1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT HUY NGUỒN NHÂN lực nữ ở TỈNH LONG AN HIỆN NAY

61 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 607,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Những hạn chế trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An trong thời gian qua ...29CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở LONG AN HIỆN NAY ...39 3.1

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 4

Lý do chọn đề tài 5

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5

Phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5

Kết cấu của luận văn 5

B NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và những nhân tố tác động đến việc phát huy nguồn nhân lực nữ 6

1.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ 6

1.1.2 Những nhân tố tác động đến việc phát huy nguồn nhân lực nữ 8

1.2 Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ và yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay 12

1.2.1Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay 12

1.2.2 Yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở LONG AN TRONG THỜI GIAN QUA 23

2.1 Những thành tựu trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An trong thời gian qua 23

Trang 3

2.2 Những hạn chế trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An trong thời gian qua 29

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở LONG AN HIỆN NAY 39

3.1 Đẩy nhanh phát triển kinh tế; đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực nữ ở Long

An hiện nay 39 3.2 Đổi mới chính sách sử dụng lao động nữ; giải quyết tốt việc làm phù hợp đặc điểm lao động nữ Long An hiện nay 403.3 Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, tăng cường chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ tạo điều kiện phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An hiện nay 453.4 Nâng cao tính tích cực xã hội của phụ nữ, xác lập đồng bộ cơ chế thực hiện bình đẳng giới nhằm phát huy quyền làm chủ của phụ nữ ở Long An hiện nay 52

C KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xu thế chung của thế giới hiện nay là chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế tri thức Vì vậy, vấn đề nguồn nhân lực ngày càng giữ vị trí trung tâm đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Con người đang được coi là động lực đồng thời là mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát triển của các quốc gia

Phụ nữ là người đảm nhiệm vai trò kép : vừa là lực lượng lao động cơ bản của

xã hội, vừa có trách nhiệm trực tiếp tái sản xuất ra con người Quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ nói chung, khai thác và bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ nói riêng không chỉ là vấn đề nhân đạo của một quốc gia, một xã hội mà còn là đòi hỏi thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội

Trong chiến lược chung về phát triển nguồn nhân lực, xuất phát từ những nhu cầu khách quan và quan điểm Mácxít về vai trò của phụ nữ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi phụ nữ là động lực quan trọng của cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước

đã có nhiều biện pháp và chính sách sử dụng nguồn nhân lực nữ và đã huy động được sức mạnh to lớn của phụ nữ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Định hướng chiến lược của Việt Nam hiện nay là đổi mới và phát triển Những cơ hội và thử thách đặt ra đã và đang đòi hỏi hơn bao giờ hết mọi tiềm năng quốc gia phải được khai thác hợp lý, trong đó có nguồn nhân lực nữ

So với cả nước, Long An là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng cao với mức tăng GDP bình quân trên 12%/năm Đóng góp cho sự phát triển chung của Long An không thể không kể đến vai trò quan trọng của phụ nữ - chiếm 52,9% dân số và 49,9% lực lượng lao động toàn tỉnh (17, tr.3) Chủ trương phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN đã tạo cơ hội cho sự phát triển của phụ nữ, song cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho phụ nữ trong việc tiếp cận với các cơ hội về việc làm, giáo dục - đào tạo, trong hưởng thụ các thành quả của sự phát triển Trong khi đó,

sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở Long An đang yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực nữ về trình độ chuyên môn, thể lực, kỹ năng lao động

Trang 5

Vấn đề đặt ra là phải biết khai thác và phát huy tiềm năng của nguồn nhân lực

nữ tạo động lực cho sự phát triển của Long An Do đó, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng phát huy nguồn nhân lực nữ, tìm giải pháp để phát huy nguồn lực này là vấn đề

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết Vì thế, tôi chọn vấn đề “Phát huy nguồn nhân lực nữ ở tỉnh Long An hiện nay” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích: Trên cơ sở phân tích thực trạng phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long

An và đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An hiện nay

Để đạt mục đích đó, luận văn phải thực hiện nhiệm vụ sau:

Một là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực nữ, những nhân

tố tác động đến việc phát huy nguồn nhân lực nữ

Hai là làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nữ ở Long An trong thời gian qua.

Ba là đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn nhân lực nữ ở

Long An hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Long An

- Về thời gian: đề tài bao quát nghiên cứu từ năm 2006 đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người, quan điểm về vai trò của phụ nữ và giải phóng phụ nữ

Phương pháp thực hiện đề tài là các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong phân tích những vấn đề thực tiễn xã hội, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc, phân tích - tổng hợp, trừu tượng - cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập xử lý thông tin và áp dụng cách tiếp cận nghiên cứu bình đẳng giới

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 6

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY

NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và những nhân tố tác động đến việc phát huy nguồn nhân lực nữ

1.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ

Nếu con người là nguồn lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế-

xã hội thì phụ nữ là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn lực ấy

Hiểu theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực nữ bao gồm tổng hoà các tiêu chí của bộ phận dân số nữ đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ phụ nữ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội Nói cách khác, nguồn nhân lực nữ được hiểu không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Nguồn nhân lực nữ - theo nghĩa hẹp - với tư cách là lực lượng lao động của xã hội, bao gồm nhóm phụ nữ đến tuổi lao động trở lên có khả năng lao động Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong khoảng nhỏ hơn của độ tuổi lao động nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân

số nữ thường xuyên cao hơn thường chiếm trên 51% dân số, song lực lượng lao động

nữ lại thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn khoảng 49% lao động xã hội (20,tr.8)

Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:

Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ chỉ mang tính chất tương đối, phụ

thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Còn với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao động xã hội, vừa là người trực tiếp tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào Vì thế, nguồn nhân lực nữ phải được đề cập đến theo nghĩa rộng, có nghĩa là các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực hướng tới khả năng lao động của các thế hệ phụ nữ

Thứ hai, nghiên cứu về phụ nữ và nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương

Trang 7

pháp tiếp cận đúng đắn Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là xem xét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới nữ) Đó là quan điểm tiếp cận về giới Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quy định

Là con người, nam giới và phụ nữ giống nhau - đều vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội - nhưng họ có khác biệt về mặt tự nhiên - sinh học của cơ thể Những đặc điểm sinh học về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được Từ những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ đảm nhiệm chức năng xã hội khác

nam giới, đó là chức năng trực tiếp tái sản xuất ra con người Từ đó nảy sinh những

khó khăn, thuận lợi khác nhau giữa giới nam và giới nữ trong học tập, làm việc, sinh sống Phụ nữ thường gắn với con cái và gia đình Họ có những nhu cầu cấp thiết hơn nam giới về những dịch vụ y tế, dịch vụ gia đình, về điều kiện làm việc gần gia đình

Sự phân biệt về giới tính giữa nam và nữ có tính tự nhiên, bẩm sinh không tất yếu dẫn tới sự phân biệt về giới có tính xã hội Tuy nhiên, từ trong lịch sử kéo dài đến ngày nay đã tồn tại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống xã hội và gia đình Phụ nữ thường được coi là người hiển nhiên phải chịu trách nhiệm và thích hợp với việc chăm sóc con cái, gia đình Những công việc này thường ít được nhìn nhận ở góc

độ kinh tế Sự đánh giá thấp của xã hội về khả năng, giá trị của lao động nữ trong lao động sản xuất đã giam hãm người phụ nữ ở địa vị thấp kém trong xã hội và gia đình với tất cả những bất công và thiệt thòi

Tóm lại, việc nghiên cứu về người phụ nữ nói chung và nguồn nhân lực nữ nói

riêng không thể tách rời việc nghiên cứu về giới tính và giới, về sự bình đẳng giới và hậu quả đem lại cho sự phát triển chung khi lực lượng phụ nữ bị kìm hãm, không phát huy được đầy đủ những tiềm năng cho việc cải tạo thiên nhiên, xã hội Vấn đề đặt ra trước hết đối với việc phát huy nguồn nhân lực nữ là phải xác định được những nhân

tố cơ bản tác động đến nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển

1.1.2 Những nhân tố tác động đến việc phát huy nguồn nhân lực nữ

Việc phát huy nguồn nhân lực nữ thực chất là quá trình một mặt dựa vào năng lực chủ quan của con người, một mặt dựa vào những nhân tố khách quan tác động tới sự tồn tại và phát triển của con người Có thể thấy những nhân tố cơ bản sau đây thường xuyên tác động đến việc phát huy nguồn nhân nữ:

Trang 8

Thứ nhất, nhân tố tự nhiên - sinh học có tác động rất lớn đến thể lực và trí lực của nguồn nhân lực nữ Do cấu tạo cơ thể của phụ nữ khác với nam giới phụ nữ

thường thấp, bé, nhẹ cân hơn và do đặc điểm sinh lý của phụ nữ cũng khác nam giới phụ nữ phải sinh con và nuôi con nên nhìn chung sức khoẻ của phụ nữ thường yếu hơn

so với nam giới Phụ nữ gắn liền với việc sinh con duy trì sự tồn tại và phát triển của nhân loại Việc sinh con vì thế là hiện tượng xã hội, nhưng trước hết cũng là hiện tượng tự nhiên, sinh học Song, chức năng sinh học đó được thực hiện trong mối liên

hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của nhiều nhân tố như gia đình, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục, môi trường cộng đồng Không quan tâm đúng mức đến các nhân

tố tự nhiên - sinh học của phụ nữ sẽ không chỉ mất mát hiện tại về năng suất, hiệu quả lao động, tác động tiêu cực đến việc phát triển trí lực của phụ nữ mà còn là những cái giá phải trả trong một vài thế hệ tương lai của dân tộc xét về mặt giống nòi và phát triển bền vững đất nước Phát huy nguồn nhân lực nữ vì thế cần thấy được những đặc điểm riêng về mặt tự nhiên - sinh học của phụ nữ để có những giải pháp và chính sách

xã hội hợp lý

Thứ hai là nhân tố giáo dục - đào tạo Do vai trò quan trọng trong sự hình

thành và phát triển trí tuệ và nhân cách của con người nên nhân tố này đang được coi

là phương thức phát triển nhanh chất lượng nguồn nhân lực Các quốc gia hiện nay đều coi đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người Đối với nguồn nhân lực nữ, sự tác động của giáo dục - đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì không chỉ liên quan đến 1/2 nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai của lực lượng lao động Điều này xuất phát từ mối liên hệ giữa học vấn của phụ nữ với sự phát triển của xã hội theo tác động dây chuyền giữa trẻ em gái - người mẹ - thế hệ tương lai Các nghiên cứu cho thấy việc học tập của phụ nữ mang lại những lợi ích đặc biệt quan trọng cho gia đình và xã hội

“Giáo dục cho các em gái có sức tác động mạnh mẽ đối với mọi khía cạnh của sự phát triển - từ việc hạ tỉ lệ sinh đến việc tăng năng suất lao động và quản lý sử dụng môi trường” (20, tr.43) Theo khảo sát của Ngân hàng thế giới năm 2010: Số lần khám thai của phụ nữ tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, tỉ lệ trẻ sơ sinh chết ở các bà mẹ có học vấn bậc trung học cơ sở giảm hơn 75% so với các bà mẹ không đi học, học vấn của người mẹ cũng góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng qua cách chăm sóc và khả

Trang 9

năng quản lý của các bà mẹ Những nghiên cứu về sức khoẻ ở Việt Nam cũng cho thấy người mẹ có học vấn càng cao thì sinh ít con hơn Quan trọng hơn, học vấn của mẹ còn có tác động trực tiếp đến việc học của con Con của người mẹ có học vấn cao hơn

có nhiều cơ hội được đến trường hơn với tỉ lệ cứ ba năm học cao hơn của mẹ tạo ra 10% khả năng đi học cao hơn cho con Mối liên hệ giữa khả năng đi học của con với học vấn của cha cũng có xu hướng tương tự nhưng thấp hơn.(24)

Việc nâng cao địa vị phụ nữ và tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững đất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự kiên trì thực hiện quốc sách giáo dục và đào tạo Giảm khoảng cách về giới trong giáo dục - đào tạo sẽ thúc đẩy sự phát triển toàn diện nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài

Thứ ba, việc sử dụng lao động là một nhân tố rất quan trọng để phát huy tiềm năng tri thức và kỹ năng của người lao động Sử dụng đúng ngành nghề và trình độ thì

người lao động sẽ phát huy được tài năng trí tuệ, tay nghề và ra sức phấn đấu vươn lên

về mọi mặt Sử dụng lao động hợp lý sẽ tạo ra môi trường phù hợp cho người lao động phát triển nhanh chóng Ngược lại, nếu sử dụng lao động không hợp lý sẽ làm cho người lao động bị hạn chế thậm chí thui chột khả năng lao động của mình

Sử dụng lao động nữ hợp lý không chỉ đơn thuần dựa vào kỹ năng, trình độ chuyên môn nhằm đạt hiệu quả kinh tế trước mắt mà còn phải đảm bảo được sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và sự bình đẳng giới Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc sử dụng lao động nữ sao cho hợp lý và hiệu quả là một trong những vấn

đề rất phức tạp Có ý kiến cho rằng, đã là nền kinh tế thị trường thì hãy để cho thị trường lao động quyết định việc lựa chọn và sử dụng các loại lao động Không ít ý kiến đã đặt niềm tin vào sự chi phối của cơ chế thị trường trong việc tự động đem lại

sự công bằng xã hội và bình đẳng nam - nữ Theo chúng tôi, đó là một sự công bằng máy móc, lạnh lùng, vì trên thực tế bên cạnh chức năng là người lao động như nam giới thì phụ nữ còn đảm nhận chức năng sinh con “Khi thực hiện chức năng này người lao động nữ chẳng những phải tiêu hao sức vóc, một phần khả năng lao động mà còn mất hàng thập kỷ về thời gian lao động, hơn thế nữa lại là thời gian vàng ngọc, trẻ khoẻ, sung sức nhất” (23,tr.8)

Vì vậy, sử dụng lao động nữ phải chú ý đến đặc điểm của phụ nữ, vừa có chức năng lao động như nam giới, vừa có chức năng tái sản xuất dân số và nguồn lao động,

Trang 10

phải tính đến tiêu hao sức lực và thời gian của phụ nữ trong việc thực hiện chức năng thứ hai một cách hợp lý để phụ nữ có điểm xuất phát ngang bằng về mặt sức lao động với nam giới trong nền kinh tế thị trường.

Thứ tư, chính sách xã hội là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến việc phát huy nhân tố con người, phát huy nguồn nhân lực Chính sách xã hội là một

công cụ quan trọng của quản lý nhà nước nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan

hệ của con người xoay quanh mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Chính sách

xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của con người là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng của con người, tạo điều kiện thuận lợi để con người lao động phát huy năng lực sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội Ngược lại, nếu

hệ thống chính sách không phù hợp, thiếu đồng bộ thì nó sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy sáng tạo của mỗi con người Như vậy, trong đời sống xã hội, việc tạo động lực hoạt động cho người lao động thực chất là thiết lập được môi trường pháp

lý thuận lợi cũng như những điều kiện thích hợp để con người có thể phát huy tối đa tính tích cực và khả năng sáng tạo của mình Do những đặc điểm về giới tính và giới nên phụ nữ thường chịu những thiệt thòi hơn so với nam giới Vì vậy, chính sách xã hội đối với phụ nữ phải phản ánh được lợi ích và nguyện vọng của nữ giới Chính sách

xã hội phù hợp với phụ nữ khi nó tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển năng lực của mình trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới

Thứ năm, nhân tố truyền thống văn hoá dân tộc có tác động rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực - nhất là về mặt tinh thần Các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

là nhân tố quan trọng, là môi trường lành mạnh để hình thành và phát triển nguồn lực con người Một dân tộc, một quốc gia có truyền thống tốt, những tập quán lành mạnh, có nền văn hoá phát triển cao thì đó chính là cơ sở điều kiện tốt để xây dựng một nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, vừa có thái độ, tinh thần, tác phong làm việc tốt Ngược lại, nếu một dân tộc, một quốc gia có những phong tục, tập quán lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự vươn lên của chính quốc gia, dân tộc đó Mặt khác, những đặc trưng văn hoá - xã hội của một dân tộc còn là cơ sở cho việc sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả cao.“Yếu tố văn hoá và truyền thống dân tộc như tinh thần lao động, tính kỷ luật cao, tinh thần học tập và niềm tự hào dân tộc đã đưa Hàn Quốc vươn lên vị trí xứng đáng trong

Trang 11

chưa đầy 1/2 thế kỷ qua (15, tr.125)

Chúng ta thường hay nhắc tới truyền thống yêu nước, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động và những phẩm chất trung hậu, đảm đang, kiên cường của phụ nữ Việt Nam Những truyền thống quý báu và phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam chính là sức mạnh, là điểm tựa tinh thần để phụ nữ vươn lên đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước Liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực nữ hiện nay, bên cạnh việc phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống dân tộc đề cao vai trò của phụ nữ, quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ, thì phải loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, lối tư duy theo kiểu “trọng nam, khinh nữ” để tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của phụ nữ vì mục tiêu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội

Thứ sáu, gia đình là nhân tố liên quan mật thiết và tác động thường xuyên đến việc phát huy nguồn nhân lực nữ

Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt…; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội là do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình (13, tr.44 )

Có thể khẳng định rằng gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên có khả năng nhất trong việc chăm lo cho sự phát triển của mỗi con người trên cả ba phương diện: thể chất, trí tuệ và tình cảm tâm lý Sự tác động của gia đình được diễn ra ngay từ khi đứa trẻ còn trong bào thai đến khi ra đời và sự tác động này tồn tại trong suốt quá trình sinh trưởng

Do chức năng sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái mà phụ nữ luôn luôn gắn liền với gia đình Đề cập đến sự tác động của gia đình đến nguồn nhân lực nữ cần phải hiểu đây là sự tác động hai chiều Gia đình là nơi phụ nữ thực hiện chức năng tái sản xuất

ra con người, nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đồng thời là nơi phụ nữ tiếp nhận những nguồn lực cho sự phát triển của chính mình Không thể nói đến phát huy vai trò phụ nữ chỉ căn cứ vào sự tham gia hoạt động xã hội mà coi nhẹ vai trò to lớn của họ trong gia đình Cũng như không thể chỉ đề cao vai trò của phụ nữ trong gia đình

mà quên đi trách nhiệm của gia đình trong việc chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ

Trang 12

Khi gia đình tái sản xuất ra nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao cũng chính là điều kiện cơ bản để gia đình thực hiện tốt chức năng của mình Do vậy, phụ nữ được tạo các điều kiện phát triển toàn diện ngay từ trong gia đình thì chính gia đình cũng sẽ có những biến đổi tích cực

Tóm lại, việc phát huy nguồn nhân lực nữ chủ yếu chịu sự tác động của các

nhân tố trên Mỗi một nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn nhân lực nữ Tuy nhiên, do các đặc điểm về giới tính và giới nên phụ nữ thường phải chịu những tác động tiêu cực nhiều hơn nam giới Vì thế khi xem xét, đánh giá, xây dựng chiến lược phát triển, phát huy nguồn nhân lực nữ cần phải phân tích đầy đủ và sử dụng tổng hợp tất cả các nhân tố này

1.2 Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ và yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay

1.2.1Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay

Là bộ phận cơ bản của nguồn lực con người, nguồn nhân lực nữ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia Vấn đề phát huy nguồn nhân lực nữ đã được Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng ngay từ ngày đầu mới thành lập Một trong những luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh là phụ nữ được nhìn nhận như một lực lượng cơ bản của cách mạng và nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào các cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được Phụ nữ còn được coi là nguồn lực to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải làm gì ? Nhất định phải tăng gia sản xuất thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn có nhiều sức lao động phải giải phóng sức lao động của phụ nữ" (7, tr.33)

Xuất phát từ vai trò to lớn của phụ nữ, Hồ Chí Minh xác định một cách nhất quán rằng giải phóng phụ nữ là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.''…Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa " (7, tr.167)

Có thể khẳng định rằng: xuất phát từ nhu cầu khách quan về các nguồn lực, trước hết là nguồn lực con người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn coi phụ nữ là

Trang 13

động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội Để phát huy nguồn lực phụ

nữ, các chính sách của Đảng và Nhà nước đã có một cách nhìn nhận tương đối toàn diện về các vai trò khác nhau mà người phụ nữ gánh vác trong gia đình và ngoài xã hội Nhờ kiên trì quan điểm phát huy nguồn lực phụ nữ mà Đảng ta đã động viên được các tầng lớp phụ nữ tham gia vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Vai trò và địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam được nâng cao qua từng giai đoạn phát triển Điều này chứng tỏ rằng một trình độ mới về tiến bộ xã hội thể hiện ở mức độ bình đẳng giới có thể được tạo lập ngay trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển

Ngày nay, phát huy nguồn nhân lực nữ càng có ý nghĩa quyết định đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, phụ nữ là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với việc tái sản xuất con người Phát huy nguồn nhân lực nữ sẽ tác động trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người

Xã hội tồn tại và phát triển dựa trên hai cơ sở quan trọng: sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần và tái sản xuất ra bản thân con người Hai mặt này của sản xuất xã hội

có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau trong sự thống nhất biện chứng Sản xuất vật chất, tinh thần là cơ sở của tái sản xuất con người Ngược lại, tái sản xuất con người lại là tiền đề của sản xuất vật chất, tinh thần Vai trò hay ảnh hưởng của phụ nữ đối với xã hội được xét trên hai phương diện chủ yếu: thứ nhất, phụ nữ tác động đến

sự phát triển của xã hội thông qua các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần của họ; thứ hai, phụ nữ tác động đến xã hội thông qua việc thực hiện chức năng trực tiếp tái sản xuất ra bản thân con người Chiếm phần nửa trong lực lượng lao động xã hội, nên đương nhiên phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tôi muốn bàn thêm về vai trò của phụ nữ trong việc tái sản xuất ra con người đối với

sự phát triển của xã hội

Khái niệm tái sản xuất ra con người bao gồm hai nội dung cơ bản, đó là tái sản xuất về mặt thể chất và tái sản xuất về mặt tinh thần Cho dù khoa học kỹ thuật phát triển đang mở ra khả năng có thể tiến hành việc sinh sản ra con người một cách nhân tạo thì sự tái sản xuất con người vẫn phải được thực hiện thông qua người phụ nữ Xét

cả trên phương diện sinh học và phương diện xã hội, người phụ nữ vẫn giữ vai trò

Trang 14

không thể thay thế được Bởi tái sản xuất ra con người không đơn thuần chỉ là tạo ra một con người sinh học mà điều quan trọng và chủ yếu hơn là sự giáo dục, nuôi dưỡng

để hình thành và phát triển một con người xã hội, trở thành những công dân hữu ích cho xã hội Đối với mỗi con người điều đó lại được bắt đầu chủ yếu và trước hết bởi người mẹ, không một công nghệ, kỹ thuật thuần tuý nào có thể thay thế được

Sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay không chỉ chú ý đến vấn đề số lượng dân

số - như một lực lượng lao động chủ yếu, mà điều quan trọng hơn là nâng cao chất lượng dân số như là mục tiêu của sự phát triển xã hội Con người là nhân tố hàng đầu, quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngay cả khi khoa học công nghệ, kỹ thuật phát triển như hiện nay, nhân tố con người lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã đặt con người vào quá trình lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi một năng lực sáng tạo, một trình độ kỹ thuật cao và ý thức trách nhiệm rất lớn Có như vậy, lực lượng vật chất to lớn, đồ sộ của xã hội mới được sử dụng một cách tốt nhất, hiệu quả nhất và đồng thời chính con người lại đạt đến một bước phát triển mới, tăng thêm sức mạnh chinh phục thiên nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Điều đó càng cho thấy, chức năng tái sản sinh ra con người ở người phụ nữ là nhu cầu tự nhiên tất yếu đối với gia đình và xã hội, và ngay từ đầu đã mang tính người, tính xã hội Đây là chức năng đặc biệt dành cho phụ nữ, trải qua các thời đại, chức năng này ngày càng có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội "Chất lượng của tái sản xuất xã hội được thực hiện thông qua người phụ nữ là yếu

tố chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực và hơn nữa là nguồn đầu tư đặc biệt dài hạn" (20, tr.26)

Thứ hai, phụ nữ là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế- xã hội Phát huy nguồn nhân lực nữ sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế

và tăng cường tiến bộ xã hội.

Khi nói tới khả năng lao động sáng tạo của con người C.Mác đã cho rằng cái gọi là lịch sử toàn thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo của con người thông qua lao động C.Mác đã tổng kết : "Con người không chỉ làm biến đổi hình thái những cái tự nhiên cung cấp…con người cũng đồng thời thực hiện các mục đích tự giác của mình, mục đích ấy quyết định phương thức hành động của họ, giống như một quy luật và bắt ý chí của họ

Trang 15

phải phục tùng nó" (11,tr.321).

Như vậy, trong tiến trình phát triển của nhân loại, con người không chỉ là yếu tố hàng đầu, năng động quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất mà còn là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội Sự sáng tạo của con người được thể hiện không chỉ ở mặt sáng tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra đời sống tinh thần và sáng tạo ra chính bản thân con người Nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng cao đã thúc đẩy con người sáng tạo không ngừng để thoả mãn nhu cầu của chính mình Chính trong quá trình đó, con người sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra chính bản thân mình, đưa xã hội loài người phát triển từ hình thái kinh tế -

xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác

Con người vừa là sản phẩm lịch sử vừa là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch

sử Xã hội dưới mọi hình thức đều chỉ là quan hệ giữa người với người, giữa nam và

nữ Người phụ nữ trước hết là sản phẩm lịch sử và cũng là chủ thể sáng tạo Sự ra đời của loài người gồm có nam và nữ, họ cùng xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người Nhưng ở phương Tây truyền tụng câu chuyện coi phụ nữ - Eva, là cái xương sườn của Adam do Chúa nặn ra, nữ là một bộ phận cơ thể của nam và phụ thuộc vào nam Ở phương Đông, người ta quan niệm rằng vũ trụ hợp nhất bởi âm và dương Con người cũng vậy, nam giới là khí dương - biểu tượng cho sức mạnh, quyền năng, thống trị còn nữ giới là khí âm với đặc trưng là sự mềm yếu, nương tựa, phụ thuộc Câu chuyện khởi thuỷ và những quan niệm ngây thơ đó được hậu thuẫn bởi sự áp bức, nô dịch phụ nữ về mặt kinh tế đã trở thành nguyên cớ làm nảy sinh những phong tục tập quán, thiên kiến xã hội đề cao nam giới, chỉ coi nam giới là chủ thể sáng tạo còn phụ

nữ chỉ là đối tượng bị sai khiến và phải phục tùng Từ đó đã hình thành và củng cố những quan niệm về địa vị thấp hèn của phụ nữ suốt bao thế kỷ, đòi hỏi ở người phụ

nữ chỉ có trách nhiệm và hy sinh Người ta sinh ra không phải là phụ nữ mà trở thành phụ nữ, do kết quả của những định kiến, những phân biệt đối xử trong lao động và hưởng thụ, trong học hành và nghỉ ngơi

Ngay cả khi vai trò hết sức to lớn, quan trọng, cần thiết của phụ nữ trong quá trình phát triển được thừa nhận thì địa vị chủ thể của phụ nữ trong phát triển kinh tế -

xã hội cũng chưa được nhận thức một cách toàn diện Điều đó thể hiện ở chỗ phụ nữ được coi là động lực và là lực lượng cần thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xã

Trang 16

hội, nhưng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khi được xác định lại thường ít tính đến nhu cầu của phụ nữ Các vấn đề của phụ nữ mới được nhắc tới, tính đến hay lồng ghép vào các chương trình, dự án phát triển Trên thực tế quan điểm này chưa đặt vấn

đề phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Điều này không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệu quả xã hội của các quá trình kinh tế Việc phát triển kinh tế - xã hội một cách lâu bền

vì thế khó có thể thực hiện một cách triệt để

Được coi là hợp lý trong việc đánh giá vai trò của phụ nữ hiện nay là quan điểm khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa phụ nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ thể của phụ nữ trong quá trình hoạch định, thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội hiện nay đang cho thấy rõ ràng là chỉ có thể nói tới phát triển với nghĩa sâu rộng nhất của từ này nếu phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và bình đẳng với nam giới (1, tr.93)

Nghiên cứu về vai trò chủ thể sáng tạo của phụ nữ không thể dừng lại ở việc nhấn mạnh ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn của việc phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội Ở một đất nước như Việt Nam khi mà hơn 70% phụ nữ trong độ tuổi lao động tham gia hoạt động kinh tế và lao động nữ chiếm gần 50% lực lượng lao động xã hội thì nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ lại càng không thể giới hạn ở việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của lao động nữ, vấn đề đặt ra là cần phân tích và phát hiện những cơ chế góp phần cải thiện công bằng xã hội nâng cao bình đẳng nam - nữ trong chính hoạt động kinh tế - xã hội của phụ nữ

Thứ ba, phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, giữ gìn và phát triển văn hoá dân tộc Phát huy nguồn nhân lực nữ sẽ góp phần khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển

Văn hoá tạo nên mặt cơ bản của chất lượng đời sống con người và trình độ phát triển xã hội Nhấn mạnh văn hoá trong quá trình phát triển chính là nhấn mạnh yếu tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục đích của sự nghiệp đổi mới đất nước Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống ấy, và vì thế, hai lĩnh vực đó luôn luôn giữ vị trí quan trọng và quyết

Trang 17

định đối với sự vận động và phát triển của xã hội Với vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá có khả năng to lớn trong việc khơi dậy, nhân lên mọi tiềm năng, phát triển sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định sự phát triển của CNH, HĐH Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà nguồn gốc của sự giàu có và phát triển toàn diện của một đất nước ngày càng phụ thuộc vào nguồn lực con người, tiềm năng và năng lực sáng tạo của con người.

Phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, truyền thụ, giữ gìn và phát triển văn hoá Điều này xuất phát từ vai trò trọng yếu của họ trong nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo tồn và phát triển giống nòi đất nước Phụ nữ là những người giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng những lời ru, những truyện cổ dân gian, những khúc đồng dao đến những tục lệ tốt đẹp Chính trong cuộc sống

đa dạng thường ngày, trong sản xuất, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, trong nuôi dạy con cái, người phụ nữ đã sáng tạo, truyền đạt, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam Họ đóng góp, làm giàu nền văn hoá đó cho dù họ không biết hay ít biết làm thơ, viết chuyện, họ bảo vệ nền văn hoá đó trước mọi mưu đồ đồng hoá của các

kẻ thù xâm lượt … Họ đã giữ gìn, xây dựng nhân cách con người Việt Nam qua tấm gương sống và làm việc của bản thân

Con người Việt Nam đến nay còn lưu giữ được những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp như tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo trong lao động, tình nghĩa chung thuỷ giữa vợ và chồng, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, lòng kính trọng biết ơn người già, sự tương trợ, đùm bọc nhau trong họ hàng làng xóm Ở đây có công lao to lớn của những người phụ nữ, người mẹ trong việc dạy dỗ con cái Họ còn đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng, củng

cố những quan hệ tốt đẹp giữa người với người, nhờ đó xã hội Việt Nam còn giữ được nếp sống có nghĩa, có tình, có trước, có sau, quan tâm giúp đỡ nhau lúc khó khăn hoạn nạn…

Tóm lại, phụ nữ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước Nhìn nhận

về vai trò của phụ nữ, nghị quyết 04/BCT (khoá VIII) đã khẳng định một quan điểm mới và khá toàn diện:'' Phụ nữ vừa là người lao động, vừa là người công dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Khả năng và điều kiện lao động, trình

độ văn hoá, vị trí xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu

Trang 18

xa đến sự phát triển của thế hệ tương lai"(3, tr.121) Việc phát huy nguồn lực phụ nữ vì thế, sẽ tạo ra động lực phát triển xã hội, thúc đẩy bước tiến của dân tộc cả về cơ sở vật chất và cuộc sống văn hoá tinh thần

Không chỉ đối với Việt Nam, việc phát huy nguồn nhân lực nữ để tạo động lực phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội đã và đang được đặt

ra trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia Vào đầu những năm 60 của thế kỷ

XX, người ta chủ yếu đề cập đến mô hình phát triển hướng vào tăng trưởng kinh tế và cho rằng tăng thu nhập quốc dân là biện pháp cần và đủ đối với sự phát triển của một đất nước Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng việc tập trung quá cao cho mục tiêu tăng trưởng đã khiến cho các mục tiêu xã hội, vốn gắn chặt với người phụ nữ như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục không được đầu tư phát triển một cách tương xứng với tầm quan trọng của nó Điều này ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn nhân lực và đến lượt nó lại có tác động tiêu cực trở lại đối với tăng trưởng kinh tế Sự phát triển kinh tế vì thế không thể duy trì tính bền vững như mong muốn Quan điểm mới về phát triển đòi hỏi trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ không chỉ chú ý đến việc khai thác tối đa tiềm năng của nguồn lực này mà phải đồng thời quan tâm đầy đủ đến lợi ích và nhu cầu phát triển của phụ nữ

Nghiên cứu của tổ chức tài chính như Ngân hàng Thế giới hay của tổ chức phát triển như UNDP trên phạm vi quốc tế hiện nay đều nhấn mạnh ý nghĩa của việc đầu tư cho phụ nữ và đảm bảo lợi ích của giới nữ đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển nói chung Đầu tư nâng cao khả năng của phụ nữ và tạo cho họ quyền lựa chọn các cơ hội không chỉ đem lại lợi ích cho phụ nữ mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp vào

sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có nhịp độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền, các nhà kinh tế của Ngân hàng Thế giới đã đi đến kết luận ''Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc cải thiện giáo dục và sức khoẻ toàn dân Những nước đã rút ngắn khoảng cách giữa nam và nữ trong việc học tập cũng chính là những nước đã đạt sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn định nhất trong vòng 50 năm qua" (20, tr.17) Và nghiên cứu này đã nhấn mạnh rằng: đầu tư vào sự phát triển của phụ nữ mang lại lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào khác ở các nước đang phát triển

''Phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ và công bằng giới'' đã được Liên Hợp Quốc

Trang 19

đưa ra bằng chỉ số phát triển liên quan đến giới viết tắt là GDI bên cạnh chỉ số phát triển con người HDI khi đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Điều đó có nghĩa là mô hình phát triển xã hội tốt đẹp hiện nay không chỉ là mô hình tăng trưởng kinh tế mà là mô hình phát triển con người trong đó nhấn mạnh giới Năm

2006, Báo cáo phát triển con người của UNDP xếp Việt Nam ở vị trí 112/177 quốc gia được xếp hạng với chỉ số 0,691 cao hơn quốc gia có cùng thu nhập GDP theo đầu người như Pakistan hoặc có thu nhập GDP theo đầu người cao hơn như Ấn Độ, Gabon Chỉ số GDI của Việt Nam là 0,689 xếp thứ 87/144 quốc gia năm 2005 xếp 89/144 Như vậy ở Việt Nam không có chênh lệch giữa chỉ số GDI và HDI Việt Nam hiện dẫn đầu châu Á và xếp thứ 13 thế giới về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội với 27,31%

và thuộc nhóm có thành tựu tốt nhất về bình đẳng giới ở khu vực Đông Nam Á ( 13, tr.157) Điều đó cho thấy trong khi đời sống còn nhiều khó khăn nhưng sự bình đẳng giới ở nước ta đã được thực hiện tốt hơn

Vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn nhân lực nữ không chỉ biểu hiện số lượng lớn trong dân cư và lực lượng lao động xã hội, mà chất lượng của nó quyết định sự phát triển hiện tại và tương lai của một dân tộc, quốc gia Nhưng nguồn nhân lực nữ chỉ đem lại sự phát triển bền vững khi việc phát huy nó dựa trên cơ sở công bằng và hiệu quả, do đó bình đẳng giới cần được coi là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển nguồn nhân lực

1.2.2 Yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay

Có thể khẳng định rằng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cho phép khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, tạo ra những khả năng để phát huy cao

độ trí tuệ và trình độ phát triển mọi mặt của nguồn lực con người song, cũng đặt ra những đòi hỏi rất cao Yêu cầu mới đòi hỏi ở mỗi con người không chỉ về năng lực, trình độ học vấn, phẩm chất lao động mà cả về mặt sức khoẻ, tình cảm, tư tưởng, tâm trạng thích hợp Đó không phải là một mẫu người duy nhất, rập khuôn giống nhau mà

là những con người đa dạng cụ thể, có cá tính và chuyên môn, tài năng khác nhau đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH trên tất cả các lĩnh vực Đất nước đang đòi hỏi

có những chuyên gia giỏi, những nhà quản lý sáng suốt, những chủ kinh doanh tài ba, những nhà khoa học sáng tạo và có đầu óc thực tế, đồng thời cũng cần một đội ngũ đông đảo những người lao động có tay nghề thành thạo, có lương tâm nghề nghiệp,

Trang 20

trình độ và năng lực đối phó kịp thời với những biến động trong sản xuất và trong hoạt động nghề nghiệp Đất nước cũng không thể thiếu những nhà hoạt động nghệ thuật xuất sắc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá và định hướng thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân, bảo tồn và phát triển những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam

Người lao động nói chung không chỉ cần có sự cần cù, chịu khó, chịu đựng gian khổ vốn là đức tính truyền thống của nhân dân ta, đặc biệt của người phụ nữ mà quan trọng hơn là cần sự thông minh, nhạy bén với cái mới, sự tháo vát năng động, quyết đoán, chủ động và tự tin

Việc phát huy nguồn nhân lực là phải hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của phân công lao động quốc tế, thích ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu phát triển của khoa học công nghệ

Những yêu cầu nêu trên đặt ra đối với mọi người lao động với mức độ khác nhau tuỳ công việc, ngành nghề, vị trí xã hội Phụ nữ có những đặc điểm riêng do chức năng mang thai, sinh nở và gánh nặng trong việc giáo dục con cái, chăm sóc gia đình nên những đòi hỏi đó càng trở nên khắt khe

Hiện nay, phụ nữ chiếm khoảng 50,8% dân số và 48% lực lượng lao động xã hội Phụ nữ có mặt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, chiếm tỷ lệ cao trong các ngành giáo dục - đào tạo, thương mại, y tế - cứu trợ xã hội, nông - lâm nghiệp, công nghiệp chế biến Nhưng trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH,HĐH chất lượng lao động nữ đã tỏ ra có nhiều bất cập Phụ nữ chiếm 70% tổng số người mù chữ, càng lên các cấp học cao thì tỷ lệ nữ càng giảm Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nữ cũng kém hơn, 90% không được đào tạo.(20, tr.18) Cùng với sự phát triển khoa học công nghệ, xu hướng lao động giản đơn giảm dần là một tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nhưng điều đó lại gây ra sự bất lợi đối với lao động nữ, vốn yếu thế trong điều kiện cạnh tranh của thị trường lao động Khả năng thất nghiệp của phụ

nữ cao hơn, phụ nữ tập trung ở các ngành có thu nhập thấp, kĩ thuật thô sơ và là khu vực sản xuất không phù hợp khi xã hội phát triển theo hướng hiện đại hoá

Tuy nhiên, CNH, HĐH cũng đem lại một số lợi thế cho phụ nữ Sự phát triển các khu công nghiệp, các doanh nghiệp có khả năng tạo ra nhiều việc làm mới, linh hoạt về không gian và thời gian Nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, khoa học, văn hoá,

Trang 21

dịch vụ công cộng phù hợp với sở trường của phụ nữ Nhiều ngành công nghệ phát triển mạnh trong thế kỷ cần thu hút lực lượng lao động nữ với ưu thế về sự khéo léo và

tỉ mỉ như tin học, điện tử, công nghiệp thực phẩm, chế biến, may mặc, thương mại…Phụ nữ có điều kiện tham gia vào quá trình lao động sản xuất dựa trên công nghệ cao, hao tốn ít sức lực Sự mở rộng dân chủ về kinh tế và tri thức, các tiến bộ của khoa học

- kỹ thuật và dịch vụ gia đình tạo cơ hội cho phụ nữ không ngừng học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp Khi năng suất lao động phát triển, mức sống được nâng cao, phụ nữ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò to lớn trong phát triển văn hoá của cộng đồng, địa vị chính trị - xã hội của phụ nữ được nâng lên Các tiềm năng sáng tạo của phụ nữ được phát huy cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra

dự báo rằng phụ nữ là nguồn nhân lực có khả năng phát huy cao trong thế kỷ XXI

Yêu cầu đối với việc phát huy nguồn nhân lực nữ cho sự phát triển kinh tế - xã hội là vừa khai thác tối đa tiềm năng nguồn nhân lực này, vừa phải quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực quý giá đó cho sự phát triển bền vững của đất nước Điều đó đòi hỏi phải có chính sách hợp lý đối với phụ nữ, trong đó chính sách đào tạo nguồn nhân lực và chính sách sử dụng lao động có ý nghĩa quyết định

Với những khó khăn và hạn chế nhiều mặt so với nam giới, bên cạnh sự hỗ trợ bằng các chính sách của nhà nước, bản thân phụ nữ buộc phải nỗ lực nhiều hơn mới đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực Phụ nữ phải

nỗ lực học tập ngay từ khi còn trẻ tuổi bởi họ có ít thời gian để chờ đợi và nghỉ ngơi, thường xuyên nâng cao trình độ và tích luỹ các kiến thức cần thiết để đáp ứng nhu cầu năng động của sự phát triển kinh tế - xã hội Phải biết sắp xếp công việc, cuộc sống của mình một cách khoa học, biết san sẻ trách nhiệm nuôi dạy con cái và công việc gia đình Phải suy nghĩ độc lập, sáng tạo, khắc phục cách suy nghĩ, làm việc thụ động

Làm việc cần cù chịu khó nhẫn nại là ưu điểm thường có ở phụ nữ nhưng lại phải biết sáng tạo, thông minh, nhạy bén với cái mới, cần tự tin vào năng lực bản thân, rèn luyện một tác phong làm việc nhanh nhẹn và tháo vát phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH

Tóm lại, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đặt con người vào

trung tâm của sự phát triển đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ bộc lộ tiềm

Trang 22

năng, tài năng mọi mặt của mình, song, cũng đặt ra nhiều thách thức lớn cho mục tiêu phát triển trong bình đẳng của phụ nữ Ngày nay, sự phát triển của mỗi địa phương, quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực nữ

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở LONG AN

TRONG THỜI GIAN QUA

Trang 23

2.1 Những thành tựu trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An trong thời gian qua

Thứ nhất, sự chuyển đổi cơ chế quản lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá

trình đổi mới đất nước đã có những tác động rất lớn đến tình hình việc làm của lao động nữ Tỉnh Long An đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động nữ Số lượng việc làm mới được tạo ra hàng năm tăng nhanh năm

2010 giải quyết việc làm cho hơn 150.000 lao động, trong đó tạo việc làm mới cho 70.000 lao động trong đó nữ chiếm trên 50%; xuất khẩu lao động gần 2.500 người Lao động nữ đã có thể nắm bắt được những cơ hội mới để tạo ra việc làm ( 21, tr.2)

Chủ trương khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh phát triển đã đóng vai trò rất quan trọng trong thu hút lao động Trong khối doanh nghiệp ngoài nhà nước thì tự

tạo việc làm của bản thân lao động nữ với cách thức để sinh tồn, kinh doanh cá thể và

siêu nhỏ thuộc khu vực phi chính thức đóng vai trò chủ đạo thu hút lao động nữ ở Long An Đây là khu vực hoạt động với đặc trưng là trình độ tổ chức và công nghệ thấp, là tầng trung gian giữa lao động giản đơn và lao động có kỹ thuật tay nghề cao, góp phần ổn định đời sống nhân dân, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, đáp ứng nhu cầu tăng thu nhập

Chương trình vay vốn quỹ quốc gia, các nguồn vốn ủy thác Ngân hàng chính sách xã hội,vốn tiết kiệm tín dụng, vốn các dự án phi Chính phủ về giải quyết việc làm được thực hiện hiệu quả trong những năm qua đã có tác dụng lớn trong tạo việc làm cho lao động nữ Trong thời gian từ năm 2006 – 2010 số vốn tín dụng tiết kiệm được trên 58 tỉ đồng, với trên 100.000 thành viên tham gia; nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ ủy thác qua ngân hàng chính sách xã hội trên 3 tỉ đồng giúp cho 580 hộ gia đình có thu nhập thấp được hỗ trợ phát triển kinh tế Ngân hàng Chính sách xã hội còn

hỗ trợ vai trên 665 tỉ đồng cho gần 55.000 lượt hộ phụ nữ vai Ngoài ra, tỉnh cũng đã xét duyệt nhiều dự án với tổng số vốn cho vay trên 200 tỉ đồng; thu hút hàng chục ngàn lao động, trong đó lao động nữ được giải quyết việc làm chiếm gần 48% tổng số lao động được sắp xếp việc làm (9 tr 5) Nguồn vốn này đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, lao động khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, kinh tế hộ gia đình

có sự chuyển dịch rõ nét, tận dụng được nội lực trong mỗi gia đình và doanh nghiệp

Trang 24

trong phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao mức sống và ổn định xã hội

Hoạt động tạo việc làm của hệ thống dịch vụ việc làm tỉnh Long An đã và đang thu được những kết quả nhất định.Trong đó số lượng phụ nữ được tư vấn, dạy nghề, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động chiếm tỷ cao 46,81% - 53,28% (21, tr 2) Khả năng nắm bắt thông tin thị trường và hoạt động của các trung tâm, nhất là các trung tâm dành riêng cho nữ đã và đang có tác dụng thiết thực tạo việc làm cho lao động nữ ở Long An

Thứ hai, trong việc phát huy hiệu quả nguồn lực con người thì việc quản lý

nguồn nhân lực nữ với những cơ chế chính sách tuyển dụng, bố trí sắp xếp, đánh giá, đãi ngộ có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường khai thác và phát huy khả năng sáng tạo của người lao động Việc theo dõi, quản lý nguồn nhân lực nữ trên địa bàn tỉnh tương đối chặt chẽ, có sự phân công, phân cấp cho ngành chuyên môn theo từng khu vực, đối tượng như: lao động ở khu vực hành chính, sự nghiệp, lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực tập thể và cá thể Lực lượng lao động nữ ở khu vực hành chính, sự nghiệp được quản lý cụ thể đến từng người, việc tuyển dụng công chức được thực hiện theo chế độ thi tuyển Đây cũng là khu vực mà các quyền lợi, nghĩa vụ của lao động nữ được đảm bảo và giải quyết đầy đủ theo quy định của Nhà nước

Việc quản lý lao động nữ ở khu vực sản xuất kinh doanh là do các doanh nghiệp

tự chủ cả về tuyển dụng và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm báo cáo định kỳ với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lợi và chế độ chính sách cho người lao động do đoàn kiểm tra liên ngành Lao động - Thương binh - Xã hội, Liên đoàn lao động, Bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm chính

Tình hình quản lý nguồn nhân lực nữ ở Long An đã cho thấy những chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của các cấp, ngành đối với việc phát huy nguồn lực con người, trong đó có nguồn nhân lực nữ

Thứ ba, Công tác giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ với việc phát huy

nguồn nhân lực nữ ở Long An đạt được nhiều thành công nhất định

- Về giáo dục - đào tạo, Long An với việc phát huy nguồn nhân lực nữ đã có

Trang 25

bước phát triển Lực lượng lao động nữ trong ngành giáo dục và đào tạo chiếm trên 50% cán bộ công chức của ngành, không ngừng được rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, cải tiến phương pháp giảng dạy, đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đào tạo

Việc giảm khoảng cách bất bình đẳng giới trong giáo dục - đào tạo đã đạt được những kết quả quan trọng, nhất là trong giáo dục phổ thông Những năm gần đây, tỷ lệ

nữ tốt nghiệp ở các cấp học trên tổng số học sinh tốt nghiệp ở cùng trình độ đạt mức cao Năm 2009 - 2010, tỷ lệ nữ trên tổng số học sinh tốt nghiệp tiểu học là 50,5%, ở cấp trung học cơ sở là 48,2% và cấp trung học phổ thông là 50,8% Việc đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp các cấp cao và cân bằng của cả nam và nữ là rất quan trọng, đặc biệt là đối với nữ (19,tr.7) Đây không chỉ là cơ sở nâng tỷ lệ nữ ở bậc cao đẳng, đại học mà còn

là điều kiện để phụ nữ tham gia vào các hình thức đào tạo nghề, đào tạo CNKT sau này, giúp phụ nữ nắm bắt được cơ hội và tham gia vào đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn lành nghề để tìm việc làm và có vị thế trong xã hội

- Về vấn đề chăm sóc sức khoẻ với mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia, sức khoẻ thể lực của các thành viên là một nguồn lực đặc biệt Mặc dù chúng ta thường nhấn mạnh khía cạnh nguồn vốn tri thức khi đề cập đến nguồn vốn con người song, không thể coi nhẹ khía cạnh sức khoẻ, vì một lẽ đơn giản là nếu thiếu sức khoẻ thì không thể phát huy vốn tri thức, thậm chí không thể thực hiện nhu cầu lao động sản xuất thông thường của con người Mối liên hệ giữa sức khoẻ của phụ nữ với sự phát triển kinh tế -

xã hội được thể hiện ở ba điểm sau:

Sức khoẻ của phụ nữ liên quan mật thiết đến sức khoẻ của trẻ em và có ảnh hưởng đến khả năng lao động của thế hệ tương lai

Sức khoẻ của phụ nữ có quan hệ chặt chẽ với năng suất lao động của lực lượng lao động nữ

Sức khoẻ của phụ nữ có tác động đến sức khoẻ của các thành viên trong gia đình, qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lực lượng lao động So với nam giới thì mối quan hệ giữa sức khoẻ của phụ nữ với các thành viên khác trong gia đình mật thiết hơn, một mặt là do đặc điểm sinh sản chi phối, mặt khác do phụ nữ thực hiện nhiều công việc chăm sóc gia đình hơn

Trang 26

Nhận thức được tầm quan trọng của sức khoẻ phụ nữ, nên trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, tỉnh đã quan tâm đến việc chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ ở cả hai góc độ: người mẹ và người lao động

Tỉnh Long An đã thực hiện tốt về việc chăm sóc sức khoẻ của người dân nói chung và của bà mẹ và trẻ em nói riêng Tuổi thọ của người dân từ 71 tuổi năm 2005 tăng lên 74,8 tuổi năm 2009 Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám sức khỏe trước khi sinh giữ vững ở mức 99,9% từ năm 2006 đến nay Giảm tỉ lệ tử vong các bà mẹ liên quan đến thai sản năm 2006 là 10,17/100.000 đến năm 2010 là 9,4/100.000 Tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở Long An năm 2010 là 9,5/100.000 ở vào mức thấp so với mức trung bình của cả nước Đạt chỉ tiêu 100% trạm y tế có nữ hộ sinh, trên 95% trạm y tế có bác sĩ Tình trạng nạo phá thai, giảm dần theo hàng năm : 2006 là 40% đến 2010 là 30% Tỷ

lệ phụ nữ tiếp cận các dịch vụ y tế ngày càng tăng năm 2010 đạt trên 97,8% (19,tr.6)

Thứ tư, về chính sách xã hội với việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An

Có thể khẳng định rằng bất kỳ chính sách nào mà mục đích cuối cùng là phục vụ con người đều liên quan hoặc có tác động trực tiếp đến phụ nữ Tuy nhiên, mức độ tác động của các chính sách đối với phụ nữ có thể khác nhau Căn cứ vào hình thức thể hiện và mức độ tác động, có thể phân loại các chính sách đối với phụ nữ như sau: những chính sách chung không trực tiếp nhằm vào vấn đề phụ nữ, song lại ảnh hưởng tới phụ nữ và tương quan hai giới trong việc tiếp cận và sử dụng các nguồn lực; những quy định pháp lý chung đối với cả nam và nữ khi bước vào quan hệ hôn nhân gia đình; những chính sách dành riêng cho phụ nữ bao gồm những quy định riêng đối với phụ

nữ trong một văn bản chung chương "Lao động nữ" trong Bộ Luật lao động hoặc có thể là một chính sách được xây dựng và áp dụng riêng cho một nhóm phụ nữ cụ thể ví

dụ chính sách đối với cán bộ nữ, chính sách về chế độ thai sản đối với nữ công nhân viên chức Theo thống kê chưa đầy đủ, đã có 44 văn bản của Nhà nước và 4 chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phụ nữ hoặc có nói đến vấn đề phụ nữ ở các mức độ và khía cạnh khác nhau Với nội dung và tính chất tiến bộ của các điều khoản Hiến pháp và các chính sách cụ thể, Việt Nam đứng vào nhóm các nước sớm đưa ra và thực thi các nguyên tắc về bình đẳng giới nhằm nâng cao địa vị xã hội của người phụ nữ Xét trên văn bản, có thể nói phụ nữ Việt Nam được hưởng quyền bình đẳng giới đầy đủ và toàn diện hơn so với phụ nữ ở nhiều nơi khác trên thế giới

Trang 27

Tại LongAn, nhiều năm qua việc xây dựng chính sách và kế hoạch phát triển vì

sự tiến bộ của phụ nữ đã được đưa vào chương trình kế hoạch của các cấp, ngành xuất phát từ thực tế và điều kiện đặc thù của từng cấp, từng địa phương trên cơ sở tính đến những đặc điểm và nguồn lực cụ thể

Long An đã đề ra các chính sách và biện pháp cụ thể có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ Điều đó được thể hiện ở việc cụ thể hoá mục tiêu bình đẳng giới trong hàng loạt các chính sách như: chính sách giải quyết việc làm, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách bảo đảm xã hội (trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội), chính sách dân số KHHGĐ, chính sách phòng ngừa và bài trừ tệ nạn

xã hội, chính sách trong lĩnh vực văn hoá tinh thần (giáo dục, văn hoá văn nghệ), phân phối thu nhập (lương, phúc lợi xã hội), chính sách cán bộ nữ, bồi dưỡng, đào tạo ưu đãi sử dụng nhân tài Với mục tiêu công bằng và bình đẳng hơn giữa hai giới, các chính sách xã hội (CSXH) được thực hiện trên địa bàn tỉnh Long An đã góp phần quan trọng nâng cao năng lực của phụ nữ, giải phóng sức sản xuất của phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy vai trò của mình trên mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sự phát triển của Long An

Thứ năm, Long An có nhiều nỗ lực và đã đạt được những kết quả trong việc nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực nữ như trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức - tinh thần của nguồn nhân lực nữ trong việc phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường vị thế của phụ nữ

- Về trí lực, thể hiện ở trình độ học vấn và tình độ chuyên môn

Tỉ lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đều đạt cao trên tỉ lệ trung bình của cả nước Tỷ lệ biết chữ của nữ dưới 50 tuổi ở Long An đã được cải thiện nhanh chóng với tỉ lệ tăng năm 2006: 93,7%; đến năm 2010 là 97,79% , trong khi tỷ lệ biết chữ của nam dưới 50 tuổi tăng tương ứng từ 96,2% lên 98,9%( 19,tr 5) Tuy còn có sự chênh lệch giữa tỉ lệ biết chữ của nam và nữ nhưng xét theo nhóm tuổi, trình độ học vấn của nam và nữ theo các cấp học không có

sự cách biệt lớn đã cho thấy khoảng cách về giới trong giáo dục cơ bản ở Long An đã được khắc phục đáng kể

Tỉ lệ lao động nữ mù chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học giảm từ 1,72% năm 2006 xuống còn 0,36% năm 2010, tỉ lệ lao động nữ có trình độ trung học phổ thông tăng tương ứng từ 35,24% lên 46,14% Tỷ trọng lực lượng lao động nữ không có chuyên môn kỹ thuật

Trang 28

tức lao động chưa qua đào tạo đã giảm từ 75,11% (năm 2006) xuống còn 66,44% (năm 2010) Trong đó tỷ trọng lực lượng lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học

đã tăng tương ứng từ 9,24% lên 15,29% Long An đã nâng cao tỉ lệ lao động đã qua đào tạo (từ sơ cấp, học nghề trở lên) đạt 35,5% năm 2010 (nữ chiếm 30%) trong đó 27% lao động được đào tạo nghề (nữ chiếm 20%, lao động trẻ chiếm 40%) Trên 70% lao động nữ ở thành thị và 50% lao động nữ ở nông thôn được phổ biến nghề.(19, tr 4)

- Về thể lực, chiều cao và trọng lượng cơ thể trung bình của người Việt Nam nói chung và Long An nói riêng vào loại trung bình trên thế giới Và tầm vóc của nguồn nhân lực con người có nhiều tiến bộ Theo báo cáo tình hình suy dinh dưỡng giai đoạn 2001-

2010 ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Long An cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi và suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm mạnh khoảng 3,5%, xuống còn 14,5% vào năm 2010; tỷ

lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi sau 10 năm giảm 15% (xuống còn 28,3%) năm 2010 Đặc biệt bà mẹ và trẻ em đã được quan tâm nhiều hơn nhăm cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em góp phần nâng cao tầm vóc, thể lực của người phụ nữ.(19,tr 6)

- Về phẩm chất đạo đức - tinh thần, Phụ nữ Long An ngày nay vừa được kế thừa những giá trị, phẩm chất đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa các phẩm chất quý báo của người phụ nữ hiện đại - vẻ đẹp riêng trong tâm hồn, tình cảm, lối sống của phụ nữ Việt Nam xưa Đức tính cần cù, chịu khó vốn là bản chất tốt đẹp của người lao động, của phụ nữ Việt Nam, cùng với sự khéo léo, thân thiện của người Long An là những nhân tố khẳng định thêm chất lượng của lao động nữ Những giá trị đạo đức - tinh thần giúp cho phụ nữ Long An khi tham gia vào quá trình hội nhập và phát triển có thể sáng tạo ra những giá trị kinh tế và văn hoá tinh thần cao, là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nguồn nhân lực nữ

Nguyên nhân của những mặt đạt được trên là trong quá trình phát huy nguồn nhân

lực nữ ở Long An có sự điều hành tác động, sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, Hội LHPN tỉnh Long An, Ban Vì sự tiến bộ Phụ Nữ tỉnh Long An, sự tạo điều kiện của các cấp chính quyền, sự phối hợp hỗ trợ của các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã giúp đỡ và tạo điều kiện phát huy nguồn lực và vai trò của người phụ nữ trong việc phát triển kinh tế, góp phần hỗ trợ công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho phụ nữ tỉnh Long An

Trang 29

Ngoài ra, các chương trình trọng điểm của tỉnh nhất là Chương trình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo, Chương trình đào tạo và phát huy nguồn nhân lực nữ là tiền đề góp phần cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Long An.

Các tổ chức của Đảng, bộ máy Nhà nước, Mặt Trận và các đoàn thể luôn theo dõi đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội LHPN, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ xây dựng đội ngũ cán bộ nữ cơ sở năng động, sáng tạo, thể hiện tính nêu gương cao đồng thời tranh thủ sự sự đồng tình hưởng ứng của các tầng lớp phụ nữ trong công tác xã hội hóa

Hội LHPN tỉnh Long An đã thực hiện tốt vai trò đại diện, tham mưu, đề xuất với Đảng, phối hợp với chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể trong việc chăm lo, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho phụ nữ Đội ngũ cán bộ Hội luôn nhiệt tình, tâm huyết với phong trào, nêu cao ý thức vượt khó, không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực và các kỹ năng công tác đáp ứng yêu cầu công tác phụ nữ thời kỳ mới

2.2 Những hạn chế trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An trong thời gian qua

Thực trạng nguồn nhân lực nữ và việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An hiện nay cho thấy công cuộc đổi mới phát triển kinh tế đang tác động mạnh mẽ và đặt

ra những vấn đề mang tính cấp bách Bên cạnh những mặt mạnh cơ bản thì việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Long An cũng còn bọc lộ một số nhược điểm và hạn chế sau:

Một là, việc khai thác, sử dụng nguồn nhân lực nữ chưa tương xứng với tiềm

năng và chưa đáp ứng được yêu cầu hoàn thiện cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Long An

Điều đó thể hiện ở chỗ tỉ lệ thất nghiệp của lao động nữ còn ở mức cao, hiệu quả sử dụng lao động nữ thấp, sự phân bố của lao động nữ trong các nhóm ngành và trong nội bộ từng ngành bất cập với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu thế phát triển của Long An Trong đó vấn đề rất đáng quan tâm là phụ nữ tập trung đông ở những lĩnh vực lao động sản xuất trực tiếp, kỹ thuật giản đơn, có năng suất, thu nhập thấp và thiếu ổn định Lực lượng lao động nữ thất nghiệp ở Long An còn rất lớn với số lượng trung bình 2006 - 2010 là 12.162 người/năm và có xu hướng tăng lên từ 3,47% (10.365 người vào năm 2006) lên 5,20% (13.531 người vào năm 2010) Tỉ lệ thất

Trang 30

nghiệp ở khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn (8,8% so với 1,4%) Đại bộ phận lao động nữ thất nghiệp ở độ tuổi trẻ và thất nghiệp cao nhất thuộc nhóm tuổi 15 - 24 tuổi với tỉ lệ trung bình từ 2006 - 2010 là 35,92% Thực tế này đặt

ra vấn đề cần quan tâm giải quyết việc làm cho nhóm tuổi này nhiều hơn để góp phần

ổn định trật tự xã hội Bên cạnh thất nghiệp hoàn toàn thì bộ phận lao động nữ thiếu việc làm có số giờ làm việc dưới 40 giờ/tuần khá cao năm 2010 là trên 46.000 người)

và cũng có xu hướng tăng với tỉ lệ 11,98% (năm 2009) lên 15,25% (năm 2010), đặc biệt lực lượng lao động nữ nông thôn thiếu việc làm tới 22,33% Điều này phản ánh thực trạng sử dụng thời gian lao động ở nông thôn rất thấp do đất đai canh tác bị thu hẹp, dân số tăng, việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn từ lao động thủ công sang lao động cơ khí trong quá trình thực hiện CNH, HĐH Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng vào làm việc của lực lượng lao động nói chung và của lực lượng lao động nữ nói riêng chỉ đạt từ 67,36% đến 84,14% (21,tr.7)

Theo giới tính, thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động nữ (thời kỳ

2006 - 2010) thấp hơn lực lượng lao động nam (4,65% so với 5,81%) ( 21,tr.2) trong khi trình độ học vấn, chuyên môn của nam cao hơn nữ Điều đó không có nghĩa là sự bất bình đẳng về giới dưới góc độ việc làm nghiêng về phía nam giới mà là do để có việc làm, lao động nữ đã dễ dàng chấp nhận các công việc có kỹ thuật giản đơn, điều kiện lao động kém, thu nhập thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn nhân lực nữ

Lao động nữ có chuyên môn kỹ thuật còn thấp, việc sử dụng và thu hút lực lượng cán bộ nữ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao vào công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh thời gian qua còn nhiều hạn chế do chưa có cơ chế và chính sách rõ ràng Sự phân bố nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao còn bất hợp lý giữa các thành phần kinh

tế, các ngành, khu vực: chủ yếu tập trung trong khu vực kinh tế nhà nước, trong công nghiệp, trong lĩnh vực sản xuất phi vật chất Ngược lại, đang thiếu trầm trọng số lao động này trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong nông nghiệp và trong lĩnh vực sản xuất vật chất trực tiếp Lực lượng lao động nữ đã qua đào tạo chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị và các khu công nghiệp

Tình trạng này đã và đang cản trở việc đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và chứng tỏ hiệu quả sử dụng lực lượng cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chưa cao Chính sách tiền lương chưa tạo động lực khuyến khích cán bộ

Ngày đăng: 26/03/2018, 00:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w