Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của đảng, chính sách của nhà nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
MSSV: 6096132
Trang 2
LỜI CẢM TẠ
Con xin kính ơn Cha Mẹ đã cho con có ngày hôm nay, cho con từng miếng cơm tấm áo, cho con được bằng bạn bằng bè, và trên hết là đã luôn dõi theo bước chân con trong suốt cuộc đời Cha mẹ đã luôn đứng sau ủng hộ con, luôn nâng đỡ khi con vấp ngã, và không bỏ rơi con khi con thất bại Con thật sự biết ơn và không bao giờ dám quên, và đó sẽ giúp con tự tin bước vào đời, vì con biết chúng con luôn có tình thương của cha mẹ, tình thương đó luôn là niềm kiêu hãnh trong suốt cuộc đời con
Em xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại Học Cần Thơ đặc biệt là Quý Thầy Cô Khoa Khoa Học Chính Trị, đã tận tình giảng dạy truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Cô Trần Thị Tuyết Hà, người đã đóng góp ý kiến, giúp em định hướng đúng đắn về đề tài, giúp em nhận ra những điểm khuyết trong kiến thức, và sửa những sai lầm dù là nhỏ nhặt để em có thể hoàn thành thật tốt đề tài này
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cám ơn đến Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh, Ban dân tộc tỉnh Trà Vinh Đã giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm tài liệu có liên quan đến đề tài luận văn mà tôi đang nghiên cứu
Xin cảm ơn tất cả bạn bè đã và đang động viên, giúp đỡ cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt luận văn trong phạm vi và khả năng của mình, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế
Em kính mong nhận được sự cảm thông, chỉ bảo từ Thầy Cô và các ý kiến đóng góp từ các bạn sinh viên
Tác giả
Kim Trường Tưởng
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chiều dài lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta phải đương đầu với thế lực hung hãn, có lúc phải đối trọi với đội quân hùng mạnh nhất, có lúc gặp muôn nghìn khó khăn nhưng cuối cùng dù kẻ thù có lớn mạnh tới đâu thì cuối cùng nhân dân ta cũng dành được thắng lợi vẻ vang Đó là nhờ sự đoàn kết yêu nước nồng nàng của dân tộc ta, từ xưa đến nay sẵn sàn hi sinh vì độc lập dân tộc của nhân dân ta và dưới sự lãnh đạo tài tình , sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu của dân tộc đã đảy lùi thực dân pháp và đế quốc Mỹ Trong thời chiến thì tinh thần đoàn kết đó được thể hiện, đó là sự đoàn kết của dân tộc ta một lòng tạo thành một sức mạnh tinh thần chống giặc ngoại xâm , chống lại những âm mưu của kẻ thù, ngày nay đất nước ta đang trên con đường xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp thì tinh thần đoàn kết đó của các dân tộc anh em vẫn tiếp tục cùng nhau chung sức, đoàn kết xây dựng đất nước Đó là do nhờ Đảng và Nhà Nước ta
đã vận dụng tốt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư Tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về đoàn kết dân tộc và với những chính sách đúng đắng của Đảng và nhà nước, góp phần xây dựng, phát huy tình đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng anh em người Việt Đất nước ta có trên 54 dân tộc anh em gắn bó lâu dài từ xưa đến nay tinh thần đoàn kết dó vẫn duy trì và phát huy, tuy nhiên vẫn còn một số ít người đồng bào dân tộc tiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi sự lĩnh hội và tiếp thu tình đoàn kết, chung sức góp phần xây dựng đất nước còn chia rẽ về dân tộc, các phần tử âm mưu diễn biên hòa bình cũng lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chia rẽ tình đoàn kết của dân tộc ta Để góp phần xây dựng, phát huy tình đoàn kết của dân tộc trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc từ xa xưa của dân tộc ta của Ông Cha ta cho đến ngày nay nước ta đang trong thời kỳ xây dựng đất nước tinh thần ấy, sức mạnh ấy vẫn ngày càng phát huy tất cả điều đó là nhờ tinh thần đoàn kết của đân tộc ta từ xưa đến nay tiếp nối và phát huy truyền thống tôt đẹp của dân tộc Việt Nam Tỉnh Trà Vinh là quê hương em sinh ra và lớn lên, từ xưa đến nay
Trang 4có các dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa – Chăm, các dân tộc sống trong trong
một cộng đồng hòa viện vào nhau, cùng nhau hợp tác, đoàn kết trong cộng đồng
dân tộc anh em, tuy nhiên vẫn còn một số ít người họ còn phân biệt dân tộc làm
hạn chế tình đoàn kết, ảnh hưởng đến sự phát triển tỉnh Trà Vinh Thấy được tầm
quan trọng đó nên em quyết định chọn đề tài “Xây dựng tình đoàn kết các dân tộc
anh em Kinh _ Khmer _ Hoa - Chăm ở tỉnh Trà Vinh hiện nay.” Làm đề tài luận
văn tốt nghiệp của em, để góp phần cho mọi người thấy rõ hơn và nhận thức được
tầm quan trọng của vấn đề, cùng nhau chung sức, sống chang hòa vào nhau, cùng
nhau hợp tác, chia sẽ kinh nghiệm, giao lưu văn hóa,… đặt biệt là những người ở
quê hương Trà Vinh nói riêng và các dân tộc anh em trong cộng đồng người Việt
Nam nói chung Chúng ta là thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước Chúng
ta cần phải tiếp nối truyền thống, tinh thần đoàn kết tốt đẹp từ xưa đến nay của ông
cha ta cần phát huy hơn nữa góp phần xây dựng tình đoàn kết các dân tộc anh em
Kinh – Khmer – Hoa – Chăm trên quê hương Trà Vinh nói riêng và xây dựng đất
nước Việt Nam ta ngày càng phát triển, giàu đẹp hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghên của đề tài
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đoàn kết dân tộc, xây dựng tình đoàn kết các
dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa – Chăm, từ đó khảo sát thực trạng và đề xuât
một số giải pháp xây dựng tình đoàn kết các dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa
– Chăm ở tỉnh Trà vinh hiện nay
2.2 Nhiệm vụ:
Trình bày và phân tích một số vấn đề lý luận về đại đoàn kết dân tộc và tầm quan
trọng trong việc xây dựng tình đoàn kết các dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa –
Chăm ở tỉnh Trà vinh hiện nay
Nghiên cứu thực trạng xây dựng tình đoàn kết các dân tộc anh em Kinh –
Khmer – Hoa – Chăm ở tỉnh Trà vinh trong thời gian qua
Trang 5Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng tình đoàn kết các dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa – Chăm ở tỉnh Trà vinh hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng tình đoàn kết các dân tộc anh
em Kinh – Khmer – Hoa – Chăm trên địa bàn tỉnh Trà Vinh từ góc độ tuyên truyền, phổ biến một số hoạt động công tác tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin ,của Hồ Chí MInh và của Đảng
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi từ năm gần đây cho đến năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng; đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thu thập tài liệu, nghiên cứu va xử lý tài liệu, sưu tầm sách báo, các tài liệu trên mạng Internet và các thông tin cặp nhật trên đài phát thanh, thời sự, dánh giá thực trạng, tổng hợp tài liệu để vận dụng đề xuất giải pháp xây dụng tình đoàn kết xây dựng tình đoàn kêt các dân tộc anh em kinh – Khmer – Hoa – Chăm ở tỉnh Trà Vinh hiện nay
5 kết cấu niên luận
phần kết luận thì luận văn gồm có 3 chương
Trang 6
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1.1.Lý luận chung về đại đoàn kết dân tộc
1.1.1 Khái niệm về đại đoàn kết dân tộc
Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh: là một hệ thống nhữngluận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục Tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệpđ ấ u t r a n h v ì
đ ộ c l ậ p d â n t ộ c , d â n c h ủ v à c h ủ n g h ĩ a x ã h ộ i N ó i m ộ t c á c h
k h á c , đ ó l à t ư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dântộc, giải phóng giai đoạn, giải phóng con người
1.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đại đoàn kết dân tộc
Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàng từ xưa đến nay Xem dân là gốc, là lực lượng tự giải phóng nên Hồ Chí Minh coi vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân để tạo ra sức mạnh là vấn đề cơ bản của cách mạng Hồ Chí Minh còn cho rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người Cách đây 64 năm, vào ngày 2/9/1945, chủ tịch hồ chí minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước việt nam dân chủ cộng hoà 64 năm đã qua đi nhưng bài học về tinh thần đoàn kết dân tộc trong tư tưởng hồ chí minh vẫn còn nguyên giá trị Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của đảng, chính sách của nhà nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị của đất nước Các hình thức tập hợp nhân dân đa
Trang 7dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủxã hội được phát huy; bước đầu đã hình thành không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội.Có thể khẳng định: chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của đảng đã thực sự là một bộ phận của đường lối đổi mới và góp phần to lớn vào những thành quả của đất nước.Tuy nhiên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa đảng, nhà nước và nhân dân đang đứng trước những thách thức mới Lòng tin vào đảng, nhà nước và chế độ của một bộ phận nhândân chưa vững chắc, tâm trạng của nhân dân có những diễn biến phức tạp, lo lắng về sự phân hoá giàu nghèo, về việc làm và đời sống Nhân dân bất bình trước những bất công xã hội, trước tệt ham nhũng, quan liêu, lãng phí, v.v…Sở dĩ có những khuyết điểm, yếu kém trên là do: đảng ta chưa kịp thời phân tích và dự báo đầy đủ những biến đổi trong cơ cấu giai cấp - xã hội trong quá trình đổi mới đất nước và nhữngmâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân để kịp thời
có chủ trương, chính sách phù hợp; có tổchức đảng, chính quyền còn coi thường dân, coi nhẹ công tác dân vận - mặt trận; ở không ít nơicòn tư tưởng định kiến, hẹp hòi làm cản trở cho việc thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc của đảng; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, v.v… không thực hiện được vai trò tiên phong gương mẫu.Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết của nhân dân ta, luôn kích động cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng li gián, chia rẽ nội bộ đảng, nhà nước và nhân dân ta.Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay là: phải củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cụ thể:một là, đảng ta phải luôn xác định cách mạng việt nam là một bộ phận ko thể tách rời của cáchmạng vô sản thế giới, việt nam tiếp tục đoàn kết và giúp đỡ, ủng hộ các phong trào cách mạng,các xu hướng trào lưu tiến bộ của thời đại vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.hai là, giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc, tự chủ tự cường, chủ trương phát huy sức mạnhdân tộc… trên cơ sở đó tranh thủ sự đồng tình ủng hộ từ lực lượng bên ngoài, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu mỗi thời kỳ
Trang 81.1.3 Ý nghỉa của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:- Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại.- Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung Không đoàn kết một chiều, đoànkết hình thức, nhất thời.- Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổchức không tách rời nhau.- Đoàn kết phải có nội dung thích hợp với từng địa phương, từng tổ chức, từng thời kỳ Đoàn kết trong chính sách tập hợp các tầng lớp nhân dân.- Đoàn kết đi liền với bao dung, thực hiện tính nhân đạo cao cả, hướng tới tương lai.- Lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết là nhiệm vụ của đảng, là biện pháp phát huy sức mạnh của đảng, của toàn dân tộc.- Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong đảng Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong đảng - đoàn kết toàn dân - đoàn kết quốc tế.- Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc
C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Vấn đề dân tộc được C.Mác và Ph.Ăngghen xem là một bộ phận của hệ vấn đề dân tộc và giai cấp, tức là các ông xem xét vấn
đề dân tộc dưới góc độ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản Các ông nhấn mạnh rằng: xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ Đến V.I.Lênin, vấn đề dân tộc được đặt ra một cách trực tiếp khi Người và Đảng Bônsêvích lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười vĩ đại và sau đó, lãnh đạo công cuộc bảo vệ thành quả Cách mạng, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đã đề ra các nguyên tắc cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, trong đó Người đặc biệt nhấn mạnh về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của tất cả các dân tộc, chống
Trang 9mọi đặc quyền của bất kỳ dân tộc nào đối với dân tộc khác, không thừa nhận quan
hệ có tính chất áp đặt giữa các dân tộc
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng về đại đoàn kết dân tộc Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã coi trọng và làm tốt chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, những thời cơ và thách thức mới cùng với những tác động từ bên ngoài
và cả những vấn đề nảy sinh trong nước đòi hỏi vấn đề dân tộc phải được nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn Ngay từ trước đổi mới, tại Đại hội IV - Đại hội đầu tiên khi đất nước thống nhất sau 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc với sự huy động sức mạnh của toàn dân tộc trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp hết sức to lớn cho cách mạng và kháng chiến, Đảng
ta đã khẳng định “việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam” Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ít người và dân tộc đông người, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đều phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Và để thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, vấn đề mấu chốt là đẩy mạnh ba cuộc cách mạng, ra sức phát triển kinh tế và văn hóa ở các vùng dân tộc, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng các vùng kinh tế mới, các khu công nghiệp, mở mang giao thông vận tải và thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, khoa học, y tế, thể dục thể thao, bảo vệ bà mẹ và trẻ em,… nhanh chóng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc ít người, đặc biệt chú trọng vùng cao và vùng biên giới Tiếp đó, Đại hội lần thứ V của Đảng nhấn mạnh việc “phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc
Trang 10bình đẳng, tương trợ và cùng làm chủ tập thể” Đại hội VI của Đảng là Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn điện đất nước Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội đã đánh giá những thành tựu đạt được trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng, thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, thách thức, nêu rõ những sai lầm, khuyết điểm và rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu Về vấn đề dân tộc, Đại hội khẳng định, “chính sách dân tộc luôn luôn là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội” Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh rằng, sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc Tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và
là một lĩnh vực nhạy cảm Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái
độ thận trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi Sau Đại hội VI, trước những yêu cầu đòi hỏi của thực tế vùng dân tộc và miền núi, ngày 27/11/1989, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã góp phần thúc đẩy phát triển một bước quan trọng kinh tế - xã hội miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tình hình thế giới những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX có những biến động to lớn Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ gây bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh đó, Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ VII Đại hội VII của Đảng đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, hoàn chỉnh, bổ sung và phát triển các chủ trương đổi mới của Đại hội
VI, đề ra các phương hướng, nhiệm vụ lớn cho 5 năm 1991 - 1995 và đặc biệt thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Điểm mới trong văn kiện Đại hội VII là ở chỗ, lần đầu tiên, chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc đã được Đảng ta đưa vào trong Cương
Trang 11lĩnh của Đảng với tên gọi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh ghi rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Đại hội cũng khẳng định chính sách đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định việc phải có chính sách phát triển kinh
tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước Trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Đảng về vấn đề dân tộc, Hiến pháp 1992, một lần nữa, khẳng định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở nước
ta Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, đất nước ta đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go, đã có những thay đổi to lớn và sâu sắc so với thời kỳ bắt đầu đổi mới Đại hội VIII của Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử đó Đại hội khẳng định: “Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã được hoàn thành
về cơ bản” Về vấn đề dân tộc, Đại hội nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn” Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, bên cạnh đó, Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những khó khăn của đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng cao, đó là: “điều kiện sống và dịch vụ, hạ tầng cực kỳ khó khăn, đất nông nghiệp thiếu, chưa đủ điều kiện tiến lên sản xuất hàng hóa; GDP bình quân đầu người năm 1994 chỉ bằng 31% mức trung bình cả nước Mật
độ đường giao thông chỉ có 0,09km/km2, còn 464 xã chưa có đường ô tô đến” Trước thực tế đó, Đại hội đã đề ra chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
và vùng đồng bào dân tộc với mục tiêu khai thác mọi nguồn lực ở địa phương và
Trang 12huy động sức của cả nước để tạo bước tiến nhanh hơn về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống, cải thiện môi trường, môi sinh Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với tốc độ bằng hoặc cao hơn mức bình quân chung của cả nước; năm 2000 GDP bình quân đầu người đạt gấp đôi năm 1994 Các khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc đều phải có bước phát triển, khu vực có điều kiện thuận lợi phải phát triển với tốc
độ cao hơn để thúc đẩy, hỗ trợ các khu vực khác cùng phát triển Tăng trưởng kinh
tế phải kết hợp hài hòa với phát triển xã hội - văn hóa, bảo đảm an ninh - quốc phòng, phấn đấu giảm bớt khoảng cách giữa các vùng về mặt tiến bộ xã hội Đồng thời, Đại hội đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể về phát triển công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp, nông - lâm nghiệp, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ và đưa ra các giải pháp chủ yếu để đạt mục tiêu nói trên trong
đó nhấn mạnh việc nhà nước phải có biện pháp tập trung vốn ngân sách đầu tư theo chương trình tổng hợp và có sự chỉ đạo chặt chẽ giúp cho khu vực miền núi, vùng cao, vùng sâu phát triển nhanh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế kỷ XX vừa kết thúc, thế kỷ XXI vừa bắt đầu Toàn Đảng và toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 và 15 năm đổi mới Đại hội IX đã kiểm điểm và đánh giá những thành tựu và khuyết điểm thời gian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới, phấn đấu nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, động viên và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vững bước đi vào thế kỷ mới Những năm đầu thế kỷ XXI, các thế lực thù địch ra sức lợi dụng những khó khăn và hạn chế của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên để dụ dỗ, lôi kéo đồng bào phá hoại khối đoàn kết dân tộc ở nước ta Đại hội IX của Đảng đặc biệt chú trọng vấn đề dân tộc và cụ thể hóa nhiều nội dung mới ở chỗ, nếu như Đại hội VIII coi vấn đề dân tộc là “vấn đề có vị trí chiến lược lớn” thì Đại hội IX khẳng định thêm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng” Rằng, Đảng ta phải
Trang 13thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến; Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc Cụ thể hóa
tư tưởng chiến lược được nêu trong Nghị quyết Đại hội IX và nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành về công tác dân tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (phần hai) đã ban hành Nghị quyết về công tác dân tộc Điều này, một mặt, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và mặt khác cho thấy việc giải quyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết và cần phải có những chỉ đạo kịp thời Nghị quyết
về công tác dân tộc đã đánh giá tình hình các dân tộc thiểu số và công tác dân tộc trong thời gian qua, những thành tựu cơ bản cùng với những hạn chế, yếu kém và nhất là đề ra những giải pháp chủ yếu để khắc phục những hạn chế, yếu kém đó Nghị quyết khẳng định năm quan điểm cơ bản trong việc thực hiện công tác dân tộc ở nước ta: 1) Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam; 2) Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc; 3) Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của
Trang 14cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất; 4) Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và
cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm
hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước; 5) Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị Hiện thực hóa những quan điểm, giải pháp được nêu trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy là việc các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đã tạo đà quan trọng cho sự phát triển và làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Qua đó cho thấy những đổi thay trong thực tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số được bắt nguồn từ chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Tiếp tục tư tưởng của Nghị quyết về công tác dân tộc được thông qua tại Hội nghị lần thứ bảy, khóa IX, Đại hội X khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta” Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đại hội nhấn mạnh việc Đảng và Nhà nước phải tiếp tục chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc đồng thời thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc Sau 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001- 2010 cũng là lúc Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ XI Đây là Đại hội
có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục nâng cao
Trang 15năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷ XXI nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vấn đề dân tộc tiếp tục được Đại hội XI của Đảng quan tâm Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta” Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số” Hiện nay, Nghị quyết của Đại hội XI trong đó có vấn đề dân tộc đang được các cấp, các ngành liên quan triển khai trong thực tế, đưa Nghị quyết vào cuộc sống Như vậy, xuyên suốt trong các nghị quyết của Đảng là tư tưởng khẳng định sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc ở nước ta, chống mọi sự kỳ thị, chia rẽ dân tộc Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, với những chương trình đầu tư đồng bộ và có trọng điểm, miền núi và vùng đồng bào dân tộc đã có những đổi thay mạnh mẽ, vươn lên cùng với sự phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, nếu như ở các Đại hội IX, X, Đảng ta khẳng định vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc là vấn đề cơ bản mang tính chiến lược của cách mạng Việt Nam thì ở Đại hội XI, Đảng ta coi đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Việc khẳng định như vậy là đúng đắn, cần thiết nhưng có lẽ là chưa đủ Bởi, vấn đề dân tộc là vấn đề rộng lớn,
Trang 16bao hàm nhiều nội dung chứ không thể chỉ là vấn đề đoàn kết các dân tộc Cụm từ
“đoàn kết các dân tộc” chỉ đề cập tới một trong những khía cạnh của vấn đề dân tộc, còn cụm từ “vấn đề dân tộc” bao hàm trong đó nội dung về “đoàn kết các dân tộc” Nhìn vào thực tiễn lịch sử thế giới cũng như hiện tại thấy rằng, vấn đề dân tộc là một vấn đề lớn, chứa đựng những phức tạp tiềm ẩn dễ bùng phát và rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng nếu Nhà nước không có những sự quan tâm cần thiết
và những chính sách khôn khéo, đúng đắn Việc Liên Xô sụp đổ là do nhiều nguyên nhân trong đó không thể không kể đến việc nước này đã không coi trọng đúng mức vấn đề dân tộc, chủ quan cho rằng vấn đề dân tộc đã được giải quyết xong, giờ chỉ còn phải giải quyết vấn đề giai cấp Song, thực tế đã bác bỏ quan điểm sai lầm đó Việc các nước cộng hòa lần lượt tuyên bố độc lập, tách ra khỏi Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết, trên thực tế là tiếng chuông cảnh tỉnh cho các quốc gia đa dân tộc trong việc phải chú trọng tới vấn đề dân tộc Do
đó, thiết nghĩ, cần phải tiếp tục khẳng định theo tư tưởng của Hội nghị lần thứ bảy khóa IX và của các Đại hội IX, X là: Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc là vấn đề có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng nước ta Điều này không chỉ
là vấn đề câu chữ mà có khẳng định như vậy mới bao quát và thấy hết những nội dung của vấn đề dân tộc để từ đó có những giải pháp chiến lược, cơ bản và có những chính sách đầu tư thỏa đáng nhằm tạo đà cho sự phát triển nhanh hơn của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào - yếu tố cơ bản để xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta
1 3.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng
quý báu của nhân dân ta Người cho rằng: “ muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng vô sản Trong từng thời kỳ, từn g
Trang 17giai đoạn cách mạng ,có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người nhân thức là vấn đề sống còn của cách mạng Đ o à n k ế t k h ô n g p h ả i l à t h ủ đ o ạ n c h í n h t r ị n h ấ t t h ờ i
m à t ư t ư ở n g đ o à n k ế t l à t ư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam Đoàn kết quyết định thành công cách mạng vì: đoàn kết tạo nên sức mạnh, là thenchốt của thành công Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc vào một mối thống nhất Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui
mô, mức độ của thành công Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng chủ tịch Hồ Chí Minh nói:“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc
sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ q u ố c D ù đ ị c h h u n g t à n , x ả o q u y ệ t đ ế n m ứ c n à o ,
đ ụ n g đ ầ u n h ằ m b ứ c t ư ờ n g đ ó , c h ú n g cũng phải thất bại” Để thấy rõ hơn
vị trí của sức mạnh lực lượng toàn dân đoàn kết trong thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám, chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra:“Vì sao có cuộc thắng lợi đó? Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo là cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết Không ai thắng được lực lượng đó”Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận:“Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nàodân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn ”.Và Người khuyên dân ta rằng:“ Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh ” Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do
1.3.1.Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trang 18Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu tiên, không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ, gái, trai, giàu, nghèo Nói dến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung Người đã nhiều lần nói rõ: “ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai
có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ” Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người Xác định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, trí thức Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân Người cho rằng: liên minh công nông - lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc
1.3.2 Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc; đồng thời, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào nhân dân, tin vào con người
Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người Người đã nhiều lần nhắc nhở: "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng
ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ" tinh thần yêu nước gắn liền với
ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết đã trở thành một tình cảm tự nhiên, in đậm dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình - làng xã - quốc gia Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần
Trang 19cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam Từ đời này sang đời khác, tổ tiên ta đã có rất nhiều chuyện cổ tích, ca dao, ngạn ngữ ca ngợi truyền thống đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ và nhận thức được vai trò của truyền thống yêu nước
- nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc Người khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của cả dân tộc, trở thành giá trị bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của người Việt Nam, được lưu truyền qua các thế hệ từ thời các vua Hùng dựng nước, tới Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu… Cho nên, vì lợi ích của cách mạng, cần phải có lòng khoan dung độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi con người mới có thể tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài nhưng cả năm ngón đều thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiện đại đoàn kết Người tuyên bố: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ Người tha thiết kêu gọi tất cả những ai có lòng yêu nước, không phân biệt tầng lớp, tín ngưỡng, chính kiến và trước đây đã từng đứng về phe nào, hãy cùng nhau đoàn kết vì nước, vì dân Để thực hiện được đoàn kết, cần xóa bỏ
Trang 20hết mọi thành kiến, cần phải thật thà hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối truyền thống dân tộc “nước lấy dân làm gốc, đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý mácxít “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Theo Người, DÂN là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng,
là nền, gốc và chủ thể của Mặt trận Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở những lời kêu gọi, những lời hiệu triệu mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, một khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân tộc nó phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức Tổ chức
đó chính là Mặt trận Dân tộc thống nhất Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, nơi tập hợp mọi người dân nước Việt, không chỉ
ở trong nước mà còn bao gồm cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù
ở bất cứ nơi nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về Tổ quốc Việt Nam, đều được coi là thành viên của Mặt trận.Tùy theo từng thời kỳ, căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng, cương lĩnh và điều lệ của Mặt trận dân tộc thống nhất có thể có những nét khác nhau, tên gọi của Mặt trận dân tộc thống nhất theo
đó, cũng có thể khác nhau: Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận Dân chủ (1936), Mặt trận nhân dân phản đế (1939), Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Liên Việt (1946), Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam (1960), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955, 1976) Song thực chất chỉ là một, đó là tổ chức Chính trị - xã hội rộng lớn của nhân dân Việt Nam, nơi quy tụ, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất của tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân
Hiện nay, nước ta đã thu được những thành tựu cơ bản Dưới sự lãnh đạo của đảng, việt nam đ a n g x â y d ự n g n ề n k i n h t ế t h ị t r ư ờ n g đ ị n h h ư ớ n g
x ã h ộ i c h ủ n g h ĩ a , x â y d ự n g n h à n ư ớ c p h á p quyền xã hội chủ nghĩa của
Trang 21dân, do dân, vì dân Việt nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển.Trong những năm đổi mới, nền kinh
tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so vớicác nước khác trong khu vực Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định Tình hình xã hội có tiến bộ Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế Thế và lực của đất nước ta mạnh lên rất nhiều so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nôi lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bền vững, trước mắt phấn đấu đến năm 2020 về
cơ bản làm cho việt nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực conngười, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninhđược tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về
cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao.Mặt khác, việt nam đang đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn đan xen nhau Sự nghiệp đổi mới của nước ta trong những năm tới, có cơ hội để phát triển của đất nước Đó
là lợi thế so sánh để phát triển do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nội lực là hết sức quan trọng Những cơ hội tạo cho đất nước ta có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu nhanh những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới Mặt khác, chúng ta rút ra đ ược nhiều bài học từ cả những thành công và yếu kém của gần hai chục năm tiến hành sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh
sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Những thành tựu và thời cơ đã cho phép nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinhtế độc lập tự chủ, đưa việt nam trở thành một nước công nghiệp, tiếp tục ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa nội lực Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức, nguy cơ hay những khó khăn lớntrên con
Trang 22đường phát triển của đất nước Ví như nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suythoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước,gây bất bình và làm giả m niềm tin trong nhân dân Các thế lực phản động không ngừng tì m mọicách thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do đảng cộng sản việt nam lãnh đạo Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết củanhân dân ta, luôn kích động cái gọi là
“dân chủ, nhân quyền”, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng ligián, chia rẽ nội
bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh" đang đòi hỏi toàn ðảng, toàn quân và toàn dân thực hiện chiến lược đại đoànkết toàn dân tộc ở chiều sâu đặc biệt, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ tri thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước
Tóm lại: Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết của dân tộc Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của cả dân tộc, trở thành giá trị bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của người Việt Nam, được lưu truyền qua các thế hệ từ thời các vua Hùng dựng nước, tới Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung…Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu
và chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững
Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu… Cho nên, vì lợi ích của cách mạng, cần phải có lòng khoan dung độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi con người mới có thể
Trang 23tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài nhưng cả năm ngón đều thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiện đại đoàn kết Người tuyên bố: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”[Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, tr.438] Người tha thiết kêu gọi tất cả những ai có lòng yêu nước, không phân biệt tầng lớp, tín ngưỡng, chính kiến và trước đây đã từng đứng về phe nào, hãy cùng nhau đoàn kết vì nước, vì dân Để thực hiện được đoàn kết, cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần phải thật thà hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Để thực hành đoàn kết rộng rãi, cần có niềm tin vào nhân dân Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối truyền thống dân tộc “nước lấy dân làm gốc, đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý mácxít “Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng” Theo Người, DÂN là chỗ dựa vững chắc của Đảng,
là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng, là nền, gốc và chủ thể của Mặt trận
Chương II: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG TÌNH ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC ANH EM KINH - KHMER – HOA – CHĂM Ơ TỈNH TRÀ VINH TRONG THỜI GIAN VỪA QUA
Trang 242.1 Tình hình phát triển các dân tộc Kinh – Khmer – Hoa – Chăm ở Tỉnh Trà Vinh hiện nay
Trà Vinh là tỉnh nằm ở hạ lưu giữa sông Tiền và sông Hậu, có 65 km bờ biển, diện tích đất tự nhiên 222.560 ha, dân số trên 1 triệu người, trong đó có trên( 69%) dân số là người kinh, 29% là người Khmer, 1% là người Hoa, và một số ít là người Chăm Toàn tỉnh có 342 cơ sở thờ tự tôn giáo, có khoảng 4.760 tu sĩ, chức sắc, trong đó có 141 chùa khmer với khoảng 3.500 vị sư tu học theo phong tục và hầu hết người Khmer theo đạo Phật, đa số sống bằng nghề nông, mặt bằng dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, điều kiện phát triển kinh tế khó khăn, hộ nghèo luôn chiếm tỷ lệ cao Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer
có nền văn hóa dân tộc đặc trưng: tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù Kinh tế chủ yếu dựa vào chăn nuôi, và trồng trọt Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người kinh – khmer – Hoa - Chăm Như người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Lễ hội nghinh ông (lễ cúng biển), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác.(lễ hội nghinh ông diễn ra vào ngày 10 đến 12 tháng 5 hằng năm) Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến trúc độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om Theo thống kê trên địa bàn Trà Vinh có tới 141 chùa Khmer Lễ hội cúng ông (Quan Công, địa phương gọi là "ông bổn") của người Hoa vào rằm tháng 7 hàng năm tại huyện Cầu Kè Vài nơi tập trung khu xóm theo Thiên Chúa Giáo như Bãi San, Đức Mỹ Vài nơi tập trung khu xóm theo Thiên Chúa Giáo như Bãi San, Đức Mỹ Nhà thờ tại thị xã Trà vinh có kiến trúc đẹp và cổ điển Giáo xứ Nhị Long huyện Càng Long có Cha cố rất trẻ thụ phong Linh mục lúc 28 tuổi (Cha Sơn) Qua chiều dài lịch sử gắn bó lâu dài của ba dân tộc anh em kinh – Khmer – Hoa - Chăm ở Trà vinh Đã hội tụ dầy đủ đặt điểm, truyền thống, văn hóa, phong tục của các dân tộc anh em cùng chung sống giúp đỡ lẫn nhau tạo
Trang 25thành cộng đồng dân tộc anh em sống hòa viện vào nhau, đã chung sống từ thời xưa cho đến ngày nay thì tinh làng, nghĩa xóm, đoàn kết đấu tranh giữ nước Nước
ta trải qua biết bao cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, chống kẻ thù xâm lược cho dù
là một nước đế quốc hùng mạnh thế giới đã bị dân tộc Việt Nam, Cách mạng Việt Nam đảy lùi đánh bại thắng lợi rực rỡ giữ nước cũng như đang trong thời kỳ xây dựng đất nước ngày nay mối quan hệ đoàn kết đó vẫn duy trùy và phát huy hơn nữa tình đoàn kết ba dân tộc anh em xây dựng Trà Vinh nói riêng và xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn Đó là nhờ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay và nhờ một phần vào việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, để hiểu rỏ hơn nữa về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy tình đoàn kết các dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa – Chăm ở tỉnh Trà Vinh hơn nữa
2.2 Thành tựu xây dựng tình đoàn kết của các dân tộc Kinh – Khmer – Hoa – Chăm ở tỉnh Trà Vinh trong thời gian vừa qua
Hiện nay, sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã thu được những thành tựu cơ bản Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển Trong những năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định Tình hình xã hội có tiến
bộ Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế Thế và lực của đất nước ta mạnh lên rất nhiều so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nội lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bềnh vững Phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Riêng ở tỉnh Trà vinh tình hình kinh tế - chính