1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu: Để xem xét liệu các nhân tố nào quan trọng quyết định giá trị của cổ đông của các ngân hàng TMCP đang hoạt động tại Việt Nam, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiê
Trang 1-TRẦN THỊ LIÊN
CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Các yếu tố quyết định giá trị cổ đông của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Tp Hồ Chí Minh, 2017
Trần Thị Liên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức khoa học của PGS-TS Võ Xuân Vinh trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô, giảng viên trong chương trình đào tạo thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức chuyên môn quý giá trong suốt quá trình học tập
Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn đến người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
TÓM TẮT
LỜI CẢM ƠN
CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu: 1
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu: 3
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu: 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu: 3
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 4
1.5 Nội dung nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa đề tài 6
CHƯƠNG 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY7 2.1 Cơ sở lý thuyết 7
2.1.1 Giá trị của cổ đông 7
2.1.1.1 Giá trị kinh tế tăng thêm EVA 10
2.1.1.2 Chi phí sử dụng vốn cổ phần 14
2.1.1.3 Thu nhập hoạt động thuần 16
2.1.2 Hiệu quả ngân hàng 16
2.1.3 Rủi ro trong ngân hàng 18
2.1.3.1 Rủi ro tín dụng 18
2.1.3.2 Rủi ro vốn 20
2.1.3.3 Rủi ro thanh khoản 21
Trang 62.1.3.4 Rủi ro thị trường 23
2.1.3.5 Rủi ro hoạt động 24
2.2 Tổng quan nghiên cứu trước đây 26
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 32
3.2 Phương pháp ước lượng 34
3.3 Mô hình nghiên cứu 35
CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
4.1 Thống kê mô tả và ma trận tương quan 46
4.2 Kết quả ước lượng nhân tố xác định giá trị của cổ đông ngân hàng 51
4.3 Kết quả ước lượng tính vững chắc nhân tố xác định giá trị của cổ đông ngân hàng 60
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Khuyến nghị 65
5.3 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên đầy đủ tiếng anh Tên đầy đủ tiếng việt
CAPM Capital asset pricing model Mô hình định giá tài sản vốn EPS Earning per share Lợi nhuận trên mỗi cổ phần EVA Economic Value Added Giá trị kinh tế tăng thêm GMM Generalized method of moments Phương pháp moment bậc cao
HNX HaNoi Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội
HOSE HoChiMinh Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh MVA Market Value Added Giá trị thị trường tăng thêm ROA Return on Assets Lợi nhuận trên tổng tài sản ROE Return on Equity Lợi nhuận trên vốn cổ phần SFA Stochastic Frontier Analysis Phân tích biên ngẫu nhiên WACC Weight Average Cost Of Capital Chi phí sử dụng vốn bình quân
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và giá trị của
cổ đông 30 Bảng 3.1 Danh sách các ngân hàng và giai đoạn nghiên cứu tương ứng 32 Bảng 3.2 Miêu tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu và kì vọng mối quan hệ với giá trị của cổ đông 44 Bảng 4.1.1 Thống kê mô tả các biến 46 Bảng 4.1.2 Ma trận tương quan các biến 49 Bảng 4.2.1 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của hiệu quả chi phí và hiệu quả doanh thu đến giá trị của cổ đông ngân hàng 52 Bảng 4.2.2 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của hiệu quả lợi nhuận đến giá trị của cổ đông ngân hàng 58 Bảng 4.3 Kết quả ước lượng tính vững chắc của hiệu quả giá trị cổ đông ngân hàng 62
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1.2 Phân tích các thành phần của giá trị kinh tế tăng thêm EVA 13
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Những biến động gần đây của hệ thống ngân hàng trên toàn cầu đã cho thấy, hiệu quả hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của việc phân bổ vốn, sự tăng trưởng của các doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế
Để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng cần phải có những thước đo tài chính và phi tài chính Những thước đo truyền thống như: lợi nhuận sau thuế, dòng tiền
từ hoạt động (OCF), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) được các nhà quản lý sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động trên nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó ROE là thước đo phổ biến nhất Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì ngoài mục tiêu lợi nhuận ngân hàng còn theo đuổi mục tiêu giá trị, vì vậy, sử dụng các thước đo truyền thống để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng đã bộc lộ một số hạn chế
Với bối cảnh cổ phần hóa và nhu cầu niêm yết lên sàn giao dịch chứng khoán của các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam như hiện nay, việc xem xét cách tạo ra giá trị của cổ đông của các ngân hàng cũng như cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng là vấn đề cần thiết (Zhao và Xu, 2013)
Từ lý do nghiên cứu trên, vấn đề nghiên cứu được đưa ra như sau:
1.2 Vấn đề nghiên cứu:
Thước đo lợi nhuận là phần chênh lệch dương giữa doanh thu và tổng chi phí trong một kỳ hoạt động Bản thân chỉ tiêu lợi nhuận không cho biết doanh nghiệp đã tiêu hao bao nhiêu nguồn lực để tạo ra một lượng lợi nhuận nào đó Mặt khác, lợi nhuận cũng không cho thấy doanh nghiệp đã đầu tư thêm bao nhiêu vốn vào tài sản trong kỳ, đồng thời cũng không phản ánh lượng tiền mặt ròng mà công ty thu về được sau một kỳ hoạt động Do đó, nếu lợi nhuận không tương xứng với mức rủi ro thì nhà
Trang 11đầu tư sẽ chuyển vốn đầu tư vào nơi an toàn hơn, điều đó làm gia tăng mức sinh lợi ở những nơi có rủi ro cao
Chỉ tiêu EPS không thể hiện được phí tổn tạo ra những thu nhập này Ví dụ chi phí sử dụng vốn (nợ vay, trái phiếu, cổ phiếu) là 15%, thì thu nhập 14% thật sự là một khoản mất đi, không phải là một khoản thu nhập theo giá trị kinh tế
ROA là hệ số đánh giá kết quả hoạt động kinh tế xác thực hơn, nhưng chỉ tiêu này cũng bỏ qua chi phí sử dụng vốn
Theo các nghiên cứu trước đây, ROE là phương pháp đo lường giá trị của các cổ đông phổ biến nhất.Hệ số ROE được xác định bằng Lãi ròng/Vốn chủ sở hữu Đây là thước đo về khả năng sinh lợi trên vốn đầu tư của các cổ đông và được coi là hệ số quan trọng nhất trong việc đánh giá về kết quả hoạt động của các nhà quản lý Để tạo
ra giá trị cho các cổ đông, hệ số này cần phải lớn hơn chi phí vốn chủ sở hữu của công
ty Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính gần đây (2007 – 2008) cho thấy rằng ROE không phải là đại diện tốt nhất cho hiệu quả cổ đông của các ngân hàng trong các cách đo lường hiệu quả (ECB, 2010)
Các hệ số đo lường trên chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động trong ngắn hạn, không tính đến rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt và trong bối cảnh doanh nghiệp đối mặt với các kiệt quệ tài chính, chỉ tiêu này sẽ trở nên yếu dần
Một trong các cách đo lường thay thế tốt hơn là EVA (Economic Value Added) Theo lý thuyết, chỉ tiêu này là cách đo lường phù hợp nhất đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng vì nó xem xét cả lợi nhuận kinh tế và rủi ro kinh tế (ECB, 2010) Do
đó, việc sử dụng cách đo lường EVA để đại diện giá trị của cổ đông ngân hàng bởi vì
nó là cách đo lường phổ biến và đáng tin cậy nhất hiện nay đối với giá trị của cổ đông (Worthington và West, 2001; Malmi và Ikaheimo, 2003; McLaren, 2005; Fiordelisi và Molyneux, 2010; Celik và Aslanertik, 2011; Reddy và các cộng sự, 2011; Wittrup và Jensen, 2012; Bistrova và Lace, 2012; Arif và các cộng sự, 2012)
Trang 12Hiện nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng, nhưng chỉ có một số ít các nghiên cứu đưa ra rằng việc tạo ra giá trị cổ đông cũng dùng để đánh giá hiệu suất ngân hàng Đồng thời, với sự tìm hiểu của tác giả thì tại Việt Nam số lượng đề tài nghiên cứu về giá trị của cổ đông của các ngân hàng TMCP dưới khía cạnh đo lường bởi EVA là khá hiếm hoi, do đó, tác giả
tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố quyết định giá trị cổ đông của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam” trong giai đoạn 2006 – 2015
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp chính là việc tạo ra các giá trị cho cổ đông Thế nhưng giá trị ấy được đo lường như thế nào và được quyết định bởi các yếu
tố nào lại là một câu hỏi được đặt ra? Mục tiêu của bài viết này là tìm hiểu các yếu tố nào sẽ quyết định đến việc tạo ra giá trị cổ đông
- Xác định mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tạo ra giá trị cổ đông của ngân hàng thương mại
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Để xem xét liệu các nhân tố nào quan trọng quyết định giá trị của cổ đông của các ngân hàng TMCP đang hoạt động tại Việt Nam, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Ngân hàng càng có sự cải thiện trong hiệu quả ngân hàng (bao gồm hiệu quả chi phí, hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả doanh thu) thì có thể cải thiện được giá trị của cổ đông của các ngân hàng hay không?
- Các loại rủi ro của ngân hàng (bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro vốn, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động) có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của
cổ đông của các ngân hàng hay không? Ảnh hưởng này liệu là cùng chiều hay trái chiều?
Trang 13- Các đặc điểm của ngân hàng (bao gồm quy mô ngân hàng, đa dạng hóa thu nhập, tốc độ tăng trưởng tiền gửi, tốc độ tăng trưởng cho vay) có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của cổ đông của các ngân hàng hay không? Ảnh hưởng này liệu là cùng chiều hay trái chiều?
- Sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của cổ đông của các ngân hàng hay không? Ảnh hưởng này liệu là cùng chiều hay trái chiều?
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Dữ liệu nghiên cứu của luận văn được thu thập từ các báo cáo tài chính hằng năm của các ngân hàng TMCP đang hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 –
2015 theo cơ sở dữ liệu của BankScope Thông tin mà tác giả sử dụng được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và thuyết minh báo cáo tài chính Trong đó, tác giả loại trừ các ngân hàng không có sẵn số liệu liên tục trong giai đoạn nghiên cứu, đồng thời loại trừ các ngân hàng hoạt động yếu kém dẫn đến các cuộc sáp nhập trong thời gian vừa qua Do đó mẫu nghiên cứu cuối cùng tác giả có được bao gồm 29 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó 04 ngân hàng 100% nước ngoài, và 25 ngân hàng trong nước
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là phương pháp định lượng với dữ liệu dạng bảng không cân bằng, đây là dạng dữ liệu kết hợp dữ liệu theo thời gian (time series) và dữ liệu chéo theo không gian (cross-section) Tuy nhiên, bởi
vì dữ liệu dạng bảng là dữ liệu kết hợp giữa dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu chéo, do
đó, đặc điểm của hai loại dữ liệu này cũng là đặc điểm của dữ liệu dạng bảng Vì vậy, khi ước lượng dữ liệu dạng bảng thường gặp phải vấn đề tự tương quan (đặc điểm của
dữ liệu thời gian) và phương sai thay đổi (đặc điểm của dữ liệu chéo), cho nên nếu sử dụng phương pháp ước lượng OLS đối với các mô hình nghiên cứu trong luận văn sẽ tạo ra kết quả chệch (biased)
Trang 14Hơn thế nữa, theo sự đề nghị của Fiordelisi và Molyneux (2010), Zhao và Xu (2013) và Radic (2015), tác giả sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước (two-step system GMM method) để hồi quy các phương trình trong luận văn Dựa vào các tài liệu trước đây, các tác giả đều cho rằng phương pháp ước lượng GMM
hệ thống hai bước khắc phục được hiện tượng tự tương quan, phương sai thay đổi và vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu, cũng như gia tăng tính hiệu quả đối với kết quả hồi quy Và đặc biệt, đối với việc ước lượng dữ liệu dạng bảng không cân bằng, phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước là sự lựa chọn tối ưu nhất
1.5 Nội dung nghiên cứu
Luận văn được phân bổ như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này bài nghiên cứu trình bày lý do chọn
đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và ý nghĩa đề tài để người đọc có cái nhìn tổng quan về luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây Ở chương này, tác
giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến giá trị của cổ đông và các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố có ảnh hưởng đến giá trị của cổ đông của ngân hàng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu, phương
pháp đo lường các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các kì vọng và phương pháp ước lượng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Kết hợp giữa các bằng chứng và kết quả ước lượng
rút ra thông qua mô hình, luận văn xác định được những yếu tố nào có ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của cổ đông của ngân hàng
Chương 5: Kết luận Trình bày tổng quát lại kết quả, từ đó đưa ra một số khuyến nghị
cho các nhà quản trị ngân hàng Đồng thời nêu lên các hạn chế của luận văn và đưa ra hướng phát triển cho đề tài trong tương lai
Trang 151.6 Ý nghĩa đề tài
Luận văn đóng góp về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Luận văn bổ sung các nghiên cứu về các yếu tố quyết định giá trị của cổ đông của ngân hàng TMCP dưới nhiều góc độ khác nhau, nhất là tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng các tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động truyền thống để đại diện cho giá trị của cổ đông
- Về mặt thực tiễn: Luận văn tìm ra bằng chứng thực nghiệm trong việc xác định các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến giá trị của cổ đông, từ đó giúp các nhà quản trị ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc kiểm soát giá trị của cổ đông theo như các mong muốn của nhà quản trị ngân hàng trong từng thời kỳ
Trang 16CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Giá trị của cổ đông
Theo Luật doanh nghiệp 2014, Cổ đông (shareholder): là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần
Theo Wenner và Leber (1990): Giá trị cổ đông (shareholder value) được quyết định bởi giá trị hiện tại ròng của các dòng tiền luân chuyển, được chiết khấu với chi phí vốn, nói cách khác, giá trị cổ đông là giá trị của doanh nghiệp sau khi đã khấu trừ các khoản nợ
Theo Pablo Fernández (2002): Giá trị cổ đông là sự so sánh giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách trên số lượng cổ phần Khi giá trị thị trường vượt trội giá trị sổ sách, giá trị cổ đông sẽ được tạo ra, khi giá trị sổ sách vượt trội giá trị thị trường, giá trị
cổ đông sẽ bị mất đi Giá trị thị trường chứng khoán của một công ty niêm yết chính là giá trị thị trường của công ty và được đo lường bởi nhân giá cổ phiếu với số lượng cổ phiếu Sự gia tăng của giá trị thị trường trong một năm tài chính là giá trị thị trường vào cuối năm trừ đi giá trị thị trường ở đầu năm Giá trị thị trường có đôi khi cũng được gọi là vốn hóa
Lý thuyết giá trị cổ đông bắt nguồn từ những năm 1950 và 1960, giá trị cổ đông được xem như là kết quả của một công trình được biết đến với cái tên là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), mô hình này lập luận rằng cả tỷ suất sinh lợi nhận được và kỳ vọng của nhà đầu tư có liên quan đến rủi ro phát sinh do việc nắm giữ các tài sản tài chính Có thể hiểu theo một cách thông thường, rủi ro càng cao thì tỷ suất sinh lợi phải càng cao Mô hình CAPM nhận được nhiều sự quan tâm của các cổ đông trên thế giới
Trang 17là nhờ vào yếu tố chiết khấu có trọng số rủi ro, yếu tố này cho phép đánh giá được giá
tỷ trọng hiện tại và sự phát triển, lợi nhuận và dòng tiền trong tương lai
Rappaport (1986) truyền bá khá niệm “giá trị cổ đông” bằng cách biên soạn sách có tên “Creation Shareholder Value” Rappaport (1986) giải thích chi tiết cách tạo
ra giá trị cổ đông khác với các đo lường truyền thống như lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận sau thuế trên đầu tư (ROI) và chứng minh rằng phương pháp đo lường giá trị cổ đông này vượt trội hơn so với các cách đo lường truyền thống như các nghiên cứu trước đây đề cập
Sau đó, phương pháp đo lường giá trị cổ đông này nhận được nhiều sự thẩm định với ấn phẩm định giá được công bố bởi Tom Copelan và các ấn phẩm khác từ Tập đoàn McKinsey Các tác giả đều cho rằng việc áp dụng giá trị cổ đông cho công ty là khả thi và mang đến nhiều lợi ích không chỉ cho các cổ đông mà còn cho các bên liên quan khác (Black và các cộng sự, 1998)
Dalborg (1999) nhấn mạnh rằng giá trị được tạo ra khi lợi nhuận của các cổ đông, cổ tức và giá chứng khoán gia tăng vượt trội phần tỷ suất sinh lợi đòi hỏi trên thị trường chứng khoán (chi phí vốn cổ phần) Tác giả cho rằng tổng lợi nhuận của cổ đông phải lớn hơn chi phí vốn cổ phần thì mới thật sự tạo ra giá trị Hogan và các cộng
sự (1999) khẳng định rằng trong môi trường cạnh tranh, giá trị cổ đông được tạo ra khi công ty đầu tư vào các dự án có thể kiếm được sinh lời vượt trội hơn phần chi phí vốn
Gần đây, giá trị cổ đông được sử dụng nhiều trong việc định giá ngân hàng chẳng hạn như Wittrup và Jensen (2012) khẳng định rằng việc sử dụng giá trị cổ đông dựa trên yếu tố quản trị ngân hàng trong công tác dự báo có thể giúp kiềm chế vấn đề khủng hoảng tài chính trong tương lai Theo Gross (2006), phương pháp đo lường giá trị của cổ đông không chỉ quan trọng trong chiến lược quản trị của ngân hàng, mà còn
Trang 18đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông của các ngân hàng, đây là vấn đề rất quan trọng để các ngân hàng có thể tồn tại Khi các ngân hàng tăng trưởng bởi sự tiếp cận với vốn chủ sở hữu, việc tối đa hóa giá trị của cổ đông sẽ giúp các ngân hàng có thể thu hút vốn đầu tư từ các vốn chủ sở hữu (Gross, 2006)
Tạo ra giá trị cổ đông không có nghĩa là tối đa hóa giá cổ phiếu; quản lý các khoản thu nhập hay làm bất cứ điều gì để tạo ra lợi nhuận Giá trị cổ đông được điều khiển bởi dòng tiền tự do dài hạn Giá trị cổ đông được tạo ra khi lợi nhuận dài hạn lớn hơn chi phí vốn và ngược lại Lợi nhuận cao không phải luôn luôn tạo ra giá trị
Bốn yếu tố tạo ra giá trị cổ đông:
+ Những giả định dựa trên các chiến lược của doanh nghiệp
+ Hiệu quả của danh mục sản phẩm của doanh nghiệp
+ Mức độ tăng trưởng tiềm năng của doanh nghiệp
+ Những ưu tiên và mục tiêu của doanh nghiệp
Theo Worthington và West, 2011, các tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động (chẳng hạn như thu nhập sau thuế, EPS, ROE và ROA …) được sử dụng bởi các cổ đông và các nhà đầu tư tiềm năng với mục đích đánh giá ngân hàng và do đó dự báo hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong tương lai
Fiordelisi và Molyneux (2010) khẳng định rằng các nghiên cứu phân tích giá trị của cổ đông thường tập trung vào việc phát triển và so sánh các cách đo lường mới của hiệu quả hoạt động của ngân hàng (nghiên cứu của O’Hanlon và Peasnell, 1998; Garvey và Milbourn, 2000; Fernandez, 2001), đánh giá các giá trị cổ đông dựa vào các đặc điểm khác của công ty chẳng hạn như các cách đo lường hiệu quả hoạt động, thông tin kế toán, (nghiên cứu của Barth và Beaver, 2001; Holthausen và Watts, 2011) và
mô hình hóa mối quan hệ giữa giá trị thị trường và giá trị kế toán (Ohlson, 1995;
Trang 19Felthman và Ohlson, 1995; Dechow và các cộng sự, 1999; Lo và Lys, 2000; Ahmed và các cộng sự, 2000; Liu và Ohlson, 2000; Biddle và các cộng sự, 2001; Ota, 2002)
Stewart (1991) đã xuất bản ấn phẩm mang tên “the Quest for Value” với việc đề xuất ý tưởng giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added), một khái niệm mới mang tính đột phát được phát triển bởi chuyên gia tư vấn Mỹ Stern Stewart để xác định
và theo dõi các nguồn tạo ra giá trị mà không thể được giải thích bởi các đo lường tài chính truyền thống cũng như kế toán truyền thống Mặc dù xuất hiện khái niệm mới, nhưng cơ bản EVA được biết đến với khái niệm quen thuộc mang tên thu nhập còn lại (Residual income) EVA đơn giản chỉ là thu nhập hoạt động sau thuế đã điều chỉnh trừ
đi một vài khoản phí Mặc dù khái niệm EVA đã xuất hiện trong lĩnh vực tài chính tương đối sớm vào năm 1989 (Finegan, 1989), nhưng vào thời điểm ấy nó vẫn chưa nhận được nhiều sự chú ý mãi đến khi bài viết được xuất hiện trên tạp chí Fortune vào ngày 20 tháng 9 năm 1993 (Tully, 1993)
Worthington và West (2001); Malmi và Ikaheimo (2003); McLaren (2005); Fiordelisi và Molyneux (2010); Celik và Aslanertik (2011); Reddy và các cộng sự (2011); Wittrup và Jensen (2012); Bistrova và Lace (2012); Arif và các cộng sự (2012) cũng cho rằng sử dụng chỉ số giá trị kinh tế tăng thêm EVA để đại diện giá trị của cổ đông ngân hàng bởi vì nó là cách đo lường phổ biến và đáng tin cậy nhất hiện nay đối với giá trị của cổ đông
2.1.1.1 Giá trị kinh tế tăng thêm EVA
Theo định nghĩa của Công ty Stern Stewart: “Giá trị kinh tế tăng thêm là thước
đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn”
Thuật ngữ EVA xuất hiện từ sớm năm 1989 (Finegan, 1989) Tuy nhiên, nó nhận được ít sự quan tâm cho đến tháng 9/2003 khi bài báo trong tạp chí Fortune
Trang 20(Tully, 1993) cung cấp một mô tả chi tiết khái niệm EVA, do Stern Stewart thực hiện,
và những áp dụng EVA thành công của các tập đoàn lớn ở Mỹ Ưu điểm nổi bật nhất của thước đo EVA là có tính tới chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, đây là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh này thay vì lĩnh vực kinh doanh khác, qua đó có thể xác định chính xác giá trị thực sự được tạo ra cho các nhà đầu tư,
cổ đông trong một thời kỳ nhất định
Giá trị kinh tế giá tăng EVA như một sự đổi mới trong những thước đo thành quả nội bộ và bên ngoài Stern Stewart, người đi đầu chủ trương mới này tranh luận rằng giá trị kinh tế gia tăng có thể được sử dụng thay thế thu nhập hoặc dòng tiền từ hoạt động, thu nhập trên mỗi cổ phần và tăng trưởng thu nhập đang làm sai lệch thước
đo thành quả doanh nghiệp Stewart (1991) khẳng định rằng EVA là cách đo lường hiệu quả hoạt động tài chính tốt hơn bất kỳ cách đo lường nào trong việc đo lường lợi nhuận kinh tế thực của một doanh nghiệp EVA cũng là cách đo lường liên quan trực tiếp nhất với việc tạo ra tài sản của cổ đông (shareholder wealth) theo thời gian (Stewart, 1991; Shil, 2009)
Thước đo EVA có giá trị khác biệt so với lãi ròng EVA là lợi nhuận thực của hoạt động kinh doanh có tính đến chi phí của tất cả các nguồn vốn, kể cả chi phí vốn chủ sở hữu Trong khi đó, lãi ròng mới chỉ tính đến chi phí sử dụng vốn của nợ vay Do đó, EVA là thước đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp tốt hơn so với lợi nhuận kế toán
Nói cách khác, EVA đã tính cả vào chi phí cơ hội khi mà nhà đầu tư bỏ vốn vào hoạt động kinh doanh Do vậy mà nó phản ánh chính xác hơn chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp mà các phương thức truyền thống hình như đã bỏ quên EVA đã được nhiều doanh nghiệp lớn như Coca- Cola, GE và AT&T sử dụng để đo lường giá trị mà doanh nghiệp thật sự tạo ra từ hoạt động của mình
Trang 21Theo nghiên cứu của Stern Stewart, thì EVA có thể là một nhân tố có khả năng ảnh hưởng cao đến sự thay đổi giá cổ phiếu của doanh nghiệp Nếu EVA đang khả quan nhưng kỳ vọng trong tương lai EVA có thể thấp hơn thì đó không hề là một tín hiệu tốt đối với nhà đầu tư Ngược lại, nếu một doanh nghiệp thậm chí đang có EVA
âm nhưng được kỳ vọng là EVA sẽ gia tăng lên một mức rất khả quan thì đó lại là một tín hiệu tốt thúc đẩy nhà đầu tư mua vào cổ phiếu của doanh nghiệp ấy
Các nghiên cứu gần đây cũng đã rất cố gắng để tìm mối quan hệ trực tiếp giữa EVA và biến động giá cổ phiếu Tuy nhiên cho đến nay, các nghiên cứu cũng chưa thống nhất với một kết luận nào Thế nhưng chi phí sử dụng vốn vẫn nên được nhà đầu
tư quan tâm thoả đáng, nhà đầu tư hãy cẩn thận hơn khi nhìn vào các chỉ số thu nhập ròng hay chỉ số EPS trên các bản báo cáo thu nhập
McLaren (2005) định nghĩa EVA như là phần thặng dư sau khi đã trừ đi chi phí đầu tư theo thời gian Tuy nhiên, Wittrup và Jensen (2012) khẳng định rằng EVA bằng với sự chênh lệch giữa lợi nhuận trên tài sản ròng và chi phí sử dụng vốn, nhân với vốn đầu tư Trong mối quan hệ với ngân hàng, Fiordelisi và Molyneux (2010) chỉ ra rằng EVA được tính toán bởi sự chênh lệch giữa thu nhập hoạt động thuần của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn trong cùng một thời kỳ Nếu giá trị EVA là dương, thì hàm ý rằng công ty đang tạo ra tài sản cho cổ đông, ngược lại giá trị EVA âm cho thấy tài sản của các cổ đông đang bị xói mòn (Stewart, 1991) Vì vậy, để có thể ảnh hưởng đến giá trị EVA của ngân hàng có thể thông qua việc điều chỉnh ba nhân tố xác định đến EVA như: thu nhập hoạt động thuần, chi phí cơ hội của vốn và vốn đầu tư Để gia tăng giá trị của cổ đông, các ngân hàng cần gia tăng thu nhập hoạt động thuần và/hoặc làm giảm chi phí cơ hội của vốn và/hoặc giảm vốn đầu tư của ngân hàng
Trang 22Hình 2.1.2 Phân tích các thành phần của giá trị kinh tế tăng thêm EVA
Nguồn: Witttrup và Jensen (2012)
Từ hình 2.1.2 có thể thấy rằng thu nhập hoạt động thuần phụ thuộc vào:
- Thu nhập lãi thuần
Thu nhập hoạt động thuần
Thu nhập
Thu nhập lãi thuầnThu nhập từ phí
Thu nhập từ đầu
tư chứng khoán
Chi phí hoạt độngChi phí sử dụng
vốnVốn đầu tư Đòn bẩy
Trang 232.1.1.2 Chi phí sử dụng vốn cổ phần
Theo Thuật ngữ kinh tế, chi phí sử dụng vốn cổ phần là chi phí sử dụng vốn được doanh nghiệp tính toán dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng Vốn của doanh nghiệp bao gồm: cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, trái phiếu và các khoản nợ dài hạn khác
Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) được phát triển bởi Sharpe và Litner đã trở thành mô hình nền tảng trong tài chính khi tính toán chi phí sử dụng vốn cổ phần của một công ty Dựa vào mô hình này, chi phí sử dụng vốn cổ phần của một công ty được xác định bởi rủi ro hệ thống của công ty Tuy nhiên, việc sử dụng mô hình CAPM này cũng nhận nhiều sự phản đối của các nhà nghiên cứu, chẳng hạn như Ball
và Brown (1968), Banz (1981), Basu (1983), Rosenberg và các cộng sự (1985), DeBondt và Thaler (1985), Jegadeesh và Titman (1993), Fama và French (1993) Trong khi đó, Ball và Brown (1968) tìm thấy rằng việc thông báo lợi nhuận trong quá khứ có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán, Banz (1981) kết luận rằng tỷ suất sinh lợi chứng khoán có tương quan với quy mô của công ty Hơn thế nữa, Rosenberg và các cộng sự (1985) cho rằng tỷ lệ giá trị sổ sách của vốn cổ phần trên giá trị thị trường của vốn cổ phần có tác động đáng kể đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán, trong khi đó DeBondt và Thaler (1985) và Jegadeesh và Titman (1993) tìm thấy rằng tỷ suất sinh lợi chứng khoán phụ thuộc vào tỷ suất sinh lợi trong quá khứ Bằng chứng thực nghiệm nổi bật nhất trái ngược với mô hình CAPM một nhân tố là phát hiện của Fama và French (1993) Fama và Frech (1993) khẳng định rằng việc đưa thêm hai nhân
tố đại diện rủi ro ngoài nhân tố thị trường chứng khoán được sử dụng trong mô hình CAPM là điều cần thiết để có thể miêu tả đầy đủ sự biến động của tỷ suất sinh lợi chứng khoán Fama và French (1993) đã cung cấp bằng chứng rằng quy mô công ty và
tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường là các nhân tố chính trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các công ty phi tài chính Ủng hộ các bằng chứng của
Trang 24Fama và French (1993), Harvey (1995) tìm thấy rằng những hạn chế của mô hình một nhân tố CAPM thể hiện rõ rệt ở thị trường mới nổi Trong số 20 quốc gia (bao gồm các quốc gia Châu Phi) mà tác giả xem xét, chỉ có 7 quốc gia có hệ số beta có ý nghĩa thống kê khác không Đồng thời, Jagannathan và Wang (1996) và Knez và Ready (1997) cũng thu được kết quả tương tự như Fama và French (1993) Hơn thế nữa, các nghiên cứu thực nghiệm về hành vi của tỷ suất sinh lợi của chứng khoán các ngân hàng cho thấy rằng việc đưa nhân tố lãi suất sẽ giải thích tốt hơn so với mô hình CAPM một nhân tố
Mặc dù có nhiều sự tranh cãi về việc sử dụng mô hình CAPM một nhân tố, khảo sát của Graham và Harvey (2001) cho thấy rằng có đến hơn 73,5% các giám đốc tài chính vẫn sử dụng mô hình CAPM cho việc hoạch định ngân sách vốn Hơn thế nữa,
Da và các cộng sự (2008) cho thấy rằng mặc dù phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm chống lại sự hiệu quả của mô hình CAPM một nhân tố, các công ty vẫn tiếp tục sử dụng mô hình vào việc hoạch định ngân sách vốn và cũng như việc đo lường chi phí sử dụng vốn cổ phần
Dựa vào sự đề nghị của Fiordelisi và Molyneux (2010), nếu chi phí sử dụng vốn được tính toán theo phương pháp thông thường (chẳng hạn như sử dụng cách tính chi phí sử dụng vốn bình quân có trọng số trên tổng tài sản), EVA có thể sẽ bị sai lệch (biased) do sự ảnh hưởng bởi chi phí sử dụng nợ Do đó, trong trường hợp các ngân hàng, việc tính toán chi phí sử dụng vốn thường được tập trung vào chi phí sử dụng vốn cổ phần Khi vai trò chính của các ngân hàng là trung gian tài chính, chi phí lãi vay được xem xét như là một chi phí hoạt động chứ không phải chi phí tài chính như các công ty Do đó, vốn đầu tư của các ngân hàng được đo lường bởi giá trị sổ sách của tổng vốn chủ sở hữu và chi phí sử dụng vốn được xem xét như là chi phí sử dụng vốn
cổ phần Đối với các ngân hàng niêm yết, chi phí sử dụng vốn cổ phần được ước lượng bằng cách sử dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và đối với các ngân hàng phi
Trang 25niêm yết, chi phí sử dụng vốn cổ phần được tính toán bằng cách lấy tích số của chi phí
sử dụng vốn cổ phần bình quân của các ngân hàng với tỷ lệ của tài sản của ngân hàng phi niêm yết so với tài sản bình quân của các ngân hàng niêm yết theo như đề nghị của Fiordelisi và Molyneux (2010), Zhao và Xu (2013)
2.1.1.3 Thu nhập hoạt động thuần
Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây (chẳng hạn như Fiordelisi và Molyneux, 2010; Zhao và Xu, 2013; Radic, 2015), thu nhập hoạt động thuần được tính toán bởi chênh lệch giữa thu nhập hoạt động và chi phí hoạt động Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
2.1.2 Hiệu quả ngân hàng
Theo Farrell (1957), hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó Theo đó, hiê ̣u quả chi phí (cost efficiency) hay hiê ̣u quả kinh tế (economic efficiency) bao gồm hiê ̣u quả kỹ thuâ ̣t (technical efficiency) và hiê ̣u quả phân bổ (allocative efficiency) Hiê ̣u quả kỹ thuâ ̣t thể hiê ̣n khả năng đơn vi ̣ có thể sản xuất tối đa bao nhiêu đầu ra với đầu vào cho trước Hiê ̣u quả phân bổ phản ánh khả năng đơn vi ̣ sản xuất sử
du ̣ng các đầu vào theo tỷ lê ̣ tối ưu khi đã biết giá cả của chúng
Theo định nghĩa trong cuốn "Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh - Việt" trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì "hiệu quả - efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu
ra hàng hóa và dịch vụ" và "khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào." Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức
độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào
đó
Trang 26Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hoá sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng cực tiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hoá doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu ra sao cho cực đại hoá lợi nhuận Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận)
Các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và giá trị của cổ đông tập trung chủ yếu vào việc sử dụng tỷ suất sinh lợi chứng khoán (Adenso – Diaz và Gascon, 1997; Chu và Lim, 1998, Eisenbeis và các cộng sự, 1999; Becalli và các cộng sự, 2006; Kirkwood và Nahm, 2006; Sufian và Majid, 2006; Erdem và Erdem, 2008; Majid và Sufian, 2008; Pasiouras và các cộng sự, 2008; Liadaki và Gaganis, 2010) và giá trị kinh tế tăng thêm EVA (Fiordelisi, 2007; Fiordelisi và Molyneux, 2010; Zhao và Xu, 2013; Fu và các cộng sự, 2014; Radic, 2015) làm đại diện cho giá trị của cổ đông
Với việc sử dụng 06 ngân hàng niêm yết tại Singapore trong giai đoạn 1992 –
1996, Chu và Lim (1998) xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và tỷ suất sinh lợi, kết quả của các tác giả cho thấy rằng sự thay đổi trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán
có tương quan cùng chiều với sự thay đổi trong hiệu quả lợi nhuận hơn là trong hiệu
Trang 27quả chi phí Kirkwood và Nahm (2006) giải thích ảnh hưởng của sự thay đổi trong hiệu quả lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngân hàng Úc từ năm 1995 –
2002, các bằng chứng của các tác giả cho thấy rằng sự thay đổi trong hiệu quả lợi nhuận có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nội địa Sufian và Majid (2006) phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngân hàng Malaysia từ
2002 – 2003 và tìm thấy rằng cả hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận đều có tương quan cùng chiều với tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngân hàng Hơn thế nữa, giá chứng khoán dường như phản ứng nhanh hơn đối với sự cải thiện hiệu quả lợi nhuận hơn là sự cải thiện hiệu quả chi phí Majjid và Sufian (2008) nghiên cứu liệu tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngân hàng Trung Quốc có bị ảnh hưởng bởi hiệu quả ngân hàng trong giai đoạn 1997 – 2006 hay không, và các phát hiện của các tác giả cho thấy rằng sự thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật là nhân tố quan trọng trong việc xác định
tỷ suất sinh lợi chứng khoán, trong khi đó hiệu quả quy mô không thể giải thích sự thay đổi trong tỷ suất sinh lợi chứng khoán
2.1.3 Rủi ro trong ngân hàng
2.1.3.1 Rủi ro tín dụng
Theo điều 2.1 quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức Tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức Tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Sauders và H Lange định nghĩa: Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn
Trang 28Theo đó, TCTD sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp Rủi ro tín dụng sẽ gây nên những thiệt hại đối với TCTD, làm mất mát nguồn vốn
và suy giảm khả năng chi trả và khả năng thanh toán các khoản nợ
Rủi ro quan trọng nhất mà ngân hàng đối mặt chính là rủi ro tín dụng Resti và Sironi (2007) xác định rủi ro tín dụng như là khả năng mà sự thay đổi bất ngờ trong việc thực thi các điều khoản hợp đồng của đối tác có thể tạo ra sự thay đổi bất ngờ trong giá trị thị trường của ngân hàng Tuy nhiên, BIS (1999) khẳng định rằng rủi ro tín dụng được xác định một cách đơn giản nhất là khả năng là người vay ngân hàng hoặc các đối tác sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ theo các điều khoản đã được ký kết ban đầu Việc phân tích rủi ro tín dụng là điều cần thiết bởi vì nó có thể cung cấp một sự cảnh báo khi ngành tài chính trở nên dễ bị tổn thương nếu có cú sốc xảy ra
Sự đa dạng loại hình của đối tác ngày càng gia tăng và sự đa dạng sản phẩm cho vay của các ngân hàng ngày càng gia tăng hàm ý rằng vấn đề quản trị rủi ro tín dụng đã
có bước nhảy vọt lên vị trí hàng đầu của hoạt động quản trị rủi ro của các công ty hoạt động trong ngành nghề dịch vụ tài chính (Fatemi và Fooladi, 2006) Khi ngân hàng cung cấp khoản vay cho khách hàng, ngân hàng cũng cần phải trích lập một khoản dự phòng rủi ro tín dụng Giá trị trích lập dự phòng càng lớn có tương quan với quy mô của các khoản cho vay của các ngân hàng, do đó ngân hàng đối mặt với nhiều rủi ro hơn Một sự gia tăng trong giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ ròng của ngân hàng cho thấy rằng ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong công tác thu hồi
nợ (Tsorhe và các cộng sự, 2010)
Berger và DeYoung (1997), Altunbas và các cộng sự (2000), Brissimis và các cộng sự (2008), Anthansoglou và các cộng sự (2008), Alper và Anbar (2011), Nawaz
và các cộng sự (2012) và Zhang và các cộng sự (2013) tìm thấy bằng chứng mối quan
hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Brissimis và các cộng sự (2008) kết luận rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng
Trang 29và các cách đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng (năng suất các nhân tố tổng hợp và tính hiệu quả) Trái ngược với các bằng chứng thực nghiệm trên, Fiordelisi và Molyneux (2010) lại tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Fiordelisi và Molyneux (2010) lập luận rằng do các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không được xem xét khi tính toán EVA và do
đó SVR (đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng) sẽ có mối quan hệ cùng chiều Các tác giả cũng lập luận rằng các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thường được sử dụng để làm trơn thu nhập do đó có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động
Bằng việc sử dụng dữ liệu các ngân hàng của Nigerian và đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng bởi ROA, Nawaz và các cộng sự (2012) đã tìm thấy mối quan
hệ ngược chiều đáng kể giữa hiệu quả hoạt động với cả hai đại diện cho rủi ro tín dụng
là tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay và dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi khách hàng Tương tự như vậy, Alper và Anbar (2011) tìm thấy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản
có tác động ngược chiều đến ROA ở các ngân hàng của Thỗ Nhĩ Kỳ
Dựa trên cơ sở lý thuyết, giả thuyết đặt ra về tác động của rủi ro tín dụng đến EVA đã được đưa ra Theo đó, trong mô hình hồi quy, hệ số tác động của biến rủi ro tín dụng mang kì vọng dấu dương
2.1.3.2 Rủi ro vốn
Vốn của ngân hàng được xem xét dưới góc độ nguồn vốn của các cổ đông, đóng vai trò quan trọng trong hầu hết mọi khía cạnh hoạt động của ngân hàng Vốn ngân hàng cần được phân bổ hợp lý đến các đơn vị kinh doanh của ngân hàng với mục đích tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng (Resti và Sironi, 2007) Ngân hàng có giá trị vốn hóa càng cao sẽ càng có thể ổn định khi đối mặt với các cú sốc tiêu cực Rủi ro vốn xảy
ra khi tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa việc huy động và sử dụng vốn
Trang 30Các bằng chứng thực nghiệm giải thích tác động của rủi ro vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng bao gồm Mester (1996), Altunbas và các cộng sự (2000), Altunbas và các cộng sự (2007), Brissimis và các cộng sự (2008), Fiordelisi và các cộng sự (2011), Zhang và các cộng sự (2013) Mester (1996), Altunbas và các cộng sự (2000), Brissimis và các cộng sự (2008) tìm thấy bằng chứng rủi ro vốn có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Ngược lại, Altunbas và các cộng sự (2007) lại tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro vốn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, trong khi đó, Fiordelisi và Molyneux (2010) lập luận rằng mức độ rủi ro vốn càng thấp sẽ làm gia tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Châu Âu Kết quả của Zhang và các cộng sự (2013) lại ủng hộ cả hai khía cạnh của mối quan hệ giữa rủi ro vốn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Khi sử dụng mô hình dựa trên thu nhập, các tác giả tìm thấy bằng chứng mối quan hệ ngược chiều, tuy nhiên, mối quan hệ cùng chiều được tìm thấy nếu mô hình dựa vào tài sản có sinh lợi của các ngân hàng Nhật Bản
Dựa trên cơ sở lý thuyết, giả thuyết đặt ra về tác động của rủi ro vốn đến EVA
đã được đưa ra Theo đó, trong mô hình hồi quy, hệ số tác động của biến rủi ro vốn mang kì vọng dấu âm
2.1.3.3 Rủi ro thanh khoản
Thanh khoản của ngân hàng là lượng vốn khả dụng mà ngân hàng có thể gia tăng trong tài sản của ngân hàng và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà ngân hàng phải thanh toán mà không gây thiệt hại cho ngân hàng (BIS, 2008) Do đó, rủi ro thanh khoản là xác suất mà tài sản của ngân hàng không thể chuyển thành tài sản thanh khoản (Nikolaou, 2009) Vì vậy, xác suất này càng cao thì rủi ro thanh khoản mà ngân hàng đối mặt sẽ càng cao Trong viễn cảnh này, tồn tại mối quan hệ nghịch đảo giữa tài sản thanh khoản và rủi ro thanh khoản mà ngân hàng đối mặt
Trang 31Tuy tầm quan trọng của rủi ro thanh khoản được biết đến khá rộng rãi, nhưng vẫn chưa có nhiều sự quan tâm đến vấn đề rủi ro thanh khoản khi phân tích ngân hàng trong thời gian qua (CEBS, 2008), nhưng gần đây, các nhà nghiên cứu, định chế tài chính đã có nhiều sự chú ý, quan tâm đáng kể đến vấn đề nghiên cứu này sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 (Arif và Aneez, 2012) Trong giai đoạn đầu khi cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra, các ngân hàng đã phải chịu tổn thất vốn của ngân hàng một cách đáng kể Theo kinh nghiệm của một số ngân hàng, nguyên nhân chính xuất phát từ các sai sót trong quá trình quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng (BCBS, 2013) Theo Jenkinson (2008) rủi ro thanh khoản không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cũng như danh tiếng của ngân hàng Các ngân hàng có thể đánh mất sự tin tưởng của các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng nếu ngân hàng không thể đáp ứng các nghĩa vụ khi khách hàng có nhu cầu Goodhart (2008) cho rằng rủi ro thanh khoản có hai khía cạnh cơ bản: sự chuyển đổi kỳ hạn (kỳ hạn của các tài sản có và tài sản nợ) và vấn đề thanh khoản của tài sản có của ngân hàng (mức độ tài sản của ngân hàng có thể bán mà không bị thiệt hại đáng kể về giá trị trong bất kỳ điều kiện thị trường) Trong thực tế, hai khía cạnh của tính thanh khoản của ngân hàng có thể kết hợp với nhau Các ngân hàng không cần quá quan tâm về vấn
đề chuyển đổi kỳ hạn nếu các ngân hàng có thể bán các tài sản mà không bị tổn thất về mặt giá trị Trong khi đó, các ngân hàng có các tài sản có các kỳ hạn ngắn thì sẽ ít có nhu cầu duy trì tài sản thanh khoản trong ngân hàng
Bằng cách tập trung vào các ngân hàng Châu Âu, Molyneux và Thornton (1992), Fiodelisi và Molyneux (2010), Cipollini và Fiordelisi (2012) tìm thấy bằng chứng mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Bằng cách giải thích mối quan hệ giữa lợi nhuận và tính tinh khoản của các ngân hàng ở Paskistan, Arif và Anees (2012) cũng tìm thấy rằng rủi ro thanh khoản có ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở mức ý nghĩa thống kê, với chênh lệch thanh khoản (liquidity gap) và tỷ lệ nợ xấu là hai nhân tố đại
Trang 32diện cho rủi ro thanh khoản của ngân hàng Hai biến số này có mối quan hệ ngược chiều với lợi nhuận Nhưng Bourke (1989), Brissimis và các cộng sự (2008), Alper và Anbar (2011) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Brissimiss và các cộng sự (2008) khẳng định rằng sự gia tăng trong tài sản thanh khoản dường như sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, do đó vốn ngân hàng có thể đóng vai trò là chiến lược quan trọng trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản và sự gia tăng trong rủi ro tín dụng
Dựa trên cơ sở lý thuyết, giả thuyết đặt ra về tác động của rủi ro thanh khoản đến EVA đã được đưa ra Theo đó, trong mô hình hồi quy, hệ số tác động của biến rủi
ro thanh khoản mang kì vọng dấu âm
2.1.3.4 Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại Điểm b Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT- NHNN Cụ thể như sau: Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường
Resti và Sironi (2007) cho rằng rủi ro thị trường là rủi ro mà giá trị thị trường của danh mục đầu tư sẽ bị ảnh hưởng bởi các sự thay đổi bất thường do yếu tố thị trường gây ra Những sự thay đổi bất thường này có thể là giá chứng khoán, lãi suất, tỷ giá và sự biến động của những biến số này Nó bao gồm các rủi ro về tiền tệ, trái phiếu, cũng như các tài sản tài chính khác và các nghĩa vụ nợ được giao dịch bởi ngân hàng Theo Resti và Sironi (2007), rủi ro thị trường có thể được chia thành năm loại chính sau:
- Rủi ro tiền tệ (tỷ giá)
- Rủi ro lãi suất (lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay, lãi suất huy động…)
- Rủi ro cổ phiếu (giá chứng khoán)
- Rủi ro hàng hóa (chỉ số giá)
Trang 33- Rủi ro biến động (bao gồm các biến động của các biến số trên)
Các nghiên cứu trước đây hầu như chỉ xem xét một vài nhân tố rủi ro như là đặc điểm của các ngân hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, nhưng Fiodelisi và Molyneux (2010) đã đưa thêm rủi ro thị trường vào mô hình nghiên cứu đối với các ngân hàng niêm yết lẫn phi niêm yết Kết quả của các tác giả cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ giá trị cổ đông và rủi ro thị trường Thông qua việc gộp rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá vào rủi ro thị trường (Resti và Sironi, 2007), một số nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng niêm yết bao gồm các nghiên cứu của Choi và các cộng sự (1992), Wetmore và Brick (1994), Atindehou và Gueyie (2001) và Sukcharoensin (2013) Bằng việc sử dụng mô hình GARCH, Sukcharoensin (2013) tìm thấy rằng các ngân hàng lớn ở Đài Loan nhạy cảm đối với rủi ro thị trường hơn so với các ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ Wetmore và Brick (1994) tìm thấy bằng chứng rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá có ảnh hưởng đến hiệu quả của các chứng khoán, trong khi đó, Atindehou và Gueyie (2001) quan sát thấy rằng sự thay đổi trong rủi ro tỷ giá có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngân hàng ở Canada
Dựa trên cơ sở lý thuyết, giả thuyết đặt ra về tác động của rủi ro thị trường đến EVA đã được đưa ra Theo đó, trong mô hình hồi quy, hệ số tác động của biến rủi ro thị trường mang kì vọng dấu âm
2.1.3.5 Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động ngày càng trở thành một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm trong ngân hàng Với tính tinh tế và phức tạp trong hoạt động của ngân hàng ngày càng gia tăng đã nâng cao nhận thức của các đối tượng liên quan trong vấn đề cần thiết phải quản trị rủi ro hoạt động một cách hiệu quả hơn (Moscadelli, 2004) Ủy ban Basel II xác định rủi ro hoạt động như là rủi ro mà ở đó sự tổn thất xuất phát từ quá trình hoạt
Trang 34động nội bộ, nhân viên và hệ thống không hoàn thiện của ngân hàng hoặc từ các sự kiện bên ngoài Cách xác định này bao gồm rủi ro pháp lý nhưng ngoại trừ rủi ro chiến lược (BCBS, 2006) Do đó, việc quản trị rủi ro hoạt động sẽ phản ánh được mức độ hiệu quả của Hội đồng quản trị của ngân hàng cũng như các lãnh đạo cấp cao của ngân hàng trong việc quản lý các danh mục sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của ngân hàng (BCBS, 2011)
Tương tự như rủi ro thị trường, các nghiên cứu trước đây hầu như chỉ xem xét một vài nhân tố rủi ro như là đặc điểm của các ngân hàng có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, nhưng Fiodelisi và Molyneux (2010) đã đưa thêm rủi ro hoạt động vào mô hình nghiên cứu đối với các ngân hàng niêm yết lẫn phi niêm yết Albertazzi và Gambacorta (2009) sử dụng dữ liệu của các ngân hàng thuộc 10 quốc gia trong giai đoạn 1981 – 2003 để nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro hoạt động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này Kết quả của các tác giả cho thấy rằng sự quản trị vấn đề hoạt động của ngân hàng một cách hiệu quả có thể góp phần làm gia tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Đồng thời các tác giả cũng đề xuất có thể dùng một đại diện để đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng là tỷ lệ chi phí trên thu nhập, theo
đó tỷ lệ chi phí trên thu nhập giảm đồng nghĩa với sự gia tăng khả năng sinh lợi Tương
tự với các bằng chứng của Albertazzi và Gambacorta (2009), García-Herrero và các cộng sự (2009) và Trujillo - Ponce (2013) cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng rủi
ro hoạt động có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng với mối quan hệ ngược chiều với nhau
Dựa trên cơ sở lý thuyết, giả thuyết đặt ra về tác động của rủi ro hoạt động đến EVA đã được đưa ra Theo đó, trong mô hình hồi quy, hệ số tác động của biến rủi ro hoạt động mang kì vọng dấu âm
Trang 352.2 Tổng quan nghiên cứu trước đây
Thông qua các phân tích các nghiên cứu trước đây về việc ủng hộ nên sử dụng EVA khi đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, nhìn chung có thể thấy rằng các nghiên cứu dường như đi đến kết luận rằng EVA là tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động tốt nhất cho giá trị của cổ đông Mặc dù sự quan tâm đến việc đo lường hiệu quả hoạt động bởi EVA ngày càng tăng lên bởi nhà nghiên cứu trên thế giới, nhưng dường như vẫn khan hiếm số lượng nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam Hiệu quả hoạt động thường được đo lường bởi ROE hoặc ROA (trích một số nghiên cứu tại Việt Nam)
Với việc sử dụng giá trị kinh tế tăng thêm làm đại diện cho giá trị cổ đông, Fiordelisi (2007) nghiên cứu dữ liệu của các ngân hàng ở các quốc gia Pháp, Đức, Ý và Anh trong giai đoạn 1997 – 2002 để phân tích giá trị của cổ đông bằng cách sử dụng ước lượng Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Method) để tính toán hiệu quả của giá trị của cổ đông cũng như hiệu quả chi phí và lợi nhuận Tác giả tìm thấy bằng chứng rằng hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận có ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của cổ đông của các ngân hàng Với cùng ý tưởng như Fiordelisi (2007), Fiordelisi
và Molyneux (2010) đã tiến hành thực hiện xem xét ảnh hưởng của hiệu quả ngân hàng bao gồm hiệu quả chi phí, hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả doanh thu đến giá trị của cổ đông ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu của các ngân hàng lớn ở Châu Âu trong giai đoạn 1998 – 2005 Các tác giả phát hiện rằng giá trị của cổ đông có mối quan hệ cùng chiều với sự thay đổi trong hiệu quả chi phí, trong khi đó lợi nhuận kinh tế có mối tương quan với sự thay đổi trong hiệu quả doanh thu của ngân hàng và sự thay đổi trong hiệu quả lợi nhuận có ảnh hưởng cùng chiều đến giá trị của cổ đông cũng như thu nhập hoạt động thuần của ngân hàng và ngược chiều với chi phí sử dụng vốn cổ phần của các ngân hàng Các phát hiện của các tác giả khác vững chắc qua các phương pháp kiểm tra tính vững chắc
Trang 36Hơn thế nữa, nghiên cứu gần đây của Xine và các cộng sự (2012) kết luận rằng nên thay thế các chỉ tiêu truyền thống bằng EVA trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Trung Quốc Tuy nhiên, Fernandez (2001) tìm thấy kết luận trái ngược, tác giả phân tích 582 công ty ở Mỹ bằng cách sử dụng MVA, EVA, NOPAT và WACC và cho thấy rằng trong 296 công ty trong mẫu nghiên cứu, mối tương quan giữa MVA và EVA là cùng chiều; ngược lại có 210 công ty phản ánh mối tương quan ngược chiều giữa MVA và EVA Tương tự như vậy, trái ngược với các nghiên cứu ủng hộ nên sử dụng EVA khi đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, Biddle và các cộng sự (1997) tìm thấy rằng các cách đo lường kế toán truyền thống nhìn chung giải thích tỷ suất sinh lợi chứng khoán tốt hơn so với cách đo lường bởi EVA Worthington và West (2001) cũng đi đến một kết luận tương tự vậy đối với trường hợp tại Úc
Cùng với ý tưởng với Fiordelisi và Molyneux (2010), Zhao và Xu (2013) đã thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu quả ngân hàng đến giá trị của cổ đông của các ngân hàng tại Trung Quốc trong giai đoạn 1994 – 2008 Bằng việc sử dụng hiệu quả chi phí, hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả doanh thu làm đại diện cho hiệu quả ngân hàng, các tác giả tìm thấy rằng hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả doanh thu có ảnh hưởng cùng chiều đến giá trị của cổ đông của các ngân hàng
Tương tự với các phát hiện của Fiordelisi và Molyneux (2010), Fu và các cộng
sự (2014) đã phân tích mối quan hệ giữa giá trị của cổ đông và hiệu quả của ngân hàng bằng cách sử dụng mẫu nghiên cứu các ngân hàng thương mại có quy mô lớn ở 14 quốc gia châu Á trong giai đoạn 2003 – 2010 Các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa hiệu quả của ngân hàng được đại diện bởi hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận và giá trị của cổ đông
Gần đây hơn, Radic (2015) cũng dựa vào ý tưởng và phương pháp tiếp cận của Fiordelisi và Molyneux (2010), Fu và các cộng sự (2014) để tiến hành xem xét mối
Trang 37quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và giá trị của cổ đông của các ngân hàng tại Nhật Bản
từ 1999 – 2011 Tác giả nhận thấy rằng hiệu quả chi phí có ảnh hưởng đáng kể và là nhân tố quan trọng trong việc xác định giá trị của cổ đông của ngân hàng
Liên quan đến các nghiên cứu tập trung vào việc phát triển và so sánh các cách
đo lường mới của hiệu quả hoạt động của ngân hàng, Stewart (1991) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên cho mối tương quan giữa giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added, EVA) và giá trị thị trường tăng thêm (Market Value Added, MVA) Lehn và Makhija (1997) đã giải thích EVA và MVA và phát hiện rằng cả EVA
và MVA đều có tương quan cùng chiều với tỷ suất sinh lợi chứng khoán của ngân hàng
và mối tương quan này tốt hơn một chút so với các cách đo lường hiệu quả hoạt động truyền thống như ROA, ROE và ROS
O’Hanlon và Peasnell (1998) chỉ ra rằng chỉ số EVA có thể giải thích sự thay đổi của giá chứng khoán tốt hơn so với các chỉ số truyền thống Tương tự như vậy, Uyemura và các cộng sự (1996) sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 100 ngân hàng lớn nhất của Mỹ trong giai đoạn 10 năm kể từ năm 1986 – 1995 để tính toán MVA và kiểm định mối tương quan giữa MVA với EVA, cũng như với bốn cách đo lường hiệu quả hoạt động truyền thống bao gồm thu nhập sau thuế, EPS, ROE và ROA Các tác giả kết luận rằng EVA là cách đo lường giá trị của cổ đông tốt hơn so với các cách đo lường truyền thống
Trong nghiên cứu của Fiordelisi và Molyneux (2010) nhằm mục đích xác định hiệu quả chi phí và năng suất các nhân tố tổng hợp (total factor productivity, TFP) của
143 ngân hàng niêm yết và phi niêm yết của Châu Âu trong giai đoạn 1998 – 2002, các tác giả tìm thấy bằng chứng rằng sự thay đổi trong TFP giải thích tốt nhất cho sự thay đổi trong giá trị của cổ đông (được đo lường bởi EVA)
Dietrich và Wanzenried (2010) cũng xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 38bằng cách sử dụng dữ liệu của 376 ngân hàng thương mại Thụy Sĩ từ 1998 đến 2009 Kết quả của các tác giả cho thấy rằng không có tác động đáng kể của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trước khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra Tuy nhiên, họ lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả hoạt động và các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong suốt thời gian khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra Đồng thời, Cipollini và Fiordelisi (2012) phát hiện rằng một tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng càng cao sẽ càng làm gia tăng xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính của ngân hàng
Dựa trên cơ sở lý thuyết, giả thuyết đặt ra về tác động của các loại hiệu quả đến EVA đã được đưa ra Theo đó, trong mô hình hồi quy, hệ số tác động của biến hiệu quả mang kì vọng dấu dương
Trang 39Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và giá trị của cổ đông
Eisenbeis và các cộng sự (1999) Mỹ 1986 – 1991 Hiệu quả chi phí Tỷ suất sinh lợi
Trang 40Sufian và Majid (2006) Malaysia 2002 – 2003 Hiệu quả chi phí và lợi
Fiordelisi (2007) Châu Âu 1997 – 2002 Hiệu quả chi phí, lợi nhuận
và giá trị của cổ đông
Giá trị kinh tế tăng thêm
Fiordelisi và Molyneux (2010) Châu Âu 1998 – 2005
Hiệu quả chi phí, lợi nhuận, doanh thu và giá trị của cổ đông
Giá trị kinh tế tăng thêm
Zhao và Xu (2013) Trung Quốc 1994 – 2008 Hiệu quả chi phí, lợi nhuận