Các quan niệm về con người trong triết học Ấn Độ cổ đại không chỉ dừng lại ở những khái niệm những tín điều khô khan mà nó phong phú sinh động hơn được thể hiện trong sinh hoạt văn hóa,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s: ĐINH NGỌC QUYÊN Họ và tên: NGUYỄN THỊ HỒNG ĐẬM
Chuyên ngành: SP GDCD
MSSV: 6075688
Cần Thơ, 04/2011
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.Lý do chọn đề tài 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI 6
1.1 Quan điểm triết học trước Mác về con người 6
1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 6
1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây 8
1.2 Quan điểm về con người và bản chất con người của chủ nghĩa Mác – Lênin.10 1.2.1 Vấn đề con người và bản chất con người 10
1.2.2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội 14
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về con người 15
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người 15
1.3.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người 18
1.4 Nhận thức và vận dụng lý luận về con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta …21
1.4.1 Vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa23 1.4.2 Mục tiêu con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TRÀ VINH 28
2.1 Một số nét khái quát về tỉnh Trà Vinh 28
2.1 1 Về vị trí địa lý 28
2.1.2 Về tài nguyên thiên nhiên 30
2.1.3 Về cơ sở hạ tầng 33
2.1.4 Nguồn nhân lực 33
Trang 32.1.5 Đánh giá tổng quát những tiềm năng và khả năng phát huy nhân tố con người của tỉnh Trà Vinh 36
2.2 Chủ trương, định hướng phát triển nhân tố con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Trà Vinh 38
2.2.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nhân tố con người và sự phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Trà Vinh hiện nay 38 2.2.2 Nguồn lực con người và sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Trà Vinh hiện nay 42
2.3 Thực trạng về tình hình nhân tố con người ở Trà Vinh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đai hóa 43
2.3.1 Những thành tựu đạt được trong việc phát huy nhân tố con người 43 2.3.2 Những hạn chế 59
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH TRÀ VINH 53 3.1 Phương hướng, nhiệm vụ nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở tỉnh Trà Vinh 53
3.1 1 Thực hiện công bằng trong xã hội, lĩnh vực giáo dục đào tạo để tạo điều
kiện cho mọi người học hành 51 3.1.2 Tăng cường công tác quản lý của nhà nước, khắc phục bệnh thành tích và tiêu cực trong giáo dục 53 3.1.3 Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trên cơ sở phát triển qui mô một cách hợp lý 54 3.1.4 Chú trọng đến công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ Đảng viên và cả nhân dân 54
3 2 Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người ở Trà Vinh 56
3.2.1 Xây dựng kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo 55
3.2.2 Tăng cường công tác quản lý của nhà nước, khắc phục bệnh thành tích và
tiêu cực trong giáo dục 57
Trang 43.2.3 Nâng cao hiệu quả của khoa học công nghệ nhằm tạo thêm nguồn nhân lực
có trình độ về khoa học công nghệ cho tỉnh nhà 58 3.2.4 Tiếp tục xây dựng hoàn thiện và triển khai thực hiện đồng bộ có hiệu qủa các chính sách xã hội nhằm phát huy hết tiềm năng nhân tố con người 59
PHẦN KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5Hòa cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới thì nước ta đang ở giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng ta đã xác định “ phát huy
nguồn lực con người là điều kiện tiên quyết, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Trải qua quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đã chứng minh rằng muốn nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển vững mạnh thì đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có trình độ cao về cả chuyên môn và tay nghề Mà đất nước ta đi lên từ một nước nghèo nàn lạc hậu thì vấn đề này vô cùng cấp thiết Chính vì vậy
để đưa đất nước đi lên và tạo đà phát triển ở những năm tiếp theo của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà quan trọng nhất là phát triển con người, nâng cao chất lượng của người lao động Cùng với xu thế đổi mới của cả nước tỉnh Trà Vinh là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, chính thức được tái lập đầu năm 1992 Trong những năm qua cùng với quá trình đổi mới tỉnh cũng đã đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế xã hội Nhưng nhìn chung so với các tỉnh trong khu vực thì vẫn chưa phát triển kịp thời mà nguyên nhân sâu sa là
do nguồn nhân lực còn mỏng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc vị trí vai trò ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hiện nay Để đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà tiến đến thành công thì cần phát huy hơn nữa nhân tố con người Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của nhân
tố con người trong quá trình phát triển đất nước nói chung và ở tỉnh Trà Vinh nói riêng Trên cơ sở nhận thức sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
em đã chọn đề tài “ Phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Trà Vinh ” để làm luận văn tốt nghiệp”
Trang 62 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là nhân tố con người, nguồn lực con người trong phạm
vi địa bàn tỉnh Trà Vinh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích: Góp phần làm sáng tỏ vai trò của nhân tố con người và việc phát huy nhân tố con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhiệm vụ: Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về con người
Phân tích thực trạng tình hình phát huy nhân tố con người ở Trà Vinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trà Vinh
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó chú ý các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ
đề tài đặt ra
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận danh mục và tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương 9 tiết
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI
1.1 Quan điểm triết học trước Mác về con người
Nghiên cứu con người vốn không phải là vấn đề mới mẻ Đó là đối tượng của nhiều ngành khoa học, nhất là các ngành khoa học xã hội và nhân văn Từ triết học
cổ điển đến triết học cận hiện đại, từ triết học thực trạng đến triết học hiện sinh, từ tâm lý học hành vi đến tâm lý học Phrớt… vấn đề con người luôn luôn là đối tượng nghiên cứu của triết học và tâm lý học nói chung Chính vì vậy mà những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại Đó là những vấn đề về bản tính, bản chất con người Mối quan hệ giữa con người và thế giới Con người có thể làm gì để giải phóng mình đạt tới tự do Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan – một nội dung cấu thành thế giới quan của triết học
Tùy theo điều kiện lịch sử mà nổi trội lên vấn đề này hay vấn đề kia Đồng thời tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện đóng góp khác nhau trong việc lý giải về con người Mặt khác trong khi giải quyết những vấn đề trên mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể đứng trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận
khác nhau: duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặc siêu hình
1.1.1Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Quan niệm về con người trong triết học phương Đông được hình thành từ rất sớm và được thể hiện một cách có hệ thống từ thế kỷ VI trước Công nguyên Nội dung các quan điểm này rất đa dạng, song những vấn đề mà người phương Đông đề cập đến là những vấn đề thuộc nguồn gốc, bản tính của con người, đạo làm người và mẫu hình người lý tưởng
Trước hết là tư tưởng về con người trong nền triết học Trung Hoa, trong suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ - trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn
đề được quan tâm hàng đầu luôn xem con người là đối tượng về mặt bản thể lấy con người làm trung tâm mục tiêu nhận thức, đề cao tinh thần nhân văn, khẳng định giá trị tồn tại tích cực của con người đối với chính bản thân mình và đối với thế giới bên ngoài Do triết học gắn với những vấn đề về đạo đức, chính trị xem mặt xã hội
Trang 8của con người là trung tâm nghiên cứu, các triết gia cổ đại Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến vận mệnh con người Số phận con người không thể cưỡng lại “mệnh trời”
Bên cạnh đó khi nói đến con người và quan hệ xã hội của con người triết học
cổ đại Trung Quốc lấy đạo đức luân lý làm nội dung chủ yếu Đạo đức luân lý ở đây
là thuộc tính đẳng cấp xã hội của con người quyết định được bản tính con người là thiện hay ác Muốn luân lý được hiện thực hóa điều căn bản quyết định là mỗi con người phải “ tu thân dưỡng tính”, chứ không thể nhờ vào ai đựợc Triết học cổ đại Trung Quốc khi bàn về con người đã đưa ra các quan điểm rất phong phú và đa dạng Các quan niệm về “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “chính danh”, “tính thiện”, “tính ác”,….đã được lý giải xâm nhập, tiếp thu lẫn nhau Đều này đã tạo nên tính hòa đồng tế nhị để chúng ta có thể phân biệt vô thần hay hữu thần, duy tâm hay duy vật Như vậy có thể nêu lên một cách tổng thể rằng về phương diện nghiên cứu con người, thì triết học cổ đại Trung Quốc đã tạo ra những giá trị và những ảnh hưởng không thống nhất Một mặt nó đặt cơ sở tư tưởng cho những giá trị tích cực nhất định trên một số lĩnh vực văn hóa truyền thống, mặt khác nó là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo ra các độc tố của hệ tư tưởng thống trị phong kiến nói riêng và ý thức xã hội trong xã hội phong kiến nói chung
Khác với nền triết học Trung Hoa các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại gồm có triết học chính thống và triết học không chính thống đã thể hiện những tư tưởng khác nhau về con người
Các quan niệm về con người trong triết học Ấn Độ cổ đại không chỉ dừng lại ở những khái niệm những tín điều khô khan mà nó phong phú sinh động hơn được thể hiện trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân mà chủ yếu là tìm ra con đường giải thoát cho con người Vì vậy sự phản ánh triết học về con người đã trở nên đa dạng và nó có thể được mở rộng ra thêm nữa Con người là điểm mốc xuất phát và các mục đích cuối cùng là “ giải thoát”, nó mang một ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc để từ đó hướng con người đến sự giác ngộ đây là một trong những ý nghĩa vô cùng to lớn của triết lý đạo phật về con người
Mục đích giải thoát khiến tất cả các nhà triết học đều coi trọng và đều đặt lên hàng đầu việc giải quyết vấn đề con người Vì vậy quan niệm về con người đã được các nhà tư tưởng của các trường phái triết học Ấn Độ mà tiêu biểu là trường phái
Trang 9đạo phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính vô ngã vô thường và tính thiện của con người trên con đường truy tìm sự giác ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học đạo phật
Nhìn chung quan điểm về con người trong các học thuyết triết học phương Đông thể hiện rất phong phú nhưng đều mang nặng tính duy tâm Về cơ bản các học thuyết đã lấy đạo đức làm nền tảng để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, song nội dung các nguyên tắc các chuẩn mực đạo đức quan điểm về bản tính con người, đạo làm người hình mẫu con người lại rất đa dạng chứa đựng những tư tưởng giống nhau, khác nhau và thậm chí đối lập nhau Tất cả những tư tưởng này đều tồn tại lâu dài trong lịch sử và giữ vai trò nền tảng mà trên đó các thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện để thể hiện quan điểm của mình
1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
* Tư tưởng về con người trong triết học thời cổ đại
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ cổ đại HiLạp đã trãi qua giai đoạn trung cổ, phục hưng và cận đại trong triết học Hilạp cổ đại vấn đề con người thì nó đã được bộc lộ rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Nhìn chung các nhà triết học theo lập trường duy vật đã lựa chọn giác độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con người và các vấn đề khác có liên quan Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm về bản chất vật chất tự nghiên của con người cũng như vạn vật trong giới tự nhiên không có gì thần bí đều được cấu tạo nên từ vật chất Tiêu biểu là quan niệm của Đêmôcrit ( khoảng 460-370 TCN) cho rằng cuộc sống không phải do thần thánh tạo ra mà được cấu tạo bởi các nguyên tử Động vật khác thực vật ở chổ là chúng có linh hồn cho nên chúng mới hoạt động được, còn linh hồn của con người được cấu tạo bằng nguyên tử khi kết hợp với thể xác thì tạo nên sự vận động, ông cho rằng nếu thể xác mất đi thì linh hồn cũng mất theo
Nhà triết học Platôn ( 427- 347) thì cho rằng tất cả kể cả con người đều bắt
nguồn từ “thế giới ý niệm”, đó chính là cái “ tồn tại chân chính” Những vật thể cảm
tính chỉ là cái bóng của “ thế giới ý niệm” Sau khi thể xác chết, linh hồn bất tử
thoát khỏi tù ngục của thân thể về với “ thế giới ý niệm”
Trang 10Tóm lại vấn đề con người đã được xem xét, giải quyết theo quan niệm duy tâm hay duy vật trong tư tưởng triết học HiLạp cổ đại Các nhà triết học HiLạp đã xây dựng nên nền triết học hết sức phong phú, đa dạng đã đánh dấu trong lịch sử tư tưởng nhân loại một bước ngoặt nhân bản độc đáo
* Tư tưởng về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ Trung Cổ và thời kỳ phục hưng – cận đại
Tư tưởng về con người trong triết học Tây Âu thời kỳ Trung Cổ và thời kỳ Phục Hưng – Cận đại đã có những bướt phát triển nhất định, còn quan niệm về con người thì có những khởi sắc theo hướng tiến bộ Triết học thời kỳ này đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con người, đề cao vai trò thực tiễn và xem con người là
“thước đo tất thảy mọi vât”
Nét nổi bật trong triết học thời phục hưng và cận đại là sự phủ nhận quyền lực của đấng sáng tạo, đề cao sức mạnh của con người, đề cao vai trò của lý trí, đề cao các giá trị và tư tưởng về con người
Triết học thời phục hưng và cận đại không chỉ ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của triết học sau này mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều cuộc cách mạng nổ
ra ở Tây Âu và trên toàn thế giới
Tiêu biểu là Phranxit Bêcơn (1561- 1626) coi thể xác con người là sản phẩm của
tự nhiên, quan niệm con người là sản phẩm của tạo hóa và gắn liền với tự nhiên Ông đánh giá cao vai trò của khoa học và triết học đối với việc phát triển đất nước
và con người Theo ông mục đích của xã hội là nhận thức các nguyên nhân và mọi sức mạnh bí ẩn của các sự vật để mở rộng sự thống trị của con người đối với tự nhiên trong chừng mực con người có thể làm được
Rơnê Đêcâctơ (1596- 1650) ông cho rằng triết học là thể hiện sự thông thái của con người cả trong công việc và nhận thức, có nhiệm vụ xây dựng những nguyên lý phương pháp luận cho các khoa học khám phá ra chân lý và có thể giúp con người làm chủ giới tự nhiên
* Tư tưởng về con người trong triết học cổ điển Đức
Trong triết học cổ điển Đức có một đặc điểm nổi bật là đã đề cao vai trò tích cực của con người, con người được hiện diện như là chủ thể đồng thời là sản phẩm hoạt động của chính mình
Trang 11Theo Phơ Bách (1804-1872) con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của
sự phát triển của tự nhiên Giữa con người và tự nhiên nằm trong thể thống nhất hữu
cơ không thể tách rời Trong mỗi con người cụ thể là một thể thống nhất giữa vật chất và tinh thần Ông khẳng định rằng chính thể xác của con người với tất cả những phẩm chất của nó là chủ thể là bản chất con người Vì vậy nhiệm vụ của triết học là phải mang lại cho con người một quan niệm mới về chính bản thân mình, là tạo ra những điều kiện để cho con người được hưởng hạnh phúc Do quan niệm duy tâm nên ông chỉ thấy sự tồn tại của con người trong mối quan hệ với tự nhiên chứ không
hề xem xét mối quan hệ xã hội chi phối cuộc sống con người Cho nên con người trong triết học của ông vẫn là con người trừu tượng
Theo Can-Tơ ( 1724- 1804) xuất phát từ quan niệm cho rằng triết học phải đem lại cho con người một cơ sở thế giới quan mới, phải vạch ra được các nguyên tắc cơ bản của cuộc sống con người, ông cho rằng nhiệm vụ của triết học là phải xác định cho được bản chất của con người, phải giải quyết những vấn đề mà cuộc sống con người đặt ra trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn Ông cho rằng quyền tư hữu gắn liền với bản chất con người, nó mang tính tự nhiên, là thiêng liêng nhất và bất khả xâm phạm
Nhìn chung các quan điểm triết học trước Mác và ngoài Mắcxít còn có một hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu tượng
về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin về con người
1.2 Quan điểm về con người và bản chất con người của chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2.1 Vấn đề con người và bản chất con người
Vấn đề con người đã được nghiên cứu một cách thấu đáo và giữ một vị trí hết sức quan trọng trong chủ nghĩa Mác Con người ở đây là con người cụ thể, con người hiện thực với bản chất của nó là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Trên cơ sở quan điểm duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng, Các Mác
và Ăngghen đã tạo ra một bước ngoặc trong việc nhận thức bản chất con người Các
Trang 12ông xuất phát từ con người thực tiễn, con người cải tạo thế giới và thông qua hoạt động vật chất của con người Như vậy các ông không xem xét bản chất con người một cách cô lập và phiến diện mà đặt nó trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và con người Con người cũng sống dựa vào tự nhiên như mọi sinh vật khác Nhưng sở
dĩ con người trở thành con người được chính là ở chổ nó không chỉ sống dựa vào tự nhiên, Ăngghen là người đầu tiên đã chỉ ra được bước chuyển biến từ vượn thành người là nhờ có lao động Cho nên có thể nói quá trình con người cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người trở thành con người
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội, bởi vì con người là một thực thể sống và có sự trao đổi chất với môi trường xung quanh và còn có những nhu cầu vật chất như: ăn, mặc, ở và còn có những biến đổi về tâm sinh
lý Nhưng mỗi cơ thể con người đều tuân theo quy luật của tự nhiên được sinh ra, tồn tại, trưởng thành, già và chết đi Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là giới tự nhiên, cũng do đó bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người
là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy có thể nói giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, là kết quả của quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên
Các Mác đã nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể trong toàn
bộ tính hiện thực của nó mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức bằng tôn giáo Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình, đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình
Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào giới tự nhiên làm biến đổi giới tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất người
làm cho con người khác con vật “ bản chất con người không phải là cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Đều này cho thấy khi nói đến quan điểm về con
người trong triết học Mác đã giải quyết một cách triệt để đã làm sáng tỏ những vấn
đề xoay quanh con người
Trang 13Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con người khi phê phán quan điểm của Phơ bách: “ Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của
cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”
Luận đề trên khẳng định rằng không có con người trừu tượng thoát ly mọi điều kiện hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định sống trong một điều kiện cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó bằng hoạt động thực tiễn của mình con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ
xã hội đó ( quan hệ giai cấp, dân tộc…) con người mới bộc lộ bản chất xã hội của mình
Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ từng hình thái quan hệ xã hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, qua từng thời đại riêng biệt Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang, chiều dọc lịch sử Các quan hệ xã hội này nó quy định bản chất của con người bao gồm cả quan hệ hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi trong lịch sử của mình con người phải bắt buột kế thừa di sản của những thế hệ trước đó đã để lại cho họ Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con người vươn lên, tuy nhiên cũng có những truyền thống đè nặng lên con người đang sống Chính vì vậy
mà khi xem xét bản chất con người không được tách rời hiện tại và quá khứ mà phải xem xét cả hiện tại lẫn quá khứ có như vậy thì chúng ta mới nhìn nhận đúng bản chất của con người
Cái bản chất không phải là cái duy nhất, mà là bộ phận chi phối trong chỉnh thể
cụ thể phong phú, đa dạng Bản chất và thể hiện bản chất con người có khác biệt Bản chất của một con người cụ thể là tổng hòa các quan hệ xã hội vốn có của con người đó và quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó Còn hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những biểu hiện bản chất của họ
Sự thể hiện bản chất của con người qua hàng loạt mâu thuẩn giữa cá nhân và xã hội, giữa bản năng sinh vật và hoạt động ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hóa xã hội, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài….Theo đó thì bản chất con người thể hiện ra như một xu hướng chung
Trang 14Con người là một thực thể sinh vật xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn con người là biến đổi đời sống xã hội đồng thời cũng làm biến đổi bản thân mình Như vậy bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng mà là hiện thực, không phải
là các vốn có trong mỗi cá thể riêng biệt mà là tổng hòa của toàn bộ quan hệ xã hội Đây là phát hiện có giá trị to lớn của Mác về bản chất con người
Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì sớm hay muộn bản chất của con người cũng
có sự thay đổi Như vậy bản chất của con người không phải được sinh ra mà được sinh thành, nó hình thành và thay đổi theo sự hình thành và thay đổi của các quan hệ
xã hội, trong đó trước hết và quan trọng nhất là các quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế Quan điểm của C.Mác cho thấy bản chất con người hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực Đấy là những con người cụ thể, sống trong những điều kiện cụ thể mà ở đó những mặt khác nhau tạo nên bản chất của con người sẽ được bộc lộ ở những mức độ cụ thể Tấc cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất con người các quan hệ này không kết hợp với nhau theo phép tính cộng mà chúng tổng hòa, nghĩa là chúng có vị trí vai trò khác nhau nhưng chúng không tách rời nhau, mà tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau
Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản chất con người nhưng không có nghĩa là coi nhẹ mặt tự nhiên, đi đến phủ nhận cái sinh vật trong yếu tố cấu thành bản chất con người Điều này cho thấy đời sống thể xác
và tinh thần của con người gắn liền với tự nhiên vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên Con người và con vật đều có những nhu cầu như nhau: ăn, uống, nghĩ ngơi … Tuy nhiên con vật thì hoạt động theo bản năng còn con người thì hoạt động theo ý thức Nhờ vậy mà mặt xã hội của con người đã làm cho mặt sinh vật trong con người phát triển ở trình độ cao hơn so với động vật
Con người sống và hoạt động trong xã hội không phải chỉ theo những bản năng
di truyền có sẵng trong con người như động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hóa, của sự tiến bộ của lịch sử - xã hội Con người phát triển hơn con vật là ngoài tính di truyền con người còn có tính kế thừa về xã hội Nhờ vào giáo dục và sự truyền đạt của thế hệ đi trước để lại những kinh nghiệm cho thế hệ sau
Xuất phát từ những lập luận trên có thể rút ra kết luận là: con người với tư cách
là sản phẩm của giới tự nhiên là sự phát triển tiếp tục của giới tự nhiên, mặt khác
Trang 15con người là một thực thể xã hội Sự tác động qua lại giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong con người tạo thành bản chất con người
Với triết học Mác vai trò của con người ngày càng được chú ý, đặc biệt khi nghiên cứu các quy luật xã hội chúng ta biết rằng tính khách quan của quy luật xã hội không thể hiểu theo nghĩa là nó tác động tách rời hoạt động của con người Lâu nay khi trình bày các quy luật xã hội vai trò của con người thường lại không được chúng ta quan tâm thích đáng
Thời đại ngày nay, thời đại xã hội chủ nghĩa chính vì vậy mà con người xã hội chủ nghĩa còn có một số đặc trưng đó là: con người xã hội chủ nghĩa một mặt là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội chủ nghĩa, mặt khác là chủ thể của các mối quan
hệ đó và từng bước hình thành trong quá trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ở nước ta dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin tiếp thu những giá trị truyền thống của dân tộc căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước thì những đặc trưng của con người XHCN mà chúng ta phấn đấu đạt được: con người làm chủ, con người lao động mới, con người sống có văn hóa, có tình nghĩa, yêu nước, yêu CNXH và có tinh thần quốc tế Các đặc trưng trên thống nhất với nhau tạo nên bản chất con người
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nó được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội
1.2.2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Trong bất kỳ xã hội nào để xã hội tồn tại phải có con người, cộng đồng người cùng sinh sống và hoạt động làm việc Mà con người tồn tại qua những cá nhân người, mỗi cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất gồm một hệ thống những đặc điểm cụ thể không lập lại và khác biệt với cá nhân khác về trình độ về tình cảm…
Xã hội bao giờ cũng gồm nhiều cá nhân hợp thành Những cá nhân này cùng sống cùng hoạt động trong những nhóm cộng đồng một xã hội do điều kiện lịch sử quy định Cá nhân chỉ được hình thành và phát triển trong quan hệ xã hội Nhưng xã hội thì bao giờ cũng thay đổi theo tiến trình lịch sử nên cá nhân là một hiện tượng có tính lịch sử Mỗi thời kỳ lịch sử có một kiểu xã hội của cá nhân mang tính định hướng về thế giới quan phương pháp luận cho hoạt động của con người trong thời
kỳ lịch sử đó Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với giống loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân khác thì
cá nhân là khái niệm để chỉ sự khác biệt những yếu tố bên trong riêng biệt với toàn
Trang 16bộ hoạt động sống của nó Nhân cách là nội dung, trạng thái, tính chất xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân Đó là thế giới của cái tôi do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên Mỗi cá nhân dấn thân vào cuộc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hóa của xã hội vào bên trong mình, tự đánh giá,
tự tạo nên thế giới riêng của mình
Cá nhân có nhân cách gia nhập vào tập thể như là bộ phận của cái toàn thể, thể hiện bản sắc của mình thông qua hoạt động tập thể, nhưng không hòa tan vào tập thể Đây là mối quan hệ biện chứng bao hàm mâu thuẩn giữa cá nhân và tập thể Tùy theo tính chất và khả năng giải quyết những mâu thuẩn đó mà mối quan hệ này
có thể duy trì phát triển hoặc tan rã
Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau nhưng trong đó xã hội giữ vai trò quyết định Nền tảng cho mối quan hệ này là quan hệ lợi ích Thực chất của việc tổ chức trật tự xã hội là sắp xếp các mối quan hệ lợi ích sao cho khai thác được cao nhất khả năng của mỗi thành viên vào các quá trình kinh tế, là môi trường là điều kiện để cá nhân thực hiện các lợi ích Cá nhân chỉ được hình thành phát triển trong xã hội trong tập thể Cá nhân không chỉ là sản phẩm của xã hội mà còn là chủ thể của sự phát triển xã hội
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về con người
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác- Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều cốt lỗi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người Vấn đề con người là vấn đề lớn và được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm xuyên suốt và cũng là nội dung
cơ bản trong toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh Khi đất nước ta bị xâm lăng người luôn tìm cách làm sao để dân tộc ta được độc lập con người được giải phóng là những trăn trở mà Người luôn suy nghĩ Khi đất nước ta được độc lập Người đã khẳng định trong bản tuyên ngôn độc lập: “ Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Và thậm chí đến cuối đời, qua bản Di chúc thiêng liêng, ta cũng thấy được
Trang 17tình yêu thương bao la, vô bờ ấy: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được nhìn nhận vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong lý luận của Người về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong kháng chiến, Người nhấn mạnh là cần phải xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, phát huy tính sáng tạo của quần chúng nhân dân để kháng chiến và kiến quốc Trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, bao giờ Người cũng coi trọng những yếu tố khách quan vì những yếu tố này luôn gắn liền và tác động đến con người Người khẳng định, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trước tiên cần phải có “con người xã hội chủ nghĩa” Đó là những con người vừa “hồng” vừa
“chuyên”, có phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”; phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân và ra sức rèn luyện đạo đức cách
mạng “như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” Quan niệm của
Bác về con người rất toàn diện, có cái tốt và cái xấu, do đó, theo người “phải làm
cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”
Hồ Chí Minh luôn hướng về con người với tấm lòng yêu thương, trân trọng Người có niềm tin rất lớn vào con người Người đã từng nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” Lòng tin đó được hình thành ở Người từ những ngày cắp sách đến trường và phát triển lên trong thời gian bôn ba tìm đường cứu nước Niềm tin đó càng được khẳng định khi Người bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin vì đó chính là “con đường để giải phóng của chúng ta” Người đã thâm nhập vào thế giới của những con người “dưới đáy” xã hội, tìm hiểu họ, hướng họ đến với ngày mai và cũng ở nơi đó, Người càng hiểu sâu sắc bản chất thật sự của khẩu hiệu
mị dân mà bọn thực dân đang hô hào trên các nước thuộc địa: “Tự do, bình đẳng, bác ái”! Càng tin vào con người, tin vào quần chúng bao nhiêu thì tình thương yêu của Người đối với họ càng to lớn bấy nhiêu Càng yêu dân, Người càng chăm lo đến nâng cao dân trí, chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ, phát triển giáo dục vì Người từng
Trang 18khẳng định rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người ước mong dân tộc ta phải “sánh vai với các cường quốc năm châu”, đất nước đẹp giàu, nhân dân no ấm Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước từ thuở dân tộc bị xâm lăng chính vì vậy mà Người luôn quan tâm đến công tác chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Người khẳng đinh: “ Đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô địch” Vì chỉ có đoàn kết lại thì truyền thống yêu nước sự cố kết cộng đồng cùng với
sự lao động và sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp sẻ tạo được động lực vô cùng to lớn cho dân tộc ta
Người còn quan niệm phẩm chất, năng lực của con người không phải là có sẵn, cũng không phải “ từ trên trời sa xuống” mà nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố” Qúa trình đấu tranh rèn luyện ấy cũng chính là quá trình giáo dục, tự giáo dục trong hoạt động thực tiễn Theo Hồ Chí Minh, giáo dục là công việc của toàn xã hội Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục đối với thế hệ trẻ vì thế hệ này còn trong sạch như tấm lụa trắng chưa màu, nhuộm xanh nó sẽ xanh, nhuộm đỏ nó sẽ đỏ xã hội cần những con người như thế nào thì thông qua giáo dục thế hệ này sẽ phát triển theo hướng ấy
Quan niệm về con người và coi con người là một thực thể thống nhất của cái
cá nhân và cái xã hội, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân
và cộng đồng, biết yêu thương con người coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng của Hồ Chí Minh Xuất phát từ những luận điểm đúng đắng đó Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu qúy trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân Chính vì vậy mà tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành sức mạnh vất chất to lớn và là nhân tố quyết đinh thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động, vì thế tư tưởng Hồ Chí Minh về con người thống nhất với tư tưởng, quan điểm của Đảng ta Ngày nay, khi mà cả nước đang bước vào hội nhập sâu rộng với nền kinh tế quốc tế, để đưa đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu” và để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại thì chiến lược phát triển con người càng được chú trọng hơn bao giờ hết, con người phải trở thành mục tiêu và động lực cho sự phát triển Trước mắt và cả về lâu dài ta
Trang 19có rất nhiều việc cần làm để thực hiện chiến lược đó nhưng trước tiên, trong lúc này, các cấp, các ngành cần phải ra sức đẩy mạnh Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ra sức thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, quyết tâm xây dựng nước ta thành một xã hội thực sự công bằng, dân
chủ, văn minh như Bác Hồ từng mong muốn
Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân Theo quan điểm của Hồ Chi Minh người cán bộ chỉ là đầy tớ trung thành có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng yêu nước xưa kia Và đây cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Người, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông
1.3.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người
Trong bất cứ xã hội nào, con người cũng là yếu tố quan trọng nhất, là trung tâm của sự phát triển xã hội quyết định đến sự tồn tại phát triển của một quốc gia Con người cũng là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất Ngày nay dù khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhưng cũng không thể thay thế vai trò
quan trọng của con người trong lao động sản xuất Lênin đã chỉ ra rằng: “ Lực lượng
sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là con người, là người lao động”
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh làm kiêm chỉ nam cho hành động vì thế mà tư tưởng về con người của Đảng cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin và của Hồ Chí Minh Sự nhất quán ấy thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng cũng như các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đấu tranh gỉai phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta Đảng cho rằng con người Việt Nam đang là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện và động lực của công cuộc xây dựng xã hội với mục tiêu: “ dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”
Kế thừa truyền thống dân tộc xem con người là vốn quý, Đảng ta luôn đặt con người ở vị trí hàng đầu, do vậy cách mạng Việt Nam đã thu được những thắng lợi vẻ
Trang 20vang, làm rạng rỡ non song đất nước ta Công cuộc đổi mới đất nước tạo ra những thuận lợi chưa từng có, đồng thời đòi hỏi con người Việt Nam vượt qua những thách thức gay gắt để nâng cao phẩm chất toàn diện phù hợp với đòi hỏi chung của thời đại, kế tục và nâng cao những giá trị truyền thống của dân tộc lên một trình độ mới
Từ khi có đường lối đổi mới, con người Việt Nam được phát huy lên một tầm cao mới Con người là trung tâm của mọi sự phát triển Con người vừa là mục tiêu vừa
là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Là mục tiêu bởi mọi sự phát triển đều vì con người, là động lực bởi vì mọi sự phát triển đều do con người tạo ra Đó là cơ sở của quan điểm phát triển nội sinh do con người và vì con người
Chính vì vậy mà nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp Mà đối với nước ta do điểm xuất phát thấp về cơ sở vật chất kỹ thuật, sự phát triển của lực lượng sản xuất và cả trình độ khoa học công nghệ phát triển chưa cao cho nên sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại càng khó khăn hơn và đòi hỏi chúng ta phải phát huy mọi tiềm năng hiện có của đất nước mà trong đó hơn tất cả các nguồn lực khác là nguồn lực con người cần phải được khơi dậy Điều này đòi hỏi bằng mọi cách phải phát huy vai trò con người để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều đó có nghĩa là phải tìm những giải pháp tốt nhất nhằm phát huy nhân tố con người Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tố con người, Nghị quyết lần thứ VIII của Đảng đã quán triệt một trong những quan điểm về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là: “ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển mạnh và bền vững Động viên tòan dân cần kiệm xây dựng đất nước…” [12, Tr 85]
Hiện nay cách mạng nước ta đã chuyển sang thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, như đại hội lần thứ VIII, IX, X đã nhận định, chính vì vậy đây là thời kỳ mà chúng ta phải huy động mọi tiềm năng cả sức người sức của phấn đấu vì mục tiêu: “ Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.Do đó việc phát huy nhân tố con người trong thời kỳ này là hết sức cấp bách và cần thiết
Tại đại hội VII khi xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Đảng ta khẳng định nhiệm vụ trọng tâm là phải tập trung
Trang 21xây dựng con người và nguồn lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới của đất nước Trong cương lĩnh của Đảng được thông qua tại đại hội VII (1991) đã khẳng định: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội con người được giải phóng nhân dân lao động làm chủ đất nước, có nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo
Trong tất cả các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm với tư cách là nhân tố quyết định nhất Chính
vì vậy mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, còn những thành quả của sự phát triển đất nước lại nhằm phục vụ nhân dân Việt Nam, con người Việt nam và góp phần cho nhân loại
Tại đại hội VIII khi đưa ra các phương hướng chủ yếu phát triển trí tuệ con người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Đảng ta đã khẳng định “ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nghị quyết hội nghị trung ương II (1996) và hội nghị trung ương V (1998) đều nhấn mạnh những phẩm chất
cơ bản của con người mà chúng ta phấn đấu xây dựng để trở thành con người toàn diện là phải có cả đức và tài và phải có kỹ năng lao động giỏi, có ý chí và bản lĩnh xây dựng đất nước
Nghị quyết hội nghị trung ương IX khóa IX đã khẳng định quyết tâm của Đảng là: tiếp tục triễn khai trong thực tiễn quá trình triễn khai giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ với tư cách là quốc sách hàng đầu và cần phải quán triệt sâu sắc hơn
ở các cấp và cả các ngành để có thể tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh và bền vững
Đại hội đã chỉ rõ: ở vào giai đoạn hiện nay thì chúng ta cần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển nguồn lực: “ Xây dựng
và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh sinh viên mà đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam
Trang 22Kế thừa các đại hội trước, Đại hội X đã chỉ rõ: trong giai đoạn hiện nay chúng
ta cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, khoa học và công
nghệ phát triển nguồn nhân lực : “ xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con
người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống năng lực, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [13,Tr 106]
Thời kỳ hiện nay thời kỳ mà nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 thì chiến lược phát triển con người cần chú trọng hơn bao giờ hết, con người phải trở thành mục tiêu động lực của sự phát triển, trước mắt và cả lâu dài thì chúng ta có rất nhiều việc cần phải làm để thực hiện được chiến lược nhưng trước tiên là các ngành và các cấp phải đẩy mạnh cuộc vận động và học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Ra sức thực hành tiết kiệm chống tham ô lãng phí, quan liêu, quyết tâm xây dựng nước nhà thành một xã hội công bằng dân chủ văn minh đó cũng là tâm nguyện của Bác
1.4 Nhận thức và vận dụng lý luận về con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Ngày nay công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là xu thế chung và tất yếu đối với các nước phát triển và cả các nước đang phát triển Đối với nước ta hiện còn đang trong tình trạng là một nước nghèo, kém phát triển nền kinh tế do đi lên từ điểm xuất phát thấp, chậm tiếp thu với những tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính vì vậy để phát triển và đưa đất nước tiến lên hòa cùng với sự phát triển của thời đại Công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đảng ta xác định là con đường phát triển tất yếu khách quan Muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, muốn tránh khỏi nguy cơ tụt hậu
so với các nước trong khu vực mà điểm xuất phát ban đầu của họ cũng không khác
gì so với nước ta Để đưa nước ta trở thành một nước có nền kinh tế phát triển thì không còn cách nào khác hơn là phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Trang 23Công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa thực hiện đi tắt đón đầu để rút ngắn thời gian phải theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước và áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Công nghiệp hóa thực chất là xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ
và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch
cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Qúa trình ấy không chỉ tuần tự trãi qua các bước cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa mà sử dụng kết hợp thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhiệm vụ lớn lao mà cuộc cách mạng đó phải thực hiện là tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất kỹ thuật về con người và khoa học công nghệ, từng bướt phát triển kinh tế tri thức, huy động tối đa và sử dụng ngày càng có hiệu quả mọi nguồn lực, lấy phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ làm quốc sách hàng đầu, lấy việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc với tư cách vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội không ngừng tăng năng suất lao động xã hội làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý và công nhân lành nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng Cho nên muốn thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng, phải phát huy những khả năng sở trường và sự nhiệt tình lao động sáng tạo của mỗi người Phát huy nhân tố con người chính là chăm lo, tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi người, mỗi cộng đồng người thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động, trong hoạt động sáng tạo nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội vì hạnh phúc của
Trang 24mỗi người Phải có quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng thường xuyên nguồn nhân lực con người, đảm bảo cơ cấu tốc độ và quy mô phát triển hợp lý đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời phải
bố trí sử dụng nguồn nhân lực đã được đào tạo, phải phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao động sáng tạo của mỗi người để họ tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhân tố con người có nội dung cơ bản được xác định như là những chỉ tiêu về
số lượng, chất lượng nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người như là một tiềm năng cần khai thác và phát huy trong đó bao gồm số lượng lao động, sức khỏe, trình độ, học vấn chuyên môn kỹ thuật, ý thức xã hội, thái độ lao động Nội dung này chỉ ra những tiêu chí nói lên mức độ khả năng sáng tạo của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội cũng như trong tiến trình phát triển của lịch sử mà trong đó con người là chủ thể
Phát triển con người là làm gia tăng gía trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, vật chất thể chất Con người ở đây được xem xét như là một tài nguyên một nguồn lực Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã giải phóng từng bước con người về vật chất và cả tinh thần Phát triển nguồn lực con người là sự phát triển trong một hệ thống như: phát triển các nguồn lực, vật lực, tài lực, nhân lực nhưng trong đó phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò trung tâm Chiến lược phát triển con người ở trong bất cứ xã hội nào cũng được bàn đến chứ không phải đến chủ nghĩa
xã hội mới nhắc đến Tích cực hóa nhân tố con người là phát hiện, làm bộc lộ hình thành và để từ đó sử dụng tiềm năng sáng tạo của con người.Việc phát huy nhân tố con người chính là chăm lo tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi người và kể cả cộng đồng thể hiện năng lực của mình trong lao động, hoạt động sáng tạo nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội vì hạnh phúc mỗi người Đây cũng chính là quá trình làm cho mỗi con người trở thành chủ thể có ý thức trong sáng tạo lịch sử
1.4.1 Vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 25mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc với lĩnh vực đời sống xã hội Để đạt được sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi môi trường chính trị của đất nước phải ổn định bên cạnh
đó phải có nguồn lực cần thiết như: tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn, nguồn lực con người Tất cả các nguồn lực này quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên mức độ tác động và vai trò của chúng là không như nhau, trong đó nhân tố con người hay nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định Điều này đòi hỏi để công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thuận lợi thì phải phát triển nguồn nhân lực Bởi vì nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động của xã hội mà lực lượng này tham gia vào quá trình sản xuất, phát triển kinh tế xã hội mà thông qua hoạt động của con người thì các nhân tố khác mới phát huy hết tác dụng mới có thể biến những tiềm năng thành hiện thực mà trong đó chính con người mới có thể phát hiện ra các nguồn lực tổ chức khai thác và
sử dụng nó để phục vụ cho lợi ích của mình Để từ đó có thể tạo ra động lực phương tiện tạo điều kiện cho xã hội phát triển đi lên nhằm phục vụ cho cuộc sống con người được đầy đủ hơn, tốt đẹp hơn
Qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm cho nguồn nhân lực ở nước ta phát triển mạnh mẽ, con người ngày càng trở thành những nhân tố đắc lực cho các ngành nghề mang tính chất kinh tế tri thức như nổi lên một số ngành có bước phát triển về chất ở nước ta như: bưu chính – viễn thông, dầu khí, hàng không, ngân hàng, điện tử tin học… cùng với sự ra đời của khu chế xuất, khu công nghiệp đã thu hút hàng vạn lao động Thực tiễn này cho thấy nhân tố mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang phát huy tác dụng đến một bộ phận con người Việt Nam, phát huy ảnh hưởng đến một bộ phận khác rất đáng kể để chúng ta nghiên cứu, tìm ra những vấn đề có tính quy luật trong việc phát triển tài nguyên con người cho phù hợp với yêu cầu mới
Con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đạt trình độ tương đối hiện đại, có bản lĩnh, phẩm chất năng lực đảm đương xuất sắc những sứ mệnh lịch sử ngày nay của mình, vừa kế thừa vừa phát huy những truyền thống vẻ vang của dân tộc của thế hệ đi trước Vừa đem hết sức trí tuệ và tài năng sáng tạo tạo nên những công trình kỳ diệu về kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội làm cho nền
Trang 26kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững, hội nhập cộng đồng quốc tế để có thể vươn lên “ sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ đã từng mong ước Như vậy nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó không phải là chủ thể biệt lập riêng lẽ, mà là chủ thể được tổ chức thành lực lượng thống nhất về tư tưởng hành động Đó là những chủ thể với những phẩm chất nhất định tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhưng cần phải hiểu rằng tập hợp những chủ thể này không phải là tập hợp đơn giản số lượng người mà là tổng hợp sức mạnh của chỉnh thể người trong hành động Sức mạnh này bắt nguồn trước hết là những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi chủ thể và nó được nhân lên gấp bội trong hoạt động thực tiễn Vì vậy khi nói nguồn lực là động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ yếu nói đến những phẩm chất tích cực của tổng hợp những chủ thể được bộc lộ
Chỉ có thể đánh giá vai trò của nguồn lực con người khi đặt nó trong mối quan
hệ với các nguồn lực khác
Thứ nhất, các nguồn lực khác như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên…tự nó thì
chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, tự nó không thể phát huy hết tác dụng mà chỉ có tác dụng thông qua hoạt động có ý thức của con người Bởi vì con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, mới có trí tuệ và ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp tác động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Còn các nguồn lực khác thì chịu sự cải tạo khai thác của con người mà thực sự là nó phải phục vụ nhu cầu lợi ích của con người Vì vậy người lao động là yếu tố quan trọng nhất cấu thành lực lượng sản xuất
Thứ hai các nguồn lực khác là có hạn sẽ bị cạn kiệt dần trong quá trình khai
thác Trong khi đó nguồn lực con người mà cốt lỗi là trí tuệ là nguồn lực vô tận Tính vô tận của trí tuệ con người biểu hiện ở chổ nó có khả năng không chỉ tái sinh
mà còn tự sản sinh về mặt sinh học và còn đổi mới không ngừng phát triển về chất trong con người Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận xét trên bình diện cộng đồng nhân loại, vì thế mà con người làm chủ được tự nhiên, tìm tòi khám phá ra tài nguyên mới
và còn sáng tạo ra những tài nguyên không có trong tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống
Trang 27Thứ ba trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể
hóa trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự phát triển như vũ bảo của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại đang đưa các nền kinh tế của các nước công nghệ phát triển vận động đến nền kinh tri thức Ở những nước này lực lượng sản xuất trí tuệ ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng cao Nguồn lợi mà họ thu được từ lao động chất xám chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị tài sản quốc gia Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đạt đến mức nhờ có cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, con người có thể tạo ra những máy móc bắt chước hay phỏng theo những đặc tính trí tuệ của chính con người
Thứ tư kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của nước ta cho thấy sự thành
công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như tổ chức thực hiện nghĩa là phụ thuộc vào nhận thức
và năng lực hoạt động của con người
Như vậy việc thực hiện và hoàn thành tốt công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa có ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng hoàn thiện nhiều mặt nó làm thay đổi căn bản công nghệ, kỹ thuật sản xuất, tăng năng suất lao động Chính vì vậy có thể nói công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là thực hiện xã hội hóa nhiều mặt, góp phần
ổn định ngày càng nâng cao đời sống vật chất văn hóa tinh thần của con người, quân tâm đầy đủ đến sự phát triển toàn diện nhân tố con người
1.4.2 Mục tiêu con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay
Lấy mục tiêu “ Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh giữ vững, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” Đó là cuộc cách mạng vì con người và cho con người Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội Bởi vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
sự nghiệp cách mạng của quần chúng mà trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý và công nhân lành nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng có trình độ cao Muốn đạt được đều đó
Trang 28chúng ta phải coi con người và đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, giáo dục và đào tạo phải được coi là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển, phải có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, Đảng cũng đã khẳng định “ con
người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” Chính vì vậy mà suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam đạt được nhiều thắng lợi là nhờ Đảng ta luôn quán triệt theo tinh thần đó Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng
ta đã chỉ rõ : “ Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi công dân kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Chiến lược đó có ý nghĩa là thể hiện tư tưởng
vì con người của mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải
xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, phải phát triển con người Việt Nam toàn diện để lấy đó làm động lực xây dựng xã hội ta thành một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Để bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người thì nhất thiết phải từng bước hiện đại hóa đời sống xã hội Tăng trưởng và phát triển phải gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc chỉ có trên cơ sở đó khi phát triển nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường chúng ta mới có thể tránh được những nguy cơ tha hóa, không xa rời những giá trị truyền thống, không đánh mất bản sắc dân tộc mà là tự mình hoàn thiện mình
Như vậy công cuộc đổi mới ở nước ta luôn đặt ra việc giải quyết vấn đề con
người, lấy con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới Tính chất và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới xã hội phụ thuộc vào tính chất và hiệu quả của việc giải quyết vấn đề con người Vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực, giải quyết các vấn đề xã hội bao giờ cũng là vấn đề cơ bản và có tính chiến lược cần phải được tiến hành nghiêm túc tránh chủ quan duy ý chí Cho nên với tình hình
Trang 29hiện nay đòi hỏi việc khai thác có hiệu quả nhân tố con người thì cũng phải chú ý đến việc chăm sóc bồi dưỡng những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Điều này cho thấy nhân tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, mà đối với nước ta là một nước nghèo đang phát triển trở thành một nước công nghiệp trong tương lai, trong tình hình hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy việc phát huy nhân tố con người có ý nghĩa chiến lược nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TRÀ VINH.
2.1 Một số nét khái quát về tỉnh Trà Vinh:
2.1.1 Về vị trí địa lý
Trà Vinh là một tỉnh duyên hải đồng bằng sông Cửu Long, ở tọa độ địa lý 105
vĩ độ Bắc với độ cao trên dưới 1m so với mặt nước biển, nằm ở đồng bằng ven biển giữa hạ lưu sông Tiền và sông Hậu tiếp giáp với biển Đông, phía Bắc giáp Bến Tre, phía Tây và Tây Bắc giáp Vĩnh Long và Cần Thơ, phía Tây Nam giáp Sóc Trăng, phía Đông giáp biển Đông Có địa hình bằng phẳng do phù sa các sông bồi đắp từ thời xa xưa
Trước đây Trà Vinh thuộc tỉnh Cửu Long ( cũ ), tỉnh được chính thức tái thành lập đầu năm 1992 cho đến ngày nay Với diện tích 2.369 km chiếm 5,63 % diện tích đồng bằng sông Cửu Long và 0,67 % diện tích cả nước với tổng dân số 1.041002, tỉnh Trà Vinh được chia thành 8 đơn vị hành chính cấp huyện và một thị xã là: Huyện Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Tiểu Cần, Trà Cú, Duyên Hải, Châu Thành
và thị xã Trà Vinh là trung tâm tỉnh lỵ nằm trên quốc lộ 53 Cách Thành Phố Hồ Chí Minh 200 km và cách Thành Phố Cần Thơ 100 km
Trong tổng số dân hơn một triệu người đa phần chủ yếu là người Việt, xấp xỉ
30 % người dân tộc Khmer và khỏang 2 % còn lại là người Hoa Từ thời xưa cộng đồng các dân tộc người sinh sống trên đất Trà Vinh vốn có truyền thống gắn bó keo sơn không ngại khó khăn gian khổ Đây chính là cơ sở là tiền đề hình thành sức mạnh vật chất lẫn tinh thần để con người Trà Vinh đủ sức chiến đấu và chiến thắng
kẻ thù cũng như hình thành lưu giữ, kế thừa những giá trị văn hóa độc đáo, góp phần làm đa dạng phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất Chính vì vậy
có thể nói đoàn kết – chiến đấu – xậy dựng là cái trục xuyên suốt chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử tỉnh Trà Vinh
Trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo nhân dân Trà Vinh
ra sức xây dựng cuộc sống mới, xây dựng quê hương đất nước theo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh Tuy là một tỉnh về điều kiện tự nhiên cũng như xã hội chưa được thuận lợi lắm và nền kinh tế còn ở mức xuất phát
Trang 31thấp nhưng bằng sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân dân Trà Vinh đã không ngừng
nổ lực tạo ra nhiều thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng … để từ đó đưa nền kinh tế tỉnh nhà phát triển cùng với các tỉnh trong khu vực cũng như cả nước
Trong những năm gần đây hòa cùng với xu thế toàn cầu hóa, Đảng bộ và nhân dân Trà Vinh đang phấn đấu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà theo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh Một trong những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Trà Vinh đã đạt được đó
là đến ngày 30/4/2010 Trà Vinh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Tỉnh
2.1.2 Về tài nguyên thiên nhiên
- Đất đai: màu mỡ, là một dãy đồng bằng ven biển bao gồm vùng châu thổ được hình thành lâu đời từ những vùng đất trẻ mới bồi Độ cao trung bình từ 2- 3 m so với mực nước biển với mạng lưới sông ngòi dày đặc cung cấp nước và phù sa bồi đắp rất tốt cho nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp dùng để gieo trồng là: 274.056 ha chủ yếu là trồng lúa, cây ăn quả, dừa, mía, bắp
- Khí hậu, thời tiết: Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nóng ẩm quanh năm, ít bị ảnh hưởng bởi bão lũ Vì vậy có thể nói Trà Vinh là một trong số ít tỉnh của Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và du lịch quanh năm Khí hậu chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng tư năm sau, nhiệt độ trung bình năm
- Khoáng sản: tài nguyên khóang sản chủ yếu là đất sét nung gạch ngói với trữ
nguồn nguyên liệu cho sản xuất vật liệu nhẹ… Tuy nhiên hiện nay tỉnh chưa có nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng
- Tài nguyên rừng: Rừng và đất rừng ở Trà Vinh có diện tích 24.000 ha, tập trung
ở huyện Duyên Hải, Cầu Ngang và Trà Cú Diện tích đất có rừng là 13.080 ha và không có rừng là 10.884 ha Trước kia rừng dày đặc có nhiều lâm sản quý không chỉ đáp ứng cho địa phương mà còn xuất sang các vùng lân cận Tuy nhiên do khai thác quá mức nên hiện nay rừng đã bị giảm sút về mặt diện tích khá lớn
- Thủy sản: khá phong phú và đa dạng gồm có: thực vật phù du có 73 loài, đa phần
là tảo có nguồn góc nước mặn, động vật phù du có 48 loài Ngoài ra còn có: cua,
Trang 32nghêu, tôm….trong đó bãi tôm ở cửa Định An có diện tích khỏang 20.000 ha là một trong năm bãi tôm lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long với sản lượng 4.300 – 11.000 tấn/năm Tôm càng đứng sau tôm biển về giá trị kinh tế, trong đó có tôm càng xanh, tôm trứng, tép, tôm sông Có thể khai thác mỗi năm 2.000 – 3.000 tấn mực, 35- 49 tấn sò huyết/ năm, trữ lượng nghêu khỏang 168- 210 tấn Đánh bắt nuôi trồng thủy sản là thế mạnh của vùng sau cây lúa
- Tiềm nămg về du lịch: Trà vinh gồm có ba cộng đồng dân tộc Kinh- Khmer – Hoa sinh sống chính vì vậy mà nó đã tạo nên một nền văn hóa đa dạng phong phú, hơn nữa đây lại là vùng đất cây cối thì xanh tươi, phong cảnh thì hữu tình Trãi qua quá trình sinh sống lâu đời thì các dân tộc anh em đã cùng nhau tạo dựng nên những công trình kiến trúc độc đáo thu hút nhiều khách tham quan từ khắp nơi Bên cạnh
đó còn có các di tích thắng cảnh như là: Ao Bà Om, biển Ba Động, đền thờ Bác Hồ, chùa chiền… Đây là những tiềm năng du lịch cần được đầu tư ngày càng hơn nữa góp phần phát triển ngành du lịch trong tỉnh
2.1.3 Về cơ sở hạ tầng
Nhìn chung về cơ sở hạ tầng của tỉnh vẫn còn trong giai đoạn đang phát triển nên có nhiều mặt còn hạn chế, tuy nhiên do tỉnh nằm trong vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai nên nó cũng đáp ứng một phần nào bước đầu về cơ sở vật chất kỹ thuật cho tỉnh nhà
* Về giao thông:
- Giao thông đường bộ: Toàn tỉnh hiện có ba quốc lộ chính là 53, 54, 60 hiện nay đã được nâng cấp và ngày càng hoàn thiện hơn nữa tạo điều kiện cho giao thông giữa các vùng được thuận lợi hơn Từ thành phố Hồ Chí Minh đến Trà Vinh
có hai tuyến chính: một tuyến từ thành phố Hồ Chí Minh qua Vĩnh Long rồi đến Trà Vinh, một tuyến đi từ thành phố Hồ Chí Minh qua Bến Tre rồi đến Trà Vinh thì đoạn đường được rút ngắn hơn Năm 2010 xây dựng phà Đại Ngãi đây là tuyến huyết mạch nối liền Trà Vinh với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ rất thuận lợi cho đầu tư, thương mại du lịch và xuất khẩu
- Giao thông đường thuỷ: Trà Vinh có bờ biển dài trên 65 km, được bao bọc bởi hai nhánh của sông MêKông là sông Tiền và sông Hậu với hai cửa Định An và Cung Hầu nên rất thuận lợi để phát triển giao thông đường thủy Từ Trà Vinh đi Bến