Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của một doanh nghiệp thông qua hai hướng: tác động lên chi phí sử dụng nợ và tác động lên
Trang 1TRẦN THỊ PHƯƠNG TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA NÉ TRÁNH THUẾ,
SỞ HỮU TỔ CHỨC ĐẾN ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN SÀN HOSE
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP Hồ Chí Minh, Năm 2017
Trang 2i
Tôi cam đoan luận văn này “Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến chính sách nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo trong luận văn này, tôi cam đoan rằng từng phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng
Trang 3ii
Chân thành cảm ơn Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Minh Hà đã tận tình hướng dẫn,
hỗ trợ và truyền đạt cho tôi những ý kiến khoa học quý báu về lý thuyết cũng như kinh nghiệm triển khai thực tế trong quá trình tôi lựa chọn đề tài và thực hiện luận văn “Tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến chính sách nợ của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE”
Chân thành cảm ơn Quý Thầy , Cô giảng dạy chương trình đào tạo Thạc sỹ Tài chính ngân hàng của Trường đại học Mở TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm hết sức bổ ích để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4iii
nghiệp quan tâm hàng đầu Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu tác động của né tránh thuế
và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của một doanh nghiệp thông qua hai hướng: tác động lên chi phí sử dụng nợ và tác động lên hệ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
đó Từ đó, có thể đưa ra một số khuyến nghị giúp các doanh nghiệp theo đuổi chính sách
nợ hiệu quả hơn
Để đánh giá tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chi phí sử dụng
nợ và hệ số đòn bẩy của danh nghiệp, nghiên cứu xây dựng hai mô hình sau:
Mô hình thứ nhất: biến phụ thuộc là chi phí sử dụng nợ (COD), các biến độc lập bao gồm: khác biệt thuế sổ sách (BTD), tổng tích lũy thu nhập (TA), tuổi doanh nghiệp (AGE), hệ số đòn bẩy (LEVERAGE), dòng tiền hoạt động (CFO), quy mô doanh nghiệp (SIZE), sở hữu tổ chức (INST)
Mô hình thứ hai: biến phụ thuộc là hệ số đòn bẩy doanh nghiệp (LEVERAGE), biến độc lập bao gồm: né tránh thuế (TAXAVOIDER), tỷ suất sinh lợi từ hoạt động trên tổng tài sản (ROA), quy mô doanh nghiệp (LNASSET), hệ số giá thị trường trên sổ sách của tài sản (MARKET – TO – BOOK), tài sản cố định hữu hình (PPE), hệ số nguy cơ phá sản (ZSCORE),
độ lệch khỏi mục tiêu (DEVIATION FROM TARGET - DVFT)
Sau các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành với mẫu quan sát các doanh nghiệp chọn lọc tại thị trường Việt Nam, nhận thấy né tránh thuế chỉ có tác động lên chính sách nợ của các doanh nghiệp ở yếu tố đòn bẩy tài chính theo quan hệ ngược chiều, chưa thấy một sự tác động có ý nghĩa thống kê nào lên chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp Riêng về sở hữu tổ chức, hoàn toàn không tìm thấy tác động nào mang ý nghĩa thống kê lên cả chi phí sử dụng nợ và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Trang 5iv
Lời cam đoan ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh mục hình vii
Danh mục bảng viii
Danh mục từ viết tắt x
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên c ứu 4
1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài 5
1.8 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Một số khái niệm 7
a Khái niệm về né tránh thuế 7
b Né tránh thuế và trốn thuế 9
c Chính sách nợ 10
Trang 6v
2.2 Một số lý thuyết 13
2.2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (mô hình MM) .13
2.2.2 Lý thuyết về chí phí đại diện 14
2.2.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn 15
2.2.4 Lý thuyết trật tự phân hạng 16
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 17
2.4 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất 21
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Phương pháp và mô hình nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.2 Mô hình nghiên cứu 26
3.3 Mẫu nghiên cứu 36
3.3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 36
3.3.2 Lựa chọn mẫu 36
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thống kê mô tả các biến 39
4.2 Mô hình hồi quy thứ nhất 40
4.2.1 Ma trận hệ số tương quan 40
4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF 41
Trang 7vi
4.2.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan Wooldridge .44
4.2.6 Khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi mô hình REM 44
4.2.7 Thảo luận kết quả hồi quy 45
4.3 Mô hình hồi quy thứ hai 49
4.3.1 Kiểm định lựa chọn giữa các mô hình hồi quy 49
4.3.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình FEM 50
4.3.3 Kiểm tra hiện tượng tự tương quan bậc nhất bằng kiểm định Wooldridge .51
4.3.4 Khắc phục tự tương quan bậc nhất và phương sai sai số thay đổi trong mô hình thứ hai hồi quy theo FEM 51
4.3.5 Thảo luận kết quả mô hình thứ hai 52
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu mới 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 8vii
Hình 3.2: Sơ đồ mô hình nghiên cứu thứ hai 34
Trang 9viii
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 40
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF 41
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn OLS và REM cho mô hình thứ nhất 42
Bảng 4.5:Kết quả kiểm định Hausman cho mô hình thứ nhất 43
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi REM cho mô hình thứ nhất 43
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan mô hình thứ nhất 44
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình thứ nhất theo REM sau khi khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi 45
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định lựa chọn OLS và REM của mô hình thứ hai 49
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định Hausman mô hình thứ hai 49
Bảng 4.11: Kiểm định phương sai thay đổi mô hình thứ hai 51
Bảng 4.12: Kết quả kiểm tra tự tương quan bậc nhất mô hình thứ hai 51
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình thứ hai sau khi khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan bằng phương pháp GLS 51
Bảng 4.14: Trích xuất kết quả hồi quy mô hình thứ hai theo sau khi khắc phục bằng phương pháp FGLS 52
Trang 10ix
Bảng 4.16: Tóm tắt kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết H3, H4 theo mô hình thứ hai 59
Trang 11𝐶𝐹𝑂 : Dòng tiền hoạt động chia tổng tài sản
𝑆𝐼𝑍𝐸 : Quy mô doanh nghiệp
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu
Né tránh thuế là sự tận dụng hợp pháp các quy định của chế độ thuế hiện hành để giảm lượng tiền thuế hiện hữu phải nộp Hầu hết các doanh nghiệp tham gia vào việc né tránh thuế khi chi phí thuế thu nhập sẽ làm giảm lợi nhuận của họ, bằng cách giảm thu nhập chịu thuế (Noor và cộng sự, 2010) Việc các doanh nghiệp né tránh lượng thuế thu nhập phải nộp, cũng đồng nghĩa với thu nhập thuế của Chính phủ sẽ giảm xuống; Tuy nhiên, lượng thu nhập này không mất đi, mà chỉ bị chiếm dụng tạm thời bởi các doanh nghiệp
Cũng có nhiều quan điểm cho rằng, vì né tránh thuế là một hình thức chiếm dụng vốn, nên những doanh nghiệp có mức độ né tránh thuế càng cao thì sẽ càng ít cần nguồn tài trợ từ bên ngoài, vì vậy sẽ giảm vay nợ và giảm hệ số đòn bẩy Một trong những đặc trưng của né tránh thuế là nợ (đặc trưng thay thế) (Graham và Tucker, 2006) Nói cách khác, tiết kiệm thuế dựa trên né tránh thuế có thể được sử dụng khi lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp, mà không cần đi vay mượn, giúp doanh nghiệp hạn chế sử dụng nợ vay Vì vậy, có thể giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sử dụng vốn trung bình (Molina, 2005) Nếu né tránh thuế có thể thay thế cho việc sử dụng nợ, nó sẽ làm tăng mức độ linh hoạt tài chính, giảm chi phí phá sản kỳ vọng, qua đó làm tăng chất lượng tín dụng, rủi ro phá sản thấp hơn và vì vậy giảm chi phí sử dụng nợ (Lim, 2011)
Bên cạnh đó, né tránh thuế có thể làm tăng mức độ bất cân xứng thông tin trong doanh nghiệp, thì các vấn đề về đại diện giữa người quản lý và đại diện có thể giảm xuống khi tỷ lệ sở hữu của các tổ chức đầu tư tăng lên (Chung và cộng sự, 2002) Mặc dù né tránh thuế được xem là sự chiếm dụng vốn hợp pháp của các doanh nghiệp, qua đó giúp các doanh nghiệp giảm vay mượn nợ và chi phí sử dụng nợ Tuy nhiên, né tránh thuế cũng có thể là hành vi thuộc ý muốn chủ quan của người quản lý doanh nghiệp vì mục đích cá nhân, lúc này sẽ hàm chứa chi phí đại diện Và việc gia
Trang 13tăng tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức tại các doanh nghiệp có thể tăng chất lượng quản trị doanh nghiệp, qua đó kiềm hãm mức độ tương quan giữa hai yếu tố này
Qua đó, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức cũng sẽ tác động đến mối quan hệ giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ
Tóm lại, né tránh thuế có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí sử dụng nợ bằng cách tạm thời chiếm dụng nguồn vốn hợp pháp đáng lẽ phải nộp cho Ngân sách Nhà nước, bên cạnh đó cũng hàm chứa vấn đề chi phí đại diện vì cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp cổ phần thường tách bạch giữa người quản lý và chủ sở hữu, nên các hành vi tránh thuế có thể nhằm mục đích phục vụ riêng cho nhu cầu người quản
lý
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào kiểm định cụ thể mối quan hệ giữa né tránh thuế và chính sách nợ và sở hữu tổ chức của các doanh nghiệp tại Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu này xem xét tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức đến chính sách nợ của các doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE, qua đó đưa
ra các kết quả thực nghiệm về tác động của né tránh thuế và sở hữu của tổ chức đến chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của né tránh thuế
và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của các doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE, dựa trên dữ liệu phân tích trong giai đoạn 2008 – 2016 Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên hai khía cạnh chính của chính sách nợ, cụ thể như sau:
Tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp
Tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Đề xuất một số giải pháp giúp các doanh nghiệp tận dụng né tránh thuế và
sở hữu tổ chức để tác động chính sách nợ doanh nghiệp
Trang 141.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi sau: Né tránh thuế và sở hữu tổ chức
có tác động như thế nào đến chính sách nợ của các doanh nghiệp Việt Nam? Cụ thể được phân tích ở các khía cạnh sau:
Né tránh thuế và sở hữu tổ chức tác động thế nào đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp?
Né tránh thuế và sở hữu tổ chức tác động thế nào đến đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp?
Các doanh nghiệp có thể tận dụng né tránh thuế và sở hữu tổ chức như thế nào để tác động đến chính sách nợ, góp phần điều chỉnh chính sách nợ phù hợp mục tiêu đặt ra
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2008 – 2016 Để đảm bảo tính đồng nhất của đối tượng được nghiên cứu, một số loại hình doanh nghiệp sau sẽ được loại trừ:
Các doanh nghiệp có tính chất tài chính đặc biệt, khác biệt so với những công ty khác sẽ được loại bỏ, bao gồm: các doanh nghiệp về tài chính và bảo hiểm, ngân hàng, công ty bất động sản (Desai và Dharmapala, 2006) Việc loại bỏ các doanh nghiệp này sẽ góp phần nâng cao tính đồng nhất của mẫu nghiên cứu, vì các doanh nghiệp tài chính này thường hoạt động dựa trên nguồn vốn huy động, tỷ lệ sử dụng nợ cao, nên hệ số đòn bẩy tài chính sẽ lớn vượt trội so với những loại hình doanh nghiệp khác
Những công ty mà thông tin tài chính không được công bố trong giai đoạn nghiên cứu Hoạt động né tránh thuế là một hoạt động có xu hướng kéo dài qua nhiều năm, việc khiếm khuyết dữ liệu nghiên cứu có thể dẫn đến đánh giá không chính xác về hành vì né tránh thuế và tác động của né tránh thuế
và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của doanh nghiệp
Trang 15 Hơn thế nữa, các doanh nghiệp có chi phí thuế thu nhập âm, hoặc các công
ty thua lỗ khi kết thúc năm tài chính cũng được loại bỏ Bởi vì những doanh nghiệp lỗ thuế hiện hành, có thể dẫn đến khả năng kết chuyển lỗ thuế ngược
về trước (trong phạm vi 3 năm theo quy tắc thuế IRS) hoặc kết chuyển lỗ thuế tới những năm sắp tới (trong phạm vi 15 năm sau), vì vậy những công
ty này có thể làm giới hạn ước lượng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp (Manzon và Plesko, 2002)
Sau tất cả những trường hợp loại trừ trên, các doanh nghiệp còn lại sẽ là các doanh nghiệp được nghiên cứu chính thức
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phân tích tác động của hai yếu tố chính: né tránh thuề
và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của các doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE, ngoài ra, để tăng mức độ tin cậy của mô hình kiểm định, nghiên cứu còn đưa vào một số yếu tố phụ khác mà qua một số nghiên cứu của các tác giả khác, các yếu tố này cũng tác động đến chính sách nợ của doanh nghiệp Dữ liệu sử dụng
là dữ liệu bảng trong giai đoạn 2008 – 2016 Để nâng cao tính đồng nhất của dữ liệu nghiên cứu, luận văn chỉ thực hiện nghiên cứu trên mẫu các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE, sau khi loại trừ đi các doanh nghiệp có tính chất tài chính đặc thù như: ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty bất động sản, ; các công ty không được công bố thông tin liên tục trong giai đoạn nghiên cứu và các doanh nghiệp có chi phí thuế thu nhập âm, hoặc các công ty thua lỗ khi kết thúc năm tài chính
1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định bốn giả thuyết đặt ra:
Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ
Sở hữu tổ chức có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ
Trang 16 Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với hệ số đòn bẩy tài chính
Sở hữu tổ chức có mối quan hệ đồng biến với hệ số đòn bẩy tài chính
Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính của
207 doanh nghiệp, tương đương 1,863 quan sát được công khai niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE trong giai đoạn 2008 – 2016 Nguồn dữ liệu này được lấy
từ trang web Vietstock.vn
1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài
Đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa về cả hai mặt: khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, đề tài cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của các doanh nghiệp, vốn còn khá hạn chế ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam phần nào đánh giá được tác động của hành vi né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ, qua đó có thể cân bằng giữa các yếu tố này và hoạch định chính sách nợ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu còn nghiên cứu tác động của một số yếu tố mang tính chất đặc trưng của doanh nghiệp lên chính sách nợ để từ đó các doanh nghiệp có thể cải thiện hoặc phát huy các yếu tố này, để tương thích hơn với chích sách nợ theo mục tiêu đặt ra
1.8 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Mở đầu Chương này đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và ứng dụng của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về khái niệm né tránh thuế, lợi ích và chi phí của hành vi né tránh thuế, thuế suất hiệu lực truyền thống, chênh lệch thuế, các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu như: lý thuyết dòng tiền tự do và quản lý dòng
Trang 17tiền, tổng quan tình hình nghiên cứu và tông quan về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ
Chương 3: Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thức lựa chọn mẫu và đo lường các biến
Chương 4: Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm, qua đó chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết được xây dựng Đánh giá tác động của né tránh thuế, sở hữu tổ chức và một số nhân tố phụ trợ khác đến chính sách nợ doanh nghiệp
Chương 5: Kết luận và kiến nghị giải pháp, chương này nêu ra một số hạn chế trong đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 18CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nội dung chương này chủ yếu trình bày một số khái niệm chính về né tránh thuế, sở hữu tổ chức, chính sách nợ, một số lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu Ngoài
ra, chươing còn trình bày một số nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước, từ đó xây dựng các giả thuyết kiểm định
2.1 Một số khái niệm
a Khái niệm về né tránh thuế
Né tránh thuế được xác định trong nhiều nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn như: né tránh thuế là việc làm giảm thuế trên 1 đơn vị tiền tệ (bài nghiên cứu của tác giá là đồng đô la Mỹ) của lợi nhuận kế toán trước thuế (Hanlon và Heitzman, 2009)
Sự khác nhau giữa thu nhập chịu thuế và thu nhập kế toán bị tác động bởi nhiều yếu
tố khác nhau mà cơ bản nhất là 2 hệ thống Hanlon và heitzman đã chỉ ra rằng, về lý thuyết các tiêu chuẩn kế toán tài chính tuân theo một khuôn mẩu nhất định được quy định trong GAAP (Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung) mà có thể nắm bắt được các giao dịch tài chính để cung cấp những thông tin hữu ích cho những người ra quyết định như là các nhà đầu tư vốn hoặc các đồi tác ký kết hợp đồng Các quy định về thuế được viết bởi một chu trình mang tính chất chính trị nhiều hơn, các nhà làm luật
có thể ban hành luật thuế để gia tăng thu nhập của nhà nước vào thuế, khuyến khích hoặc hạn chế một số hoạt động và thử khuyến khích nền kinh tế Việc tính thu nhập chịu thuế là dồn tích lại nhưng thực tế là một sự lai tạp giữa kế toán dồn tích và kế toán dựa trên dòng tiền, không cho phép doanh nghiệp ước lượng được chi phí của việc chi trả tiền mặt tăng lên Hơn thế nữa các luật thuế tập trung vào mặt thu nhập thích hợp có thể đánh thuế trên doanh thu Ngược lại, đối với kế tóan tài chính việc thống nhất trình bài bản báo cáo tài chính bao gồm tất cả thu nhập (và lỗ) bất kể là
nó phát sinh từ đâu Hai phương pháp đo lường thu nhập này củng có liên hệ với nhau Một nguồn gốc tiềm tàng khác dẫn đến sự khác biệt giữa thu nhập kế toán và thu nhập chịu thuế ít nhất là nguồn gốc nghi ngờ là sự tranh cải về báo cáo cho mục đích thuế Ví dụ: khi người quản lý bóp méo thu nhập tăng lên, họ có thể có sự lựa
Trang 19chọn giữa báo cáo thu nhập chịu thuế với một khoản cao hơn và chi trả thuế cho khoản vượt trội hoặc báo cáo thu nhập chịu thuế với một khoản thấp hơn, khó kiểm soát và ghi chép sự khác biệt về thuế sổ sách trong báo cáo tài chính Một mặt, các phương pháp ít tốn kém nhất trong quản lý thu nhập sẽ được ghi lại một sự khác biệt giữa thuế sổ sách và không báo cáo thu nhập được quản lý trong thu nhập chịu thuế
để tiết kiệm thuế bằng tiền mặt, mặt khác, nếu chênh lệch thuế sổ sách cung cấp thông tin cho thị trường về việc quản lý thu nhập thì việc ghi chép chênh lệch thuế sổ sách
có thể giảm độ tin cậy báo cáo thu nhập
Hoặc, hành động né tránh thuế là việc chuyển một lượng giá trị từ chính phủ đến cổ đông (Desai và Dharmapala, 2009) Hoặc, né tránh thuế là hành vi tận dụng hợp pháp quy định của chế độ thuế hiện hành, để giảm lượng thuế đáng lý ra phải nộp Các nhà cầm quyền thường gặp nhiều khó khăn trong việc xác định cơ sở tính thuế, vì họ thường phải đối mặt với chi phí khi đánh thuế, họ cố gắng né tránh chi phí này bằng cách bỏ qua những cách thức tốn thời gian và khó khăn từ các quy định pháp luật khó hiểu để chuyển đến những người chịu thuế theo cách đơn giản hơn Thường họ không quan sát các hoạt động kinh tế theo cách thức nó vận hành,
họ chỉ làm việc trên những thông tin được ghi chép về hoạt động đó (ví dụ như báo cáo thuế) Và vì vậy, mặc dù thuế được cho là được đánh trên các hoạt động kinh tế, nhưng thực tế được đánh dựa trên nền tảng các thông tin trong báo cáo cung cấp
Thêm vào đó, các thông tin trên báo cáo mà các nhà cầm quyền nhận được thường là từng phần, không trực tiếp, và mang tính chất quá khứ Các nhà cầm quyền thường đợi hết một chu kỳ tính thuế mới đòi hỏi xem báo cáo thuế (Pasternak và Rico, 2008)
Nhìn chung, né tránh thuế được hiểu theo cách truyền thống là các chính sách chuyển nguồn tài chính từ chính phủ sang các cổ đông, và vì thế là tăng giá trị sau thuế của công ty Tuy nhiên, không phải lúc nào né tránh thuế cũng làm tăng giá trị công ty sau thuế, nó có thể làm giảm giá trị công ty trong một số trường hợp cộng hưởng với các chi phí liên quan trực tiếp đến việc lên kế hoạch thuế của công ty, chẳng hạn như chi phí thích nghi, chi phí đại diện (Wang, 2010)
Trang 20Có nhiều nghiên cứu đặt ra câu hỏi rằng, tại sao một số doanh nghiệp lại tránh thuế nhiều hơn những doanh nghiệp khác? Các nhà nghiên cứu lý giải hành động này theo nhiều cách khác nhau; ví dụ như: dựa vào các đặc tính của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, quy mô, tuổi doanh nghiệp, Một số khác lại lý giải dựa trên cấu trúc sở hữu, đặc điểm tổ chức như lập luận của Graham và Tucker (2006) , Desai và Dharmapala (2005, 2006, 2009)
Trong nghiên cứu này, khác biệt giá trị sổ sách của thuế (BTD) dẽ được sử dụng để đo lường hành vi né tránh thuế Khác biệt giá trị sổ sách của thuế là sự khác biệt giữa thu nhập được công bố ra thị trường vốn và thu nhập báo cáo cho cơ quan thuế
Việc gia tăng né tránh thuế dẫn đến hai quan điểm về hậu quả của hành động này: Thứ nhất, né tránh thuế được hiểu như việc gia tăng các ưu đãi khác về thuế; thứ hai, việc này liên quan đến chi phí đại diện, nó như một một công cụ che đậy cho các nhà quản trị “cơ hội” và chênh lệch với lợi nhuận thực Theo quan điểm đầu tiên, né tránh thuế là hoạt động tận dụng các ưu đãi về thuế, chẳng hạn như sử dụng nợ theo Graham và Tucker (2006) Quan điểm này cho rằng, né tránh thuế có thể thay thế cho sử dụng nợ, vì vậy nên có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ, và mối quan hệ này có thể càng mạnh hơn khi tỷ lệ sở hữu tổ chức cao theo kết quả nghiên cứu của Lim (2011) Quan điểm thứ hai nhấn mạnh sự tương quan giữa né tránh thuế và chi phí đại diện, né tránh thuế có thể là một tấm chắn che đậy các hành động làm chênh lệch lợi nhuận thực của các nhà quản lý
Nhìn chung, né tránh thuế là việc doanh nghiệp tận dụng các quy định hợp pháp của pháp luật để giảm thiểu tối đa lượng thuế phải nộp, khác biệt với việc trốn thuế là cung cấp thông tin sai lệch để hạn chế lượng thuế phải nộp cho Chính phủ
b Né tránh thuế và trốn thuế
Sự khác nhau trong hành vi né tránh thuế và trốn thuế được Agnar Sandmo (2004) trình bày trong nghiên cứu của mình như sau: khác biệt về né tránh thuế và trốn thuế dựa trên tính hợp pháp trong hành vi người đóng thuế Trốn thuế là hành vi chống lại pháp luật: khi người đóng thuế cố không báo cáo thu nhập có nguồn gốc
Trang 21phải chịu thuế, họ xúc tiến các hoạt động phi pháp làm cho họ phải chịu sự quản lý của pháp luật Khi tránh thuế theo hình thức này, họ lo ngại về khả năng các hành động của mình có thế bị phát hiện Né tránh thuế, ngược lại, là hoạt động nằm trong khuôn khổ quy định của luật thuế Đó là sự tận dụng các quy định của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp, bằng cách chuyển hóa thu nhập lao động thành thu nhập vốn, để chịu mức thuế thấp hơn Khi thực hiện né tránh thuế, người chịu thuế không phải lo lắng về khả năng bị phát hiện
Nếu né tránh thuế là hợp pháp, thì đâu là sự khác biệt giữa né tránh thuế
và phản ứng ngược làm thuế tăng bởi hiệu ứng giá lên cung và cầu? Giả sử du lịch hàng không bị đánh thuế cao, làm hành khách chuyển sang du lịch bằng xe lửa, hoặc gia tăng biên độ thuế thu nhập lao động làm người lao động chuyển nhiều thời giờ làm việc sang nghỉ ngơi Như vậy có phải là hành vi né tránh thuế hay không? Định nghĩa đơn giản của né tránh thuế là tập trung vào ý đồ của nhà làm luật để giảm phần thuế phải chịu Với định nghĩa này, thì hiệu ứng giá không được phân loại vào né tránh thuế
Từ các khái niệm về né tránh thuế, có thể thấy né tránh thuế khác biệt với hành vi trốn thuế Né tránh thuế là một hoạt động hợp pháp nhằm tận dụng các quy định của pháp luật để tối thiểu hóa lượng thuế phải nộp, không phải là hành vi chiếm đoạt ngân sách Nhà nước vi phạm pháp luật
c Chính sách nợ
Hay còn gọi là chính sách tài trợ, là quyết định các hình thức tăng vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp được trình bày trong “Giáo trình tài chính doanh nghiệp căn bản” của Nguyễn Minh Kiều (2012) như sau:
Nguồn vốn cổ phần thường
Nguồn vốn cổ phần ưu đãi
Nguồn vốn vay
Trang 22Đòn bẩy tài chính được định nghĩa trong giáo trình này như là mức độ theo
đó các chứng khoán có thu nhập cố định (nợ và cổ phiều ưu đãi) được sử dụng trong
cơ cấu nguồn vốn của công ty Từ đó có thể nhận thấy, hệ số đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp sẽ thể hiện mức độ sử dụng nợ và vốn cổ phần để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó phản ánh được doanh nghiệp đang sử dụng chính sách tài trợ chủ yếu bằng nợ hay vốn cổ phần
Việc lựa chọn nguồn vốn tài trợ nào, trước tiên cần xem xét đến những thuận lợi và bất lợi của việc huy động nguồn vốn đó, kế đền là ngân lưu kỳ vọng của công ty dùng để trang trải chi phí huy động vốn, và cuối cùng, nhưng cực kỳ quan trọng là chi phí sử dụng nguồn vốn đó
d Chi phí sử dụng nợ
Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), công ty có thể huy động nợ dưới hình
thức vay của các tổ chức tài chính trung gian hoặc phát hành trái phiếu Nếu vay của
tổ chức tài chính trung gian thì chi phí sử dụng nợ chính là lãi suất vay Nếu phát hành trái phiếu thì chi phí sử dụng nợ chính là lợi suất đáo hạn công ty phải trả cho nhà đầu tư Đo lường chi phí sử dụng nợ có thể cung cấp cho các nhà đầu tư về rủi
ro của doanh nghiệp đó so với các doanh nghiệp khác, vì các doanh nghiệp có rủi ro cao hơn phải chịu chi phí sử dụng nợ cao hơn
Chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau: đặc tính doanh nghiệp, chi phí đại diện, rủi ro phá sản, bất cân xứng thông tin, lãi suất cho vay, đòn bẩy và dòng tiền hoạt động (Petersen và Rajan, 1994), quy
mô doanh nghiệp (Carey và cộng sự, 1993) Như đã nêu ở phần trên, nếu né tránh thuế được xem như lựa chọn thay thế cho sử dụng nợ, nó có thể giúp doanh nghiệp nới lỏng tài chính, nâng cao chất lượng tín dụng, giảm rủi ro phá sản, giảm chi phí sử dụng nợ (Lim, 2011) Mặt khác, một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng, một
số công ty sử dụng ít nợ hơn khi khi họ thực hiện lá chắn thuế hoặc né tránh thuế (Graham và Tucker, 2006)
Trang 23e Chi phí sử dụng nợ, sở hữu của tổ chức và né tránh thuế
Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong doanh nghiệp là nguyên nhân dẫn đến sự bất cân xứng thông tin và chi phí đại diện
Bài nghiên cứu xem xét tác dụng của sở hữu tổ chức lên mối quan hệ giữa chi phí sử dụng nợ và né tránh thuế Vì các nhà đầu tư tổ chức thưởng có vốn góp lớn, tác động lớn đến việc quản trị các doanh nghiệp Khi tỷ lệ sở hữu tổ chức lớn, sẽ hạn chế việc gia tăng lợi nhuận bằng các phương pháp kế toán (Chung, 2002), có nghĩa rằng chi phí đại diện cũng giảm theo Việc này sẽ giúp cho các hành vi né tránh thuế vì mục tiêu cá nhân của các nhà quản trị bị hạn chế, mối tương quan giữa hai yếu tố này cũng bị kiềm hãm, tác động kiềm của các cổ đông sở tổ chức được khẳng định trong nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Malaysia (Utkir Kholbadalov, 2012)
Tuy nhiên, đối với nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Hàn Quốc (Lim, 2011), thì lại cho thấy kết quả ngược lại, mức độ tương quan âm giữa né tránh thuế
và chi phí sử dụng nợ gia tăng mạnh khi tỷ lệ sở hữu của các cổ đông tổ chức tăng Điều này cho thấy rằng các tranh cãi về chủ nghĩa cơ hội của người quản lý là một sự giải thích cho né tránh thuế
Né tránh thuế có thể làm giảm sự minh bạch của các công ty, và cho phép người quản lý có cơ hội trích lấy công trái của các nhà đầu tư bên ngoài, tạo ra một tấm chắn cho chủ nghĩa cơ hội Tuy nhiên, tại những công ty được quản lý tốt, chất lượng quản lý công ty được đo lường bằng mức độ sở hữu của các tổ chức, dẫn đến những tác động thuận lợi của né tránh thuế lên giá trị doanh nghiệp (Desai và Dharmapala, 2009)
Có thể nhận thấy, ở cấp độ nhận thức sơ bộ, tác động của quyền sở hữu của các cổ đông tổ chức tăng hay giảm, tùy thuộc vào mục đích và nhìn nhận của họ về việc né tránh thuế
Bài nghiên cứu này sẽ tìm hiểu tác động quyền sở hữu của các cổ đông tổ chức lên mối quan hệ của né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ tại thị trường Việt Nam
Trang 242.2 Một số lý thuyết
2.2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (mô hình MM)
Lý thuyết về cơ cấu vốn của công ty được MM đưa ra từ năm 1958 được tóm lược thành hai trường hợp không thuế và có thuế như sau:
Trong trường hợp không thuế
Mệnh đề I – Giá trị công ty: trong điều kiện có thuế, giá trị công ty có vay
nợ bằng giá trị công ty không vay nợ Nói cách khác, trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau, cơ cấu nợ/vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng giá trị công ty
Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn: Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có
quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ Các kết quả thực nghiệm cho thấy, trong điều kiện không có thuế, chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi bất chấp cơ cấu vốn thay đổi thế nào
𝑟𝐸 = 𝑟𝑈 + (𝑟𝑈 − 𝑟𝐷 )𝐷
𝐸Trong đó:
𝑟𝐸: lợi nhuận yếu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần
𝑟𝐷: lãi suất vay hay chi phí sử dụng nợ
𝑟𝑈: chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần
𝐷: giá trị nợ vay hay trái phiếu công ty phát hành
𝐸: giá trị vốn cổ phần của công ty
Chi phí sử dụng vốn trung bình rWACC được xác định bởi công thức:
𝑟𝑊𝐴𝐶𝐶 = 𝐷
𝐷 + 𝐸𝑟𝐷 +
𝐸
𝐷 + 𝐸𝑟𝐸
Trong trường hợp có thuế
Mệnh đề I – Giá trị công ty trong trường hợp có thuế: Mệnh đề này xem
xét giá trị công ty thay đổi như thế nào khi hệ số đòn bẩy thay đổi Mệnh đề này kết luận rằng: trong trường hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá lá chắn thuế
Trang 25Mệnh đề II – Chi phí sử dụng vốn trong trường hợp có thuế:
𝑟𝐸 = 𝑟𝑈 + (𝑟𝑈 − 𝑟𝐷 )(1 − 𝑇𝐶)𝐷
𝐸Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần cũng gia tăng khi gia tăng sử dụng đòn bẩy tài chính Lợi ích từ tấm chắn thuế giúp chi phí sử dụng vốn trung bình WACC giảm nhưng tỷ suất sinh lợi yêu cầu trên vốn cổ phần tăng, do việc gia tăng sử dụng đòn bẩy tài chính làm tăng rủi ro vốn cổ phần
Lý thuyết này được đưa vào trong nghiên cứu, góp phần giải thích vì sao các doanh nghiệp không sử dụng nợ tối đa để đạt được lợi ích từ tấm chắn thuế Vì rủi ro từ việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá cao sẽ làm tăng rủi ro vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn cũng tăng theo Lúc này, các nhà quản trị công ty có thể xem xét đến các nguồn tài trợ khác ngoài nợ, và né tránh thuế có thể xem như là hành vi mang lại một trong các nguồn tài trợ cho công ty
2.2.2 Lý thuyết về chí phí đại diện
Theo Jensen – Meckling, nhà quản lý trốn tránh nhiệm vụ, nhà quản lý không thể hiện năng lực lãnh đạo cũng được xem là một loại chi phí Jensen – Meckling định nghĩa chi phí đại diện như là sự tổng hợp các chi phí của một hợp đồng có tổ chức Hợp đồng này gồm, một người (người chủ) thuê một người khác (người đại diện) làm nhiệm vụ thay thế cho người mình (người chủ) Người chủ đưa
ra quyết định - ủy quyền cho người đại diện Ngoài ra, trong quá trình giám sát các vấn đề về chi phí đại diện, sẽ phát sinh thêm phí quản lý giám sát
Bắt nguồn từ sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty Các công ty thường thuê nhà quản lý chuyên nghiệp để điều hành hoạt động công ty theo ý muốn của chủ sở hữu
Điều này dẫn đến nhà quản lý thường biết nhiều thông tin về giá trị thực tài sản, tiềm năng và rủi ro của công ty hơn là các cổ đông, và đây là nguyên nhân phát sinh tình trạng bất cân xứng thông tin
Ngoài ra, việc phân quyền cho nhà quản lý trong các doanh nghiệp còn có thể dẫn đến những tổn thất: Nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động doanh
Trang 26nghiệp nên họ có thể thực hiện những hành vi nhằm tối đa hóa lợi ích cho cá nhân mình Mặt khác, do tình trạng thông tin bất cân xứng mà nhà quản lý có cơ hội thực hiện các quyết định làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư
Né tránh thuế có thể là nguyên nhân phát sinh vấn đề về đại diện giữa người quản lý và chủ nợ, vì việc người quản lý làm chênh lệch tiền lợi thực gây ra bất cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức Tuy nhiên, các nhà đầu tư tổ chức sẽ có năng lực quản lý mang tính chủ chốt Vì vậy, mức độ sở hữu của cổ đông tổ chức càng cao thì các hoạt động quản lý càng được xem xét kỹ lưỡng, đồng thời giảm mâu thuẫn quyền lợi giữa người quản lý và chủ nợ
Trong nghiên cứu này, chi phí đại diện phát sinh từ sự bất cân xứng thông tin giải thích cho việc các nhà quản lý có thể thực hiện các hành vi né tránh thuế nhằm mục đích tư lợi cá nhân, điều này dẫn đến nguy cơ giảm mức độ tín nhiệm doanh nghiệp và chi phí sử dụng nợ cao hơn Cho nên đối với những doanh nghiệp có sở hữu của các cổ đông tổ chức, mức độ kiểm soát mạnh mẽ của các cổ đông tổ chức này có thể làm giảm chi phí đại diện trong các doanh nghiệp, các hoạt động quản trị của người quản lý được yêu cầu rõ ràng minh bạch hơn, góp phần hạn chế sự lạm quyền trong hành vi né tránh thuế
2.2.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Là một lý thuyết trong lĩnh vực kinh tế tài chính nói chung, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay
là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm
cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp
Trang 27Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì PV(tấm chắn thuế) = PV(`chi phí kiệt quệ tài chính)
Lý thuyết cấu trúc vốn được một số tác giá áp dụng vào nghiên cứu mối quan hệ giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ (Lim, 2011), nó củng cố cho mối quan hệ nghịch biến giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ Đến một mức độ tài trợ nợ nhất định, các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ không tiếp tục đẩy mạnh đòn bẩy tài chính để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế, vì nó sẽ gia tăng các chi phí kiệt quệ tài chính, trong trường hợp này né tránh thuế để tận dụng nguồn lợi nhuận phải nộp cho Nhà nước cũng được xem là một cách để giảm lượng nợ vay mượn
2.2.4 Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết trật tự phân hạng (Myers, 1984), cho rằng doanh nghiệp thích
sử dụng nguồn tài trợ nội bộ hơn Sau khi dùng hết lợi nhuận giữ lại doanh nghiệp mới dùng đến nguồn tài trợ bên ngoài Bắt đầu bằng các chứng khoán nợ an toàn (nợ vay), rồi đến chứng khoán lai tạp (trái phiếu có thể chuyển đổi) và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần
Thứ tự ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ của doanh nghiệp theo thuyết trật tự phân hạng như sau:
Lợi nhuận giữ lại
Vay nợ trực tiếp
Nợ có thể chuyển đổi
Cổ phần thường
Cổ phần ưu đãi không chuyển đổi
Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi
Trong nghiên cứu này, lý thuyết trật tự phân hạng giải thích vì sao các doanh nghiệp lại thích sử dụng nguồn vốn nội bộ hơn nợ vay, và có nhiều doanh nghiệp có các chỉ số hoạt động tốt nhưng lại sử dụng rất ít nợ Nếu né tránh thuế là
Trang 28hành vi mang lại một nguồn tài trợ khác ngoài nợ mà các doanh nghiệp có thể xem xét tận dụng, thì lý thuyết về trật tự phân hạng có thể giải thích vì sao các doanh nghiệp xem xét thực hiện hành vi này
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan
Desai và Dharmapala (2006) đưa mô hình lý thuyết về các quyết định của
nhà quản lý trong việc né tránh thuế Các nhà sở hữu tổ chức thường có tác động lớn hơn trong việc quản trị doanh nghiệp do vốn góp lớn, qua đó có thể giảm chi phí đại diện, giảm khả năng người quản lý thực hiện việc né tránh thuế theo ý muốn của bản thân và làm chênh lệch lợi nhuận thực
Kết quả từ nghiên cứu của Desai và Dharmapala (2006) đã đưa ra một cơ
sở quan trọng để xây dựng giả thuyết về sự tương quan nghịch biến của sở hữu tổ chức và hành vi né tránh thuế, đó là việc sở hữu tổ chức sẽ kiềm hãm hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp thông qua việc hạn chế các vấn đề về đại diện
Lim (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa né tránh thế và chi phí sử dụng
nợ, đồng thời tác động của hành vi các cổ đông tổ chức lên mối quan hệ này Được
tiến hành theo hai bước:
Thứ nhất, tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ; sau đó, thêm vào yếu tố đại diện thể hiện qua sở hữu của cổ đông
tổ chức để xem tác động của nó lên mối quan hệ này
Thứ hai, nghiên cứu làm rõ tác động của các cổ đông sẽ làm cho chi phí sử dụng nợ thấp hơn, hàm ý rằng các công ty có chất lượng quản trị tốt có thể làm giảm chi phí vốn từ rủi ro quản lý
DeAngelo và Masulis (1980) nhận định rằng, các doanh nghiệp lực chọn một mức nợ có quan hệ nghịch biến với tấm chắn thuế từ khấu hao Một số nghiên cứu khác cho rằng, khấu hao và tín dụng thuế đầu tư có thể thay thế cho nợ (Mackie-Mason, 1990) Graham và Tucker (2006) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm
về việc tấm chắn thuế có thể thay thế cho việc sử dụng nợ Họ sử dụng mẫu nghiên cứu là 44 doanh nghiệp có hành vi né tránh thuế trong giai đoạn 1975 – 2000, họ so
Trang 29sánh các doanh nghiệp này với những doanh nghiệp tương tự khác, và nhận thấy rằng, các đặc tính của doanh nghiệp, như là quy mô, khả năng sinh lời, đều có tương quan dương với việc sử dụng tấm chắn thuế
Trong nghiên cứu của mình năm 2010, lim cũng đưa ra các ví dụ khi nào việc tham gia vào né tránh thuế có liên quan đến việc xác lập cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Hàn Quốc, qua nghiên cứu thực nghiệm, cũng tìm thấy tác động thay thế của né tránh thuế cho sử dụng nợ tại hầu hết các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu
Chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp có thể bị tác động bởi các đặc tính của doanh nghiệp như rủi ro phá sản, chi phí đại diện và vấn đề về bất cân xứng thông tin theo Bhojraj và Sengupta (2003) Nếu né tránh thuế được tích lũy để thay thế cho
sử dụng nợ, nó có thể giúp gia tăng thặng dư tài chính, giảm chi phí phá sản kỳ vọng, nâng cao chất lượng tín dụng, giảm rủi ro phá sản, và vì vậy giảm chi phí sử dụng nợ
Desai và cộng sự (2007) phát triển một mô hình mà trong đó, né tránh thuế
và hành vi làm lệch lợi nhuận của nhà quản lý quá tương quan với nhau Tình bổ sung
có thể tồn tại giữa hai hành động này, bởi vì che đậy thu nhập khỏi các nhà chức trách thuế bằng các phương pháp phức tạp sẽ làm giảm khả năng quản lý của cổ đông
Lý thuyết về người đại diện cũng cho thấy rằng, các doanh nghiệp có hệ thống quản lý tốt có thể làm giảm tình trạng bất cân xứng thông tin và hành động làm chênh lệch lợi nhuận của người quản lý Ashbbaugh-Skaifea và cộng sự (2006) giải thích chi phí sử dụng nợ trên nền tảng lý thuyết chi phí đại diện, nghiên cứu cho thấy rằng, các trái chủ (hoặc các chủ nợ) thường phải đối mặt với hai dạng chi phí đại diện làm gia tăng khả năng phá sản Đầu tiên, xung đột về vấn đề đại diện xuất hiện giữa người quản lý và chủ nợ khi các hành vi cá nhân của người quản lý gây ra bất cân xứng thông tin và xuất hiện vấn đề rủi ro đạo đức Thứ hai, các cổ đông của các doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy được cung cấp các khả nang ra quyết định chuyển tài sản
từ các chủ nợ về phía họ
Các nghiên cứu của Chung và cộng sự (2002) đưa ra nhận định rằng, các nhà đầu tư tổ chức thường sở hữu một tỷ lệ lớn cổ phần của các doanh nghiệp, hạn
Trang 30chế tình trạng tùy ý thực hiện các phép toán dồn tích khi thực hiện báo cáo, và vấn đề dđại diện giữa người quản lý và cổ đông sẽ giảm theo
Các nghiên cứu của Bhojraj và Sengupta (2003) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ có mối tỷ lệ sở hữu của các cổ đông tổ chức trong doanh nghiệp càng lớn thì doanh nghiệp càng có khả năng hạ thấp chi phí nợ vay hoặc lãi suất phải trả cho trái chủ
Lim nghiên cứu thực nghiệm dựa trên số liệu thu thập được của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hàn Quốc trong giai đoạn 1994 – 2003, với tổng cộng 5530 quan sát Bằng cách sử dụng mô hình hồi quy với các doanh nghiệp Hàn Quốc, tác giá cho thấy có một mối quan hệ nghịch biến giữa chi phí sử dụng nợ với né tránh thuế, củng cố cho lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Ngược lại với các nghiên cứu của Utkir Kholbadalovn (2012) tại thị trường Malaysia
Tóm lược lại, kết quả nghiên cứu của Lim (2011) cho thấy tương quan nghịch biến giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ tăng mạnh khi tỷ lệ sở hữu của các cổ đông tổ chức tăng Theo đó, sở hữu tổ chức càng nhiều, hành vi né tránh thuế được thực hiện càng nhiều và chi phí sử dụng nợ càng giảm (và ngược lại), đây là kết quả củng cố cho lập luận sở hữu tổ chức tương quan nghịch biến với chi phí sử dụng
nợ trong doanh nghiệp
Utkir Kholbadalov (2012) nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa
né tránh thuế, chi phí sử dụng nợ và sở hữu tổ chức tại thị trường Malaysia, trên cơ
sở tập trung trả lời hai câu hỏi chính:
Khi nào hoạt động né tránh thuế của doanh nghiệp có liên quan đến chi phí sử dụng nợ?
Mức độ tác động của sở hữu tổ chức đến mối quan hệ của né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ như thế nào?
Cũng như một số tác giả khác, Utkir Kholbadalov cho rằng hoạt động né tránh thuế có thể chuyển một lượng giá trị tài sản từ Chính phủ sang các công ty, và hiển nhiên được xem là một nguồn tài trợ giúp các công ty hạn chế nghĩa vụ nợ Chi
Trang 31phí tiết kiệm được từ hoạt động né tránh thuế giúp các công ty tăng thặng dư tài chính theo Kim (2010)
Mức độ quản lý của công ty, chính xác hơn, là mức độ sở hữu của cổ đông
tổ chức được tìm thấy có một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định, các hoạt động né tránh thuế Quan điểm quản lý có thể mang tính chất chủ nghĩa cơ hội khi sử dụng các kỹ thuật bổ sung giữa né tránh thuế và làm chênh lệch thuế, do sự mập mờ trong mối quan hệ giữa các quyết định né tránh thuế và quản lý theo như Desai và Dharmapal (2006) Đặc biệt trong các công ty thuộc sở hữu gia đình thì vấn
đề về người đại diện phát sinh nhiều mâu thuẫn gay gắt hơn, cấu trúc sở hữu này có thể gây ra hậu quả là sự khác nhau trong hành vi thuế giữa các công ty thuộc sở hữu gia đình và các công ty không có tính chất sở hữu gia đình Các công ty thuộc sở hữu gia đình thường đóng thuế ít hơn như nhận định của Cheng (2010) Bởi vì yếu tố quan trọng của mâu thuẫn quản lý thuế là vấn đề kiểm soát của nội bộ công ty
Sở hữu tổ chức tương quan nghịch biến với né tránh thuế có thể được giải thích như sau Các chiến lược né tránh thuế được thiết lập bởi tình trạng bất cân xứng thông tin giữa cơ quan quản lý thuế và các doanh nghiệp, nhằm ngăn không cho các nhà chức trách phát hiện ra như kết quả nghiên cứu của Desai và Dharmapala (2009) Các cổ đông tổ chức với khả năng chi phối lớn của mình tới doanh nghiệp, sẽ hạn chế được việc người quản lý tùy ý thiết lập các báo cáo theo chủ ý của mình, theo đó hạn chế tình trạng bất cân xứng thông tin và hạn chế né tránh thuế
Nghiên cứu sử dụng mẫu là 862 doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán tại Malaysia trong giai đoạn 2005-2009
Kết quả cho thấy rằng sở hữu tổ chức lại không có tác động đến mối quan
hệ giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ, cho thấy rằng các cổ đông tổ chức tại Malaysia chưa có tầm kiềm soát và chi phối đủ mạnh để tác động đến vấn đề đại diện tại các công ty, khác hẳn với kết quả tại thị trường Hàn Quốc của Lim (2011)
Nghiên cứu của Utkir Kholbadalov (2012) cho thấy một kết quả khác về tác động của sở hữu tổ chức lên chi phí sử dụng nợ, đối với trường hợp thực nghiệm tại thị trường Malaysia cho thấy hai yếu tố này không có sự tương quan
Trang 32Christine và Walter Smith (2008), tìm hiểu tác động của né tránh thuế
lên cấu trúc vốn doanh nghiệp Sự liên hệ giữa né tránh thuế và cấu trúc vốn doanh nghiệp gần như rất khó để khảo sát, nhưng được nghiên cứu dựa trên lý thuyết nền là
lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Trong lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, một doanh nghiệp sẽ đặt ra một cấu trúc vốn mục tiêu bằng cách đánh đổi các lợi ích về thuế của gia tăng sử dụng nợ với việc giảm chi phí kiệt quệ tài chính Nếu nhà quản lý tập trung vào né tránh thuế, họ sẽ kỳ vọng có nắm bắt ngay cơ hội có được để giảm thuế phải nộp, bao gồm khấu trừ lãi suất từ nợ Trong lý thuyết này, thuế né tránh dự kiến được kỳ vọng để sử dụng nợ nhiều hơn, như là một phần của chiến lược giữ cho tiền thuế suất hiệu dụng thấp hơn
Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy những nhà quản lý né tránh thuế thường sử dụng đòn bẩy nhiều hơn trong cấu trúc vốn của họ (Dyreng, 2008) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho thấy rằng tại những doanh nghiệp bù đắp thuế không từ các khoản vay nợ, được dự báo sử dụng nợ ít hơn (Graham và Tucker, 2006)
Kết quả hồi quy cho thấy các doanh nghiệp tập trung vào chiến lược né tránh thuế, lấy giá trị chiết khấu lãi suất từ nợ sẽ sẵn sàng giữ hệ số đòn bẩy tài chính
ở mức cao hơn, đồng nghĩa với kết quả né tránh thuế tương quan dương với đòn bẩy tài chính, đây là một kết quả trái ngược với Desai và Dharmapala (2009)
2.4 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
Nghiên cứu tập trung tìm hiểu tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ đến chính sách nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE Kế thừa kết quả một
số nghiên cứu trước, nghiên cứu này xây dựng và kiểm định những giả thuyết sau:
Sự tương quan giữa né tránh thuế và chi phí sử dụng nợ
Theo Bhojraj và Sengupta (2003), chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp có thể bị tác động bởi các đặc tính của doanh nghiệp như rủi ro phá sản, chi phí đại diện
và vấn đề về bất cân xứng thông tin Vì vậy, các doanh nghiệp thường né tránh thuế
Trang 33để gia tăng thặng dư tài chính, nâng cao chất lượng tín dụng, qua đó giảm chi phí sử dụng nợ
Nghiên cứu của Graham và Tucker (2006) cũng cho ra kết quả tương tự, bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 44 doanh nghiệp có hành vi né tránh thuế trong giai đoạn 1975 – 2000, họ so sánh các doanh nghiệp này với những doanh nghiệp tương tự khác, và nhận thấy rằng, các đặc tính của doanh đều có tác động đến hành vi né tránh thuế, và các doanh nghiệp thường sử dụng né tránh thuế để thay thế việc sử dụng nợ và tiết giảm chi phí sử dụng nợ
Từ các kết quả nghiên cứu trên, xây dựng giả thuyết thứ nhất:
H1: Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ
Sự tương quan giữa sở hữu tổ chức và chi phí sử dụng nợ
Desai và cộng sự (2007) lại xây dựng mô hình thể hiện mối tương quan của hành vi né tránh thuế và hành vi làm lệch lợi nhuận của nhà quản lý Với mục đích che đậy hành vi né tránh thuế khỏi cơ quan thuế mà ngườ quản lý có thể thực hiện những hành động làm hạn chế khả năng kiểm soát của cổ đông
Ashbbaugh-Skaifea và cộng sự (2006) giải thích chi phí sử dụng nợ trên nền tảng lý thuyết chi phí đại diện Theo đó, chủ nợ (trái chủ) có thể gặp bất lợi từ vấn đề bất cân xứng thông tin gây ra từ hành vi của người quản lý hoặc các cổ đông
có thể tận dụng quyền hạn mà chuyển tài sản của chủ nợ về phía mình Ngoài ra, sở hữu tổ chức tương quan nghịch biến với né tránh thuế có thể được giải thích theo nghiên cứu của Desai và Dharmapala (2009) Các cổ đông tổ chức có thể dùng khả năng chi phối của mình để hạn chế việc tùy ý thực hiện hành vi né tránh thuế của người quản lý, cũng đồng thời hạn chế hiện tượng bất cân xứng thông tin
Đấy cũng là kết quả được thể hiện trong nghiên cứu của Chung và cộng sự (2002) Theo nghiên cứu của các tác giả này, có thể nhận thấy sở hữu tổ chức tác động lên chi phí sử dụng nợ gián tiếp, thông qua việc tác động lên chi phí đại diện; theo đó, nếu sở hữu tổ chức của công một ty càng cao thì chi phí đại diện càng được tiết giảm và chi phí sử dụng nợ cũng giảm theo
Trang 34Các nghiên cứu của Bhojraj và Sengupta (2003) lại đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tác động trực tiếp của sở hữu tổ chức lên chi hí sử dụng nợ tại một công
ty Các công ty có sở hữu tổ chức cao thường có chi phí sử dụng nợ thấp hơn do tín nhiệm cao hơn
Vì vậy, xây dựng giả thuyết thứ hai về mối tương quan giữa sở hữu tổ chức và chi phí sử dụng nợ như sau
H2: Sở hữu tổ chức có mối quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng nợ
Sự tương quan giữa né tránh thuế và hệ số đòn bẩy tài chính
Christine và Walter Smith (2008), tìm hiểu tác động của né tránh thuế lên cấu trúc vốn doanh nghiệp dựa trên lý thuyết nền là lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Doanh nghiệp có thể đánh đổi lợi ích có được từ tấm chắn thuế để hạn chế chi phí rủi
ro kiệt quệ tài chính
Kết quả từ nghiên cứu của Lim (2011) và Utkir Kholbadalov (2012) đều cho thấy rằng, né tránh thuế có tác động nghịch biến lên hệ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, vì né tránh thuế dđược xem là một trong những hoạt động tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho doanh nghiệp, góp phần hạn chế việc sử dụng đòn bẩy tài chính
Các nghiên cứu trước cho ra hai quan điểm trái ngược nhau về quan hệ giữa né tránh thuế và đòn bẩy tài chính Tuy nhiên, đa phần kết quả nghiêng theo xu hướng né tránh thuế có tương quan âm với đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp, xây dựng giả thuyết thứ ba như sau
H3: Né tránh thuế có mối quan hệ nghịch biến với hệ số đòn bẩy tài chính
Sự tương quan giữa sở hữu tổ chức và hệ số đòn bẩy tài chính
Nghiên cứu của Graham và tucker (2006) cho thấy né tránh thuế giúp doanh nghiệp gia tăng tính linh hoạt tài chính, giảm sử dụng nợ vay, nâng cao xếp
hạng tín dụng và qua đó giảm chi phí nợ vay
Desai và Dharmapala (2006) đưa mô hình lý thuyết về các quyết định của nhà quản lý trong việc né tránh thuế Các nhà sở hữu tổ chức thường có tác động lớn hơn trong việc quản trị doanh nghiệp do vốn góp lớn, qua đó có thể giảm chi phí đại
Trang 35diện, giảm khả năng người quản lý thực hiện việc né tránh thuế theo ý muốn của bản thân và làm chênh lệch lợi nhuận thực Như vậy, né tránh thuế bị hạn chế bởi các cổ đông tổ chức
Từ kết quả thể hiện trong hai nghiên cứu trên, có thể thấy một mối tương quan giữa sở hữu tổ chức và việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, sở hữu
tổ chức cũng tác động lên quyết định sử dụng đòn bẩy của doanh nghiệp gián tiếp, thông qua việc tác động lên né tránh thuế Nếu như các kết quả nghiên cứu đa số đều đưa ra lập luận rằng thực hiện né tránh thuế được xem như là một trong các cách nâng cao tích lũy tài chính cho doanh nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào sử dụng nợ; thì có thể suy luận được, sở hữu tổ chức càng cao làm cho né tránh thuế giảm từ đó hệ số đòn bẩy gia tăng Xây dựng giả thuyết thứ tư về tương quan giữa sở hữu tổ chức và
hệ số đòn bẩy tài chính như sau:
H4: Sở hữu tổ chức có mối quan hệ đồng biến với hệ số đòn bẩy tài chính
Tóm lại, chương này tập trung xây dựng cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu về việc đánh giá tác động của né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chính sách nợ của doanh nghiệp, dựa trên sự kế thừa kết quả các nghiên cứu trước kết hợp tính hình thực tiễn tại Việt Nam Những chương sau sẽ phân tích vấn đề này dựa trên hai mô hình nghiên cứu đã được xây dựng
Trang 36CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 sẽ tập trung trình bày các nội dung như: phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp xử lý dữ liệu, lựa chọn mẫu nghiên cứu, để chuẩn bị cho các phân tích thực nghiệm
3.1 Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên
cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Bước 2: Cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu, đưa ra giả thuyết nghiên
cứu và mô hình nghiên cứu
Bước 3: Thu thập dữ liệu và xử lý số liệu
Bước 4: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu
3.2 Phương pháp và mô hình nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng dự trên mẫu dữ liệu thứ cấp thu thập được từ Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE Sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy
dữ liệu bảng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Quy trình phân tích dữ liệu
Dựa trên thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan các biến để xem xét mối tương quan giữa các biến Mỗi biến được mô tả qua các nội dung: tên biến, giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, số quan sát Thông qua việc kháo sát này, có thể nhận định những cặp biến có hệ số tương quan cao
Sử dụng kiểm định VIF (Variance Inflation Factor) để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến
Bằng kiểm định Hausman, có thể đưa ra quyết định lựa chọn giữa mô hình tác động có định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM)
Trang 37 Cuối cùng, nghiên cứu tiến hành kiểm định các giả định hồi quy để đảm bảo
sự phù hợp của mô hình:
- Kiểm định White: phát hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và khắc phục (nếu có)
- Kiểm định Wooldridge: phát hiện tự tương quan giữa các phần dư
- Hồi quy FGLS để khắc phục phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong mô hình
Sau khi hoàn tất các bước kiểm định, nghiên cứu tiến hành phân tích và bình luận các kết quả thực nghiệm
3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Để kiểm định giả thuyết nghiên cứu H1và H2, ta dùng phương pháp hồi quy mô hình được đề xuất bởi Lim (2011) Qua phân tích đánh giá các tác động đến chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp, mô hình nghiên cứu như sau:
Mô hình thứ nhất: đánh giá tác động né tránh thuế và sở hữu tổ chức lên chi phí sử dụng nợ
𝐶𝑂𝐷𝑖,𝑡 = 𝛼1𝑖+ 𝛼2𝑖𝐵𝑇𝐷𝑖 ,𝑡 + 𝛼3𝑖𝑇𝐴𝑖,𝑡 + 𝛼4𝑖𝐴𝑔𝑒𝑖,𝑡+ 𝛼5𝑖𝐿𝑒𝑣𝑒𝑟𝑎𝑔𝑒𝑖,𝑡
+ 𝛼6𝑖𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡+ 𝛼7𝑖𝑆𝑖𝑧𝑒𝑖 ,𝑡 + 𝛼8𝐼𝑛𝑠𝑡𝑖,𝑡 + 𝑢𝑖 + 𝜇𝑡 + 𝜀𝑖𝑡Trong đó:
𝐶𝑂𝐷𝑖,𝑡 : Chi phí sử dụng nợ/ lãi suất phải trả khi sử dụng nợ của doanh nghiệp
𝐵𝑇𝐷𝑖,𝑡: Khác biệt thuế sổ sách
𝑇𝐴𝑖,𝑡 : Tổng tích lũy thu nhập
𝐴𝑔𝑒𝑖,𝑡: Tuổi doanh nghiệp
𝐿𝑒𝑣𝑒𝑟𝑎𝑔𝑒𝑖 ,𝑡: Hệ số đòn bẩy
𝐶𝐹𝑂𝑖 ,𝑡: Dòng tiền hoạt động chia tổng tài sản
𝑆𝑖𝑧𝑒𝑖 ,𝑡: Quy mô doanh nghiệp
𝐼𝑛𝑠𝑡𝑖,𝑡: Sở hữu tổ chức
𝑢𝑖: Cố định tác động doanh nghiệp
𝜇𝑡: Cố định tác động năm