Vấn đề đặt ra hiện nay cho ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung là làm thế nào để giữ được độ màu mỡ của đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho người nông
Trang 1SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA
MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 LÚA – 1 ĐẬU VỚI
MÔ HÌNH LÚA 3 VỤ Ở HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG LIÊU BÍCH HẢO
Mã số sinh viên: 4066199
Lớp: Kinh tế học 2 Khóa: 32
Cần Thơ - 2010
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Qua bốn năm học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở trường nhờ có sự chỉ dạy tận tình của Quý Thầy Cô trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là Quý Thầy Cô Khoa Kinh Tế - Quản Trị Kinh Doanh đã giúp em có thêm nhiều kiến thức và những hiểu biết sâu sắc trong học tập cũng như trong thực tiễn hàng ngày Và hôm nay khi hoàn thành bài luận văn này em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh Trường Đại Học Cần Thơ Cám ơn Quý Thầy Cô khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh đã truyền đạt cho em những kiến thức, những kinh nghiệm thực tế quý báu trong những năm học tập tại trường, để từ đó em có thể vận dụng những kiến thức ấy vào bài luận văn của mình
- Lòng biết ơn vô hạn xin gửi đến Cô Nguyễn Thị Kim Phượng, tuy bận nhiều công việc nhưng Cô đã trực tiếp hướng dẫn em một cách tận tình, giải đáp những khó khăn, vướng mắc giúp em hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất
- Các Cô Chú, Anh Chị đang công tác tại Trạm khuyến nông, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trà Ôn, đặc biệt là chú Danh và chú Phúc
đã cung cấp cho em những số liệu và tài liệu có liên quan đến đề tài mà em đang nghiên cứu, đã tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu
- Các Cô, các Bác nông dân đã không ngần ngại cung cấp cho em những thông tin vô cùng quí báu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và hiểu biết thực tế của em còn hạn chế nên bài luận văn tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong Thầy cô góp ý để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, em xin kính chúc Quý Thầy, Cô cùng các Cô, Chú được nhiều sức khoẻ trong cuộc sống và luôn thành công trong công việc của mình
Cần Thơ, ngày tháng… năm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với những
đề tài nghiên cứu khoa học trước đây
Cần Thơ, ngày tháng… năm
Sinh viên thực hiện
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Ngày…… tháng… năm………
Thủ trưởng đơn vị
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
- Họ và tên giáo viên hướng dẫn:
- Học vị:
- Chuyên ngành:
- Cơ quan công tác:
- Họ và tên sinh viên: Liêu Bích Hảo
- Mã số sinh viên: 4066199
- Chuyên ngành: Kinh tế học
- Tên đề tài: “So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh 2 lúa – 1 đậu với mô hình lúa 3 vụ ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”
NỘI DUNG NHẬN XÉT 1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:
2 Hình thức trình bày:
3 Ý nghĩa khoa học thực tiễn:
4 Độ tin cậy của số liệu:
5 Nội dung và kết quả đạt được:
6 Nhận xét khác:
7 Kết luận:
Cần Thơ, ngày tháng… năm
Giáo viên hướng dẫn
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày tháng… năm
Giáo viên phản biện
Trang 7MỤC LỤC
- -
Trang CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Giả thuyết cần kiểm định 2
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Phạm vi về không gian 3
1.4.2 Phạm vi về thời gian 3
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5
2.1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 5
2.1.2 Các yếu tố nguồn lực được sử dụng trong nông nghiệp 5
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế của sản xuất cây lương thực 5
2.1.4 Một số lý thuyết về độc canh và luân canh 6
2.1.5 Hiệu quả kinh tế và một số chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả kinh tế 8
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 9
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 9
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TRÀ ÔN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 12
3.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
Trang 83.1.1 Tổ chức hành chính 12
3.1.2 Địa hình 12
3.1.3 Khí hậu - Thủy văn 13
3.1.4 Kinh tế - Nông sản 14
3.2.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TRÀ ÔN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 14
3.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn năm 2007 14
3.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn năm 2008 16
3.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn năm 2009 17
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA 2 MÔ HÌNH: 3 VỤ LÚA VÀ 2 VỤ LÚA - 1 VỤ ĐẬU 20
4.1 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH ĐỘC CANH LÚA 3 VỤ Ở HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG TRONG NĂM 2009 20
4.1.1 Mô tả tình hình sản xuất của mẫu điều tra 20
4.1.2 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Đông xuân 21
4.1.3 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Hè thu 25
4.1.4 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Thu đông 28
4.1.5 Phân tích kết quả sản xuất của cả mô hình 33
4.2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 LÚA - 1 ĐẬU Ở HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG NĂM 2009 33
4.2.1 Mô tả tình hình sản xuất của mẫu điều tra 33
4.2.2 Phân tích kết quả sản xuất của vụ lúa Đông xuân 34
4.2.3 Phân tích kết quả sản xuất của vụ đậu Xuân hè 37
4.2.4 Phân tích kết quả sản xuất của vụ lúa Hè thu 41
4.2.5 Phân tích kết quả sản xuất của cả mô hình 45
4.3 SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ LÚA - 1 VỤ ĐẬU VỚI MÔ HÌNH ĐỘC CANH LÚA 3 VỤ 46
4.3.1 So sánh các chỉ tiêu kinh tế của 2 mô hình 46
4.3.2 So sánh các tỷ số tài chính của 2 mô hình 47
4.3.3 So sánh hiệu quả về môi trường 47
4.4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP RÒNG CỦA MÔ HÌNH 2 LÚA – 1 ĐẬU 48
Trang 94.4.1 Xây dựng giả thuyết để lập mô hình hồi qui đa biến 48
4.2.2 Chạy hồi qui đa biến OLS và nhận xét kết quả mô hình hồi qui 49
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ LÚA – 1 VỤ ĐẬU XANH Ở HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG 53
5.1 THUẬN LỢI CỦA VIỆC SẢN XUẤT THEO MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ LÚA – 1 VỤ ĐẬU XANH 53
5.2 KHÓ KHĂN VÀ RỦI RO CỦA VIỆC SẢN XUẤT THEO MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ LÚA – 1 VỤ ĐẬU XANH 55
5.2.1 Khó khăn 55
5.2.2 Rủi ro 55
5.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ ĐƯỢC ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 LÚA – 1 ĐẬU XANH Ở HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG 56
5.3.1 Về hệ thống thủy lợi 56
5.3.2 Hệ thống giao thông 57
5.3.3 Thị trường các yếu tố đầu vào 57
5.3.4 Thị trường đầu ra 58
5.3.5 Công tác khuyến nông 58
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
6.1 KẾT LUẬN 59
6.2 KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 63
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1: Kết quả thống kê mô tả về một số thông tin chung của nông hộ sản xuất theo mô hình lúa 3 vụ……… 20 Bảng 2: Cơ cấu chi phí sản xuất của vụ lúa Đông xuân (mô hình lúa 3 vụ)… 21 Bảng 3: Kết quả sản xuất của vụ Đông xuân (mô hình lúa 3 vụ)………24 Bảng 4: Cơ cấu chi phí sản xuất của vụ lúa Hè thu (mô hình lúa 3 vụ)……… 25 Bảng 5: Kết quả sản xuất của vụ Hè thu (mô hình lúa 3 vụ)……… 27 Bảng 6: Cơ cấu chi phí sản xuất của vụ Thu đông (mô hình lúa 3 vụ)……… 28 Bảng 7: Kết quả sản xuất của vụ Thu đông (mô hình lúa 3 vụ)……… 30 Bảng 8: Các chỉ tiêu kinh tế của các vụ trong năm (mô hình lúa 3 vụ)……… 31 Bảng 9: Kết quả sản xuất của mô hình độc canh lúa 3 vụ………33 Bảng 10: Kết quả thống kê mô tả về một số thông tin chung của nông hộ sản xuất theo mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh……… 33 Bảng 11: Cơ cấu chi phí sản xuất của vụ Đông xuân (mô hình 2 lúa – 1 đậu)…35 Bảng 12: Kết quả sản xuất vụ lúa Đông xuân (mô hình 2 lúa – 1 đậu)…………37 Bảng 13: Cơ cấu chi phí sản xuất của vụ đậu Xuân hè (mô hình 2 lúa – 1 đậu) 38 Bảng 14: Kết quả sản xuất của vụ đậu Xuân hè (mô hình 2 lúa – 1 đậu)……….40 Bảng 15: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ lúa Hè thu (mô hình 2 lúa – 1 đậu)….… 41 Bảng 16: Kết quả sản xuất của vụ lúa Hè thu (mô hình 2 lúa – 1 đậu)…………43 Bảng 17: Các chỉ tiêu kinh tế của các vụ trong năm (mô hình 2 lúa – 1đậu)… 44 Bảng 18: Kết quả sản xuất của mô hình luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu……… 45 Bảng 19: So sánh các chỉ tiêu kinh tế của hai mô hình……….… 46 Bảng 20: So sánh các tỷ số tài chính của hai mô hình……….47
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 1: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ Đông xuân 24 Hình 2: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ Hè thu……….27 Hình 3: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ Thu đông……… 30 Hình 4: Các chỉ tiêu kinh tế của 3 vụ sản xuất trong năm (mô hình lúa 3 vụ) 32 Hình 5: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ lúa Đông xuân………36 Hình 6: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ đậu Xuân hè………40 Hình 7: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ lúa Hè thu……… 43 Hình 8: Các chỉ tiêu kinh tế của 3 vụ sản xuất trong năm (2 lúa – 1 đậu)…… 45
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là một trong những yếu tố quan trọng nhất, là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Đất đai có màu mỡ thì cây cối mới tốt tươi Thế nhưng trong quá trình canh tác, con người đã có những tác động làm mất đi độ màu mỡ vốn có của đất Thêm vào đó đất đai lại là nguồn tài nguyên có hạn, diện tích đất nông nghiệp trong những năm gần đây đã giảm đáng
kể do Nhà nước chuyển sang sử dụng cho mục đích kinh tế khác Vấn đề đặt ra hiện nay cho ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung là làm thế nào để giữ được độ màu mỡ của đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho người nông dân trên một đơn vị diện tích đất canh tác và đảm bảo tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp
Và một trong những giải pháp mà ngành nông nghiệp đưa ra để giải quyết vấn đề trên là kêu gọi nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tức không nên độc canh sản xuất một loại cây trồng, vật nuôi mà phải biết luân canh để đa dạng hóa sản phẩm hàng hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Chẳng hạn như hạn chế trồng 3 vụ lúa trong năm, thay vào đó bằng cơ cấu thích hợp: 2 lúa – 1 màu hoặc 2 lúa – 1 tôm cá Ngoài ra, Bộ nông nghiệp còn đề xuất các tỉnh sản xuất lúa năng suất thấp nên chuyển hẳn sang nuôi trồng cây, con khác có hiệu quả kinh tế cao hơn Từ đó ổn định quỹ đất để đầu tư thâm canh, tăng năng suất,
hạ giá thành, tăng chất lượng gạo
Huyện Trà Ôn, một trong số các huyện của tỉnh Vĩnh Long nơi có phần lớn đất đai là đất nông nghiệp, người dân đa số sống bằng nghề nông, và chủ yếu
là trồng lúa Có nhiều hộ sản xuất từ 3 – 4 vụ lúa trong năm làm cho đất đai trở nên cằn cỏi Mặt khác việc thâm canh lúa 3 vụ cũng góp phần làm cho sâu bệnh phát triển liên tục, khiến cho vụ mùa sau dễ bị sâu rầy, dịch bệnh phá hoại Nhận thức được nguy cơ đó, một số hộ đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ việc độc canh 3 vụ lúa trong năm sang luân canh 2 vụ lúa kết hợp 1 vụ màu Để đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kết hợp 2 vụ lúa – 1 vụ màu so với độc canh lúa 3 vụ, tìm hiểu những yếu tố tác động đến thu nhập ròng của các nông hộ sản
Trang 13xuất theo mô hình 2 lúa – 1 đậu, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình luân canh 2 lúa – 1 đậu ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long nên
em quyết định chọn đề tài: “So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh
2 lúa – 1 đậu với mô hình lúa 3 vụ ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1.2.1 Mục tiêu chung:
Phân tích và so sánh hiệu quả kinh tế của các nông hộ sản xuất theo mô hình luân canh 2 vụ lúa - 1 vụ đậu xanh với các nông hộ sản xuất theo mô hình độc canh lúa 3 vụ ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long trong năm 2009 Bên cạnh đó
đề tài còn nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của
mô hình luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh Để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế cho mô hình sản xuất này ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
- Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình độc canh lúa 3 vụ
- Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình luân canh 2 lúa - 1 đậu xanh
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ròng của các nông hộ sản xuất theo mô hình luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất luân canh
2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh ở xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh ở xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1.3 GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Giả thuyết cần kiểm định:
Giữa hai mô hình sản xuất: độc canh lúa 3 vụ và luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh thì giả thuyết cần kiểm định là:
Trang 14H0: Không có sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa 2 mô hình sản xuất
H1: Có sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa hai mô hình sản xuất
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu:
- Mô hình sản xuất lúa 3 vụ mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào?
- Mô hình sản xuất 2 vụ lúa – 1 vụ đậu mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào?
- Chi phí sản xuất, thu nhập, thu nhập ròng giữa hai mô hình có giống nhau không?
- Có những thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình sản xuất luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về không gian:
Đề tài nghiên cứu tập trung vào các nông hộ sản xuất theo 2 mô hình: độc canh lúa 3 vụ và luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh ở 2 xã Thiện Mỹ và Tích Thiện thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1.4.2 Phạm vi về thời gian:
Đề tài tập trung phân tích và so sánh các dữ liệu sơ cấp được thu thập từ ngày 13/03/2010 đến 28/03/2010 về hiệu quả kinh tế của hai mô hình sản xuất: lúa 3 vụ và 2 vụ lúa - 1 vụ đậu
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là những hộ nông dân sản xuất theo mô hình 3 vụ lúa và mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU THAM KHẢO
- “So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh 2 lúa – 1 cá với mô
hình độc canh lúa 3 vụ ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ” (2008) của Lê Anh Tuấn Đề tài tìm hiểu thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, phân tích và so sánh hiệu quả kinh tế của mô hình 2 lúa – 1 cá với mô hình lúa 3 vụ Đề tài đã đánh giá một cách tổng quát hiệu quả đạt được từ sản xuất theo mô hình 3 vụ lúa chuyển sang sản xuất theo
mô hình 2 lúa – 1 cá, giúp nông dân huyện Cờ Đỏ lựa chọn mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, phù hợp với năng lực và mạnh dạng chuyển dịch cơ cấu, phá thế độc canh cây lúa góp phần tăng thu nhập cho nông dân
Trang 15- “Ước lượng hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng cây đậu nành ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” (2004) của Phạm Hải Bửu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu về tình hình sản xuất đậu nành ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, ước lượng hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng đậu nành và đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động trồng cây đậu nành ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
- “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cây cam sành Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long” (2008) của Phan Thị Cẩm Tú Đề tài đi vào phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ cam sành, những khó khăn của hộ nông dân trồng cam sành, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao khả năng cạnh tranh của cây cam sành trên thị trường nông sản
Trang 16CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân:
Vai trò của sản xuất nông nghiệp thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người
- Sản phẩm nông nghiệp là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp
- Cung cấp lao động cho phát triển các ngành phi nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa
- Cung cấp một phần vốn tích lũy cho phát triển kinh tế
- Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp
- Góp phần tăng thu ngoại tệ nhờ xuất khẩu nông sản
2.1.2 Các yếu tố nguồn lực được sử dụng trong nông nghiệp:
- Sử dụng yếu tố nguồn lực ruộng đất trong nông nghiệp Trong nông
nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tư liệu sản xuất trong nông nghiệp Không những thế, ruộng đất còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được
- Sử dụng yếu tố nguồn nhân lực trong nông nghiệp Nguồn nhân lực trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động
- Sử dụng nguồn lực vốn trong nông nghiệp Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang phạm vi lưu thông và lại trở về sản xuất Hình thức của vốn sản xuất cũng thay đổi từ hình thức tiền tệ sang hình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho nhân công đến sản phẩm hàng hóa và trở lại hình thức tiền tệ Như vậy vốn sản xuất trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
2.1.3 Ý nghĩa kinh tế của sản xuất cây lương thực
Cây lương thực chính là những cây có hạt, có tác dụng nuôi sống con người và gia súc Ở nước ta, cây lương thực chính gồm: lúa, ngô, đậu…trong đó
Trang 17lúa là cây lương thực quan trọng nhất Sản xuất lương thực là ngành chủ yếu của
sản xuất nông nghiệp, điều quan trọng bậc nhất đảm bảo sự hùng cường về mặt
kinh tế của đất nước Vì vậy phát triển mạnh sản xuất lương thực, giải quyết tốt
vấn đề lương thực có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế cũng như đối với nông
nghiệp Lương thực là bộ phận chủ yếu cấu thành trong nguồn thức ăn hằng ngày
của con người Nó thỏa mãn nhu cầu về năng lương cho cơ thể con người với giá
tương đối rẻ Nó là loại sản phẩm thiết yếu của đời sống con người và không thể
thay thế được
Sản xuất lương thực là cơ sở để sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế
quốc dân khác Tốc độ phát triển và quan hệ tỷ lệ giữa các ngành sản xuất vật
chất trong đó có nông nghiệp, trong chừng mực nhất định phụ thuộc vào sự phát
triển và năng suất lao động của ngành sản xuất lương thực
Phát triển sản xuất lương thực có ý nghĩa to lớn đối với việc củng cố và
tăng cường khả năng quốc phòng, tăng nguồn dự trữ lương thực quốc gia để
phòng chống thiên tai
2.1.4 Một số lý thuyết về độc canh và luân canh
2.1.4.1 Độc canh:
Độc canh là chỉ trồng một hoặc rất ít loại cây trên một khu đất Những
hậu quả chủ yếu của việc trồng độc canh:
- Sâu bệnh dễ xâm hại khi chỉ gieo trồng một loại cây
- Rủi ro kinh tế lớn vì khi chỉ trồng một loại cây nếu sâu bệnh, thiên tai
phá hoại sẽ thất bại hoàn toàn Ngay cả khi được mùa, loại cây trồng đó thường
mất giá do cung thường lớn hơn cầu Độc canh làm cho kinh tế hộ bấp bênh
2.1.4.2 Luân canh:
a Khái niệm:
Luân canh là sự luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian và thời
gian trong cùng một chu kỳ nhất định
- Sự thay đổi cây trồng theo thời gian: Trên cùng một khu đất, thời vụ
khác nhau trồng các loại cây khác nhau
- Thay đổi cây trồng theo không gian: Cùng một loài cây trồng, cùng thời
vụ nhưng các năm khác nhau trồng trên mảnh đất khác nhau
Trang 18b Tác dụng của luân canh:
- Luân canh có tác dụng điều hòa các chất dinh dưỡng trong đất Mỗi loại
cây trồng yêu cầu lượng dinh dưỡng khác nhau Trồng độc canh một loại cây dẫn đến kiệt quệ một loại chất dinh dưỡng nào đó trong đất, còn luân canh các loại cây khác nhau sử dụng dinh dưỡng khác nhau thì chất dinh dưỡng trong đất sẽ được điều hòa
- Luân canh có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất Mỗi loại cây do đặc
điểm sinh học của rễ, do yêu cầu về môi trường sống và các biện pháp kỹ thuật khác nhau (bón phân, tưới nước, làm đất…), nên trong quá trình sinh trưởng đã tác động đến đất làm cho môi trường đất chặt, xốp, tốt, xấu không giống nhau
Sự thay đổi giữa cây trồng cạn với cây trồng nước làm thay đổi môi trường đất, thay đổi tính chất lý hóa trong đất và có tác dụng cải tạo tính chất của đất
- Luân canh chống xói mòn đất Ở những vùng đất dốc, hằng năm đất bị
xói mòn khá nhiều, độ phì trong đất giảm mạnh, năng suất cây trồng thấp Luân canh là biện pháp chống xói mòn có hiệu quả bởi nếu càng độc canh thì đất càng
bị xói mòn và năng suất cây trồng giảm
- Luân canh giúp phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại Sâu bệnh hại cây trồng có
tính chuyên tính, tức là chỉ hại một hoặc một số loại cây này nhưng lại không gây hại đối với các loại cây trồng khác Khi luân canh, môi trường thay đổi, cây trồng thay đổi, sâu bệnh giảm Cùng với cây trồng còn có cỏ dại chung sống, trên đồng ruộng cỏ dại hại cây trồng nào thì chúng có những đặc điểm giống cây trồng đó
Vì vậy khi thay đổi cây trồng, thay đổi môi trường đất, cỏ dại sẽ hạn chế hay bị tiêu diệt
- Luân canh giúp tăng năng suất cây trồng Vì luân canh có tác dụng
nhiều mặt nên trong luân canh cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao
- Điều hòa lao động và vật tư nông nghiệp Một trong những đặc điểm của
ngành trồng trọt là tính thời vụ cao Mỗi loại cây trồng đòi hỏi phải được gieo trồng đúng thời vụ và thu hoạch kịp thời Vì vậy, độc canh một loại cây trồng thì đến khi gieo trồng hoặc thu hoạch nhu cầu về lao động tăng nhanh, gây căng thẳng về lao động Trong thời gian luân canh, nếu biết cách bố trí nhịp nhàng giữa tăng vụ và chuyển vụ sẽ có tác dụng điều hòa lao động và điều hòa vật tư
Trang 19nông nghiệp tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế, năng suất lao động và hiệu
quả sử dụng vật tư nông nghiệp
2.1.5 Hiệu quả kinh tế và một số chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả kinh tế
2.1.5.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế:
Xét góc độ thuật ngữ chuyên môn, hiệu quả theo nghĩa kinh tế nó là mối
quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo chi phí gọi là hiệu quả kinh tế
Tiêu chí về hiệu quả thực ra là giá trị Có nghĩa là khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì sẽ không có hiệu quả Hay hiệu quả kinh tế là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa kết quả lượng sản phẩm
sản xuất được với lượng vốn bỏ ra
2.1.5.2 Một số chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả kinh tế:
a Các chỉ tiêu kinh tế:
- Chi phí sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của nông hộ trong một thời kỳ nhất định Chi phí sản xuất
bao gồm chi phí sản xuất cố định và chi phí sản xuất biến đổi
+ Chi phí sản xuất cố định: là chi phí không thay đổi theo mức sản lượng, là khoản phải chi ngay cả khi không sản xuất sản phẩm
+ Chi phí biến đổi: là chi phí thay đổi theo sản lượng đầu ra
- Doanh thu: là toàn bộ thu nhập có được của nông hộ từ hoạt động sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm Doanh thu được tính như sau:
Doanh thu = Sản lượng x Giá bán x Diện tích đất gieo trồng
- Lợi nhuận (thu nhập ròng): là khoản tiền dôi ra sau khi trừ đi các khoản chi phí
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
b Các tỷ số tài chính:
- Thu nhập /Chi phí: là tỷ số được tính bằng cách lấy tổng thu nhập chia tổng chi phí Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí có thể tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập
- Thu nhập ròng /Chi phí: là tỷ số được tính bằng cách lấy tổng thu nhập ròng chia tổng chi phí Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí sẽ tạo ra bao nhiêu
Trang 20đồng thu nhập ròng
- Thu nhập ròng / Ngày công lao động: là tỷ số được tính bằng cách lấy tổng thu nhập ròng chia tổng số ngày công lao động Chỉ tiêu này cho biết một ngày công lao động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập ròng
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài nghiên cứu sử dụng cả hai loại số liệu: thứ cấp và sơ cấp
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các báo cáo hằng năm, tài liệu do cơ quan thực tập cung cấp; từ báo, tạp chí, internet và các tài liệu có liên quan
- Số liệu sơ cấp: Được thu thập bằng cách điều tra chọn mẫu, phỏng vấn trực tiếp người nông dân ở xã Thiện Mỹ và xã Tích Thiện (huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long) thông qua bảng câu hỏi được thiết lập sẵn Thông tin được thu thập bao gồm thông tin về tình hình sản xuất của nông hộ, chi phí sản xuất, hình thức tiêu thụ, năng suất, sản lượng…
Số mẫu điều tra là 60 mẫu Trong đó, 30 mẫu điều tra về mô hình sản xuất độc canh lúa 3 vụ ở xã Thiện Mỹ và 30 mẫu điều tra về mô hình sản xuất luân canh 2 vụ lúa – 1 vụ đậu xanh ở xã Tích Thiện (huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long)
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
a Phương pháp thống kê mô tả:
Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày
số liệu được ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập
Cụ thể trong bài nghiên cứu này, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng
để thống kê, định lượng các yếu tố đầu vào ở mỗi mô hình sản xuất (diện tích sản xuất, vốn sản xuất, số năm kinh nghiệm, số lao động gia đình) Bên cạnh đó em cũng sử dụng phương pháp tính bình quân gia quyền để xác định được các chỉ tiêu trung bình như: chi phí, thu nhập, năng suất,… của các mẫu điều tra
b Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu giữa các năm để thấy được sự biến động của các số liệu về tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Trà Ôn
- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế
Trang 21- So sánh bằng số tương đối là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế
T =
1
1 2
- T1: số liệu năm trước
- T2: số liệu năm sau
- T: tốc độ tăng trưởng của năm sau so với năm trước (%)
c Sử dụng phần mềm Excel và phần mềm Stata để xử lý và phân tích số liệu Trong đó, phần mềm Excel để xử lí số liệu sơ cấp và thứ cấp, phân tích thống kê mô tả; phần mềm Stata để chạy mô hình hồi qui tương quan Trong bài nghiên cứu này phương pháp để chạy mô hình và xác định các biến sẽ được liệt
kê trước Mô hình hồi qui tương quan sẽ được dùng để khảo sát sự tác động của các biến độc lập lên thu nhập của các nông hộ sản xuất theo mô hình 2 vụ lúa – 1
vụ đậu xanh
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi qui tuyến tính là để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến một chỉ tiêu quan trọng nào đó Chọn những nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa, từ đó phát huy nhân tố ảnh hưởng tốt, khắc phục nhân tố ảnh hưởng xấu
Phương trình hồi qui tuyến tính có dạng:
x2: Chi phí nông dược, đơn vị tính cho biến này là nghìn đồng
ß2: Tham số cho biết mức độ ảnh hưởng của chi phí nông dược đến thu nhập ròng của nông hộ
Trang 22x3: Chi phí lao động thuê ngoài, đơn vị tính cho biến này là nghìn đồng
ß3: Tham số cho biết mức độ ảnh hưởng của chi phí lao động đến thu nhập ròng của nông hộ
x4: Chi phí nhiên liệu, đơn vị tính cho biến này là nghìn đồng
ß4: Tham số cho biết mức độ ảnh hưởng của chi phí nhiên liệu đến thu nhập ròng của nông hộ
Các tham số ß0, ß1, ß2, ß3, ß4 sẽ được ước lượng bằng phần mềm Stata
Phải chọn biến đưa vào mô hình sao cho phù hợp vì rất dễ có sự tương quan giữa các biến, phương sai sai số thay đổi xảy ra sẽ làm cho mô hình không có ý nghĩa trong thực tế Vì vậy mà sau khi chạy mô hình hồi qui tương quan em sẽ kiểm tra đa cộng tuyến trong mô hình, dùng kiểm định White để kiểm tra mô hình có phương sai sai số thay đổi hay không, và kiểm định d của Durbin – Watson để kiểm tra mô hình có tự tương quan hay không
Trang 23CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TRÀ ÔN
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
3.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Trà Ôn là một huyện của Tỉnh Vĩnh Long, nằm về hướng đông, cách
thành phố Vĩnh Long khoảng 40 km Diện tích tự nhiên là 265,3 km² Phía đông giáp huyện Vũng Liêm, tây giáp huyện Bình Minh, nam giáp huyện Cầu Kè và tỉnh Sóc Trăng, bắc giáp huyện Tam Bình qua sông Măng Thít
Trà Ôn nằm cặp sông Hậu, cách Cần Thơ 17 km, trải dài theo sông Măng Thít (sông Măng Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu) nằm trên thủy lộ quốc gia huyết mạch giữa đồng bằng nối với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ
3.1.1 Tổ chức hành chính
Huyện Trà Ôn có 14 xã, thị trấn đó là thị trấn Trà Ôn và các xã: Thiện Mỹ, Tân Mỹ, Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Thới Hoà, Trà Côn, Nhơn Bình, Hoà Bình, Xuân Hiệp và hai xã cù lao Lục Sĩ Thành, Phú Thành
3.1.2 Địa hình
Trà Ôn có địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình cao từ sông Hậu và sông Trà Ôn - Mang Thít thấp dần về phía đông bắc, cao trình biến thiên từ 1,25 - 0,5 m Vùng có cao trình từ 1 - 1,25 m gồm các xã ven sông Hậu và sông Trà Ôn
- Mang Thít như Tích Thiện, Thiện Mỹ, thị trấn Trà Ôn và Tân Mỹ Vùng có cao trình từ 0,75 - 1 m gồm các xã Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn Vùng có cao trình từ 0,5 - 0,75 m gồm các xã Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa
Tổng diện tích đất sản xuất toàn huyện là 25.839,12 ha (chiếm 17,52% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), chia ra:
Đất sản xuất nông nghiệp 21.657,06 ha, chiếm 83,82% diện tích đất sản xuất toàn huyện; trong đó, cây hàng năm chiếm 70%, chủ yếu là trồng lúa, còn lại là cây lâu năm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn và dài ngày chiếm 30%, không có đất lâm nghiệp
Đất chuyên dùng 812,83 ha, chiếm 3,15%
Trang 24 Đất thổ cư 730,01 ha, chiếm 2,82% và đất chưa sử dụng 2.639,22 ha, chiếm 10,21% diện tích đất tự nhiên
Về tính chất cơ hóa, đất đai của huyện được chia thành 3 nhóm chính: đất phèn, phù sa và cát giồng:
Nhóm đất phèn có 8.512 ha, chiếm 32,9% diện tích đất sản xuất, phân bố chủ yếu ở các vùng trũng như Hòa Bình, Xuân Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hòa và 1 phần của Thuận Thới, Hựu Thành Tuy đất phèn, nhưng tầng sinh phèn ở rất sâu (đất phèn nông chỉ chiếm 34%), được cải tạo và canh tác khá thuần thục, bố trí 2,
3 vụ lúa trong năm cho năng suất khá cao
Nhóm đất phù sa: 17.140 ha, chiếm 66,3% diện tích đất sản xuất, phân bố tập trung ở các xã vùng cao ven sông Hậu và sông Măng Thít Đây là vùng đất phì nhiêu, vùng đất cao thuận tiện cho trồng cây ăn quả, những vùng đất thấp hơn trồng lúa cho năng suất cao và luân canh lúa màu
Nhóm đất cát giồng: 185 ha, chiếm 0,7% diện tích đất sản xuất, phân bố tập trung ở 3 giồng cát: giồng Thanh bạch (xã Thiện Mỹ), giồng La Ghì (xã Vĩnh Xuân) và giồng Gòn (xã Thuận Thới), chủ yếu là đất thổ cư, trồng cây lâu năm
và rau màu
3.1.3 Khí hậu - Thủy văn
Cũng như các vùng Nam Bộ khác, Trà Ôn cũng mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 31-320C(tháng 4 thời tiết oi bức, nhiệt
độ cao nhất: 36°C; tháng giêng thời tiết mát mẻ, nhiệt độ thấp nhất: 29°C), bình quân hàng năm có 2.600 giờ nắng, ẩm độ trung bình 80-83% (độ ẩm tối đa khoảng 92% và tối thiểu khoảng 62%) Một năm có 2 mùa rõ rệt:
Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, đây là mùa nắng gay gắt, thường gây ra hạn hán, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình có khoảng 115 ngày mưa, với lượng mưa khoảng 1400 - 1500 mm Lũ thường xảy ra vào mùa này
Trà Ôn có hệ thống sông ngòi chằng chịt, hoạt động theo chế độ bán nhật triều, có nguồn nước ngọt quanh năm, chất lượng nước tốt (trừ một số xã như Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Hựu Thành bị ảnh hưởng nhẹ do nước mặn xâm nhập vào mùa khô), kết hợp với thời tiết mưa thuận gió hòa là các điều kiện hết sức thuận lợi và, cần đầu tư khai thác phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư
Trang 253.1.4 Kinh tế - Nông sản
Trà Ôn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ Trà Ôn có 2 xã cù lao Lục Sỹ Thành và Phú Thành thuận lợi cho trồng cây ăn trái, nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt hiện nay phong trào nuôi cá tra xuất khẩu đang phát triển mạnh Chợ nổi Trà Ôn nằm trên sông Hậu là đầu mối tiêu thụ, trao đổi hàng hoá nông sản Hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ và đường thuỷ là điều kiện để phát triển kinh tế xã hội và phát triển du lịch sinh thái
Các loại nông sản đặc trưng: Lúa, cam, bưởi, chôm chôm Ngành truyền thống : nông nghiệp, mộc, hồ, đánh bắt thuỷ sản v.v
3.2.TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TRÀ ÔN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
3.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn trong năm 2007:
1/ Về Cây lúa:
- Diện tích: 31.726 ha giảm 4420 ha so với năm 2006
- Năng suất: 5,28 tấn/ha tăng 0,5 tấn/ha so với 2006
- Sản lượng: 167.764 tấn giảm 5230 tấn so với 2006
Mặc dù thời tiết bất lợi, dịch bệnh phát triển như rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, bệnh vàng lá vi khuẩn, ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn… nhưng nhìn chung năng suất lúa ổn định Do giá vật biến động tăng làm ảnh hưởng đến sản xuất, tuy nhiên giá lúa ổn định tương đối cao giá lúa thường trung bình từ 2.800-3.000 đồng/kg, giá lúa thơm Jasmine 3.600-3.800 đồng/kg
Về cơ cấu giống lúa sản xuất giống lúa chất lượng cao đạt 90% bao gồm giống M3536, OMCS2000, OM2717, OM2718, OM2517, IR64, TN128, VNĐ95-20 và 400 ha Jasmine 85 ở xã Thiện Mỹ
2/ Sản xuất rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày:
Tổng diện tích 1964,7 ha tăng 52,5 ha so với năm 2006 Trong đó cây công nghiệp 234 ha, rau màu 1622,7 ha, màu xuống ruộng 108 ha
Rau màu xuống ruộng chuyển biến chậm tuy nhiên cũng góp phần tăng thu nhập cho nông dân, từng bước hình thành cơ cấu 2 lúa – 1 màu tập trung ở các xã Thiện Mỹ, Tân Mỹ, Tích Thiện, Vĩnh Xuân, Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Côn Mô hình có hiệu quả kinh tế cao như 2 lúa 1đậu nành ở xã Thiện Mỹ, mô
Trang 26hình 2 lúa 1 đậu xanh ở xã Tích Thiện, 2 lúa 1 dưa hấu ở Hựu Thành,Thuận Thới, mô hình 2 lúa khổ qua-cà chua ở Tân mỹ, mô hình trồng đậu que ở Lục sỹ Mặc dù diện tích chưa cao nhưng góp phần đa dạng hoá cây trồng hạn chế độc canh cây lúa, hiệu quả trồng màu cao hơn gấp 2-3 lần so với lúa nhất là dưa hấu, dưa leo, khổ qua, đậu nành, đậu xanh, đậu que
3/ Kinh tế vườn:
Tổng diện tích vườn cây ăn trái 8.747 ha tăng 212,18 ha , trong đó ruộng chuyển lên vườn 206,18 ha, màu lên vườn 6 ha Ngoài ra còn cải tạo vườn tạp 118,5 ha Các loại cây ăn trái bao gồm cam 3006 ha, bưởi 1022 ha, quýt 147,7
ha, sầu riêng 283,2, măng cụt 99,5 ha, chôm chôm 52 ha, xoài 406 ha, nhãn 679
ha, dừa 764 ha, còn lại các loại cây khác 1811ha
4/ Chăn nuôi:
Tình hình chăn nuôi nhìn chung phát triển chậm do ảnh hưởng của dịch bệnh như dịch cúm gia cầm, dịch lông mồm lở móng và giá cả đàn vật nuôi biến động giá thức ăn thuốc thú y tăng làm ảnh hưởng đến đầu tư phát triển của người dân dẫn đến tổng đàn heo giảm, đàn bò tăng như giá rẻ nông dân tiêu thụ rất khó khăn Theo số liệu điều tra 1/8/2007
* Tổng số đàn heo: 56.255 giảm 541 con so với năm 2006
* Tổng đàn bò: 14.857 tăng 488 con so với năm 2006
* Tổng đàn gia cầm: 376.848 con, trong đó đàn gà 207.933 con, đàn vịt 146.318 con, vịt xiêm 20.810 con, ngỗng 1.787 con
5/ Thủy sản:
Phong trào nuôi thuỷ sản chủ yếu nuôi trong mương vườn với qui mô nhỏ
và một số mô hình trình diễn nuôi cá ruộng lúa và nuôi cá mương vườn Bên cạnh mô hình nuôi cá tra bãi bồi phát triển mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần nâng cao sản lượng cá của huyện
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản 896 ha tăng 10 ha so năm 2006 Sản lượng: 6750 tấn tăng 2300 tấn so với năm 2006 Trong đó :
+ Diện tích nuôi trong mương vườn: 350 ha, ước sản lượng 1150 tấn + Diện tích nuôi trong mô hình VAC: 150 ha, ước sản lượng 100 tấn + Diện tích nuôi trong mô hình VACR: 386 ha, ước sản lượng 990 tấn + Đánh bắt và khai thác nội đồng: 550 tấn (cá: 500 tấn; tôm: 50 tấn)
Trang 27+ Nuôi cá bãi bồi 33 ha tập trung ở 2 xã Lục Sỹ, Phú Thành (3960 tấn)
3.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn trong năm 2008:
Tình hình sản xuất nông nghiệp 2008 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của giá vật tư nông nghiệp phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc tăng cao, bên cạnh dịch bệnh cây trồng vật nuôi còn phát triển như dịch cúm gia cầm, dịch vàng lá cam sành, dịch rầy nâu mặt khác giá sản phẩm nông nghiệp biến động
mà nhất là lượng lúa còn tồn động trong dân khá lớn làm ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp của huyện
3.2.2.1.Trồng trọt:
1/ Về Cây lúa:
- Diện tích: 34.917 ha, tăng 3.191 ha tương đương với 10,1% so với năm 2007
- Năng suất: 5,27 tấn/ha, giảm 0,01 tấn/ha tương đương 1,9% so với 2007
- Sản lượng:184.273 tấn, tăng 16.509 tấn tương đương 9,8% so với năm 2007 Tình hình dịch bệnh phát triển trên cây lúa ở mức độ thấp đến trung bình như rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, bệnh vàng lá vi khuẩn, ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn, riêng vụ Thu đông xuất hiện bệnh vàng lá vi khuẩn, lem lép hạt
…nhưng qua tập trung chỉ đạo phòng trị, tập huấn, hội thảo, đảm bảo xuống giống đúng lịch thời vụ, áp dụng 3 giảm - 3 tăng, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp IPM đã khống chế dịch bệnh không thiệt hại đến năng suất lúa
2/ Sản xuất rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày:
Tổng diện tích 1.836,6 ha, giảm 328,1 ha (tương đương 6,5%) so với năm
2007 Trong đó cây công nghiệp ngắn ngày 634 ha, rau màu 1.202,8 ha
Rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày diện tích xuống giống chủ yếu vùng chuyên màu Lục Sỹ Thành, Phú Thành và một số diện tích trồng xen, diện tích xuống ruộng thấp, nông dân tiêu thụ thuận lợi và có lãi gấp 2-3 lần canh tác lúa, nổi bật mô hình có hiệu quả kinh tế rất cao như củ sắn lợi nhuận 40-50 triệu đồng /ha, mô hình trồng ớt sừng vàng có lợi nhuận từ 60-70 triệu đồng/ha 3/ Kinh tế vườn:
Diện tích vườn cây ăn trái 8.646,53 ha, giảm 100,2 ha so với năm 2007 (tương đương 1,1%), trong đó có 2.231,78 ha cam sành, 1.105 ha bưởi, 38,44 ha cam soàn, 380 ha xoài, 313,99 ha sầu riêng, 612 ha nhãn, 276 ha măng cụt, 604,88 ha chôm chôm, 100,2 ha ca cao và 2.166,3 ha cây ăn trái khác
Trang 28Theo số liệu điều tra :
* Tổng số đàn heo: 62.130, tăng 5.875 con so với năm 2007
* Tổng đàn bò: 13.063 con (laisind 3.129 con) giảm 1794 con so với năm 2007
* Tổng đàn gia cầm: 431.032, tăng 54.184 con so với năm 2007 Trong
đó gà 247.385 con, đàn vịt 160.716 con, vịt xiêm 21.116 con, ngỗng 1.815 con
3.2.2.3 Thủy sản:
Phong trào nuôi thuỷ sản chủ yếu nuôi trong mương vườn với qui mô nhỏ
và một số mô hình trình diễn nuôi cá ruộng lúa và nuôi cá mương vườn Bên cạnh mô hình nuôi cá tra bãi bồi do ảnh hưởng giá thức ăn tăng, giá cá không ổn định nên ảnh hưởng kinh tế của người nuôi
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản 890 ha, giảm 06 ha so với năm
2007 Sản lượng: 8290 tấn tăng 1540 tấn tương đương 22%so với năm
2007 Trong đó :
+ Diện tích nuôi trong mương vườn: 350 ha, ước sản lượng 1150 tấn + Diện tích nuôi trong mô hình VAC: 150 ha, ước sản lượng 1000 tấn + Diện tích nuôi trong mô hình VACR: 386 ha, ước sản lượng 990 tấn + Đánh bắt và khai thác nội đồng: 550 tấn (cá: 500 tấn; tôm: 50 tấn)
+ Nuôi cá tra bãi bồi 36 ha tập trung ở 2 xã Lục Sỹ, Phú Thành 3.2.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Trà Ôn trong năm 2009:
Tình hình sản xuất nông nghiệp 2009 gặp nhiều thuận lợi giá hàng nông sản ổn định tăng như lúa, cam sành, nhãn tiêu da bò Tuy nhiên giá một số mặt hàng nông nghiệp còn bấp bênh, cây trồng vật nuôi còn xuất hiện dịch bệnh dịch
Trang 29vàng lá cam sành, dịch rầy nâu trên lúa, bệnh chổi rồng trên nhãn ảnh hưởng lớn đến phát triển nông nghiệp của huyện
3.2.3.1.Trồng trọt:
1/ Về Cây lúa:
+ Diện tích: 34.575 ha, giảm 342 ha tương đương giảm 1% so với năm
2008 (do ruộng lên vườn)
+ Năng suất bình quân: 5,44 tấn/ha, tăng 0,17 tấn/ha (tương đương 3,3%)
lúa ổn định khá cao
2/ Rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày:
Diện tích 1986 ha, tăng 150 ha (tương đương 8,1%) so với năm 2008 (cây công nghiệp ngắn ngày 670,3 ha, rau màu 1315,7 ha, màu xuống ruộng 236 ha) Rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày diện tích xuống giống chủ yếu vùng chuyên màu Lục Sỹ Thành, Phú Thành và một số diện tích trồng xen, diện tích xuống ruộng thấp, nông dân tiêu thụ thuận lợi và có lãi gấp 2-3 lần canh tác lúa, nổi bậc mô hình có hiệu quả kinh tế rất cao như củ sắn lợi nhuận 40-50 triệu đồng/ha, đậu nành năng suất bình quân 2,5 tấn/ha, giá bán 10.000 đồng/kg, tổng thu 25 triệu đồng/ha, tổng chi 10 triệu đồng, lợi nhuận 15 triệu đồng/ha
3/ Cây ăn trái:
Diện tích vườn cây ăn trái phát triển ổn định 8.749,53 ha, tăng 103 ha
(tương đương 1,2%)so với 2008 do ruộng chuyển lên vườn trồng cam sành, bên
cạnh có 85 ha cải tạo vườn tạp trồng cam sành (bao gồm 2.419,8 ha cam sành, 1.105 ha bưởi, 38,44 ha cam sòan, 18 ha quýt, 380 ha xoài, 313,99 ha sầu riêng,
612 ha nhãn, 276 ha măng cụt, 604,88 ha chôm chôm, 1038 ha dừa, 100,2 ha ca cao trồng xen)
Trang 30tỉ lệ tiêm phòng vaccine còn thấp, chưa xây dựng vùng an toàn dịch bệnh
* Tổng số đàn heo: 66485 con, tăng 4355 con (tương đương 7%) so với
năm 2008
* Tổng đàn bò: 14.191 con, tăng 1147 con (tương đương 8,7%) so với
năm 2008 (bò lai 1.610 con, bò cái sữa 03 con)
* Tổng đàn gia cầm: 484.560 con, tăng 53.528 con (tương đương 12,4%)
so với năm 2008
3.2.3.3 Thuỷ sản:
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản 920 ha, tăng 30 ha (tương đương 3,4%)
so năm 2008 Sản lượng: 11.820 tấn, tăng 42,6% so với năm 2008
+ Diện tích nuôi trong mương vườn: 480 ha, ước sản lượng 1.200 tấn + Diện tích nuôi trong mô hình VAC: 150 ha, ước sản lượng 900 tấn + Diện tích nuôi trong mô hình VACR: 250 ha, ước sản lượng 1.050 tấn + Đánh bắt và khai thác nội đồng: 600 tấn (cá: 550 tấn; tôm: 50 tấn)
Trang 31CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA 2 MÔ HÌNH:
3 VỤ LÚA VÀ 2 VỤ LÚA - 1 VỤ ĐẬU
Sản xuất nông nghiệp là một hình thức sản xuất khá phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, kỹ thuật canh tác… Tuy nhiên các yếu
tố này rất khó định lượng cho nên đề tài nghiên cứu chỉ tập trung phân tích các yếu tố có thể định lượng được
4.1 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH ĐỘC CANH LÚA
3 VỤ Ở HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG TRONG NĂM 2009
4.1.1 Mô tả tình hình sản xuất của mẫu điều tra
Qua số liệu tổng hợp được thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 30 nông hộ sản xuất theo mô hình độc canh lúa 3 vụ, tình hình sản xuất chung của các nông
hộ được mô tả qua bảng sau:
Bảng 1: KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ VỀ MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG CỦA NÔNG HỘ (MÔ HÌNH LÚA 3 VỤ)
Chỉ tiêu
Đơn vị tính Số
mẫu Nhỏ nhất Lớn nhất
Trung bình
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3 năm 2010)
- Về diện tích đất sản xuất: Dựa vào bảng số liệu ta thấy diện tích đất sản
xuất trung bình của hộ là 5,53 công, trong đó hộ có diện tích sản xuất nhỏ nhất là
2 công và hộ có diện tích sản xuất lớn nhất là 15 công Trong sản xuất nông nghiệp, diện tích sản xuất càng lớn thì thu nhập của hộ sẽ càng cao hay nói khác hơn diện tích đất và thu nhập có quan hệ tỷ lệ thuận
- Kinh nghiệm sản xuất của các nông hộ được thể hiện qua số năm mà các nông hộ tham gia sản xuất theo mô hình lúa 3 vụ Kinh nghiệm sản xuất trung bình của mỗi hộ là 12,13 năm Hộ có kinh nghiệm sản xuất lâu năm nhất là 25 năm, hộ có kinh nghiệm sản xuất ít nhất là 5 năm Kinh nghiệm sản xuất cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao sản lượng lúa của hộ
Trang 32- Lao động gia đình tức số thành viên tham gia sản xuất lúa của mỗi hộ Trung bình mỗi hộ có khoảng 3 người tham gia sản xuất lúa Hộ có số người tham gia sản xuất lúa nhiều nhất là 7 người vì đây là hộ có diện tích sản xuất lớn nhất trong tổng số mẫu điều tra Ngược lại, hộ có số lao động gia đình tham gia sản xuất lúa ít nhất là 1 người Và qua nghiên cứu điều tra các hộ thì phần lớn người quyết định sản xuất chủ yếu là người nam (29 mẫu), trụ cột của gia đình
- Nhu cầu vốn sản xuất trung bình của các hộ điều tra là 18,34 triệu đồng/năm Hộ có nguồn vốn sản xuất nhiều nhất là 43,27 triệu đồng/năm, hộ có nguồn vốn sản xuất thấp nhất là 6 triệu đồng/năm Nhu cầu về vốn sản xuất của nông hộ tỷ lệ thuận với diện tích canh tác, hộ có diện tích canh tác càng lớn thì nhu cầu vốn càng cao Đa số nguồn vốn sản xuất của những nông hộ này đều là nguồn vốn tự tích lũy mà không phải thông qua các chương trình tín dụng nào 4.1.2 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Đông xuân
4.1.2.1 Phân tích chi phí sản xuất của vụ Đông xuân
Trong bất kỳ quá trình sản xuất kinh doanh nào, chi phí cho các yếu tố đầu vào luôn là khoản mà các nhà sản xuất phải tính toán kỹ lưỡng để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất Vào từng thời điểm khác nhau, chi phí cho sản xuất cũng có
sự thay đổi Ở vụ lúa đông xuân, kể từ khi bắt đầu gieo sạ cho đến khi kết thúc mùa vụ, số tiền mà người nông dân phải bỏ ra ngày càng tăng lên Trong đó, mỗi yếu tố chiếm một tỷ trọng khác nhau trong tổng chi phí sản xuất, hình thành nên
cơ cấu chi phí của vụ lúa đông xuân như sau:
Bảng 2: CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN
(MÔ HÌNH LÚA 3 VỤ) Đơn vị diện tích: công
Khoản mục
Số tiền (nghìn đồng)
Tỷ trọng (%)
Lao động gia đình (ngày công)
1 Chi phí làm đất (cày xới, trục) 122,86 11,93
3 Chi phí thuốc bảo vệ thực vật 145,93 14,17
5 Chi phí nhiên liệu, năng lượng 4,44 0,43
6 Chi phí lao động thuê ngoài 237,56 23,07
19,46
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3 năm 2010)
Trang 33Dựa vào bảng số liệu cơ cấu chi phí sản xuất của vụ lúa đông xuân ta thấy, các loại chi phí chủ yếu cho quá trình trồng lúa là chi phí làm đất; chi phí cho giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu và chi phí lao động thuê ngoài Tổng chi phí cho vụ đông xuân là 1022,97 nghìn đồng/công
Trước khi xuống giống để gieo sạ vụ đông xuân thì người nông dân phải trải qua khâu làm đất với chi phí là 122,86 nghìn đồng/công, chiếm 11,93 % tổng chi phí sản xuất của vụ đông xuân Chi phí làm đất phát sinh chủ yếu là do nông
hộ thuê máy xới và thuê máy trục đất, mỗi khâu đều phải tốn một khoản chi phí nhất định Không giống như trước kia, trước khi gieo sạ lúa người nông dân phải dùng sức mình lẫn sức trâu để cày xới đất, ngày này trong khâu làm đất hầu như không có sự tham gia của lao động gia đình, điều này cho thấy khâu chuẩn bị đất
đã được cơ giới hóa hoàn toàn Việc cày xới đất thật kỹ có ý nghĩa rất lớn trong việc diệt trừ mầm bệnh, cỏ dại
Chi phí giống cho vụ lúa đông xuân là 154,26 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 14,98 % trong tổng chi phí sản xuất ở vụ đông xuân Chi phí giống khá cao
là do các nông hộ sử dụng các giống lúa có độ thuần cao với giá tương đối cao như Jasmine85 (11.000 đồng/kg), OM8923 (10.000 đồng/kg), IR64 (6.000 đồng/kg), VNĐ20 (9.500 đông/kg), OM4900 (9.500 đồng/kg), v.v Bên cạnh các nông hộ sử dụng lúa giống được mua từ các trại lúa giống thì vẫn có một vài hộ
tự để giống hay trao đổi giống với các hộ lân cận để gieo trồng Một nguyên nhân khác khiến cho chi phí giống chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi phí là do nông hộ có thói quen sạ lan nên lượng giống sử dụng nhiều (20-25 kg/công) Chi phí thuốc bảo vệ thực vât trong sản xuất lúa bao gồm chi phí thuốc ngâm giống, chi phí thuốc trừ sâu, bệnh, chi phí thuốc dưỡng Ở vụ lúa đông xuân, chi phí thuốc bảo vệ thực vật là 145,93 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 14,17 % trong tổng chi phí sản xuất Ở mỗi vụ lúa thì nông dân thường phun thuốc bảo vệ thực vật từ 4 – 5 lần và việc này được thực hiện chủ yếu do lao động gia đình Trong tổng số các mẫu điều tra thì chỉ có một số hộ thực hiện 3 giảm – 3 tăng nên lượng thuốc mà hầu hết các nông hộ dùng vẫn còn nhiều dẫn đến chi phí thuốc bảo vệ thực vật tương đối cao
Một khoản chi phí không kém phần quan trọng trong sản xuất lúa đó là chi phí phân bón Vai trò của phân bón là cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa phát
Trang 34triển, đồng thời nó cũng trả lại một phần dinh dưỡng đã lấy đi của đất sau mỗi vụ sản xuất Đa số các nông hộ mua chịu phân bón ở các cửa hàng vật tư nông nghiệp nên giá mua tương đối cao Các loại phân bón mà các nông hộ thường dùng như: phân NPK, phân Urê, phân DAP, phân lân Phần lớn nông dân bón phân theo kinh nghiệm bản thân nên lượng phân sử dụng còn lớn làm chi phí phân bón cho vụ này lên đến 364,72 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí sản xuất của vụ đông xuân (35,42 %) Tuy nhiên qua điều tra trực tiếp nông hộ thì được các nông hộ cho biết rằng lượng phân sử dụng ở vụ Đông xuân đã là thấp nhất trong các vụ, nguyên nhân là do thời tiết khá thuận lợi giúp cây lúa phát triển tốt nên không cần bón nhiều phân
Đông xuân là vụ sau mùa mưa nên các sông hồ có lượng nước khá phong phú, việc dẫn nước vào ruộng cũng dễ dàng hơn Nông hộ không phải tốn nhiều tiền cho chi phí bơm nước vào ruộng Do đó mà chi phí nhiên liệu, năng lượng của vụ đông xuân chỉ có 4,44 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng chi phí sản xuất (0,43 %)
Chi phí lao động thuê ngoài của vụ đông xuân là 237,56 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 23,07 % trong tổng chi phí sản xuất, là chi phí có tỷ trọng cao thứ hai sau chi phí phân bón Chi phí lao động thuê ngoài bao gồm chi phí mướn người giặm lúa, xịt thuốc, chi phí thu hoạch lúa Trong đó chi phí mướn người giặm lúa, xịt thuốc phát sinh ở các nông hộ có diện tích sản xuất lớn nhưng lại thiếu người làm, tiền công lao động thuê ngoài dao động từ 50.000 đồng/ngày - 70.000 đồng/ngày Còn đối với khâu thu hoạch thì đại đa số các nông hộ đều mướn máy gặt đập liên hợp với chi phí trung bình là 200.000 đồng/công, bao gồm cả chi phí vận chuyển lúa ra đến lộ
Lao động gia đình chủ yếu làm các công việc như: gieo sạ, xịt thuốc, bón phân, thăm ruộng, v.v Mỗi vụ lúa thường kéo dài từ 3 đến 3,5 tháng, tuy nhiên người nông dân không phải tham gia sản xuất suốt vụ mà trung bình mỗi ngày nông hộ chỉ dành khoảng từ 2 – 3 giờ để theo dõi, chăm sóc lúa Theo như các nông hộ cho biết thì ở vụ lúa đông xuân này họ ít tốn công chăm sóc nhất do đó
mà tổng số ngày công lao động gia đình trong vụ đông xuân là 19,46 ngày
Trang 352 Chi phí giống
3 Chi phí thuốcbảo vệ thực vật
4 Chi phí phân bón
5 Chi phí nhiênliệu, năng lượng
6 Chi phí lao độngthuê ngoài
Hình 1: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ Đông xuân
4.1.2.2 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Đông xuân
Bảng 3: KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN
Thu nhập ròng / Ngày công lao động gia đình Nghìn đồng 91,11
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu điều tra tháng 3 năm 2010)
Như vậy, với tổng chi phí sản xuất bình quân cho vụ lúa đông xuân là 1.029.770 đồng/công Với số liệu thu được ta thấy bình quân năng suất đạt được của các hộ khá cao - 681,67 kg (khoảng 34 giạ lúa)- cùng với giá bán bình quân ở
vụ này là 4.070 đồng/kg đã mang lại cho người nông dân một khoản thu nhập khá lớn Cứ bình quân trên mỗi công ruộng sản xuất các nông hộ thu về cho mình 2.802.740 đồng, cao gấp 2,72 lần chi phí họ bỏ ra Điều này có nghĩa là trên mỗi đồng vốn chi ra nông dân có thể thu về 2,72 đồng thu nhập
Tuy nhiên, thu nhập thực tế của người dân chi được xác định sau khi trừ đi các khoản chi phí cần thiết Sau khi loại trừ đi các yếu tố chi phí, thu nhập ròng bình quân thu được của nông hộ là 1.772.970 đồng/công Tỷ số tài chính của thu
Trang 36nhập ròng /chi phí là 1,72 cho thấy thu nhập ròng nhận được cao gấp 1,72 lần tổng chi phí bỏ ra Hay nói cách khác, cứ mỗi đồng vốn đưa vào sản xuất sẽ mang lại 1,72 đồng thu nhập ròng Qua đó, ta có thể dễ dàng xác định được tỷ lệ giữa thu nhập ròng và thu nhập đạt được Ở vụ lúa đông xuân, tỷ lệ này là thu nhập ròng /thu nhập = 0,63, có nghĩa là trên mỗi đồng thu nhập có 0,63 đồng thu nhập ròng
Với số ngày công lao động gia đình trung bình trong vụ đông xuân là 19,46 ngày, thu nhập ròng bình quân các hộ dân đạt được trên mỗi ngày công lao động
là 91,11, có nghĩa là trong một ngày công lao động hộ có thể tạo ra được 91,11 nghìn đồng thu nhập ròng sau khi đã trừ đi các yếu tố chi phí
4.1.3 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Hè thu
4.1.3.1 Phân tích chi phí sản xuất của vụ Hè thu
Đến vụ lúa hè thu, mặc dù tỷ trọng của các yếu tố chi phí thay đổi không đáng kể nhưng nhìn chung số tiền các nông hộ bỏ ra cho các yếu tố đầu vào này đều gia tăng, làm cho tổng chi phí bình quân của vụ lúa hè thu có phần cao hơn
so với vụ lúa đông xuân
Bảng 4: CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA VỤ HÈ THU
(MÔ HÌNH LÚA 3 VỤ) Đơn vị diện tích: công
Khoản mục
Số tiền (nghìn đồng)
Tỷ trọng (%)
Lao động gia đình (ngày công)
1 Chi phí làm đất (cày xới, trục) 128,73 10,50
3 Chi phí thuốc bảo vệ thực vật 159,28 13,00
5 Chi phí nhiên liệu, năng lượng 51,17 4,17
6 Chi phí lao động thuê ngoài 238,58 19,47
22,53
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3 năm 2010)
Công việc cày xới đất, chuẩn bị đất ở vụ hè thu cũng giống như ở vụ đông xuân, tức nông dân cũng thuê máy cày và máy trục để làm đất cho nên chi phí làm đất ở vụ này là 128,73 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 10,5 % trong tổng chi phí sản xuất vụ hè thu So với vụ lúa đông xuân thì khoản chi phí này ở vụ
Trang 37lúa hè thu có phần cao hơn, tuy nhiên khoản chênh lệch này rất nhỏ (5.870 đồng/công)
Nhìn chung các hộ vẫn sử dụng những giống lúa ở vụ trước (Jasmine 85, OM8923, OM4900, IR64…), một số hộ thì dùng lúa giống tự sản xuất để gieo sạ nên chi phí giống cho vụ này là là 162,56 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 13,26
% trong tổng chi phí sản xuất vụ hè thu Nếu so với vụ đông xuân thì chi phí giống ở vụ hè thu cao hơn vụ đông xuân là 8,3 nghìn đồng/công do lượng giống
sử dụng ở vụ hè thu nhiều hơn vụ đông xuân Theo như các nông hộ cho biết thì
sở dĩ ở vụ hè thu họ phải sử dụng lượng giống nhiều hơn là để trừ hao số lúa giống không nảy mầm do thời tiết vụ hè thu khá khắc nghiệt
Vụ hè thu kéo dài trong những tháng mùa hè, lúc này thời tiết trở nên oi bức hơn, tạo điều kiện cho các loại sâu bệnh, cỏ dại phát triển Để bảo vệ mùa màng thì bắt buộc các nông hộ phải sử dụng lượng thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn nên khoản chi phí này ở vụ hè thu là 159,28 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng
13 % trong tổng chi phí sản xuất So với vụ đông xuân thì chi phí thuốc ở vụ hè thu cao hơn vụ đông xuân là 13,35 nghìn đồng/công
Khoản chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí sản xuất vụ hè thu là chi phí phân bón với 39,6 % tương đương 485,33 nghìn đồng/công Giá các loại phân bón ở vụ hè thu cao hơn giá các loại phân bón cùng loại ở vụ đông xuân từ 1.000 đồng - 2.000 đồng/kg và lượng phân bón sử dụng cho vụ hè thu nhiều hơn vụ đông xuân làm cho chi phí phân bón ở vụ hè thu cao hơn vụ đông xuân là 120,61 nghìn đồng/công
Do khí hậu khô hạn mà lượng nước ở vụ hè thu trở nên khan hiếm hơn, các nông hộ phải tốn chi phí nhiều hơn cho việc bơm nước vào ruộng Cụ thể các nông hộ phải sử dụng nhiều xăng dầu hơn do đó chi phí nhiên liệu, năng lượng trong vụ hè thu là 51,17 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 4,17 % trong tổng chi phí sản xuất vụ hè thu Đối với vụ hè thu các nông hộ phải bơm nước vào ruộng
6 lần Theo kết quả điều tra thì những nông hộ có diện tích đất sản xuất lớn đều sắm máy bơm nước, còn những hộ có diện tích đất sản xuất nhỏ thì phải thuê máy bơm nước với giá 80.000 đồng/vụ
Cũng giống như vụ đông xuân, ở vụ hè thu này các hộ có diện tích sản xuất lớn mà thiếu người làm vẫn phải thuê lao động bên ngoài để làm các công
Trang 38việc như: giặm lúa, xịt thuốc, bón phân… nên chi phí lao động thuê ngoài trung bình của các hộ trong vụ lúa này là 238,58 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 19,47 % So với vụ đông xuân thì chi phí cho lao động thuê ngoài ở vụ hè thu là cao hơn, nhưng khoản chênh lệch này không đáng kể
Đối với vụ hè thu thì thời gian mà lao động gia đình tham gia sản xuất lúa
là khá nhiều, 22,53 ngày Công việc chủ yếu của lao động gia đình vẫn là sạ lúa, xịt thuốc, bón phân, thăm đồng, dẫn nước vào ruộng v.v Ở vụ hè thu lao động gia đình phải làm nhiều công việc hơn nên số ngày công gia đình ở vụ này nhiều hơn số ngày công gia đình ở vụ đông xuân là 3 ngày
2 Chi phí giống
3 Chi phí thuốcbảo vệ thực vật
4 Chi phí phânbón
5 Chi phí nhiênliệu, năng lượng
6 Chi phí laođộng thuê ngoài
Hình 2: Cơ cấu chi phí sản xuất vụ Hè thu
4.1.3.2 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Hè thu
Bảng 5: KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA VỤ HÈ THU
Thu nhập ròng / Ngày công lao động gia đình Nghìn đồng 36,05
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu điều tra tháng 3 năm 2010)
Trang 39
Với các khoản chi phí trên thì tổng chi phí sản xuất cho vụ hè thu là 1.225.650 đồng/công Ở vụ này năng suất lúa trung bình là 608,33 kg, thấp hơn năng suất vụ đông xuân 73,34 kg Mỗi kg lúa được bán với giá 3.330 đồng mang lại thu nhập trung bình cho các nông ở vụ hè thu là 2.037.830 đồng/công Và sau khi trừ đi chi phí sản xuất thì thu nhập ròng mà nông hộ có được là 812.180 đồng/công Thu nhập ròng của vụ hè thu thấp hơn vụ đông xuân là 960.790 đồng/công Nguyên nhân của thực trạng trên là do chi phí sản xuất của vụ hè thu thì cao hơn chi phí sản xuất của vụ đông xuân mà năng suất và giá bán lúa lại thấp hơn vụ đông xuân
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy 1 đồng chi phí bỏ ra đã mang về cho nông hộ 1,66 đồng thu nhập và 0,66 đồng thu nhập ròng Ta cũng dễ dàng tính được tỷ số giữa thu nhập ròng và thu nhập là 0,4 – tức trong một đồng thu nhập
có 0,4 đồng thu nhập ròng
Trong vụ hè thu thì số ngày công lao động gia đình là 22,53 ngày, tỷ số thu nhập ròng/ngày công gia đình là 36,05 nói lên một điều là với mỗi ngày công lao động nông hộ sẽ thu về cho mình 36,05 nghìn đồng thu nhập ròng sau khi đã trừ
đi các yếu tố chi phí
4.1.4 Phân tích kết quả sản xuất của vụ Thu đông
4.1.4.1 Phân tích chi phí sản xuất của vụ Thu đông
Cũng giống như hai vụ sản xuất trước, vụ lúa thu đông cũng bao gồm các khoản chi phí như: làm đất, giống, phân, thuốc, lao động Số liệu cụ thể về các khoản chi phí này sẽ được mô tả trong bảng sau:
Bảng 6: CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA VỤ THU ĐÔNG
(MÔ HÌNH LÚA 3 VỤ)
Khoản mục
Số tiền (nghìn đồng)
Tỷ trọng (%)
Lao động gia đình (ngày)
1 Chi phí làm đất (cày xới, trục) 134,37 12,16
3 Chi phí thuốc bảo vệ thực vật 155,86 14,10
5 Chi phí nhiên liệu, năng lượng 15,68 1,42
6 Chi phí lao động thuê ngoài 239,91 21,71
22,80
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 3 năm 2010)
Trang 40Chi phí chuẩn bị đất cho vụ thu đông là 134,37 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 12,16 % trong tổng chi phí sản xuất của vụ Nếu so sánh với hai vụ trước thì chi phí làm đất ở vụ thu đông cao hơn, cụ thể chi phí làm đất ở vụ thu đông cao hơn vụ đông xuân là 11,51 nghìn đồng/công, cao hơn vụ hè thu là 5,64 nghìn đồng/công Sở dĩ chi phí làm đất ở vụ thu đông cao là do đây là vụ sản xuất thứ
ba trong năm nên dường như độ tơi xốp của đất đã giảm đi rất nhiều, mầm móng
cỏ dại phát triển mạnh, nông dân cần làm đất kỹ hơn mới mong đạt được thắng lợi trong vụ này
Thời vụ gieo sạ lúa thu đông là vào tháng 7 dương lịch, đầu mùa mưa, việc gieo sạ lúa gặp nhiều bất lợi, lúa mới nảy mầm gặp mưa sẽ dễ chết hơn nên trong sản xuất lúa thu đông các nông hộ sử dụng lượng lúa giống nhiều hơn vụ đông xuân, hè thu từ 2 đến 3 kg/công Do đó chi phí giống ở vụ thu đông là 168,61 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 15,26 % tổng chi phí sản xuất của vụ Các nông hộ vẫn sử dụng những giống lúa giống như hai vụ trước
Vụ thu đông là vụ trái mùa, diễn biến thời tiết bất thường, sâu bệnh phát triển nhiều nên chi phí thuốc bảo vệ thực vật mà các nông hộ phải bỏ ra cho vụ này là 155,86 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 14,1 % trong tổng chi phí So với
vụ đông xuân thì chi phí thuốc bảo vệ thực vật ở vụ thu đông cao hơn 9,93 nghìn đồng/công, còn so với vụ hè thu thì chi phí thuốc bảo vệ thực vật ở vụ thu đông thấp hơn 3,42 nghìn đồng/công
Chi phí phân bón vẫn là khoản chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí sản xuất, 35,35 % tương đương 390,72 nghìn đồng/công Lượng phân bón
mà các nông hộ sử dụng trong vụ này gần như tương đương với lượng phân sử dụng trong vụ hè thu, khoảng 50 kg phân các loại trên một công Tuy nhiên do giá phân bón ở vụ thu đông tương đối thấp hơn vụ hè thu nên chi phí phân bón của vụ thu đông thấp hơn chi phí phân bón ở vụ hè thu là 94,61 nghìn đồng/công Chi phí nhiên liệu, năng lượng của vụ này là 15,68 nghìn đồng/công, chiếm tỷ trọng 1,42 % trong tổng chi phí sản xuất vụ thu đông Nếu so với vụ hè thu thì chi phí nhiên liệu, năng lượng của vụ thu đông thấp hơn vụ hè thu là 35,49 nghìn đồng/công Nguyên nhân do vụ thu đông là vụ sản xuất trong mùa mưa nên các nông hộ không phải bơm nước vào ruộng nhiều lần như ở vụ hè thu