1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu bảo hiến và xây dựng mô hình bảo hiến phù hợp với yêu cầu nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay

76 257 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 715,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một văn bản khẳng định việc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, văn bản ghi nhận và thiết lập những cơ chế bảo vệ các quyền cơ bản của con người, sự xuất hiện củ

Trang 1

ĐẶNG PHƯƠNG THÚY

NHU CẦU BẢO HIẾN VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO HIẾN PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS THÁI VĨNH THẮNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đặng Phương Thúy

Trang 3

em trong suốt thời gian học cao học cũng như những năm học cử nhân, cùng gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ em để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đặc biệt, em xin được bảy tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo, PGS TS Thái Vĩnh Thắng, người đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIẾN TRONG NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN 7

1.1 Tầm quan trọng của bảo hiến trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền 7 1.2 Thiết chế bảo hiến – công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và tự do của con người và công dân – mục tiêu cơ bản của nhà nước Pháp quyền 10

1.3 Thiết chế bảo hiến góp phần bảo vệ nền tảng pháp lý của Nhà nước pháp quyền dân chủ 12

1.4 Hoạt động bảo hiến góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền 13

1.5 Cơ chế bảo hiến qua các bản Hiến pháp Việt Nam 14

CHƯƠNG 2: CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY VÀ KINH NGHIỆM LỰA CHỌN MÔ HÌNH BẢO HIẾN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 22

2.1 Đặc điểm của một số mô hình bảo hiến trên thế giới 22

2.2 Kinh nghiệm lựa chọn mô hình bảo hiến của một số nước 33

CHƯƠNG 3: NHU CẦU VÀ PHƯƠNG ÁN XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO HIẾN PHÙ HỢP VỚI NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM 43

3.1 Thực trạng hoạt động bảo hiến ở Việt Nam hiện nay 43

3.2 Nhu cầu xây dựng thiết chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay 52

3.3 Phương án xây dựng mô hình bảo hiến ở Việt Nam 56

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp là văn bản có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia Với tư cách là một văn bản khẳng định việc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, văn bản ghi nhận và thiết lập những cơ chế bảo vệ các quyền cơ bản của con người, sự xuất hiện của hiến pháp đã trở thành bước ngoặt quan trọng trong tiến trình dân chủ của mỗi quốc gia Hiến pháp là văn bản chính trị pháp lý xác định nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước, cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước; quy định những vấn đề quan trọng nhất, nền tảng nhất của quốc gia như: chế độ chính trị; chế độ kinh tế; chế độ văn hóa, xã hội; hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân…Với vai trò

và nội dung quan trọng như vậy, Hiến pháp được coi là nền tảng pháp lý của mỗi quốc gia, là đạo luật cơ bản của nhà nước và có vị trí tối thượng Do đó, vấn đề bảo hiến được các quốc gia chú trọng thực hiện, nó đã trở thành một phần quan trọng và

là một yêu cầu không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của đa số các nhà nước, đặc biệt đối với nhà nước pháp quyền Mặc dù vậy, không có một mô hình bảo hiến chung cho mọi quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia, cơ chế bảo hiến được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau, với các chức năng, nhiệm vụ rộng hẹp khác nhau Hoạt động bảo hiến nhằm thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu như: Phán quết về tính hợp hiến của các văn bản của cơ quan nhà nước và các cá nhân được nhà nước trao quyền; giải thích hiến pháp; giải quyết khiếu kiện về sự vi phạm các quyền và tự do của công dân được quy định trong Hiến pháp…Để tiến hành các hoạt động đó, mỗi nhà nước đều phải thiết lập một cơ chế để tổ chức và vận hành

Ở Việt nam, ngay sau khi thành lập nhà nước, Hiến pháp đã ra đời và luôn được khẳng định là văn bản chính trị pháp lý có vị trí tối thượng Kể từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 được ban hành, đến nay nước ta đã trải qua gần 70 năm lịch

sử lập hiến với các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và mới nhất là Hiến pháp năm 2013 cùng với các lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp trong

Trang 6

các năm 1988, 1989 và 2001 Hoạt động bảo hiến đã hình thành và từng bước phát triển góp phần bảo đảm cho các bản Hiến pháp được tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Từ sau khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung vào năm 2001,

sự vận hành của cơ chế bảo hiến đã đem lại một số kết quả tích cực Hiến pháp năm

2013 cũng có một số điểm mới tích cực về cơ chế bảo hiến Tuy nhiên, nhìn chung

cơ chế bảo hiến hiện hành còn bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế: Mô hình bảo hiến chưa được định hình một cách rõ ràng; thiếu cơ chế xem xét và phán quyết về tính hợp hiến của hoạt động lập pháp; thiếu cơ chế phán quyết về những văn bản và hành vi vi phạm quyền và tự do hiến định của công dân; thiếu cơ quan bảo hiến chuyên trách; thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo hiến được trao cho nhiều cơ quan,

cá nhân nhưng sự phân công chưa hợp lý và chế độ trách nhiệm chưa rõ ràng; nhiều cơ quan chưa thực hiện đúng và đủ chức năng, nhiệm vụ được giao; các hoạt động bảo hiến hiện nay còn mang tính tư vấn, khuyến nghị nhiều, hiệu lực pháp lý thấp; sự vận hành của cơ chế bảo hiến chưa thường xuyên, nhịp nhàng, hiệu quả thấp Trong thực tiễn còn nhiều hiện tượng vi hiến chưa được phát hiện và xử lý kịp thời

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là do việc nghiên cứu lý luận về bảo hiến và cơ chế bảo hiến trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam chưa đầy

đủ và toàn diện Mặt khác, do điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, ý thức pháp luật và thực tiễn triển khai các hoạt động bảo hiến chưa đáp ứng được các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc xác lập và thực hiện có hiệu quả cơ chế bảo hiến phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay Do vậy, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của

Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng

đến năm 2020” đã xác định một trong những nhiệm vụ trong thời kỳ này là: “Hoàn

thiện pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội, cơ chế bảo vệ luật và Hiến pháp”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ: “Xác định cơ chế

bảo vệ hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật”, nghiên cứu “xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến,

Trang 7

hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” và “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, phần

đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng ta đã xác định:

“Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế, cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”; “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới Tiếp tục xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế, kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” Theo đó, ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 với một số điểm mới về cơ chế bảo hiến Vì vậy, chúng ta phải tổng kết, đánh giá và tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói chung và cơ chế bảo hiến nói riêng Hoạt động này đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ chế bảo hiến, đánh giá thực trạng cơ chế bảo hiến ở Việt Nam, liên hệ với các mô hình bảo hiến trên thế giới Trên cơ sở đó, đề xuất những quan điểm, phương án hoàn thiện

cơ chế bảo hiến trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Nhu cầu bảo hiến và xây

dựng mô hình bảo hiến phù hợp với yêu cầu Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề bảo hiến đã được đặt ra ngay từ khi bản Hiến pháp đầu tiên của nước

ta được ban hành (Hiến pháp năm 1946) Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, bảo hiến mới được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây Từ khi việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam được khẳng định trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, đặc biệt từ khi có Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về

Trang 8

“Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, các cuộc hội thảo với các cấp độ quốc gia và quốc tế lần lượt được tiến hành, có nhiều công trình nghiên cứu, bài đăng trên các tạp chí

luật học chuyên ngành, chẳng hạn như: Hội thảo khoa học về cơ chế bảo hiến ở Việt

Nam do Ban công tác lập pháp của Ủy ban thương vụ Quốc hội phối hợp với Ban

quản lý và điều hành Dự án SIDA (Thụy Điển) tổ chức; cuốn Cơ chế bảo hiến do Đặng Văn Chiến (chủ biên), nhà xuất bản Tư pháp năm 2005; “Hội thảo quốc tế về

bảo hiến” tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 12-13/3/2009 do Dự án Hỗ trợ

Cải cách Pháp luật và Tư pháp Việt Nam tài trợ và cuốn Kỷ yếu hội thảo quốc tế về

bảo hiến, Nhà xuất bản Thời đại năm 2009; các bài đăng trên tạp chí của các tác giả

như: Nguyễn Đức Lam, Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ở các nước (tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7/2001), Thẩm quyền của cơ quan bảo hiến ở các nước (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9/2001), Cơ chế giám sát bảo hiến: góc nhìn tham khảo (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp sô 10/2003); Nguyễn Minh Đoan, Bảo đảm tính tối cao của

Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2002);

Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12/2003); Bùi Ngọc Sơn, Cơ sở của chế độ bảo hiến (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12/2003); PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Mô hình cơ quan bảo hiến của các nước trên thế giới (Tạp chí Luật học số 5/2004); Ths Lê Tuấn Sơn, Tào Thị Quyên, Tòa án Hiến pháp

với việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người (Đặc san Nghề luật số 8/2004)

Ngoài ra còn có các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ của các tác giả như: Tào Thị

Quyên, Cơ chế bảo vệ hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, luận án tiến sĩ luật học năm 2011; Nguyễn Mậu Tuân, Bảo hiến trong nhà nước pháp quyền, luận án tiến sĩ luật học năm 2012; Đoàn Bích Ngọc, Bảo hiến và vai trò của bảo hiến đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam, luận

văn thạc sĩ luật học năm 2007; Trịnh Phương Thảo, Xây dựng các cơ chế nhà nước

bảo vệ Hiến pháp, luận văn thạc sĩ luật học năm 2011 Bên cạnh đó, vấn đề xây

dựng và hoàn thiện cơ chế bảo hiến ở Việt Nam còn ít nhiều được đề cấp đến trong một số công trình khoa học nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền, về đổi mới tổ

Trang 9

chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội…

Tuy nhiên, trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 mới được thông qua với nhiều điểm mới liên quan đến cơ chế bảo hiến, hiện nay rất cần một công trình nghiên cứu để tổng kết, đánh giá những điểm mới đó, đặt vào hoàn cảnh thực tiễn ở Việt Nam và đưa ra phương hướng trong thời gian tới để xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo hiến Đặc biệt, chúng ta phải tìm được mô hình bảo hiến đủ hiệu lực và hiệu quả, vừa tiếp thu được kinh nghiệm của thế giới, vừa phù hợp với hoàn cảnh cụ thể

ở nước ta, phù hợp với yêu cầu Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa hiện nay

Đó chính là lý do để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề

lý luận về bảo hiến, xác định nhu cầu bảo hiến, khái quát các mô hình bảo hiến trên thế giới và kinh nghiệm lựa chọn mô hình của một số nước; từ đó, lựa chọn mô hình phù hợp với yêu cầu Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu

Về khái niệm bảo hiến, vai trò của bảo hiến trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; về các mô hình bảo hiến trên thế giới; thực trạng hoạt động bảo hiến ở Việt Nam hiện nay; xác định nhu cầu xây dựng thiết chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay và phương án xây dựng mô hình bảo hiến ở Việt Nam

5 Phạm vi nghiên cứu

Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiến; vấn đề bảo hiến trong nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; các mô hình bảo hiến trên thế giới và kinh nghiệm của một số nước; thực trạng hoạt động bảo hiến ở Việt Nam hiện nay và phương án xây dựng mô hình bảo hiến ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật biên chứng và duy vật lịch sử; đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về

Trang 10

xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng, trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước

- Các phương pháp cụ thể bảo gồm: Phương pháp tổng hợp, đánh giá thực tiễn các quy định của pháp luật; phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp; kết hợp

lý luận và thực tiễn để đưa ra các kết luận, đánh giá

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thạm khảo, luận văn gồm

ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiến trong nhà nước pháp quyền

Chương 2: Các mô hình bảo hiến trên thế giới hiện nay và kinh nghiệm lựa chọn mô hình bảo hiến của một số nước trên thế giới

Chương 3: Nhu cầu và phương án xây dựng mô hình bảo hiến phù hợp với Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 11

Hiến pháp là một văn bản pháp lí có tầm bao quát lớn nhất và có giá trị pháp

lí cao nhất của một quốc gia, là nền tảng pháp lý của cả hệ thống pháp luật Về ý nghĩa chính trị, Hiến pháp là văn bản tuyên bố chủ quyền của quốc gia, ghi nhận chính quyền hợp hiến, cách thức tổ chức, cơ chế vận hành của quyền lực nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân Về ý nghĩa pháp lý, trong các phương thức hạn chế quyền lực nhà nước, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, có vị trí tối thượng, là phương thức quan trọng nhất để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

- Hiến pháp chỉ xuất hiện trong một xã hội có dân chủ, khi quyền lực nhà nước đã được phân chia giữa ba nhánh quyền lực: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Quyền lập pháp thuộc về cơ quan đại diện của nhân dân mà cơ quan này chỉ

có thể hình thành bằng con đường bầu cử theo các nguyên tắc bầu cử bình đẳng, phổ thông, bỏ phiếu kín và trực tiếp Cơ quan này bao gồm đại diện các giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo của các vùng lãnh thổ trong Nhà nước Vì vậy, Hiến pháp công khai thừa nhận chủ quyền nhân dân, quyền lực nhà nước xuất phát (hoặc thuộc về) nhân dân, thừa nhận sự bình đằng về mặt pháp lí của mọi công dân trong xã hội

- Về trình tự, thủ tục xây dựng và thông qua, Hiến pháp bao giờ cũng được xác định là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất và chỉ cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân được nhân dân trao thẩm quyền mới được xây dựng và thông qua Hiến pháp Như vậy, Hiến pháp có vị trí pháp lí cao nhất, là cơ

sở, nền tảng cho mọi tổ chức và hoạt động của Nhà nước và cá nhân trong xã hội,

Trang 12

căn cứ xây dựng các văn bản pháp luật, điều chỉnh các mối quan hệ pháp lí giữa Nhà nước với tổ chức và cá nhân trong xã hội và trong quan hệ quốc tế Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của cá nhân, tôn trọng quyền công dân, quyền con người là nguyên tắc xây dựng Hiến pháp và là mục tiêu của mọi hoạt động của Nhà nước So với pháp luật chung, tính xã hội của Hiến pháp rộng hơn và toàn diện hơn

- Hiến pháp đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì dân nhằm đảm bảo cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực, tránh lạm quyền

- Hiến pháp với vai trò là đạo luật cơ bản của quốc gia, là bản khế ước của nhân dân ủy quyền cho các thiết chế trong bộ máy nhà nước, là phương thức quan trọng để hạn chế, kiểm soát quyền lực Nhà nước, đảm bảo dân chủ, quyền con người

- Với tư cách là đạo luật cơ bản của quốc gia và có hiệu lực pháp lý tối cao, Hiến pháp là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là báu vật của quốc gia cần được tôn trọng và tuân thủ một cách nghiêm ngặt của mọi chủ thể trong xã hội Nhằm chống lại sự vi phạm các quy định của Hiến pháp, làm thay đổi nội dung của Hiến pháp, không thi hành các quy định về mặt nội dung, cũng như tinh thần của Hiến pháp Thực

tế trên thế giới, các Nhà nước có Hiến pháp đều có quy định bảo vệ Hiến pháp

Xuất phát từ vị trí, vai trò của Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực cao nhất, đặt ra yêu cầu: Hiến pháp phải được ban hành theo quy trình đảm bảo là đạo luật cơ bản của quốc gia, điều này đỏi hỏi: Quy trình xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp phải được thiết lập một cách chặt chẽ, đảm bảo quyền tham gia ý kiến góp ý của nhân dân; Hiến pháp phải quy định chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước, bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực, tránh lạm quyền; Phải có cơ chế bảo vệ Hiến pháp với vai trò là đạo luật cơ bản của quốc gia, là bản khế ước của nhân dân ủy quyền cho các thiết chế trong bộ máy nhà nước, là phương thức quan trọng để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo dân chủ, quyền con người

Hiện nay, chưa có khái niệm chung nhất về bảo hiến và có nhiều quan điểm

khác nhau Theo quan điểm của Gs Ts Lê Minh Tâm thì thuật ngữ “bảo hiến” được

Trang 13

hiểu theo nghĩa chung nhất là bảo vệ hiến pháp Theo từ điển tiếng Việt thì “bảo

vệ” là tổng hợp các biện pháp để chống lại mọi sự xâm phạm, để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn, là bênh vực lí lẽ để giữ vững ý kiến, quan điểm Như vậy, bảo hiến có thể được hiểu là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm hiến định

Trong từ điển pháp luật của nhiều nước, thuật ngữ đó là “constututional review/ judicial review” Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ pháp lý khác nhau như

“bảo hiến”, “bảo vệ Hiến pháp”, “tài phán Hiến pháp” Mặc dù các khái niệm này còn chưa hoàn toàn phù hợp xét trong ngữ nghĩa pháp lý do chúng có phạm vi quá rộng và không xác định Ở đây, một điều dễ hiểu là mọi cá nhân, mọi thiết chế, mọi

tổ chức đều có nghĩa vụ thiêng liêng là bảo vệ Hiến pháp Từ cách tiếp cận này, khái niệm thích hợp hơn về mặt pháp lý có thể là “kiểm tra, giám sát hiến pháp” Kiểm tra, giám sát hiến pháp có thể hiểu là một chức năng đặc biệt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đám vị trí tối thượng của Hiến pháp; bảo đảm để Hiến pháp thực hiện một cách trực tiếp trong quan hệ hiện hữu Cách hiểu

này hình thành nên quan điểm thứ nhất, quan niệm bảo hiến là toàn bộ hoạt động

kiểm tra, giám sát, xét xử của các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm vị trí, vai trò tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật; sự phân quyền trong bộ máy nhà nước; quyền công dân ghi nhận trong Hiến pháp Đây là quan điểm bảo hiến theo

nghĩa rộng Theo định nghĩa của một số từ điển pháp luật phổ biến, có thể hiểu bảo hiến là thẩm quyền của tòa án của một quốc gia được xem xét và đánh giá tính hợp

hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Đây là quan điểm bảo hiến thứ hai, cho rằng: Bảo hiến là hoạt động của cơ quan có

chức năng tài phán hiến pháp theo thủ tục đặc biệt được Hiến pháp quy định Đây

là quan điểm bảo hiến theo nghĩa hẹp

Qua thực tiễn chúng ta có thể thấy rằng, nhiều quốc gia trên thế giới chưa có những cơ quan chuyên trách có chức năng tài phán hiến pháp nhưng vẫn có những

cơ chế riêng để bảo vệ Hiến pháp, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm hiến định Vì vậy, không thể lấy “cơ quan tài phán hiến pháp” là dấu hiệu để

Trang 14

cho rằng quốc gia đó không có cơ chế bảo vệ Hiến pháp, không có “bảo hiến” Mặt khác, theo TS Nguyễn Mậu Tuân: “xét dưới góc độ quyền lực nhà nước thì chỉ những chủ thể có quyền lực từ Hiến pháp, có nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp (những cơ quan công quyền) thì mới có khả năng vi phạm Hiến pháp; bởi lẽ Hiến pháp là bản thiết kế mô hình tổ chức quyền lực của bộ máy nhà nước, trong đó, Hiến pháp ấn định hành lang pháp lý cho hành vi của công quyền, bao gồm cách thức thực hiện quyền lực, cơ chế kiểm soát quyền lực để bảo đảm dân chủ.” Xuất phát từ chủ thể

có nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp là những cơ quan công quyền chứ không riêng cơ quan tài phán, xuất phát từ biện pháp bảo vệ Hiến pháp rất rộng - từ kiểm tra, giám sát đến xét xử, không chỉ riêng hoạt động xét xử, tác giả cho rằng phải hiểu khái

niệm bảo hiến theo nghĩa rộng: “Bảo hiến là toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát,

xét xử của các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm vị trí, vai trò tối thượng và Hiến pháp trong hệ thống pháp luật; sự phân quyền trong hệ thống bộ máy nhà nước; quyền công dân ghi nhận trong Hiến pháp”

1.2 Thiết chế bảo hiến – công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và tự do của con người và công dân – mục tiêu cơ bản của nhà nước Pháp quyền

Mặc dù chưa có một định nghĩa chung về Nhà nước pháp quyền nhưng một luận điểm được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất là: Nhà nước pháp quyền có mục tiêu bảo đảm quyền tự do của con người Đặc điểm này đã phân biệt Nhà nước pháp quyền với các nhà nước pháp trị trong lịch sử Theo đó, Nhà nước pháp quyền không chỉ nhấn mạnh tính tối cao của pháp luật mà điều quan trọng hơn, đó là pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải bảo vệ quyền và tự do của con người, phục vụ con người và vì con người Điều đó cho phép mỗi người dân sống trong Nhà nước pháp quyền có thể sử dụng pháp luật như một thứ công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ mình và chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước vì lợi ích riêng, đi ngược với quyền lợi của nhân dân Đây chính là cơ sở để khẳng định tính nhân văn, nhân đạo của những tư tưởng về Nhà nước pháp quyền

Trang 15

Trong Nhà nước pháp quyền, vấn đề bảo đảm các quyền và tự do của con người có liên quan mật thiết tới việc bảo đảm sự tuân thủ các quy định của Hiến pháp, đặc biệt là các quy định về quyền tự do cơ bản của con người Sở dĩ như vậy

vì trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người là những quyền hiến định, các quyền này không thể bị xâm phạm Bảo vệ các quyền, tự do của con người, thiết lập một cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nhằm ngăn ngừa sự vi phạm các quyền, tự do của con người cũng là mục đích ra đời của Hiến pháp Tuy nhiên,

để bảo đảm mục tiêu cơ bản của Nhà nước pháp quyền, việc ghi nhận các quyền và

tự do cơ bản của công dân trong các văn bản pháp luật của Nhà nước là chưa đủ Vấn đề quan trọng và có ý nghĩa hơn cả đó là tính hiện thực của các quy định về quyền con người, quyền công dân Điều đó có nghĩa là phải có những cơ chế thực thế và hiệu quả để người dân có thể thực hiện các quyền của mình, bảo vệ các quyền của mình và bảo đảm mọi hành vi xâm phạm các quyền đó đều phải bị xử lý kịp thời, đặc biệt là những xâm phạm từ phía cơ quan công quyền Bảo hiến chính

là một trong những cơ chế như vậy Thông qua việc xử lý các hành vi vi phạm Hiến pháp (mà một trong những loại vi phạm phổ biến là vi phạm các quy định về quyền con người trong Hiến pháp của cơ quan nhà nước), hoạt động bảo hiến giúp cho các quyền hiến định của công dân được mọi cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tôn trọng Sự hữu hiệu của công cụ bảo hiến còn thể hiện ở chỗ những hành vi vi phạm quyền con người mà nó có thể xử lý là những xâm phạm mang tính quyền lực, kể cả những cơ quan có địa vị pháp lý cao nhất trong bộ máy nhà nước Với ý nghĩa như vậy, bảo hiến chính là công cụ mà mỗi người dân trong Nhà nước pháp quyền cần phải có để bảo vệ các quyền và tự do của mình Khi đó, pháp luật nói chung và Hiến pháp nói riêng sẽ thực sự là công cụ tốt nhất, được mọi chủ thể trong xã hội tin tưởng, trở thành lá chắn quan trọng có tác dụng bảo vệ mọi chủ thể

Trang 16

1.3 Thiết chế bảo hiến góp phần bảo vệ nền tảng pháp lý của Nhà nước pháp quyền dân chủ

Trong hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước ta cũng như các nước trên thế giới, Hiến pháp được xem là luật cơ bản, luật gốc Với nội dung quy định

về chế độ chính chị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý Hiến pháp đã tạo lập cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của một Nhà nước pháp quyền dân chủ, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu để quản lý

xã hội Không những thế, Hiến pháp còn là văn bản pháp lý đầu tiên của nước ta xác định phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, đồng thời, nêu lên những đặc điểm cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoản

1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

3 Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Đây là những quy định mang tính nền tảng, tạo cơ sở pháp lý, đồng thời là

nguyên tắc xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ Do vậy, bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp là yêu cầu tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Trên thực tế, những nguyên tắc trong tổ chức quyền lực nhà nước đã được quy định bởi Hiến pháp vẫn có thể bị vi phạm Khi đó, việc thiết lập cơ chế bảo hiến

sẽ giúp ngăn ngừa một cách hữu hiệu và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Hiến pháp, bảo đảm hiệu lực thực tế của các quy định liên quan đến tổ chức và thực hiện

Trang 17

quyền lực Nhà nước, bảo vệ nền tảng pháp lý cho Nhà nước pháp quyền dân chủ Bảo hiến với nội dung và mục đích là bảo đảm sự tuân thủ hiến pháp không chỉ thực hiện sự kiểm soát công quyền - một trong những yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền mà còn bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền dân chủ đang được xây dựng ở nước ta Do vậy, việc xác lập một cơ chế kiểm tra và bảo vệ Hiếp pháp, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm hiến pháp là phương pháp quan trọng và cần thiết để tạo ra sự bảo đảm vững chắc cho chế độ Nhà nước pháp quyền

và nền dân chủ ở nước ta

1.4 Hoạt động bảo hiến góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền

Ở nước ta, pháp luật chính là phương tiện thể chế hóa đường lối của Đảng, làm cho đường lối đó có hiệu lực và thực thi trên quy mô toàn xã hội Trong mối quan hệ với Nhà nước, pháp luật là phương tiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước, là sự ghi nhận về mặt pháp lý trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân công dân, là phương tiện quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả đối với mọi mặt của đời sống xã hội Trong mối quan hệ với các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, pháp luật là phương tiện đảm bảo cho quần chúng nhân dân lao động tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua các tổ chức của mình Đối với toàn bộ

Hệ thống chính trị, pháp luật là phương tiện hàng đầu để thiết lập các nguyên tắc quan trọng nhất về tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống, là thước đo về tính hợp pháp, hợp chính trị, hợp đạo lý của các thành viên hoạt động trong hệ thống đó Đối với cá nhân, pháp luật là phương tiện ghi nhận và thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân và đảm bảo về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện Các vấn đề an sinh xã hội, về tính mạng và tài sản, danh dự và nhân phẩm, bình đẳng và công bằng đều gắn chặt với vai trò điều chỉnh của pháp luật Chính vì vậy mà mức độ hoàn thiện pháp luật và tuân thủ pháp luật trở thành một tiêu chí để đánh giá tính pháp quyền của một nhà nước

Một trong những tiêu chí để hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền đó là đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Trang 18

Khi đánh giá tính thống nhất về phương diện cấu trúc của hệ thống pháp luật, cần xem xét tính thống nhất giữa các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật và với các nghành luật khác Bên cạnh đó, tính thức bậc của hệ thống văn bản pháp luật cũng là yếu tố không thể thiếu được để tạo nên sự đồng bộ của hệ thống pháp luật Luật, pháp lệnh cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp, những văn bản luật vi hiến đều bị hủy bỏ Nếu xuất hiện sự mâu thuẫn, chồng chéo trong nội tại hệ thống pháp luật thì không thể có sự điều chỉnh pháp luật toàn diện, đồng bộ và có hiệu quả được Tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật đòi hỏi phải loại bỏ sự mâu thuẫn, trùng lặp, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, xác định ranh giới giữa các ngành luật và định ra một hệ thống quy phạm pháp luật đồng bộ Để đạt được điều đó, phải nhấn mạnh và đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp vì đó là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất, các văn bản khác nhất thiết phải dựa vào quy phạm của Hiến pháp để cụ thể hóa thành hệ thống các quy phạm trong lĩnh vực tương ứng

Mặt khác, một đòi hỏi quan trọng nữa là sự thống nhất và ổn định trong cách hiểu nội dung và ý nghĩa của các quy phạm Hiến pháp Sự giải thích Hiến pháp chính thức có tính chất bắt buộc cũng nhằm đáp ứng đòi hỏi đó Qua việc thực hiện thẩm quyền này, cơ quan bảo hiến còn tác động đến quá trình sáng tạo pháp luật và

ở góc độ nào đó tham gia vào quá trình này

1.5 Cơ chế bảo hiến qua các bản Hiến pháp Việt Nam

Vấn đề bảo vệ Hiến pháp từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng, nhưng kể từ khi định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đặt ra thì chủ đề trên mới trở lên “nóng bỏng” và thu hút được sự chú ý của toàn xã hội Bởi trong Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp được đặt ở vị trí cao nhất, được xem là biểu tượng hay “vương miện của Nhà nước pháp quyền” Lý luận về Nhà nước pháp quyền khẳng định Nhà nước pháp quyền sinh ra để bảo vệ quyền con người, quyền tự do của công dân được quy định trong nội dung của Hiến pháp

Trang 19

Trong số các bản Hiến pháp nước ta từ trước đến nay, Hiến pháp năm 1946

là bản Hiến pháp đầu tiên, có nội dung hết sức ngắn gọn và súc tích bao gồm có lời nói đầu, 70 điều với 12 chương, nhưng giá trị và ý nghĩa của Hiến pháp 1946 là đặc biệt quan trọng trong lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, do ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta mới giành được độc lập và tiếp tục phải chống Thực dân Pháp quay lại xâm lược, chính vì vậy, mức độ được bảo vệ cũng như hiệu lực thực tế của Hiến pháp năm 1946 vẫn còn rất nhiều hạn chế Cụ thể là, nội dung của Hiến pháp năm 1946 chứa đựng một số điểm bất cập lớn như Điều 31 Hiến pháp quy định về các đạo luật của nghị viện, theo đó trong trường hợp những luật do Nghị viện đã thông qua, dù trái với Hiến pháp và được Chủ tịch nước phát hiện, yêu cầu thảo luận lại nhưng Nghị viện vẫn thông qua thì luật đó vẫn phải được ban hành dù có nội dung trái với Hiến pháp Bên cạnh đó, hoạt động giám sát của Nghi viện đối với hoạt động lập quy của Chính phủ cũng không được quy định một cách cụ thể, chẳng hạn theo quy định tại Điều 36 Hiến pháp năm 1946 nếu các sắc luật do Chính phủ ban hành có nội dung trái với Hiến pháp, thì Nghị viện có quyền ưng chuẩn hoặc phế bỏ, nhưng căn cứ để Nghị viện phế bỏ sắc luật vi hiến đó thì không được xác định rõ ràng Chính vì những quy định trên đã phần nào làm hạn chế hoạt động giám sát, kiểm tra Hiến pháp của cơ quan nhà nước như Nghị viện hoặc Chủ tịch nước, khiến cho hiệu quả hoạt động của cơ chế bảo hiến ở thời kì này không phát huy được Ngoài ra, tại Điều 21, Điều

32, Điều 70 Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận một cơ chế sửa đổi để bảo vệ Hiến pháp không bị xâm phạm, thay đổi tùy tiện Ở đây, việc sửa đổi Hiến pháp có thủ tục bắt buộc là đưa ra “ toàn dân phúc quyết” Đây là một trong những đặc điểm thể hiện tính dân chủ của Hiến pháp năm 1946 và là một trong những biện pháp bảo vệ Hiến pháp

Sau Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 của nước ta ra đời, nhưng trong toàn bộ nội dung Hiến pháp năm 1959 vẫn không có quy định nào trực tiếp xác nhận địa vị pháp lý tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Tuy nhiên, với quy định tại Điều 43: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” trong

Trang 20

khi Quốc hội là cơ quan ban hành Hiến pháp Đồng thời, Hiến Pháp năm 1959 trao cho Quốc hội quyền “giám sát việc thi hành Hiến pháp” Như vậy, Hiến pháp năm

1959 đã phần nào xác lập vị trí và hiệu lực pháp lý của Hiến pháp cao hơn so với các đạo luật và các văn bản pháp lý khác kể cả những văn bản cùng chủ thể có thẩm quyền ban hành với Hiến pháp Điều này đồng nghĩa với việc các văn bản như Luật, Nghị quyết hay các văn bản pháp lý khác do Quốc hội và các cơ quan nhà nước ban hành không được chứa đựng những quy định đi ngược lại tinh thần, nội dung của Hiến pháp Tuy nhiên, trong khuôn khổ các quy định của mình, Hiến pháp năm

1959 lại không đề cập tới thẩm quyền của Quốc hội trong việc xử lý các văn bản có nội dung vi hiến, trọng trách này được Hiến pháp năm 1959 trao cho Ủy ban thường

vụ Quốc hội 1 Cùng với Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hiến pháp năm 1959 cũng trao quyền xử lý các văn bản có nội dung không hợp lý của các cơ quan nhà nước cấp dưới cho các cơ quan như Hội đồng Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, Uỷ ban hành chính2

Về hoạt động kiểm soát sự tuân thủ pháp luật, Hiến pháp năm 1959 trao cho Viện kiểm sát nhân dân quyền được kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan và công dân, cụ thể tại Điều 105 Hiến pháp năm 1959, Chương VIII – Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát

Như vậy, so với Hiến pháp 1946, nội dung quy định của Hiến pháp 1959 đối với vấn đề giám sát Hiến pháp đã có phần chặt chẽ và rõ ràng hơn Đã có nhiều chủ thể tham gia hoạt động bảo hiến, tuy là chưa sâu sắc và toàn diện nhưng đã có cơ chế giám sát văn bản quy phạm pháp luật

Kế thừa Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 được ban hành trong bối cảnh đất nước hoàn toàn thống nhất và tiến hành xây dựng đất nước theo con đường Chủ nghĩa xã hội Do đó, so với hai bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm

Trang 21

1959, Hiến pháp năm 1980 có nhiều điểm khác biệt nổi bật Thông qua quy định tại Điều 146 Chương XII, Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên xác lập vị thế của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật nước ta khi khẳng định: “Hiến pháp nước cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp” Với quy định trên, lần đầu tiên Hiến pháp chính thức ngự trị trên đỉnh cao của Hệ thống pháp luật Việt Nam, là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản, buộc các văn bản pháp luật khác phải được ban hành với nội dung phù hợp với các quy định của Hiến pháp

Trong Hiến pháp năm 1980, việc giải thích Hiến pháp được đề cập rõ ràng và

cụ thể hóa hơn Tại khoản 5 Điều 100 Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng nhà

nước có thẩm quyền và nhiệm vụ: “ giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh” trong

đó vai trò giải thích Hiến pháp được đặt lên hàng đầu

Hiến pháp năm 1980 cũng trao cho Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước

cao nhất quyền được: “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp

và pháp luật” Tuy nhiên trên thực tế, thẩm quyền giám sát tối cao đối với việc tuân

thủ Hiến pháp của Quốc hội chỉ mang tính hình thức vì vai trò xử lý các văn bản vi hiến của các cơ quan nhà nước ở trung ương và giải thích Hiến pháp vẫn do cơ quan thường trực của Quốc hội - Hội đồng nhà nước nắm giữ Theo quy định tại Khoản 8 Điều 83 Hiến pháp năm 1980 thì Hội đồng nhà nước có quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội đồng bộ trưởng nếu những văn bản này chứa đựng những nội dung trái với nội dung quy định của Hiến pháp, Luật và Pháp lệnh Đồng thời, theo khoản 10 Điều 83 Hiến pháp năm 1980 Hội đồng nhà nước còn có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết có nội dung “không thích đáng” của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cấp tương đương Ngoài ra, thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật có nội dung trái với Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp năm 1980 còn được trao cho các cơ quan nhà nước khác như Hội đồng bộ trưởng, Hội đồng

Trang 22

nhân dân và Ủy ban nhân dân3 Tương tự như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm

1980 cũng trao cho Viện kiểm sát nhân dân thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước như các bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, đồng thời thực hiện quyền công tố Từ đó góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, nội dung cụ thể được quy định tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 Mặc dù so với hai bản Hiến pháp trước đó, các quy định về bảo hiến của Hiến phá năm 1980 đã có phần rõ ràng, chi tiết hơn nhưng Hiến pháp năm 1980 cũng có nhiều điểm chưa hợp

lý, chẳng hạn quy định về vai trò giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của Quốc hội Thực tế cho thấy, Quốc hội khó có thể trực tiếp thực hiện trọng trách này, bởi trong toàn bộ nội dung Hiến pháp không có bất cứ quy định nào cho phép Quốc hội trực tiếp thực hiện vai trò trên, mà thẩm quyền thực tế xử lý những vấn đề trong phạm vi hoạt động giám sát Hiến pháp và kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật lại do cơ quan thường trực của Quốc hội và các cơ quan khác nắm giữ

Bản Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung 2001, kèm theo đó là một loạt các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy chế hoạt động của các cơ quan này được ban hành trên cơ sở các quy định của Hiến pháp đã quy định một cách khá đầy đủ

về hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Theo đó, các

cơ quan nhà nước được trao thẩm quyền đối với vấn đề này, cụ thể như sau:

Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 quy định: Quốc hội nắm giữ quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp, Luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành So với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm

2001 đã thực hiện hóa quyền giám sát tối cao của Quốc hội, theo quy định tại Khoàn 9 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 Quốc hội có quyền bãi bỏ đối với các văn bản pháp luật do Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phỉ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nếu

3

Tại Khoản 23, 24, 25 Điều 107; Khoản 10 Điều 115; Điều 124 Hiến pháp 1980

Trang 23

các văn bản này có nội dung trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội Như vậy, bên cạnh quyền giám sát Hiến pháp, quyền xử lý các văn bản có nội dung

vi hiến của Quốc hội đã được quy định một cách rõ ràng hơn, góp phần tăng thêm tính hiệu quả cho hoạt động giám sát do Quốc hội thực hiện

Khoản 5, 6 Điều 91 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 cho phép Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Khoản 2 Điều 112 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 quy định Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân;

tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân Trong khi đó, theo quy định tại Khoản 4 và 5 Điều 115 Hiến pháp năm

1992, Thủ tướng chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ các văn bản như quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân và chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, Luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu những văn bản này có nội dung trái với Hiến pháp, Luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ chung

Việc kiểm sát các hoạt động tư pháp được trao cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao, theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 nhằm góp phần đảm bảo cho pháp luật nói chung và Hiến pháp nói riêng được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi toàn quốc

Mới đây nhất là bản Hiến pháp vừa được thông qua vào ngày 28/11/2013 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2014 cho phù hợp với tình hình thay đổi của đất nước Có thể nói, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 là

Trang 24

một công trình khoa học, một văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng bậc nhất, kết tinh cao độ ý Đảng, lòng Dân, tinh thần dân chủ, đổi mới, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời

kỳ mới Tuy nhiên, những hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật được quy định gần như về mặt thẩm quyền trao cho các cơ quan nhà nước không thay đổi đáng kể so với Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001

Chương I quy định về chế độ chính trị: Hiến pháp khẳng định Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (khác với trước, chữ Nhân dân được viết hoa) Đồng thời, Hiến pháp tuy vẫn khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, nhưng lần đầu tiên có quy định thêm việc kiểm soát giữa các

cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (khoản 3 Điều 2) Đây được xem là một điểm mới cực kỳ quan trọng trong việc tổ chức quyền lực Nhà nước, tránh những nhánh quyền lực vượt quá quyền hạn, không thể kiểm soát Hiến pháp vẫn khẳng định vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của

Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng bổ sung một quy định rất quan trọng đó là “Đảng

gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” Khác với Hiến

pháp trước, từ nay Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước không chỉ bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân mà còn thông qua các cơ quan khác của Nhà nước

Điều 69 Hiến pháp năm 2013 vẫn khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhưng không khẳng định trực tiếp Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp như Hiến pháp năm 1992 mà tại Hiến pháp năm 2013, Quốc hội nhân danh quyền lực của Nhân dân, nhấn mạnh quyền lực của nhân dân được cụ thể hóa và trao quyền cho Quốc hội thực hiện quyền lập hiến,

Trang 25

quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, đồng thời thông qua hình thức dân chủ trực tiếp

Tiếp tục thực hiện hóa quyền giám sát tối cao của Quốc hội, giống như Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 đồng thời nhiệm vụ và quyền hạn trong việc giám sát các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước đều không thay đổi

Tại Điều 119, Chương XI Hiến pháp năm 2013 thì ngoài việc nhấn mạnh

“Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý” thì Hiến pháp đã nêu cụ thể “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp” Điều này để thấy rõ việc bảo vệ Hiến pháp không phải của riêng một cơ quan nào mà phải là của toàn bộ hệ thống nhà nước Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định và được thực hiện toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội

Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử lập hiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động bảo hiến đã có sự hoàn thiện dần từng bước, song hành hoàn thiện cùng các bản Hiến pháp từ năm 1946 cho tới gần nhất là Hiến pháp năm

2013 vừa được thông qua Đồng thời đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các cơ quan nhà nước, đánh giá đúng thực trạng pháp luật của nước ta để có thể bảo đảm thực hiện Hiến pháp một cách đúng và hoàn chỉnh nhất

Trang 26

CHƯƠNG 2 CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY VÀ

KINH NGHIỆM LỰA CHỌN MÔ HÌNH BẢO HIẾN

CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Đặc điểm của một số mô hình bảo hiến trên thế giới

Tất cả các quốc gia có Hiến pháp đều tìm kiếm, xây dựng cho mình một mô hình bảo hiến với mục tiêu đảm bảo dân chủ, nhân quyền, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Tuy nhiên, không có một khuôn mẫu chung “nhất thành bất biến” cho mọi quốc gia Mà mỗi quốc gia căn cứ điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và truyền thống của mình mà lựa chọn và xây dựng mô hình bảo hiến riêng Các nhà khoa học cho rằng: Tư tưởng về giám sát Hiến pháp xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào đầu thế kỷ XVII và gắn liền với hoạt động của Hội đồng cơ mật Hội đồng này có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các nước thuộc địa Anh ban hành trái với Luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung, vì vậy văn bản đó không thể có hiệu lực và cần bị bãi bỏ Giám sát Hiến pháp theo nghĩa hiện hành lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ, nhưng không phải trên cơ sở Hiến pháp mà từ án lệ Năm

1803, Chánh án Tòa án tối cao Mỹ đã phán quyết xác lập quyền của Tòa án tối cao được xem xét lại tính hợp hiến của bất kỳ văn bản luật nào của Nghị viện liên bang hay của cơ quan lập pháp các tiểu bang bằng tuyên bố Hiến pháp Liên bang là đạo luật cao nhất của đất nước Vì vậy, bất cứ văn bản luật nào do Nghị viện ban hành trái với Hiến pháp đều bị tuyên bố là không hợp hiến

Cùng với sự phát triển của lịch sử, có nhiều mô hình bảo hiến được hình thành tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia Có nhiều quan điểm phân loại các mô hình bảo hiến trên thế giới Trong bài luận văn này, tôi xin khái quát một số mô hình bảo hiến cơ bản sau:

Trang 27

2.1.1 Mô hình Tòa án tư pháp

Mỹ là quốc gia đầu tiên xác lập quyền giám sát Hiến pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án tư pháp và đã xây dựng mô hình cơ quan bảo hiến riêng Do đó, mô hình bảo hiến này còn được gọi là mô hình kiểu Mỹ hay mô hình bảo hiến phi tập trung Nguyên lý của mô hình bảo hiến này là vi phạm Hiến pháp cũng như vi phạm pháp luật thông thường khác cần được Tòa án tư pháp phán xét theo quy trình tố tụng Trong mô hình này, thẩm quyền giám sát Hiến pháp được giao cho các Tòa án có thẩm quyền chung thực hiện Theo đó, bất kỳ Tòa án nào cũng có thể ra phán quyết

về tính hợp hiến của các đạo luật Hoạt động bảo hiến gắn liền với việc giải quyết các vụ việc cụ thể tại Tòa án Tư tưởng tam quyền phân lập chính là nguồn gốc cho

sự hình thành mô hình bảo hiến kiểu Mỹ, nên phần lớn các quốc gia áp dụng triệt để học thuyết tam quyền phân lập đều lựa chọn mô hình bảo hiến này

Sau Mỹ, nhiều quốc gia cũng lần lượt xác lập quyền bảo hiến của Tòa án tư pháp như Bra-xin (1891), U-ru-goay (năm 1917) Cho đến nay, mô hình bảo hiến này cũng được áp dụng khá nhiều quốc gia trên thế giới như Ca-na-da, Mê-Hi-cô, Ác-hen-ti-na, Úc, Thụy Sỹ, Hy lạp, Ấn Độ, Nhật bản

Mô hình Tòa án tư pháp có các đặc điểm sau:

- Cơ quan thực hiện chức năng bảo hiến là các Tòa án tư pháp

Các nước áp dụng mô hình Tòa án tư pháp không tổ chức một cơ quan độc lập để xem xét tính hợp hiến của các đạo luật mà giao thẩm quyền này cho các Tòa

án thường thuộc nhánh tư pháp thực hiện đồng thời với các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của tòa án Phán quyết của tòa án tư pháp về tính hợp hiến của các văn bản pháp luật và hành vi được coi là một phần của hoạt động xét xử Tòa án xem xét tính hợp hiến của các đạo luật khi quy định của đạo luật đó được áp dụng để giải quyết các vụ việc tại Tòa án

Trang 28

- Việc thực hiện hoạt động bảo hiến gắn với việc giải quyết một vụ việc cụ thể của Tòa án

Quyền bảo hiến, dù được thực hiện bởi các Tòa án cấp thấp hay bởi Tòa án

án tối cao thì đều phải được thực hiện trong bối cảnh của một vụ kiện cụ thể, khi vấn đề hợp hiến trở nên có liên quan và cần thiết cho việc giải quyết vụ án đó Như thế, việc kiện tụng chính là tiền đề để Tòa án xem xét tính hợp hiến của các đạo luật

mà không có một điều kiện đặc biệt nào cho việc tiến hành thủ tục này của Tòa án Vấn đề hợp hiến được nêu ra khi nó liên quan đến vụ việc và do một bên trong vụ việc đưa ra để đòi quyền lợi của mình Điều này không phụ thuộc vào bản chất của

vụ việc là gì Bởi vậy, việc xem xét tính hợp hiến có thể được nêu ra trong vụ việc dân sự khi có các yêu cầu về bồi thường thiệt hại hay một yêu cầu nào khác được đưa ra, trong một vụ việc hình sự, một bên chống lại các cơ quan công quyền hoặc

cá nhân khác để hạn chế sự áp dụng một đạo luật, một quy tắc hoặc một hành vi hành chính

- Quyền bảo hiến chỉ được các Tòa án sử dụng trong trường hợp có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Đặc điểm này xác định rõ ràng hơn phạm vi của quyền giám sát, tránh sự trừu tượng và kém hiệu quả

- Một đạo luật chỉ bị tuyên bố là vi hiến khi Tòa án có đủ căn cứ rõ ràng rằng đạo luật đó không phù hợp với Hiến pháp

- Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến thường chỉ có hiệu lực bắt buộc trong phạm vi các bên của vụ việc được giải quyết, trừ trường hợp được áp dụng nguyên tắc tiền lệ

- Khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến thì đạo luật đó không còn giá trị áp dụng Tuy nhiên, Tòa án tư pháp không có thẩm quyền hủy bỏ hay tuyên bố đạo luật đó vô hiệu như trong hệ thống giám sát Hiến pháp tập trung Tòa án chỉ không

áp dụng đạo luật đó trên thực tế Phán quyết của Tòa án cấp trên có giá trị bắt buộc

Trang 29

đối với các Tòa án cấp dưới, phán quyết của Tòa án tối cao có giá trị bắt buộc đối với cả hệ thống tư pháp Như vậy, về hình thức đạo luật vẫn tồn tại nhưng trên thực

tế không được áp dụng nữa

- Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến của đạo luật không có hiệu lực trung thẩm như trong mô hình bảo hiến Tòa án hiến pháp hay mô hình Hội đồng bảo hiến mà có thể bị xem xét lại bởi một Tòa án cấp trên

2.1.2 Mô hình Tòa án hiến pháp

Mô hình Tòa án hiến pháp xuất hiện đầu tiên ở Châu Âu sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, do học giả người Áo Hans Kelsen sáng tạo Ban đầu, ý tưởng về việc thành lập Tòa án hiến pháp được tranh luận trong nhiều năm, từ năm 1910 đến năm 1930 ở trường Đại học Viên (Áo) Những người chủ trương thành lập Tòa án hiến pháp cho rằng ở các nước Châu âu lục địa, với vai trò và vị trí thiêng liêng của Nghị viên, các đạo luật được thông qua theo đa số thường ở Nghị viện có thể phủ quyết luôn cả phán quyết của Tòa án nếu Tòa án tuyên bố đạo luật không hợp hiến Chính vì vậy, cần có một cơ chế đủ sức vượt qua thẩm quyền đó của Nghị viện, đó

là Tòa án hiến pháp

Với những cơ sở như vậy, năm 1920, Tòa án hiến pháp được đề nghị thành lập được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp của Cộng hòa Áo Bản Hiến pháp này đã gây ảnh hưởng tới nhiều quốc gia khác trong khu vực như Italia (1948), Đức,

Ấn Độ (1949), Lúc-xem-bua, Si-ri (1950) Ở những nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa, mặc dù bị chi phối bởi những nguyên tắc tập trung thống nhất trong tổ chức quyền lực nhà nước nhưng Tòa án hiến pháp cũng được thành lập ở Séc và Slô-va-kia (1968), Balan (1982), Liên xô (1988) Sau năm 1990, phần lớn các quốc gia thuộc Liên xô (cũ) và các nước Đông Âu đều đã thành lập Tòa án hiến pháp

Đặc điểm cơ bản của mô hình Tòa án hiến pháp:

Hiện nay, Tòa án hiến pháp là thiết chế bảo hiến được thành lập ở nhiều quốc gia trên thế giới Do nền tảng chính trị, kinh tế - xã hội, quan điểm lập pháp, cách

Trang 30

thức tổ chức và hoạt động, Tòa án hiến pháp mỗi nước cũng có những đặc thù về quá trình hình thành, thẩm quyền, nội dung hoạt động, số lượng thẩm phán

Mặc dù có sự khác biệt nhất định nhưng có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản sau:

- Hoạt động bảo hiến được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách có vị trí tương đối độc lập với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước

Tòa án hiến pháp là cơ quan chuyên trách về giám sát Hiến pháp Tòa án hiến pháp hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tòa án hiến pháp là cơ quan duy nhất có quyền phán xử các vụ việc thuộc phạm vi giám sát Hiến pháp, đặc biệt

là thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban hành Đây

là đặc điểm quan trọng để phân biệt mô hình Giám sát hiến pháp tập trung thông qua Tòa án hiến pháp với mô hình Giám sát hiến pháp phân tán (mô hình Giám sát phi tập trung) thông qua hệ thống Tòa án thường Mặt khác, Tòa án hiến pháp được thành lập trên cơ sở Hiến pháp chỉ được trao quyền giải quyết các vụ việc về giám sát Hiến pháp, không xét xử các vụ án thông thường về hình sự, dân sự, lao động, , đồng thời, không thực hiện các chức năng phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm như Tòa án tối cao

Tòa án hiến pháp – tuy được gọi là Tòa nhưng lại nằm ngoài, độc lập hoàn toàn với hệ thống cơ quan tư pháp Tòa hiến pháp là thiết chế có vị trí pháp lý đặc biệt trong bộ máy nhà nước Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng hoạt động bảo hiến không thuộc bất kỳ nhánh quyền lực nào trong các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp; bản thân nó đã hàm chứa sự độc lập (mặc dù không hoàn toàn) và tạo nên loại quyền lực thứ tư Theo Hans Kelsen, nếu để quyền tài phán Hiến pháp trong tay một trong ba nhánh quyền lực thì sẽ làm mất ý nghĩa của nguyên tắc phân quyền và cân bằng quyền lực Ông cho rằng, Tòa án hiến pháp là một cơ quan đóng vai trò là “nhánh quyền lực thứ tư” nhưng lại không phải là cơ quan quyền lực mà chỉ đóng vai trò của “nhà làm luật bóng”, “bản âm của lập pháp”

Trang 31

và bãi bỏ một đạo luật không có nghĩa là tạo ra luật Thẩm quyền của Tòa án hiến pháp giới hạn trong khuôn khổ tinh thần và lời văn của Hiến pháp Như vậy, về tính chất, Tòa án hiến pháp không phải là một cơ cấu thuộc quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp, mà là một thiết chế có tính độc lập cao, có thể xem nó như là một thiết chế quyền lực bổ sung nhằm đảm bảo cho quyền lập hiến

- Tòa án hiến pháp vừa thực hiện hoạt động giám sát cụ thể, vừa thực hiện hoạt động giám sát trừu tượng, thực hiện cả giám sát trước và giám sát sau

Theo đó, việc xem xét tính hợp hiến của một đạo luật hoặc quy định nào đó

có thể gắn liền với việc giải quyết một vụ việc cụ thể, nhưng cũng có thể tiến hành khi có đề nghị của một chủ thể có thẩm quyền (như Tổng thống, Thủ tướng, các Nghị sĩ, Thanh tra viện )

Tòa án hiến pháp được Hiến pháp trao cho một số thẩm thẩm quyền cụ thể như giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, điều ước quốc tế và tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật khác; giải thích Hiến pháp; giải quyết các tranh chấp về thấm quyền giữa các nhánh quyền lực, giữa chính quyền trung ương

và chính quyền địa phương,

Việc thực hiện giám sát tính hợp hiến của các đạo luật có thể theo hình thức giám sát trước hoặc giám sát sau Tòa án hiến pháp thực hiện quyền giám sát trước tính hợp hiến của các đạo luật và điều ước quốc tế theo yêu cầu của Nguyên thủ quốc gia, Tổng thống, Nghị viện, Chính phủ, một số Nghị sỹ, Tòa án tối cao, cơ quan lập pháp hoặc hành pháp của các bang Quyền yêu cầu này thường được thực hiện trong thời gian đạo luật đã được thông qua nhưng chưa được người đứng đầu nhà nước công bố Khi có căn cứ cho rằng một đạo luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp về mục đích, nội dung, thủ tục ban hành thì các chủ thể trên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét về tính hợp hiến của đạo luật Tùy vào mức độ, nội dung trái với Hiến pháp của đạo luật, phạm vi yêu cầu có thể là xem xét về tính hợp hiến của một phần hay toàn bộ đạo luật

Trang 32

Khác với thẩm quyền giám sát trước chỉ được thực hiện thông qua giám sát trừu tượng, thẩm quyền giám sát sau được thể hiện theo hai hình thức là giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể Thông thường, khi xét thấy một phần hoặc toàn bộ đạo luật trái với Hiến pháp thì Tòa án hiến pháp có quyền ra phán quyết tuyên bố đạo luật đó là vi hiến phán quyết này có hiệu lực đối với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức, kể cả Nghị viện, Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, hệ thống Tòa án Hệ quả pháp lý của phán quyết này là đạo luật đó sẽ bị hủy bỏ, mất hiệu lực pháp lý Đối với việc giám sát cụ thể, ở các nước áo dụng mô hình Tòa án hiến pháp, trong quá trình giải quyết vụ án cụ thể, các Tòa án thường không có quyền tự mình xem xét tính hợp hiến của các đạo luật mà phải yêu cầu Tòa án hiến pháp xem xét, kết luận

về tính hợp hiến của đạo luật đang có hiệu lực để áp dụng giải quyết vụ việc Hệ quả của việc giám sát cụ thể cũng tương tự như giám sát trừu tượng

- Thẩm quyền giá sát Hiến pháp được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt, tách khỏi thủ tục giải quyết vụ việc thông thường tại Tòa án

Các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án hiến pháp được giải quyết theo một thủ tục đặc biệt Thủ tục được tiến hành tại Tòa án hiến pháp hướng tới việc tuyên bố một văn bản, một hành vi là phù hợp hay không phù hợp với Hiến pháp Tòa án hiến pháp không nghe chứng cứ, không thẩm vấn nhân chứng và không phán quyết một cá nhân nào đó có tội hay không có tội Các quyết định đó thuộc thẩm quyền của các Tòa án thường thuộc hệ thống tư pháp Tòa án hiến pháp làm việc chủ yếu dựa trên các văn bản mà các bên gửi đến và đưa ra kết luận về tính hợp hiến của sự việc

- Phán quyết của Tòa án hiến pháp là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc với các chủ thể kể từ khi một quy phạm, một chế định hoặc một văn bản nào đó bị tuyên bố là vi hiến

Tóm lại, so với những thiết chế nhà nước khác, Tòa án hiến pháp là thiết chế còn khá mới mẻ Mặc dù vậy, sự ra đời của Tòa án hiến pháp là kết quả khách quan

Trang 33

từ nhận thức Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là nền tảng chính trị, pháp lý thể hiện quyền lực nhân dân và chủ quyền nhà nước, do đó, phải được đảm bảo tuân thủ một cách triệt để Vị trí, vai trò của Tòa án hiến pháp được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của nhiều nước trên thế giới

2.1.3 Mô hình Hội đồng bảo hiến

Mô hình Hội đồng bảo hiến (hay Hội đồng hiến pháp) ra đời muộn hơn so với mô hình Tòa án hiến pháp và mô hình bảo hiến thông qua hệ thống tòa án thường Lịch sử ra đời, quá trình hình thành và phát triển mô hình Hội đồng bảo hiến gắn liền với sự ra đời và phát triển của Hội đồng bảo hiến ở Pháp Tại quốc gia này, các quy định về giám sát hiến pháp đã sớm được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1799 và Hiến pháp năm 1852 Theo đó, Thượng viện có quyền thực hiện việc giám sát hiến pháp Ủy ban giám sát hiến pháp được ra đời dưới nền Cộng hòa thứ

IV, tuy nhiên trên thực tế thì Ủy ban này chưa bao giờ hoạt động Năm 1958, cùng

sự ra đời của Hiến pháp mới, Hội đồng bảo hiến đã được thành lập và được coi là một sáng tạo lớn của các nhà lập pháp thuộc nền Cộng hòa thứ V Kể từ đó, mô hình Hội đồng bảo hiến của Pháp đã trở thành một mô hình bảo hiến tiêu biểu của châu Âu mà các nhà luật học thường gọi là mô hình bảo hiến kiểu Pháp

Rất nhiều quốc gia đã dựa trên mô hình này để thành lập Hội đồng bảo hiến như Ka-dắc-xtan, An-giê-ri, Li-Băng, Bờ biển ngà, Campuchia

Đặc điểm cơ bản của mô hình Hội đồng bảo hiến

Nhìn chung, mô hình Hội đồng bảo hiến có một số điểm tương đồng với mô hình Tòa án hiến pháp đó là:

- Hoạt động bảo hiến được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách có vị trí tương đối độc lập với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước

Cũng giống như mô hình tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến là cơ quan chuyên trách về giám sát Hiến pháp, hoạt động độc lập và không thuộc hệ thống cơ quan tư pháp, hành pháp hay lập pháp Chức năng cơ bản của Hội đồng bảo hiến là

Trang 34

bảo đảm cho ba nhánh quyền lực trên hoạt động trong phạm vi thẩm quyền theo đúng quy định của Hiến pháp

- Thẩm quyền giám sát hiến pháp được thực hiện theo thủ tục đặc biệt, tách khỏi thủ tục giải quyết vụ việc thông thường tại Tòa án

- Phán quyết của Hội đồng bảo hiến là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với mọi cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân

Những đặc điểm này tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa các nước theo mô hình giám sát tập trung với sự tồn tại của một cơ quan bảo hiến chuyên trách và các nước

áp dụng mô hình bảo hiến phi tập trung, không tổ chức cơ quan bảo hiến riêng mà trao thẩm quyền bảo hiến cho các Tòa án thông thường hoặc các cơ quan khác trong

Ở Pháp trước năm 2008, thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến hẹp hơn so với Tòa án hiến pháp Thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến chủ yếu tập trung vào việc giám sát trước, giám sát các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý Mục đích của việc giám sát trước nhằm hạn chế việc thông qua những văn bản không hợp hiến, tránh việc phải bãi bỏ những văn bản vi hiến, trên cơ sở đó đảm bảo sự ổn định của quá trình lập pháp Đối tượng giám sát là các đạo luật đã được Nghị viện thông qua đang trong thời gian chờ công bố và các điều ước quốc tế đang trong thời gian chờ

ký kết hoặc phê chuẩn Từ năm 2008, thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến được mở rộng bao gồm cả giám sát trước và giám sát sau

Hội đồng bảo hiến thường không có quyền tự mình giám sát, kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật mà thẩm quyền này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của

Trang 35

các chủ thể do Hiến pháp quy định như Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng chính phủ, chủ tịch Thượng viện, Hạ viện hoặc một số nghị sỹ nhất định Hội đồng bảo hiến không được tự động xem xét bất kỳ vấn đề vi hiến nào nếu không có yêu cầu hoặc khiếu nại về vấn đề đó

- Ở các nước theo mô hình Hội đồng bảo hiến thường có hoạt động giám sát mang tính bắt buộc, đặc biệt là đối với các đạo luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quy chế hoạt động của Nghị viện, các vụ tranh chấp, khiếu kiện về bầu cử

2.1.4 Mô hình Ủy ban hiến pháp

Mô hình này được áp dụng ở một số nước như Thụy Điển, Phần Lan, Tại các nước áp dụng mô hình Ủy ban hiến pháp, cơ quan được giao chức năng bảo hiến là một cơ quan trong cơ cấu của Quốc hội, được tổ chức và tiến hành hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản được quy định như đối với các ủy ban khác Ủy ban hiến pháp cũng như các ủy ban khác của Quốc hội có các thành viên là các Đại biểu Quốc hội Việc thành lập một cơ quan trong cơ cấu của Quốc hội để đảm trách vai trò bảo hiến ở các quốc gia này gắn liền với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Nghị viện, đặc biệt là trong lĩnh vực lập pháp

Ủy ban hiến pháp có các chức năng cơ bản là:

- Giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp

Trang 36

Chức năng này có thể thực hiện thông qua nghiên cứu báo cáo hàng năm của Chính phủ Để thực hiện chức năng này, Ủy ban hiến pháp có quyền tiếp cận với mọi hồ sơ của Chính phủ ngay cả khi hồ sơ đó được coi là tối mật Sau khi thông tin được thu thập đầy đủ từ nhiều nguồn khác nhau, vấn đề liên quan được đưa ra thảo luận tại Ủy ban hiến pháp

Như vậy, so với các cơ quan bảo hiến trong các mô hình bảo hiến khác, Ủy ban hiến pháp là thiết chế bảo hiến có thẩm quyền tương đối hẹp, phạm vi, lĩnh vực hoạt động khá hạn chế, hoạt động chủ yếu mang tính chất tư vấn mà thường không có quyền đưa ra những quyết định mang tính chất trực tiếp và có hiệu quả pháp lý cao

2.1.5 Một số mô hình khác

Ngoài các mô hình bảo hiến trên đây, khi tìm hiểu về hoạt động bảo hiến ở các quốc gia trên thế giới, các nhà nghiên cứu có đề cập đến một số mô hình khác, là:

- Mô hình bảo hiến hỗn hợp:

Mô hình này kết hợp những yếu tố của cả hai mô hình Tòa án hiến pháp và

mô hình Tòa án tư pháp Ở các nước áp dụng mô hình này, thẩm quyền bảo hiến được trao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách – Tòa án hiến pháp và các Tòa án thông thường Thông thường, Tòa án hiến pháp và Tòa án tối cao có thẩm quyền đối với những vụ việc cụ thể được quy định ngay trong Hiến pháp, còn các Tòa án khác khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và được quyền không áp dụng các đạo luật bị cho là không phù hợp với hiến pháp

Một số nước áp dụng mô hình bảo hiến này là Bồ Đào Nha, Cô-Lôm-Bi-a, Ê-cu-a-do, Gua-tê-ma-la, Pê-ru

- Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến

Một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba không có cơ quan bảo hiến chuyên trách Các nước này cho rằng Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, không những là cơ quan lập hiến, lập pháp mà còn là cơ quan quyền

Trang 37

lực nhà nước cao nhất Do vậy, Quốc hội đồng thời phải tự quyết định về tính hợp hiến của các đạo luật do mình ban hành

Ở các quốc gia này, mặc dù hoạt động bảo hiến được đề cao, nhưng thực tiễn cũng đang đặt ra yêu cầu cần thiết phải lựa chọn và xây dựng một mô hình bảo hiến trên cơ sở tiếp thu ưu điểm của các mô hình đã có, phù hợp với thể chế và nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước của mình

2.2 Kinh nghiệm lựa chọn mô hình bảo hiến của một số nước

2.2.1 Kinh nghiệm lựa chọn mô hình bảo hiến của một số nước khu vực Đông Nam á

Hiến pháp của các quốc gia khu vực Đông Nam Á (ASEAN) được ban hành

ở những thời điểm lịch sử khác nhau trong thế kỉ XX và XXI Có những bản Hiến pháp ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ, ví dụ như Hiến pháp Indonesia (1945), Malaysia (1957), Brunei (1959); có những bản hiến pháp vài năm tuổi, ví dụ Hiến pháp Thái lan (2007), Hiến pháp Myanmar (2008) Nền tảng văn hóa pháp lý của các quốc gia ASEAN cũng khá phong phú Đa số các quốc gia ASEAN đã từng có thời gian dài nằm dưới ách cai trị của thực dân Anh, Pháp hay đế quốc Hoa Kỳ, đã khá quen thuộc với án lệ và Hiến pháp bất thành văn Ví dụ như Singapore, Malaysia, Myanmar, Brunei, Philippines Bên cạnh đó cũng có những nước đã từ lâu quen với truyền thống pháp luật thành văn như Campuchia hay Indonesia Mặc

dù vậy, cho đến nay tất cả các Hiến pháp hiện hành của các quốc gia ASEAN đều là những bản Hiến pháp thành văn, tức là một đạo luật cơ bản tập hợp các chế định và các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung được ban hành theo một trình

tự thủ tục đặc biệt và để điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất Lý do của đặc điểm chung này có lẽ là vì có hai động cơ phổ biến cho sự ra đời của bản Hiến pháp đầu tiên ở các quốc gia ASEAN:

Thứ nhất, tuyệt đại đa số các quốc gia ASEAN (chỉ trừ có Thái Lan) đều

từng là những nước thuộc địa của các nước thực dân và đế quốc phương Tây Hiến

Trang 38

pháp của họ thường được ra đời vào lúc chủ nghĩa thực dân thoái trào trên toàn thế giới, đặc biệt là sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Các nước có thể giành được độc lập bằng những con đường khác nhau như đàm phán hoặc đấu tranh vũ trang, song Hiến pháp thì luôn được xem là một công cụ để ghi nhận và khẳng định nền độc lập, cho dù là nền độc lập đó đã đầy đủ hay chưa

Thứ hai, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia ASEAN có sự

tương đồng khá lớn Về cơ bản các quốc gia ASEAN đều là những nước đang phát triển, đang xây dựng nền kinh tế thị trường và đều đang gặp phải những vấn đề xã hội như: sự phân hóa giầu nghèo, tham nhũng, phúc lợi xã hội chưa được đảm bảo

Thứ ba, hầu hết các quốc gia ASEAN chia sẻ một số mối quan tâm lớn ở tầm

vĩ mô như xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế, vai trò của Nhà nước trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ quyền con người, dân chủ hóa

Thứ tư, đa số các quốc gia ASEAN đều nhấn mạnh vị trí, vai trò tối cao của

Hiến pháp Hiến pháp các quốc gia ASEAN đều quy định về ba nội dung cơ bản và quan trọng nhất, đó là: các chính sách mang tính định hướng của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức quyền lực nhà nước

Xuất phát từ những điểm trên, thì việc tham khảo, nghiên cứu một số kinh nghiệm tốt liên quan đến việc xây dựng Hiến pháp nói chung và mô hình bảo hiến nói riêng của một số quốc gia ASEAN là cần thiết

a) Cộng hòa Indonesia:

Indonesia là quần đảo lớn nhất thế giới nằm ở phía Nam của khu vực ASEAN, là quốc gia có nền kinh tế phát triển khá cao trong khu vực Hiến pháp của Indonesia được ban hành năm 1945, bản hiến pháp này chỉ bao gồm 37 điều khoản nội dung, chủ yếu điều chỉnh về chủ quyền, độc lập và một số thiết chế chính trong

bộ máy nhà nước; các vấn đề như mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đều chưa được đề cập đến Tuy nhiên,

Ngày đăng: 27/03/2018, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w