Tính cấp thiết của đề tài: Thực tiễn lịch sử phát triển thế giới cận, hiện đại và thực tiễn cuộc cải cách mở cửa, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trong mấy thập niên gầ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
-
LUẬN VĂN TỒT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S NGUYỄN ĐẠI THẮNG ĐOÀN NGỌC ĐẦY MSSV: 6055346
CẦN THƠ – tháng 05/2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài: 3
5 Kết cấu của đề tài: 3
NỘI DUNG: 4
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nông dân: 4
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nông dân và vai trò của nông dân: 11
1.3 Vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa: 18
Chương 2: THỰC TRẠNG NÔNG DÂN NÔNG THÔN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA 22
2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội, kinh tế - chính trị của Việt Nam: 22
2.2 Thành tựu của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong : 23
2.3 Những hạn chế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay: 32
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC: 37
3.1 Quan điểm và mục tiêu của Đảng và Nhà nước để phát triển vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: 37
3.2 Phương hướng cơ bản và giải pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn: 39
3.2.1 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể từng vùng: 44
Trang 33.2.2 Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu gắn với xây dựng nền nông
nghiệp hiện đại: 44
3.2.3 Tăng cường nguồn vốn, khoa học – kĩ thuật cho nông nghiệp: 45
3.2.4 Phát triển công nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn: 47
3.2.5 Tổ chức thực hiện tốt liên kết giữa nhà nước với nông dân: 47
3.2.6 Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế vào nông nghiệp: 49
3.2.7 Nâng cao đời sống nhân dân: 49
3.2.8 Củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng đảng viên ở nông thôn 50
KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của mỗi sinh viên trước khi rời khỏi giảng đường Đại học Để hoàn thành tốt luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi, thì sự hướng dẫn tận tình của qúy thầy cô là vô cùng quan trọng
Để đạt được kết quả như hôm nay, trước tiên tôi xin chân thành gửi lời cảm
ơn đến qúy thầy cô Bộ môn Triết học, Khoa khoa học Chính trị đặc biệt là thầy Nguyễn Đại Thắng đã hướng dẫn tôi nhiệt tình trong suốt thời gian qua Đồng thời gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn lớp Sư phạm Giáo dục công dân K31 đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô cùng toàn thể các bạn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều sức khỏe và luôn gặt hái thành công trên mọi lĩnh vực
Dù có nhiều cố gắng nhưng do kiến còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp và bổ sung của quý thầy
cô để luận văn tôi được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Đoàn Ngọc Đầy
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thực tiễn lịch sử phát triển thế giới cận, hiện đại và thực tiễn cuộc cải cách
mở cửa, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trong mấy thập niên gần đây cho thấy không có sự ổn định và phát triển của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Do nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng, cho nên trong suốt quá trình xây dựng phát triển đất nước Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới trong phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, từ đó đã khơi dậy tính tích cực, năng động, sáng tạo và sự nổ lực phấn đấu vượt bậc của nông dân; làm cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt được những bước tiến quan trọng trong kinh tế
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng chiến lược của giai cấp nông dân, của nông nghiệp và nông thôn Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng lấy nông nghiệp làm khâu đột phá, nông nghiệp là địa bàn trọng điểm và đã có nhiều chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân, như: chính sách về ruộng đất, miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, cho nông dân vay vốn
để sản xuất, chính sách đối với các xã đặt biệt khó khăn, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển… đã tạo động lực mới, khơi dậy các nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh của từng vùng và từng địa phương
Hiện nay, đứng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ trên thế giới và nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nước ta
đã là thành viên của WTO, đó là thời cơ giúp ta phát triển ngày càng cao nền kinh tế đất nước nhưng đồng thời là thách thức đối với nông nghiệp là rất lớn, do đó việc tổ chức lại nền sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và trên thế giới, là một yêu cầu cấp bách Nghị quyết đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “ Phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung chỉ đạo vào các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hóa,
Trang 6hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tốt chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội, phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn, phân bố dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới”
Vị trí chiến lược, vai trò trọng yếu và đóng góp to lớn của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng Phải coi việc hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn về thực chất là sự đầu tư trở lại của xã hội cho nông dân, nhằm bù đắp những cống hiến mà nông dân đã góp cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nông dân là chủ thể và là lực lượng nồng cốt, chủ công của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Muốn phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn phải khơi dậy, phát huy được tính tích cực, năng động, sáng tạo của nông dân, phải đem lại lợi ích thật sự cho họ, tức là phải đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Con người có vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế, mà còn trong mọi lĩnh vực hoạt động khác Bởi vậy quan tâm nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là một người sản xuất, mà còn với tư cách là một công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại, một con người có trí tuệ và trách nhiệm trước thiên nhiên
Với tầm quan trọng đó tôi đã chọn đề tài “ Phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta trong thời gian qua cho đến nay nhằm tổng kết những thành tựu đã đạt được cũng như rút ra những mặt hạn chế, yếu kém; để từ đó đề ra những giải pháp nâng cao, phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp đổi mới của đất nước để tạo ra sự phát triển nhảy vọt trong kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng nhằm nâng cao sản phẩm nông
Trang 7nghiệp của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời thực hiện thắng lọiư sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Để đạt được mục tiêu nói chung, nội dung của luận văn xoay quanh các vấn
đề sau:
- Vai trò của nông dân và phát huy vai trò đó trong sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa đất nước
- Thực trạng nông dân nông thôn ở nước ta hiện nay
- Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Để hoàn thành tốt luận văn này tôi đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân và sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp so sánh
Phương pháp lôgic – lịch sử
Phương pháp diễn dịch và quy nạp
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn còn bao gồm phần nội dung với 3 chương, 8 tiết
Trang 8NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nông dân:
Định nghĩa nông dân:
Theo cách hiểu thông thường thì nông dân là “người lao động sống bằng nghề làm ruộng”
Theo từ điển chính trị vắn tắt thì “nông dân là một giai cấp trong xã hội Dưới chế độ phong kiến và tư bản, giai cấp nông dân là toàn thể những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, kinh doanh cá thể bằng tư liệu sản xuất của riêng mình
và bằng lực lượng của gia đình mình”
Theo từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học thì “Nông dân – một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình Là giai cấp xã hội đặt biệt, giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và quá trình phát triển của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và tồn tại cho tới khi xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản Bản chất xã hội
và vị trí của nông dân trong xã hội là do phương thức sản xuất thống trị quy định và được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội và của các giai đoạn đang phát triển của nó Trong hình thái tiền Xã hội chủ nghĩa, nông dân bao gồm những người sản xuất nông nghiệp phân tán và chủ yếu là những người sản xuất nhỏ”
Nông dân nước ta hiện nay là những người sống lâu đời ở nông thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình Nông dân là lực lượng cách mạng chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ trước đây cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay Hiện nay, sản xuất nông nghiệp nước ta chủ yếu là hộ gia đình hoặc các hình thức kinh tế hợp tác,
Trang 9hợp tác xã kiểu mới nhưng trong đó hộ gia đình nông dân là địa vị kinh tế tự chủ độc lập về kinh tế
Qua nghiên cứu lịch sử phong trào nông dân, phân tích về mặt lý luận và hình thức đấu tranh giai cấp, C Mác và Ph Ăngghen đã kết luận về những hạn chế của phong trào này và triển vọng của cách mạng vô sản thế giới Hai ông khẳng định trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, người nông dân không thể tự mình giải phóng khỏi chế độ áp bức bóc lột, rằng lối thoát duy nhất của họ là thắng lợi của cách mạng vô sản Phân tích tình hình nước Pháp ở thế kỷ XIX, trong tác phẩm
Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapac, Mác viết: Lợi ích của nông dân không
còn hòa hợp với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản như với thời Napônêon nữa,
mà lại mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp tư sản, với tư bản Vì thế, người nông dân mới thấy rằng giai cấp vô sản thành thị là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình trong việc lật đổ chế độ tư bản Xuất phát từ thực tế đó C Mác và
Ph Ăngghen cho rằng khi tiến hành cách mạng vô sản nếu không lôi kéo giai cấp nông dân về phía mình thì giai cấp vô sản không thể giành được thắng lợi
C Mác và Ph Ăngghen chẳng những chỉ cho giai cấp vô sản thấy rõ sự cần thiết phải lôi kéo nông dân về phía mình để giành lấy chính quyền mà còn vạch ra con đường và biện pháp đưa nông dân cùng đi với giai cấp công nhân tiến lên xây dựng một xã hội mới – xã hội cộng sản văn minh [11, tr 20]
V.I Lênin là người đầu tiên nêu ra lý luận về chuyển biến cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cuộc cách mạng đó Đồng thời, ông cũng vạch ra mục tiêu, nội dung của liên minh công nông trong các giai đoạn khác nhau Ông vạch rõ, lúc đầu giai cấp vô sản liên minh với toàn bộ giai cấp nông dân, trung lập hóa giai cấp tư sản để thực hiện cách mạng dân chủ dân chủ mà mục đích là lật đổ chế độ Nga hoàng, thiết lập nền cộng hòa dân chủ, thực hiện ngày làm việc 8 giờ, thủ tiêu chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ [11, tr.20]
Trước cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, V.I Lênin đã bàn đến vấn đề Nông dân và ruộng đất trong nhiều tác phẩm và bài viết Sau cách mạng tháng Mười, V.I Lênin viết “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề ruộng đất”
Trang 10V.I Lênin đã phân tích tỉ mỉ đặc điểm của các tầng lớp nông dân khác nhau trong các nước tư bản, và đã vạch ra các sách lược cần thiết áp dụng trong cách mạng vô sản và khi cách mạng thắng lợi Lần đầu tiên V.I Lênin nêu luận điểm chủ nghĩa tư bản là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nông dân Quần chúng lao động nông thôn có thể giải phóng khỏi tình trạng bóc lột khi liên minh với giai cấp vô sản, toàn tâm toàn ý ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm đánh đổ ách áp bức của địa chủ và tư bản V.I Lênin tiên đoán: “Giai cấp vô sản chỉ trở thành một giai cấp thật sự cách mạng, hành động một cách thật sự theo tinh thần của Chủ nghĩa xã hội, khi nó tỏ ra và hành động với tư cách là đội tiền phong của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột, với tư cách là lãnh tụ của họ trong cuộc đấu tranh lật đổ bọn bóc lột” Và từ đó V.I Lênin nêu ra tư tưởng cơ bản trong chính sách nông dân của quốc tế cộng sản:
- Thứ nhất, các tầng lớp trong nông dân mà giai cấp công nhân phải dựa vào đoàn kết và kết thành liên minh với họ là: công nhân nông nghiệp sống bằng lao động làm thuê trong các xí nghiệp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa; những người bán
vô sản vừa làm thuê cho nhà tư bản vừa tự mình canh tác trên một ít ruộng đất tư hoặc lĩnh canh để sống; những tiểu nông không cần thuê mướn lao động mà tự mình canh tác trên đất tư hoặc tự đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình Những tầng lớp này chiếm đại đa số trong nông thôn
- Thứ hai, V.I Lênin chỉ ra chính sách kiên trì và thái độ trung lập đối với trung nông Giai cấp vô sản ít nhất trong thời kỳ đầu chuyên chính vô sản chưa thể
đề ra nhiệm vụ lôi kéo trung nông về phía mình, mà chỉ nên áp dụng chính sách trung lập đối với họ Sau khi đã trung lập họ, để họ rời bỏ giai cấp tư sản, thì giai cấp vô sản sẽ liên kết với họ thành liên minh rộng lớn
- Thứ ba, V.I Lênin chủ trương đối với phú nông, chính sách của giai cấp vô sản phải hoàn toàn khác với bốn tầng lớp nói trên Họ có thể là chủ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp nhưng vì trình độ văn hóa của họ thấp lại trực tiếp tham gia lao động, có thói quen sinh hoạt của nông dân, do đó họ có ít nhiều quan
hệ với nông dân Nhưng phú nông là tầng lớp đông đảo nhất trong tầng lớp tư sản, trực tiếp và kiên quyết chống lại giai cấp công nhân cách mạng Do đó, sau khi
Trang 11giành thắng lợi ở thành thị, tầng lớp đó tất nhiên sẽ tìm mọi cách phản kháng vì vậy giai cấp vô sản phải chuẩn bị để giải giáp vũ trang triệt để tầng lớp này, đập tan mọi hành động chống đối của họ
- Thứ tư, V.I Lênin đề ra chính sách với địa chủ và những người chiếm hữu nhiều ruộng đất Vì phần lớn họ là con cháu của các lãnh chúa phong kiến hoặc tài phiệt đặc biệt giàu có Do đó phải tịch thu vô điều kiện tất cả ruộng đất của chúng [12, tr 254, 255]
V.I Lênin gọi liên minh công nông là “điều kiện cần thiết và đầy đủ cho sự vững mạnh”1 của chính quyền xô viết Ông viết “Sức mạnh chủ yếu và chỗ dựa của chính quyền xô viết là ở sự liên minh đó, vì nó bảo đảm cho chúng ta hoàn thành tốt công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, công cuộc chiến thắng bọn tư bản, thủ tiêu mọi sự bóc lột”2 [12, tr 22]
Việc chuyển sang chính sách kinh tế mới NEP bắt đầu bằng việc thay chính sách trưng thu lương thực bằng thuế lương thực V.I Lênin nói: “Thực chất của chính sách kinh tế mới là sự liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân”
Đúng như V.I Lênin đã dự đoán “thuế lương thực sẽ giúp vào việc cải thiện nền kinh tế nông dân, làm cho nông dân yên tâm và hăng hái sản xuất hơn” V.I Lênin coi: “đó chính là mục tiêu chủ yếu” [11, tr 22]
Chính sách kinh tế mới là chương trình cải cách kinh tế diễn ra tại Liên Xô
từ năm 1921 đến năm 1929 Trong cuộc nội chiến (1917-1921), V.I Lênin thông qua Cộng sản thời chiến, bắt buộc giải tán các bất động sản ruộng đất và sự cưỡng
ép tịch thu thặng dư nông nghiệp Cuộc nổi loạn Kronstadt là dấu hiệu cho Cuộc chiến tranh chủ nghĩa cộng sản không được dân chúng ủng hộ ở vùng nông thôn: tháng Ba 1921, vào thời điểm cuối của cuộc nội chiến, các thủy thủ bị vỡ mộng, các nông dân ban đầu từng là những người ủng hộ tích cực của Bolshevik thời chính phủ lâm thời, nổi loạn chống chính quyền mới Mặc dù Hồng quân, dưới sự chỉ huy của Leon Trotsky, vượt qua biển Baltic băng giá và nhanh chóng tiêu diệt cuộc nổi loạn nhưng dấu hiệu về sự bất mãn ngày càng lớn đã buộc chính quyền dưới sự lãnh đạo của V.I Lênin phải tạo điều kiện thuận lợi cho một liên minh rộng lớn của tầng lớp lao động và nông dân (80% dân số), mặc dù các bè phái cánh tả trong đảng
Trang 12thích một chính quyền được đại diện và có lợi ích dành riêng cho giai cấp vô sản hơn [15]
Tháng Ba, Đảng cộng sản Nga tiến hành Đại hội X V.I Lênin tuyên bố chấm dứt chủ nghĩa cộng sản thời chiến và thành lập Chính sách kinh tế mới (NEP), theo đó nhà nước cho phép một số thị trường giới hạn được tồn tại Công việc kinh doanh tư nhân nhỏ được cho phép và các hạn chế về hoạt động chính trị được nới lỏng một chút Tuy nhiên, sự thay đổi to lớn nhất liên quan tới vấn đề thặng dư nông nghiệp Thay vì trưng thu thặng dư nông nghiệp để nuôi dân thành phố (phần cốt yếu của Chiến tranh chủ nghĩa cộng sản), NEP cho phép nông dân bán sản lượng thặng dư của họ ra thị trường tự do Tuy nhiên, nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu của cái mà V.I Lênin cho là “chỉ đạo tối cao” nền kinh tế: công nghiệp nặng như các lĩnh vực than, thép và luyện kim cùng với các thành phần ngân hàng và tài chính của nền kinh tế Sự “chỉ đạo tối cao” đã sử dụng phần lớn công nhân trong các vùng đô thị Theo chính sách NEP, các ngành công nghiệp nhà nước đó sẽ hoàn toàn tự do đưa ra các quyết định kinh tế của mình NEP của Xô viết (1921-1929) hầu như là một giai đoạn “thị trường xã hội chủ nghĩa” tương tự như các cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình tại Trung Quốc sau năm 1978 theo đó dự tính trước một vai trò cho những nhà thầu tư nhân và các thị trường bị hạn chế dựa trên thương mại
và giá cả hơn là hoàn toàn kế hoạch hoá tập trung [16]
Ngày 8-3-1921, tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga, V.I Lê-nin - lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân Nga và cách mạng thế giới đã đề xướng với Đảng việc áp dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) và đã được Đại hội chấp thuận Ở vào thời điểm đó, thực hiện NEP tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga là một quyết định dũng cảm, táo bạo, sáng suốt của V.I Lê-nin và những người Cộng sản Nga NEP không thuần tuý là một chính sách kinh tế với ý nghĩa là một công cụ quản lý vĩ mô về kinh tế - xã hội của Chính quyền Xô viết, nó có tầm rộng lớn mang tính chất một giải pháp cơ bản có tính tổng thể về kinh tế, chính trị, xã hội, để cải cách kinh tế Nhờ NEP, nước Cộng hoà được giải thoát khỏi một cuộc khủng hoảng để thực hiện những công việc của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh bắt tay vào công việc cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
Trang 13chế độ mới, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, củng cố liên minh công nông… những công việc chủ yếu của một đất nước khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội NEP bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản, đó là:
- Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh
tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn,
và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân;
- Áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi
đó là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội;
- Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới;
- Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa;
- Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện chế độ kiểm kê kiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế - xã hội, trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính trị
Xét một cách tổng quát, NEP chính là sự thực hiện những nguyên lý của chủ nghĩa Mác về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của một nước tiểu nông, ở đó những quan hệ kinh tế tư sản tuy đã hình thành nhưng chưa đạt đến độ chín muồi để chiến thắng các quan hệ kinh tế cũ, các quan hệ kinh tế của nền sản xuất tiểu nông còn chiếm đại bộ phận trong nền sản xuất xã hội Muốn thực hiện tư tưởng xoá bỏ chế độ tư hữu với tính cách là "chế độ sở hữu cổ truyền" không thể "tiến công trực diện", phải có cách làm khác Theo cách diễn đạt của V.I Lê-nin, đó là "thực hiện những bước lùi cần thiết" Bước lùi đó chính
Trang 14là việc thiết lập một hệ thống sở hữu hợp quy luật làm cơ sở cho các thành phần kinh tế còn tồn tại khách quan, giải phóng tối đa sức sản xuất của xã hội đang bị kìm hãm… [14]
Phải thấy rằng, với nội dung toàn diện như vậy, đặt trong bối cảnh nước Nga Xô viết vào thời điểm năm 1921, NEP thực sự là một quyết sách chiến lược
cơ bản mang tính cách mạng, song về sách lược lại là một chính sách mềm dẻo, năng động và đầy tính sáng tạo Lịch sử của nước Nga những năm 1917 đến 1924
đã cho thấy rõ điều đó [14]
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười thắng lợi, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga - một nhà nước kiểu mới do giai cấp vô sản lãnh đạo
và quản lý vừa thoát thai từ chế độ cũ, đang trong thời kỳ trứng nước đã phải đương đầu với không chỉ một mà là hai cuộc chiến tranh – nội chiến và cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc hòng bóp chết nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Chưa hết, đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh đã phải đương đầu với muôn ngàn khó khăn, thử thách mới Những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại làm cho nền kinh tế quốc dân suy sụp, quần chúng lao động điêu đứng Trong khi đó, chính sách "cộng sản thời chiến"- một chính sách tạm thời được thực hiện trong điều kiện chiến tranh, mà nếu "không có chính sách ấy", theo V.I Lê-nin, giai cấp vô sản Nga "không thể thắng được bọn địa chủ và tư bản trong một nước tiểu nông bị chiến tranh tàn phá", nhưng khi chiến tranh đã kết thúc, nếu không có một chính sách mới thay thế thì lại là một sai lầm Thực tiễn cho thấy, nông dân bất bình, công nhân bỏ nhà máy, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng Trong khi đó, đội ngũ cán bộ đảng viên có những nhận thức lý luận
về chủ nghĩa xã hội thiếu đầy đủ, tư tưởng chủ quan duy ý chí xuất hiện, muốn đốt cháy giai đoạn, tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản từ một nền kinh tế mà nhiều yếu tố làm tiền đề cho chế độ xã hội ấy còn thiếu hoặc chưa chín muồi Tình hình
đó đã thực sự làm suy yếu cơ sở kinh tế và xã hội của nước Cộng hoà trẻ tuổi, đe doạ trực tiếp thành quả của cách mạng Tháng Mười [15]
Trang 15Điều kỳ diệu là, sau hơn 3 năm thực hiện NEP, nước Nga Xô viết đã thoát khỏi khủng hoảng, thành quả của cách mạng được giữ vững, công cuộc xây dựng đất nước theo những yêu cầu của các quy luật khách quan mà NEP đã thể nghiệm thành công, được tiếp tục triển khai với tính cách là một chiến lược phát triển Đã
85 năm trôi qua kể từ mùa xuân năm 1921, NEP của V.I Lê-nin vẫn nóng hổi tính thời sự, bởi nó đã được vận dụng sáng tạo và thành công ở Việt Nam và một số nước khác Đối với những đảng mác-xít chân chính, NEP thực sự là một chính sách mà giá trị của nó vượt giới hạn về thời gian và không gian - một giá trị mang tính thời đại [14]
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nông dân và vai trò của nông dân:
Xuất phát từ đặc điểm nước ta và phong trào nông dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về vấn đề nông dân
và liên minh công nông trong điều kiện nước ta Năm 1925, trong cuốn “Đường cách mệnh”, Người viết: “Công nông là gốc cách mệnh”, “công nông là chủ cách mệnh” Khi Đảng Cộng Việt Nam thành lập, trong cương lĩnh đầu tiên do Người khởi thảo: “Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo để làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến” Còn “Phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ đứng trung lập”.1 [16]
Trong đường lối cải cách ruộng đất (1953), Người chỉ rõ: “Dựa hẳn vào bần
cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến”2 Trong thời kỳ vận động nông dân vào con đường hợp tác xã Hồ chủ tịch nêu rõ đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn là “dựa hẳn vào bần nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ với trung nông”3 Hồ Chí Minh luôn đánh giá nông dân là một lực lượng cách mạng to lớn không chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Chủ nghĩa xã hội Người viết: “Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng dân tộc là cách mạng của nông dân do
Trang 16giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông Vì vậy, trải qua các thời Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, củng cố liên minh công nông [11, tr 23]
Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân Việt Nam là một trong những cơ sở quan trọng để Người xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế chậm phát triển đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh: “Cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nhân dân ủng hộ tích cực”1
Ở Việt Nam hơn 90% dân số là nông dân Với quan niệm “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”, Hồ Chí Minh đã có cách tiếp cận, đánh giá về vấn đề nông dân nói chung, đặc điểm và vai trò của họ trong cách mạng Từ thế kỷ XVIII chiến tranh nhân dân đặc biệt trở nên sôi động ở Việt Nam, đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội Trong đó, mô hình công xã bị tác động mạnh mẽ Các triều đại phong kiến tiếp tục duy trì tổ chức công xã bằng việc hủy bỏ chế độ phân cấp ruộng đất cho đại thần và hoàng tộc, thay vào đó là ban cấp bổng lộc dưới hình thức thu tô thuế làng xã Mô tả chế độ phong kiến và tình cảnh nông dân Việt Nam trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh viết: “Chế độ phong kiến tức là chế độ địa chủ bóc lột nông dân” Địa chủ chiếm tư liệu sản xuất, tức là ruộng đất, công cụ làm của riêng nhưng họ không cày cấy Nông dân buộc phải mướn ruộng của địa chủ, phải nộp tô cho địa chủ Nông dân không khác gì nô lệ
Việt Nam là một nước nông nghiệp tồn tại và phát triển trên cơ sở của phương thức sản xuất Châu Á Đồng thời toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với những cuộc đấu tranh chống xâm lược Yêu cầu của việc tự bảo vệ trước nguy cơ thôn tính và đồng hóa đã buộc mọi thành viên phải cố kết với nhau Tính cộng đồng vì thế rất mạnh mẽ Lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông truyền cho con cháu tính cảnh giác, chống cự lại trước bất kỳ sự xâm phạm nào Mặt khác, tinh thần cộng đồng đó đã được bổ sung
và làm sâu sắc thêm bởi những công xã nông thôn được tổ chức trên cơ sở những quan hệ huyết thống và chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất Mô tả nguyên tắc sở
Trang 17hữu công cộng và chủ nghĩa bình quân về ruộng đất – đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất châu Á, Hồ Chí Minh viết: “Người châu Á tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu – vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại” Và đây là lý do: Gần 5000 năm trước đây, Hoàng đế (2679 trước C.N) đã áp dụng chế độ tỉnh điền: ông chia đất đai trồng trọt theo hai đường dọc và hai đường ngang Như vậy sẽ có 9 phần bằng nhau Người cày ruộng được lĩnh mỗi người một phần trong 8 miếng, miếng ở giữa tất cả đều cùng làm và sản phẩm được sử dụng vào việc công ích
Sự sâu sắc của Hồ Chí Minh về phương thức sản xuất châu Á là ở chổ Người chỉ rõ bản chất và hậu quả của chế độ công điền công thổ, chế độ bình quân với công xã nông thôn tồn tại trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam đã làm cho cuộc đấu tranh giai cấp ở đây không gay go và quyết liệt như ở phương Tây Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” năm 1924, Người viết: “ Cho nên nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn Nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa Nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc, người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng
có tờrớt, người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu Điều đó không thể chối cải được” Song sự xung đột trực tiếp về “ quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn” làm cho “cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây” Hồ Chí Minh viết: “ An nam chưa bao giờ có tăng lữ và thuế mười phần trăm Hoàng đế trị vì nhưng chẳng lo cai trị gì Tất nhiên là đã có quan lại rồi Nhưng có thể so sánh với chúa phong kiến không? Không.Trước hết quan lại được tuyển lựa theo con đường dân chủ: con đường thi cử phải mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì Hơn nữa, quyền lực quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn”
Từ việc xem xét vấn đề nông dân trong xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định: “Tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ thì cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước, bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực
Trang 18hiện “người cày có ruộng” xây dựng chính trị và xã hội dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên Chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nội dung kinh tế ở bước thứ nhất của con đường cách mạng Việt Nam là đem lại ruộng đất cho nông dân và xây dựng kinh tế dân chủ mới
Vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX, Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh
đã nắm bắt được mâu thuẫn trong kinh tế xã hội Việt Nam, nắm bắt được ước vọng bao đời của nông dân là có “vuông đất cắm dùi” bằng việc đưa ra khẩu hiệu “người cày có ruộng” Nghĩa là thực hiện việc xóa bỏ sở hữu lớn của địa chủ tư bản và chia ruộng đất cho nông dân Khẩu hiệu chiến lược “người cày có ruộng” đã phát huy sức mạnh của nó, tập hợp lực lượng nông dân thành “gốc cách mạng”, “thành động lực cách mạng” trong cách mạng giải phóng dân tộc Thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nông dân Việt Nam góp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng tháng Tám Bằng lực lượng toàn dân đánh giặc, trong
đó quân đội mà tuyệt đại đa số là nông dân mặc áo lính, giữ vai trò quyết định Nhiệm vụ “người cày có ruộng” thực hiện rãi ra trong kháng chiến là một quyết sách đúng đắn và sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề giải phóng nhân dân cần được đặt ra trên cả ba phương diện: nông dân phải được sống trong môi trường xã hội tốt đẹp, đồng thời phải được đáp ứng những đòi hỏi vật chất ngày càng cao Ở Việt Nam – một nước thuộc địa, nửa phong kiến, một nước nông nghiệp kém phát triển sau cách mạng tháng Tám năm 1945, việc giải phóng nhân dân không tách rời và không nằm ngoài công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội Phương châm của Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Số lượng đông đảo giai cấp nông dân là nguồn nhân lực dồi dào của công cuộc dựng nước và giữ nước:
- Tăng gia sản xuất để nuôi bộ đội, nuôi công nhân cũng chính là nông dân
- Công việc tiêu khổ kháng chiến, công việc sửa chữa đường sá, giao thông vận tải phần lớn do nông dân
Trang 19Như Hồ Chí Minh đã khái quát “nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân”
Theo Hồ Chí Minh: Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hi sinh”
Từ ba yếu tố trên tổng hợp thành chất cách mạng của giai cấp nông dân Việt Nam Song do những đặc điểm và bản chất giai cấp mà nông dân với số lượng và chất lượng ấy vẫn không thể làm một cuộc cách mạng để tự giải phóng mình Giai cấp tư sản ở một số nước Châu Âu đã biết lợi dụng nông dân, lôi kéo họ tham gia vào cuộc cách mạng tư sản, dùng họ làm lực lượng đập phá lâu đài phong kiến Cách mạng thắng lợi nhưng nông dân vẫn bị bóc lột áp bức
Thống nhất với các nhà kinh điển mác xít, Hồ Chí Minh cho rằng giai cấp nông dân Việt Nam muốn được giải phóng chỉ có đi theo giai cấp công nhân, chiến đấu với lá cờ đỏ búa liềm của giai cấp công nhân và làm “một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân” và công nhân làm gốc, làm người chủ cách mạng Khi đó, sức nông dân mới mạnh và cũng chỉ mạnh khi nó được tổ chức lại và đặt trong các tổ chức cách mạng Để duy trì sức mạnh của nông dân, theo Người phải:
“Tổ chức nông dân thật chặt chẽ Đoàn kết nông dân thật khăng khít Huấn luyện nông dân thật giác ngộ Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc” Điều này đồng nghĩa với việc đưa nông dân vào các tổ chức, đoàn kết họ trong nông hội Nông hội (hội nông) – theo đánh giá của Hồ Chí Minh
“là một cái nền cách mệnh của dân ta” Bởi lẽ, có hội hè rồi tức là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành Đã biết “cách mệnh” tinh thần, “cách mệnh kinh tế” thì “cách mệnh chính trị cũng không xa”
Theo Hồ Chí Minh giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao động, sản xuất nhỏ trong nông nghiệp gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp, đều có đặc điểm chung là người lao động – nhân tố chủ yếu của lực lượng sản xuất và là người tư hữu nhỏ Từ nông dân Pháp, Đức đến nông dân Nga, Hungari, từ nông dân Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Dương đến nông dân Xyri, Bănglađét không nằm ngoài những đặc điểm chung đó Cái khác nhau ở trình độ nông dân được biểu hiện ra rằng
Trang 20phương thức sản xuất nông nghiệp cổ truyền hay tiên tiến, năng suất lao động thấp hay cao, kỹ thuật lạc hậu hay hiện đại, do công nghiệp tác động vào nông nghiệp đến mức độ nào
Hồ Chí Minh đánh giá rất cao giai cấp nông dân với tư cách là lực lượng cách mạng khi được tổ chức lại Đây là quan điểm thống nhất với những nguyên lý mác xít về vai trò của quần chúng trong cách mạng Không dừng lại ở việc xác định vai trò lực lượng cách mạng chung chung, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, giai cấp nông dân Việt Nam trong cuộc cách mạng dân chủ mới, đánh đổ phong kiến, do giai cấp công nhân lãnh đạo giữ vị trí “chủ cách mạng”, “gốc cách mạng”, và “động lực cách mạng” Bởi lẽ, “vì áp bức mà sinh ra cách mạng, cho nên ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mạng càng bền, chí cách mạng càng quyết” Nông dân bị nhiều tròng
áp bức, nông dân là lực lượng đông nhất, chiếm hơn 95% dân cư Khi đã được giác ngộ, nông dân gan gốc, dũng cảm có quyết tâm cao: “Nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới”, “ thà chết tự do còn sống làm nô lệ”
Hồ Chí Minh luôn nhìn giai cấp nông dân trong mối quan hệ khăng khít với giai cấp công nhân trong công cuộc giải phóng Người khẳng định: “ Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng” Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp nông dân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi Từ
đó, ta thấy sức mạnh của nông dân được chứng minh qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ
Trong sự nghiệp đổi mới, mục tiêu “ người cày có ruộng” được thực hiện dưới hình thức giao quyền sử dụng ruộng đất cho nông dân đã tạo ra lực lượng sản xuất mới trong nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế Việt Nam
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, một nước khi bước vào thời
kỳ quá độ với đặc trưng kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ; một nước mà tính chất của nền kinh tế tiểu nông còn tiểu nông hơn cả nước Nga năm 1921; một nước mà khi cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra với những điều kiện bên trong và quốc tế vừa có nhiều khác biệt, vừa có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có điểm phức tạp hơn so với nước Nga Xô viết sau nội chiến Những gì diễn ra sau năm 1975 và đỉnh điểm là những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, vừa khẳng định những
Trang 21nét đặc thù của cách mạng Việt Nam đòi hỏi cần có nhận thức lý luận để vận dụng NEP, vừa chỉ ra cơ sở thực tiễn cho phép Đảng và Nhà nước ta vận dụng NEP Từ những nội dung kinh tế và chính trị của công cuộc đổi mới xét cả về lý luận và thực tiễn có thể thấy, về thực chất và về cơ bản, Đảng ta đã vận dụng hết sức sáng tạo Chính sách kinh tế mới của V.I.Lê-nin Những thành tựu chúng ta đã đạt được qua 20 năm đổi mới cho thấy ít nhất hai vấn đề:
Một là, NEP thực sự mang giá trị thời đại Thực tiễn của chính sách mở cửa,
đổi mới ở Việt Nam, cải cách của Trung Quốc, thêm một bằng chứng xác thực bác bỏ những quan điểm sai trái về sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
Hai là, cũng như NEP, đổi mới ở Việt Nam là một sự nghiệp cách mạng,
muốn tiếp tục giành được những thành tựu mới, phải kiên định về nguyên tắc, nhưng phải rất sáng tạo và mềm dẻo trong tổ chức thực tiễn
Để sự nghiệp đổi mới của đất nước tiếp tục tiến lên, thu được những thành tựu to lớn hơn nữa, nhằm "phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển" như tinh thần dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chuẩn bị trình Đại hội X, đã xác định, hướng tới mục tiêu đến năm 2020 nước ta "cơ bản trở thành nước công nghiệp" Khi tiếp cận vấn đề dưới góc độ NEP là một giá trị mang tính thời đại cùng với tính cách mạng và khoa học thể hiện trong các nội dung của NEP, sẽ thấy NEP có tầm quan trọng đặc biệt đối với
sự nghiệp đổi mới ở nước ta Với ý nghĩa đó, sự nghiệp đổi mới đòi hỏi sự chỉ đạo của Đảng và đặc biệt là sự quản lý của Nhà nước thời gian tới cần có sự tập trung vào các vấn đề lớn mà theo tinh thần của NEP nhất định không được coi nhẹ Có thể nêu lên ba vấn đề gồm:
Thứ nhất, thông qua biện pháp "tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường", sử dụng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một phương tiện để thiết lập quan hệ kinh tế chặt chẽ và bền vững giữa nhà nước với nông dân Mô hình "liên kết bốn nhà", cần được tổng kết chu đáo để rút ra những kết
Trang 22luận lý luận và các kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn Đây chính là biện pháp khả thi hiện nay để củng cố liên minh công nông về kinh tế
Thứ hai, bằng những biện pháp tích cực và cụ thể đẩy mạnh hơn nữa quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; đổi mới chính sách thu hút đầu tư để gọi được nhiều vốn FDI cho lĩnh vực này Thực hiện tốt việc áp dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước vào nông nghiệp, nông thôn chính là con đường ngắn nhất và cũng hiệu quả nhất để đảm bảo tính bền vững cả về kinh
tế và chính trị mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn
Thứ ba, thực hiện những giải pháp quyết liệt và mang tính đột phá hơn
trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Phải có những biện pháp mang tính cơ bản hơn để tẩy trừ tệ quan liêu, nạn tham nhũng từ gốc Vì sự trong sạch của bộ máy nhà nước và đời sống xã hội, đồng thời để đẩy nhanh chiến lược phát triển, nếu cần thiết, không loại trừ việc dùng những biện pháp mạnh tay và kiên quyết mang tính phổ biến hơn hiện nay Những tư tưởng của V.I Lê-nin từ NEP đòi hỏi quy tụ lòng dân bằng con đường pháp trị là biện pháp cần được gia tăng hơn nữa, để cùng với các biện pháp giáo dục, kiểm kê kiểm soát, thanh tra, kiểm tra giám sát của hệ thống chính trị và nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân không có tệ quan liêu và nạn tham nhũng [14]
1.3 Vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Nông dân nước ta là giai cấp đông đảo nhất, là lực lượng to lớn nhất đã xây đắp nên lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trong suốt quá trình cách mạng, giai cấp nông dân nước ta luôn luôn một lòng son sắc theo Đảng, nêu cao tinh thần yêu nước, truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, vượt qua khó khăn thách thức, góp phần to lớn cùng toàn dân hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước
ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đến nay, sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và khá toàn
Trang 23diện Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trên thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng nông nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức
tổ chức sản xuất tiếp tục được đổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Người nông dân có nhiều điều kiện, cơ hội làm giàu cho gia đình, cho quê hương, đất nước
Nông dân có với vai trò là chủ thể và là lực lượng nòng cốt, chủ công của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Muốn phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh
tế nông thôn phải khơi dậy, phát huy được tính tích cực, năng động, sáng tạo của nông dân, đem lại lợi ích thực sự cho họ, tức là phải đưa vào nông nghiệp, nông thôn
Qua các giai đoạn cách mạng của nước ta, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu nhất đi theo Đảng, đóng góp vô cùng to lớn về tinh thần và sức lực, tính mạng
và của cải, vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khổ, góp phần làm nên những trang sử
vẻ vang của dân tộc Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo
vệ môi trường sinh thái
Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn được thể hiện trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam và trong những thập niên gần đây Đặc biệt là Nghị quyết Đại hội X của Đảng
Trang 24đã nhấn mạnh: “ Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân” Bởi vì, “hiện nay và trong những năm tới vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”2 Vì vậy “phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao” 3 [2,tr.18]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
"Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" đã xác định:
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp – hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhằm đạt đến mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nâng cao trình độ sản xuất của nông dân ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa [2,tr.19]
Báo cáo chính trị của Hội Nông dân Việt Nam trình ra Đại hội lần này đã xác định phương hướng công tác của Hội Nông dân và phong trào nông dân trong nhiệm kỳ tới là "Đoàn kết, năng động, sáng tạo, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh" là chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Hội Nông dân Việt Nam vững về chính trị, mạnh về tổ chức, thống nhất về hành động là trung tâm
Trang 25và nòng cốt trong phong trào nông dân và góp phần xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; tham gia có hiệu quả vào các công tác xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, nâng cao đời sống, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; góp phần cùng cả nước thực hiện mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
Trang 26Chương 2: THỰC TRẠNG NÔNG DÂN NÔNG THÔN HIỆN NAY
Ở NƯỚC TA 2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội, kinh tế - chính trị của Việt Nam:
Việt Nam với diện tích là 331.211 km2 và dân số 84.115,8 nghìn người năm
2006 Với ¾ diện tích là đồi núi và trung du, còn đồng bằng nhỏ hẹp nhưng dân số tập trung chủ yếu ở đồng bằng 80% dân số ở đồng bằng và thưa thớt ở miền núi Việt Nam là một quốc gia với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên Ở trình độ phát triển kinh tế như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng Việt Nam có khoảng 8,0 triệu ha đất nông nghiệp, bao gồm đất ở đồng bằng, ở các bồn địa giữa núi, ở đồi núi thấp và các cao nguyên
Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Xingapo, sau đó là Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á – Thái Bình Dương Trong nhiều năm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập
kỷ 90, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá cao Vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp vùng nhiệt đới, sinh vật được phát triển quanh năm Việt Nam là một nước nông nghiệp đang trong quá trình phát triển Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội mà còn tạo sự ổn định chính trị của đất nước Việc phát huy vai trò của nông dân nước ta hiện nay là một yêu cầu khách quan, cấp bách Trên cơ sở đánh giá những thành tựu bước đầu cũng như hạn chế trong việc phát huy vai trò của nông dân, tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp để tiếp tục phát huy vai trò đó theo quan điểm của V.I Lênin
Nước ta đã trải qua quá trình đấu tranh giữ nước lâu dài và gian khổ Sau ngày độc lập thống nhất đất nước 1975, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển hơn và đặc biệt là trong nông nghiệp sau khi thực hiện công cuộc đổi mới đã đem
Trang 27lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân nói chung và nông dân nói riêng Từ chế độ quan liêu bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường phát huy được vai trò của nông dân như tính năng động, sáng tạo và chủ động hội nhập vào kinh tế thế giới
2.2 Thành tựu của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong những năm qua:
Trước năm 1986:
Vận dụng một cách sáng tạo những luận điểm cơ bản của học thuyết Mác – Lênin về vấn đề nông dân, trong cương lĩnh Đảng ta từ năm 1930 đã đề cập đồng thời hai nhiệm vụ phản đế, phản phong, đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng nông dân và thực hiện “người cày có ruộng” Thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1954) ở nước ta là do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến sự ủng hộ to lớn của nông dân mà Đảng ta đã sớm tập hợp được trong khối đại đoàn kết dân tộc mà nền tảng của nó là liên minh công nông và trí thức [6,tr.243]
Sau hòa bình (1954), chúng ta đã tiến hành cải cách ruộng đất mà thực chất
đó chính là quốc hữu hóa ruộng đất từ trong tay bọn địa chủ, phong kiến bóc lột và
tư sản nông thôn Với cuộc cải cách này, hàng chục triệu nông dân ở miền Bắc có ruộng cày, nhờ đó nông dân càng phấn khởi, tin tưởng quyết tâm đi theo Đảng trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội
Đến đầu những năm 1960, chúng ta đã hướng nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể thông qua các hình thức kinh tế hợp tác xã Chế độ kinh tế hợp tác xã lúc bấy giờ với cơ chế quản lý tập trung mệnh lệnh hành chính là chủ yếu có vai trò
to lớn trong việc huy động sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa Song do có những nhận thức đơn giản, chủ quan duy ý chí, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin về tính quy luật trong bước quá độ đưa nông dân lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã vội vã tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc trong một thời gian dài Hậu qua tiêu cực của việc thiết lập ngay các quan hệ sản xuất tiên tiến
Trang 28trong khi lực lượng sản xuất còn quá lạc hậu đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp trong quan hệ công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn, Nhà nước với nông dân… Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của chiến tranh, một phần quan trọng cũng là do các chủ trương, chính sách kinh tế của Nhà nước đề ra chưa phù hợp với lợi ích kinh tế của nông dân, làm hạn chế tính sáng tạo và hăng say lao động của họ Năm 1976, cả nước sản xuất được 13,5 triệu tấn lương thực quy thóc Năm 1977 – 1978 chỉ đạt 12 triệu tấn Các năm 1979, 1980 đạt 14 triệu tấn…
Các công trình xây dựng mở ra nhiều, nhưng thiếu vốn, thiếu vật tư không triển khai được Trong lĩnh vực lưu thông, vật tư và hàng tiêu dùng khang hiếm, căng thẳng, giá cả tăng nhanh, chợ đen phát triển, chất lượng hành nội địa ngày càng kém Hậu quả lạm phát ngày càng tăng, đời sống nhân dân lao động, nhất là nông dân và những người ăn lương cực kỳ khó khăn Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã kiềm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội nói chung và trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng [6, tr.424,425]
Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước đã hoàn toàn độc lập và thống nhất Ngay sau ngày kháng chiến thành công, chúng ta đã nhanh chống bắt tay vào khôi phục, cải tạo kinh tế, giữ vững an ninh chính trị và giải quyết các vấn đề xã hội Kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi chông gai, thử thách, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V khẳng định: “Năm năm qua được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một đoạn đường thắng lợi rất vẻ vang của cách mạng Việt Nam Vượt qua khó khăn chồng chất, nhân dân ta đã đưa cách mạng Việt Nam phát triển lên một thế chiến lược mới, vững chắc hơn so với trước đây, tạo ra khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc
và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”
Sau năm 1986:
Với tinh thần đổi mới, Đảng ta đã quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Đảng chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, mà khởi điểm là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế Nông nghiệp tiếp tục được xem là mặt trận quan trọng hàng đầu, vì vậy Đảng ta chủ trương đổi mới đồng bộ từ nhận thức đến cơ chế, từ chính sách đến điều hành, làm
Trang 29cho kinh tế nông nghiệp vận hành theo đúng quy luật khách quan, đưa nông nghiệp thoát khỏi tình trạng tự cấp, tự túc chuyển sang sản xuất hàng hóa
Từ thực tiễn kinh tế - xã hội ở nông thôn đã xuất hiện những nhân tố mới thể hiện sự tìm tòi, thử nghiệm sáng tạo của cán bộ cơ sở ở nông thôn, ở Hải Phòng, Vĩnh Phúc Trên cơ sở thực tiễn đó, Đảng đã khái quát và cho ra đời “Chỉ thị 100” với nội dung cơ bản là “khoán sản phẩm”
“Chỉ thị 100” nêu rõ: “Bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động, kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất; củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa ở nông thôn; không ngừng nâng cao thu nhập cho đời sống xã viên, tăng tích lũy của hợp tác xã, làm tròn nhiệm vụ và không ngừng tăng khối lượng nông sản cung ứng cho nông nghiệp”
“Chỉ thị 100” đã “cởi trói cho cơ chế cũ”, tìm lối ra cho phát triển nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân Mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động Hình thức này đã giải quyết được một bước về quyền làm chủ của nông dân đối với lao động, với sản xuất và tư liệu sản xuất; mở ra một hướng mới cho nông dân yên tâm sản xuất vì họ đã thấy được lợi ích chân chính của mình
Nhằm từng bước cụ thể hóa đường lối nông nghiệp, đưa các hợp tác xã thoát khỏi
tình trạng tập trung quan liêu, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 10 (5/4/1988) (còn
gọi là khoán 10) về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”
Như một luồn gió mới, khoán 10 đã thổi sinh khí vào lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra động lực to lớn thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển Có thể nói, thành công của khoán 10 chính là ở chỗ đã giải phóng đáng kể sức sản xuất nông nghiệp Nếu như trong thời kỳ của cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, người nông dân đóng vai trò thụ động thì nay vị trí chủ thể của người nông dân đã được xác lập
về cơ bản Các hợp tác xã thực hiện chế độ tự quản, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, thực hiện khoán gọn sản phẩm theo đơn giá đối với các khâu công việc