1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TĂNG TRƯỞNG KINH tế hậu GIANG GIAI đoạn 2000 2008 từ góc độ PHÂN TÍCH ĐÓNG góp của các yếu tố sản XUẤT

98 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

22 Bảng 2: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố TFP vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong 4 giai đoạn ..... Nghiên cứu này đưa ra một số phân tích về tăng trưởn

Trang 1

Cần Thơ, năm 2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HẬU GIANG GIAI ĐOẠN 2000-2008: TỪ GÓC ĐỘ PHÂN

Trang 2

LỜI CẢM TẠ



Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, chỉ dẫn tận tình của quý Thầy Cô Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Võ Thành Danh – giảng viên Khoa Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh – Thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều và rất tận tình, tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành tốt nhất bài luận văn

Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô đã giảng dạy em trong suốt 4 năm Đại học Nhờ những kiến thức đó cộng với nỗ lực bản thân đã trang bị cho em những kỹ năng chuyên môn để hoàn thành tốt bài luận văn

Xin chân thành cảm ơn Cục thống kê Hậu Giang đã nhiệt tình giúp đỡ trong việc cung cấp số liệu cho bài luận văn này

Kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc!

Cần Thơ, ngày 26 tháng 04 năm 2010

Sinh viên thực hiện

(ký và ghi họ tên)

ĐẶNG HOÀNG THỐNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN



Em cam đoan rằng đề tài này là do chính em thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Cần Thơ, ngày 26 tháng 04 năm 2010

Sinh viên thực hiện

(ký và ghi họ tên)

ĐẶNG HOÀNG THỐNG

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN



Cần thơ, ngày … tháng … năm …

Giáo viên hướng dẫn

(ký và ghi họ tên)

PGS.TS VÕ THÀNH DANH

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN



Ngày … tháng … năm … Giáo viên phản biện

(ký và ghi họ tên)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CHƯƠNG GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.1.2 Sự cần thiết của đề tài 1

1.2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5

2.1.1 Các khái niệm về tăng trưởng kinh tế .5

2.1.2 Quá trình phát triển của các lý thuyết tăng trưởng kinh tế 5

2.1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng trước Keynes 5

2.1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng sau Keynes 6

2.1.3 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế .8

2.1.4 Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế 9

2.1.5 Ý nghĩa của phân tích tăng trưởng .9

2.1.6 Sự khác nhau của TFP và SFP .10

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .13

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 13

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 13

2.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả .13

2.2.2.2 Phương pháp so sánh 13

2.2.2.2 Phương pháp ước lượng tổng năng suất nhân tố TFP 14

2.2.2.4 Phương pháp hồi qui và tương quan 16

2.2.3 Số liệu và các giả định 18

Chương 3: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 22

3.1 NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC .22

3.1.1 Những nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận hồi quy 22

3.1.2 Những nghiên cứu sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng 24

3.2 NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 26

Chương 4: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HẬU GIANG GIAI ĐOẠN 2000-2008: TỪ GÓC ĐỘ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT 29

4.1 THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HẬU GIANG 2000-2008 29

4.1.1 Khái quát chung về tỉnh Hậu Giang 29

4.1.2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế Hậu Giang giai đoạn 2000-2008 30

4.1.2.1 Thực trạng tăng trưởng tổng sản phẩm (giá trị gia tăng) của Hậu Giang giai đoạn 2000 – 2008 30

4.1.2.2 Tăng trưởng theo ngành và cơ cấu kinh tế theo ngành 33

4.1.2.3 Tăng trưởng các thành phần kinh tế và cơ cấu kinh tế theo sở hữu 42

4.1.3 Đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang 45

4.2 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HẬU GIANG GIAI ĐOẠN 2000-2008: TỪ GÓC ĐỘ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT 46

Trang 7

4.2.1 Kết quả ước lượng TFP 46

4.2.2.Kết quả ước lượng năng suất các yếu tố riêng lẻ 55

4.2.3 Mối liên hệ giữa tốc độ tăng TFP, tốc độ tăng năng suất vốn và năng suất lao động 57

4.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN CỦA HẬU GIANG 59

4.3.1.Vấn đề đầu tư cho hình thành tài sản vốn vật chất của các thành phần kinh tế 59

4.3.2 Vấn đề về phân bổ nguồn lao động 62

4.3.3 Vấn đề về đầu tư cho giáo dục 64

4.3.4 Vấn đề hiệu quả trong sử dụng công nghệ và tiến bộ công nghệ 66

4.4 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HƯỚNG ĐẾN MỤC TIÊU THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA HẬU GIANG TRONG DÀI HẠN 66

4.4.1 Về thu hút và sử dụng vốn đầu tư 66

4.4.2 Giải pháp nâng cao trình độ của lực lượng lao động và thu hút nhân tài 67

4.4.3 Giải pháp phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ 68

CHƯƠNG 5:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1 KẾT LUẬN .70

5.2 KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHẦN PHỤ LỤC 74

PHỤ LỤC 1: MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG SOLOW 74

PHỤ LỤC 2: CÁCH ĐO LƯỜNG TRỮ LƯỢNG VỐN 78

PHỤ LỤC 3:TỶ PHẦN THU NHẬP CỦA VỐN VÀ LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2008 80

PHỤ LỤC 4: TÍNH TOÁN TỶ PHẦN THU NHẬP CỦA VỐN VÀ LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2008 THEO PHƯƠNG PHÁP HỒI QUY 81

PHỤ LỤC 5: SỐ LIỆU TÍNH TOÁN TĂNG TRƯỞNG CỦA HẬU GIANG CHO GIAI ĐOẠN 2000 – 2008 84

PHỤ LỤC 6: SỐ LIỆU TÍNH TOÁN TĂNG TRƯỞNG CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ CHO GIAI ĐOẠN 2000 – 2007 85

PHỤ LỤC 7: SỐ LIỆU TÍNH TOÁN TĂNG TRƯỞNG CỦA TỈNH CẦN THƠ CŨ CHO GIAI ĐOẠN 1990 – 2000 86

Trang 8

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Trang

Bảng 1: Đóng góp của các nhân tố sản xuất vào tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1987-2006 22 Bảng 2: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong 4 giai đoạn 24 Bảng 3: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1986-2004 25 Bảng 4: Nguồn lực tăng trưởng của Châu Phi và Châu Mỹ Latinh giai đoạn 1960-1996 27 Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng TFP của Các nước Đông Á giai đoạn 1966-1996 28 Bảng 6 : Giá trị và tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2001 – 2008 30 Bảng 7: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội (giá hiện hành) giai đoạn 2001 – 2008 32 Bảng 8: Giá trị sản xuất và tỷ trọng của công nghiệp chế biến so với ngành công nghiệp của Hậu Giang giai đoạn 2004 – 2008 37 Bảng 9: Tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ; thương mại và một số ngành dịch vụ khác giai đoạn 2002 – 2008 39 Bảng 10: Giá trị gia tăng của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trong nước và thành phần có vốn đầu tư nước ngoài của Hậu Giang giai đoạn 2001 – 2008 43 Bảng 11: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của Hậu Giang giai đoạn 2000 – 2008 47 Bảng 12: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của tỉnh Cần Thơ (cũ) và thành phố Cần Thơ giai đoạn 2000 – 2007 52 Bảng 13: Năng suất lao động của Hậu Giang giai đoạn 2000-2008 55 Bảng 14: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần

ngoài quốc doanh trong nước của Hậu Giang giai đoạn 2001 – 2008 61 Bảng 15: Cơ cấu lao động đang làm việc phân theo ngành kinh tế của Hậu Giang giai đoạn 2004 – 2008 62

Trang 9

Bảng 16: Năng suất lao động xã hội phân theo ngành kinh tế của Hậu Giang giai đoạn

2004 – 2008 63 Bảng 17: Các chỉ tiêu về số học sinh, sinh viên và giáo viên ở các cấp học của Hậu Giang giai đoạn 2004 – 2008 65

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2001 –2008 31 Hình 2: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực 1 giai đoạn 2002 – 2008 33 Hình 3: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của các ngành nông, lâm nghiệp và ngư nghiệp của Hậu Giang giai đoạn 2002 – 2008 34 Hình 4: Tỷ trọng của các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng giá trị gia tăng của khu vực 1 giai đoạn 2001 – 2008 35 Hình 5: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực 2 giai đoạn 2002 – 2008 36 Hình 6: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của khu vực 3 giai đoạn 2002 – 2008 38 Hình 7: Cơ cấu giá trị gia tăng phân theo khu vực kinh tế của tỉnh Hậu Giang giai đoạn

2001 – 2008 40 Hình 8: Cơ cấu giá trị gia tăng phân theo khu vực lạc hậu và hiện đại của tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2001 – 2008 41 Hình 9: Tốc độ tăng giá trị gia tăng của thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần ngoài quốc doanh của Hậu Giang giai đoạn 2002 – 2008 42 Hình 10: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chia theo thành phần kinh tế của Hậu Giang giai đoạn 2000 – 2008 44 Hình 11: Tốc độ tăng trưởng của GDP, Vốn, lao động và TFP của Hậu Giang giai đoạn

2001 – 2008 48 Hình 12: Đóng góp của K, L, TFP vào tốc độ tăng GDP của Hậu Giang giai đoạn 2001 – 2008 49 Hình 13: Tốc độ tăng năng suất lao động của Hậu Giang giai đoạn 2001-2008 56 Hình 14: Tốc độ tăng năng suất vốn của Hậu Giang giai đoạn 2001-2008 57 Hình 15: Biểu diễn tốc độ tăng/giảm của TFP, năng suất lao động và năng suất vốn 58 Hình 16: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển phân theo thành phần kinh tế của Hậu Giang giai đoạn 2000 – 2008 60

Trang 11

(Đường giới hạn khả năng sản xuất)

(Tổng sản phẩm quốc dân) FDI Forigen direct investment

(Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)

(Tổng năng suất các nhân tố)

R & D Reasearch and development

(Nghiên cứu và phát triển)

Trang 12

TÓM TẮT

Tăng trưởng kinh tế là một trong những thước đo quan trọng về thu nhập và là điều kiện cần thiết để có thể đạt được sự phồn thịnh trong tương lai Vì vậy, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng hằng năm thì việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững luôn là mục tiêu hàng đầu trong việc thực hiện các chính sách kinh tế Nghiên cứu này đưa ra một số phân tích về tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang từ góc độ đóng góp của các yếu tố sản xuất thông qua phương trình kế toán tăng trưởng để có cái nhìn chính xác hơn về những nguồn lực chính (nguồn vốn vật chất, nguồn lao động hay yếu tố tổng năng suất nhân tố_TFP) giúp cho Hậu Giang đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao trong thời gian qua Nghiên cứu cho thấy yếu tố tổng năng suất nhân tố_TFP (yếu tố chính đảm bảo tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế) chỉ thật sự đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang ở giai đoạn 2007-2008 Điều này hàm ý những chính sách hợp lý trong thu hút, giải phóng nguồn lực xã hội đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của vùng đã được cải thiện trong vài năm trở lại đây Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang nhìn chung vẫn dựa chủ yếu vào tăng yếu tố đầu vào, đặc biệt là vốn đầu tư Thông qua nghiên cứu này, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng dài hạn của Hậu Giang

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Lý do chọn đề tài

Sau năm 1986, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta đã đạt được những thắng lợi đáng kể, biểu hiện rõ nhất thành công đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt bình quân trên 7% giai đoạn 1990-2008 Tuy chưa phải là vùng kinh tế trọng điểm của cả nước nhưng Đồng Bằng Sông Cửu Long được xem là cái noi trong sản xuất nông nghiệp của nước ta, đóng góp khá lớn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Hậu Giang với vị trí ở trung tâm của Đồng bằng Sông Cửu Long, từ xa xưa vùng đất này đã là một trong những trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam Bộ Từ sau khi tách khỏi tỉnh Cần Thơ cũ (hiện nay là thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang), Hậu Giang đã

có những bước phát triển rất đáng ghi nhận, tốc độ tăng trưởng đạt bình quân trên 11% giai đoạn 2003-2008, năm sau cao hơn năm trước và đạt cao nhất năm 2008 với 13,07%

Tăng trưởng kinh tế cao có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân, và đặc biệt đối với một tỉnh nghèo như Hậu Giang thì tăng trưởng kinh tế càng có ý nghĩa hơn trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo tiền đề cho sự phát triển trong tương lai Tuy nhiên hiện có rất ít nghiên cứu về những đóng góp của các nguồn lực

sản xuất đến sự tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang Vì thế tôi đã chọn đề tài “Tăng trưởng kinh tế tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2000-2008: Từ góc độ phân tích đóng góp của các yếu tố sản xuất” nhằm bốc tách những ảnh hưởng khác nhau của các yếu tố sản xuất

đến tăng trưởng kinh tế cũng như để có cái nhìn rõ ràng hơn về chất lượng tăng trưởng của tỉnh Hậu Giang

1.1.2 Sự cần thiết của đề tài.

Ở Việt Nam hiện nay, tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng hay chiều sâu là vấn đề được tranh cãi rất nhiều trong giới học giả kinh tế Một số ý kiến ủng hộ quan điểm tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng vì họ lập luận rằng nước ta đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển cần tích lũy tư bản nhiều hơn nữa để phục vụ cho quá trình tăng trưởng trong tương lai Ý kiến ủng hộ Việt Nam nên chú ý tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu bởi vì chỉ có tăng trưởng theo chiều sâu mới có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng

Trang 14

trong dài hạn Một số nhà kinh tế lại cho rằng chúng ta cần phải vừa chú trọng tích lũy các yếu tố sản xuất, vừa chú trọng đến vấn đề cải tiến trình độ công nghệ, trình độ quản lý nhằm khai thác hiệu quả hơn nữa nguồn lực xã hội

Trong hoàn cảnh có nhiều quan điểm khác nhau như thế, việc lựa chọn các giải pháp chính sách cho mục tiêu tăng trưởng cần phải được cân nhắc kỹ càng Đối với một tỉnh mới thành lập như Hậu Giang thì những giải pháp đưa ra lại càng phải phù hợp hơn

để có thể sử dụng các nguồn lực thu hút được với hiệu quả tối đa nhằm thúc đẩy kinh tế của vùng phát triển đúng hướng, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cũng như cải thiện đời sống của người dân trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung Vì vậy việc phân tích đóng góp của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hậu Giang là việc làm hết sức ý nghĩa, nhằm gợi ý về mặt chính sách cho những nhà hoạch định tìm ra phương án tối ưu nhất trong thu hút và sử dụng các nguồn lực nhằm giữ vững thành tích tăng trưởng trong tương lai

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1.2.1 Mục tiêu chung: Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởng

kinh tế của tỉnh Hậu Giang, từ đó đưa ra những giải pháp cho mục tiêu tăng trưởng trong dài hạn của tỉnh này

1.2.2 Mục tiêu cụ thể:

 Phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang trong giai đoạn 2000-2008

 Phân tích đóng góp của các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, tổng năng suất nhân tố

- TFP) cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hậu Giang

 Đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trong dài hạn

1.3 PHẠM VI NGHÊN CỨU:

Thời gian: Các thông tin và số liệu kinh tế xã hội của tỉnh Hậu Giang được thu thập

trong khoảng thời gian từ năm 2000-2008 Số liệu về vốn, lao động, GDP của Việt Nam trong khoảng thời gian 1986-2008 được sử dụng để đo lường tỷ phần thu nhập của vốn, lao động

Không gian: Các số liệu thực hiện đề tài hầu hết là của tỉnh Hậu Giang, bên cạnh đó

một phần số liệu của Thành phố Cần Thơ được sử dụng trong bài để phân tích tác động của việc chia tách tỉnh đến tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang và Thành phố Cần Thơ

Trang 15

Giới hạn nội dung: Có rất nhiều yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, trong đó

được chia thành 2 nhóm yếu tố chính: Thứ nhất, nhóm yếu tố kinh tế gồm vốn đầu tư, nguồn lao động, nguồn tài nguyên, công nghệ Thứ hai, nhóm yếu tố phi kinh tế gồm thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm dân tộc, đặc điểm tôn giáo Trong thực tế, việc đo lường đóng góp của nhóm yếu tố phi kinh tế vào tăng trưởng kinh

tế là rất khó, thể hiện ở việc lựa chọn các chỉ tiêu đo lường và phương pháp đo lường chúng Do đó bài viết chỉ tập trung phân tích đóng góp của nhóm nhân tố kinh tế mà cụ thể là vốn, lao động và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hậu Giang thông qua phương trình kế toán tăng trưởng

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 Cù Chí Lợi (2008), “Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, tạp chí nghiên cứu kinh tế Việt Nam (số 336), trang 3-9: Nghiên cứu này đã đánh giá chất lượng tăng trưởng

kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2006 thông qua chỉ số năng suất (TFP) và xác định đóng góp của từng yếu tố sản xuất (K, L, TFP) vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam Tác giả đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglass để xem xét mối tương quan này thông qua mô hình hồi quy dạng lnYt=β0+αlnKt+βlnLt+σt Nghiên cứu kết luận rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1987-2006 có đóng góp lớn nhất của yếu tố lao động, kế đến là vốn

và cuối cùng đóng góp thấp nhất là TFP, tuy nhiên TFP cũng đã cải thiện đóng góp của mình trong giai đoạn 2001-2006 so với các giai đoạn trước đó

2 Tran Tho Dat (2005), “Sources of Viet Nam economic’s growth 1986 – 2004”, National economics university: Không giống cách tiếp cận hồi quy trong nghiên cứu của

Cù Chí Lợi, Trần Thọ Đạt sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán đóng góp của các nhân tố sản xuất đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2007

Cụ thể thay vì tính toán tỷ phần đóng góp của vốn và lao động thông qua hồi quy tăng trưởng cho dãy số liệu GDP, vốn, lao động qua các năm như nghiên cứu Cù Chí Lợi thì Trần Thọ Đạt đã tính tỷ phần thu nhập của lao động bằng cách lấy tổng tiền lương cộng bảo hiểm xã hội chia cho giá trị gia tăng Kết luận của nghiên cứu này đã đánh giá cao đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, kế đến là yếu tố vốn và cuối cùng là lao động

Trang 16

3 Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh ( 2006) Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 15 năm ( 1991 – 2005): từ góc độ phân tích đóng góp của các nhân tố sản xuất, NXB Khoa học

và kỹ thuật, Hà Nội: Trong tài liệu này tác giả đã phân tích đóng góp của các nhân tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bằng cách ước lượng hàm sản xuất Cobb-Douglass với độ co giãn thay thế bằng 1 bằng phương pháp hồi quy Sau đó tác giả đã thay thế hàm sản xuất Cobb-douglass bằng hàm sản xuất CES với độ co giãn thay thế bất biến Ngoài ra nghiên cứu này thay vì chỉ sử dụng các yếu tố vốn, lao động để phân tích tăng trưởng như những nghiên cứu trước đó thì đã đo lường luôn cả yếu tố con người thông qua các chỉ tiêu như phần trăm dân số trong độ tuổi từ 15-19 đang học phổ thông cơ

sở và phổ thông trung học, tỷ lệ học sinh nhập học đúng độ tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn con người có đóng góp lớn nhất đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2006, kế đến là đóng góp của vốn vật chất và số lượng lao động

4 Nguyễn Xuân Thành (năm 2003), “Kinh tế phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á”,

chương trình giảng dạy kinh tế fullbright Nghiên cứu này cũng đo lường tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2000 thông qua các yếu tố sản xuất, nhưng tác giả đo lường yếu tố vốn (K) trong hàm Cobb-Douglass là trữ lượng vốn trong nền kinh tế bằng phương pháp tồn kho thường xuyên Kết quả cho thấy trong giai đoạn 1986-1990 TFP không có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế khi tốc độ tăng của yếu tố này là âm, giai đoạn 1991-1995 TFP đã cải thiện đóng góp của mình vào tăng trưởng GDP với tốc độ tăng TFP là 2,74%, nhưng đến giai đoạn 1995-2000 thì tốc độ này chỉ còn 0,48% Từ kết quả trên, tác giả đề xuất rằng Việt Nam cần thay đổi mô thức tăng trưởng kinh tế, tập trung vào chất lượng tăng trưởng, tức tăng dần sự đóng góp của yếu tố TFP thay vì tăng trưởng dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư như hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Các khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Trong kinh tế học có nhiều định nghĩa khác nhau về tăng trưởng kinh tế:

 Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng GDP tiềm năng của một quốc gia, nó biểu hiện bằng việc đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) dịch chuyển ra phía ngoài (Paul Samuelson)

 Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động (Simon Kuznets)

 Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số (Douglass C North và Robert Paul Thomas) Hay:

 Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

2.1.2 Quá trình phát triển của các lý thuyết tăng trưởng kinh tế

2.1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng trước Keynes

Trước Keynes đã có nhiều nhà kinh tế nghiên cứu về lý thuyết tăng trưởng kinh tế và

đã đóng góp không nhỏ trong việc giải thích các hiện tượng kinh tế đồng thời tạo tiền đề vững chắc để lý thuyết tăng trưởng kinh tế phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Một số đại diện đóng góp quan trọng cho lý thuyết này:

Adam Smith (1723-1790): Là một nhà lý luận kinh tế chính trị nổi tiếng ở Anh Với

tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các quốc gia”, ông đã đóng góp quan trọng trong việc giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Theo ông, nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là

từ lao động, vốn, đất đai và tiến bộ kỹ thuật, trong đó lao động là yếu tố tăng trưởng quan trọng vì đó là nhân tố tạo nên sự cải tiến lớn nhất về năng suất lao động Phát hiện quan trọng nhất của Adam Smith là phân công lao động và chuyên môn hóa là những yếu tố đóng góp lớn vào tăng năng suất lao động và tăng sản lượng đầu ra Từ đó ông cho rằng

Trang 18

tăng trưởng kinh tế có tính lợi suất tăng dần theo quy mô, nhà nước không nên can thiệp vào thị trường mà hãy để cho “bàn tay vô hình” của thị trường điều tiết

Thomas Robert Malthus (1776 – 1834): Là một nhà kinh tế học người Anh Ông đã

đóng góp vào lý thuyết tăng trưởng kinh tế khi đưa ra đặc tính lợi tức giảm dần của đầu ra theo đất đai Theo ông, đất đai, lao động, vốn là những yếu tố cơ bản tạo nên tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đất đai có đặc tính không đổi về cung, nhưng có thể thay đổi về chất lượng Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, sẽ cần nhiều đất đai hơn để canh tác, nhưng người ta không thể tạo thêm đất đai mới để canh tác, do đó đất đai chính là giới hạn của tăng trưởng

David Ricardo (1772-1823): Là một nhà kinh tế học người Anh Ông cho rằng tiết

kiệm và tích lũy vốn là nhân tố quyết định tăng trưởng của một quốc gia nhưng do khan hiếm nguồn lực nên sản lượng đầu ra có lợi suất giảm dần Theo ông, để giải quyết tình trạng này cần phải chuyên môn hóa, đẩy mạnh trao đổi thương mại thông qua xuất khẩu hàng hóa công nghiệp để mua lương thực, thực phẩm rẻ từ bên ngoài, được thể hiện qua thuyết lợi thế so sánh của ông Ricardo cho rằng giá cả và tiền công có tính linh hoạt nên

có khả năng tự điều tiết Do đó, theo ông chính sách của chính phủ là không quan trọng, thậm chí còn hạn chế khả năng tăng trưởng kinh tế

Karl Marx (1818 – 1883): Là nhà kinh tế học người Đức Ông đóng góp lớn vào lý

thuyết tăng trưởng kinh tế với công trình nổi tiếng “tư bản” Theo ông, nguồn lực của tăng trưởng kinh tế là sự tích lũy tư bản, trong đó các yếu tố tác động đến quá trình này là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật Nguồn gốc của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư

do lao động làm thuê tạo ra Ông chia xã hội thành hai lĩnh vực sản xuất đó là vật chất và phi vật chất Theo ông chỉ có lĩnh vực sản xuất vật chất mới sáng tạo ra sản phẩm xã hội

Mô hình của Marx dẫn tới kết quả là tỷ lệ lợi nhuận có xu hướng giảm dần cùng với quá trình đầu tư tích lũy vốn Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ dùng giá trị thặng dư

này để đầu tư mở rộng sản xuất dẫn đến tăng trưởng kinh tế

2.1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng sau Keynes

Với tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, Keynes đã

đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử kinh tế học và là cơ sở cho sự ra đời của một trường phái kinh tế mới Ông đã làm thay đổi quan điểm và cách nhìn nhận của thế

Trang 19

giới về vai trò của chính phủ trong điều hành, thúc đẩy kinh tế phát triển Lý thuyết của Keynes được coi là cơ sở của sự ra đời dòng lý thuyết tăng trưởng hiện đại mà mở đầu dòng lý thuyết này là mô hình Harrod-Domar

Harrod – Domar: Là hai nhà kinh tế học người Mỹ Mô hình kinh tế của Harrod –

Domar đi vào giải thích các yếu tố dẫn đến sản lượng tăng lên từ phía cung, được thể hiện qua việc giả định hàm sản xuất Leontief có độ co giãn thay thế bằng 0 Harrod – Domar chỉ ra vai trò của tiết kiệm và tích lũy vốn đối với tăng trưởng và cũng chứng minh trạng thái cân bằng tăng trưởng Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng này là không bền vững bởi để duy trì thì các yếu tố vốn và lao động phải được đưa vào sản xuất theo một tỷ lệ không đổi Vì vậy sự can thiệp của nhà nước có ý nghĩa đối với quá trình tăng trưởng Mô hình này có ý nghĩa cho tăng trưởng ngắn và trung hạn hơn là dài hạn

Robert Solow (sinh 1956): Là một nhà kinh tế học người Mỹ Khắc phục những

nhược điểm của mô hình Harrod – Domar, Solow đưa ra một mô hình mới (mô hình tăng trưởng ngoại sinh) để giải thích bản chất của tăng trưởng kinh tế Điểm đột phá của mô hình này là giảm sự cứng nhắc của mô hình Harrod – Domar bằng cách sử dụng hàm sản xuất tân cổ điển với giả định các nhân tố sản xuất có năng suất biên giảm dần Trong đó, giả định tiền công, hệ số vốn, sản lượng có thể thay đổi điều chỉnh về trạng thái cân bằng

và trạng thái này là ổn định Khi vốn trên một lao động gia tăng, sản lượng trên một lao động sẽ tăng, sự gia tăng của vốn sẽ tạo ra mức tăng trưởng cao đối với các nước đang phát triển Trong dài hạn các nền kinh tế sẽ hội tụ về 1 điểm (điểm dừng), tại đây khi tăng lượng vốn thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ bằng 0 Mô hình này có ý nghĩa lớn trong việc giải thích tăng trưởng từ đóng góp của các nhân tố sản xuất

Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: Tiêu biểu cho trường phái tăng trưởng nội sinh là

Romer và Lucas Lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh vai trò của tiến bộ công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế không thể tách rời đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ sản xuất…tiến bộ công nghệ được xem là một biến nội sinh trong mô hình Mô hình tăng trưởng nội sinh cũng chứng minh mối quan hệ giữa tiến bộ công nghệ

và tăng năng suất lao động cũng như sự cần thiết của yếu tố này đối với tăng trưởng kinh

tế trong dài hạn Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng có mối quan hệ mật thiết giữa quá trình đổi mới công nghệ và vốn con người Đồng thời nhấn mạnh vai trò của nhà

Trang 20

nước trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục

2.1.3 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế cơ bản:

 Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là

giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) không phân biệt yếu tố sản xuất thuộc sở hữu của người nước ngoài hay người dân trong nước

Có 3 cách tính GDP

+ Phương pháp sản xuất: GDP bằng tổng giá trị gia tăng các ngành sản xuất và dịch

vụ trong nước; tức bằng tổng giá trị sản lượng trừ đi chi phí sản xuất đầu vào

+ Phương pháp phân phối: GDP bằng tiền công cộng với thu nhập hỗn hợp, tiền

thuế, khấu hao TSCĐ, lãi vay ngân hàng, các khoản thu nhập khác và lợi nhuận

+ Phương pháp chi tiêu: GDP bằng tiêu dùng cuối cùng của người dân (C), tiêu dùng

doanh nghiệp (I), tiêu dùng chính phủ (G) và chênh lệch giá trị hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu

 Tổng thu nhập quốc dân (GNP): Là giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa dịch vụ

cuối cùng được sản xuất ra nhờ những yếu tố sản xuất do người dân trong nước sở hữu

không phân biệt yếu tố đó ở đâu (trong nước hay ngoài nước)

GNP = GDP + thu nhập ròng từ nước ngoài

Thu nhập ròng từ nước ngoài gồm tiền công, tiền lương cộng với thu nhập do sở hữu tài

sản (cho thuê tài sản), lợi nhuận đầu tư, lãi tín dụng…

 Một số chỉ tiêu khác như: Sản phẩm quốc nội ròng (NDP), sản phẩm quốc dân ròng (NNP), thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập khả dụng (GDI)

Tuy nhiên các chỉ tiêu này chưa phản ánh đầy đủ ý nghĩa của sự tăng trưởng Bởi vì tổng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào dân số và tốc độ tăng dân

số tự nhiên hàng năm

Trang 21

2.1.4 Các nhân tố là động lực của tăng trưởng kinh tế

- Vốn đầu tư: Là giá trị những khoản chi phí để bù đắp hao mòn tài sản vật chất và

tăng thêm tài sản vật chất mới

Vốn đầu tư trong nền kinh tế gồm: Vốn đầu tư cho tài sản sản xuất và vốn đầu tư cho tài sản phi sản xuất

- Nguồn lao động: Là tổng số những người trong độ tuổi qui định đang tham gia lao động và những người lao động không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc

Được biểu hiện ở hai khía cạnh:

Số lượng lao động: Số người trong độ tuổi lao động (trừ một số trường hợp đang

tham gia học tập hay không nổ lực tìm việc)

Chất lượng lao động: Được hiểu là trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ mà

người lao động tích lũy được qua các kênh giáo dục, đào tạo và tự học

- Nguồn tài nguyên thiên nhiên: Là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những

tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế bởi vì nó là đầu vào chủ yếu của quá trình sản xuất, tạo ra của cải xã hội

- Công nghệ: Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể

tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất

2.1.5 Ý nghĩa của phân tích tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, vì vậy các phân tích tăng trưởng dựa chủ yếu vào các chỉ tiêu vĩ mô, một phân tích tăng trưởng là có ý nghĩa nếu trả lời được 2 câu hỏi Một là, các yếu tố nào đóng góp và đóng góp bao nhiêu vào tăng trưởng tổng thu nhập trong giai đoạn cần nghiên cứu? Hai là, lý giải bản chất hay mẫu hình của tăng trưởng trong giai đoạn cần xem xét từ đó đưa ra một số nhận xét, kết luận liên quan đến các chính sách vĩ mô hỗ trợ tăng trưởng, phát triển kinh tế

Trang 22

Việc phân tích tăng trưởng dựa vào các chỉ tiêu vĩ mô, tuy nhiên kết quả của phân tích tăng trưởng rất có ý nghĩa trong việc xem xét, hoàn thiện các chính sách vi mô Chẳng hạn mô hình Solow cho rằng tăng dân số (trong tuổi lao động) ở các nước nghèo chính là nguyên nhân làm giảm thu nhập đầu người nếu các yếu tố khác không đổi Tuy nhiên qua phân tích tăng trưởng sẽ cho ta những kết luận khác nhau đối với các nền kinh tế khác nhau Ví dụ phân tích tăng trưởng cho rằng tăng dân số làm giảm năng suất lao động thì các nhà hoạch định chính sách cần: giảm cung lao động bằng cách xuất khẩu lao động chẳng hạn và ngược lại

2.1.6 Sự khác nhau giữa tổng năng suất nhân tố (TFP-Total factor productivity) và năng suất nhân tố riêng lẻ (SFP- single factor productivity)

Năng suất được định nghĩa là lượng đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng Có

2 cách đo lường năng suất Một là cách đo lường dựa trên năng suất riêng lẽ của từng nhân tố lao động và vốn Cách thứ 2 là tổng năng suất nhân tố (TFP), tính gộp tổng năng suất của tất cả các nhân tố

2.1.6.1 Tổng năng suất nhân tố (TFP)

Một số định nghĩa về TFP:

TFP là quan hệ giữa đầu ra với tổng hợp các đầu vào, bao gồm cả các yếu tố không định lượng được như quản lý, khoa học công nghệ

Khi hàm sản xuất chỉ có hai nhân tố vốn (K) và lao động (L) theo dạng:

Yt = At.f [Kt, Lt] thì At trong mô hình này chính là TFP

Hay trong hàm sản xuất Cobb-Douglas Y = AK L1- thì A cũng chính là TFP TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, phân bổ nguồn lực

Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi

xã hội

Trang 23

TFP thay đổi do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Học hỏi thông qua làm việc: Thông qua làm việc, người lao động sẽ tích lũy được

kinh nghiệm và học được cách sản xuất hiệu quả hơn Điều này sẽ dẫn đến chất lượng lao động sẽ được cải thiện để ứng với số lượng nguồn lực như cũ thì doanh nghiệp có thể tạo

ra nhiều sản phẩm hơn hay tạo ra các sản phẩm mới…

- Thay đổi công nghệ: Công nghệ mới là một động lực mạnh mẽ trong bất kỳ doanh

nghiệp hay nền kinh tế nào muốn tăng hiệu suất sử dụng nguồn lực của mình Khi chúng

ta đầu tư vào một qui trình công nghệ hiện đại (với điều kiện qui trình công nghệ này thích hợp với nguồn lực hiện tại) thì với một số lượng lao động tương ứng với công nghệ

cũ sẽ thu được số lượng sản phẩm nhiều hơn hay chất lượng sản phẩm cao hơn (điều này

lý giải vì sao nhiều doanh nghiệp lại tập trung nhiều vào nghiên cứu và phát triển – R&D

để tạo ra các công nghệ mới hơn)

- Phân bố lại nguồn lực: Việc phân bố các nguồn lực một cách hợp lý sẽ làm tăng

năng suất biên của nguồn lực được sử dụng mà không cần phải tăng số lượng nhập lượng đầu vào Ví dụ khu vực nông nghiệp ở đa số các nền kinh tế kém phát triển vốn tập trung nhiều lao động nhưng lại thiếu vốn dẫn đến năng suất của khu vực này thấp Nếu quá trình phát triển kèm theo đó là sự chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ thì với cùng nguồn lực, năng suất chung của

cả nền kinh tế sẽ tăng lên

- Trình độ quản lý: Khi trình độ quản lý cao hơn, có nghĩa là nguồn lực trong một nền

kinh tế sẽ được các nhà quản lý nào phân bổ một cách hiệu quả hơn hay những nhà quản

lý có thể tập trung nhiều hơn vào R&D cho doanh nghiệp nhằm tạo ra hiệu quả tối ưu trong việc sử dụng các nguồn lực

Chỉ tiêu TFP rất quan trọng trong phân tích kinh tế Sự biến động TFP được Solow sử dụng đầu tiên nhằm phản ánh sự thay đổi công nghệ và giải thích sự tăng trưởng kinh tế

Từ đó về sau được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi và trở thành một chỉ tiêu không thể thiếu trong phân tích kinh tế

2.1.6.2 Năng suất lao động

Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá

Trang 24

trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí

để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình

độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên

Năng suất lao động của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào, trong

đó đầu ra được tính bằng GDP (tổng sản phẩm quốc nội), đầu vào thường được tính bằng: giờ công lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang làm việc Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu,

sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay

Năng suất lao động trong bài được tính dựa trên số lượng lao động:

Giá trị gia tăng (hoặc GDP)

Năng suất lao động = -

tố đóng góp vào quá trình sản xuất thì năng suất từng nhân tố riêng lẻ không còn chính

Trang 25

xác nữa Chẳng hạn nhờ đầu tư quá nhiều vào máy móc, còn lao động giữ nguyên về lượng lẫn chất thì năng suất lao động vẫn tăng Các nhà kinh tế học gần đây đã cho rằng năng suất lao động không còn là đại diện tốt cho những phân tích tăng trưởng Họ có xu hướng sử dụng TFP thay thế cho năng suất lao động

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu: Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp từ các nguồn

chính thống như Niên giám thống kê của Cục thống kê Hậu Giang, các Niên giám thống

kê của Việt Nam (phần liên quan đến số liệu kinh tế xã hội của các tỉnh, thành phố) và các sách báo hay từ các trang web được nêu trong phần tài liệu tham khảo

Các loại số liệu thứ cấp cần thu thập có thể được liệt kê như sau: giá trị tổng sản lượng, giá trị tăng thêm, cơ cấu giá trị tăng thêm theo khu vực và theo thành phần kinh tế, tốc độ tăng trưởng, số lao động trong các lĩnh vực, tốc độ tăng của vốn cố định, lượng vốn

cố định, định hướng phát triển kinh tế - xã hội…của Hậu Giang trong thời gian nghiên cứu của đề tài

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu:

2.2.2.1.Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê mô tả có thể được định nghĩa như

là các phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu Trong phần thống kê mô tả tác giả sử dụng bảng thống kê để trình bày các dữ liệu liên quan một cách

rõ ràng Kết quả của phương pháp này sẽ cho chúng ta thấy được xu hướng tăng trưởng

và chuyển dịch kinh tế của Hậu Giang theo ngành, theo thành phần kinh tế và cơ cấu kinh

tế của thành phố theo ngành và thành phần kinh tế…

2.2.2.2 Phương pháp so sánh: Là phương pháp được áp dụng một cách rộng rãi

trong tất cả các công đoạn của phân tích kinh tế

Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối: Số tuyệt đối là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh quy mô, khối lượng của sự kiện Tác dụng của so sánh là phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch, sự biến động về quy mô, khối lượng

Tăng (+) Giảm (-) = chỉ tiêu thực tế - chỉ tiêu kế hoạch

Phương pháp so sánh bằng số tương đối: Số tương đối là một chỉ tiêu tổng hợp

biểu hiện bằng số lần (%)…phản ánh tình hình của sự kiện, khi số tuyệt đối không thể nói

Trang 26

lên được Mục đích của phương pháp này là so sánh hai chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau nhưng có liên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thời gian, hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch của một doanh nghiệp hay ngành của một địa phương, một quốc gia Căn cứ vào nội dung và mục đích phân tích ta

có 5 loại số tương đối như sau:

+ Số tương đối động thái (lần, %): Là kết quả so sánh giữa hai mức độ của cùng một

chỉ tiêu nào đó ở hai thời kỳ hay hai thời điểm khác nhau Trong hai mức độ đó, mức độ ở

tử số (y1) là mức độ cần nghiên cứu (hay còn gọi là mức độ kỳ báo cáo), và mức độ ở mẫu số (y0) là mức độ kỳ gốc (hay mức độ dùng làm cơ sở so sánh)

+ Số tương đối kế hoạch (%): Dùng để lập kế hoạch và đánh giá tình hình thực hiện kế

hoạch của doanh nghiệp hay của ngành kinh tế

+ Số tương đối kết cấu (%): Dùng để xác định tỉ trọng của từng bộ phận cấu thành nên

một tổng thể, chẳng hạn như có bao nhiêu phần tăng trưởng kinh tế là đóng góp của lao động, vốn, TFP

+ Số tương đối cường độ: Là so sánh hai chỉ tiêu hoàn toàn khác nhau nhưng có liên

hệ nhau, đơn vị tính của số tương đối cường độ là đơn vị kép, nó phụ thuộc vào đơn vị tính của tử số và mẫu số trong công thức tính

+ Số tương đối so sánh (lần, %): là xác định tỉ lệ giữa các bộ phận trong tổng thể với

nhau

2.2.2.3 Phương pháp ước lượng tổng năng suất nhân tố TFP: Phương pháp sử

dụng để ước lượng tăng trưởng của TFP là phương pháp hạch toán tăng trưởng, phương pháp này sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglass với giả định là hiệu suất theo quy mô không đổi

a Hàm sản xuất Cobb-Douglass và hiệu suất theo quy mô

Trong hoạt động của một nền kinh tế có ba yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự phát triển: lao động sống (L); công cụ máy móc và nguyên nhiên vật liệu (vốn, K); trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý…(các yếu tố tổng hợp, A)

Sự phát triển của nền kinh tế nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc sử dụng các yếu tố lao động, vốn như thế nào, đồng thời cũng phụ thuộc vào các yếu tố tổng hợp Trên bình diện nền kinh tế các yếu tố này phản ánh hiệu quả sản xuất chung Để đánh giá tác động

Trang 27

của các yếu tố này tới kết quả sản xuất người ta thường sử dụng mô hình Cobb-Douglass,

mô hình này có một số ưu điểm sau:

- Thể hiện được quy luật năng suất biên giảm dần

- Các thông số của mô hình dễ ước lượng

- Tuy mô hình đơn giản song chứa đựng đặc điểm chung của một quá trình sản xuất là phải có vốn, lao động

Hàm Cobb-Douglass có dạng:

β t

α t t

Y 

Trong đó: 0<  < 1 Với giả thiết 0 <  hàm Cobb-Douglass coi giá trị sản xuất tỷ lệ

thuận với lao động và vốn

 Nếu  + β > 1 : Ta nói hàm sản xuất Cobb – Douglas có hiệu suất quy mô tăng

b Phương pháp ước lượng tổng năng suất nhân tố TFP: Với giả thiết hàm

Cobb-Douglass là hàm liên tục theo thời gian và dưới góc độ toán học có thể biểu diễn tốc độ phát triển theo thời gian của Yt như sau:

dt

dF A K L F

dt

dKt dKt

dF A dt

dLt dLt

dF A K L F dt

dAt

t t

dKt Yt

Kt dKt

dYt Lt

dt

dLt Yt

Lt dLt

dYt At

dt

dAt Yt

dt

) (

1 ) (

1 1

()()

()

Y

K MPK L

G Y

L MPL A

G Y

Trong đó:

G(Y) là tốc độ tăng trưởng của sản lượng

G(L) là tốc độ tăng trưởng của lao động

Trang 28

G(K) là tốc độ tăng trưởng của vốn

MPL = dY/dL và MPK = dY/dK là năng suất cận biên tương ứng của yếu tố lao động và vốn

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo tỷ lệ lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra sẽ bằng năng suất cận biên của vốn (MPK), còn tỷ lệ lương của công nhân sẽ bằng năng suất biên của lao động (MPL) Trong trường hợp này MPK(K/Y) và MPL(L/Y) sẽ lần lượt là tỷ lệ đóng góp của vốn và lao động trong giá trị sản xuất Cụ thể hoá công thức (3) mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglass có dạng:

)()α1()(α)()

Trong đó α = MPL(L/Y) và 1- α = MPK(K/Y)

Dựa vào công thức (4), có thể tính tốc độ tăng của năng suất các nhân tố tổng hợp (G(A) hay G(TFP)) theo công thức:

)}

( ) 1 ( ) ( { ) ( )

Phương trình hồi qui đa biến có dạng:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 +…+ βkXk Trong đó:

Y là biến phụ thuộc

Xi là các biến độc lập

β0, β1, β2,…, βk là các tham số hồi qui

Trang 29

Kết quả tính toán có các thông số cơ bản như sau:

Multiple R (Multiple correlation coefficient): Hệ số tương quan bội Nói lên mối quan hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và các biến độc lập X Khi R càng lớn, mối liên

P value (probability value): Giá trị P là mức ý nghĩa α nhỏ nhất mà ở đó bắt đầu bác

bỏ giả thuyết H0

Residual: Phần dư của mô hình

SS (sum of squares): Tổng bình phương

df: độ tự do

Number of obs: Số lượng các quan sát (số lượng mẫu)

* Phương pháp ước lượng thường dùng nhất trong việc khảo sát các mô hình tuyến tính là phương pháp bình phương bé nhất – ordinary least squares (OLS)

b/ Vận dụng trong nghiên cứu:

Từ số liệu thu thập về GDP, vốn, lao động của Việt Nam giai đoạn 1986-2008 , tiến hành phép phân tích hồi qui với hàm sản xuất Cobb-Douglas: Y tA t L α t K t β

Phương trình được triển khai dưới dạng lôgarit như sau:

Ln Yt = β0 + αlnKt + βlnLt + μt Với Y (tỷ đồng): Tổng sản lượng quốc nội của Việt Nam

K (tỷ đồng): Trữ lượng vốn của nền kinh tế Việt Nam

L (người): Tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế

Với mô hình này, α là hệ số đóng góp của vốn, β là hệ số đóng góp của lao động và µ

là đại diện cho năng suất Như vậy mô hình cho phép xác định tác động của tăng vốn, lao động đến tốc độ tăng GDP và phần dư còn lại là tăng trưởng do yếu tố năng suất

Mô hình cho phép xác định tỷ phần thu nhập của vốn (α) và lao động (β) trong tổng sản lượng quốc nội Và là căn cứ để so sánh với kết quả có sẵn về tỷ phần thu nhập của

Trang 30

vốn, lao động từ nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (Sources of Viet Nam’s Economic Growth)

Tốc độ tăng trưởng bình quân năm của biến X trong giai đoạn n năm được tính theo công thức:

% 100

* 1

Yếu tố vốn (K):

Vốn được sử dụng trong hàm sản xuất là trữ lượng vốn (chứ không phải là vốn đầu

tư, vốn tích lũy hay tài sản cố định) Khi nói rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn, cần chú ý đến các định nghĩa cơ bản về vốn (capital stock) và đầu tư (investment) vì hiện nay ở Việt Nam không có cả hai chỉ tiêu này Chỉ tiêu “vốn đầu tư” của cơ quan thống kê

về bản chất không phải là vốn mà cũng không hoàn toàn là đầu tư Về bản chất ý niệm

“vốn đầu tư” mà cơ quan thống kê đưa ra là nguồn tiền của các thành phần kinh tế nhằm mục đích đầu tư trong một năm, cũng cần để ý rằng không phải tất cả nguồn tiền này (vốn đầu tư) được thực sự đưa vào đầu tư để tăng tích luỹ (như khái niệm cơ bản về đầu tư) Vì vậy nghiên cứu này sẽ không sử dụng chỉ tiêu “vốn đầu tư” hay tích lũy tài sản mà sử dụng chỉ tiêu trữ lượng vốn vì đây là chỉ tiêu thể hiện được thực chất là có bao nhiêu lượng vốn trong nền kinh tế (do chỉ tiêu này đề cập đến tỷ lệ khấu hao tài sản)

Cách tính trữ lượng vốn như sau:

 Bước 1: Tính đầu tư gộp - Đầu tư gộp chính là tích lũy tài sản theo giá cố định (số

liệu về tích lũy tài sản được trình bày trong niên giám thống kê) Đầu tư gộp tính theo giá

Trang 31

cố định bằng đầu tư gộp tính theo giá hiện hành chia cho chỉ số giá tài sản cố định (năm 1994=100)

 Bước 2: Tính trữ lượng vốn của năm gốc

Gọi C0 là giá trị trữ lượng vốn vào năm đầu tiên của giai đoạn nghiên cứu ( trong bài

là năm 2000)

C0 = C-1 + I0 – D-1 (*) với I là đầu tư gộp và D là khấu hao

Giả sử rằng tốc độ tăng trưởng tổng đầu tư gộp từ năm 2000 trở về trước bằng và tỷ

lệ khấu hao hàng năm là d (Một số nghiên cứu ở Việt Nam sử dụng tỷ lệ này bằng 5%)

Ta có:

C0 = C-1(1– d) + I0

Tương tự :

C-1 = C-2(1– d) + I0/(1+  )-1 hay (1– d)C-1 = C-2(1– d)2 + I0(1– d)/(1+  )-1

Tính cho đến C-, ta có:

C0 = C-1(1– d) + I0

(1– d)C-1 = C-2(1– d)2 + I0(1– d)/(1+  )-1 (1– d)2C-2 = C-3(1– d)3 + I0(1– d)2/(1+  )-2

(1– d)C- = C-(+1)(1– d)(+1) + I0(1– d)/(1+  )-

1

11

11

2 0

d d

d I

0 0

 Bước 3: Tính trữ lượng vốn của các năm còn lại bằng công thức sau:

Ct = Ct-1+It – D với D = d.Ct-1Yếu tố lao động (L): Lao động sử dụng trong nghiên cứu là số lao động đang làm

việc trong nền kinh tế Hậu Giang

Trang 32

Về tổng sản lượng Y: Sản lượng Y trong nghiên cứu là tổng giá trị tăng thêm (giá cố

định) của Hậu Giang giai đoạn 2000 – 2008

Tỷ phần thu nhập nhân tố

Các ước lượng về tỷ phần thu nhập của vốn và lao động về cơ bản có hai phương pháp Phương pháp thứ nhất là phương pháp hạch toán tăng trưởng, dựa vào số liệu hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Phương pháp thứ hai là phương pháp theo cách tiếp cận hồi quy, mỗi phương pháp điều có những những ưu khuyết điểm riêng

Theo phương pháp hạch toán thì gắn liền với giả định là tỷ phần thu nhập của vốn + tỷ phần thu nhập của lao động = 1, tức thu nhập theo quy mô không đổi, nếu nền kinh tế có thu nhập theo quy mô tăng (giảm) thì giả định trên sẽ không còn đúng nữa

Phương pháp theo cách tiếp cận hồi quy có một khuyết điểm là các quyền số (tỷ phần thu nhập của vốn và lao động) sẽ không thay đổi trong cả thời kỳ ước lượng Trong thực

tế tầm quan trọng của các đầu vào có thể thay đổi theo thời gian và việc ứng dụng phương pháp ước lượng này ở Việt Nam thu được các thông số của mô hình không sát thực nguyên nhân có thể do khâu hạch toán còn khiếm khuyết

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hạch toán để ước lượng tỷ phần thu nhập của vốn và lao động do thiếu số liệu để thực hiện phương pháp hồi qui (số liệu của Hậu Giang chỉ có sẵn từ năm 2000 trở lại đây) Trong mô hình Cobb-Douglass, α và (1- α ) chính là tỷ lệ đóng góp của lao động và vốn trong tổng sản phẩm trong nước, vì vậy có thể ước lượng chúng trước, sau đó ước lượng năng suất các yếu tố tổng hợp (A) Trên góc độ sản xuất, đóng góp của yếu tố lao động sống vào giá trị tăng thêm chính

là toàn bộ thu nhập của người công nhân dựa vào sản xuất (Labour Cost-LC) Vì vậy, ở phương pháp hạch toán, tỷ phần thu nhập của lao động được tính như sau:

 Tỷ phần thu nhập của lao động (α ) = Lương + bảo hiểm xã hội / Tổng giá trị tăng thêm (Y)

 Tỷ phần thu nhập của vốn = 1- tỷ phần của lao động

Để ước lượng tỷ phần của lao động trong tổng thu nhập chi trả cho nhân tố sản xuất,

ta bắt đầu bằng cách xây dựng các ước lượng cho thu nhập theo giờ lao động Sau đó dùng các số liệu về tiền lương này và các ước lượng về số giờ lao động chia theo ngành

để ước lượng thu nhập của người lao động và thu nhập ẩn ngầm của người thuê lao động

Trang 33

Để xác định tỷ trọng của lao động trong mỗi khu vực, ta nhân dữ liệu về tiền lương lao động theo khu vực được báo cáo trong tài khoản hạch toán quốc dân cho một cộng với ước lượng theo khu vực về tỷ lệ thu nhập lao động ẩn ngầm trên thu nhập lao động công khai Kết hợp các ước lượng về thu nhập công khai và thu nhập ẩn ngầm sẽ cho ước lượng thu nhập lao động theo ngành kinh tế Như vậy, đây sẽ là ước lượng về tỷ trọng của mỗi tiểu nhập lượng lao động trong tổng thu nhập chi trả cho nhân tố lao động theo khu vực Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kết quả có sẵn về tỷ phần thu nhập của vốn từ nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (Sources of Viet Nam’s Economic Growth và các ước lượng từ một số nghiên cứu trong nước khác) Để so sánh tỷ phần thu nhập của vốn, lao động của phương pháp hạch toán và cách tiếp cận hồi qui, tác giả cũng thực hiện hồi qui đối với hàm sản xuất Cobb-Douglas (Phụ lục 4)

Trang 34

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Hiện nay trong nước có khá nhiều nghiên cứu về đóng góp của các nhân tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, điển hình như các nghiên cứu của Trần Kim Chung (2002), Lê Đăng Doanh (2002), Trần Thọ Đạt (2004), Võ Văn Đức (2005), Cù Chí Lợi (2008), Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Nguyễn Xuân Thành (2002)… Tuy nhiên do sử dụng các phương pháp khác nhau (phương pháp hồi qui, phương pháp hạch toán tăng trưởng) nên các kết quả về đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là khác nhau ở các nghiên cứu này Trong phần này, tác giả sơ lược một vài nghiên cứu của các tác giả trên thuộc cả hai phương pháp tính toán tăng trưởng để có cái nhìn tổng quan về những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

3.1.1 Những nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận hồi quy

Đầu tiên là bài viết “Chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của Cù Chí Lợi

(2008), trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để xem xét mối tương quan giữa gia tăng về vốn, lao động và tăng trưởng đầu ra Hàm sản xuất Cobb-Douglas được triển khai dưới dạng Lôgarit: LnYt = β0 + αLnKt+ βLnLt+μt Trong

đó α là hệ số đóng góp của vốn và β là hệ số đóng góp của lao động µ là đại diện cho tổng năng suất nhân tố (TFP) Kết quả của nghiên cứu trên được trình bày trong bảng sau:

Bảng 1: Đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tốc độ tăng trưởng

của Việt Nam giai đoạn 1987-200

Đóng góp vào tăng trưởng của:

Chỉ tiêu

Giai đoạn

Tốc

độ tăng GDP

Tốc

độ tăng vốn

Trang 35

Kết quả tính toán cho thấy vai trò của yếu tố tổng năng suất nhân tố trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn vừa qua là khá thấp (khoảng 6% giai đoạn 1990-

2006 và 9,6% giai đoạn 2001-2006) Và việc gia tăng về vốn và lao động là những động lực chủ yếu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Ưu điểm của nghiên cứu trên là đã bốc tách được một cách tương đối sự đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn vừa qua Tuy nhiên do nhược điểm chung của cách tiếp cận hồi quy là tỷ phần thu nhập của vốn và lao động (α và β trong nghiên cứu) là không đổi trong suốt giai đoạn Nhưng thực tế tầm quan trọng của các yếu tố này là có thể thay đổi theo thời gian dẫn đến sự thiếu chính xác trong cách tiếp cận này, một nhược điểm nữa của nghiên cứu này là sử dụng yếu tố vốn là tổng vốn đầu tư của nền kinh tế và bỏ qua cả tỷ lệ khấu hao nên yếu tố K không thể hiện đúng vai trò của nó là trữ lượng vốn của nền kinh tế

Trong bài viết “Kinh tế Việt Nam qua các chỉ số phát triển và những tác động của quá trình hội nhập”, (Tạp chí phát triển kinh tế tháng 1/2009, trang 17) tác giả Nguyễn

Thị Cành cũng đã ước lượng tỷ phần thu nhập của vốn và lao động thông qua ước lượng

hệ số mũ của hàm sản xuất Cobb-Douglas dưới dạng logarit Kết quả của mô hình LnGDP = 1,35 + 0,83lnK + 0,27LnL (số liệu thống kê cho giai đoạn 1990-2008) Kết quả tính toán cho biết 1% tăng lên của GDP thì đóng góp của vốn là 73%, của lao động là 2,5% và của tổng năng suất nhân tố là 24,5%

Nghiên cứu tiếp theo sử dụng cách tiếp cận này là bài viết “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 15 năm (1991-2005)” của Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh Kết quả ước lượng

mô hình với hàm sản xuất Cobb-Douglas cho nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2004 cho thấy có khoảng hơn 90% tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế được giải thích bởi sự đóng góp của yếu tố vốn vật chất, vốn con người và số lượng lao động TFP chỉ đóng góp dưới 10% tốc độ tăng trưởng trong cả giai đoạn Ưu điểm của nghiên cứu này là đã đưa yếu tố vốn con người vào phân tích tăng trưởng và đo lường bằng phần trăm dân số từ 15-

19 tuổi đang học phổ thông cơ sở và phổ thông trung học, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi và

tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục so với GDP Vốn con người cũng là một trong những yếu

tố đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, điều này đã được chứng minh trong các

mô hình tăng trưởng nội sinh Vì vậy đo lường mức độ đóng góp của nhân tố này sẽ cho

Trang 36

ta một cái nhìn đúng đắn hơn về các nhân tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên nhược điểm của nghiên cứu này cũng xuất phát chính từ việc đo lường vốn con người Đây là chỉ tiêu rất trừu tượng và không có một quy tắc nào để đo lường nó Vì vậy việc đưa nhân tố này vào mô hình tính toán tăng trưởng có thể sẽ làm giảm sự đóng góp của tổng năng suất nhân tố TFP

3.1.2 Những nghiên cứu sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng:

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành (năm 2002) cho kết quả được trình bày trong bảng sau:

Bảng 2: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc độ

tăng trưởng GDP của Việt Nam trong 4 giai đoạn

(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, Fullbright Economics Teaching Program 2002-2003)

Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng để tính toán đóng góp của vốn vật chất (đo lường bằng trữ lượng vốn trong nền kinh tế với tỷ lệ khấu hao là 3%), lao động (đo lường bằng số lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế) và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc độ tăng trưởng GDP Nghiên cứu cho thấy đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP của Việt Nam trong cả 3 giai đoạn nghiên cứu là vốn vật chất, yếu tố TFP đã có tốc độ tăng trưởng âm trong giai đoạn 1986-1990 nên hầu như không đóng góp vào tăng trưởng GDP của giai đoạn này, tuy đóng góp của TFP có cải thiện trong giai đoạn 1991-1995 (đóng góp 34% trong tăng trưởng GDP) nhưng ở giai đoạn còn lại từ 1996-2000 đóng góp này là không đáng kể (đóng góp 7%

Giai đoạn 1986-1990 1991-1995 1996-2000 1986-2000

Tăng trưởng GDP (%/năm) 4,45 8,18 6,95 6,52 Đóng góp của vốn (%/năm) 4,58 3,90 5,12 4,53 Đóng góp của lao động (%/năm) 1,89 1,54 1,34 1,60 Tăng trưởng TFP (%/năm) -2,02 2,74 0,48 0,39

Tỷ trọng đóng góp trong tăng trưởng (%)

Trang 37

Chỉ tiêu

cho tăng trưởng GDP) Cả giai đoạn 1986-2000 TFP chỉ đóng góp 6% vào tăng trưởng GDP

Một nghiên cứu khác sử dụng phương pháp này là nghiên cứu của Trần Thọ Đạt

(2005, Sources of Viet Nam’s Economic Growth) Kết quả tính toán tăng trưởng của Trần Thọ Đạt được trình bày dưới đây:

Bảng 3: Đóng góp của vốn và lao động và tổng năng suất nhân tố (TFP) vào tốc

độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1986-2004

Năm

Tỷ phần thu nhập của vốn

Đóng góp của K (%)

Đóng góp của L (%)

Đóng góp của TFP(%)

Trang 38

Theo cách tính toán của tác giả thì tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1986-2004 (trừ năm 2003) có sự đóng góp khá cao của yếu tố TFP Khi so sánh kết quả nghiên cứu của hai tác giả Trần Thọ Đạt và Nguyễn Xuân Thành ta thấy có sự khác nhau khá lớn về đóng góp của TFP vào tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn 1986-2000

Cụ thể là đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP trong nghiên cứu của tác giả Trần Thọ Đạt luôn cao hơn cách tính toán của tác giả Nguyễn Xuân Thành Lý do có thể hiểu là do cách lựa chọn các chỉ tiêu đo lường cho K trong hàm sản xuất Cobb-Douglas là khác nhau Nếu như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thành sử dụng trữ lượng vốn để đại diện cho yếu tố K với tỷ lệ khấu hao là 3% thì Trần Thọ Đạt sử dụng chỉ tiêu tài sản tích lũy với tỷ lệ khấu hao là 5%, điều này dẫn đến tốc độ tăng trưởng cũng như đóng góp của vốn vào tăng trưởng GDP là khác nhau ở hai nghiên cứu Một yếu tố nữa là nghiên cứu của tác giả Trần Thọ Đạt đã loại trừ yếu tố chu kỳ kinh doanh khi tính toán tăng trưởng bằng cách ước lượng GDP tiềm năng của nền kinh tế, còn thao tác này không có trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thành

Tuy nhiên cũng như trong phần phương pháp luận đã trình bày nhược điểm của cách tiếp cận bằng phương pháp hạch toán là nền kinh tế được giả định là có thu nhập theo qui

mô không đổi, thị trường phải là cạnh tranh hoàn hảo và giá nhân tố phải bằng sản phẩm cận biên của nhân tố

Qua việc phân tích những nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau trong tính toán tăng trưởng, ta thấy một vấn đề là kết quả của những phân tích tăng trưởng sẽ khác nhau tùy thuộc vào sự chủ quan của mỗi nhà nghiên cứu trong việc lựa chọn phương pháp tính toán cũng như cách chọn những chỉ tiêu đo lường cho các biến số trong hàm sản xuất Cobb-Douglas

3.1 CÁC NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Một ứng dụng của phân tích tăng trưởng là việc giải thích sự yếu kém trong phát triển kinh tế của các nước Châu Phi và Châu Mỹ Latinh Bảng 4 là kết quả tính toán tăng trưởng của tác giả Senhadji về đóng góp của vốn vật chất, vốn con người và TFP vào tăng trưởng GDP Kết quả từ bảng trên cho ta thấy đóng góp của TFP, yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế, là rất bấp bênh ở khu vực Châu Phi và Châu Mỹ Latinh Đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế từ năm 1960-1996 luôn mang giá trị âm (trừ

Trang 39

giai đoạn 1960-1973), điều này hàm ý chất lượng tăng trưởng kinh tế khu vực này là thấp

và không bền vững

Bảng 4: Nguồn lực tăng trưởng của Châu Phi và Châu Mỹ Latinh

giai đoạn 1960-1996 Chỉ tiêu

Giai đoạn

Tốc độ tăng trưởng GDP

Đóng góp của vốn vật chất

Đóng góp của vốn con người

Đóng góp của TFP Châu phi

đề và vị trí địa lý và đa sắc tộc ở đây

Một ứng dụng nổi tiếng khác của phương pháp tính toán tăng trưởng là việc giải thích sự tăng trưởng “thần kỳ” của Đông Á kể từ năm 1950 Trong một nghiên cứu của mình Young (1995) đã lập luận rằng: tốc độ tăng trưởng cao của Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan có được là nhờ gia tăng đầu tư, tăng số lượng cũng như trình độ lao động chứ không phải là sự tăng trưởng TFP Một nghiên cứu khác của Collins & Bosworth (1996) cũng cho thấy sự tăng trưởng khiêm tốn của TFP ở các nền kinh tế Đông

Á (bảng 5), điều này chứng tỏ không có gì là thần kỳ trong sự tăng trưởng ở Đông Á theo quan điểm của Young Tuy nhiên một số tác giả như Howard Pack, Jonh Page và Michael

Trang 40

Sarel đã nghi ngờ những tính toán của Young và cho rằng tăng trưởng của TFP phải cao hơn trong nghiên cứu của Young Các tác giả này đã tính toán lại, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng TFP trong nghiên cứu của Sarel là lớn hơn trong các nghiên cứu trước đó

Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng TFP của Các nước Đông Á giai đoạn 1966-1996

(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, Fulbright Economics Teaching Program 2002-03)

Sự khác nhau về tăng trưởng TFP của các nước Đông Á giữa nghiên cứu của Young

và Sarel xuất phát từ cách đo lường khác nhau trong tỷ phần thu nhập của vốn và lao động Trong nghiên cứu của Sarel thì tỷ phần thu nhập của vốn ở các nước Đông Á nằm trong khoảng từ 0,28 (Thái Lan) đến 0,34 (Singapore) Trong khi Young lại tính toán tỷ phần thu nhập của vốn ở Singapore là 0,5

Kết quả của phần đánh giá tổng quan các tính toán tăng trưởng này cho thấy: không có

sự đồng thuận về tầm quan trọng tương đối của tăng trưởng năng suất nhân tố với tăng trưởng của các nhân tố sản xuất ở Đông Á đầu thập kỷ 60 đến những năm 90 Nhìn chung thì còn khá nhiều tranh cãi về mặt phương pháp luận trong các nghiên cứu tăng trưởng

Ngày đăng: 26/03/2018, 01:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w