1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM LÃNH đạo nền KINH tế NHIỀU THÀNH PHẦN (1996 2006)

75 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 622,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm kinh tế nhiều thành phần và tính tất yếu của sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần ở nước ta Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kin

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

HỒ THỊ QUỐC HỒNG NGUYỄN THỊ THÚY

MSSV: 6055401

CẦN THƠ 5/2009

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày nay Không một quốc gia nào có thể phát triển được mà không tham gia vào quá trình này Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì hội nhập kinh tế quốc tế còn là con đường tốt nhất để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước khác và giữ vững hướng đi đã chọn cho mình

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một trong những chủ trương lớn rất quan trọng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Thực tế đã chứng tỏ rằng, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn Trong những năm vừa qua, nhờ các thành phần kinh tế phát triển, đất nước ta đã huy động được nhiều nguồn lực trong nước và ngoài nước, tạo ra động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ Nhưng hiện nay, trước yêu cầu mới, phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển đất nước, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế và thực hiện thành công

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đang đặt ra nhiều vấn đế mới cả về lý luận và thực tiễn

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cho rằng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời

kỳ chuyển giao giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội Vì vậy, xã hội sẽ tồn tại song song các hình thức quan hệ kinh tế của cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Vì vậy mà trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ sẽ có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển

Trang 3

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế nước ta một cách đúng đắn và sáng tạo đã có những thành tựu đáng kể, thúc đẩy sự phát triển của đất nước Để thấy được quá trình vận dụng ấy đem lại những

thành quả gì cho đất nước, tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Đảng cộng sản Việt

Nam lãnh đạo nền kinh tế nhiều thành phần giai đoạn 1996-2006”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài sẽ đi sâu vào nghiên cứu: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các thành phần kinh tế và là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về các thành phần kinh tế vào thực tiễn của nước ta trong thời kỳ đổi mới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Đề tài nghiên cứu về những thành phần kinh tế ở Việt Nam, những quan điểm chỉ đạo của Đảng và kết quả đạt được trong thời gian qua Từ đó đề ra những bài học kinh nghiệm để khắc phục những hạn chế trong thời gian tới

Nhiệm vụ:

Để các thành phần kinh tế phát triển đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp với từng thành phần kinh tế, tạo động lực phát triển kinh tế

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Lênin về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, quan điểm cùa chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về các thành phần kinh tế này ở Việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Mác-Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sẽ sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương ,pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 4

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài về nền kinh tế nhiều thành phần có nhiều tác phẩm hay như: “Phát

triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam”-2004, của tác giả Lê Hữu Nghĩa và

Đinh Văn Ân, hay “Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam” của tác giả Vũ Văn Phúc đều trình bày rất rõ về nền kinh tế nhiều thành

phần ở nước ta trước đổi mới và trong thời kỳ đổi mới

Một số tác giả đi sâu nghiên cứu cụ thể từng thành phần kinh tế như tác

phẩm “Về thành phần kinh tế tư bản nhà nước”-2002, của GS.TS Trần Ngọc Hiền,

“Đổi mới, tăng cường thành phần kinh tế Nhà nước”-2001 của tác giả Vũ Đình

Bách…Mỗi tác giả đều đi sâu nghiên cứu làm rõ vấn đề Dựa trên cơ sở các tác phẩm, bài viết, bài tham luận về các thành phần kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới tác giả viết nên đề tài này

6 Bố cục của đề tài

Luận văn gồm có ba phần và hai chương:

Phần mở đầu: Giới thiệu tóm tắt vấn đề

Phần hai: Là phần nội dung Trong phần này có hai chương

Chương I: Tác giả giới thiệu khái niệm, vai trò của từng thành phần kinh tế

và cơ sở lý luận chung về nền kinh tế nhiều thành phần

Chương II: Là chương mà tác giả trình bày về sự chỉ đạo của Đảng đối với

các thành phần kinh tế, những thành tựu đạt được, những hạn chế cần khắc phục và rút ra bài học kinh nghiệm

Phần ba: Tác giả khái quát tóm lược vấn đề đã nghiên cứu trong luận văn

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ

NGHĨA XÃ HỘI

1.1 Khái niệm kinh tế nhiều thành phần và tính tất yếu của sự tồn tại kinh

tế nhiều thành phần ở nước ta

Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là

nền kinh tế trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển như một tổng thể, giữa chúng có mối quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau, tác động với nhau tạo thành một cơ cấu kinh tế thống nhất

Trong mỗi thành phần kinh tế, tồn tại các hình thức tổ chức kinh tế với quy

mô và trình độ công nghệ nhất định, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế nhất định Các thành phần kinh tế được thể hiện ở các hình thức

tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp

Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta là tất yếu khách quan bởi:

§ Xã hội cũ để lại không ít các thành phần kinh tế và chưa thể cải biến nhanh được Hơn nữa sau nhiều năm cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới đã xuất hiện them một số thành phần kinh tế mới: thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kihn tế tư bản nhà nước… các thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khách quan có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

§ Xây dựng và phát triển kinh tế hàng hóa có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội…vốn là những nhiệm vụ trọng yếu của thời kỳ quá

Trang 6

độ ở nước ta Song trong điều kiện ngân sách nhà nước rất hạn hẹp, thu nhập quốc dân còn thấp, nếu chỉ trông chờ vào nhà nước, việc thực hiện các nhiệm vụ nói trên

sẽ gặp nhiều khó khăn Giải phóng mọi năng lực bị kìm hãm từ trước tới nay; khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về vốn, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý…tức là sử dụng sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, là đòi hỏi khách quan của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

§ Nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cần cù, thông minh Song số người chưa có việc làm còn nhiều, vừa lãng phí sức lao động, vừa gây ra những khó khăn lớn về kinh tế - xã hội Trong khi đó, khả năng thu hút lao động của khu vực kinh tế nhà nước không nhiều Khai thác, tận dụng tiềm năng của các thành phần kinh tế khác là một trong những giải pháp quan trọng để tạo nên công ăn việc làm cho người lao động

Mặt khác trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất tồn tại ở nhiều thang bậc khác nhau, do đó chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ có nhiều hình thức, tức là nền sản xuất sẽ có nhiều thành phần song song cùng tồn tại

1.2.Vai trò của các thành phần kinh tế

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6/1991) nêu rõ nền kinh tế Việt Nam có 5 thành phần: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước

Đại hội lần thứ VIII (6/1996) xác định trong nền kinh tế có 5 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước (thay cho kinh tế quốc doanh trước đây); kinh tế hợp tác; kinh tế tư bản Nhà nước; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân

Cho đến Đại hội lần thứ IX (4/2001) xác định ở nước ta có 6 thành phần kinh

tế và trật tự sắp xếp các thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi: Kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể( thay cho kinh tế hợp tác trước đây); kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế

tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nước ngoài; và có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài

Trang 7

1.2.1.Thành phần kinh tế Nhà nước

Kinh tế Nhà nước là thuật ngữ dùng để chỉ phần tài sản do Nhà nước làm chủ

sở hữu, hay nói cách khác kinh tế Nhà nước là bộ phận của nền kinh tế quốc dân thuộc sở hữu nhà nước.Kinh tế Nhà nước thường bao gồm những bộ phận cơ bản sau:

Ø Tài nguyên khoáng sản và phần đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước

Ø Ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà nước, ngân sách nhà nước, tài chính

nhà nước

Ø Hệ thống dự trữ quốc gia và bảo hiểm quốc gia

Ø Các dịch vụ công cộng do nhà nước đảm nhiệm

Ø Các doanh nghiệp nhà nước

Xét về vị trí, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh

tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ những lĩnh vực then chốt, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và góp phần khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường

Xét về chức năng và tính chất, kinh tế Nhà nước gồm 2 hệ thống: hệ thống doanh nghiệp và hệ thống phi doanh nghiệp

Hệ thống doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp công ích Hệ thống phi doanh nghiệp bao gồm ngân sách Nhà nước, các quỹ quốc gia, tài nguyên thuộc sở hữu của Nhà nước…

Vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước được biểu hiện cụ thể:

· Kinh tế Nhà nước là lực lượng mở đường, hỗ trợ định hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước

Trang 8

· Kinh tế Nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng, chủ yếu nhất để Nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế

· Kinh tế Nhà nước là đòn bẩy để tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn

đề xã hội của đất nước

Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vai trò trung tâm, quyết định xu hướng vận động, phát triển đối với toàn bộ nền kinh tế trong thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đất nước trong từng giai đoạn của thời kỳ quá độ cũng như bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trên thực tế, xây dựng xã hội mới

1.2.2 Thành phần kinh tế tập thể

Kinh tế tập thể là sự liên kết tự nguyện của những chủ thể kinh tế đối lập để phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau nhằm giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất kinh doanh và lợi ích của các thành viên tham gia vào sự hợp tác quốc tế

Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế của những người lao động sản xuất nhỏ bao gồm nông dân, thợ thủ công, người buôn bán và làm dịch vụ nhỏ, cùng nhau làm ăn tập thể Những người lao động tự nguyện góp những tư liệu sản xuất chủ yếu góp vốn, lao động tập thể có phân công ăn chia theo nguyên tắc phân phối theo lao động

Đại hội VIII của Đảng, khi còn sử dụng khái niệm kinh tế hợp tác đã nhấn

mạnh “kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã” mà về thực chất Đảng ta

muốn nói đến kinh tế tập thể

Nước ta đang đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, chế độ xã hội ta là chế độ

xã hội chủ nghĩa Vì vậy kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta mấy chục năm nay, nó

đã từng đóng góp to lớn vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước và công cuộc hòa

Trang 9

Ngày nay, chúng ta ra sức đổi mới các hợp tác xã, thực hiện tốt luật hợp tác

xã, để thành phần kinh tế tập thể thể hiện đúng và tốt tính chất xã hội chủ nghĩa, tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển và cải thiện đời sống nhân dân

Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài, nó góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động

Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ trước đổi mới được coi là phi xã hội chủ nghĩa, hoạt động của họ bị kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể chèn ép nên phát triển khó khăn Sau đổi mới với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần các chủ doanh nghiệp tư nhân và hộ cá thể, tiểu chủ được luật pháp bảo đảm sự bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nên liên tục phát triển và tăng trưởng ổn định

cả về số lượng và quy mô đóng góp nhiều thành tựu cho sự phát triển của đất nước

Trang 10

1.2.4 Thành phần kinh tế tư bản tư nhân

Thành phần kinh tế tư bản tư nhân bao gồm những doanh nghiệp do các nhà đầu tư trong nước bỏ vốn thành lập, thuê mướn lao động và hưởng lợi nhuận Đó là những doanh nghiệp đăng ký theo luật doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không có vốn nhà nước) liên doanh với các thành phần kinh tế tập thể và tiểu chủ, trong đó thành phần kinh tế tư bản tư nhân chiếm nguồn vốn lớn nhất

Kinh tế tư nhân là bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế,công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế

Kinh tế tư nhân được xác định là một giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa Ngày nay, kinh tế thị trường được xác định là thành tựu chung của nhân loại Thực tế cho thấy, chưa có nước nào thành công trong phát triển nền kinh tế thị trường lại thiếu khu vực kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân như một động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường Ngược lại, nền kinh tế thị trường chính là môi trường hoạt động và phát triển của các thành phần kinh tế trong

đó có kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng nguồn thu nhập cho ngân sách nhà nước, thực hiện, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.5 Thành phần kinh tế tư bản nhà nước

Vào đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin dùng phạm trù “chủ nghĩa tư bản nhà nước”

để chỉ một khái niệm mới phản ánh một hiện tượng kinh tế mới Hiện tượng này

ngày nay được dùng với phạm trù “kinh tế tư bản nhà nước” ở nước ta

Trang 11

Theo khái niệm của Lênin thì kinh tế tư bản nhà nước là hình thức tổ chức liên kết kinh tế tư bản tư nhân với nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là hình thức kinh

tế hiện đại để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa,

là hình thức kinh tế kết hợp nội lực với ngoại lực trong thực hiện chính sách mở cửa

và hội nhập

Hiểu theo nghĩa đơn giản thì kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân trong nước, tư bản

tư nhân nước ngoài trong đó kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước là một phần không thể thiếu của một nền kinh tế nhiều thành phần nhằm khai thác mọi tiềm năng, mọi nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước là hình thức kinh tế giúp cho kinh tế tư bản tư nhân và tiểu sản xuất hàng hóa nhỏ có môi trường để phát triển thuận lợi và từng bước chuyển hóa theo con đường xã hội chủ nghĩa

Kinh tế tư bản tư nhân là nhân tố quan trọng để liên kết ngay từ đầu giữa công nghiệp với nông nghiệp - cơ sở xuất phát và lâu dài của phát triển kinh tế thị trường

Thành phần kinh tế tư bản tư nhân là một trong những bộ phận phát triển cao nhất có trình độ phát triển lực lượng sản xuất cao, có cách tổ chức kinh tế có hiệu quả, đóng góp nhiều cho tăng trưởng và tiến bộ xã hội Nó là một trong những động lực chính của tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng chủ nghĩa xã hội

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước có nhu cầu liên kết với nền nông nghiệp nhỏ thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển

Trang 12

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước mang tính tập trung sản xuất và quản lý hiện đại của một hệ thống mở Nó là nhân tố chủ yếu để khắc phục xu hướng tự phát, vô chính phủ trong kinh tế, nhất là trong nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Tạo cơ sở cho việc đẩy lùi và ngăn chặn những tiêu cực (hối lộ, tham nhũng, lãng phí) trong các cơ sở kinh tế, nhất là kinh tế nhà nước

1.2.6 Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

“Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” thường được hiểu là một loại hình kinh

tế gồm những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có vốn của các doanh nghiệp, cá nhân người nước ngoài tham gia Nó bao gồm các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước nhận đầu

tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh với nước ngoài và bên nhận đầu tư

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền

sở hữu của các cá nhân, tổ chức nước ngoài thành lập và quản lý

Ở Việt Nam, trong những năm qua kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được coi là một bộ phận, là những hình thức tổ chức hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng thể hiện dưới nhiều hình thức như liên doanh, liên kết giữa nhà nước Việt Nam với tư nhân nước ngoài, giữa

tư nhân trong nước với tư nhân nước ngoài, giữa doanh nghiệp nhà nước Việt Nam với các côngty nước ngoài, kể cả các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Một trong những thành phần kinh tế không thể thiếu trong quá trình mở cửa

và hội nhập của Việt Nam là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Từ năm

1987 đến nay, vị trí của khu vực này trong nền kinh tế ngày càng được cải thiện và đóng vai trò quan trọng

Trang 13

Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế chung, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật quản lý kinh doanh hiện đại

1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về các thành phần kinh tế

1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về các thành phần kinh tế và vai trò của các thành phần kinh tế

Có thể nói vấn đề sở hữu là một trong những vấn đề luôn giành được sự quan tâm, chú ý của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin

Trong hầu hết các tác phẩm của mình, C.Mác và Ăngghen luôn coi việc xóa

bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất để trên cơ sở đó phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng một nền kinh tế có kế hoạch và tiến hành phân phối theo lao động là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Song các ông cũng đã khẳng định rằng giai

cấp vô sản phải coi việc “xóa bỏ chế độ tư hữu trong hiện thực thực tế” là một hành động cách mạng, “hành động cộng sản chủ nghĩa hiện thực”và lâu dài, nó không

thể là một hành động nhất thời, trong chốc lát

Như vậy, ngay trong tư tưởng này cho thấy các ông đã ngầm khẳng định rằng việc xóa bỏ chế độ tư hữu là một quá trình lâu dài, và trong hiện tại, ngay trước mắt vẫn còn tồn tại hình thức sở hữu tư hữu mà biểu hiện của nó là các thành phần kinh tế khác nhau

Đồng thời các ông đã chỉ ra rằng nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể thiết lập một cách thực sự khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ phát triển cao Và chế độ tư hữu với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là điều kiện cần thiết cho quá trình tái sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp và vì thế mà nó không bị xóa bỏ

Trang 14

khi chưa có được lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ phổ biến mà đối với chúng, sự tồn tại của các thành phần kinh tế này trở thành xiềng xích

Các ông đã đi đến quan niệm khẳng định, sự phát triển của nền đại công nghiệp, của nền sản xuất lớn bằng máy móc là tiền đề vật chất tất yếu cho việc xây

dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa với nền sản xuất công cộng Các ông viết: “Trong

công nghiệp lớn thì mâu thuẫn giữa công cụ sản xuất và sở hữu tư nhân chỉ là sản vật của nền công nghiệp lớn, và nền công nghiệp lớn này phải đạt một trình độ phát triển cao mới có thể tạo ra mâu thuẫn đó” [26;45] Và như vậy, chỉ với công nghiệp

lớn mới có khả năng xóa bỏ được sở hữu tư nhân, xóa bỏ các thành phần kinh tế để

xây dựng chế độ công hữu Bởi thế Ăngghen cho rằng “Trong bước quá độ lên nền

kinh tế cộng sản chủ nghĩa đầy đủ chúng ta sẽ phải áp dụng trên quy mô lớn nền sản xuất hợp tác xã với tư cách là một khâu trung gian” Và còn chỉ rõ việc đó phải

được tổ chức sao cho xã hội, trước hết là nhà nước “vẫn duy trì được cho mình

quyền sở hữu các tư liệu sản xuất và như vậy những lợi riêng biệt của hợp tác xã sẽ không thể đứng trên những lợi ích của toàn bộ xã hội nói chung” [26;49]

Kế thừa và phát huy quan điểm của Mác và Ăngghen, Lênin cũng đã cho rằng đặc điểm cơ bản nhất xuyên suốt và bao trùm của cả thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp Lênin đã chỉ ra rằng, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sự đan xen của những yếu tố, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội

Những tư tưởng ấy của Lênin đã được triển khai trong công cuộc xây dựng đất nước XôViết và đem lại nhiều thành tựu quan trọng

Phân tích thực trạng nền kinh tế nước Nga sau khi chính quyền Xôviết được thành lập Lênin rút ra có 5 thành phần kinh tế đó là:

· Thành phần kinh tế nông dân gia trưởng

· Thành phần kinh tế hàng hóa nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và tiểu thương

· Thành phần kinh tế tư bản tư nhân

· Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước

Trang 15

Lênin cũng đã chỉ ra các thành phần kinh tế cơ bản là: kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong thời kỳ quá độ, mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội mới ra đời nhưng còn non yếu với chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn Chính vì vậy mà trong nền kinh tế quá độ chưa có thành phần kinh tế chính trị chi phối, chỉ mới có thành phần kinh tế Nhà nước vươn lên giữ địa vị chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

1.3.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến việc giành, giữ và xây dựng chính quyền mong muốn đem lại độc lập cho dân tộc, cơm áo hòa bình cho nhân dân lao động Người cũng có những ý tưởng, quan niệm độc đáo, những định hướng và giải pháp về phát triển kinh tế trong toàn

xã hội Đặc biệt là người đã lĩnh hội tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về

cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đã áp dụng một cách sáng tạo vào điều kiện thực tiễn ở nước ta

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện cụ thể là ngay sau khi đất nước giành được độc lập dân tộc, Nhà nước non trẻ của chúng ta vừa phải kháng chiến chống thù trong giặc ngoài, vừa tiến hành kiến quốc, nhưng ngay từ năm

1953, trong tác phẩm “Thường trực chính trị”, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến sự

tồn tại của 5 loại hình kinh tế khác nhau trong chế độ mới:

A “Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội vì nó là của chung của nhân dân)

B Các hợp tác xã ( nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội)

C Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ ( có thể tiến dần vào hợp tác

xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội)

D Tư bản của tư nhân

E Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)

Trang 16

Trong 5 loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả, cho nên, kinh tế ta sẽ phát triển phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”

Tư tưởng Hồ Chí Minh Ngày càng thể hiện rõ ngay sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Người đã chỉ rõ quy luật phát triển lên tục của quá trình cách

mạng: “Từ chế độ dân chủ nhân dân, nước ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội” Nhận

định này vừa ngắn gọn, khái quát cao về lý luận lại vừa có nội dung rộng lớn, và là phát kiến mới có tính chất đột phá Nó đã khắc phục tâm lý nôn nóng, đốt cháy giai đoạn đang thịnh hành lúc đó, cùng với quan niệm về chủ nghĩa xã hội, luận đề này thực sự trở thành kim chỉ nam cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Sau khi tổng kết hoạt động 30 năm của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội mà đặc điểm to nhất của ta

trong thời kỳ quá độ là một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [3;154] Chính sách

phát triển thấp này đã quy định tính chất phức tạp của kết cấu kinh tế xã hội và sự tồn tại các thành phần kinh tế khác nhau

Dựa vào đặc điểm xuất phát từ trình độ thực tại của lực lượng sản xuất xã

hội(“nông nghiệp lạc hậu”) Người đã nhìn lại và chỉ ra các loại hình kinh tế, các

hình thức sở hữu khác biệt được cố kết nhau lại trong một chỉnh thể kinh tế-xã hội quá độ đang trong quá trình vận động Hồ Chí Minh viết: “Trong nước ta hiện nay

có những hình thức chính về sở hữu tư liệu sản xuất sau:

· Sở hữu Nhà nước tức là của toàn dân

· Sở hữu của hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động

· Sở hữu của người lao động riêng lẻ

· Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản.” [3;213]

Các hình thức sở hữu này đều có xu hướng vận động chung là “xóa bỏ các

hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể” [3;165]

Trang 17

Nhìn chung thứ tự sắp xếp các thành phần kinh tế ở Hồ Chí Minh và Lênin là thống nhất

Hồ Chí Minh sinh thời là người hiểu rõ sự thành công của chính sách kinh tế

mới của Lênin Trong bài “Thường thức chính trị”, Người đã đề xuất xây dựng nền

kinh tế nhiều thành phần với tư cách là nền kinh tế dân chủ nhân dân phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội

Từ thực tế Việt Nam Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề xuất tư tưởng phát triển kinh tế nhiều thành phần, đáng chú ý là trong thời kỳ này các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, không có nước nào thực hiện chính sách này đến cùng

Hồ Chí Minh cho rằng: Một số nước đã phát triển chủ nghĩa tư bản có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, còn những nước kém phát triển như Việt Nam,

Trung Quốc không thể đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội mà “phải kinh qua chế độ dân

chủ mới”

Phát triển kinh tế nhiều thành phần là nhịp cầu quá độ, tiến trình phải đi mà Lênin đã diễn đạt bằng công thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, còn Hồ Chí Minh diễn đạt là nền kinh tế dân chủ nhân dân nhiều thành phần Có thể công thức hóa tiến

trình phát triển đó như sau: Phát triển nền kinh tế dân chủ nhân dân = dân chủ tư

bản nhà nước(nghĩa rộng) = thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Người cho rằng: Xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta

và hoàn cảnh khách quan của thời đại, chúng ta đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ thống trị của giai cấp tư sản, nhưng không thể bỏ qua quá trình sản xuất hàng hóa Các thành phần kinh tế còn có vai trò tích cực và nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa cũng như thành tựu, tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản và loài người đã sáng tạo ra

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề chiến lược, lâu dài trong quá trình đổi mới và công nghiệp hóa, hiện địa hóa,

vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tư tưởng

và đường lối này là sự phát triển tư tưởng của Lênin và Hồ Chí Minh lên một trình

độ mới, nội dung và hình thức mới với một số nội dung sau:

Trang 18

· Các thành phần kinh tế không phát triển bên cạnh nhau mà lồng vào nhau, thâm nhập vào nhau với nhiều hình thức kinh tế hỗn hợp, đa dạng kể cả hình thức kinh tế cổ phần tạo thành một chỉnh thể của nền kinh tế quá độ.s

· Trong các thành phần kinh tế, quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất được tách biệt và có cơ chế đảm bảo để phát huy động lực của sự phát triển

· Trong cơ chế kinh doanh thừa nhận quyền tự chủ sản xuất và hoạt động kinh tế của các đơn vị kinh tế kể cả hộ gia đình

· Cơ chế thị trường tác động mạnh mẽ, các thành phần kinh tế cạnh tranh nhau để phát triển

· Phát triển kinh tế nhiều thành phần tạo lực lượng và sức mạnh để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành và phát triển gắn liền với hoàn cảnh đất nước trong từng thời kỳ lịch sử Trong những năm 1954-1960, trong công cuộc khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế ở miền Bắc, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là cơ sở cho các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng

và Nhà nước ta

Mục đích xây dựng nền kinh tế được chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là không ngừng nâng cao và làm cho đời sống nhân dân ngày càng đầy đủ, sung sướng, gắn liền với độc lập, tự do và xây dựng đời sống mới xã hội chủ nghĩa

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định rằng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế kế hoạch hóa Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, vấn

đề hàng đầu là nhằm nâng cao đời sống nhân dân Người khẳng định: “Phải luôn

nhớ rằng: Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay

là nhằm cải thiện dần đời sống nhân dân” [3;134] Kế hoạch kinh tế phải gắn liền

với kế họach ở các lĩnh vực khác nhau, nhằm đảm bảo cho kế hoạch kinh tế có cơ

sở vững chắc

Trang 19

1.3.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Nhìn lại 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam Có thể nói những kết quả đạt được là cả một quá trình phát triển không ngừng của tư duy nhận thức

và tư duy lý luận

Trên thức tế, tư duy nhận thức của Đảng luôn trong quá trình vận động không ngừng, thể hiện trên một số khía cạnh:

§ Từ không thừa nhận đến thừa nhận sản xuất hàng hóa (từ chính sách cộng sản thời chiến đến chính sách kinh tế mới ở Nga và thực tế phát triển ở các nước xã hội chủ nghĩa những năm cuối thế kỷ XX)

§ Từ thừa nhận sản xuất hàng hóa có giới hạn đến thừa nhận phải ra sức phát triển sản xuất hàng hóa

§ Từ thừa nhận kinh tế hàng hóa có kế hoạch đến coi thị trường vừa là căn cứ vừa là đối tượng của kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, đến thừa nhận kinh tế hang hóa có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

§ Từ nóng vội chủ quan cải tạo sớm các thành phần kinh tế tư bản, tư nhân đến chỗ thừa nhận vị trí, vai trò của chúng trong việc giải phóng mọi sức sản xuất để phát triển kinh tế đến chỗ xác định sự tồn tại lâu dài, coi các thành phần kinh tế đều

là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Có thể khẳng định rằng, đây là những bước đột phá quan trọng trong nhận thức luận về chủ nghĩa xã hội hiện thực nói chung và phát triển kinh tế - xã hội cũng như về nền kinh tế nhiều thành phần nói riêng của Đảng ta

Trong thời gian trước đổi mới, cũng như nhiều nước khác, chúng ta đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết, với những đặc trưng chủ yếu là: xây dựng nền kinh tế khép kín về lực lượng sản xuất; không thừa nhận sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, xây dựng quan hệ sản xuất với hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, hạn chế và muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân; chưa thừa nhận nền sản xuất hàng hóa và thị trường, thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp, coi kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, xác định nhiệm vụ sản xuất

Trang 20

và phân bổ các nguồn lực theo kế họach Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, đáp ứng được yêu cầu của đất nước thời kỳ có chiến tranh, nhưng sau

đó bộc lộ rõ những khuyết điểm, tình hình kinh tế - xã hội đất nước ngày càng khó khăn

Từ những năm 1979-1986, Đảng và nhân dân ta bước đầu đã có những tìm tòi thử nghiệm để cải cách theo hướng thị trường Tuy có những chuyển biến nhận thức và thực tiễn quan trọng, nhưng chủ yếu là cải cách thể chế cục bộ trong khuôn khổ cũ, chưa mang tính đột phá để đủ tạo ra một bước ngoặt căn bản trong quan điểm lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(12-1986), với thái độ nhìn thẳng vào

sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được; phân tích những sai lầm, khuyết điểm, chỉ

rõ nguyên nhân sâu sa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, giản đơn hóa, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, không tôn trọng quy luật khách quan Đại hội đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn khởi đầu cho sự đổi mới

toàn diện đất nước, trong đó có bài học: Đảng ta luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng

và hành động theo quy luật khách quan

Đại hội chủ trương: “Đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế

tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác

”[23; 21] Đại hội đã xác định các thành phần kinh tế cơ bản ở nước ta là:

· Kinh tế xã hội chủ nghĩa: bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó

· Các thành phần kinh tế khác bao gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác

Trang 21

Hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI(1989)chủ trương phát triển đan xen nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết các hình thức sở hữu Kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo, cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song khẳng định vai trò chủ đạo không nhất thiết phải luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề Những ngành nghề, hoạt động nào mà kinh tế hợp tác, kinh

tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình ấy phát triển Tư nhân được kinh doanh không hạn chế về quy mô, địa bàn hoạt động trong những ngành nghề sản xuất, xây dựng, dịch vụ, vận tải mà luật pháp không cấm

Việc không thừa nhận nền sản xuất hàng hóa và hoạt động của quy luật giá trị trong thời kỳ trước đổi mới đã cho chúng ta ý nghĩa sâu sắc về hậu quả của nó Thực tế cho thấy, chỉ có thể phát triển nền sản xuất hàng hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức và quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế, tạo ra sự liên kết và tính hỗn hợp, đan xen giữa chúng

và cũng chỉ trên cơ sở đó, mới có khả năng đưa nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, trên đó xác lập quan hệ sản xuất phù hợp Đây là một nhân tố góp phần quyết định xóa bỏ nền kinh tế tự cấp tự túc, mở đường cho phương thức sản xuất kinh doanh lấy năng suất, chất lượng và hiệu quả làm mục tiêu Mặt khác, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với hình thức và quan hệ sản xuất đó ở Việt Nam còn có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu và phân công lao động xã hội một cách hợp lý, có khả năng khai thức mọi khả năng tiềm tàng, sẵn có trong nền kinh tế quốc dân và hình thành một kết cấu kinh tế thích ứng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại,

với quá trình “từng bước phát triển kinh tế tri thức”

Cũng cần nhấn mạnh rằng, nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế hàng hóa “

có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước gữ vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc” Do vậy, ở Việt Nam hiện nay, sự đa dạng, tính chất hỗn hợp, đan xen giữa các hình thức và quan hệ sở hữu là tất yếu

Trang 22

Từ việc phân tích tình hình trên, Đại hội lần thứ VI đã khẳng định phải giải phóng sức sản xuất và đưa ra chủ trương bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lớn

cơ cấu đầu tư; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Đại hội cũng xác định phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là xóa bở tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế, nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị sản xuất, kinh doanh, nâng ao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả

Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa VI đã phát triển thêm một bước chủ trương trên khi đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có

kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội Khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ vầ kinh tế, bảo đảm cho mọi người tự do làm ăn theo pháp luật

Đại hội lần thứ VII của Đảng (6-1991) lần đầu tiên nhắc đến cụm từ: nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Khẳng định chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

là có tính chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó xác định cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường cơ sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ Qua thảo luận, Đại hội đã xác định các thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ ở nước ta là: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước Bên cạnh đó, Đại hội đưa ra một kết luận mới quan trọng: sản xuất hàng hóa không đối lập với

Trang 23

chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội

đã được xây dựng Trên cơ sở đó đã xác định cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác

Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng khóa VII (1994) khẳng định thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Khu vực doanh nghiệp nhà nước phải tiếp tục chấn chỉnh và xây dựng, hoạt động có hiệu quả, đảm nhiệm được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

Tại Hội nghị này, lần đầu tiên Đảng ta phân biệt rõ sở hữu nhà nước với hình thức kinh doanh nhà nước, chủ trương tập trung xây dựng doanh nghiệp nhà nước ở những ngành, những lĩnh vực, những khâu trọng yếu, đồng thời thực hiện các hình thức cổ phần hóa ở mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong đó sở hữu Nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối

Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6-1996) xác định trong nền kinh tế có 5 thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước (thay cho kinh tế quốc doanh trước đây); kinh tế hợp tác; kinh tế tư bản Nhà nước; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân

Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước thay cho vai trò trước đây của kinh tế quốc doanh, coi doanh nghiệp Nhà nước chỉ là một bộ phận quan trọng của kinh tế Nhà nước Phát triển kinh tế hàng hóa, nòng cốt là các hợp tác xã với nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã, tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi Kinh tế tư bản nhà nước có vai trò quan trọng, bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với

tư bản nước ngoài Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài Với cách sắp xếp này thì Đại hội VIII coi sở hữu nhà nước và tập thể là gần gũi với chế độ xã hội chủ nghĩa, cho dù trong thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ vẫn còn nhiều yếu tố lạc hậu hơn so với tư bản tư nhân về trình độ phát triển

Đại hội cũng đã xác định nhiệm vụ cho bước đi tiếp theo là: “ Đẩy mạnh

công cuộc đổi mới một cách toàn diệnvà đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo

Trang 24

định hướng xã hội chủ nghĩa”[18;94] Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát

triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa các nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân là mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung quan lieu bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong nền sản xuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn

Đại hội lần thứ IX(4-2001) xác định có 6 thành phần kinh tế, trật tự sắp xếp các thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi: Kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể (thay cho kinh tế hợp tác trước đây); kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh

tế tư bản Nhà nước; và có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đại hội khẳng định thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững

chắc của nền kinh tế quốc dân.Đại hội đã chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, khẳng định chủ trương xây dựng và phát

triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là đường lối chiến lược

nhất quán Đại hội chỉ rõ đường lối kinh tế của nước ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan

hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện

Trang 25

tiến bộ và công bằng xã hội bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh

tế xã hội với tăng cường quốc phòng và an ninh” [19;98] Có thể thấy đây là bước

phát triển mới rất quan trọng về tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng

Cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X(4-2006), trên cơ sở phát triển

các đại hội trước và tiếp thu các ý kiến đóng góp, Đại hội nêu rõ: “Cơ cấu thành

phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu, đại hội nhấn mạnh phải phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh” [20;65]

Các thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân(cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng tồn tại và phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế

Như vậy, qua các thời kỳ, quan điểm của Đảng vế chế độ sở hữu và thành phần kinh tế có những đổi mới quan trọng mang tính đột phá Khái quát lại có thể nói đổi mới tư duy của Đảng ta về cơ cấu thành phần kinh tế trong thời gian qua như sau:

Một là, từ chỗ trong nhận thức cũng như trong hành động không thực sự thừa

nhận kinh tế nhiều thành phần, chia nền kinh tế thành hai bộ phận: Xã hội chũ nghĩa

và phi xã hội chủ nghĩa đã chuyển sang thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần

Hai là, từ chỗ coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo theo nghĩa phải chiếm tỷ

trọng lớn trong mọi ngành nghề, lĩnh vực đã chuyển sang phân biệt rõ sở hữu nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Kinh tế Nhà nước có vai trò chủ đạo, là đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng

Trang 26

dẫn các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới

Ba là; Từ chỗ coi hợp tác xã thuần túy là đơn vị kinh tế tập thể chuyển sang

xác định hợp tác xã là tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở lao động tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ với mọi quy mô và mức độ tập thể hóa

tư liệu sản xuất, thực hiện khoán hộ, phát huy vai trò tự chủ của hộ xã viên, hợp tác

xã chủ yếu là dịch vụ hỗ trợ và hướng dẫn giúp xã viên Nhờ nhận thức mới về hợp tác xã, một quan niệm khoa học về kinh tế hợp tác xã ra đời

Bốn là: Từ chỗ xác định kinh tế cá thể phải được hợp tác hóa; chỉ hoạt động

ở những nơi kinh tế hợp tác xã chưa phát triển đã chuyển sang quan niệm xem hình thức kinh tế cá thể có nhiều con đường đi lên, có thể phát triển lớn hơn

Năm là: Từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là lực lượng phải cải tạo, cải tạo

để sử dụng tốt hơn, dứt khoát xóa bỏ tư sản thương nghiệp đã chuyển sang coi kinh

tế tư bản tư nhân là một bộ phận trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nước

Sáu là: Từ chỗ chỉ thực hiện một nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội là phân

phối theo lao động đã chuyển sang thực hiện nhiều hình thức phân phối

Trải qua bước đầu phát triển kinh tế của thời kỳ quá độ với hình thức là tập trung bao cấp đã không làm thay đổi cơ bản kinh tế nước nhà thì Đảng và Nhà nước

ta đã quyết định đổi mới hình thức phát triển kinh tế Từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế nước ta với năm thành phần kinh tế cơ bản đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, đem lại hiệu quả cao trong phát triển sản xuất ở tất cả các ngành, các lĩnh vực

Từ thực tế đó, hiện nay phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là phương hướng và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân nhằm đưa kinh tế nước ta ngày càng phát triển phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 27

CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

là “phi xã hội chủ nghĩa”, kết cục là thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa (quốc

doanh và tập thể) phát triển nhanh về số lượng, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và ngày càng có xu hướng giảm sút

Có thể nói, trong một thời gian dài, mô hình kinh tế này đã từng phát huy tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa theo kiểu cổ điển, tập trung được các nguồn lực, sức người, sức của đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chỗng Mỹ cứu nước giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Nhưng càng

về sau nó càng bộc lộ những khiếm khuyết mà chủ yếu là các nhu cầu của xã hội vượt quá khả năng đáp ứng của một nền kinh tế kém hiệu quả, thiếu năng động do thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu và chế độ phân phối bình quân chủ nghĩa Chính điều đó đã kìm hãm, làm thui chột động lực và tính cạnh tranh giữa các lĩnh vực kinh tế, không huy động và sử dụng được các nguồn lực của đất nước để tạo đà cho sự phát triển Cộng với công tác chỉ đạo, lãnh đạo, quản lý cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu sa của những sai lầm ấy là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, giản đơn, nóng vội, không tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế của Việt Nam, khiến cho nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ kéo dài, rồi khủng hoảng kinh tế xã

Trang 28

hội trầm trọng và kéo dài; sản xuất phát triển chậm, kém hiệu quả và bấp bênh, tình trạng thiếu hụt và khan hiếm hàng hóa, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân khó khăn…

Đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế cũ lạc hậu và nhu cầu phát triển kinh tế đã trở

thành đòi hỏi bức thiết và tất yếu đối với Việt Nam Để thoát khỏi tình thế “nguy

nan” của kinh tế Việt nam trong nửa đầu thập niên 1980, rõ ràng là cần có sự đột

phá lớn Công cuộc tìm tòi thử nghiệm vượt thoát trước đổi mới đã được đặt ra đối với Đảng cộng sản và nhân dân Việt Nam

Theo đó, Đại hội V (1982) đã đánh giá những thành tựu và khuyết điểm, phân tích thực trạng kinh tế- xã hội ở nước ta Trên cơ sở đó Đảng đã xác định cụ thể nội dung và cách thức công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên

Có thể nói thời kỳ 1975-1985 là thời kỳ mà tư duy mới từng bước và phát triển từng mặt, từng phần Đáng chú ý là Nghị quyết Trung ương sáu khóa IV với

chính sách “làm cho sản xuất bung ra” Nghị quyết Trung ương 8 về giá -s lương -

tiền Đến đây, quan niệm cốt lõi của mô hình kinh tế mới về cơ bản đã được hình thành

2.1.2 Thời kỳ 1986-1996

Khắc phục sai lầm trên, từ Đại hội VI của Đảng - Đại hội khởi đầu sự nghiệp đổi mới - chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần được nhận thức lại và thực hiện nhất quán Đảng ta đã xác định, nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá dộ, phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược, lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ đó các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể, tiểu chủ, kinh tế hộ gia đình mới có điều kiện hình thành và phát triển trở lại một cách công khai hợp pháp Một trong những nội dung quan trọng của tư duy kinh tế mới(lúc đó) là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và các loại hình tổ chức kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đánh dấu bước ngoặt đổi mới tư duy của Đảng Tại Đại hội VI, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những sai lầm chủ

Trang 29

quan, nóng vội, muốn “đốt cháy giai đoạn” trong việc cải tạo các thành phần kinh tế được gọi là “phi xã hội chủ nghĩa” Việc làm này trong quá khứ đã vi phạm nghiêm

trọng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Đồng thời Đại hội đưa ra những quan điểm mới về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đặc biệt là thừa nhận sự tồn tại khách quan sản xuất hàng hóa và thị trường, khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

Hơn bốn năm đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống là quá trình thể nghiệm, tìm tòi, từng bước cụ thể hóa phát triển và tổ chức thực hiện những định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội Từ năm 1988 trở đi, cá chủ trương chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dần dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên, ta đã thực hiện thành công các mục tiêu của ba chương trình kinh tế(lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu), từ chỗ thiếu ăn triền miên nay đã vươn lên đáp ứng được nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu góp phần ổn định đời sống của nhân dân và cải thiện cán cân xuất - nhập khẩu

Một thành tựu khác về đổi mới là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Thành tựu đó thể hiện rõ ở những mức độ khác nhau trong các thành phần kinh tế:

Kinh tế quốc doanh: Hiện đang nắm giữ những bộ phận then chốt, có vị trí

chi phối nền kinh tế, có tác dụng đều tiết thị trường và giá cả ở một mức độ nhất định Gần một phần ba các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vươn lên kinh doanh

và thích ứng được với cơ chế mới, đã xuất hiện một số nông trường, lâm trường kinh doanh có hiệu quả

Kinh tế tập thể trong nông nghiệp đã chuyển sang thực hiện rộng rãi cơ chế

khoán, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất, bước đầu giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng lao động và vốn của nhân dân Đã xuất hiện một số hình thức hợp tác mới thuộc nhiêu lĩnh vực cùng hoạt động trên một địa bàn

Trang 30

Về kinh tế tư nhân: kết quả rõ nhất là nhiều hộ các thể và tiểu chủ đã bỏ vốn

kinh doanh vào nhiều ngành nghề Tuy nhiên cho đến nay nhiều người có vốn lớn vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, nhất là vào lĩnh vực sản xuất, vì môi trường kinh doanh chưa đảm bảo và có phần chưa tin vào sự ổn định của chính sách

2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo kinh tế nhiều thành phần 1996-2001

2.2.1 Chủ trương của Đảng

Ø Đối với kinh tế Nhà nước

Trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, kinh tế nhà nước từ chỗ là khu vực kinh tế gần như độc nhất trong nền kinh tế đã dần chuyển sang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp cải cách khu vực kinh tế nhà nước để khu vực kinh tế này có thể đảm bảo vai trò chủ đạo như: sắp xếp, sát nhập các công ty, công ty hóa, cổ phần hóa, giao, bán, khoán cho thuê, phát triển các tập đoàn kinh tế và giải thể các doanh nghiệp thua lỗ trầm trọng

Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII(6/1991) của Đảng đã xác định: Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn các thành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới

Cũng trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng khóa VII(1-1994) Đảng ta đã có sự phân biệt giữa sở hữu nhà nước với

hình thức doanh nghiệp như sau: “Tài sản và vốn thuộc sở hữu của nhà nước được

sử dụng dưới nhiều hình thức, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội cao, vừa tăng cường khả năng thúc đẩy và kiểm soát trực tiếp của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế như: đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước…, giao quyền sử dụng lâu dài (đất đai, rừng), cho thuê…liên doanh; góp cổ phần, mua cổ phiếu của các

Trang 31

Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng, một

số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có liên quan đến quốc phòng-an ninh, doanh nghiệp nhà nước nói chung có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách

Lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích

Đổi mới và tăng cường hoạt động của kinh tế nhà nước trong lĩnh vực phân phối lưu thông Phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa -

xã hội của doanh nghiệp nhà nước trong nông, lâm, ngư nghiệp nhất là ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người

Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hóa doanh nghiệp để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản của nhà nước ngày càng tăng lên

Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối Gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tùy từng trường hợp cụ thể, vốn huy động phải được dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

Tổ chức hợp lý các tổng công ty, bảo đảm vừa tránh phân tán lực lượng vừa chống độc quyền hoặc trở thành cấp hành chính trung gian

Kinh tế Nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Doanh nghiệp Nhà nước (gồm doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn và doanh ngvhiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng

để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ

Trang 32

yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế [17; 235]

Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp Nhà nước có cơ cấu hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu, không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ chiến lược lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp, các ngành đối với việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Trên cơ sở phân định loại doanh nghiệp, nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII

đã đưa ra hướng sắp xếp cụ thể:

· Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động có hiệu quả cần được kiện toàn về tổ chức, cán bộ, tài chính, xử lý lao động dôi dư, ưu tiên bổ sung vốn lưu động, cho vay vốn ưu đãi để đổi mới thiết bị công nghệ Đối với doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm 100%, tiến hành lập kế hoạch cổ phần hóa để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả

· Đối với những doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, kinh doanh thua lỗ kéo dài mà không cần thiết duy trì sở hữu nhà nước, tùy điều kiện cụ thể áp dụng các hình thức thích hợp sau:

Một là, sáp nhập vào các doanh nghiệp khác

Hai là, đấu thầu công khai cho thuê

Ba là, khoán kinh doanh hoặc bán

Bốn là, giao cho tập thể cán bộ, công nhân với điều kiện đảm bảo công ăn,

việc làm cho người lao động và thực hiện luật pháp của Nhà nước

Năm là, áp dụng luật phá sản

Trang 33

Nghị quyết cũng chỉ rõ, trong khi sắp xếp các loại doanh nghiệp Nhà nước, cần chú ý điều kiện đặc thù của các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa do trình độ kinh tế - xã hội chưa phát triển cần duy trì các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ, củng cố và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả, đóng vai trò trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội trong vùng

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thì hoạt động của các doanh nghiệp nên hướng vào làm dịch vụ chế biến nông, lâm, hải sản và chuyển giao công nghệ cho nông dân Chủ động phát triển thêm một số doanh nghiệp Nhà nước trong lâm, nông nghiệp ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa để làm hạt nhân giúp đỡ các vùng này phát triển kinh tế để cải thiện môi trường xã hội Đổi mới và củng cố các doanh nghiệp theo hướng tăng nhanh khả năng bám trụ dài ngày trên biển; làm dịch vụ ngoài biển và trên bờ để tạo điều kiện cho cư dân ra khơi , bám biển

Trong nghị quyết Đại hội VIII của Đảng xác định “Kinh tế nhà nước thực

hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng trong nền kinh tế” [18; 81] “Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý

vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” [18;93]

Ø Đối với kinh tế tập thể (hợp tác)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định: Phát triển kinh

tế hợp tác với nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác xã; tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ

Hợp tác xã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần có sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên có quyền như nhau đối với công việc chung

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách khuyến khích ưu đãi, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã phát triển có hiệu quả Thực hiện tốt Luật hợp tác xã

Đối với các hợp tác xã đã được hình thành trước đây, Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII chủ trương tùy theo điều kiện cụ thể cần được hướng dẫn đăng ký theo luật hợp tác xã, đổi mới hình thức tổ chức và phương thức hoạt động trên cơ sở

Trang 34

tôn trọng quyền tự chủ của knh tế hộ, hướng hoạt động chủ yếu vào các khâu dịch

vụ

Song song đó còn cần tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế hợp tác của nông dân dưới nhiều hình thức từ thấp tới cao theo nguyên tắc tự nguyện, tự chịu trách anhiệm và

cùng có lợi, quản lý dân chủ và bình đẳng “Đặc biệt khuyến khích các hợp tác xã

được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của các xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần, xã viên có quyền như nhau đối với công việc chung Tạo điều kiện cho hợp tác xã đi vào hoạt động ổn định, sớm vươn lên đóng vai trò nòng cốt trong việc cung cấp các dịch vụ sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn Xúc tiến việc xây dựng các hợp tác xã khai thác hải sản theo đơn vị thuyền nghề, các hợp tác xã chế biến, dịch vụ tại các tụ điểm nghề cá, bến cá nhân dân” [3; 175]

Ø Đối với kinh tế tư bản tư nhân

Đại hội VIII (6/1996) tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục thực hiện kinh tế nhiều

thành phần, khuyến khích mọi cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức phấn đấu đầu tư phát triển, yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài hợp pháp,

có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với tất cả các thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh” [18;83]

Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII quyết định tạo chính sách cho các doanh nghiệp thuê đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, ưu đãi về thuế và tín dụng theo ngành nghề và địa bàn Giúp đỡ tiếp thị thông tin thị trường kịp thời Trợ giúp việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới Đẩy mạnh việc dạy và hướng nghiệp, phát triển có tổ chức thị trường có lao động, kể cả xuất khẩu lao động Khuyến khích phát triển các hiệp hội, câu lạc bộ các nhà doanh nghiệp, có hình thức biểu dương, khen thưởng các nhà doanh nghiệp giỏi

Tiếp tục phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ, kể cả kinh tế tiểu chủ Cần tiến hành phân loại các hộ theo trình độ sản xuất, khả năng tự chủ trong kinh doanh

để có những biện pháp hỗ trợ thích hợp Cần cải tạo, tạo điều kiện khuyến khích, hướng dẫn kinh tế hộ phát trển theo hướng hợp tác

Trang 35

Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh

Ø Đối với kinh tế tư bản Nhà nước

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996) chỉ rõ: Kinh

tế nhà tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài Kinh tế tư bản nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý…của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Áp dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển; tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài Cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư thực tiếp của nước ngoài Bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong các xí nghiệp

Phát triển thành phần kinh tế này bằng cách phát triển các hình thức hợp tác giữa kinh doanh nhà nước và hợp tác xã và nông dân Xây dựng các hiệp hội ngành nghề hoạt động theo cơ chế dân chủ, tự quản, trong đó doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò nòng cốt trong hiệp hội Liên kết giữa Nhà nước với các thành phần kinh tế khác trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và bảo đảm lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể kinh tế Nhà nước chủ động đầu tư và gọi vốn từ các thành phần kinh tế khác để xây dựng doanh nghiệp mới hoặc cải tạo, mở rộng doanh nghiệp hiện có Nghiên cứu, thí điểm việc Nhà nước góp vốn, mua cổ phần của công ty tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước thuê nhà kinh doanh tư nhân quản lý doanh nghiệp.[18;95]

Ø Kinh tế cá thể, tiểu chủ:

Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu

Trang 36

phát triển của xã hôi, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã

Trong công nghiệp: Số lượng doanh nghiệp nhà nước trong công nghiệp năm 1997

là 1.843 doanh nghiệp, năm 2000 là 1.633 doanh nghiệp và năm 2001 là 1.541 doanh nghiệp mặc dù số lượng doanh nghiệp có xu hướng giảm Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước về cơ bản ổn định và có xu hướng tăng từ 704 nghìn người năm 1991, lên 750 nghìn người năm 1995, 777nghìn người năm 1997

và năm 2002 là 877 nghìn người

Nhiều doanh nghiệp tạo được việc làm mới thu hút lao động xã hội, tạo điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, ổn định trong nhiều năm

so với các thành phần kinh tế khác Có được sự tăng trưởng này là do sự tham gia của doanh nghiệp có vốn FDI cao hơn hẳn doanh nghiệp Nhà nước: 1996 là 21,4%; 1997: 20,6%; 1998 là 23,3%; và 2000 là 2,8% Tỷ suất lợi nhuận/vốn năm 1997 là 4,19%; năm 1998 là 3,4%; và năm 2002 trên 4% Đóng góp ,lớn vào nguồn thu ngân sách của Nhà nước và xuất khẩu Năm 1996, đóng góp vào giá trị xuất khẩu là 49,3%; năm 1997 là: 48,0%; năm 1998 là 46,2% Năm 1997 đóng góp vào nguồn thu ngân sách Nhà nước là 47,1%, năm 1998 là 40,7% Tỷ lệ hàng công nghiệp quốc doanh xuất khẩu hai năm 1997-1998 là 18% tổng kim ngạch xuát khẩu hàng công nghiệp cả nước [3;193-194]

Trang 37

Trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp:

Năm 1998, khu vực kinh tế Nhà nước trong nông, lâm nghiệp có 756 đơn vị tạo ra khoảng 2% giá trị sản xuất Năm 2001, theo kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản, cả nước có 881 doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có

190 nông trường, 304 lâm trường, 186 công ty giống cây trồng, 168 công ty thủy nông Các doanh nghiệp Nhà nước trong nông, lâm nghiệp và thủy sản đang sử dụng gần 300 nghìn lao động và 467,3 nghìn ha đất nông nghiệp, trên 3,7 triệu ha đất lâm nghiệp và 74 nghìn ha diện tích nước mặt nuôi trồng thủy sản.Doanh thu bình quân hàng năm đạt 10 tỷ đồng/ doanh nghiệp/ năm, lãi 329,5 triệu đồng/ năm; đóng góp vào ngan sách nhà nước 1 tỷ đồng/năm [3;193]

Góp phần bảo đảm an ninh-quốc phòng cho đất nước, nhất là các vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số…

Ø Kinh tế tập thể:

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta, thành phần kinh tế tập thể, mà cốt lõi là hợp tác xã trong những năm qua đã có sự chuyển biến về nhận thức, quan điểm và chỉ đạo thực tiễn về qua điểm kinh tế tập thể Theo kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm 2001(đến 1-10-2001) cả nước có 7.513 hợp tác xã nông, lâm, thủy sản đã chuyển đổi hoặc thành lập mới theo luật hợp tác

xã năm 1996 Hầu hết các hợp tác xã làm chức năng dịch vụ cho kinh tế hộ và phát huy tác dụng tích cực: Năm 2001 có 66% số hợp tác xã kinh doanh có lãi với mức bình quân 29,7 triệu đồng/ hợp tác xã Doanh thu bình quân 1 hợp tác xã đạt 228 triệu đồng/ năm [3; 199-200]

Trong các ngành và các lĩnh vực khác như thương mại, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tín dụng… Vai trò của các hợp tác xã kiểu mới cũng đã phát huy tác dụng tích cực Các hợp tác xã tín dụng ở nhiều địa phương đã khắc phục tình trạng cho vay nặng lãi, hỗ trợ vốn cho các hộ sản xuất và dịch vụ mở rộng quy mô, phát triển ngành nghề, , nhất là ở khu vực nông thôn, các hộ nghèo Các hợp tác xã dịch vụ điện, cung ứng vật tư hàng hóa ở nông thôn cũng đã phát huy tác dụng tích cực trong phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Trong đó rõ nét nhất là

Ngày đăng: 26/03/2018, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w