Vì vậy, việc quy định và đặt ra các biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sau
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THÙY DUNG
CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGÔ THỊ HƯỜNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn em xin được gửi lời cảm ơn
và lòng kính trọng tới cô giáo hướng dẫn TS Ngô Thị Hường, Tổ trưởng Tổ bộ môn Pháp luật hôn nhân và gia đình, cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, gia đình, người thân và bạn bè đã dành nhiều sự quan tâm, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Em xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng mình Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bài viết em có được sự hướng dẫn, tư vấn của cô giáo,
có tham khảo một số bài viết, bài nghiên cứu của các tác giả, các nguồn trích dẫn, tham khảo đã được chỉ ra trong danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong bài luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Em rất mong được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, tạo điều kiện cho em được bảo vệ tốt luận văn của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Hoàng Thị Thùy Dung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM 5
1.1 KHÁI NIỆM TRẺ EM, QUYỀN TRẺ EM, QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM 5
1.1.1 Trẻ em 5
1.1.2 Quyền trẻ em 6
1.1.3 Quyền cơ bản của trẻ em 7
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUYỀN TRẺ EM 8 1.2.1 Cơ sở lý luận 8
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.3 BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM 13
1.4 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TRẺ EM 16
1.4.1 Pháp luật về quyền trẻ em trước Cách mạng Tháng Tám (1945) 17
1.4.2 Pháp luật về quyền trẻ em giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 18
1.4.3 Pháp luật về quyền trẻ em từ năm 1975 đến nay 19
Chương 2: CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM THEO LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM NĂM 2004 23
2.1 QUYỀN ĐƯỢC KHAI SINH VÀ CÓ QUỐC TỊCH 23
2.2 QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG 26
2.3 QUYỀN SỐNG CHUNG VỚI CHA MẸ 28
2.4 QUYỀN ĐƯỢC TÔN TRỌNG, BẢO VỆ TÍNH MẠNG, THÂN THỂ, NHÂN PHẨM VÀ DANH DỰ 30
2.5 QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE 32
2.6 QUYỀN ĐƯỢC HỌC TẬP 34
Trang 52.7 QUYỀN VUI CHƠI, GIẢI TRÍ, HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC, THỂ THAO, DU LỊCH 36 2.8 QUYỀN ĐƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG KHIẾU 40 2.9 QUYỀN CÓ TÀI SẢN 42 2.10 QUYỀN ĐƯỢC TIẾP CẬN THÔNG TIN, BÀY TỎ Ý KIẾN VÀ THAM GIA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 43 Chương 3: THỰC TIẾN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 49
3.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM TRONG NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM 49 3.1.1 Những thành tựu đạt được 49 3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc 56 3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM 67
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nhìn lại lịch sử đất nước ta cho thấy xã hội luôn vận động không ngừng và thực tiễn các quan hệ xã hội cũng có những thay đổi đáng kể Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách phù hợp với chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa,
xã hội trong nước cũng như bối cảnh quốc tế Quyền con người nói chung và quyền trẻ
em nói riêng ngày càng dành được nhiều sự quan tâm, được tôn trọng và đặt lên một tầm cao mới Vì vậy, việc quy định và đặt ra các biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như trong Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sau đây viết tắt là Luật BVCS&GDTE) luôn cần được quan tâm nghiên cứu, từng bước bổ sung và ngày càng được hoàn thiện Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và
là chủ trương, đường lối nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc biệt, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX - Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới thêm một lần nữa khẳng định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước với mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là do con người, cho con người và vì con người, trong đó, vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được đặt vào vị trí ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chú trọng xây dựng và phát huy nguồn nhân lực, trong đó quyền con người được quan tâm và đề cao, đặc biệt là quyền trẻ em “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Hồ Chủ tịch đã nói:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Trẻ em là một trong những thành phần xã hội có những đặc điểm riêng, về thể chất và trí tuệ còn nơn nớt, nhận thức chưa phát triển hoàn thiện, dễ bị tổn thương và bị xâm phạm Vì thế, trẻ em
là đối tượng cần được ưu tiên bảo vệ Để trẻ em là một nguồn nhân lực tốt, dồi dào và hữu ích cho đất nước sau này thì ngay từ lúc này trẻ em cần được Nhà nước, xã hội, các cấp, ngành và gia đình quan tâm, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục một cách đầy đủ, đúng đắn và toàn diện Điều này cũng phù hợp với truyền thống nhân đạo, yêu thương con cháu của dân tộc Việt Nam ta từ bấy lâu nay
Trang 72 Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, tích cực trong việc xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về trẻ em, cũng như đạt được những thành tựu trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam là nước đầu tiên của châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (sau đây gọi là Công ước quyền trẻ em) Luật BVCS&GDTE được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (thay thế Luật BVCS&GDTE năm 1991) Tuy nhiên, Việt Nam là nước có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ đói nghèo đang ở mức độ cao, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của trẻ em Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cùng với sự khủng hoảng của kinh tế thế giới, nạn lũ lụt, thiên tai đã làm gia tăng tình trạng trẻ
em lang thang, trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em mồ côi, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại tình dục Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm quyền trẻ em đang gia tăng mạnh nhưng lại thiếu các chế tài xử lý do các điều luật thiên về nguyên tắc mà ít nêu rõ những biện pháp cụ thể làm căn cứ xử lý Thiết nghĩ, việc nghiên cứu toàn diện pháp luật về quyền trẻ em, sửa đổi, bổ sung các quy định và đề
ra phướng thức bảo đảm thực hiện trên thực tế là yêu cầu cấp bách, phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển Đồng thời, tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em một cách hiệu quả có ý nghĩa to lớn đến sự phát triển đất nước hiện nay
Vì thế, đây cũng chính là mục đích để em lựa chọn nghiên cứu đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về quyền trẻ em và thực trạng bảo vệ quyền trẻ em ở nước ta từ trước đến nay đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu Có nhiều bài viết mang tính khoa học, nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận cũng như đánh giá thực tiễn thực hiện
và bảo vệ quyền trẻ em dưới nhiều góc độ khác nhau Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Pháp luật về quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam” – Trường Đại học Luật Hà Nội - 2012;
- TS Nguyễn Hải Hữu, “Thực trạng bạo lực trẻ em ở nước ta hiện nay – Giải pháp” – Cục Bảo vệ và chăm sóc trẻ em – Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội – 2010;
Trang 8em theo Luật BVCS&GDTE năm 2004
3 Phướng pháp và phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Để đạt được nội dung nghiên cứu, tác giả có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học…
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam và đánh giá thực tiễn thực hiện quyền trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trong những năm gần đây
4 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quyền trẻ em;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về quyền trẻ em;
- Tìm hiểu thực tiễn và đánh giá khách quan những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện quyền trẻ em những năm gần đây;
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các biện pháp đảm bảo quyền trẻ em
Hy vọng rằng những kết quả của bài viết sẽ có một chút đóng góp hữu ích cho quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền trẻ em và quá trình áp dụng chúng đạt hiệu quả cao, là tài liệu tham khảo bổ ích cho toàn thể sinh viên, người nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập và người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Trang 94
5 Kết cấu
Luận văn gồm có các phần: Lời mở đầu, kết luận và 03 chương
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em
Chương 2 Các quyền cơ bản của trẻ em theo Luật BVCS&GDTE năm 2004 Chương 3 Thực tiễn thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và một số kiến nghị
Trang 105
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.1 KHÁI NIỆM TRẺ EM, QUYỀN TRẺ EM, QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM
1.1.1 Trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ được nhắc đến thường xuyên trong đời sống con người trên toàn thế giới Thuật ngữ trẻ em được quốc tế sử dụng thống nhất và đã được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quyền trẻ em năm 1989, Công ước
138 của Tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976 Tuy nhiên có nhiều cách hiểu về trẻ em khác nhau
Hiểu theo cách thông thường, trẻ em bao gồm các bé trai, bé gái còn nhỏ tuổi, thường là lớp thiếu niên, nhi đồng, hay còn được gọi là thế hệ măng non của xã hội,
là nguồn hạnh phúc trong mỗi gia đình Theo định nghĩa sinh học, trẻ em là người trong giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng nước đến tuổi trưởng thành Tâm lý học cho rằng trẻ em là giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nghiên cứu con người Nhìn từ góc độ xã hội học, trẻ em là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi người
Dưới góc độ luật học, việc xác định trẻ em căn cứ vào việc phân định độ tuổi Tuổi là một trong những căn cứ để đánh giá giai đoạn phát triển về thể chất, nhận thức cũng như tâm - sinh lý của con người Theo Công ước về quyền trẻ em: “Trẻ em
là những người dưới 18 tuổi, trừ những trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên thấp hơn” (Điều 1)
Các quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào cách đánh giá về sự phát triển cũng như dựa vào các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội để xác định và quy định về nhóm người là trẻ em Nhưng hầu như các quốc gia đều có điểm chung là lấy mốc độ tuổi
là căn cứ để quy định
Tại một số quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển, Đan mạch, Hà Lan… là những nước có nền kinh tế phát triển ổn định, chú ý nhiều hơn đến vấn đề an sinh xã hội
Trang 116 cho con người thì có quy định lớn hơn về mức tuổi trẻ em, cụ thể luật pháp các quốc gia này quy định trẻ em là người dưới hai mươi tuổi Ở Việt Nam, theo Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em quy định trong luật này là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Điều 1)
Luật pháp quy định trẻ em dựa trên căn cứ là độ tuổi nhất định có ý nghĩa trong việc thống nhất xác định một nhóm đối tượng, thành phần trong xã hội được coi là trẻ em, để trao cho họ những quyền và lợi ích nhất định, cần thiết đảm bảo cho sự phát triển, phù hợp với nhận thức, tâm - sinh lý của đối tượng này Từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, trẻ em có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Trong mỗi giai đoạn, trẻ em có những đặc điểm tâm - sinh lý, nhận thức và sự phát triển khác nhau Gia đình và xã hội cần nhận biết để có sự chăm sóc và giáo dục cho phù hợp Mặc dù
có sự khác biệt nhất định đối với việc quy định ngưỡng tuổi của trẻ em ở từng quốc gia trên thế giới nhưng nhìn chung, các quốc gia đều thống nhất cho rằng trẻ em là đối tượng còn non nớt về thể chất và trí tuệ, chưa có sự phát triển hoàn thiện về nhận thức cũng như thể lực, cần có chính sách ưu tiên bảo vệ, quan tâm, chăm sóc đặc biệt
và giáo dục phù hợp của Nhà nước và xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của trẻ em
Như vậy, có thể hiểu, trẻ em là một nhóm người ở một độ tuổi nhất định, trong
giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức khỏe, tâm- sinh
lý khác với các nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế pháp lý đặc thù
1.1.2 Quyền trẻ em
Trong khoa học pháp lý, khái niệm quyền đã được quy định trong luật pháp quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia Quyền được hiểu là những quy định mang tính pháp lý để khẳng định một cá nhân hoặc pháp nhân nào đó được hưởng những lợi ích về vật chất, tinh thần Chẳng hạn: Quyền con người, quyền được sống, quyền được tham gia, quyền được tự do kinh doanh, quyền tác giả, tác phẩm, quyền thừa kế… Như vậy, tương tự có thể hiểu quyền trẻ em là quyền cho một nhóm đối tượng
cụ thể đã được xác định là trẻ em Về bản chất, quyền trẻ em là quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc điểm phát triển và tính chất cuộc sống của trẻ em Căn cứ vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục,
Trang 127 tập quán của mỗi quốc gia khác nhau để quy định về trẻ em, cũng như việc Nhà nước
có những chính sách xã hội phù hợp dành cho trẻ em
Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ em, pháp luật cần trao cho trẻ
em những quyền nhất định và mọi người không những phải tôn trọng những quyền
đó mà còn phải thực hiện những hành vi phù hợp pháp luật để trẻ em được hưởng quyền lợi của mình
Vậy, quyền trẻ em là các quy định pháp luật dành cho một nhóm đối tượng
được xác định là trẻ em, được tự mình thực hiện hoặc người khác phải thực hiện những hành động hoặc không được thực hiện những hành động nhất định nào đó để đảm bảo cho trẻ em được thỏa mãn các nhu cầu và được hưởng những lợi ích vật chất, tinh thần, đảm bảo được sự sống và phát triển của trẻ em
1.1.3 Quyền cơ bản của trẻ em
Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ngày càng mở rộng quyền con người Theo sự phát triển và thay đổi của chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội… các quyền của con người ngày càng được đề cao và đặc biệt là có cơ chế bảo
vệ Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN (sau đây viết tắt là XHCN) Việt Nam – đạo luật có hiệu lực cao nhất ghi nhận các quyền cơ bản của công dân - quyền con người Đối với trẻ em, căn cứ vào mức độ phát triển về thể chất, nhận thức và tâm - sinh lý
mà Nhà nước và xã hội ghi nhận một số quyền quan trọng, cơ bản, mang tính thiết yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của trẻ em Đó được gọi là các quyền cơ bản của trẻ em
Theo Công ước quyền trẻ em, quyền trẻ em được chia làm bốn nhóm quyền cơ bản:
- Quyền được sống còn: Quyền sống còn là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền
đề cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con người
- Quyền được bảo vệ: Là việc bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi
sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể chất và tinh thần, bị bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ… những hành vi này làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em
- Quyền được phát triển: Là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của trẻ
em về cả thể chất và tinh thần, bao gồm mọi hình thức giáo dục, chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu cho trẻ em có được cuộc sống trong môi trường lành mạnh, được vui chơi, giải trí, học tập…
Trang 138
- Quyền được tham gia: Là quyền trẻ em được nắm bắt thông tin và được bày tỏ, thể hiện suy nghĩ, chính kiến của bản thân Đây là điều để cho trẻ em có quyền được lắng nghe, quyền được biết, được tham gia và kết nối với mọi người và toàn xã hội Tiếp thu tinh thần luật pháp quốc tế, cụ thể hóa các quy định của Công ước quyền trẻ em, Việt Nam ban hành Luật BVCS&GDTE năm 2004 ghi nhận các quyền
cơ bản của trẻ em từ Điều 11 đến Điều 22 Cụ thể là: Quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được sống chung với cha mẹ; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập; quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch; quyền được phát triển năng khiếu; quyền có tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội Ghi nhận và đảm bảo thực hiện những quyền này đáp ứng nhu cầu, lợi ích cần thiết cho trẻ em, đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường lành mạnh, được bảo vệ và phát triển
Mọi trẻ em sinh ra đều không thể thiếu những quyền này, nó thiết yếu và làm tiền
đề ban đầu cho trẻ em được sống và phát triển bình thường Ở mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia để quy định các nhóm quyền cơ bản khác nhau Tuy nhiên, với nền kinh
tế ngày càng phát triển, quyền con người ngày càng được đề cao, quyền trẻ em được Nhà nước và xã hội dành nhiều quan tâm, theo đó ngày càng quy định mở rộng và mang tính dân chủ, nhân đạo các quyền cơ bản của trẻ em
Như vậy, quyền cơ bản của trẻ em là các quyền được Nhà nước quy định có
tính chất quan trọng, cần thiết và phù hợp với đặc điểm của trẻ em, đảm bảo cho trẻ
em được sống trong môi trường được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và được bảo
vệ an toàn, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUYỀN TRẺ EM
1.2.1 Cơ sở lý luận
Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, việc giáo dục ý thức cách mạng cho giai cấp vô sản không phải chỉ cần thiết cho người lớn, mà phải tiến hành trước hết từ thiếu niên nhi đồng Giáo dục trẻ em được coi là điều kiện để đảm bảo thực
Trang 149 hiện thắng lợi của cách mạng vô sản Giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan cho trẻ
em phải được tiến hành đồng thời cả trong nhà trường và ngoài xã hội
Mục đích, bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin là đấu tranh giải phóng con người, là việc “đòi nhân quyền và dân quyền cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động” Vì vậy, trong suốt quá trình hình thành và giáo dục lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa cộng sản, Mác và Ph.Ăngghen luôn hướng tới mục đích nhân đạo và cao cả là giải phóng con người, coi quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện đấu tranh, là vũ khí sắc bén của giai cấp vô sản
Kế thừa và phát huy truyền thống tinh thần nhân văn, những quan điểm, mục tiêu hết sức tiến bộ và luôn đề cao quyền con người, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng dành sự quan tâm và có nhiều chính sách đặc biệt cho thế hệ trẻ em, thiếu niên nhi đồng Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một đường lối, chính sách xuyên suốt trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngay từ khi mới thành lập (3-2-1930), dù trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, nhiệm vụ lớn nhất lúc đó là giành được chính quyền nhưng Đảng vẫn dành mối quan tâm rất lớn cho chính sách đối với trẻ em
Trong Chương trình Việt Minh, với tư cách là một cương lĩnh vận động cách mạng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo được đưa ra trong những ngày tiền khởi nghĩa đã xác định học sinh, nhi đồng như hai tầng lớp nhân dân - lực lượng của cách mạng: Đối với học sinh chính sách của Việt Minh là
“bỏ học phí, mở thêm trường học, giúp đỡ học trò nghèo” [33, tr.419] Đối với nhi đồng thì chính sách là “được Chính phủ chăm sóc đặc biệt về thể lực và trí dục” [33, tr.422] Các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, X,XI với tư tưởng xuyên suốt là bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đặt nó vào
vị trí ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng cho việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Đầu tư cho trẻ
em là đầu tư cho tương lai của đất nước Làm tốt công tác này là trách nhiệm của các cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình, nhà trường và xã hội Để tăng cường
Trang 1510 công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong thời gian tới, Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị quán triệt một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội;
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, từng ngành;
- Bố trí tăng nguồn ngân sách cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; trong đó ưu tiên kinh phí đầu tư cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em các gia đình chính sách, gia đình nghèo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt;
- Mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm, huy động nguồn lực bên ngoài cho công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em;
- Tăng cường quản lý nhà nước, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm
công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em các cấp, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em; phát hiện, ngăn chặn, lên án các hành vi bạo lực, vi phạm pháp luật, vi phạm quyền trẻ em
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, người truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam đã mở ra kỷ nguyên mới về quyền con người, quyền công dân cho nhân dân Việt Nam Người đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Đối với thiếu niên, nhi đồng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm và kỳ vọng đặc biệt ở thế hệ trẻ của đất nước Khi nói chuyện với thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu năm thứ nhất Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 22/9/1945), Người đã khuyên các cháu thiếu nhi: “Các cháu phải ngoan,
ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng, đối với thầy và bạn phải kính yêu Các cháu phải thương yêu nước ta Mong các cháu mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với nước độc lập, tự do” [20, tr 15]
Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người, trẻ em luôn dành được
sự quan tâm đặc biệt Người đã từng nói:
Trang 1611
“Muốn có chế độ XHCN thì phải có con người XHCN
Muốn có con người XHCN thì phải có tư tưởng XHCN”
Rồi từ đó, đi đến phải “trồng người”, phải giáo dục, rèn luyện ngay từ khi còn nhỏ Vấn đề trẻ em nói chung và quyền trẻ em nói riêng được cương lĩnh hoá trong Chương trình Việt Minh và sau đó Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền về tay nhân dân lao động, đã được thể chế hoá về mặt Nhà nước trong hệ thống pháp luật Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên khẳng định trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 đều quy định Nhà nước bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, dành một điều riêng quy định quyền của trẻ
em trong Chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Hiến pháp năm 1992 ngoài việc quy định quyền của trẻ em, đã quy định trách nhiệm của Nhà nước và gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định, đề cao và mở rộng hơn các quyền con người, quyền công dân Trong đó trẻ em là đối tượng được Nhà nước có chủ trương, chính sách quan tâm đặc biệt Đây chính là nền tảng, cơ sở cho sự phát triển và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền trẻ em Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36) “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37) “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình” (Điều 58)
Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em, cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em Bằng chứng là Việt Nam sớm có luật quốc gia quy định về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em (Luật BVCS&GDTE năm 1991, năm 2004; Luật HN&GĐ năm 2000…)
Như vậy, quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền trẻ em là cơ sở để xây dựng và bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em trên thực tế Đồng thời, được cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách, chế độ ưu
Trang 1712 đãi, hỗ trợ để các em được hưởng các quyền cơ bản của mình một cách tốt nhất và trọn vẹn nhất Luật BVCS&GDTE cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác
đã thể hiện đầy đủ và khoa học các chế định ghi nhận quyền và bảo vệ quyền trẻ em nước ta hiện nay
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ sự thay đổi của thực tiễn xã hội, các điều kiện kinh tế - xã hội có tác động đến sự hình thành và phát triển hệ thống các quyền của con người, phải tôn trọng quy luật phát triển và sự vận động khách quan của các quan hệ xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau Trẻ em là đối tượng dễ chịu ảnh hưởng của sự biến đổi
xã hội Đồng thời, thực tế hiện nay xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan, ngày càng có nhiều hành vi vi phạm pháp luật gây ra hậu quả đáng tiếc và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em Thực trạng trẻ em Việt Nam hiện nay chưa được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo các điều kiện sống tốt nhất Thay
vì được học tập, được bảo vệ, được tham gia hoạt động xã hội, được đảm bảo dinh dưỡng thì nhiều trẻ em Việt Nam còn bị xâm phạm thân thể, danh dự, xâm hại tình dục, bị buôn bán ra nước ngoài, bị bóc lột sức lao động Thực trạng đó ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em, gây ra những tác động xấu
về mặt kinh tế, xã hội Với thực tiễn đó, Đảng, Nhà nước và xã hội cần dành sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em Thông qua việc quy định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm ghi nhận và bảo vệ các quyền trẻ em, cần thiết đặt ra các cơ chế bảo
vệ trẻ em, xử lý nghiêm minh các hành vi trái pháp luật, ngăn chặn hậu quả đáng tiếc xảy ra gây tổn hại cho trẻ em, gia đình và xã hội Đó chính là một trong những mục tiêu nhằm phát triển một nền văn hóa, xã hội thật sự tốt đẹp, tiến bộ, dân chủ và văn minh
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, thiết lập các mối quan hệ hợp tác bình đẳng, hữu nghị cùng phát triển với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam phải chú trọng và
đề cao hơn nữa các quyền cơ bản của trẻ em cũng như xây dựng cơ chế bảo vệ quyền trẻ em dựa trên tinh thần học hỏi kinh nghiệm quốc tế Đồng thời, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí hỗ trợ và các chương trình đầu tư từ nước ngoài
Trang 1813 Bằng việc áp dụng thực hiện các hình thức, biện pháp, cơ chế phù hợp và có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho thấy tầm quan trọng của việc ghi nhận và bảo vệ các quyền của trẻ em, giúp các em được tiếp cận các quyền của mình và hưởng các lợi ích chính đáng đảm bảo cho trẻ em được sống và phát triển bình thường
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt (Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm
2012) đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành
mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em Từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ em và trẻ em giữa các vùng, miền Nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em”
1.3 BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM
Quyền trẻ em đã được thừa nhận và quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Tuy nhiên, để trẻ em được hưởng các quyền của mình thì xã hội và Nhà nước luôn cần có những thiết chế và biện pháp để bảo vệ các quyền đó cho trẻ
em Trẻ em là những người còn non nớt về thể chất và tinh thần, chưa phát triển hoàn thiện về mặt nhận thức và trí tuệ, để được hưởng các quyền của mình, phải thông qua các hành vi của người khác Vì thế, việc trẻ em có được hưởng các quyền lợi của mình hay không phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành động của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân khác Mặt khác, việc không thực hiện hay thực hiện không đúng quy định pháp luật có thể xâm phạm đến quyền trẻ em và làm ảnh hưởng đến
sự phát triển của trẻ em Vì thế, song song với việc ghi nhận, tôn trọng quyền trẻ em thì việc đặt ra thể chế, biện pháp bảo vệ trẻ em là điều vô cùng quan trọng, cần thiết
và có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của trẻ em Nhà nước quy định trách nhiệm và nghĩa vụ mà mọi cá nhân, tổ chức, gia đình và xã hội phải thực hiện để đảm bảo cho trẻ em được hưởng các quyền của mình
Hiểu theo nghĩa thông thường, bảo vệ trẻ em là việc đảm bảo cho trẻ em không
bị phân biệt đối xử, không bị bỏ rơi, không bị xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, không bị buôn bán ra nước ngoài, không bị xâm hại tình dục, không bị
Trang 1914 bóc lột sức lao động… Liên minh các tổ chức cứu trợ trẻ em trên thế giới có đề cập đến vấn đề bảo vệ trẻ em và nhận định rằng bảo vệ trẻ em là xây dựng hệ thống và cơ chế hoạt động hiệu quả để phòng ngừa, can thiệp và giải quyết tình trạng xâm hại, xao nhãng, bóc lột trẻ em
Vì vậy, các cơ quan Nhà nước, các cấp chính quyền bằng việc xây dựng hệ thống pháp luật và đảm bảo thực thi những quy định pháp luật, các thiết chế, thực hiện các biện pháp nhất định để trẻ em được hưởng các quyền của mình thông qua việc ngăn chặn, phòng ngừa, giải quyết những vấn đề xâm hại đến quyền trẻ em, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ em Đó chính là bảo vệ các quyền của trẻ em
Công ước quyền trẻ em đã nhắc lại quyền được bảo vệ của trẻ em rằng: Do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời
Việt Nam là nước sớm phê chuẩn Công ước quyền trẻ em và đó là cơ sở pháp lý của việc quy định quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam cũng như cơ chế bảo vệ trẻ
em trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36) Hiến pháp năm 2013 là sự cam kết của Nhà nước Việt Nam trong thực thi Công ước quyền trẻ em của Liên Hợp quốc, là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bộ luật dân sự 2005 quy định nhiều nội dung liên quan đến các quyền của trẻ
em, trong đó có các quyền về nhân thân và tài sản như: Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 29); Cá nhân có quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản (Điều 15)…
Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây viết tắt là Luật HN&GĐ) năm 2000 là cơ
sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Luật còn là công cụ để xác định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con như: Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không được hành hạ con, không được đối xử tàn tệ với con nuôi, con riêng Cha mẹ
có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát
Trang 2015 triển lành mạnh của con về thể chất, trí vụ và quyền ngang nhau trong gia đình; con
có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ
Bộ luật lao động năm 2012 quy định nhiều nội dung liên quan đến lao động trẻ
em như: Không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định (Điều 164) Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động Khi sử dụng người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu (Điều 162) Không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành (Điều 163)
Bộ luật hình sự cũng có nhiều quy định thể hiện chính sách ưu tiên và khoan hồng cho trẻ em có hành vi phạm tội, nhưng ngược lại, lại quy định rất nghiêm khắc đối với các hành vi phạm tội xâm hại đến trẻ em và quyền trẻ em Nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ em mới đẻ và người gây ra việc ấy phải chịu trách nhiệm hình sự
Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định cụ thể hơn: “Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu” (Điều 5)
Để bảo vệ trẻ em, Nhà nước ta đã xây dựng Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ
em giai đoạn 2011-2015 với các mục tiêu sau:
- Xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện, phòng ngừa mọi nguy
cơ gây tổn hại cho trẻ em;
Trang 21Vây, bảo vệ trẻ em là việc thông qua các quy định của hệ thống pháp luật, áp
dụng các hình thức, biện pháp, cơ chế để ngăn chặn, phòng ngừa, giải quyết những vấn đề liên quan đến trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em được hưởng các lợi ích chính đáng của mình, được bảo vệ trong môi trường an toàn và được phát triển
1.4 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TRẺ EM
Việt Nam là quốc gia có truyền thống văn hóa mang đậm tính nhân văn, nhân đạo Người Việt Nam giàu lòng yêu thương, đoàn kết, đùm bọc nhau, kính trên nhường dưới, kính già yêu trẻ Đặc biệt đối với trẻ thơ, người lớn và xã hội luôn dành cho các em tình yêu thương và sự quan tâm Để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nhà nước ta đã tích cực xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh, trong đó có pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em
Trong lịch sử lập pháp, ở mỗi giai đoạn khác nhau, điều kiện chính trị, kinh tế khác nhau nên vấn đề quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ được quan tâm với mức độ khác nhau Ngay từ thời xa xưa, các triều đại phong kiến đã đề ra những quy định pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sau khi Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác này trong
Trang 2217 từng thời kỳ hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em
em mới chỉ được quy định một cách mờ nhạt Theo Quốc triều hình luật, trẻ em với
tư cách là con chính thức trong gia đình được bảo vệ quyền được sống, quyền được sống chung với cha mẹ, được cha mẹ chăm sóc và dạy dỗ Con cháu thay thế ông bà, cha mẹ chịu tội đánh roi hoặc tội đánh trượng đều được giảm một bậc (Điều 37) Đặc biệt là việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm của trẻ em cũng được Quốc triều hình luật quan tâm, “gian dâm với con gái nhỏ dưới 12 tuổi trở xuống, dù con gái thuận tình, cũng xử như tội hiếp dâm”
Đến pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những quy định cụ thể hơn về quyền trẻ
em và bảo vệ quyền trẻ em trong Bộ luật dân sự Bắc kỳ Chẳng hạn như: Quyền được khai sinh, kể cả đối với những đứa trẻ bị bỏ rơi (Điều 25, 26); quyền được sống chung với cha mẹ và đảm bảo nơi cư trú (Điều 53); Quyền được cha mẹ thừa nhận (Điều 29); Quyền được giám hộ (Điều 225) và các quyền khác như quyền được nhận làm con nuôi, được thừa kế tài sản Bộ dân luật Bắc kỳ có những quy định thể hiện
ưu điểm nổi trội hơn trong việc quy định bảo vệ trẻ em trong từng trường hợp cụ thể:
“Nếu người đang nuôi để người con nuôi phải thiếu thốn những sự cần dùng hoặc đối đãi tàn nhẫn, thì Tòa án đệ nhị cấp có thể tự mình, hoặc do thân thuộc người con nuôi thỉnh cầu, mà tuyên án người đang nuôi mất quyền cha nuôi” (Điều 201); “Cấm cha mẹ không được phép đem con cái đi cầm cố hoặc gán để trừ nợ Phàm khế ước như thế, đối với pháp luật cho là phi luân lý và vô hiệu lực” (Điều 208)
Trong thời kỳ này, do ảnh hưởng các quan điểm, tư tưởng đề cao quyền gia trưởng trong gia đình, quyền của chồng đối với vợ, cha đối với con đã ảnh hưởng đến quyền lợi của con cái Quan hệ giữa cha mẹ và con được xây dựng dựa trên cơ
Trang 2318
sở mệnh lệnh, phục tùng nên trẻ em trong gia đình chưa được quan tâm đúng mức, quyền lợi của trẻ em chưa được đảm bảo Chính vì thế, quyền của con cái trong gia đình, quyền của trẻ em trong xã hội thể hiện rất mờ nhạt, chưa thực sự được ghi nhận
và bảo vệ Các quy định pháp luật thời kỳ này thể hiện sự trọng nam kinh nữ: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”; đối xử phân biệt giữa các con, giữa con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú Bộ dân luật Bắc Kỳ quy định: “Nếu là con loạn luân hay con ngoại tình của người mẹ, thì hộ lại không được đăng ký sự khai nhận đứa con hoang ấy Nếu hộ lại đã trót khai nhận ấy coi như không và vô hiệu” (Điều 168) Và “Phàm con hoang vô thừa nhận, thì không được phép thừa nhận trước Tòa án để truy nhận gốc tích cha mẹ là ai”
Như vậy, ở giai đoạn này, bước đầu đã hình thành những quy định pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em nhưng do tồn tại những quan điểm, tư tưởng phong kiến, lạc hậu và cổ hủ, đề cao quyền gia trưởng, trọng nam khinh nữ, dẫn đến việc ghi nhận quyền lợi của con cái rất mờ nhạt, đối xử phân biệt làm ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ em, hạn chế quyền được khai nhận con và quyền được nhận cha, mẹ
1.4.2 Pháp luật về quyền trẻ em giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Ngay trong những ngày đầu mới thành lập, mặc dù phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, song Nhà nước đã quan tâm xây dựng hệ thống pháp luật để kịp thời điều chỉnh các mối quan hệ, phục vụ quốc kế dân sinh, trong đó có vấn đề bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em Đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ em phát triển toàn diện, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dành 2 điều quy định ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, thể hiện sự quan tâm đầy trách nhiệm của Nhà nước đối với trẻ em: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều 14) và “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí Học trò nghèo được Chính phủ giúp” (Điều 15)
Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ
em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ” (Điều 24) Luật HN&GĐ năm 1959 cũng được xây dựng dựa trên nguyên tắc bảo vệ trẻ em, “Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con
Trang 2419 riêng Nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ Người vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ và người gây ra những việc ấy phải chịu trách nhiệm về hình sự” (Điều 18); “Người con ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước Toà án nhân dân Người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chưa thành niên…” (Điều 22) Để tổ chức thực hiện chính sách về trẻ em, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam theo Quyết định số 112/NV ngày 02/5/1961 của Bộ Nội vụ Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam là tổ chức quần chúng có nhiệm vụ phụ trách việc giáo dục thiếu niên nhi đồng một cách toàn diện và chỉ đạo phong trào thiếu niên nhi đồng trong cả nước
1.4.3 Pháp luật về quyền trẻ em từ năm 1975 đến nay
Sau ngày thống nhất đất nước, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ của mỗi công dân, gia đình, nhà trường và toàn xã hội Trong tư tưởng và trong hành động của mỗi người, dù ở địa vị xã hội nào cũng luôn thể hiện sự ưu tiên cho trẻ em, đó là tình cảm, là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp phát triển đất nước Theo Chỉ thị 38-CT/TW ngày 30 tháng 5 năm 1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần được ưu tiên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Cụ thể hóa và phát huy tinh thần đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn này đã có sự điều chỉnh, bổ sung những quy định, chính sách mới cho phù hợp nhằm hướng tới việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ
em, tăng cường hiệu quả điều chỉnh các quy định pháp luật trên thực tế Hiến pháp năm 1980 quy định việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em gắn liền với bảo vệ bà
mẹ Đồng thời, khẳng định trách nhiệm và nghĩa vụ của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ bà mẹ và trẻ em Cụ thể: “Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ
và trẻ em; vận động sinh đẻ có kế hoạch” (Điều 47) Và “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành những công dân có ích cho xã hội Con cái có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con”
Trang 2520 (Điều 64) Hiến pháp năm 1992, kế thừa các bản Hiến pháp trước đó, vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được tái khẳng định, đề cao trách nhiệm của gia đình, đặc biệt là trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, đồng thời cũng quy định bổn phận của con cháu đối với ông bà, cha mẹ: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha
mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 64) Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định và đề cao quyền con người, quyền công
dân trong đó quan tâm đặc biệt đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trẻ
em được quan tâm trên các lĩnh vực khác rộng hơn, ngoài chăm sóc sức khỏe, giáo dục còn được tham gia các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí cho trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được tham gia các hoạt động xã hội “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ
em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37)
Luật HN&GĐ năm 1986 và năm 2000 được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ trẻ em Theo đó, các quy định đều khẳng định Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ Đặc biệt, các chế định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, con; chế định xác định cha, mẹ cho con; chế độ nuôi con nuôi; chế định ly hôn đều có các quy định bảo đảm quyền và lợi ích cho con cái nói riêng, cho trẻ em nói chung Chẳng hạn như quyền có tài sản riêng của con; con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết; Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật làm con nuôi…
Đánh dấu bước ngoặt phát triển trong công tác bảo vệ trẻ em là Luật BVCS&GDTE được Quốc hội Khóa VIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991; Nghị định số 118/CP ngày 07/9/1994 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam Tuy nhiên, tổng kết, đánh giá việc thực hiện và áp dụng Luật BVCS&GDTE năm 1991 cho thấy Luật chưa thật sự đi vào đời sống; khung pháp lý, chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ
em chưa đầy đủ; các quy định còn mang tính nguyên tắc, quy định chung chung,
Trang 2621 thiếu các chế tài xử phạt vi phạm có tính răn đe mạnh mẽ; phổ biến, truyền thông kỹ năng còn thiếu chiều sâu; chưa đề cao và xác định rõ trách nhiệm quan trọng của Nhà nước, xã hội, gia đình, các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái… Luật BVCS&GDTE năm 2004 thay thế Luật BVCS&GDTE năm 1991 đã khắc phục những hạn chế nêu trên Với mười quyền cơ bản của trẻ em được ghi nhận từ Điều
11 đến Điều 20, Luật BVCS&GDTE năm 2004 góp phần bảm đảm thực hiện quyền trẻ em, tăng cường tính thực thi và đạt hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền trẻ em Đồng thời, để bảo vệ tốt hơn quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, lần đầu tiên việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được quy định trong một chương độc lập (Chương IV) và Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định
rõ nguồn tài chính cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ có ngân sách nhà nước mà còn được huy động từ các nguồn viện trợ quốc tế, ủng hộ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước, nước ngoài và các nguồn thu nhập hợp pháp khác (Điều 9)
Vấn đề quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em còn được quy định trong các Luật khác như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Giáo dục năm 2005
Bên cạnh đó, Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt và đề ra các chính sách hỗ trợ cho các đối tượng trẻ em đặc thù Như Chỉ thị số 06/1998/CT-TTg ngày 23/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động; Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg ngày 31/5/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002… Đồng thời, xây dựng kế hoạch cho công tác bảo vệ trẻ em theo các giai đoạn gắn với mục tiêu cụ thể như Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010
và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020
Nhìn chung, nội dung chính sách về trẻ em trong giai đoạn này hướng tới mục tiêu giáo dục trẻ em thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy và bảo đảm cho trẻ em các quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khoẻ, được khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền; được học hết bậc phổ thông cơ sở không phải trả tiền, được giúp
đỡ về sách giáo khoa và đồ dùng học tập Các em có năng khiếu được Nhà nước tạo
Trang 2722 điều kiện để phát huy năng khiếu; được vui chơi giải trí lành mạnh; con các liệt sĩ, trẻ
mồ côi không có người thân thích trông nom được Nhà nước và xã hội quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục Trẻ em tàn tật được chăm sóc, điều trị và được dạy những nghề thích hợp; được tôn trọng về nhân phẩm Đồng thời, chính sách về trẻ em cũng quy định nhiệm vụ của gia đình, nhà nước và xã hội, bao gồm nhiệm vụ của cha mẹ, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường phổ thông, các đoàn thể nhân dân, các xí nghiệp, hợp tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh khác và nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước Sự thay đổi và phát triển của bộ mặt xã hội, của thể chế chính trị cũng như các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, những thành tựu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực phần nào tác động, chi phối đến sự phát triển của pháp luật về quyền trẻ em Việt Nam Nhìn lại quá trình lịch sử phát triển của pháp luật về quyền trẻ em cho thấy, đã có nhiều bước phát triển và ngày càng hoàn thiện về mặt lập pháp cũng như về mặt nội dung, khẳng định rõ tư tưởng, định hướng, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện qua các chế định, các văn bản quy phạm pháp luật về quyền trẻ em
Kết luận Chương 1
Quyền trẻ em, quyền cơ bản của trẻ em và bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em
là vấn đề dành được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam cho thấy, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em là một chính sách xuyên suốt, có tính lâu dài, gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, là vấn đề được Nhà nước, gia đình, cộng đồng trong nước và trên thế giới dành nhiều sự quan tâm đặc biệt Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, việc ghi nhận quyền cơ bản của trẻ em và đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em là một vấn đề quan trọng, cần thiết và có nhiều ý nghĩa thiết thực Vì thế, cần tăng cường sự lãnh đạo và tổ chức thực hiện của chính quyền các cấp, đề cao tinh thần, ý thức, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, nhà trường, cộng đồng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, huy động toàn xã hội chung tay hành động vì trẻ em và bảo vệ trẻ em
Trang 2823
Chương 2 CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA TRẺ EM THEO LUẬT BẢO VỆ,
CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM NĂM 2004
2.1 QUYỀN ĐƯỢC KHAI SINH VÀ CÓ QUỐC TỊCH
Khi quyền con người ngày càng được tôn trọng và nâng lên một tầm cao mới thì vấn đề khai sinh và có quốc tịch của con người ngày càng được đề cao, coi trọng
và cần thiết Ngay từ khi sinh ra, quyền được khai sinh và có quốc tịch có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi con người
- Quyền được khai sinh:
Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ em khi sinh ra có quyền được khai sinh” (Nguyên tắc 3) Công ước về quyền trẻ em đã khẳng định rằng: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc” (Điều 7) Bộ luật dân sự năm
2005 quy định: “Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh” (Điều 29) Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” (Điều 11) Như vậy, có thể khẳng định rằng, ngay từ khi sinh ra, trẻ em được hưởng quyền được khai sinh và có quốc tịch Đăng ký khai sinh nhằm xác định họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con của một người mà được pháp luật công nhận và làm căn cứ pháp lý chứng minh
đó là một cá nhân, một chủ thể riêng biệt trong xã hội Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của một cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của con người
Luật pháp ghi nhận một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em là quyền được khai sinh bởi vì quyền được khai sinh là cơ sở điều kiện để thực hiện các quyền cơ bản khác của trẻ em như quyền có họ, tên, có quốc tịch, có bản sắc riêng, quyền được biết cha mẹ mình là ai… Có thể nói, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một cá nhân riêng biệt, một chủ thể độc lập, một công dân bình đẳng với mọi công dân khác
Trang 2924 Khi mới được sinh ra, chưa có sự nhận thức và phát triển toàn diện, trẻ em được hưởng quyền này phụ thuộc vào hành vi của người lớn Vì vậy, pháp luật quy định việc đăng ký khai sinh cho trẻ em thuộc trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ của trẻ em Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ
em và vận động cha mẹ, người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn Trong trường hợp thiếu hồ sơ, thủ tục, người có thẩm quyền đăng ký khai sinh phải hướng dẫn, không được gây khó khăn, phiền hà đối với người đi khai sinh Đối với những khu vực có điều kiện đi lại khó khăn, cán bộ hộ tịch tư pháp phải có lịch định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký khai sinh cho trẻ em Đối với những trẻ em của hộ nghèo, Nhà nước có chính sách ưu tiên không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định “Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh” (Điều 23) Quy định này là một chính sách mới nhằm giải quyết khó khăn của những hộ nghèo không có điều kiện nộp lệ phí khai sinh, để đảm bảo cho mọi trẻ em sinh ra đều được khai sinh
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định số 06/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình đã quy định cụ thể về việc thực hiện quyền khai sinh cho trẻ em Việc đăng ký khai sinh của trẻ em được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ
và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó Cha mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con trong thời hạn 60 ngày, nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em
Thực hiện quyền cơ bản này của trẻ em có ảnh hưởng vô cùng quan trọng tới việc thực hiện các quyền khác của trẻ Đăng ký khai sinh là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho trẻ em được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế và được đi học đúng độ tuổi, là
Trang 30trong vòng 3 tháng) [35]
- Quyền có quốc tịch:
Quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị - pháp lý xác định mối quan
hệ giữa một con người với một nhà nước Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đi và là tiền đề để họ được hưởng các quyền và làm nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước Hệ thống pháp luật Việt Nam nhiều lần quy định về vấn
đề quốc tịch của công dân nói chung và của trẻ em nói riêng Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Điều 17) Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Cá nhân có quyền có quốc tịch…” (Điều 45) Luật BVCS&GDTE năm 2004 khẳng định: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” (Điều 11) Vì vậy, mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều phải được xác định quốc tịch và có quyền có quốc tịch
Quyền có quốc tịch của trẻ em có nhiều ý nghĩa quan trọng Một mặt, quy định này phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, mỗi người sinh ra đều có cội nguồn Mặt khác, quy định quyền này là quyền cơ bản đầu tiên tạo cơ sở, điều kiện để trẻ em có tư cách pháp lý được hưởng những quyền khác của trẻ em cũng như các quyền cơ bản của công dân
Việc quy định quyền được khai sinh và có quốc tịch cho trẻ em cũng là nhằm đảm bảo các quyền được ghi nhận trong Bộ luật dân sự 2005: “Cá nhân có quyền có
họ, tên Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó” (Điều 26) Và “Cá nhân có quyền có quốc tịch” (Điều 45)
Trang 3126 Qua quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế, các quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định số 06/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình góp phần đảm bảo quyền khai sinh và có quốc tịch cho trẻ em Bằng những quy định có tính mở rộng, tạo sự thuận lợi, đơn giản trong thủ tục đăng ký khai sinh, quốc tịch cho trẻ và quy định trách nhiệm của cơ quan, các cấp có thẩm quyền làm công tác hộ tịch nhằm thực hiện nghiêm minh các quy định pháp luật về khai sinh, quốc tịch, đảm bảo quyền và lợi ích cho trẻ em Để hoàn thiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, hiện nay Nhà nước ta đang xây dựng Luật Hộ tịch, Luật Căn cước công dân Các văn bản pháp luật này được xây dựng trên tinh thần đề cao quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em
2.2 QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG
Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là nhằm đảm bảo quyền được sống của trẻ em Trên cơ sở đó, Nhà nước ghi nhận quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em trước hết thuộc về các bậc cha mẹ, gia đình, người thân Đồng thời, xã hội có trách nhiệm đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc và được nuôi dưỡng
Được chăm sóc, nuôi dưỡng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể là quyền của trẻ em và là mục tiêu phấn đấu của mỗi gia đình, Nhà nước và xã hội Hiến pháp năm 2013, kế thừa Hiến pháp năm 1992, khẳng định:
“Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36) “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi,
bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37) Luật BVCS&GDTE năm 2004 tiếp tục cụ thể hoá những quy định trên: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức” (Điều 12)
Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em được hiểu là trẻ em sinh ra được cha mẹ, gia đình và xã hội tạo điều kiện chăm lo về mọi mặt đời sống hàng ngày Bất
Trang 32- Cha mẹ, người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em;
- Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm chăm lo chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ em theo từng lứa tuổi;
- Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác, người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con, có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con theo quy định của pháp luật
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” (Điều 36) Chế định nuôi con nuôi đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận từ rất sớm, với mục
đích hết sức nhân đạo: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu
dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình” (Điều 2, Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Theo đó, trẻ em dưới 16 tuổi được nhận làm con nuôi Có thể thấy, một trong những biện pháp hữu hiệu và cần thiết trong việc bảo vệ trẻ em, bảo đảm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em là việc nhận nuôi con nuôi, tìm cho trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em không nơi nương tựa một gia đình thay thế, một mái ấm để ở đó trẻ được yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng như bao trẻ em bình thường khác để có thể phát triển và lớn lên trong xã hội
Trang 3328 Như vậy, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng là một quyền rất quan trọng và cơ bản, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của trẻ em Quy định trên vừa cụ thể vừa phù hợp với các điều kiện chủ quan và khách quan Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển, Việt Nam đang trong thời kỳ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyền con người trên thế giới được nâng lên một tầm cao mới, theo đó, có nhiều quy định, chính sách mới nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong đó, quyền của trẻ em được ưu tiên chú trọng Đồng thời, với sự phát triển của kinh tế - xã hội, chất lượng đời sống được nâng cao, trẻ em cũng cần có sự bảo vệ, che chở của gia đình, xã hội, được hưởng một chế độ chăm sóc đặc biệt, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh để có điều kiện phát triển Trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với việc chăm sóc, nuôi dưỡng cần được nâng cao hơn nữa
Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là vô cùng quan trọng và là điều kiện
cơ bản, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của trẻ em Nếu trẻ em sinh ra không được chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc được chăm sóc, nuôi dưỡng không đúng có thể bị suy dinh dưỡng, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý của trẻ em, trẻ em không thể phát triển được về cả thể chất lẫn tinh thần, trí tuệ thậm chí trẻ có thể tử vong Trong thời gian qua, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp, chính sách và chương trình nhằm ghi nhận và đảm bảo quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ
em trên thực tế Thấy được sự đầu tư hỗ trợ và đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là những vấn đề được Nhà nước và xã hội dành nhiều sự quan tâm, vừa thể hiện được tinh thần nhân văn, nhân đạo của toàn thể dân tộc ta, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của thế hệ cha ông đi trước, vừa có ý nghĩa trong việc bảo vệ
và phát triển trẻ em Việt Nam, xây dựng nguồn nhân lực cho tương lai đất nước sau này
2.3 QUYỀN SỐNG CHUNG VỚI CHA MẸ
Trẻ em sinh ra cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ Có thể nói, cha mẹ là người có thể dành cho con những gì tốt đẹp nhất, tình yêu thương, sự quan tâm, che chở Trẻ em cần được lớn lên và phát triển trong vòng tay yêu thương, chăm sóc và bảo vệ của cha mẹ Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, quyền sống chung với cha
mẹ của trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho
Trang 3429 trẻ em Thứ nhất, tạo cho trẻ em một mái ấm gia đình thực sự, được lớn lên trong sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc và bảo vệ của cả cha và mẹ Thứ hai, trẻ em được lớn lên trong sự giáo dục, dạy dỗ của cha và mẹ Trẻ em sống hòa đồng và phát triển toàn diện
Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em có quyền sống chung với cha
mẹ Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em” (Điều 13) Sống chung với cha mẹ nghĩa là trẻ em được chung sống dưới một mái ấm gia đình cùng với cha và mẹ, được nhận sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của cha và mẹ Quyền sống chung với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm của mọi trẻ em, kể cả trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ trái với ý muốn của cha
mẹ và trẻ em, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền chăm nom, chăm sóc, giáo dục đối với con chưa thành niên hoặc trường hợp cha mẹ đang thi hành án phạt tù thì người có thẩm quyền thực hiện pháp luật sẽ quyết định cách ly trẻ em với cha mẹ để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ em Trường hợp trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi có quyền được nhận làm con nuôi, được sống trong gia đình thay thế để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em
Nghiên cứu xã hội học cho thấy rằng, trẻ em sống chỉ với cha hoặc mẹ, thiếu đi
sự quan tâm và giáo dục của một trong hai người, thường phát triển không đồng đều, không toàn diện, chúng bị ảnh hưởng rất lớn từ người mà mình chung sống Trẻ sống với mẹ thường ít nói, thiếu năng động, không mạnh mẽ Trẻ sống với cha thường phát triển theo tố chất mạnh mẽ, cứng rắn, khô khan và ít biết quan tâm hơn… Vì thế, ngay trong giai đoạn này, để trẻ em được phát triển toàn diện, cần đảm bảo cho trẻ em có môi trường chung sống cùng với cha mẹ Mặt khác, để đảm bảo cho trẻ được hưởng đầy đủ những lợi ích vật chất và tinh thần thì cha, mẹ phải thực hiện những hành vi nhất định để đảm bảo các quyền đó cho con Vì thế, quy định quyền được sống chung với cha mẹ chính là cách thức đảm bảo các quyền khác của trẻ em như quyền được khai sinh, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được chăm sóc sức khỏe…
Trang 3530 Tình trạng ly hôn ngày càng gia tăng như hiện nay đã ảnh hưởng đến quyền được sống chung với cha mẹ của trẻ em, tác động tiêu cực đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ em Không được sống chung với cha mẹ, trẻ em không những không được quan tâm, yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng mà hơn nữa, trẻ không được quản lý, giám sát và không được giáo dục đến nơi đến chốn, dẫn đến các hệ lụy như: Trẻ đi lang thang, dính vào các tệ nạn xã hội, bỏ bê học hành… Như vậy, để đảm bảo cho trẻ được hưởng quyền đượ sống chung với cha mẹ cần nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao nhận thức của bậc phụ huynh
để ngăn chặn tình trạng bỏ rơi con cái, nâng cao chất lượng công tác hòa giải, hạn chế tình trạng ly hôn, xóa bỏ triệt để nạn tảo hôn… để trẻ em được sống chung dưới mái ấm gia đình
2.4 QUYỀN ĐƯỢC TÔN TRỌNG, BẢO VỆ TÍNH MẠNG, THÂN THỂ, NHÂN PHẨM VÀ DANH DỰ
Con người được coi là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, thân thể, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của họ vì đó là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với quyền con người Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19) và “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (Điều 20)
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Theo đó, bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự con người nói riêng là những vấn đề quan trọng hàng đầu Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhà nước Việt Nam không chỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người nói chung, nhân phẩm, danh dự
Trang 3631 con người nói riêng, mà còn làm hết sức mình bảo vệ quyền con người trên thực tế Đặc biệt, có một số nhóm đối tượng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm trong việc chăm sóc và bảo vệ dựa trên những đặc điểm về tâm - sinh lý và sức khỏe, trong đó
có trẻ em Trong độ tuổi trẻ em, sức khỏe, tâm lý và tinh thần là những yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ em Trẻ càng nhỏ, càng dễ bị tổn thương và dễ bị xâm phạm Do vậy, được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự là quyền rất quan trọng Để đảm bảo cho trẻ em phát triển về thể chất thì tính mạng, sức khỏe của trẻ cần được tôn trọng, bảo vệ, che chở Để tâm hồn và tinh thần của trẻ em được nuôi dưỡng và phát triển bình thường thì trước hết cần phải tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ Đảm bảo các yếu tố này mới đảm bảo cho trẻ em phát triển toàn diện
Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định: “Cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể” (Điều 32); “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của
cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” (Điều 37) Nhằm cụ thể hóa các quy định nêu trên, Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự” (Điều 14) và “Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật” (Điều 6) Hành vi ngược đãi, hành hạ trẻ em là một trong những hành vi bị nghiêm cấm (Khoản 6 Điều 7 Luật BVCS&GDTE năm 2004) Theo Điều 8 Nghị định 71/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật BVCS&GDTE thì ngược đãi, hành hạ trẻ em là: Xâm phạm thân thể, đánh đập, đối xử tồi tệ đối với trẻ em; bắt trẻ em nhịn ăn uống, mặc rách; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm; gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục; dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau đớn để thể xác và tinh thần làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em…
Các hành vi đó làm tổn hại nghiêm trọng đến thân thể, sức khỏe và tính mạng của trẻ em, gây ra những đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần Cần có biện pháp ngăn chặn cũng như áp dụng các biện pháp chế tài răn đe và xử lý nghiêm minh các hành
Trang 3732
vi vi phạm pháp luật đó Chương X Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về người chưa thành niên phạm tội; Chương XII quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người trong đó đã thể hiện những quan điểm nhân đạo, chính sách quan tâm bảo vệ trẻ em và quy định những khung hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ em
Đảm bảo quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh
dự của trẻ em góp phần giảm tỷ lệ trẻ em tử vong, bị bạo lực, bị tai nạn thương tích, ngăn chặn tình trạng trẻ em rơi vào thế giới ảo, tự kỷ, xa lánh cộng đồng xã hội, để trẻ em thực sự được sống trong môi trường lành mạnh và phát triển bình thường
2.5 QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE
Sức khỏe là vốn tài sản lớn nhất của mỗi người, có sức khỏe là có tất cả Mỗi người chúng ta đều có quyền được hưởng những tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cao nhất có thể Điều này là căn bản để có một cuộc sống đúng nghĩa của nó Quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em phụ thuộc vào việc thực hiện các quyền khác như quyền được sống, không bị phân biệt đối xử và được bình đẳng, được đảm bảo dinh dưỡng, được giáo dục, được tôn trọng cuộc sống riêng tư, được tiếp cận thông tin, được sử dụng nước sạch…
Sức khỏe đối với tất cả mọi người là yếu tố cần thiết và quan trọng Đặc biệt đối với trẻ em, với đặc điểm về độ tuổi, sức khỏe và tâm - sinh lý đang trong giai đoạn đầu phát triển, vì thế việc chăm sóc sức khỏe cho trẻ em lại càng quan trọng Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em giúp cho trẻ có sức đề kháng chống chọi bệnh tật, khỏe mạnh để phát triển Sức khỏe tốt chính là điều kiện đảm bảo cho trẻ em có thể được hưởng các quyền khác như học tập, vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu… Nhà nước tạo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo không một trẻ em nào bị tước quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng” (Điều 38) Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân
Trang 3833 dân năm 1989 cũng quy định: “Trẻ em được y tế cơ sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch, được khám bệnh, chữa bệnh” (Điều 46) Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập” (Điều 15)
Trẻ em sinh ra không phân biệt giới tính, dân tộc, đều được chăm sóc sức khỏe Quyền này được quy định cụ thể tại Điều 15 Luật BVCS&GDTE năm 2004 và một
số văn bản pháp luật khác như Luật Bảo hiểm y tế, Luật Khám, chữa bệnh Theo
đó, trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập; trẻ em được y tế cơ sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch, được khám bệnh, chữa bệnh… Thực tế cho thấy so với các nước phát triển, trẻ em Việt Nam còn phải chịu nhiều thiệt thòi về quyền được chăm sóc sức khỏe Di chứng chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo, sự thiếu hiểu biết của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng… đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ em Vì thế, pháp luật ghi nhận quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em là cơ sở pháp lý để trẻ được hưởng các lợi ích từ chăm sóc sức khỏe, để bảo vệ trẻ lớn lên khỏe mạnh và an toàn
Để đảm bảo cho trẻ em được hưởng quyền được chăm sóc sức khỏe, Luật BVCS&GDTE năm 2004 quy định rõ trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cho trẻ em của cha mẹ, các cơ sở y tế, các bộ ngành liên quan Theo đó, cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em Cơ sở y tế công lập có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh, chữa bệnh cho trẻ em Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổ chức y tế học đường Đồng thời, Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; có chính sách miễn, giảm phí khám bệnh, chữa bệnh; đầu tư xây dựng bệnh viện nhi, trang bị cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em Xây dựng mạng lưới y tế cộng đồng phòng tránh bệnh cho trẻ em, đảm bảo nguồn y, bác sĩ vừa có tâm vừa có tài phục vụ chăm sóc, khám và
Trang 3934 chữa bệnh cho trẻ em Khuyến khích tổ chức, cá nhân hoạt động nhân đạo, từ thiện ủng hộ kinh phí chữa bệnh cho trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo
Qua các thời kỳ phát triển, chính sách nhân đạo cho trẻ em luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt với quan điểm tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em Trẻ em dưới sáu tuổi được Nhà nước cấp Thẻ khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Đây là phương án thể hiện sự tiến bộ, tính ưu việt của chế độ ta Thực hiện phương án này thì bất kỳ trẻ em nào dưới sáu tuổi, khi bị ốm đau dù là bệnh nặng hay nhẹ đều được khám bệnh, chữa bệnh và không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Đặc biệt, ngày 21 tháng 10 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 144/2013/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em Áp dụng hình thức phạt tiền tùy theo mức độ đối với các hành vi phát hiện ra trẻ em bị bệnh hoặc có dấu hiệu
bị bệnh mà không thông báo kịp thời hoặc không đưa ngay trẻ em đến khám bệnh, chữa bệnh; thu tiền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 06 tuổi trái với quy định; Không sử dụng trang thiết bị, phương tiện khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em và các hành vi khác như từ chối khám bênh, chữa bệnh cho trẻ em theo quy định hoặc trong trường hợp cấp cứu…
Như vậy, Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt đến công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em với nhiều chính sách ưu tiên và mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện cho trẻ có sức khỏe và phát triển an toàn, lành mạnh Quy định pháp luật không đơn thuần chỉ
là ghi nhận quyền được chăm sóc sức khỏe mà cao hơn nữa đó là quy định trách nhiệm cụ thể và các biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh khi có hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến sức khỏe và việc chăm sóc sức khỏe của trẻ em
2.6 QUYỀN ĐƯỢC HỌC TẬP
Từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến nay, giáo dục là một trong
những chính sách hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, bởi vì: “Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [7 Điều 2]
Trang 4035 Trẻ em có quyền và được tạo điều kiện tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, toàn diện
và chất lượng Học tập giúp trẻ em có điều kiện phát triển về trí tuệ và hoàn thiện về nhận thức để trở thành một thế hệ công dân mới có đức, có tài tiếp bước cha ông xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thông qua việc học tập, các em rèn luyện bản thân mình, hiểu biết được nguồn kiến thức, trong đó được tiếp cận đến các kiến thức pháp luật
và các kỹ năng sống để các em có thể hiểu và tự bảo vệ quyền lợi của mình Nhà trường là môi trường giáo dục các em hình thành nhân cách, sống đúng chuẩn mực, hướng các em đến cuộc sống lành mạnh, tích cực Cũng trong môi trường học tập, giúp các em được vui chơi, giao lưu bạn bè, chia sẻ bày tỏ ý kiến, quan điểm cá nhân khi các em được tham gia các hoạt động xã hội, sân chơi thể thao, chương trình ngoại khóa, nhằm rèn luyện năng khiếu, phát triển và hoàn thiện bản thân mình Bên cạnh đó, đảm bảo cho các em được đến trường, được học tập giúp các em hình thành nhận thức và ý thứ tránh xa các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, điện tử, ngăn chặn tình trạng buôn bán trẻ em, bóc lột sức lao động, trẻ em lang thang…
Luật pháp quốc tế cũng rất coi trọng vấn đề giáo dục của con người nói chung
và của trẻ em nói riêng Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 khẳng định: Mọi người đều có quyền được học tập Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959 có ghi nhận nguyên tắc trẻ em có quyền được hưởng giáo dục miễn phí và bắt buộc, ít nhất là ở bậc tiểu học Trẻ sẽ phải được hưởng một nền giáo dục tiến bộ mà có thể phát huy nền văn hóa chung của mình, các nhận thức của mình và ý thức trách nhiệm về đạo đức và xã hội và trở thành một thành viên có ích của xã hội Phù hợp với tinh thần luật pháp quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng đã dành sự quan tâm và bảo vệ quyền được học tập của trẻ em
Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39) Quyền học tập còn được cụ thể hóa trong nhiều văn bản khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật BVCS&GDTE năm 2004 khẳng định: “Trẻ
em có quyền được học tập”, “Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí” (Điều 16) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bậc tiểu học là bậc giáo dục bắt buộc đối với mọi trẻ em Mọi trẻ em không phân biệt điều kiện, hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập và được Nhà nước tạo điều kiện cho học tập Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định nam, nữ bình đẳng về