùng với đó là những thái độ của mọi người về việc đó với chị Hoa Sau khi vụ việc xảy ra, nhiều lần chị Hoa đã yêu cầu gặp riêng chị Lan và có yêu cầu chị Lan, chấm dứt hành vi và công

Trang 35

khai xin lỗi mình, trước khi chị kiện chị Lan ra Tòa Nhưng chị Lan không chấm dứt hành vi đó và cũng không xin lỗi chị Hoa…Chị Hoa thấy quá uất ức

và xấu hổ nên đã làm đơn kiện chị Lan và cơ sở y tế tư nhân huyện …[39]

Có thể thấy, nếu người bị xâm phạm quyền nhân thân đã trực tiếp yêu cầu người xâm phạm phải chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai mà người này vẫn không thực hiện một trong các hành vi đó thì người bị xâm phạm quyền nhân thân có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai Như vậy, việc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người

có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai

là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả và biện pháp này sẽ được áp dụng sau khi người có quyền nhân thân bị xâm phạm đã áp dụng biện pháp yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi của họ nhưng không được đáp ứng Trong các cơ quan Nhà nước áp dụng biện pháp dân sự bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân chủ yếu và trong việc áp dụng biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án áp dụng có hiệu quả nhất Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền nhân thân thông qua việc yêu cầu Toà án bảo vệ được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và đòi hỏi người có quyền nhân thân bị xâm phạm yêu cầu Tòa án bảo vệ phải chứng minh được quyền nhân thân của mình, hành vi xâm phạm quyền nhân thân của họ là trái pháp luật Bên cạnh đó, tố tụng dân sự là một quá trình phức tạp muốn bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp nói chung, quyền nhân thân nói riêng của mình các đương sự phải có hiểu biết pháp luật và có năng lực tham gia tố tụng nhất định và quan trọng là quyền khởi kiện (nguyên đơn dân sự) phải chứng minh hành vi vi phạm của bị đơn và phải có bằng chứng khi cần thiết Ngoài Tòa án

là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của người có quyền nhân thân bị xâm phạm thì cơ quan hành chính cũng là một trong các cơ quan, tổ chức có

Trang 36

thẩm quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai

Ví dụ: Tháng 8-2013, Trương Thành Nam lập trang Facebook mang tên Trường Nguyễn Thanh nhằm đăng thông tin, hình ảnh có nội dung bôi nhọ, xúc phạm danh dự đến sếp cũ của mình là ông Nguyễn Thanh Trường (giám đốc Công ty cổ phần Việt Séc, Q.Thanh Khê, Đà Nẵng) Trang này đăng những thông tin xuyên tạc như rao bán công ty và nhà riêng để hạ thấp uy tín công ty, làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ông Trường Sau khi nhận được đơn tố giác của ông Trường, Phòng an ninh kinh tế đã vào cuộc xác minh Nam là người lập trang Facebook nói trên Sau đó, phòng an ninh kinh

tế Công an Đà Nẵng yêu cầu Nam chấm dứt hành vi đăng thông tin, hình ảnh bôi nhọ, xúc phạm danh dự ông Trường… [38]

Như vậy, có thể thấy người bị xâm phạm quyền nhân thân hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu người xâm phạm quyền nhân thân phải thực hiện một trong các hành vi sau:

Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm

là biện pháp thường được áp dụng để bảo vệ quyền nhân khi việc thực hiện các quyền đó bị cản trở, đã gây ra thiệt hại hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại Đây là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả vì sau khi nhận được yêu cầu thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp đủ mạnh do pháp luật quy định buộc người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân chấm dứt hành vi đó Tùy thuộc vào biểu hiện của hành

vi xâm phạm quyền nhân thân mà người xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm theo nhiều cách khác nhau Ví dụ: Nếu hành vi xâm phạm bí mật đời tư là là hành vi thu thập, công bố thông tin thì người thu thập, công bố thông tin phải dừng lại việc thu thập công bố; nếu hành vi xâm phạm hình ảnh

là hành vi tung ảnh hay video nhạy cảm thì phải chấm dứt hành vi tung ảnh hay video đó…

Trang 37

Buộc xin lỗi: người xâm phạm có thể trực tiếp gặp người bị xâm phạm

quyền nhân thân để xin lỗi hoặc xin lỗi dưới các hình thức khác nhau theo yêu cầu của người bị xâm phạm (đăng báo, đăng trên website…) Tuy nhiên, biện pháp bảo vệ này hiệu quả cũng không cao Ví dụ: Trong các vụ kiện vì danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, ngoài trách nhiệm vật chất, các tòa cũng thường tuyên buộc bên vi phạm phải xin lỗi công khai Nếu như việc thi hành phần bồi thường không có gì phức tạp bởi cơ quan thi hành án có thể khấu trừ thu nhập, kê biên, bán đấu giá tài sản thì với việc xin lỗi công khai, một khi bên vi phạm không tự nguyện là cơ quan thi hành án “bó tay” Bởi vì việc xin lỗi công khai giữa cá nhân với nhau được thực hiện ra sao, nếu không thực hiện thì xử lý như thế nào pháp luật chưa có quy định để điều chỉnh

Cải chính công khai: Tương tự như hành vi buộc xin lỗi, người có hành

vi xâm phạm quyền nhân thân của người khác sẽ phải cải chính lại các thông tin trước đây mình đã đưa ra, việc cải chính này có thể thực hiện trực tiếp nhưng cũng có thể cải chính thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng (trên các trang báo, website…) Khi các quyền nhân thân bị xâm phạm

nó tác động không nhỏ tới danh dự của người đó trong xã hội Dù có thiệt hại hay không có thiệt hại thì biện pháp này cũng lấy lại được danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người có quyền nhân thân bị xâm phạm

Ví dụ: Trong vụ ông Vũ Thanh Hải (SN 1962), trú tại phường Kỳ Bá,

TP Thái Bình, nguyên Công chứng viên, Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

bị Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khởi tố tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nhưng cho tại ngoại, không được đi khỏi nơi cư trú Sau đó, ông Hải phát bệnh phải vào bệnh viện tâm thần chữa trị Chưa đầy bốn tháng sau, ông Hải đã tự vẫn Sau 10 năm, ngày 9-1-2014, VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết định số 01 đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can ông Vũ Thanh Hải Sau khi đình chỉ điều tra vụ án Ông Phạm Hữu Dương, Trưởng phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án kinh tế, chức

Ngày đăng: 27/03/2018, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm