Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tư tưởng thì cơ sở hạ tầng của nó không thể đứng vững được.Khi nói đến tác động của kiến trúc thượng tầng đối với c
Trang 1Nhà nước là yếu tố quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng Trong đó, cơ
sở hạ tầng bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu quan hệ sản xuất khác, tạo tiền đề cho những thiết chế chính trị ra đời Thực vậy, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng luôn có mối quan hệ biện chứng, đan xen và bổ sung cho nhau Hai yếu tố kinh tế và chính trị không thể tồn tại độc lập, tách rời nhau mà phải phát triển song song, bởi lẽ kinh tế phát triển sẽ dẫn đến chính trị cũng thay đổi theo và ngược lại Nhà nước là trung tâm, là trụ cột của hệ thống chính trị; nó có tác động sâu sắc và mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Xây dựng Nhà nước pháp quyền đã có tiền lệ gắn liền với lịch sử hình thành với tư cách là một kiểu nhà nước đã thể hiện được tính tiến bộ của mình so với các kiểu nhà nước độc tài, chuyên chế… Đối với các kiểu Nhà nước trước đó còn nhiều hạn chế, quyền lực nhà nước phục vụ cho giai cấp thống trị, bất bình đẳng xã hội ngày càng gay gắt Chính vì thế, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
Trang 2pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đem lại công bằng, dân chủ, hạnh phúc ấm no cho nhân dân là một tất yếu khách quan Nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp lý…
Tuy nhiên, dưới góc độ của Triết học, việc lí giải tính tất yếu và những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần phải được tiếp tục nghiên cứu nhằm bổ sung những luận cứ khoa học cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Chính yêu cầu này, đã thôi thúc tôi lựa chọn đề
tài: “Vận dụng quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cho mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến hai bộ phận chính: Đó là những đặc trưng cơ bản và mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhằm phát huy nguồn lực cơ sở hạ tầng để phát triển kiến trúc thượng tầng kinh tế - xã hội với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp logic – lịch sử
5 Kết cấu của đề tài
Trang 3Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn gồm ba chương, 7 tiết.
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG
TẦNG VỚI NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 Quan điểm trước Mác về Nhà nước pháp quyền
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, do đòi hỏi của lịch sử và xuất phát từ khát vọng về tự do, dân chủ, bình đẳng và quyền con người của nhân dân, có hai thời kì xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm tích cực, tiến bộ về Nhà nước pháp quyền Đó
là thời kì Nhà nước cổ đại Hy Lạp, La Mã, khi Nhà nước chiếm hữu nô lệ đã thể hiện hết tính chất tàn bạo, dã man của nó và thời kì cách mạng tư sản ở Châu Âu, khi giai cấp tư sản phát động các cuộc cách mạng đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, xây dựng nền cộng hòa và xã hội tự do, bình đẳng, bác ái
Những tư tưởng tích cực tiến bộ về Nhà nước pháp quyền trong thời kì cổ đại ở Châu Âu thể hiện rõ nét ở các nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kì này như Xôcrát, Đêmôcrít, Platôn, Arítxtốt, Xixêrôn
Xôcrát (469 – 399 Trước Công nguyên): Ông tự coi mình là nhà hiền triết đấu tranh cho khai sáng tinh thần nhân loại, ủng hộ triệt để nguyên tắc tuân thủ pháp luật Ông cho rằng, xã hội không thể tồn tại nếu các đạo luật bất lực; giá trị cao nhất là công lý, tuân thủ pháp luật của Nhà nước; không tuân thủ pháp luật thì cũng không thể có Nhà nước; công dân tuân thủ pháp luật thì Nhà nước sẽ vững mạnh và phồn vinh
Đêmôcrít (460 - 370 Trước Công nguyên): Được coi là người đầu tiên lý giải một cách khoa học về sự xuất hiện và sự hình thành con người, xã hội loài người Ông cho rằng, sự xuất hiện loài người là quá trình phát triển tự nhiên của thế giới; trong xã hội, các đạo luật là phương tiện bảo đảm cho đời sống thuận lợi của con người trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội; đạo đức đòi hỏi phải có sự tuân thủ pháp luật, tuân thủ chính quyền
Platôn (427 - 347 Trước Công nguyên): Ông là học trò của Xôcrát, một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của thời cổ đại Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền
Trang 5được trình bày chủ yếu trong hai tác phẩm Nhà nước và Các luật Ông cho rằng, phân công lao động trong bộ máy Nhà nước là cần thiết, trong đó hoạt động xét xử của tòa án là nhằm bảo vệ pháp luật và nêu luận điểm nổi tiếng: Ở đâu mà luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó thì ở đó, Nhà nước sẽ sụp
đổ mau chóng Còn ở đâu mà luật đứng trên nhà cầm quyền, họ chỉ là nô lệ của luật thì ở đó có sự cứu thoát của Nhà nước và tất cả các lợi ích mà chỉ có thượng đế mới
có thể ban phát cho các Nhà nước
Arítxtốt (384 - 322 Trước Công nguyên): Ông là học trò của Platôn và được C.Mác đánh giá là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại Ông cho rằng, có tồn tại pháp luật chung, tự nhiên, khác với pháp luật riêng, cao hơn pháp luật riêng do Nhà nước ban hành; đạo đức phải phục vụ pháp luật; hành động công bằng là hành động theo pháp luật Ông cực lực lên án người cầm quyền không tuân theo pháp luật, chà đạp lên pháp luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực và cần phải phân quyền trong tổ chức Nhà nước Những quan điểm nêu trên được Arítxtốt trình bày trong tác phẩm Đạo đức học và Thuật hùng biện
Xixêrôn (106 - 43 Trước Công nguyên): Ông là nhà hoạt động Nhà nước, nhà luật học và nhà hùng biện của thời kì La mã cổ đại, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như Về nhà nước, Về những đạo luật và Về các nghĩa vụ… Ông đã có những tư tưởng tiến bộ như Nhà nước là công việc chung của nhân dân; phân biệt
ba hình thức Nhà nước: Dân chủ, quý tộc và quân chủ; người điều hành công việc Nhà nước phải sáng suốt, công minh, có khả năng hùng biện và hiểu biết những nguyên lý cơ bản của pháp luật… Đặc biệt, Xixêrôn đưa ra quan điểm nổi tiếng: Tất
cả mọi người đều ở dưới hiệu lực của pháp luật và nhân dân phải coi pháp luật như chốn nương thân của mình
Quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời kỳ cách mạng tư sản
Những quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời kỳ cổ đại được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc tài và vô pháp luật ở Châu Âu thế kỷ XVII, XVIII Trong thời kỳ này tư tưởng về Nhà nước pháp quyền được phát triển khá phong phú, toàn diện, hình thành hệ thống quan điểm trong các học thuyết chính trị - pháp
Trang 6lý, tiêu biểu là quan điểm của các nhà tư tưởng: J.Lôcke, S.L.Môntexkie và J.J.Rut – xô.
Trong thời kỳ này, ngoài các nhà lý luận nói trên, nhiều nhà tư tưởng, triết học, luật học khác ở Châu Mỹ đã góp phần phát triển các nhà tư tưởng về nhà nước pháp quyền như Tômát, Jepphecxơn (1743 – 1826) – tác giả của bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1976, Tômát Pên (1737 – 1809), Jôn Ađam (1735 – 1826); Jem Mêđison (1752 – 1836)…
1.2 Quan điểm Mác – Lênin về quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất, bao giờ cũng nảy sinh những mối quan hệ giữa người và người Mối quan hệ ấy gọi là quan hệ xã hội Nhưng cái gắn bó con người thành xã hội trước hết là những quan hệ giữa họ với nhau trong lĩnh vực sản xuất mà Mác gọi là quan hệ sản xuất mà trên nó hình thành nên kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng và quy luật cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng Đây là một trong những quy luật cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Khái niệm, kết cấu của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định
Khái niệm cơ sở hạ tầng phản ánh chức năng xã hội của các quan hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội Vì vậy, Mác viết: “Toàn
bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng nên một kiến trúc pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”
Kết cấu của cơ sở hạ tầng bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất là tàn dư của xã hội cũ, quan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội tương lai
Trong quan hệ sản xuất đó thì quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo, nó quy định tất cả các quan hệ sản xuất còn lại, nó quy định và tác động một cách trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, đồng thời cũng quy định tính chất, đặc trưng của toàn bộ cơ sở hạ tầng đương thời Chẳng
Trang 7hạn, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản giữ địa vị thống trị sự quyết định đặc trưng cơ sở hạ tầng của chế độ tư bản là có sự bóc lột bằng giá trị thặng dư Còn trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữ địa vị thống trị nó sẽ quyết định đặc trưng của cơ sở hạ tầng ấy không có sự bóc lột.
Nhưng trong khi nhấn mạnh tính quy định của quan hệ sản xuất thống trị trong cơ sở hạ tầng, chủ nghĩa duy vật lịch sử còn cho rằng, trong mỗi cơ sở hạ tầng của xã hội còn có các quan hệ sản xuất khác như quan hệ sản xuất là tàn dư của xã hội trước, quan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội sau Giữa chúng tuy khác nhau nhưng không tách rời nhau, vừa đấu tranh với nhau vừa liên hệ với nhau và cùng hình thành cơ sở hạ tầng của một hình thái kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định Chẳng hạn trong hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, ngoài quan
hệ sản xuất phong kiến thống trị còn tồn tại tàn dư của xã hội nô lệ, tồn tại chế độ sở hữu cá thể của nông dân và thợ thủ công và sau này nảy sinh ra mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Tổng hợp tất cả các quan hệ sản xuất trong xã hội hình thành trên cơ sở hạ tầng, những quan hệ sản xuất này chúng ta không tự tạo ra mà chúng được hình thành khách quan trong quá trình sản xuất vật chất Nó cũng trực tiếp thay đổi theo
sự biến đổi của lực lượng sản xuất, khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thay đổi thì những quan hệ sản xuất đó tất yếu cũng mất đi
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, cơ sở hạ tầng của xã hội cũng có tính đối kháng Do địa vị kinh tế của các giai cấp khác nhau nên việc tồn tại mâu thuẫn
và đấu tranh trong cơ sở hạ tầng của xã hội là điều không tránh khỏi
Kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những tư tưởng, quan điểm xã hội như chính trị, pháp luật, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học… Với những thiết chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội và mối quan hệ nội tại giữa chúng, được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất đinh
Mỗi yếu tố kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật phát triển riêng nhưng không tồn tại tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại với nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng đó
Trang 8Các yếu tố của kiến trúc thượng tầng tuy có quan hệ khắng khít với nhau nhưng mỗi yếu tố có tính độc lập tương đối, có quy luật vận động riêng và cùng phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng Song các yếu tố của kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ khác nhau với cơ sở hạ tầng Có các yếu tố liên hệ một cách trực tiếp như Nhà nước, pháp luật, các tổ chức chính trị Tính trực tiếp của nó được thể hiện khi cơ sở
hạ tầng sinh ra nó thay đổi hoặc mất đi thì các yếu tố đó cũng thay đổi và mất đi theo Còn các yếu tố khác như đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học… Thì liên hệ với cơ sở hạ tầng một cách gián tiếp, tính gián tiếp của nó được thể hiện khi cơ sở
hạ tầng sinh ra nó thay đổi thì các yếu tố này không thay đổi ngay mà nó tồn tại dai dẳng ở chế độ xã hội sau Đồng thời, để tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, chúng phải thông qua các yếu tố trung gian như Đảng, Nhà nước thì mới phát huy được tác dụng Dù có sự tác động khác nhau, nhưng tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều phản ánh cơ sở hạ tầng, biến đổi theo sự biến đổi của cơ sở hạ tầng của xã hội
Kết cấu kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp đối kháng gồm hệ tư tưởng và thể chế của giai cấp thống trị, các quan điểm, tư tưởng tàn dư của xã hội
cũ để lại, quan điểm tư tưởng của các giai cấp mới ra đời, quan điểm tư tưởng của các tầng lớp trung gian
Các hệ tư tưởng, các quan điểm chính trị cùng các tổ chức, thể chế trên đây hợp thành kiến trúc thượng tầng của mỗi một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Bộ phận chủ yếu chi phối, quyết định trong mỗi giai đoạn lịch sử là hệ tư tưởng, quan điểm chính trị và thể chế của giai cấp đang giữ địa vị thống trị Do đó, tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị cũng quyết định tính chất cơ bản của kiến trúc thượng tầng Tất cả các quan điểm tư tưởng khác đều chịu sự chi phối của hệ tư tưởng thống trị
Nếu cơ sở hạ tầng tồn tại những quan hệ sản xuất đối kháng và chính bản thân nó nảy sinh ra những cuộc đấu tranh giai cấp thì kiến trúc thượng tầng tiêu biểu cho những quan hệ tư tưởng của các giai cấp mang tính đối kháng Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp
Trang 9Khi nói tới kiến trúc thượng tầng ta đặc biệt chú ý tới vai trò của Nhà nước,
nó là bộ phận có quyền lực mạnh nhất Vai trò của Nhà nước được thể hiện thông qua pháp luật Chính nhờ có Nhà nước mà hệ tư tưởng của giai cấp thống trị thống trị được toàn bộ đời sống xã hội Tính giai cấp của kiến trúc thượng tầng thể hiện rõ
ở sự đối lập về quan điểm, tư tưởng và cuộc đấu tranh về mặt chính trị, tư tưởng của các giai cấp đối kháng [12, tr.275]
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, kinh tế sẽ quyết định chính trị, chính trị là sự phản ánh các mối quan hệ kinh tế Khi nói tới cơ sở hạ tầng là nói tới mối quan hệ kinh tế, nói tới kiến trúc thượng tầng là nói tới mối quan hệ chính trị
Do vậy, trong mối quan hệ này cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng trước hết thể hiện ở chỗ: Cơ sở hạ tầng nào thì sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy Tính chất của quan hệ sản xuất nào thống trị thì đẻ ra kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng
Sự tồn tại của kiến trúc thượng tầng chính trị là bảo vệ cho quan hệ sản xuất đang chi phối toàn bộ đời sống xã hội Trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về đời sống tinh thần Trong lĩnh vực quan hệ kinh tế của xã hội có biểu hiện mâu thuẫn xảy ra trong kiến trúc thượng tầng, chúng ta không đi tìm ở ngay bản thân nó mà phải xét đến cơ sở hạ tầng nơi sinh ra, hình thành nên kiến trúc thượng tầng Có nghĩa là mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế sẽ dẫn đến mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện, những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng sớm muộn cũng dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng Chẳng hạn, việc thay đổi chế độ kinh tế nô
lệ bằng chế độ kinh tế phong kiến dẫn tới kết quả là kiến trúc thượng tầng suy tàn của chế độ nô lệ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng của xã hội phong kiến
mà Nhà nước, pháp luật, hệ tư tưởng của nó là công cụ quyền lực bảo vệ cho cơ sở kinh tế phong kiến đã hình thành và phát triển Nhưng chúng ta cần thấy rằng sự thay đổi đó có thể diễn ra ngay trong một hình thái kinh tế - xã hội, có nghĩa là khi
Trang 10sự biến đổi của cơ sở hạ tầng thì kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo Ví dụ: Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giai đoạn trước nền kinh tế của chúng ta là bao cấp, tương ứng với nền kinh tế bao cấp đường lối chính trị còn chưa năng động Nay nền kinh tế của nước ta chuyển sang kinh tế thị trường thì chính trị đã năng động, mở cửa, quan hệ hợp tác với nước ngoài.
Do đó, khi cơ sở hạ tầng của một xã hội mất đi, kiến trúc thượng tầng sinh
ra nó cũng mất theo Cơ sở hạ tầng mới ra đời cũng hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó, Nhà nước mới ra đời, hệ tư tưởng của giai cấp mới thay thế tư tưởng của giai cấp cũ Mác nói “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thay đổi đó diễn ra rất gay gắt, phức tạp Phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp giữa hai giai cấp thống trị và bị trị, dẫn tới cách mạng xã hội, cơ sở hạ tầng cũ thay thế bằng cơ sở hạ tầng mới thì giai cấp thống trị bị xóa bỏ, thay vào đó
là sự thống trị về chính trị của giai cấp mới
Nhưng nói như vậy không có nghĩa là cơ sở hạ tầng cũ mất đi, kiến trúc thượng tầng cũ mất đi ngay lập tức Chỉ có những yếu tố nào trong kiến trúc thượng tầng liên hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng thì mất ngay Còn những yếu tố liên hệ gián tiếp thì còn tồn tại dai dẳng sau khi cơ sở hạ tầng của nó đã bị tiêu diệt Hay trong
cơ sở hạ tầng cũng vậy, có những yếu tố hình thức nào sau khi bị xóa bỏ rồi, giai cấp thống trị mới vẫn còn sử dụng để xây dựng, phát triển cơ sở kinh tế mới Ví dụ: Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn còn sử dụng những hình thức kinh tế cũ như hàng hóa, giá trị, giá cả, tiền tệ…
Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Mặt dù yếu tố kinh tế giữ vai trò quyết định, song yếu tố chính trị không thụ động, nó có vai trò to lớn tác động trở lại đối với kinh tế làm cho kinh tế phát triển
Do vậy, kiến trúc thượng tầng có vai trò tác động lại cơ sở hạ tầng
Sự tác động đó được thể hiện: Kiến trúc thượng tầng được củng cố, bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, đồng thời đấu tranh chống lại cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ
Trang 11Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị về chính trị, tư tưởng cho giai cấp đang thống trị về kinh tế trong xã hội Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tư tưởng thì cơ sở hạ tầng của nó không thể đứng vững được.
Khi nói đến tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng, chúng
ta đặc biệt chú ý tới vai trò của Nhà nước, vì đó là bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế Mặt khác, Nhà nước dùng hệ thống bạo lực như nhà tù, quân đội, cảnh sát, viện kiểm sát để bảo vệ sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị, bảo vệ vững chắc quan hệ sản xuất đang thống trị Bên cạnh những yếu tố cơ bản của kiến trúc thượng tầng tác động lại cơ sở hạ tầng, các yếu tố khác cũng có vai trò nhất định trong việc củng cố cơ sở hạ tầng Nhưng để tác động trở lại cơ sở hạ tầng, những yếu tố này phải thông qua yếu tố trung gian là Nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng thì mới phát huy được sức mạnh, qua đó tác động đến cơ sở hạ tầng [12, tr.280]
1.3 Nhà nước pháp quyền từ góc nhìn cơ sở hạ tầng
Quan điểm Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật kiểu mới
Tư tưởng, quan điểm của V.I.Lênin về Nhà nước pháp quyền và pháp luật kiểu mới
V.I.Lênin đã tiếp tục phát triển những tư tưởng, quan điểm về Nhà nước và pháp luật của C.Mác và Ăngghen trong quá trình lãnh đạo nhân dân Nga giành chính quyền và xây dựng Nhà nước kiểu mới
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định tư tưởng của C.Mác và Ăngghen về nguồn gốc của Nhà nước Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, ra đời và gắn với sự xuất hiện của giai cấp và chế độ tư hữu “Bất cứ
ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện” Người khẳng định sự cần thiết phải “đập tan” Nhà nước bóc lột để giành chính quyền về tay nhân dân, giai cấp vô sản phải xây dựng chính đảng để lãnh đạo cách mạng và tự trở thành giai cấp thống trị V.I.Lênin chỉ ra rằng, Nhà nước nào cũng có bản chất giai cấp, là công cụ của giai cấp thống trị, “Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của một
Trang 12giai cấp này đối với giai cấp khác” Trong xã hội xã hội chủ nghĩa Nhà nước là tổ chức chính trị của nhân dân, thể hiện ý chí của nhân dân, theo V.I.Lênin, với việc sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, Nhà nước xã hội chủ nghĩa không còn là Nhà nước nguyên nghĩa nữa, nó không chỉ có chức năng chấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột đã bị đánh đổ mà còn có vai trò quan trọng là tổ chức xây dựng xã hội mới, trong đó quan trọng hơn cả là chức năng tổ chức quản lý kinh tế Đến giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa xã hội, khi không còn giai cấp nữa thì cũng không cần Nhà nước, Nhà nước sẽ tự “tiêu vong” Người chỉ ra rằng, bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội sẽ xuất hiện nhiều hình thức chính quyền Nhà nước của giai cấp công nhân, song thực chất cũng là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản Người chỉ rõ: Điều cốt lõi trong học thuyết của C.Mác là đấu tranh giai cấp, nhưng “Kẻ nào chỉ thừa nhận có đấu tranh giai cấp không thôi, thì kẻ đó chưa phải là một người Mácxít… Chỉ người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên chính vô sản thì mới là người Mácxít” Theo Người, “Chuyên chính vô sản… Không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực Cơ sở kinh tế của bạo lực cách mạng đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản”, “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới”.
Trong khi nhấn mạnh bản chất giai cấp của nhà nước kiểu mới, V.I.Lênin cũng chỉ ra bản chất dân chủ thực sự của Nhà nước Xôviết ở Nga: “Các Xôviết là
do chính bản thân những người lao động thiết lập ra bằng nghị lực và sức sáng tạo của họ, đó là cái đảm bảo duy nhất cho sự tận tụy vô biên của họ đối với quyền lợi của quần chúng Khi cử đại biểu của mình vào Xôviết, mỗi người nông dân cũng có thể bãi miễn họ, và đó chính là tính chất nhân dân chân chính của các Xôviết” Người chỉ rõ: “Chính quyền Xôviết là một kiểu nhà nước mới, không có bộ máy quan liêu… Một kiểu nhà nước trong đó nền dân chủ tư sản được thay thế bằng nền dân chủ mới, một nền dân chủ đang đưa đội tiền phong của quần chúng lao động lên hàng đầu, làm cho quần chúng lao động lên hàng đầu, làm cho quần chúng đó trở
Trang 13thành những người lập pháp và hành pháp, thành những đội vũ trang, bảo vệ, và thiết lập một bộ máy có khả năng cải tạo quần chúng” V.I.Lênin phản đối định kiến cho rằng, người nông dân do trình độ hạn chế không thể tham gia quản lý nhà nước
và xã hội Tư tưởng này thể hiện đậm nét ở Môngtexkiơ khi hạn chế quyền của những người lao động tham gia quản lý nhà nước và xã hội V.I.Lênin cho rằng,
“Chính quyền mới” với tính cách là chuyên chính của tuyệt đại đa số, đã có thể duy trì và đã được duy trì chỉ là nhờ vào sự tín nhiệm của quần chúng đông đảo, chỉ bằng lôi cuốn một cách tự do nhất, rộng rãi nhất và mạnh mẽ nhất toàn thể quần chúng tham gia chính quyền, “Đó là chính quyền công khai đối với mọi người, làm mọi việc trước mặt quần chúng, dễ dàng gần gũi nó, nó trực tiếp sinh ra từ quần chúng, là cơ quan trực tiếp đại biểu cho quần chúng nhân dân và cho ý chí của họ” Người còn chỉ rõ khả năng tham gia quản lý nhà nước và xã hội của những người lao động bình thường nếu họ được học về quản lý và trực tiếp tham gia quản lý:
“Chính quyền xôviết là một bộ máy, nhờ bộ máy này quần chúng có thể bắt tay ngay vào việc học tập quản lý nhà nước và tổ chức sản xuất trên quy mô toàn quốc” Như vậy, tư tưởng về chủ quyền nhân dân của Môngtexkiơ và J J Rútxô đã được V.I.Lênin phát triển toàn diện và triệt để, nhân dân không chỉ tham gia góp ý kiến trong các công việc của nhà nước mà còn là người trực tiếp thực hiện những công việc ấy
V.I.Lênin đặc biệt coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mọi tổ chức hoạt động của nhà nước Người khẳng định tính tất yếu khách quan về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước bởi vì “Chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân, là giáo dục đội tiền phong của giai cấp vô sản, đội tiền phong này đủ sức nắm chính quyền
và dẫn dắt toàn dân lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp đỡ tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản” Và “Về nguyên tắc Đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không phải nghi ngờ gì nữa” V.I.Lênin chỉ rõ Đảng thực hiện lãnh đạo nhà nước là lãnh đạo một cách toàn diện
về cả phương diện tổ chức và hoạt động của nhà nước: “Trong nước cộng hòa của
Trang 14chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban chấp hành trung ương Đảng” Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ để thực hiện vai trò lãnh đạo ấy, Đảng phải được xây dựng, củng cố để thực sự là đội tuyên phong của giai cấp công nhân: Nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ tính vững chắc, tính kiên định, tính trong sạch của Đảng ta Chúng ta phải cố gắng làm cho danh hiệu và ý nghĩa của đảng viên ngày càng cao hơn lên mãi Mặt khác, điều quan trọng hơn trong điều kiện Đảng cầm quyền là
“Cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng và Ban chấp hành trung ương của nó với nhiệm vụ của Chính quyền xôviết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ xôviết và các cơ quan xôviết, còn về đảng thì quyền lãnh đạo chung công tác của các cơ quan nhà nước gọp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên không chính qui và thường là nhỏ nhặt như hiện nay”
V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có đủ năng lực và phẩm chất cách mạng Người yêu cầu những người lãnh đạo “Gồm những người có uy tín nhất, có ảnh hưởng nhất, có kinh nghiệm nhất”, “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” Người yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải thành thạo trong công việc của mình, phải
có trình độ chuyên môn cao, Người chỉ ra rằng: “Làm sao các đồng chí có thể quản
lý được nếu không có được uy tín chuyên môn… Nếu không có kiến thức đầy đủ, nếu không tin thông khoa học quản lý”
Để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước V.I.Lênin hết sức quan tâm đến vấn đề đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ Người chỉ rõ: “Muốn đổi mới bộ máy nhà nước của chúng ta phải cố hết sức tự đặt cho mình nhiệm vụ sau đây: Một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi, và sau nữa, phải làm sao cho học thức ở nước
ta không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa… phải làm sao cho học thức thực sự ăn sâu vào trí não, hoàn toàn và thực tế trở thành một bộ phận khăng khít của cuộc sống” V.I.Lênin nhấn mạnh yêu cầu tự giác học tập, rèn luyện trong
Trang 15nhà trường, trong thực tiễn công tác, thi viết sách giáo khoa về quản lý, cử công nhân và hồng quân ưu tú ra nước ngoài học tập, nghiên cứu.
Trong tổ chức bộ máy nhà nước, V.I.Lênin cũng dành sự quan tâm thích đáng đối với công tác tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ Người yêu cầu khi tuyển chọn, đề bạc, bổ nhiệm cán bộ phải đánh giá theo các tiêu chuẩn: “Về mặt trung thực; về lập trường chính trị; về mặt hiểu biết công việc; về năng lực quản lý”
và không chần chừ, do dự, phải mạnh dạng thay đổi những cán bộ yếu kém, không chịu học tập
Gắn với vấn đề đào tạo, rèn luyện cán bộ, V.I.Lênin kịch liệt đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong hoạt động của bộ máy nhà nước Người viết: “Kẻ thù bên trong tệ hại nhất của chúng ta, chính là anh chàng quan liêu” và cảnh báo “Những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó” Đấu tranh chống quan liêu phải gắn với đấu tranh chống lãng phí và những lề thói của người sản xuất nhỏ Người căn dặn: “Chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ có giảm bớt đến mức tối đa tất cả những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng vững được và đứng vững như thế, không phải là đứng vững ở trình độ một nước tiểu nông, ở trình độ eo hẹp về mặt đó, mà là ở trình độ ngày càng vươn lên lên nền đại công nghiệp cơ khí” V.I.Lênin đã nhiều lần cảnh báo về sự thất bại của chủ nghĩa xã hội nếu như không đấu tranh chống lại, quan liêu, tham nhũng, lãng phí cũng như căn bệnh “kiêu ngạo cộng sản”, coi thường việc học tập, rèn luyện Để đấu tranh có hiệu quả với những căn bệnh ấy, vấn đề mấu chốt là kiểm tra, kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước Người nhấn mạnh: “Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc thực tế công tác – mấu chốt của toàn bộ công tác của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy”
V.I.Lênin quan tâm củng cố mối liên hệ máu thịt giữa các tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước với quần chúng coi đây là điểm khác biệt cơ bản giữa chế độ
tư bản chủ nghĩa với chế độ xã hội chủ nghĩa Người yêu cầu tổ chức bộ máy của Đảng và Nhà nước phải “Liên hệ với quần chúng Sống trong lòng quần chúng Biết
Trang 16tâm trạng quần chúng Biết tất cả Hiểu quần chúng Biết đến quần chúng Dành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng Những người lãnh đạo không được tách rời khỏi quần chúng bị lãnh đạo, đội tiên phong không được tách rời khỏi toàn bộ đội quân lao động” Giữ mối quan hệ với quần chúng, phát huy tối đa quyền làm chủ của họ sẽ tạo nên sức mạnh vô địch của nhà nước và chế độ mới Người yêu cầu phải “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn… Đó là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh vì cách mạng xã hội”.
Trong tổ chức, hoạt động của nhà nước, V.I.Lênin còn quan tâm đến nguyên tắc tập trung dân chủ, nhất là vấn đề quan hệ giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách Người cho rằng: “Lãnh đạo tập thể là điều cần thiết để giải quyết các công việc của nhà nước công nông Nhưng mọi sự thoái hóa về lãnh đạo tập thể, mọi sự lệch lạc đưa đến tình trạng quan liêu, thiếu tin thần trách nhiệm, mọi sự chuyển biến của các cơ quan lãnh đạo tập thể thành chổ bàn cải suông, điều là những tai hại rất lớn, cần phải chấm dứt cho bằng được, hết sức mau chóng, không được ngại dù bất cứ biện pháp nào” Người đòi hỏi “Một người nhất định hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc thực hiện một công việc nhất định”, “Nếu chế độ tập thể lãnh đạo là cần trong việc thảo luận các vấn đề văn bản thì cũng cần có chế độ trách nhiệm cá nhân và cá nhân điều khiển để tránh hiện tượng lề mề và hiện tượng trốn trách nhiệm”
Trong hoạt động của nhà nước Xôviết V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn
đề xây dựng pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp luật là ý trí của nhà nước và của nhân dân lao động Theo V.I.Lênin, “Nếu nó
là ý chí của nhà nước thì phải được biểu hiện dưới hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra; nếu không thế thì hai tiếng “ý chí” chỉ là một sự rung động không khí
do những âm thanh rỗng tuếch gây nên” Người cho rằng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, do tác động của nhiều yếu tố liên quan đến văn hóa, đến trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đến tập quán, thói quen của người sản xuất nhỏ… Nên người ta chưa ngay lập tức tự giác tuân theo mọi luật lệ của Chính quyền xôviết, vì vậy “Chúng ta cần có nhà nước Các tòa án xôviết phải là những cơ quan của nhà
Trang 17nước vô sản, thực hiện sự cưỡng bức ấy và nhiệm vụ to lớn của tòa án là phải giáo dục dân chúng về kỷ luật lao động” V.I.Lênin yêu cầu phải chấp hành nghiêm túc pháp luật của Chính quyền xôviết, nhất là cơ quan, cán bộ Đảng, nhà nước Khi cán
bộ đảng viên vi phạm pháp luật phải xử nặng hơn nhân dân Pháp chế xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc, nghĩa là mọi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, không thể “Dung túng quan điểm muôn thuở của nước Nga và những tập quán nữa man rợ muốn duy trì pháp chế của tỉnh Caluga cho khác với pháp chế của tỉnh Cadan” Khi thực hiện chính sách kinh tế mới, các quan hệ kinh tế, dân sự, được mở rộng thì càng đòi hỏi phải quan tâm hoàn thiện pháp luật, tăng cường pháp chế, kỷ luật, kỷ cương, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế Người chỉ rõ: “Hiện nay chúng ta phải phát triển sự trao đổi của dân chúng; chính sách kinh tế mới đòi hỏi điều đó, mà cái đó lại đòi hỏi phải có pháp chế cách mạng rộng lớn hơn… Điều kiện của một chính quyền vững vàng, chắc chắn và tiến bộ, sự trao đổi của dân chúng càng phát triển, thì lại càng phải cấp bách đề ra khẩu hiệu kiên quyết phải có pháp chế cách mạng rộng lớn hơn”
Trên đây là những tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về nhà nước và pháp luật kiểu mới Khác với các Mác và Ăngghen, V.I.Lênin là người trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền và xây dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước xôviết, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân Nga Vì vậy, những tư tưởng quan điểm của người hết sức phong phú và còn nguyên giá trị, ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền kiểu mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta Mặc dù trong
di sản của Người không đề cập đến khái niệm nhà nước pháp quyền nói chung và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng, nhưng xét về nội dung khoa học thì tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới thể hiện khá đầy đủ, sâu sắc những đặc trưng, nội dung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Quan điểm, tư tưởng của Người về nhà nước pháp
Trang 18quyền thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin với việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kho tàng tri thức kinh nghiệm của nhân loại, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới có nội dung rất phong phú, Người không chỉ quan tâm đến vấn đề giành chính quyền về tay nhân dân mà còn rất quan tâm đến vấn đề khó khăn, phức tạp hơn là xây dựng nhà nước mới của dân, do dân, vì dân như thế nào Có thể khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới trên những điểm chủ yếu sau:
Một là, giai cấp vô sản phải xây dựng chính đảng cách mạng để tổ chức
lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân Từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp và Châu Âu, C.Mác và Ăngghen đã đi đến kết luận rằng: Giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng công nhân là giai đoạn giai cấp vô sản
tự xây dựng thành giai cấp thống trị, là giai đoạn giành lấy dân chủ; mục tiêu của cách mạng… Sẽ không nên là chuyển giao bộ máy quân phiệt quan liêu từ kẻ này sang kẻ khác như trước nữa mà là đập tan bộ máy ấy V.I.Lênin cho rằng, việc đập tan bộ máy nhà nước tư sản thiết lập nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản là vấn
đề cơ bản của học thuyết mácxít về nhà nước và chỉ rõ những yếu tố cần thiết và khả năng giành chính quyền về tay nhân dân trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc Vận dụng những tư tưởng của C.Mác, Ăngghen
và Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm trước hết đến vấn đề giành chính quyền về tay nhân dân Theo Người, cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường Cách mạng tư sản Pháp và Mỹ Vì vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ điều kiện bảo đảm thắng lợi của cách mạng vô sản, trước hết là xây dựng chính Đảng của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng, lý luận đấu tranh cách mạng Chính đảng ấy có sứ mệnh tổ chức, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân
Hai là, về xây dựng nhà nước kiểu mới: Trong di sản tư tưởng của Hồ Chí
Minh, tư tưởng về tiến hành cách mạng của nhân dân là sự phát triển sáng tạo của lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng vô sản, trong quá trình lãnh đạo, xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã để lại di sản vô giá cả về lý
Trang 19luận lẫn thực tiễn trên lĩnh vực này Có thể khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới trên những quan điểm cơ bản dưới đây:
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh và phân tích cụ thể bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Người khẳng định giai cấp công nhân, Đảng của giai cấp công nhân
có vai trò là người lãnh đạo nhà nước và xã hội Vì thế, bản chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ nhà nước xã hội chủ nghĩa phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phải thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Người cho rằng: Sở dĩ giai cấp công nhân có vai trò lãnh đạo là do nó có “đặc tính cách mạng” “Đặc tính của giai cấp công nhân là: Kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo” [03 tr.212]
Nhà nước kiểu mới là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Bên cạnh nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ trong nhà nước ấy tính giai cấp hòa quyện với tính nhân dân
và tính dân tộc, “Trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, tức là của giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước, để thực hành dân chủ chuyên chính”, “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ”
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề đặt ra là làm sao để tất cả quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân thực sự là người làm chủ nhà nước
và xã hội Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta đã hy sinh làm kách mệnh rồi thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì chuyển giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” Nhân dân thực hiện quyền làm chủ xã hội thông qua các cơ quan nhà nước do nhân dân bầu ra, hoặc trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, bãi
Trang 20miễn những người không xứng đáng, kể cả những người làm việc trong Chính phủ
Đó là một cách rất hợp lý, để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả những người lao động Vậy, công nhân, nông dân, trí thức cách mạng cần nhận rõ rằng: Hiện nay, nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta, chứ không phải là những người làm thuê cho giai cấp bóc lột như thời cũ nữa Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình… Đã là người chủ Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà… Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”
Nhà nước kiểu mới là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật và kết hợp chặt chẽ với giáo dục tư tưởng, đạo đức
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy được tầm quan trọng của tính hợp pháp của nhà nước, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội và hoạt động của nhà nước, nhất là trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân Trong nhận thức và trong hành động, Hồ Chí Minh đã thể hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư tưởng đức trị và pháp trị
Trong công tác lãnh đạo nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, tăng cường pháp chế, Hồ Chí Minh coi trọng biện pháp phòng ngừa, răn đe hơn là trừng trị,
“phòng bệnh” hơn “chữa bệnh”
Trong điều kiện đổi mới tổ chức hoạt động của Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay, những tư tưởng, quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu vận dụng cho phù hợp
Người cũng nói rõ: “Giới hạn” của tự do, dân chủ rộng rãi, tự do ở đây sẽ là
tự do trong kỷ luật, không phải là tự do vô Chính phủ: “Nhân dân ta hiện nay có tự
do, tự do trong kỷ luật Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự
do của người khác là phạm pháp”
Trang 21Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước vì dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân, bảo đảm cho công dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước và toàn xã hội.
Hồ Chí Minh nêu chỉ định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân Chính phủ chỉ
có một mục đích là: Hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc phục vụ nhân dân” [03, t.7, tr.499]
Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, nhắc nhở các cơ quan của Đảng, Nhà nước phải hết sức chăm lo đời sống của nhân dân, lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…
Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước nếu không làm tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Người chỉ rõ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”
Trong Nhà nước Xã hội chủ nghĩa quyền và nghĩa vụ của công dân luôn gắn bó với nhau Nhà nước công nhận và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền
tự do, dân chủ của mình, còn công dân phải làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước và
xã hội
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước trong sạch; ngăn chặn, loại trừ được quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước
Hồ Chí Minh thấy rõ những căn bệnh này đe dọa sinh mệnh của Đảng, của nhà nước kiểu mới và chế độ xã hội chủ nghĩa Chúng là giặc nội xâm, là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội
Sự quan tâm lo lắng đặc biệt của Hồ Chí Minh đối với việc đấu tranh tẩy trừ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các căn bệnh khác trong bộ máy nhà nước kiểu mới được minh chứng trên những điểm sau đây:
Trang 22Một là: Đường kách mệnh, Hồ Chí Minh đã dành bài học đầu tiên là “Tư
cách một người cách mệnh” để huấn luyện cán bộ, trong đó chú ý đến đạo đức và những phẩm chất của người cán bộ cách mạng
Hai là: Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nhà nước, Hồ Chí Minh nhận
thấy những căn bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác đã phát sinh trong bộ máy nhà nước kiểu mới Người nhấn manh: “Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung” [03, t.4, tr.58]
Ba là: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo
đức, phẩm chất của cán bộ như: Sửa đổi lối làm việc (1947), phải tẩy sạch bệnh quan liêu (2/ 9/1950)…
Bốn là: Trong hầu hết các bài nói, bài viết Hồ Chí Minh điều đề cập đến
vấn đề đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của đội ngũ cán
bộ
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước kiểu mới
Đây là vấn đề mà chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Người cho rằng:
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [03, t.5, tr.269]
“Muôn việc thành công hoặc thất bại, điều do cán bộ tốt hoặc kém Đó là một chân lý nhất định” [03, t.5, tr.240]
Trong vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh những vấn đề chủ yếu sau đây:
Một là, coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức.
Hai là, về công tác lựa chọn, đánh giá sử dụng và chính sách đối với cán
bộ, công chức
Để xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết năm cách đối xử đúng đắn với đội ngũ cán bộ là:
“Chỉ đạo – thả cho họ làm, thả cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ Nhưng phải luôn luôn tùy theo hoàn cảnh mà bày vẻ cho họ về phương
Trang 23hướng canh tác, cách thức công tác, để cho họ phát triển năng lực và sáng kiến của họ…
Nâng cao – luôn luôn tìm cách cho họ học thêm lý luận và cách làm việc…Kiểm tra – không phải ngày nào cũng kiểm tra Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm Giao công việc mà không kiểm tra đến lúc thất bại mới chú ý đến Thế là không biết yêu dấu cán bộ
Cải tạo – khi họ sai lầm thì dùng cách “thuyết phục” giúp cho họ sửa chữa…
Giúp đỡ - phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc Khi họ đau
ốm phải có thuốc than Tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình” [03, t.5, tr.276]
Nhà nước kiểu mới phải có biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong hoạt đông của bộ máy nhà nước kiểu mới, việc kiểm tra, giám sát là yêu cầu khách quan Người nhấn mạnh “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm bớt đi…
Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu
Mới biêt rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan
Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và các nghị quyết”.Với tư tưởng và quan điểm trên Hồ Chí Minh chỉ rõ thanh tra, kiểm tra, giám sát trong nhà nước kiểu mới không chỉ xử lý vi phạm mà chủ yếu là sửa chữa khuyết điểm, là “Tai mắt” của trên là “Người bạn” của dưới
Quan điểm và tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới thể hiện sự kết tinh tri thức, tinh hoa của nhân loại trong lĩnh vực này với chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam Những tư tưởng, quan điểm đó là di sản lý luận vô giá của cách mạng Việt Nam, đồng thời có giá trị phổ biến đối với phong
Trang 24trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ Chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta, vì vậy chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, vận dụng đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân ở nước ta hiện nay
Trang 25Chương 2: VẬN DỤNG QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ
SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Thực trạng việc nhận thức, vận dụng quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2.1.1 Thực trạng việc nhận thức về quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam, vận dụng sáng tạo các quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, bao gồm các tư tưởng tích cực, tiến bộ về nhà nước pháp quyền, tổ chức nhà nước và kinh nghiệm áp dụng các học thuyết đó của các nước trên thế giới để đưa vào thử nghiệm và từng bước xây dựng, hoàn thiện ở Việt Nam Đây là quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc, không sao chép, rập khuôn, giáo điều mà luôn sáng tạo để vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn lịch
sử cách mạng Việt Nam Từ sau Đại hội VI của Đảng (1986) đến nay tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện của Đảng phản ánh quá trình nhận thức ngày càng đúng đắn, đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Kế thừa các quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đại hội IX, Đại hội X của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội [14, tr.159]
Trang 26Ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và đổi mới đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Từ đường lối chung của Đảng, Nhà nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phạm vi cả nước Xuất phát từ đặc điểm kinh tế nước ta là một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu nên mặc dù nguồn thu ngân sách của Nhà nước còn khó khăn, nhưng Nhà nước đã dành một nguồn vốn đáng kể để thực hiện chương trình đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn Nhà nước đầu tư cho giáo dục, y tế, phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, khai thác dầu khí, điện Về quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước đã sửa đổi và ban hành hiến pháp, các
bộ luật dân sự, luật đầu tư, luật hình sự… Và các pháp lệnh khác Điều đó cho ta thấy vai trò của Nhà nước trong tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội rất quan trọng
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng theo hai hướng Tác dụng của kiến trúc thượng tầng sẽ là tích cực khi nó vận động cùng chiều với quy luật kinh tế khách quan Trái lại, nếu tác động ngược chiều với quy luật đó thì
nó là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển sản xuất, cản đường cho sự phát triển của
xã hội Song sự kìm hãm đó chỉ là tạm thời và nhất định cơ sở hạ tầng với vai trò quyết định của mình sẽ phá vỡ kiến trúc thượng tầng lạc hậu, thông qua cuộc đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội
Từ sự nghiên cứu về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, chúng ta có thể thấy chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Kinh tế quyết định chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Vì vậy, khi vận dụng quy luật này, phải xuất phát từ kinh tế, coi trọng yếu tố chính trị Tuyệt đối hóa mặt kinh tế, coi nhẹ mặt chính trị sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật kinh tế Tuyệt đối hóa chính trị, coi nhẹ kinh
tế sẽ dẫn đến sai lầm chủ quan, duy ý chí
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam
Việc đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Cơ sở hạ tầng thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần Tồn tại các kiểu tổ chức kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền nhau, thậm chí đối lập nhau, đan xen nhau Như vậy, là phải chấp nhận
Trang 27nhiều quy luật kinh tế cùng lúc Điều đó nói lên sự không đồng bộ của bản chất nền kinh tế nước ta, sự không đồng bộ đó là do trình độ lực lượng sản xuất không đều Hiện nay, chúng ta đã đề ra biện pháp khắc phục, Đảng ta tập trung hướng các thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên việc định hướng này rất khó khăn, phức tạp Sự định hướng không chỉ phạm vi quốc doanh mà còn bao quát tất cả các thành phần kinh tế nằm ngoài quốc doanh Vì đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú, vừa mang tính phức tạp trong quá trình xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Để làm được điều đó, Đảng ta phải sử dụng nhiều biện pháp như kinh tế, hành chính, giáo dục trong đó biện pháp kinh tế là quan trọng Cần sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế trong đó có sự chỉ đạo của các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Đảm bảo phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người lao động để đưa đất nước phát triển.
Đồng thời, kiến trúc thượng tầng cũng phải được đổi mới về mọi mặt như: Đổi mới tổ chức, đổi mới hoạt động của bộ máy Nhà nước, đổi mới con người, đổi mới phong cách lãnh đạo, đa dạng hóa các tổ chức, hiệp hội, đoàn thể, mở rộng dân chủ nhằm huy tụ sức mạnh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế phát triển Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, đảm bảo cho dân là người làm chủ thực sự
xã hội, quyền lực xã hội thuộc về nhân dân Bổ sung về mặt pháp luật; hiến pháp, pháp luật phải đi vào lĩnh vực sản xuất, kinh tế, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi
để đảm bảo cho người sản xuất kinh doanh Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải phù hợp với sự phát triển kinh tế, cụ thể là chấp nhận kinh tế nhiều thành phần thì phải đề ra chính sách phù hợp với nền kinh tế đó Đối với các vấn đề định hướng các thành phần kinh tế lên chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế có thể đi lên xã hội chủ nghĩa nếu được định hướng, quản lý có hiệu quả, đồng thời nền kinh tế này cũng chứa đựng xu hướng tự phát để đi đến chủ nghĩa tư bản Do vậy, kiến trúc thượng tầng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng
Đổi mới hệ thống chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội là nhằm tạo ra kiến trúc thượng tầng mới xã hội chủ nghĩa
Trang 28C.Mác lý luận rằng cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Cơ sở
hạ tầng ở đây là hệ thống kinh tế và kiến trúc thượng tầng là hệ thống chính trị Một khi kiến trúc thượng tầng không còn phù hợp với cơ sở hạ tầng nữa thì tất yếu sẽ có một kiến trúc thượng tầng mới thay thế
Hệ thống kinh tế của chúng ta đã đổi mới, và đang khẳng định là một hệ thống ưu việt Song song sự đổi mới về kinh tế là sự đổi mới về kiến trúc thượng tầng bắt đầu từ việc đổi mới về chính trị, văn kiện Đại hội VIII đã chỉ rõ “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” Tiếp tục đổi mới sâu sắc hệ thống chính trị; đổi mới phương thức, nội dung lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực trí tuệ, uy tín đạo đức và sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân Đổi mới Quốc hội để Quốc hội thực hiện có hiệu quả 3 nhiệm vụ: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp, quyết định các vấn đề trọng yếu và giám sát Đổi mới chính phủ mà trọng tâm là cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý điều hành của Chính phủ Đổi mới Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, xây dựng chế độ nhân dân làm chủ
Đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị để xây dựng và thực hiện có hiệu quả
cả 3 hình thức dân chủ cơ bản ở nước ta: Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp cơ sở
và dân chủ tự quản của cộng đồng dân cư
Đổi mới để phát triển nhanh, mạnh và bền vững đưa đất nước ta, khỏi tình trạng lạc hậu kém phát triển trước năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Đổi mới hệ thống chính trị là giải quyết những mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị phù hợp với yêu cầu phát triển nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó cũng là quá trình củng cố và phát triển hệ thống chính trị từ nền tảng kinh tế của nó Thực tiễn sau 25 đổi mới, chúng ta có được bước tiến mới trong tư duy phát triển (thể hiện trong 5 quan điểm phát triển của chiến lược kinh tế - xã hội (2010 - 2020), nền kinh tế có được sự tăng trưởng khá nhanh so với các nước trong khu vực Chúng ta đã có sự đổi mới căn bản về hình thức sở hữu, về cơ cấu và vai
Trang 29trò của các thành phần kinh tế, đã hình thành các loại thị trường, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế…
Hiện nay, nội dung chủ yếu của đổi mới kinh tế là tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách, tạo lập thị trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính Để thực hiện điều này cần phát triển mạnh các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp Thực hiện phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế Đồng thời, tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng và
cơ cấu lại nền kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững
Hơn 25 năm đổi mới đã chứng minh cho cương lĩnh đường lối chính trị đúng đắn của Đảng Chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước có nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là phổ biến Do đó, để tạo ra những tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội chúng ta phải xây dựng trên tất cả các mặt, tất cả các phương diện Từ lực lượng sản xuất mới đến quan hệ sản xuất mới, từ cơ sở hạ tầng mới đến kiến trúc thượng tầng mới, điều đó có nghĩa là việc đổi mới kinh tế, tiến tới xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta không thể tách rời những vấn
đề chính trị, văn hóa xã hội – những vấn đề thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội
Trước tiên là, cùng với phát triển kinh tế, đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước phải không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp và xây dựng bảo vệ Tổ quốc Vì thế, trong những năm đầu
Trang 30của thời kỳ đổi mới, nước ta tập trung cao độ vào đổi mới chính sách kinh tế, đồng thời cũng từng bước đổi mới hệ thống chính trị Đảng ta đã khẳng định: “Phải kết hợp ngay từ đầu đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” [06, tr.10]
Phát triển kinh tế để giải quyết vấn đề xã hội sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững Hơn nữa, cũng cần nói rằng sự ổn định chính trị, hệ thống chính trị cũng phải không ngừng đổi mới Nếu không, nó sẽ là sự ổn định trong trì trệ, trở thành lực cản của sự phát triển kinh tế - xã hội
Xây dựng hệ thống chính trị, xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự của
xã hội Đảng đã xác định: “Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân… Dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương… Chống khuynh hướng cực đoan, quá khích, lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối về chính trị… Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng” [10, tr.71 – 72]
Tuy nhiên để làm được điều đó, chúng ta phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, làm cho Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và
vì dân, phải không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực của Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức cán bộ, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị… Việc Đảng tập trung cao độ vào đổi mới chính sách kinh tế đồng thời cũng đổi mới hệ thống chính trị trong những năm đầu thời kỳ đổi mới và chủ trương rất đúng đắn Nhưng hiện nay, đã đến lúc phải đẩy mạnh đổi mới đồng bộ hơn, làm hệ thống chính trị của chúng ta có tác động mạnh mẽ hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị Toàn bộ quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đảm bảo phát huy mọi khả năng sáng tạo, tích cực chủ động của mỗi cá nhân Trong lĩnh vực xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ: “Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo” Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máy tạo thành chính trị - xã hội không tồn tại như
Trang 31mục đích tư nhân mà vì phục vụ con người, thực hiện cho được lợi ích và quyền lực thuộc về nhân dân lao động.
Việc Đảng ta tập trung cao độ vào đổi mới chính sách kinh tế đồng thời cũng đổi mới chính trị trong những năm đầu thời kỳ đổi mới là chủ trương rất đúng đắn Nhưng hiện nay đã đến lúc đổi mới đồng bộ hơn, làm hệ thống chính trị của ta
có tác động mạnh mẽ hơn đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế chính trị
Để thể chế hóa chính trị của chúng ta ổn định trong quá trình phát triển, việc phát triển kinh tế - xã hội phải được gắn chặt với an ninh – quốc phòng Đây thực chất là mối quan hệ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, hệ thống chính trị, bảo vệ kinh tế, văn hóa, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống quan điểm và chiến tranh nhân dân, hậu phương trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; tiếp tục làm sáng
tỏ quan điểm chiến lược mới bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân
Để phát triển kinh tế, ổn định chính trị, cũng phải tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển của đất nước
Về mặt lý luận cần phải làm sáng tỏ quan điểm của Việt Nam là tích cực và chủ động hội nhập kinh tế, mở rộng hợp tác với các nước, lấy việc bảo đảm lợi ích quốc gia là nguyên tắc cao nhất của hội nhập và hợp tác quốc tế Việt Nam muốn là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, độc lập và phát triển Để nâng cao hiệu quả hội nhập và hợp tác quốc tế, việc xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh, một nền kinh tế độc lập, tự chủ có ý nghĩa quyết định
Như chúng ta đã biết, kinh tế là cơ sở của đời sống xã hội Một nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần có hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh Điều mấu chốt hiện nay là phải xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị
xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là xây dựng và bảo vệ hệ thống chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời cũng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trang 32Xây dựng và bảo vệ chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, trước hết là phải xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ, tăng cường và củng cố
ý thức chính trị cho toàn xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa Chúng ta phải bảo
vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Cương lĩnh chính trị của Đảng, chứng minh học thuyết và cương lĩnh của chúng ta là duy nhất khoa học và có sức thuyết phục cao; bằng thực tiễn nước ta và thế giới, nhất là thực tiễn thắng lợi của công cuộc đổi mới của đất nước ta, chứng minh cho nhân dân thấy rằng hễ rời bỏ lựa chọn xã hội chủ nghĩa, sẽ làm suy yếu hệ thống chính trị đang tồn tại thì đất nước lập tức rơi vào tình trạng vô chính phủ, suy yếu và lệ thuộc Không những con đường đi tới ấm no và hạnh phúc càng xa vời mà ngay cả nền độc lập dân tộc cũng có nguy cơ bị tiêu vong
Xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị là xây dựng và bảo vệ hệ thống những tổ chức chính trị trong đó Đảng là tổ chức quan trọng nhất, lấy xây dựng và bảo vệ Đảng là then chốt và trong điều kiện hiện nay của đất nước thì xây dựng và bảo vệ Đảng bao giờ cũng gắn liền với xây dựng và bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, một bộ phận ngày một quan trọng Nói đến kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa không thể không bàn đến xây dựng về văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”
Tóm lại, mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong điều kiện ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị Nó đưa lại một phương pháp thực sự khoa học
để phân tích các hiện tượng trong đời sống xã hội để từ đó vạch ra phương hướng
và giải pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn Học thuyết đó đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện cụ thể ở nước ta, vạch ra đường lối đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 332.1.2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được vận dụng vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng phải được tiến hành từng bước với những hình thái và quy mô thích hợp, thời kì quá độ là một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở đây chưa phải là cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những đặc trưng của nó, cơ sở hạ tầng mang tính chất quá độ với một kết cấu kinh tế nhiều thành phần đan xen nhau của nhiều loại kinh tế xã hội khác nhau, trong đó kinh tế giữ vai trò chủ đạo định hướng kinh tế lên chủ nghĩa xã hội là kinh tế của Nhà nước và tập thể Quá trình hình thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là quá trình vừa tiến hành cải cách kinh tế vừa tiến hành cách mạng trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa, xây dựng thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp vô sản, xây dựng đạo đức mới cho nhân dân lao động
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII thông qua, được Đảng ta khẳng định: “Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm từng bước tạo ra quan
hệ sản xuất mới, cơ sở hạ tầng mới xã hội chủ nghĩa và làm cho nó ngày càng hoàn thiện” [06, tr.10]
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta [07, tr.34]
Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột Bởi vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dục truyền bá của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội là việc làm thường xuyên, liên tục của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng
Trang 34Mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một bước giải quyết mâu thuẫn của chúng Việc phát triển và củng cố cơ sở hạ tầng điều chỉnh
và củng cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là một quá trình diễn ra trong suốt thời kỳ quá độ
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa không còn mâu thuẫn đối kháng vì trong kết cấu kinh tế đó không bao hàm sự đối địch về lợi ích căn bản của nền kinh tế là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, quan hệ người với người trong sản xuất và quan hệ tương trợ, nguyên tắc phân phối sản phẩm là phân phối theo lao động Những đặc điểm đó quy định đặc trưng kiến trúc thượng tầng,
đó là một kiến trúc thượng tầng với sự nhất trí về chính trị và tinh thần
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa là cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng tiên tiến, song trong thực tế chúng ta chưa tạo lập được một
cơ sở kinh tế với những đặc trưng riêng của nó và một kiến trúc thượng tầng tương ứng Bởi vậy, công cuộc cải cách kinh tế là việc đổi mới thể chế chính trị là một quá trình mang tính cách mạng để từng bước xóa bỏ những yếu tố có thể làm nảy sinh mâu thuẫn đối kháng trong cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta, Đảng ta vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng kinh tế nước ta hiện nay là kết cấu kinh tế đa thành phần, trong đó có thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và nhiều thành phần kinh
tế khác, tính chất đan xen quá độ về kết cấu của cơ sở kinh tế làm cho nền kinh tế sống động mang tính phức tạp trong quá trình thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú của nền kinh tế được phản chiếu lên kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏi khách quan là kiến trúc thượng tầng cũng phải đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thuần nhất và thống nhất Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đối kháng, không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau Hình thức sở hữu bao
Trang 35trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ
để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến bộ, khoa học trở thành động lực cho sự phát triển xã hội
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc và triệt để, là một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp Cho nên cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng với đầy đủ những đặc trưng của nó Bởi vì cơ sở hạ tầng mang tính chất quá độ với một kết cấu kinh tế nhiều thành phần đan xen của nhiều loại hình kinh tế xã hội khác nhau Còn kiến trúc thượng tầng có sự đối kháng
về tư tưởng và có sự đấu tranh về giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa
Bởi vậy, công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới thể chế chính trị là một quá trình mang tính cách mạng lâu dài, phức tạp mà thực chất là đấu tranh gay go quyết liệt giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
Chính vì những lý do đó mà nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với nền kinh tế lạc hậu sản xuất nhỏ là chủ yếu, quá độ lên chủ nghĩa xã hội chúng
ta đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm nhiều các thành phần kinh tế như: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư bản tư nhân, cùng các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, lại vừa thống nhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, chúng vừa cạnh tranh nhau, vừa liên kết với nhau, bổ sung với nhau
Thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thời kì đổi mới
Trang 36Hệ thống pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản mới được xây dựng, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm phát huy dân chủ, thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu tích cực, chủ động hội nhập kinh tế thế giới.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa có bước phát triển đáng kể, phát huy dân chủ trên các lĩnh vực; bảo đảm dân chủ trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tăng cường kỷ luật, kỷ cương Cùng với mở rộng dân chủ, Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh chống lại tình trạng dân chủ cực đoan, vô Chính phủ, lợi dụng dân chủ để kích động, gây rối, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
Tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước đã được đổi mới một bước, có nhiều tiến bộ:
Tổ chức hoạt động của Quốc hội được đổi mới rõ nét, bớt hình thức, thực quyền hơn, tính chuyên nghiệp ngày càng rõ rệt
Chế định Chủ tịch nước thay thế chế định Nguyên thủ quốc gia Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại Sửa đổi, bổ sung vị trí và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan Nhà nước khác
Chính phủ được xác định là cơ quan hành chính cao nhất, thể hiện rõ hơn
sự phân công giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp Tập trung nhiều hơn vào quản lý
vĩ mô, xây dựng cơ chế, chính sách, quy hoạch Công tác chỉ đạo sâu sát, nhanh nhạy hơn Từng bước đổi mới thể chế hành chính trên các lĩnh vực, trước hết là hình thành thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tách dần chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản
lý sản xuất, kinh doanh cùng với việc xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp; cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp được sắp xếp, điều chỉnh tinh giản hơn trước bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở vận hành phát huy hiệu quả tốt hơn Đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước, cán bộ quản lý kinh tế đã được nâng cao một bước về năng lực quản lý, chủ động, linh hoạt hơn trong điều hành Việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức được tiếp tục đổi mới theo quy định của
Trang 37pháp luật từ khâu tuyển chọn, đánh giá thi nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng Chế độ chính sách, tiền lương bước đầu được cải cách.
Mô hình chính quyền địa phương, cơ sở ngày càng phù hợp hơn, phân cấp
rõ hơn
Chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
ở ba cấp, tiếp tục xây dựng nguyên tắc Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra và Hội đồng nhân dân bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân Vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan dân cử ở địa phương được tăng cường; chất lượng, cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có sự đổi mới và được nâng lên giảm dần tính hình thức trong hoạt động của cơ quan dân cử Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ủy ban nhân dân mỗi cấp đã được bổ sung và quy định rõ hơn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương đang dần thực hiện theo hướng phân cấp mạnh hơn theo địa phương Chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở đã có bước thay đổi quan trọng
Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đã được củng cố và có những đổi mới bước đầu về tổ chức và hoạt động
Đối với Tòa án nhân dân: Chế độ bầu thẩm phán trước đây đã được thay thế bằng chế độ bổ nhiệm thẩm phán; thành lập thêm các tòa chuyên trách (tòa hành chính, tòa lao động, tòa kinh tế) để đáp ứng điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giao lại việc quản lý tòa án nhân dân địa phương và các tòa án quân sự về mặt tổ chức cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; bỏ thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân tối cao; trong bộ máy Tòa án nhân dân tối cao bỏ Ủy ban thẩm phán; hội thẩm đã được chính quy hóa và cải tiến một bước; mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện Chất lượng xét xử của các tòa án đã được nâng cao một bước; hạn chế các trường hợp bị xét xử oan sai nghiêm trọng; phương thức xét xử đã được đổi mới một bước theo hướng công khai, dân chủ, bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trước pháp luật Phán quyết của Tòa án chủ yếu dựa vào tranh luận công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm soát
Trang 38viên và các bên đương sự; các cơ quan tư pháp tạo điều kiện để các bên tham gia vào quá trình tố tụng Đội ngũ cán bộ, công chức tòa án bước đầu được củng cố, tăng cường về số lượng, trình độ chuyên môn và năng lực công tác; điều kiện về cơ
sở vật chất và phương diện làm việc của các tòa án đã có bước cải thiện nhất định
Đối với viện kiểm soát nhân dân: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương ngoài việc chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, còn phải chịu trách nhiệm công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân Viện kiểm sát nhân dân được xác định là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (bỏ giám sát tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội) Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng chính quy hóa đội ngũ kiểm sát viên, quy định cụ thể, chặt chẽ trình tự, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm kiểm sát viên Công tác thực hiện quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự đã có tiến
bộ rõ nét Chất lượng kiểm sát việc lập hồ sơ và chất lượng kháng nghị các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật từng bước được nâng cao Viện kiểm sát các cấp coi trọng việc rèn luyện phẩm chất, nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm sát Cơ sở vật chất, trang thiết bị của Viện kiểm sát các cấp được cải thiện
Đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước được đào tạo ngày càng chính quy; tính chủ động, trách nhiệm và tính chuyên nghiệp được nâng cao từng bước
Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thời kì đổi mới
Những hạn chế:
Một là, về hệ thống pháp luật.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao, chưa đủ cụ thể để áp dụng được ngay, chưa ổn định; tính toàn diện, thống nhất, khả thi còn nhiều hạn chế; chưa bảo đảm tính công khai, minh bạch; cơ chế xây dựng, sửa đổi bổ sung luật còn nhiều bất cập; thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn