Với một nền kinh tế lớn vào loại bậc nhất thế giới khi khủng hoảng xảy ra nó đã tác động đến hầu hết các quốc gia là đối tác kinh doanh của Mỹ trong đó có Việt Nam.. Do vị thế đặc biệt c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH Ở MỸ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
5 Kết cấu của đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Ở MỸ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1 Khủng hoảng tài chính ở Mỹ 4
1.1.1 Khái niệm khủng hoảng tài chính 4
1.1.2 Diễn biến khủng hoảng tài chính ở Mỹ thời gian qua 6
1.2 Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến kinh tế thế giới và việt Nam 12
1.2.1 Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến kinh tế thế giới 12
1.2.2 Tác động của khủng hoảng tài chính ở Mỹ đến nền kinh tế Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BÀI HỌC VÀ GIẢI PHÁP CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Ở MỸ 2.1 Những bài học cần có cho nền kinh tế Việt Nam 42
2.2 Một số giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế Việt Nam 44
3.2.1 Về chính sách tài chính – tiền tệ 44
3.2.2 Thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu 46
3.2.3 Thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng 47
2.3 Các vần đề cần giải quyết nhằm đảm bảo an ninh kinh tế trong thời kỳ hội nhập 48
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kết quả hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã mang lại cho Việt Nam nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân Chính sách đổi mới cũng đã đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đặc biệt là Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Những kết quả đạt được như trên cho chúng ta thấy nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu hội nhập sâu vào nền kinh tế chung của thế giới, do đó khi nền kinh tế thế giới có vấn đề phát sinh thì Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đang diễn ra và ngày càng trở nên trầm trọng như hiện nay
Với một nền kinh tế lớn vào loại bậc nhất thế giới khi khủng hoảng xảy ra nó
đã tác động đến hầu hết các quốc gia là đối tác kinh doanh của Mỹ trong đó có Việt
Nam Do vị thế đặc biệt của nuớc Mỹ (chiếm ¼ tổng GDP, 1/5 tổng nhập khẩu toàn cầu, là trung tâm tài chính lớn và nguồn động năng phát triển mạnh nhất của thế giới, là nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam hiện nay cũng là nơi có lượng việt kiều
đang cư trú đông nhất trên thế giới, chiếm khoảng 1/3 tổng số người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài) nên tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đến Việt Nam là điều không tránh khỏi
Qua thực tế phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn vừa qua chúng ta thấy rằng dưới tác động của cuộc khủng hoảng nền kinh tế nước ta đã có dấu hiệu đi xuống, tốc độ phát triển kinh tế đã giảm xuống còn 6,5% và theo các chuyên gia kinh tế thì tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta sẽ xuống mức 5% trong năm 2009
Mỹ là đối tác và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua Kinh tế Mỹ suy thoái đã tác động trực tiếp đến xuất khẩu của Việt Nam, ngoài
Trang 4ra còn tác động đến hệ thống tài chính ngân hàng, vốn đầu tư nước ngoài và cả thị trường chứng khoán cũng như thị trường bất động sản đây là hai lĩnh vực hoạt động mới nổi của nuớc ta nhưng cũng chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ
Để hiểu rõ hơn về mức độ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đối với Việt
Nam và để Chính Phủ, Nhà nước có những giải pháp kịp thời ngăn chặn sự suy giảm kinh tế trong nước, tạo điều kiện để nước ta tiếp tục đi lên vượt qua sự tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ Đó là lý do tôi chọn đề tài: “ Tác động của khủng hoảng tài chính ở Mỹ đối với nền kinh tế Việt Nam” làm luận văn tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay
và tác động đến nền kinh tế Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính tài chính ở Mỹ tìm ra những nguyên nhân gây ra khủng hoảng
Tác động của khủng hoảng tài chính ở Mỹ đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam
Tìm hiểu những giải pháp mà Chính Phủ Việt Nam đưa ra để hạn chế tác
động khủng hoảng để Việt Nam vượt qua được khủng hoảng đi lên trên con đuờng
hội nhập, tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc cải cách nền kinh tế và công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
chính ở Mỹ đối với nền kinh tế Việt nam”, làm đối tượng nghiên cứu của mình
Trang 5Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ nêu một cách khái quát tác động của khủng
hoảng tài chính Mỹ đến nền kinh tế thế giới và đi sâu vào việc phân tích tác động của khủng hoảng đến nền kinh tế Việt Nam cũng như những giải pháp mà Chính Phủ Việt Nam đưa ra nhằm khắc phục khủng hoảng trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu của luận văn dựa trên nền tảng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu, phương pháp lô gích và lịch sử làm phương pháp nghiên cứu của mình
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương, 7 tiết
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Ở MỸ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM 1.1 Khủng hoảng tài chính ở Mỹ
1.1.1 Khái niệm khủng hoảng tài chính
Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về khủng hoảng tài chính Có một số quan niệm thì cho rằng: “Khủng hoảng tài chính” là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình[6]
khủng hoảng tài chính – tiền tệ trên thực tế và đưa ra định nghĩa khủng hoảng tiền tệ như sau: “Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ dẫn đến sự thâm hụt phần lớn dự trữ ngoại tệ và làm mất giá nhanh chóng
đồng tiến nội tệ”[3, Tr11]
Nhu cầu về tiền mặt của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có thể sụp đổ[3, Tr11]
người gửi tiền
Trang 7• Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng
Một số nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do gặp phải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm dụng vốn vì điều này có thể có lợi ở khía cạnh nào đó Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề về chi tiêu của Chính Phủ Bản thân Chính Phủ cũng gặp khó khăn trong việc tìm tài trợ khi gặp khó khăn về thanh toán do những kỳ vọng không sáng sủa mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả Sự mất khả năng thanh toán thường có tính dây chuyền Vì vậy khủng hoảng tài chính là điều không mong muốn[6]
ánh khủng hoảng kinh tế, do khủng hoảng kinh tế quyết định Nhìn hiện tượng bề ngoài thì ta thấy khủng hoảng tài chính có trước khi có khủng hoảng kinh tế xảy ra
triển quá mức cho phép, mâu thuẫn với sức mua, với nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội
Ví dụ: vì sao sản xuất phát triển vô hạn độ, sản xuất hầu như không có điểm
dừng Vì 2 lẽ: Một là do mục đích sản xuất vì lợi nhuận, lợi nhuận càng nhiều thì sản xuất càng mạnh, đó là một động lực rất mạnh thúc đẩy sản xuất phát triển Hai
là, vì sản xuất được sự hỗ trợ tiếp tay của sức mạnh tài chính, như ngân hàng đã sử
dụng các công cụ tài chính, phát sinh ra sức huy động vốn đầu tư cho nhà đầu tư sản xuất, nhà buôn bán bất động sản, nhà chứng khoán tạo ra nhu cầu giả tạo… Do vậy, khi hàng hóa ứ đọng không bán được, nhân dân mất lòng tin họ có khuynh hướng tiết kiệm, khuynh hướng để dành tiền… làm sức mua xã hội càng giảm xuống, làm
Trang 8cho nhà buôn bán bất động sản bị phá sản, các nhà đầu tư khác cũng phá sản, kéo theo thu nhập hàng loạt tài chính, Ngân hàng mất khả năng thanh toán [17, Tr38] 1.1.2 Diễn biến khủng hoảng tài chính ở Mỹ thời gian qua
1.1.2.1 Quá trình khủng hoảng
rằng những yếu kém của nền kinh tế này đã bộc lộ rõ từ trước những năm 2000 nhưng đến nay mới bùng nổ Thâm hụt cán cân thanh toán đã lên tới trên 400 nghìn
tỷ USD từ năm 2000, chiếm trên 4% GDP và tiếp tục tăng lên mức 811 tỷ USD năm
2006, chiếm 6% GDP Năm 2007, đồng đôla Mỹ mất giá đã thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Mỹ và làm giảm mức thâm hụt thương mại xuống 734 tỷ USD nhưng vẫn còn ở mức rất cao Nền kinh tế Mỹ trong hơn 10 năm qua đã có lợi thế là nhận được sự tin tưởng của toàn thế giới, các quốc gia đã đổ nhiều tiền của đầu tư cho nền kinh tế Mỹ, cho dân chúng đầu tư và chi tiêu Tiết kiệm của dân chúng Mỹ vào năm 2006 chỉ đạt 34 tỷ USD, gần như 0%/GDP, tỷ lệ tiết kiệm bình quân thấp khoảng 1 – 2%/GDP đã kéo dài từ hàng chục năm trở lại đây Đầu tư của Mỹ bằng 19% GDP, chủ yếu dựa vào lợi nhuận công ty, nhưng 30% số tiền đầu tư là do vay mượn nước ngoài Các nước ở Châu Mỹ La tinh và Châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính những năm 1990 đã cố gắng củng cố nền tài chính quốc gia, tăng cường tiết kiệm và trở thành những quốc gia tài trợ cho tiêu dùng của Mỹ
đầu lộ rõ Các quan chức của FED đã giảm dự báo tăng trưởng kinh tế cho năm
2008 khoảng gần 1% và đồng thời tăng dự báo lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng hạn chế cho vay tiền và giá dầu tăng gấp đôi trong năm 2007 Giá bản xỉ hàng hóa tiêu dùng tại Mỹ tăng với tốc độ cao nhất trong vòng 25 năm qua
hơi suy giảm mạnh sau 6 năm liên tục tăng Tình trạng thắt chặt tín dụng đang diễn
ra trên toàn nước Mỹ do các tập đoàn tài chính thua lỗ chồng chất, giá dầu tăng kỷ
Trang 9lục trong vòng 30 năm qua khiến người dân Mỹ thắt chặt nhu cầu chi tiêu Chỉ số lòng tin của người tiêu dùng Mỹ giảm xuống thấp nhất trong vòng mấy chục năm qua Theo số liệu thống kê về nền kinh tế Mỹ chỉ số lòng tin của người tiêu dùng
Mỹ trong tháng 3 là 69,5% Đến ngày 11 – 4, chỉ số này giảm còn 63,2% và gần cuối tháng 4 chỉ còn là 62,6% và giảm xuống 57,2% trong tháng 5 – 2008, thấp nhất trong vòng 16 năm qua do tình trạng kinh tế Mỹ tồi tệ, giá dầu tăng cao, giá các mặt hàng thiết yếu tăng cao và tình trạng lạm phát gia tăng ở Mỹ [23, Tr 71 - 72]
1.1.2.2 Những lĩnh vực biểu hiện khủng hoảng tài chính ở Mỹ
Thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán Mỹ đã chứng kiến những sụt giảm khá lớn của cổ phiếu các công ty và tập đoàn lớn của Mỹ thời gian qua, chứng tỏ sự khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ đã có ảnh hưởng không nhỏ tới lòng tin của các nhà đầu tư Bước vào đầu năm 2008, chỉ số S&P 500 sụt 44,18 điểm tương đương 3,2% xuống mức 12.265,64 điểm trong tháng 1 – 2008 Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 370,03 điểm tương đương 2,9% xuống mức 12.265,13 điểm… Gần như tất cả các
mã chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán New York đều sụt giảm Chỉ số S&P 500 hạ 9% trong năm 2008 so với năm 2007, mức khởi đầu năm mới tệ hại nhất của chỉ số này trong vòng 8 thập kỷ Chỉ số Dow Jones sụt giảm 7,5%
giảm khiến các chỉ số chính của thị trường đóng cửa ở mức thấp nhất từ ngày 11 –
4 Tính từ đầu năm 2008, chỉ số S&P 500 giảm 6,3% Cổ phiếu của nhóm ngành tài chính thuộc chỉ số S&P 500 giảm 6,1%, mức thấp nhất từ ngày 14 – 3 Các công ty nhóm ngành tài chính cho đến nay đã thua lỗ tổng số 380 tỷ USD do thị trường cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn đi xuống
của nó Đến nay giá cổ phiếu Mỹ đã qua thời kỳ điều chỉnh, đặc biệt là giá các công
ty công nghệ thông tin được thổi phồng Chỉ số Dow Jon giảm từ cao điểm gần
Trang 1012.000 năm 2000, xuống tới mức 7.540 và sau đó phục hồi để sau 7 năm mới trở lại thời năm 2000 Bong bóng thị trường chứng khoán đã tự nó giải quyết bằng cách xuống giá Để nhằm giữ nền kinh tế khỏi tuột dốc, Cục dự trữ Liên Bang (Fed) đã giữ lãi suất ở mức rất thấp và lại kéo dài thời gian quá lâu làm cho việc đầu tư vào bất động sản tiếp tục tăng, giá bất động sản trở thành bong bóng Và nay thị trường chứng khoán và bất động sản đang dần trở về giá trị thực của nó sau nhiều năm tăng trưởng nóng[23, Tr 72]
phiếu của các công ty kỹ thuật cao từ trước thảm họa 11 – 9 Cục dự trữ Liên Bang (FED) lúc đó đã đối phó với tình trạng này bằng biện pháp giảm mạnh lãi suất tới mức thấp nhất trong lịch sử (từ 5,2% xuống 1%), một số ngân hàng ở Mỹ còn cho khách hàng vay tới 110 – 120% giá trị căn hộ mà họ cần mua Tại Châu Âu cũng vậy Biện pháp này đã làm cho những người tiêu thụ và các công ty đua nhau chi tiêu bởi vì họ được vay tiền lãi suất thấp và nó tạo ra một trận “siêu bong bóng”: giá niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ tăng gấp đôi trong khoảng từ năm 2002 – 2006; lợi nhuận của các ngân hàng không ngừng tăng lên; giá nhà tăng, công việc làm ăn vô cùng phát đạt đến mức các ngân hàng luôn cần thêm tiền để cho vay Họ
đã gộp các khoản vay thế chấp thành các gói nợ được bảo trợ của các thiết chế tài
chính có uy tín Họ rút các khoản nợ này ra khỏi bàn quyết toán và phân phát đi khắp nơi trên thế giới, hy vọng chia nhỏ các khoản nợ cho nhiều người khác cùng gánh chịu Đến năm 2007, đầu năm 2008 tình hình tài chính đã hết sức căng thẳng Theo ước tín của nhiều chuyên gia, trong 22 nghìn tỷ USD giá bất động sản tại Mỹ thì có hơn 13 nghìn tỷ USD là tiền đi vay, trong đó có khoản 4 nghìn tỷ là nợ xấu
Nợ khó đòi ở Mỹ đã đạt tới 35 nghìn tỷ USD và toàn thế giới khoản 54.600 tỷ USD Vốn đầu cơ đã đạt đến mức lớn gấp 50 lần giá trị của toàn bộ thương mại quốc tế
xuất hiện Có thể hiểu tín dụng dưới chuẩn là các khoản cho vay cho các đối tượng
có mức tín nhiệm thấp, phần lớn họ là những gia đình nhập cư, vay tiền để mua nhà theo phương thức trả góp, hoặc kinh doanh bất động sản Khi nền kinh tế suy giảm,
Trang 11thị trường bất động sản sụt giảm, những người vay tiền không có khả năng trả nợ, các ngân hàng cho vay có nguy cơ sụp đổ Để giúp các ngân hàng tiếp tục hoạt
động, Chính phủ Mỹ đã thành lập 2 tổ chức là “Hiệp hội quốc gia tài trợ bất động
sản” và “Công ty quốc gia tài trợ địa ốc”, 2 tổ chức này đứng ra mua lại những món
nợ của các ngân hàng dùng làm thế chấp để phát hành trái phiếu bán cho nhà đầu tư khác Do tác động của nghiệp vụ trái phiếu hóa giấy nợ, khủng hoảng đã lan truyền trong toàn bộ hệ thống tài chính, đụng chạm tới tất cả các loại tín dụng cho vay mua sắm ô tô, tiêu dùng… khi các khoản nợ này đã chuyển thành trái phiếu Đây là thị trường có quy mô lên tới hàng chục nghìn tỷ USD, còn lớn hơn rất nhiều so với thị trường bất động sản dưới chuẩn Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng còn được tiếp sức bởi tâm lý mất lòng tin vào thị trường liên ngân hàng Các ngân hàng không biết đối tác đã đầu tư bao nhiêu vào các loại chứng khoán liên quan đến giấy ghi nợ Trong trường hợp này ngân hàng từ chối nhau vay vì sợ không có khả năng thu hồi vốn Chính điều đó làm tê liệt hoàn toàn hệ thống tài chính[7, Tr 40 - 42]
Thị trường bất động sản:
Trong 5 năm 2001 – 2006 giá nhà trên toàn nước Mỹ đã tăng liên tục, thấp nhất ở các Bang hẻo lánh nhiều đất cũng tăng ít nhất 17% và ở nơi có nhiều đầu cơ tăng hơn gấp đôi Nếu kể từ năm 1980, giá nhà ở những Bang như New York, California tăng 5 , 6 lần, trong khi lương danh nghĩa ở những vùng trên chỉ tăng gần
3 lần Kể từ năm 1997 đến nay những nơi này tăng giá 3 lần
Một dấu hiệu rõ nét về cuộc khủng hoảng ngày càng tệ hại trong lĩnh vực kinh doanh địa ốc Công ty Realty Trac Inc chuyên theo dõi về thị trường thế chấp tín dụng công bố số liệu thống kê cho biết, số lượng nhà bị tịch thu do chủ nhà không còn khả năng trả nợ trong tháng 1 – 2008 tăng tới 57% so với thời điểm cách đây một năm Trong cả nước Mỹ có tổng cộng 233.001 chủ nhân các ngôi nhà đã nhận
được giấy báo tịch thu gán nợ trong tháng 1 – 2008, so với 148.425 ngôi nhà trong
tháng 1 – 2007 [23, Tr 73]
Trang 12Hoạt động của các doanh nghiệp:
Hoạt động của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn bao giờ hết kể từ đầu
năm 2008 đến nay Số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản trong tháng 4 – 2008 cao hơn bất kỳ một tháng nào từ khi luật phá sản Mỹ bắt đầu có hiệu lực (năm 2005)
2007 Nếu như năm 2007, mỗi ngày có 158 công ty phá sản thì đến tháng 4 – 2008, mỗi ngày có khoảng 235 công ty tuyên bố phá sản Như vậy tính tổng cả tháng 4 –
2008, có hơn 5000 công ty phá sản Theo các chuyên gia kinh tế, tình trạng phá sản của các doanh nghiệp Mỹ như trên cho thấy những vấn đề liên quan đến lĩnh vực thế chấp dưới chuẩn và công cụ tài chính trên phố Wall Việc các doanh nghiệp phá sản hàng loạt như hiện nay cũng phản ánh tình hình u ám của thị trường nhà đất Mặc khác, phần lớn những công ty tuyên bố phá sản trong thời gian này là những công ty xây dựng hay có những hoạt động kinh doanh liên quan đến thị trường nhà
đất Giá cả tăng được coi là một trong những nguyên nhân lớn khiến các công ty
phải phá sản Giá cả tăng tạo ra gánh nặng lớn về chi phí đối với các doanh nghiệp Trong khi chi phí tăng cao, nhu cầu hàng hóa của thị trường giảm, lợi nhuận các công ty giảm dần và dẫn tới sự phá sản[23, Tr 73]
Thị trường lao động:
Nguy cơ suy thoái của nền kinh tế Mỹ đã làm căng thẳng thị trường lao
động Trong tuần lễ kết thúc ngày 23/2/2008, số công nhân Mỹ nộp đơn xin bảo
lãnh thất nghiệp tăng vọt lên 370.000 người so với mức dự kiến 350.000 người và
đây là số thất nghiệp cao nhất trong một tuần lễ kể từ tháng 10 – 2005 Đến ngày
16/2/2008 trên cả nước Mỹ có khoảng 2,81 triệu công nhân bị thất nghiệp Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, trong tháng 3 có khoảng 80.000 người mất việc, con số cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây Tỷ lệ thất nghiệp đã lên mức 5,1% trong
Trang 13tháng 3 và tháng 4 – 2008 Kinh tế nước Mỹ đã rơi vào tình trạng suy thoái[23, tr 73]
1.1.2.3 Nguyên nhân khủng hoảng tài chính ở Mỹ thời gian qua
nguồn từ việc các ngân hàng Mỹ quá dễ dãi, tùy tiện khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng vay dưới chuẩn Đó là một rủi ro trong hoạt
động của thị trường tài chính
học Theo quan điểm này, cuộc khủng hoảng hiện nay nằm trong cấu trúc hệ thống thuộc về bản chất của sự phát triển các quan hệ tư bản chủ nghĩa, nó đã được báo trước và sẽ lặp lại theo chu kỳ Những biến đổi của chủ nghĩa tư bản trong 3 thập niên qua được thể hiện bằng các đặc trưng: chủ nghĩa tự do mới, toàn cầu hóa và tài chính hóa
động kinh tế từ sản xuất sang lĩnh vực tài chính Quá trình này xuất hiện khởi đầu từ
cuộc suy thoái kinh tế năm 1974 – 1975 với xu hướng giảm tỷ lệ tăng trưởng thực
tế, tăng sức mạnh của các công ty độc quyền đa quốc gia và tài chính hóa các quá trình tích lũy tư bản Quá trình đó tất yếu dẫn đến giảm đầu tư vào khu vực sản xuất
và tăng tài chính hóa để cố gắng tránh sản xuất dư thừa và giảm giá, trong khi khối giá trị thặng dư khổng lồ vẫn ngày càng tăng lên Một giải pháp mới ra đời: mở rộng cân đối các sản phẩm tài chính như là một công cụ để duy trì và phát triển tiền vốn của các ngân hàng Các công cụ tài chính mới như mua trả trước, quyền mua, bán có thời hạn, trái phiếu hóa giấy nợ, các ưu đãi khác kèm theo, các dịch vụ bảo hiểm nợ khó đòi, các chứng thư có giá… đã phát triển như vũ bão Năm 1985, nợ của Mỹ vào khoảng gấp đôi GDP, thì 2 thập niên sau số nợ đó đã lớn gần 3,5 lần GDP của Mỹ (14 nghìn tỷ USD), đạt tới 44 nghìn tỷ USD, xấp xỉ GDP của toàn thế giới Tổng số giá trị giao dịch ngoại tệ trung bình hàng ngày từ 570 tỷ USD năm
Trang 141989 lên 2,7 tỷ USD năm 2006 Cuộc khủng hoảng 1985 – 1987 đã được người Mỹ thừa nhận nước Mỹ nợ nước ngoài quá nhiều và với sự vay nợ này, người Mỹ hưởng lợi và tiêu dùng vượt quá khả năng trả nợ của mình Cuộc khủng hoảng 1995 – 1997 đã có những tác động xấu và gây ra cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng tại Đông Nam Á năm 1997 – 1998 Từ đầu năm 2001, thị trường tài chính phái sinh trên toàn cầu (các công cụ chuyển đổi tín dụng mang tín rủi ro trên thị trường quốc tế) đã tăng ở mức trên 100%/năm
bùng nổ khủng hoảng kinh tế ở Mỹ là do:
kinh tế tân tự do, trong đó chủ yếu dựa vào tiêu dùng cá nhân (khoảng 70% GDP)
và chi tiêu của Chính Phủ (khoảng 13% GDP)
hàng đầu tư ở Mỹ đã biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản cung cấp cho thị trường với nhiều rủi ro
tiết, nên việc quản lý, điều hành và giám sát của Chính Phủ lỏng lẻo trong suốt thời gian dài, nhất là hoạt động chứng khoán hóa tràn lan và thiếu kiểm soát
1.2 Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến kinh tế thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến kinh tế thế giới
1929 – 1933 thì cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới lần này là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất, nổ ra từ trung tâm kinh tế lớn nhất và lan rộng toàn cầu Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ lan rộng đến các nước EU, Nhật Bản, Hàn Quốc Ở
Trang 15Châu Á, nước đầu tiên chịu khủng hoảng kinh tế là Inđônêxia, hàng loạt thị trường chứng khoán ở Châu Á bị rơi tự do, nhiều công ty tài chính, ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản
trong các giao dịch tài chính quốc tế Do đó cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã tác
động ít nhiều đến nền kinh tế thế giới, cụ thể trên một số lĩnh vực sau:
1.2.1.1 Tác động tới tăng trưởng kinh tế thế giới
cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng trên quy mô toàn cầu và dẫn tới suy thoái kinh
tế tại nhiều nước trên thế giới, từ các nước phát triển tới các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển Liên tục trong 2 tháng cuối năm 2008, hàng loạt các nền kinh tế đã công bố chính thức rơi vào tình trạng suy thoái Triển vọng tăng trưởng kinh tế của các nước và các khu vực tương đối ảm đạm trong năm 2008 và 2009
Ước tính tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới chỉ vào khoảng 3% trong năm 2009 nhờ
vào tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, các nước công nghiệp phát triển đều không có được mức tăng trưởng dương
trưởng 1,2% trong cả năm 2008 và sang năm 2009 mới suy giảm 0,5% Tình hình kinh tế tại Anh cũng không khác nhiều so với các nước Châu Âu lục địa Trong cả năm nay, kinh tế Anh sẽ vẫn tăng trưởng 0,8% nhưng trong năm sau sẽ suy giảm 1,3%
tăng trưởng 0,5% và trong năm 2009 GDP của Nhật Bản sẽ bị suy giảm 0,2% Tuy nhiên, con số dự báo của Chính phủ Nhật GDP sẽ giảm 0,8% trong tài khóa 2008 (kết thúc vào tháng 3/2009) và tăng trưởng GDP thực chỉ ở mức 0% trong tài khóa
2009 Đây là lần đầu tiên trong vòng 7 năm qua Nhật Bản đưa ra dự báo tăng trưởng kinh tế 0%
Trang 16Các nền kinh tế đang phát triển Châu Á được IMF dự báo cũng sẽ không tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng mạnh như năm 2007 (10%) do cuộc khủng hoảng làm giảm xuất khẩu cùng với sự suy thoái kinh tế tại nhiều nước Tuy nhiên Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là những đầu tàu của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn khủng hoảng này với tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năn 2008 được dự báo đạt 9,7%
và 7,8% Mặc dù vậy sang năm 2009 tốc độ tăng trưởng GDP của 2 đầu tàu này sẽ chỉ ở mức 8,5% và 6,3% Các nước đang phát triển Châu Á nói chung sẽ tăng trưởng 8,3% trong năm 2008 và 7,1% trong năm 2009 Các nước ASEAN sẽ tăng trưởng 5,4% trong năm 2008 và 4,2% trong năm 2009[1, Tr 55 - 56]
1.2.1.2 Thương mại toàn cầu sụt giảm
kinh tế Mỹ cũng giảm, tiêu dùng tư nhân, đầu tư của các công ty và các hoạt động sản xuất cùng sụt giảm, dẫn tới sự sụt giảm trong nhập khẩu các loại hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa cơ bản và các nguyên vật liệu khác từ thị trường bên ngoài
Canađa, Trung Quốc, Nhật Bản, Mêhicô, Hàn Quốc, các nước Đông Nam Á và coi
đây là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế Do đó, nhu cầu sụt giảm ở Mỹ đồng nghĩa với sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của những nước này Trung
Quốc đặc biệt đáng lo ngại vì Mỹ là nước tiêu dùng lớn nhất thế giới còn Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới Trung Quốc cũng là một ví dụ rõ ràng về việc những mắc xích trong chuỗi thương mại quốc tế sẽ chịu tác động từ sự suy thoái của Mỹ
trực tiếp sản xuất hàng thành phẩm như hàng điện tử để xuất khẩu trực tiếp sang
Mỹ Nhưng với sự nổi lên của Trung Quốc trong lĩnh vực này, các nước Châu Á đã chuyển sang sản xuất linh kiện để xuất sang Trung Quốc Sau đó, Trung quốc tiến hành lắp ráp rồi xuất sang Mỹ Do đó, nhập khẩu của Mỹ đi xuống làm xuất khẩu
Trang 17của Trung Quốc giảm, dẫn tới nhu cầu của Trung Quốc đối với linh kiện do các nước Châu Á khác sản xuất cũng giảm theo[23, tr74]
1.2.1.3 Tác động đến dự trữ ngoại hối của một số quốc gia
tế mới nổi và các nước Châu Á Chỉ tính riêng trong vòng một tháng từ tháng 9 tới tháng 10, trong số 28 nước đã công bố số liệu thì có 27 nước dự trữ ngoại hối sụt giảm Đặc biệt, 3 trong số 5 nước có quy mô dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới là Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc đều có mức sụt giảm mạnh
Đứng đầu là Nga với mức sụt giảm là 71,5 tỷ USD từ 556 tỷ USD xuống chỉ còn
484,5 tỷ USD, sau đó tới Hàn Quốc giảm 27,4 tỷ USD từ 239,7 tỷ USD xuống 212,3 tỷ USD, Nhật giảm 18,2 tỷ USD từ 995,9 tỷ USD xuống 977,7 tỷ USD
mạnh Một số đồng tiền đã bị sụt giảm nghiêm trọng so với đồng USD như đồng Rúp của Nga, đồng Won của Hàn Quốc Việc đồng tiền trong nước bị mất giá khiến một số ngân hàng Trung ương các nước bán ròng ngoại tệ trong đó chủ yếu là đồng
Đôla Mỹ để can thiệp thị trường nhằm giữ giá đồng nội tệ Trong điều kiện nhu cầu
về hàng hóa sụt giảm, thị trường xuất khẩu của các quốc gia bị co hẹp thì việc đồng nội tệ mất giá sẽ làm tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Nga và Hàn Quốc Tuy nhiên, việc đồng Rúp và đồng Won mất giá quá mức so với USD sẽ làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư và dân chúng, dẫn tới hành động bán tháo những đồng tiền này và sự tăng giá của hàng hóa nhập khẩu, gây sức ép tới lạm phát Do đó, Chính phủ Nga và Hàn Quốc đã bơm một lượng lớn USD vào thị trường để ngăn chặn đà sụt giảm của đồng nội tệ
ngoại hối biến động nên mức dự trữ ngoại hối của một số nước quy ra đôla Mỹ cũng
bị sụt giảm Sự mất giá của đồng Euro, đồng tiền đang chiếm khoảng 25% trong cơ cấu ngoại tệ dự trữ ngoại hối của các quốc gia mất giá khiến dự trữ ngoại hối của
Trang 18các nước bị sụt giảm Chỉ trong tháng 10 đồng Euro đã mất giá khoảng 10% so với USD do tâm lý nắm giữ đồng USD như tài sản an toàn trong thời kỳ khủng hoảng
và lo ngại các nền kinh tế thuộc khu vực Châu Âu sẽ phục hồi chậm chạp hơn so với Mỹ Đồng Euro mất giá khiến dự trữ ngoại hối quy đổi ra USD cũng bị giảm [1,
Tr 56 - 57]
1.2.1.4 Tác động đến đầu tư
trưởng kinh tế toàn cầu trong vòng một thập kỷ qua Do tác động của cuộc khủng hoảng, dòng vốn này đã bị suy giảm nghiêm trọng Theo số liệu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế dòng vốn này đã giảm 1,1 ngàn tỷ USD trong quý II/2008 cho thấy đây là một lo ngại thực sự cho kinh tế các nước, đặc biệt là khu vực các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển Dòng vốn từ các nền kinh tế phát triển
đổ vào khu vực các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đã tăng với tốc độ nhanh
trong vòng một thập kỷ qua, kể từ sau cuộc khủng hoảng khu vực Châu Á năm
1998
Dòng vốn đặc biệt tăng mạnh ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, ở một số nước Châu Á khác tốc độ tăng chậm hơn Dòng vốn tăng phản ánh quá trình
tự do hóa thị trường tài chính và mức độ mở cửa của các nền kinh tế mới nổi và
đang phát triển Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng có khả năng sẽ gây nên sự đảo chiều
của dòng vốn vào khu vực này trong thời gian tới Tình hình hỗn loạn của ngành tài chính Mỹ cũng gây ra sự sụt giảm sâu của các thị trường vốn, ngoài ra tính bất ổn
định và tâm lý ngại rủi ro gia tăng, đẩy chi phí vay vốn tại khu vực của các nước
mới nổi và đang phát triển vốn, đang cần vốn cho phát triển kinh tế lên cao Không
ít nền kinh tế đã phải chứng kiến sự ra đi của nhiều danh mục đầu tư lớn trong nửa cuối năm 2008, trái ngược với luồng vốn lớn chảy vào đầu năm
kinh tế mới nổi và đang phát triển là yếu tố chủ chốt khiến các chỉ số dự báo về tăng
Trang 19trưởng kinh tế trong năm tới của khu vực này bị sụt giảm mạnh Bên cạnh đó, với những nền kinh tế đang phát triển (ví dụ như Việt Nam) dựa vào dòng vốn cho bù
đắp thâm hụt thương mại thì sự suy giảm dòng vốn cũng làm tăng rủi ro cho cán cân
thanh toán[1, Tr 57]
1.2.1.5 Ảnh hưởng đến thị trường tài chính thế giới
dấu hiệu rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, ngay lập tức hiệu ứng khủng hoảng của
nó đã lan nhanh và ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới cụ thể là:
Thứ nhất, những đổ vỡ trên thị trường tài chính Mỹ đã làm cho giới đầu tư
trên toàn thế giới hoảng loạn Nguyên nhân sâu xa là tình trạng phát triển bong bóng của thị trường tài chính, trong đó tập trung chính là thị trường tín dụng bất động sản
và chứng khoán hóa các khoản tín dụng bất động sản Khi nền kinh tế bước vào thời
kỳ suy thoái, kinh tế khó khăn, giá bất động sản giảm mạnh, các tổ chức tài chính dần rơi vào tình trạng khó khăn về tính thanh khoản, con số thua lỗ ngày càng tăng lên Các tổ chức tài chính không còn chịu đựng được sức ép của tính thanh khoản và các khoản thua lỗ, nên đã buộc phải tìm sự cứu trợ từ tất cả các nguồn và thậm chí giải pháp cuối cùng là đệ đơn phá sản Do sự liên quan giữa các nền kinh tế, đặc biệt là sự đầu tư qua lại thông qua hình thức chứng khoán hóa dẫn đến tình trạng sụp đỗ dây chuyền trên toàn cầu, khiến nhà đầu tư toàn cầu trở nên mất phương hướng
suất cho vay sẽ được nâng lên (lải suất Liên Ngân hàng ở Mỹ đã tăng gấp 3 – 4 lần
so với lãi suất của FED là 2%) và hạn chế việc đầu tư cũng như tăng trưởng kinh tế tại Mỹ Việc nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại sẽ khiến xuất khẩu của các kinh
tế khác bị giảm và do đó làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ, các nước Eu và Nhật Bản theo dự báo sẽ tăng trưởng
Trang 20chỉ ở mức 1% trong giai đoạn 2008 – 2009; thậm chí còn có dự báo ở mức thấp hơn
nước trên thế giới đã phải bơm tiền vào nền kinh tế, làm gia tăng áp lực lạm phát
nhiều quốc gia đặc biệt là Nga, các nước xuất khẩu dầu, Trung Quốc… [25, tr 40 - 41]
1.2.2 Tác động của khủng hoảng tài chính ở Mỹ đến nền kinh tế Việt Nam
1.2.2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế Việt Nam trước tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ
nhiều hơn thuận lợi Khó khăn đó là sự suy giảm của các nền kinh tế lớn đầu tư vào Việt Nam đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của đất nước Ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất, kinh doanh
và đời sống dân cư… Thuận lợi tuy có nhưng không nhiều: năm thứ 2 gia nhập WTO, thị trường ngoài nước mở rộng, nguồn lực các năm trước, nhất là nguồn vốn FDI năm 2007 chuyển sang khá lớn; thành quả và kinh nghiệm tích lũy trong hơn
20 năm đổi mới… Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính Phủ, sự phối hợp của các ngành, các cấp, sự nổ lực của các doanh nghiệp trong việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Chính Phủ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, nên tình hình kinh tế cả nước năm 2008 vẫn phát triển toàn diện, tăng trưởng khá Tuy nhiên khó khăn và thách thức vẫn còn nhiều
năm 2000 (năm 2000 tăng 6,79%, 2003: 7,34%, 2004: 7,79%, 2006: 8,23% và 2007 tăng 8,48%) Khó khăn nhưng cả 3 khu vực đều đạt tốc độ tăng trưởng khá: khu vực
Trang 21nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,8%, công nghiệp và xây dựng tăng 7,1%, và khu vực dịch vụ tăng 7,25% so với năm 2007 Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế suy thoái toàn cầu, theo đánh giá của ngân hàng thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008 chỉ đạt 2,5%, thấp nhất trong nhiều năm qua, trong đó một số nuớc tăng trưởng âm như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Xingapo, kinh tế Trung Quốc cũng chỉ tăng 9,4% so với trên 11,9% năm 2007, thì kết quả đạt được của kinh tế Việt Nam năm 2008 là cố gắng lớn, rất đáng ghi nhận
nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm còn dưới 21,9% so với 20,81% năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm trên 41,7% so với 41,56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,40% so với 38,08% trong 2 năm tương ứng Nét mới trong năm 2008 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao và tốc độ tăng khá ổn định, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng Tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân sách tương đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc Hội cho phép Tổng thu ngân sách Nhà nước ước vượt dự toán 23,8% và tăng 26,3% so với năm 2007 Các khoản thu có tỷ trọng lớn đều đạt mức khá Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của mưa lũ, giá dầu thế giới sụt giảm nhiều song các khoản thu chủ yếu như thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, thuế công thương, khu vực ngoài quốc doanh vẫn tăng cao Tổng chi ngân sách Nhà nước ước đạt dự toán năm Bội chi ngân sách cả năm khoảng 4,7% GDP/năm, năm 2007 là 5%GDP Một số địa phương có khó khăn đã được cấp đủ ngân sách theo dự toán để chủ động xử lý các nhiệm vụ chi trong tháng cuối năm Bên cạnh đó, việc đảm bảo lương thực cho công tác cứu trợ nhân dân và kinh phí để hỗ trợ cho các địa phương bị thiệt hại do mưa lũ gây ra cũng được chú trọng, đáp ứng kịp thời yêu cầu đề ra theo chỉ đạo của Chính Phủ [9, Tr49 – 50 ]
năm trước, trong đó nông nghiệp tăng 5,44%, lâm nghiệp tăng 2,2%, thủy sản tăng 6,69% Sản lượng lúa cả năm đạt 38,63 triệu tấn, tăng 2,7 triệu tấn so với năm 2007 Nếu tính cả 4,53 triệu tấn ngô, sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt 43,16 triệu
Trang 22tấn, tăng 3,1 triệu tấn so với năm 2007 và đạt mức cao nhất từ trước đến nay Lương thực bình quân nhân khẩu năm 2008 đạt 491 kg, tăng 4,6% so với năm 2007 (469,5 kg) dù dân số tăng thêm 1,1 triệu người Vấn đề đặt ra hiện nay là tiêu thụ lúa, hàng hóa tồn đọng trong dân đang gặp khó khăn Do sản lượng lúa tăng cao so với dự
đoán đầu năm nên mặc dù các ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo
đã thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ đẩy mạnh thu mua lúa cho nông dân nhưng
lúa, hàng hóa vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn tồn đọng lớn, giá thấp so với giá vật tư phân bón
cúm gia cầm cơ bản đã được khống chế trên phạm vi cả nước Đàn lợn tương đối ổn
định đạt 26,7 triệu con, tăng 0,53% Đàn trâu có 2,9 triệu con, giảm 3% đàn bò có
6,34 triệu con, giảm 5,75% so với thời điểm 1/8/2007
kỳ năm trước, cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 187,7 triệu cây, bằng 99,5%, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.563 m3, tăng 2,9%, diện tích rừng bị thiệt hại 3.919 ha, trong đó diện tích bị cháy là 1.677 ha
năm trước; trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.448,9 nghìn tấn, tăng 15,3%, sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.134 nghìn tấn, tăng 2,9% so với năm
2007 Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng chậm chủ yếu là do giá thu mua cá tra thấp lại biến động liên tục, dẫn đến tình hình tiêu thụ chậm Mặc khác một số diện tích nuôi tôm sú bị dịch bệnh gây thiệt hại đáng kể Vì thế nhiều hộ không tiếp tục thả nuôi Sản lượng thủy sản khai thác tăng khá do giá xăng dầu giảm, khai thác nội
địa cũng đạt khá cao do thời tiết các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long tương đối
thuận lợi
phẩm Giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào tăng mạnh, nguồn vốn kinh doanh hạn
Trang 23chế do lãi suất cho vay của ngân hàng luôn ở mức cao Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 tăng 14,6% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 4,0%, kinh tế ngoài Nhà nước tăng 18,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6% Trong 3 ngành công nghiệp cấp I: công nghiệp khai thác giảm 3,5%, chủ yếu do sản lượng dầu thô tiếp tục giảm và sản lượng than khai thác tăng chậm; công nghiệp chế biến tăng 16,5%; sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 13% Trong
số các địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn, một số địa phương đạt tốc
độ tăng cao hơn mức tăng chung: Vĩnh Phúc tăng 21,3%, Bình Dương: 21,5%, Đồng Nai: 20,7%, Hải Phòng 18,5%, Cần Thơ: 17,6% Một số địa phương tăng
thấp hơn mức tăng chung: Hà Nội, Quãng Ninh, Đà nẵng, Khánh Hòa, Thành Phố
Hồ Chí Minh… Những sản phẩm công nghiệp đạt mức tăng cao so với năm trước là: xe tải, xe chở khách, máy giặt, tủ lạnh, thủy hải sản chế biến… bên cạnh đó vẫn còn nhiều sản phẩm có tốc độ tăng thấp, thậm chí giảm như: giầy thể thao, điện sản xuất, giấy, xi măng, xe máy, dầu thô khai thác, phân hóa học, thép tròn…
hoạch và Đầu tư), tính cả lượng cấp mới và tăng vốn tại các dự án đang hoạt động, nguồn vốn mà các doanh nghiệp nước ngoài đăng ký năm 2008 đạt 64,0 tỷ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỷ USD, vốn thực hiện trên 11,5 tỷ USD Công nghiệp và xây dựng là những dự án thu hút nhiều vốn cấp mới nhất:32,62 tỷ USD, trong đó công nghiệp nặng và dầu khí là những ngành chiếm lượng vốn lớn Các ngành dịch vụ có lượng vốn đăng ký lớn thứ 2, với 27,4 tỷ USD, nông – lâm nghiệp
và thủy sản khoảng 300 triệu USD
ít, chỉ có 300 triệu USD Vốn thực hiện chiếm tỷ trọng thấp 11,5 tỷ USD bằng 17,2% vốn đăng ký, vốn bổ sung từ các dự án củ chỉ trên 1 tỷ USD Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài có khởi sắc Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài đạt khoảng 800 triệu USD, trong đó vốn thực hiện là 400 triệu USD Quy mô vốn bình quân một dự án là 9,66 triệu USD Có 24
dự án tập trung vào công nghiệp với số vốn 239 triệu USD, chiếm 46,1% Tiêu biểu
Trang 24là dự án của công ty cổ phần hợp tác kinh tế Việt – Lào, đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện với vốn đầu tư 142,09 triệu USD
mạnh nhưng xuất khẩu vẫn tăng cao Tổng mức bán lẽ hàng hóa và doanh thu dịch
vụ tiêu dùng năm 2008 theo giá thực tế ước đạt 968,1 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2007 Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẽ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay tăng 6,5% Giá tiêu dùng tháng 3/2008 tăng 19,89%
so với cùng kỳ năm trước Giá tiêu dùng tăng chậm do giá trên thị trường thế giới của một số hàng hóa nước ta nhập khẩu đã giảm và sản xuất nông nghiệp trong nước được mùa Các nhóm hàng có CPI tăng cao trong năm 2008 là ăn uống và dịch
vụ, ăn uống tăng 31,86%, lương thực tăng 43,25%, thực phẩm tăng 26,53% Các nhóm hàng khác tăng trên, dưới 10%[9, tr 51 - 52]
Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước tính đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng (kể cả xuất khẩu dầu thô tăng 2,6%, do giá tăng) Có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ USD là: dầu thô 8,5 tỷ USD, dệt may 7,8 tỷ USD, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ,
điện tử máy tín, cà phê, gạo… đều tăng Thị trường xuất khẩu hàng hóa tiếp tục
phát triển, hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với năm trước năm 2007 có 10 thị trường đạt giá trị xuất khẩu trên một tỷ USD, trong đó Mỹ 10 tỷ USD, tiếp đến là
EU 8,7 tỷ USD, ASEAN:8 tỷ USD, Nhật Bản 5,5 tỷ USD và Trung Quốc 3,2 tỷ USD [27]
Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 đạt 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm
2007 Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá nhập khẩu tăng, trong đó giá một số mặt hàng tăng cao như giá phân bón tăng 94,2%; giá xăng dầu tăng 53,5%; giá phôi thép tăng 45,8% Trong tổng kim ngạch nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 22,4%; xăng dầu tăng 40,2%; sắt thép tăng 24%; điện tử máy tính và linh kiện tăng 25,8%; nguyên phụ liệu dệt
Trang 25may, da tăng 10,4%; phân bón tăng 47,0% so với năm 2007 Tuy nhiên, xu hướng nhập khẩu giảm trong những tháng cuối năm do các biện pháp kiềm chế nhập siêu của Chính Phủ Nhập siêu hàng hóa năm 2008 đạt 17,5 tỷ USD, bằng 27,7% kim ngạch xuất khẩu Nhập siêu của tháng 11 và tháng 12 là 500 triệu USD, giảm 200 triệu USD so với tháng 10 và thấp nhất từ đầu năm tới nay
0,6% so với năm 2007, trong đó khách đến du lịch đạt 2,63 triệu lượt người tăng 1%; đến vì công việc 845 nghìn lượt người tăng 25,4%; thâm thân nhân đạt 509 nghìn lượt người, giảm 15,2% Một số quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp tục có lượng khách đến Việt nam tăng cao là: Trung Quốc 650,1 nghìn người tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước; Thái Lan 183,1 nghìn lượt người tăng 9,6%; Xingapo 158,4 nghìn lượt người tăng 14,6%; Malaisia 154,1 nghìn lượt người tăng 13,5%[9, Tr52]
1.2.2.2 Đặc điểm tình hình kinh tế Việt Nam dưới tác động của khủng hoảng
tài chính Mỹ
khủng hoảng tài chính Mỹ trong giai đoạn hiện nay Những mặt chủ yếu chịu sự tác
động của khủng hoảng đó là:
giới đang và sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước
ta trong năm 2008 Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2008 chỉ đạt khoảng 6,7% thấp hơn chỉ tiêu đã được Quốc Hội thông qua là 7%
tư nước ngoài, thương mại, tài chính, tiền tệ… trong thời gian vừa qua, cũng như phạm vi ảnh hưởng của khủng hoảng đến kinh tế thế giới như đã phân tích ở trên, nền kinh tế nước ta cũng sẽ còn gặp khó khăn trong năm 2009 và các năm tiếp theo
Trang 26Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, biến động của kinh tế toàn cầu sẽ
ảnh hưởng đến tốc độ tăng GDP của Việt Nam Khi kinh tế toàn cầu suy giảm trong
năm 2009, những thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta như Mỹ, Nhật Bản, EU và một số khu vực có nguy cơ bị thu hẹp, đồng thời thu hút đầu tư cả gián tiếp và trực tiếp của chúng ta cũng sẽ bị giảm sút Kim ngạch xuất khẩu năm 2009 dự báo sẽ tăng 13%, mức tăng thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây Tổng mức đầu tư toàn xã hội năm 2009 dự báo bằng 39,5% GDP, thấp hơn so với dự báo trước đây là 40% GDP Nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ gặp khó khăn do tiêu thụ hàng hóa giảm và thiếu vốn đầu tư
năm 2009 theo dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng thấp hơn so với năm 2008, với tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5%, và có thể xuống mức 5% Giá trị gia tăng ngành công nghiệp và xây dựng dự kiến sẽ tăng trưởng khoảng 7,4%, ngành nông – lâm nghiệp
và thủy sản dự kiến sẽ tăng 2,8% thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng trong năm
2008 Ngành dịch vụ sẽ đạt mức tăng trưởng xấp xỉ năm 2008[22]
động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính Việt Nam
mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như:
- Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với ngân hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn
- Trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên nên hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm
Trang 27- Khả năng giao dịch ngân hàng tài chính quốc tế sẽ giảm, ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng và doanh nghiệp[18, Tr 22]
Đối với xuất khẩu:
Nam sang thị trường Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam
21% kim ngạch xuất khẩu Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang trên đà giảm mạnh Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của Việt Nam trong năm 2008 và cả năm 2009 (nếu nền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi) Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng còn tùy thuộc vào tính chất của từng mặt hàng, trong 9 tháng đầu năm, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, thấp hơn khá nhiều so với mức 26,7% của năm 2007 Tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã giảm từ 20,7% của năm 2007 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm nay Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng nhất là: may mặc, giày da, gạo, cá basa, cà phê…
sang EU và Nhật Bản – hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Phân tích của các chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, nguời tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu hướng giảm Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, chỉ còn 16,5%, trong khi năm 2007 là 18%
Trang 28Thực tế những tháng gần đây, với tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, xuất khẩu của Việt Nam đã bắt đầu có biểu hiện giảm sút, kim ngạch xuất khẩu tháng 11 đã tiếp tục giảm và xuống dưới ngưỡng 5 tỷ USD/tháng Đây là tháng thứ 3 kim ngạch xuất khẩu suy giảm Tháng 11/2008 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ còn 4,8 tỷ USD giảm so với mức 5,004 tỷ USD trong thnág 10 Trong đó: dệt may giữ được kim ngạch ở mức 780 triệu USD, giày dép tăng nhẹ lên 400 triệu USD so với 396 triệu USD của tháng 10/2008 Một số mặt hàng khác cũng suy giảm trong đó đặc biệt là dầu thô giảm mạnh do giá dầu đã giảm 60% so với mức tháng 7/2008 Dấu hiệu của suy giảm kinh tế đã bắt đầu xuất hiện Khủng hoảng tài chính sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế, nhiều mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam sẽ giảm giá và chắc chắn sẽ tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu[22]
với thực hiện năm 2007, thấp hơn so với dự báo của Chính Phủ vào đầu tháng 10/2008 cả về kim ngạch và tốc độ tăng trưởng (tương ứng là 65 tỷ USD và 33,9%)
do xuất khẩu giảm không chỉ về số lượng các đơn hàng, mà cả về giá bán của hàng hóa xuất khẩu Năm 2009, dự kiến kim ngạch xuất khẩu là 64 tỷ USD, giảm cả về kim ngạch và tốc độ tăng kim ngạch so với con số đã được trình Quốc Hội đầu tháng 10/2008 (số trình Quốc Hội tương ứng là 67,7 tỷ USD và 18%)
chính của Việt Nam như Nhật, Mỹ, Châu Âu gần như đã bảo hòa đã dẫn đến sự giảm tăng trưởng xuất khẩu toàn cầu Từ cuối năm 2008, xuất khẩu của nhiều nước trong đó có Việt Nam bắt đầu giảm Kể cả Trung Quốc, nước có tăng trưởng và xuất khẩu mạnh nhất thế giới (và chủ yếu là xuất khẩu hàng chế biến), cũng có xuất khẩu giảm trong tháng 11/2008
khả năng bị giảm, thì cách duy nhất để tăng xuất khẩu là chiếm thị phần của nước khác Mà muốn chiếm thị phần thì phải có khả năng cạnh tranh mạnh Nhìn chung, nước có khả năng cạnh tranh mạnh nhất vẫn là Trung Quốc Bản thân việc Trung
Trang 29Quốc là nước chủ nợ lớn (Mỹ nợ Trung Quốc cả ngàn tỷ USD) và là bạn hàng lớn nhất của nhiều nước khiến cho họ có lợi thế trong đàm phán xuất khẩu cũng như trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước họ và tăng chất lượng các mặt hàng Ngoài ra còn có Ấn Độ, Malaisia…
yếu cạnh tranh về giá thành (do giá nhân công rẻ) chứ ít cạnh tranh được về chất lượng Nhưng khả năng cạnh tranh về giá cũng có hạn: ví dụ như Trung Quốc có thể cạnh tranh về giá với Việt Nam, vì họ có thể bán không cần lãi thậm chí bù lỗ cũng không sao, miễn sao giải quyết được vấn đế công ăn việc làm và vấn đề xã hội của họ
xuất khẩu) sẽ giảm do giá giảm nhiều và khối lượng không thể tăng nhiều Hàng nông sản cũng giảm: giá gạo giảm mà khối lượng xuất khẩu không thể tăng nhiều vì sản lượng có hạn, và ngành thủy sản cũng đang đứng trước rất nhiều vấn đề (thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, thừa cá, thiếu chất lượng, quản lý kém, chênh lệch
tỷ giá…) Các mặt hàng chế biến như may mặc, giày dép, đồ gỗ cũng sẽ bị sức ép từ Trung Quốc và các nước khác
một số ngành xuất khẩu, ví dụ như công nghệ thông tin (như gia công phần mềm, sản xuất chip…) có khả năng đi lên[11]
Đối với nhập khẩu:
của Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng hơn Theo Bộ Công thương, trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đạt 44,5 tỷ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm trước Mức nhập siêu trong 6 tháng đầu năm 2008 là 14,7 tỷ USD, chiếm 49,7% giá trị kim ngạch xuất khẩu
Trang 30Nguyên nhân nhập siêu nhìn từ góc độ xuất khẩu chủ yếu là do cơ cấu xuất khẩu còn nhiều hạn chế, bất cập Nhìn tổng quát, xuất khẩu chủ yếu vẫn là nguyên liệu thô (như dầu thô, than đá…), hàng chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế (như gạo, cá phê, rau quả, cao su, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản) Hàng chế biến xuất khẩu còn ít và quan trọng hơn là tỷ lệ hàng gia công còn lớn, lượng nguyên phụ liệu phải nhập từ nước ngoài chiếm tỷ trọng cao
yếu đều tăng cao so với cùng kỳ năm 2007: giá nhập khẩu xăng dầu tăng 64%, giá sắt thép tăng 30% chất dẻo tăng 15% Yếu tố tăng giá của một số mặt hàng đã làm kim ngạch nhập khẩu tăng thêm khoảng 3, 7 tỷ USD, tương đương gần 14% kim ngạch nhập khẩu
lại được neo vào USD nên hàng nhập khẩu bị đắt kép (đắt do tính giá bằng đồng USD, đắt giá do tỷ giá VND/USD tăng trong khi USD mất giá lớn so với các đồng tiền khác) Hơn nữa, có đến 80% giá trị hàng xuất nhập khẩu lại được thanh toán bằng USD[4, Tr 57]
Tác động của khủng hoảng tài chính đến xuất nhập khẩu của Việt Nam được thể hiện rõ nét nhất là trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, do nông sản là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Cụ thể là:
Đối với xuất khẩu nông nghiệp
trong đó có thị trường nông sản Từ giữa năm 2008, giá nông sản trên thị trường thế giới giảm đột biến Điều này đã tác động đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam từ giữa tháng 9/2008 Hầu hết các mặt hàng đều có số lượng và kim ngạch xuất khẩu giảm so với tháng trước đó
Trang 31Tính đến tháng 12/2008 giá các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
đã giảm mạnh So với thời điểm giá cao nhất trong năm giá gạo đã giảm 20% Tổng
kim ngạch xuất khẩu nông – lâm – thủy sản 9 tháng năm 2008 đạt trên 1,5 tỷ USD, giảm 7,3% so với tháng 8; tháng 10 đạt 1,3 tỷ USD, giảm 7,4% so với tháng 9; tháng 11 đạt 1,17 tỷ USD, giảm 10% so với tháng 10 và ước tháng 12 đạt 1,15 tỷ USD, giảm 2% so với tháng 11 Như vậy, kim ngạch xuất khẩu của tháng 12/2008
đã giảm 34% so với tháng 7 – tháng đạt kim ngạch xuất khẩu kỷ lục 1,75 tỷ USD
Kim ngạch xuất khẩu sụt giảm do các nguyên nhân sau:
Kỳ, EU, Nhật Bản là những nước có nền kinh tế phát triển, có sức tiêu thụ lớn nhất hàng hóa nông – lâm – thủy sản của Việt Nam nhưng kinh tế lại đang lâm vào khủng hoảng và suy thoái nên nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu hàng hóa bị sụt giảm
sản, đứng thứ 5 về chè của Việt nam EU luôn đứng đầu về nhập khẩu cà phê, hạt tiêu và hàng mây tre đan; đứng thứ 2 về nhập cao su, gỗ và sản phẩm gỗ; đứng thứ 3
về nhập khẩu thủy sản; đứng thứ tư về nhập khẩu chè của Việt Nam Nhật Bản đứng
đầu về nhập khẩu hàng thủy sản và đứng thứ 3 về nhập khẩu đồ gỗ của Việt nam
Trung Quốc đứng đầu về nhập khẩu cao su của Việt Nam (chiếm 65,4% lượng cao
su xuất khẩu của Việt Nam trong 11 tháng năm 2008) Trung Quốc nhập khẩu mủ cao su của Việt Nam chủ yếu để sản xuất lốp X bán vào thị trường Mỹ và EU
tháng 11 và đầu tháng 12 Tuy nhiên, hiện nay số lượng đơn hàng nhập giảm nhiều, khách hàng nhập khẩu chủ trương chỉ mua nhỏ giọt, tiêu thụ đến đâu nhập khẩu đến
đó, không tích trữ trong kho Dự báo, xuất khẩu thủy sản của cả thế giới giảm 20 –
30% về khối lượng kể từ 3 tháng cuối năm 2008 đến hết quý I năm 2009 Ngành công nghiệp ô tô Hoa Kỳ và Nhật Bản đang bị khủng hoảng mạnh, tiêu thụ giảm nhất trong vòng 30 năm qua Vì vậy, nhu cầu nhập khẩu cao su và săm lốp ô tô giảm theo
Trang 32Thương mại đồ gỗ cũng trong tình trạng tương tự Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đang có lượng tồn kho lớn, không bán được nên đã không thực hiện được hợp
đồng đã ký hoặc ký thêm hợp đồng mới Theo thống kê các năm trước, thời điểm
tháng 9, 10 là các đơn hàng năm sau đã ký đến 70%, nhưng riêng năm 2008, tính
đến thời điểm tháng 11, đơn hàng của năm 2009 ký chưa đạt 30% kế hoạch
sản đang gặp nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến việc thanh toán quốc tế gặp khó khăn Hệ thống ngân hàng ở các nước Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc đều đang có vấn đề về khả năng thanh khoản nên việc cho vay và bảo lãnh tín dụng cho các nhà nhập khẩu bị thu hẹp Thậm chí, nhiều ngân hàng chưa đến mức khó khăn, nhưng do niềm tin bị suy giảm hoặc vì mục tiêu thu hồi bớt các khoản vay nên cũng đã hạn chế cho vay hoặc bảo lãnh nhập khẩu
trường giao dịch nông sản quốc tế đã có sự thay đổi về cơ cấu, các quỹ đầu tư đã tham gia ngày càng sâu với quy mô lớn vào thị trường Luồng tài chính từ các quỹ cũng tăng dần và đến mức có thể chi phối cung, cầu trong từng thời điểm nhất định
Sự đầu tư của các quỹ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm cây công nghiệp như: cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, kinh tế suy thoái làm các quỹ đầu cơ rút tiền khỏi các hoạt động đầu tư nông sản và có xu hướng chuyển đầu tư sang thị trường tiền tệ, dẫn đến giảm cầu trên các thị trường kỳ hạn, làm giảm giá đột ngột
nông sản, trong đó có Việt Nam đều thu về bằng USD nên giảm giá nông sản tính theo USD đã ảnh hưởng xấu đến thu nhập xuất khẩu Mặc khác, trong thời gian vừa qua, các nước xuất khẩu nông sản lớn trên thị trường thế giới có các mặt hàng nông sản mũi nhọn như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều… cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam như Thái Lan, Malaisia, Ấn Độ, Brazil, Colombia… đều đã giảm mạnh giá