1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẢNG bộ TỈNH AN GIANG LÃNH đạo CÔNG tác dân vận TRONG THỜI kỳ đổi mới (2006 2010)

62 365 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu vai trò của Đảng bộ An Giang trong công tác vận động quần chúng thời kỳ đổi mới, và quá trình thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước của Đảng bộ tỉnh An Giang trong giai đo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV:6077777

Lớp: SP.GDCD- K33

Cần Thơ, 05/2011

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3.Mục đích nghiên cứu 2

4.Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 2

5.Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

6.Đóng góp của đề tài 3

7.Kết cấu của đề tài 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1 Khái niệm về dân vận và công tác dân vận 4

1.2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin về công tác dân vận 4

1.3.Tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác dân vận 9

1.4.Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận 12

CHƯƠNG II: ĐẢNG BỘ TỈNH AN GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY (2006-2010) 18

2.1 Vài nét về đất và người An Giang 18

2.2 Thực trạng công tác dân vận của Đảng bộ An Giang thời gian trước 2006 19

2.3 Vai trò của Đảng bộ An Giang trong công tác dân vận thời kỳ đổi mới giai đoạn (2006-2010) 23

2.3.1 Nhu cầu tất yếu đặt ra 23

2.3.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ An Giang 25

2.4.Quá trình thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ An Giang trong thời kỳ đổi mới (2006-2010) 29

2.5 Một số giải pháp và bài học kinh nghiệm 49

Trang 3

PHẦN KẾT LUẬN 55

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Gần 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Bộ mặt thành thị, nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống của nhân dân thay đổi rõ rệt; dân chủ trong Đảng, trong xã hội mở rộng; lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng thêm vững chắc Kết quả đó thể hiện sự lãnh đạo vững vàng, đường lối đổi mới đúng đắn cũng như công tác vận động tập hợp quần chúng năng động của Đảng ta

Song, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay cũng đang đặt ra cho công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác dân vận nói riêng nhiều vấn đề cần nghiên cứu làm rõ để tiếp tục đổi mới, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới hiện nay

Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ An Giang luôn xem công tác dân vận là trọng yếu và thường xuyên cần đảm bảo thực hiện tốt trong mọi lúc mọi nơi ở An Giang hiện nay Vì An Giang là tỉnh có đường biên giới giáp với Vương quốc Campuchia, có đồng bào dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer sinh sống nên công tác dân vận phải được triển khai thực hiện một cách mạnh mẽ để có thể đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ mới hiện nay trong đó có việc chống lại chiến dịch “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch bên ngoài

Mặc dù, công tác dân vận của tỉnh trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan, hầu hết nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc, tôn giáo đều thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước ta Thế nhưng, vẫn còn đại đa số người dân vẫn chưa hiểu hết những chính sách của Đảng và chủ trương, pháp luật của Nhà nước, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do công tác dân vận vẫn chưa được thực hiện quán triệt từ khắp địa phương Là một người dân sinh ra và lớn lên trên mảnh đất An Giang, nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân vận trong việc phát triển kinh tế và ổn định chính trị của địa phương nói riêng và cả nước nói chung Do đó, em quyết định chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới (2006 – 2010) làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Trong thời gian qua đã có rất nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề dân vận và công tác dân vận, như:

- “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận trong thời kỳ mới của Nguyễn Thị Cận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; nói về quyền hạn và lợi ích của dân trong bài báo dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

- “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”; trình bày vai trò của công tác dân vận, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công

- “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận vào việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc, của Bùi Đình Phong, Tạp chí cộng sản, 2003; trình bày về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận vào việc thực hiện chính sách đại đòan kết dân tộc, công tác dân vận góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc

- “Công tác dân vận của cơ quan Nhà nước trong thời kỳ mới”, chủ biên Nguyễn Tiến Thinh, Nxb Tư Pháp, 2005; trình bày về nội dung, hình thức, kinh nghiệm ở một địa phương về công tác dân vận ở chính quyền

- “Thái độ và phong cách cán bộ dân vận” của Phạm Văn Tản,Tạp chí dân vận 2000; trình bày về nội dung phẩm chất người cán bộ dân vận, vì công tác dân vận thành công hay không là do ở cán bộ tốt hay xấu

Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết về công tác dân vận Tuy nhiên, các bài viết chỉ nói về công tác dân vận chung của cả nước, không có tính đặc thù của một địa phương cụ thể Đề tài em nghiên cứu về công tác dân vận ở An Giang (2006 – 2010) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nhưng, những bài viết trên là nguồn tư liệu quý báu để em kế thừa trong quá trình làm luận văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Nhằm khẳng định vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, đồng thờì tìm hiểu rõ hơn công tác vận động quần chúng của Đảng bộ An Giang theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

Nghiên cứu vai trò của Đảng bộ An Giang trong công tác vận động quần chúng thời kỳ đổi mới, và quá trình thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước của Đảng

bộ tỉnh An Giang trong giai đoạn 2006 -2010 về việc vận động quần chúng nhân dân

Nhiệm vụ nghiên cứu

 Làm rõ quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động quần chúng

 Làm rõ vai trò của Đảng bộ An Giang trong công tác dân vận thời kỳ đổi mới giai đoạn 2006-2010

 Làm rõ kết quả đạt được của Đảng bộ tỉnh trong công tác dân vận

 Rút ra bài học kinh nghiệm và giải pháp cho công tác dân vận của tỉnh trong những năm tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng chủ yếu phương pháp lịch

sử, logic và các phương pháp phối hợp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp tra cứu sách vở, phương pháp tìm kiếm thông tin trên mạng của tạp chí cộng sản, tạp chí dân vận

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài nghiên cứu việc Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới, góp phần làm rõ hơn việc quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác vận động quần chúng Giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng của quần chúng trong sự nghiệp CNH-HĐH, đổi mới đất nước Rút ra được bài học kinh nghiệm và đưa ra những biện pháp kịp thời tiến bộ hơn trong việc nâng cao và đổi mới chất lượng công tác vận động quần chúng, để thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, chống lại âm mưu phá hoại của kẻ thù

7 Kết cấu của luận văn: Gồm có 3 phần

Ngoài phần mở đầu và kết luận Luận văn có 2 chương, 11 tiết, 58 trang

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm về dân vận và công tác dân vận

Theo Hồ Chí Minh: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những công việc chính phủ và đoàn thể giao cho" [28, tr4]

Còn theo TS, Phó Vụ trưởng Vụ đoàn thể, Ban dân vận Trung ương Võ Thị Mai thì Dân vận là tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Dân vận còn có nghĩa là làm gương trước dân Nói theo nghĩa thông thường thì, dân vận là công tác dân vận của các tổ chức dân vận của Đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị nói chung và của cả hệ thống xã hội nói riêng Nói tóm lại, mục tiêu cao nhất của dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là vì dân Do đó, mọi hành động của chúng ta phải vì dân và mang lại hiệu quả thiết thực cho dân Công tác dân vận được xem là công việc (hay còn gọi là nhiệm vụ chính trị) của các tổ chức đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội cần phải làm tròn trước Đảng và nhân dân Ví dụ như, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đạo đức, tác phong, lối sống văn hóa, văn minh theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI cũng chỉ rõ: “Các cấp ủy

từ Trung ương đến cơ sở phải nắm vững và làm đúng chức năng lãnh đạo của mình bằng phương pháp dân chủ, kiên quyết khắc phục tình trạng bao biện công việc của Nhà nước, của các đoàn thể quần chúng” Công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới là công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế [42, tr 2]

1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác dân vận

Vấn đề chính quyền cách mạng của giai cấp vô sản làm công tác quần chúng, Mác và Ăngghen đề cập chưa nhiều và chưa cụ thể, vì các ông chỉ chứng kiến sự ra

Trang 8

đời và tồn tại của Công xã Pari trong một thời gian ngắn ngủi Tuy nhiên, những tư tưởng chung, tổng quát của Mác và Ăngghen về vai trò quần chúng nhân dân và về công tác vận động quần chúng, trong đó có những tư tưởng liên quan đến vấn đề chính quyền với công tác dân vận, vẫn là những tư tưởng rất khoa học, phù hợp với lịch sử và ngày nay vẫn mang tính thời sự, vẫn là kim chỉ nam cho mọi việc nghiên cứu và thực hành công tác dân vận

Mác và Ăngghen đánh giá cao vai trò, lực lượng và khả năng của giai cấp bị áp bức trong xã hội có đối kháng giai cấp Giai cấp đó là lực lượng sản xuất lớn nhất trong tất cả các lực lượng sản xuất của xã hội Giai cấp đó có bản chất cách mạng

“Là một khối đông đảo quần chúng cách mạng đang làm cách mạng” Giai cấp đó là

“những yếu tố vật chất” không thể thiếu của một cuộc cách mạng toàn diện “Nếu không có những yếu tố vật chất ấy của một cuộc cách mạng toàn diện thì như lịch

sử của chủ nghĩa cộng sản đã chứng tỏ, ý niệm về cuộc cách mạng đó có được phát biểu hàng trăm lần đi nữa, cũng hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì đối với sự phát triển thực tế cả''

Theo Mác – Ăngghen, quần chúng nhân dân đóng vai trò đặc biệt quan trọng là

có thể chuyển hóa những tư tưởng, lý luận cách mạng thành hiện thực cách mạng và những cuộc cách mạng, có vai trò cực kỳ to lớn, như Mác đã từng khẳng định cách mạng là “những đầu tàu của lịch sử”

Như vậy quần chúng nhân dân không những là lực lượng sản xuất cơ bản của

xã hội, trực tiếp sáng tạo ra mọi của cải vật chất của xã hội, mà còn là người quyết định vận mệnh của lịch sử, có sứ mệnh phá đi cái cũ lạc hậu, dựng nên cái mới tiến

bộ Lịch sử xã hội phát triển, có những bước quanh co phức tạp, nhiều khi hỗn loạn, nhưng rồi lại ổn định theo một trật tự nào đó Và điều đó chính là nhờ hoạt động của quần chúng, như Ăngghen đã từng nói: “Quần chúng là những người đã đưa được mọi việc trở lại nề nếp”

Tuy nhiên, quần chúng nhân dân là một khối đông đảo, không thuần nhất gồm nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, có đặc điểm và vị trí, vai trò khác nhau Mác – Ăngghen chú trọng trước hết giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử “là

Trang 9

người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”, cho nên trong quá trình cách mạng vô sản, “ bản thân quần chúng công nhân là điểm tựa tốt nhất” [33, tr 676]

Ăngghen viết: “Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản trí thức phải hình thành từ hàng ngũ sinh viên, bên cạnh và trong hàng ngũ những người bạn của nó – các công nhân thủ công nghiệp – giai cấp ấy có sứ mệnh phải đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới Sự nghiệp giải phóng công nhân đòi hỏi phải có những bác sĩ, kỹ sư, nhà hóa học, nông học và các chuyên gia khác, vấn đề là ở chỗ giành chính quyền lânh đạo không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn phải toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần đến những kiến thức vững chắc, chứ không phải là những luận điệu huyênh hoang, rỗng tuyếch [34, tr552 – 553]

Bên cạnh giai cấp công nhân, Mác – Ăngghen đặc biệt quan tâm đến nông dân với vị trí, vai trò rất quan trọng: “là một nhân tố rất cơ bản của dân cư, của nền sản xuất và của chính quyền” [34, tr 563]

Các ông cho rằng nếu chính quyền vô sản xác định được lập trường đối với nông dân thì sẽ có mọi tiêu điểm để xác định được thái độ của mình đối với những thành phần khác trong dân cư Ăngghen khẳng định lập trường và hành động đối với nông dân “ một khi chính quyền đã về tay chúng ta” thể hiện ở hai điểm:

Một là, mặc dù thấy trước rằng tiểu nông không tránh khỏi bị tiêu vong, nhưng tuyệt nhiên không có nhiệm vụ làm cho tiểu nông mau đi đến chỗ tiêu vong

Hai là, không thể nghĩ đến dùng bạo lực để tước đoạt tiểu nông (dù có hoặc không có bồi thường cũng vậy) như đã phải tước đoạt đối với bọn địa chủ

Theo Mác và Ăngghen, Đảng và chính quyền giai cấp vô sản rất cần thiết phải tiến hành công tác vận động quần chúng, vì:

Một là, quần chúng nhân dân có lực lượng và có khả năng to lớn, mà cách mạng vô sản muốn bảo đảm thắng lợi lâu dài cần phải tranh thủ: “Những người xã hội chủ nghĩa càng ngày càng hiểu rõ rằng họ không thể thu được thắng lợi lâu dài, nếu trước đó không tranh thủ được đông đảo quần chúng nhân dân” [34, tr 618] Hai là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng chính bản thân quần chúng cũng có những hạn chế về nhận thức, cần phải được tuyên truyền giáo dân để

Trang 10

hiểu rõ mục đích lý tưởng và trách nhiệm của mình: “Ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn tổ chức xã hội, thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình hiểu rõ là vấn đề gì, vì sao mình phải tham gia vào công cuộc cải tạo ấy, với cả thể xác lẫn sinh mệnh của mình Đó là điều mà lịch sử trong 50 năm gần đây đã dạy chúng ta Nhưng muốn cho quần chúng hiểu rõ là phải làm gì thì phải tiến hành một công tác lâu dài kiên nhẫn” [33,

tr 617] Ăngghen còn nhận xét rằng, ngay cả ở Pari, sau thắng lợi, chính những quần chúng vô sản cũng còn tuyệt đối chưa có một ý niệm gì rõ ràng về con đường phải đi theo Do đó, công tác giáo dân, vận động quần chúng vẫn phải được tiếp tục

Ba là, quần chúng đông đảo là những người hăng hái nhiệt tình cách mạng, nhưng cách mạng là một quá trình lâu dài, gian khổ, khó khăn có những lúc tạm thời thất bại, khiến cho quần chúng nhiều khi mệt mỏi, thậm chí thất vọng Vì vậy vần phải thường xuyên tiến hành công tác vận động quần chúng vì lợi ích thực sự của chính quần chúng Trong lời nói đầu đấu tranh giai cấp ở Pháp, Ăngghen khẳng định: “Tinh thần cách mạng của quần chúng hầu như luôn luôn rất nhanh chóng nhường chỗ cho sự mệt mỏi hay thậm chí cho sự chuyển sang một hướng ngược lại khi mà ảo tưởng đã bị tiêu tan mà niềm thất vọng đã nảy sinh Nhưng vấn đề ở đây không phải là những bề ngoài giả dối mà trái lại là sự thực hiện những lợi ích đặc biệt nhất của chính quyền, những lợi ích từ lúc bấy giờ chưa được đại đa số quần chúng nhận rõ, trong quá trình thực hiện thực tế” [38, tr 603]

Lý luận của Lênin về vấn đề chính quyền (không tách rời Đảng cầm quyền) làm công tác vận động quần chúng, so với lý luận của Mác – Ăngghen, đã có sự mở rộng, phát triển và cụ thể hơn

Lênin cho rằng, trong những thời kỳ cách mạng, quần chúng nhân dân tỏ ra là người tích cực sáng tạo ra những trật tự xã hội mới, có thể làm được những kỳ công Trong những lúc như thế, các nhà lãnh đạo “ cần phải biết đề ra các nhiệm vụ của mình một cách rộng lớn hơn và mạnh bạo hơn; cần phải làm sao cho những khẩu hiệu của họ luôn đi trước được tính chủ động cách mạng của quần chúng, chỉ rõ tất

cả sự đẹp đẽ và cao quý của lý tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa của chúng ta,chỉ rõ

Trang 11

con đường thẳng nhất và ngắn nhất để đi tới thắng lợi hoàn toàn, tuyệt đối quyết định” [38, tr 131]

Lênin cho rằng Đảng lãnh đạo và chính quyền giáo dân, tuyên truyền để thu hút quần chúng một cách toàn diện những tầng lớp rộng rãi nhất dù trình độ của họ như thế nào để họ tham gia vào tất cả các công việc hoạt động xã hội, tự giác và cách mạng “ Nhất thiết phải công tác ở bất cứ nơi nào có quần chúng Phải biết tự nguyện chịu mọi hy sinh, vượt qua mọi trở ngại lớn nhất để tiến hành công tác tuyên truyền và cổ động có hệ thống, bền bĩ, dẻo dai và nhẫn nại, chính ngay trong các cơ quan, các hội, các tổ chức- thậm chí phản động nhất – nghĩa là bất cứ nơi nào

có quần chúng vô sản hay nữa vô sản” [40, tr 47]

Lênin chỉ rõ liên minh công – nông có vai trò hết sức quan trọng để tập hợp đa

số dân cư, “bảo đảm cho chính quyền một sự ủng hộ vững chắc” [30, tr 315] Và điều kiện để xây dựng được chế độ xã hội chủ nghĩa là “ khi quần chúng đông đảo gấp 10 lần, gấp 100 lần trước tự bắt tay vào việc xây dựng nhà nước và đời sống kinh tế mới” [41, tr 523]

Lênin cho rằng cách thức tuyên truyền vận động quần chúng là phải biết chỉ dẫn và giải thích cụ thể cho quần chúng biết rõ những khó khăn, phải dùng hết tinh thần nghị lực vượt qua để thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể Đó cũng chính là nguyên nhân thắng lợi của Đảng, của chính quyền Xô viết: “Nguyên nhân những thắng lợi của chúng ta là ở chỗ Đảng và chính quyền Xô viết đã chỉ ra cho quần chúng lao động thấy hết mọi khó khăn trước mắt và nhiệm vụ trước mắt; đã biết giải thích cho quần chúng hiểu vì sao lúc này phải dồn hết sức cố gắng cho mặt này, lúc khác lại dồn hết sức cố gắng cho mặt kia của công tác Xô viết; đã biết phát huy nghị lực, tinh thần anh dũng và nhiệt tình của quần chúng, tập trung sức cố gắng cách mạng cao độ vào nhiệm vụ trước mắt, quan trọng nhất” [39, tr 346]

Lênin đã nhiều lần chỉ ra nguy cơ xa rời quần chúng đối với một đảng cầm quyền và chính quyền cách mạng Người cho rằng nếu Đảng và chính quyền Xô viết quên mất và tự cắt đứt những mối liên hệ khắng khích với quần chúng thì đó chính là một trong những nguy hiểm lớn nhất, đáng sợ nhất và là một tai họa thật

sự Vì vậy, theo Lênin để đảm bảo cho sự nghiệp đi đến thắng lợi hoàn toàn, Đảng

Trang 12

và chính quyền cách mạng không được xa rời quần chúng mà thường xuyên vẫn phải:

“Liên hệ với quần chúng

Sống trong lòng quần chúng

Biết tâm trạng quần chúng

Biết tất cả

Hiểu quần chúng

Biết đến với quần chúng

Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng” [41, tr 608]

Từ thực tế đời sống và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, của công tác vận động quần chúng, Lênin đã chỉ rõ phương châm làm công tác vận động quần chúng một cách có hiệu quả là: “Phải sống sâu vào đời sống công nhân, phải biết tường tận đời sống công nhân, biết xác định một cách chắc chắn bất cứ trong vấn đề nào, trong lúc nào tâm trạng của quần chúng, những nhu cầu những ý nghĩa thật sự của

họ, biết nhận định rõ mà không mãi may lý tưởng hóa trình độ giác ngộ của họ và sức mạnh ảnh hưởng của những thiền kiến hay những tàn dư nào của quá khứ, biết chiếm được lòng tin cậy vô bờ bến của quần chúng bằng một thái độ ái hữu đối với

họ, bằng cách quan tâm thỏa mãn nhu cầu của họ” [41, tr 426]

Lênin khẳng định rằng liên hệ với quần chúng, là làm tốt công tác vận động quần chúng, là một nguyên nhân bảo đảm uy tín của Đảng: “Uy tín của Đảng sở dĩ duy trì được là do tín nhiệm của giai cấp công nhân Mà tín nhiệm của giai cấp công nhân không phải do bạo lực mà có được – bạo lực chỉ có thể phá hoại sự tín nhiệm

đó thôi – mà phải do lý luận đúng đắn của Đảng, chính sách đúng đắn của Đảng, do lòng trung thành của Đảng đối với giai cấp công nhân, do mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng giai cấp công nhân, do Đảng có tự nguyện và có năng lực thuyết phục quần chúng tin vào khẩu hiệu đúng đắn của mình không” [38, tr 52 – 53]

1.3 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác dân vận

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy, kính yêu của Đảng, dân tộc ta và nhân dân ta luôn hết sức quan tâm, coi trọng công tác dân tộc và vận động nhân dân Bài viết “Dân vận” của Bác đăng trên báo “Sự thật” ngày

Trang 13

15/10/1949 thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác vận động nhân dân nhất là các dân tộc trong đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Trong bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm, tư tưởng, phương châm, nội dung và mục tiêu công tác vận động nhân dân rất sâu sắc,

có tính chỉ đạo chiến lược Trước hết, Bác khẳng định vai trò cực kỳ to lớn, quan trọng của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, Bác luôn cho rằng: Sự nghiệp cách mạng là của toàn dân, phải lấy dân làm điểm xuất phát, mọi lực lượng và sức mạnh đều ở trong nhân dân Dân vận là “vận động lực lượng ở mỗi người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng của toàn dân”, là làm cho dân được làm chủ, được hưởng quyền dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Nước lấy dân làm gốc, gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [25,tr 50] “Lực lượng của nhân dân rất to, việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công.”

Suốt chặng đường dài lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu luôn kiên định phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân Luôn luôn dựa vào dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân Quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người” Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng phải dựa vào dân, làm tốt công tác truyên truyền vận động nhân dân phát huy sức mạnh của toàn dân, thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, của Chính phủ,tức là biết làm tốt công tác “vận động quần chúng” - “dân vận khéo” Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phấn đấu cho quyền lợi của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân Bác luôn tin tưởng ở dân Theo tư tưởng của Bác: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra, đoàn thể

từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều

ở nơi dân” Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và vì dân nên luôn chăm lo, củng cố cái “Gốc” để xây dựng Đảng, chính quyền

Trang 14

vững mạnh Kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng làm tổn hại đến mối quan hệ , gắn bó giữa Đảng với nhân dân Đảng đã xây dựng được căn cứ địa cách mạng vững chắc của mình trong lòng dân nên đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Theo Bác, để phát huy vai trò, trí tuệ, khả năng to lớn, quan trọng của quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân các dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đảng, Nhà nước, cũng như mọi cán bộ, đảng viên của Đảng muốn tổ chức, lãnh đạo được nhân dân thì phải biết làm tốt công tác giáo dân, tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ và vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Giúp họ hiểu được đầy đủ, sâu sắc

về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân đối với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc, từ đó giúp họ tích cực, chủ động, tự giác, tự nguyện phấn đấu và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trước hết, phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người dân hiểu rõ rằng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được Điểm thứ hai, là bất kỳ việc gì đều phải bàn với dân, cùng với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành”

Bác khẳng định: “Trách nhiệm đối với công tác dân vận, công tác vận động quần chúng là công việc thường xuyên của Đảng, của Nhà nước Song, trước hết và chủ yếu là trách nhiệm thường xuyên của từng tổ chức Đảng, của cán bộ, của Đảng viên Bác viết: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận” Quan điểm này của Bác còn giúp cho mọi tổ chức Đảng, cán bộ, Đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực chủ động, sáng tạo để luôn có biện pháp vận động quần chúng phù hợp, thiết thực có hiệu quả

Theo Bác, để làm tốt công tác dân vận, công tác vận động quần chúng nhất là ở những vùng dân tộc thiểu số, nhằm phục vụ thắng lợi sự nghiệp cách mạng, mỗi tổ

Trang 15

chức Đảng, mỗi cán bộ, Đảng viên phải có phương pháp, tác phong công tác dân vận khoa học, sâu sát, tỉ mỉ và thiết thực

Tuyệt đối không được làm công tác vận động quần chúng một cách qua loa, đại khái, giản đơn; nhất là phải tránh những biểu hiện: “lời nói không đi đôi với việc làm; nói một đằng làm một nẻo, hoặc đánh trống bỏ dùi” Bác chỉ rõ: “Những người phụ trách công tác dân vận cần phải có óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ phải thật thà nhúng tay vào việc” Phải: “hiểu được nguyện vọng của dân, hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân Nhưng có việc dân không muốn mà phải làm như tản

cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân, muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết” [23, tr 55]

Đồng thời, trong công tác vận động quần chúng, cần kiên quyết phê phán và khắc phục những nhận thức và những hành động sai lầm như:

 Xem khinh công tác dân vận;

 Làm sai chỉ thị của Chính phủ;

 Xa rời dân, không hiểu dân;

Chỉ dùng mệnh lệnh, thậm chí ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ, không biết tuyên truyền cổ động “Cái lối làm việc nhu thế chỉ có hại, nó làm cho chúng ta không đi sát phong trào, không hiểu rõ tình hình bên dưới, cho nên phần nhiều những chủ trương của chúng ta không thi hành được đến nơi đến chốn” Do đó, mỗi cán bộ phụ trách công tác dân vận phải tận tụy với công việc, làm với tất cả tấm lòng của mình, chứ không phải làm để lấy lệ, làm để đối phó Tất cả phải vì nhân dân mà phục vụ,

vì “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”

1.4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn luôn chú trọng đến công tác dân vận, nhằm đoàn kết, tập hợp, tuyên truyền, vận động quần chúng thành lực lượng đông đảo, tham gia các phong trào cách mạng Vừa mới ra đời, Đảng ta đã lãnh đạo phong trào cách mạng 1930- 1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh, tiếp đó là các phong trào

Trang 16

Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận phản đế, Mặt trận Việt Minh…Thông qua các phong trào, Đảng ta đã xây dựng, phát triển lực lượng chính trị ngày càng đông đảo, hùng hậu và phong phú với đầy đủ các thành phần, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, tầng lớp nhân dân, kết hợp với lực lượng vũ trang, chớp thời cơ làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, giành độc lập tự do cho Tổ Quốc xây dựng nhà nước công- nông đầu tiên ở Đông Nam Á

Giai đoạn 1945- 1975, công tác dân vận của Đảng đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động, tổ chức những phong trào cách mạng rộng lớn và sôi động nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân làm nên những chiến thắng vẻ vang, những chiến công hiển hách thu non sông về một mối, đưa cả nước

đi lên chủ nghĩa xã hội

Tại Đại hội V, Đảng ta tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng Sau đó, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết chỉ đạo công tác quan trọng này: ngày 18/04/1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V ra Chỉ thị số 17-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” Chỉ thị nêu rõ: trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất, vừa có tính liên hiệp rộng rãi, vừa có tính quần chúng sâu sắc…là sợi dây nối liền các tầng lớp xã hội rộng rãi với Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, được xây dựng trên cơ sở công nông liên minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Chỉ thị số 53 ngày 28/11/1984 của Ban Bí thư về tăng cường công tác quần chúng của Đảng

Đại hội VI của Đảng mở ra thời kỳ đổi mới đất nước, trong đó có công tác dân vận Đại hội đã rút ra bốn bài học lớn, trong đó có bài học quan trọng là: “ Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “ lấy dân làm gốc”; xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động; phải đặc biệt chăm lo củng

cố mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân” [17, tr 354] Hội nghị lần thứ VIII BCH Trung ương( khóa VI) đã ban hành Nghị quyết Trung ương 8B “về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” Nghị quyết đã đề ra 4 quan điểm chỉ đạo: một là, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân

Trang 17

và vì dân; hai là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân; ba là, các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; bốn là, công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể Ngày 27/3/1990 Hội nghị lần thứ VIII BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam( khóa VI) đã ra Nghị quyết về “ Đổi mới công tác vận động quần chúng của Đảng, tăng cường mối liên

hệ giữa Đảng và nhân dân” Về yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, Nghị quyết nêu rõ: Phải làm sao để nhân dân cảm nhận được Đảng bảo vệ lợi ích cho dân và quyền làm chủ của dân được Đảng tôn trọng và phát huy

Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã rút ra năm bài học lớn, trong đó có bài học

“ Sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và vì dân” ; “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế” [18, tr 349] Hội nghị lần thứ III BCH Trung ương (khóa VII) đã ban hành Nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó chỉ rõ trách nhiệm của các tổ chức Đảng là phải quan tâm chăm lo công tác dân vận và mọi Đảng viên điều phải làm công tác dân vận, hệ thống chính quyền có trách nhiệm dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động cho phù hợp với tình hình đổi mới của đất nước

Tại Đại hội VIII, Đảng ta đã xác định phải thực hiện phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước [19, tr 327] Bộ Chính trị BCH Trung ương (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30 – CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Chỉ thị này là một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, được ban hành đúng lúc, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân, được nhân dân hưởng ứng rộng rãi, đi vào cuộc sống Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Đảng, Nhà nước, các cấp ủy Đảng tiếp tục có những văn bản nhằm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn công tác tổ chức, vận động quần chúng, nhân dân Bám sát nội dung chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương lần thứ III (khóa 8), các cơ quan dân cử, đại biểu của nhân dân phát huy tinh thần

Trang 18

trách nhiệm trong công việc xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh Cải tiến cách thức để nhân dân tham gia thảo luận và đóng góp ý kiến vào các dự án luật, các dự thảo nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước thật sự thiết thực và có hiệu quả; tránh làm hình thức tràn lan, tốn kém Làm tốt công tác dân vận gắn với công tác quản lý, điều hành của chính quyền, có nghĩa là làm tốt công tác vận động, thuyết phục để nhân dân hiểu và tham gia mọi hoạt động của chính quyền; biết đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, thực hiện dân chủ, chấp hành đầy đủ với tính sáng tạo khi vận dụng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước một cách

có hiệu quả nhất Kết hợp với biện pháp quản lý hành chính, biện pháp kinh tế để không ngừng củng cố bộ máy chính quyền vững mạnh, chăm lo xây dựng đời sống nhân dân được nâng cao Đúng như Bác Hồ nói: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”

Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị [20, tr 248] Hội nghị lần thứ VII BCH Trung ương ( khóa IX) đã ban hành ba Nghị quyết:

về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; về công tác dân tộc ; về công tác tôn giáo Đây là những Nghị quyết rất quan trọng thể hiện sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, thiết thực đối với công tác vận động quần chúng, đối với từng giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo Việc không ngừng đổi mới, hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo đã góp phần quan trọng vào dân chủ hóa xã hội và thành công của công tác dân vận những năm qua

Đảng ta luôn luôn quan tâm tăng cường bộ máy, tổ chức, cán bộ làm công tác vận động quần chúng Ngay từ khi được thành lập, trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, khó khăn, nguy hiểm, các đảng viên của Đảng đã lăn lộn trong phong trào quần chúng; gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân che chở, bảo vệ, giúp đỡ Trong tất cả các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã cử những đồng chí cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, trưởng thành từ phong trào quần chúng phụ trách công tác dân vận của Đảng Hệ thống bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác tham

Trang 19

mưu, vận động quần chúng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, hoạt động ngày càng có hiệu quả, nề nếp Ngày 17/3/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban Dân vận Trung ương, “là cơ quan tham mưu chiến lược về công tác dân vận” Ngày 9/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Quyết định yêu cầu “Phải kiện toàn Ban Dân vận Trung ương và tỉnh, thành phố; ở cấp huyện, lập Khối Dân vận do đồng chí ủy viên Ban thường vụ phụ trách; phải có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ dân vận và cán bộ đoàn thể” Ngày 25/5/2000 Ban Tổ chức Trung ương - Ban Dân vận Trung ương ban hành hướng dẫn 01 “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương” Nghị quyết Đại hội X của Đảng khẳng định “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng

là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21, tr 357] Để đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng hiện nay, “đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”, công tác dân vận của Đảng cần được tăng cường hơn nữa, trước hết góp phần thực hiện tốt một số nội dung, nhiệm vụ sau đây:

Một là, quán triệt và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân

Hai là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Ba là, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, thực hành dân chủ, chăm lo lợi ích, phát huy nhân tố con người phải trở thành mục tiêu hàng đầu của công tác vận động quần chúng

Bốn là, không ngừng đổi mới hình thức và phương pháp vận động quần chúng phù hợp với đặc điểm tình hình mới, từng đối tượng, điều kiện cụ thể

Năm là, công tác vận động quần chúng nhân dân là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị

Trang 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả các hội viên của tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh,…) đều phụ trách Dân vận” Ngày nay, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đã và đang vận hành có kết quả trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến

cơ sở

Sáu là, quan tâm xây dựng, kiện toàn Ban Dân vận các cấp, các ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác vận động quần chúng

Trang 21

CHƯƠNG II ĐẢNG BỘ TỈNH AN GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (2006- 2010)

2.1 Vài nét về đất và người An Giang

An Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc, thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, phía Tây Bắc giáp với Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp, Phía Nam giáp với thành phố Cần Thơ và phía Tây Nam giáp với tỉnh Kiên Giang, với thế mạnh là trồng lúa và nuôi thủy sản, ngoài ra An Giang còn có nhiều ngành nghề khác như cơ khí, thương mại dịch vụ, công nghiệp xây

dân số là 2.217.488 người, 455.901 hộ, đây là tỉnh có dân số đông nhất ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, có đường biên giới dài hơn 100km; dân số nông thôn chiếm khoảng 87%, có khoảng 13% ở thành thị Hằng năm, ở An Giang lượng mưa cũng khá lớn đây cũng là điều kiện quan trọng để phá triển nông nghiệp Tỉnh An Giang gồm có 01 thành phố trực thuộc tỉnh, 02 thị xã và 08 huyện Là tỉnh đầu nguồn của hai con sông Tiền và sông Hậu nên vùng đất An Giang hàng năm luôn được phù sa của hai con sông này bồi đắp làm cho đất đai ở đây màu mỡ và trù phú, nhưng cũng với hai con sông này làm cho người dân cũng khốn khổ vô cùng, với lượng nước hàng năm gây nên lũ lụt, sạt lỡ đất, dịch bệnh gây mất mùa, cho nên cuộc sống người dân ở đây cũng hết sức khó khăn nhất là những người nông dân vì

họ chủ yếu sống bằng nghề nông Mặt khác, An Giang còn có nhiều vùng đất đai bị nhiễm phèn nặng, không thể phát triển kinh tế bền vững và nhanh chóng như các vùng khác làm cho mức độ phát triển kinh tế của tỉnh không được đồng đều Ngoài

ra, cơ sở hạ tầng của tỉnh cũng còn yếu kém, kinh rạch còn chằng chịt, giao thông đi lại cũng còn khó khăn, đã tác động không nhỏ đến sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh vẫn còn chậm, lao động thiếu việc làm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn khá cao, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển chung của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung [15, tr 1-3]

Ngoài ra, do có 4 dân tộc anh, em sinh sống đó là Kinh, Hoa, Chăm, Khơmer nên ở An Giang các cộng đồng dân tộc sống vừa xen kẽ với nhau vừa tập trung ở các cụm dân cư, cơ cấu dân số và phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không

Trang 22

đồng đều và chênh lệch khá xa Đồng bào dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn

và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, người Khmer có bản sắc văn hóa truyền thống riêng, độc đáo, được lưu trữ lâu đời và gắn liền với tập tục sinh hoạt tôn giáo, Phật giáo Nam Tông là đạo chinh thống; bản tính cần cù , chăm chỉ sáng tạo trong lao động, chất phác giàu lòng yêu thương quê hương, làng xóm, kính trọng và gần gũi với các vị sư sãi, sống gắn bó với chùa chiền, phum sóc, xem chùa chiền là nơi gửi gấm tâm linh, nhưng đời sống kinh tế vùng đồng bào Khmer còn chậm phát triển chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi gia đình và làm thuê mướn theo thời vụ Đồng bào dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Phú Tân, Châu Phú và Châu Thành Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước

Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia Nguồn thu nhập chính nghề bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống Còn đồng bào dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới, chủ yếu làm nghề kinh doanh, dịch vụ thương mại, tập trung thành cộng đồng

ở các khu vực trung tâm thị trấn,thị xã, bản sắc văn hóa có đặc thù riêng tổ chức thành cộng đồng, đồng bào Hoa có truyền thống đoàn kết tương trợ trong cộng đồng giúp nhau vượt qua khó khăn, kinh doanh thành đạt và làm giàu, cần cù, chịu khó, năng động nhạy bén trong thương mại, trọng chữ tín trong kinh doanh; chú trọng việc tôn tạo chùa chiền, đình miếu, tuy nhiên trong bộ phận đồng bào Hoa còn tư tưởng an phận, ngại tham gia các tổ chức chính trị xã hội [45, tr1]

2.2 Thực trạng công tác dân vận của Đảng bộ An Giang thời gian trước

2006

Trang 23

Công tác dân vận ở tỉnh ta trong các cấp ủy những năm qua đã có sự chuyển biến rõ nét, quan tâm lãnh đạo chỉ đạo bằng chủ trương, chính sách cụ thể nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tốt hơn

Các cấp ủy tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và tăng cường công tác dân vận của Đảng, từ đó, đã tạo được sự chuyển biến , nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng trong hệ thống chính trị, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố Các phong trào hành động cách mạng của quần chúng, khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng được tăng cường, dân chủ được phát huy, kinh

tế - xã hội phát triển, an ninh trật tự được giữ vững

Chuyển tải được các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến tận người dân, làm cho nhân dân hiểu và nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tổ chức động viên nhân dân tự giác thực hiện thắng lợi các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết, quy định của chính quyền địa phương

Tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, tập trung thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân như: xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chương trình dự án phát triển kinh tế -

xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh; tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng được củng cố và tăng cường; việc xây dựng lực lượng cốt cán ở cơ sở ngày càng được nâng chất; từng bước củng cố và kiện toàn các Ban chỉ đạo “ Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”, “Xây dựng đời sống văn hóa”, công tác tôn giáo,…tỉnh đã ban hành chính sách hỗ trợ hàng tháng đối với cán bộ công tác Mặt trận, chi hội các đoàn thể

ở khóm, ấp và chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho cán bộ chuyên trách ở

cơ sở Từ đó, đã tạo sự phấn khởi, nâng cao hiệu quả công tác đối với cán bộ làm công tác vận động quần chúng ở địa bàn dân cư

Cấp ủy các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả các vụ việc phức tạp liên quan đến tình hình dân tộc, tôn giáo; các vụ tranh chấp, khiếu kiện kéo dài Quan tâm lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hội nhập, gắn với

Trang 24

phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn; cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế tăng giá, lạm phát và an sinh xã hội

Các cấp chính quyền lãnh đạo điều hành các chương trình trọng điểm về phát triển kinh tế, phòng chống dịch bệnh, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; định

kỳ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với dân liên quan đến các vụ việc khiếu kiện về đất đai, đền bù giải tỏa, tái định cư, công tác hòa giải ở cơ sở Chỉ đạo cải cách hành chính theo hướng đơn giản thủ tục, nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ, đáp ứng tốt thủ tục, yêu cầu của người dân Mối quan hệ phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ngày càng được gắn bó chặt chẽ, mang lại hiệu quả thiết thực

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng có nhiều đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa hình thức tập hợp quần chúng, chủ động hơn trong công tác vận động, tuyên truyền nhân dân chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Các phong trào thi đua yêu nước, nổi bật là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đến nay toàn tỉnh có 405.774 hộ gia đình văn hóa (trong đó có 12.950 hộ dân tộc Khmer) đạt 89% so với tổng số hộ; 632 khóm, ấp văn hóa (đạt 80,2%); 23 xã văn hóa (đạt 14,94%); 1.712 cơ quan, đơn vị trường học văn hóa, 18 chùa Khmer văn hóa Mặt khác, tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ cơ

sở, tạo điều kiện cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra; qua đó đã huy động nhân dân đóng góp hơn 193 tỷ đồng, xây dựng hàng ngàn công trình hạ tầng cơ sở: cầu, đường, điện, trạm xá, công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp Xây dựng “Quỹ vì người nghèo”, “Cây mùa xuân”,…đã vận động hơn 67,3 tỷ đồng hỗ trợ cho 217.000 lượt hộ nghèo khó khăn, cất mới và sửa chữa 8.085 nhà đại đoàn kết Thông qua các

dự án và nguồn vốn gần 520 tỷ đồng để giúp cho 175.000 lượt hộ vay sản xuất, giải quyết việc làm 80.000 lao động, góp phần tích cực vào chương trình xóa đói giàm nghèo của địa phương

Các chính sách về tôn giáo, dân tộc đã được các cấp, các ngành quan tâm triển khai và tạo điều kiện để hoạt động tôn giáo diễn ra đúng giáo luật và pháp luật Thường xuyên tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các cơ sở thờ tự, các chức sắc, tín đồ

Trang 25

tôn giáo trong các dịp lễ trọng đại, cũng như kịp thời giải quyết các nhu cầu chính đáng của tôn giáo

Các tổ chức đoàn thể thường xuyên quan tâm củng cố, nâng chất hoạt động; xây dựng tổ chức đoàn, hội trong sạch, vững mạnh Kết quả, đã giới thiệu cho Đảng xét và kết nạp 2.925 đảng viên; bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho 10.000 lượt cán bộ Hiện toàn tỉnh có hơn 1.000.000 đoàn viên, hội viên, chiếm 42% dân số trong độ tuổi Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định như:

- Một số nơi nhất là cơ sở, cấp ủy Đảng thiếu sự quan tâm lãnh đạo, còn có tư tưởng khoán trắng công tác vận động quần chúng cho khối dân vận và các đoàn thể, chưa thật sự quân tâm kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ; công tác,

bộ máy cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận đoàn thể còn gặp khó khăn, nhất là vùng đồng bào dân tộc

- Phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chuyển biến chậm, chưa sâu; cơ cấu hội viên, đoàn viên trong tôn giáo - dân tộc còn mỏng chưa đáp ứng yêu cầu

- Công tác dân vận của các cơ quan chính quyền một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu, một bộ phận cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước chưa làm tốt công tác dân vận trong thực hiện nhiệm vụ

- Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhất là cấp cơ sở gặp khó khăn về công tác tổ chức bộ máy, lực lượng cán bộ chuyên trách còn yếu, thiếu kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng, ngại khó khăn, trình độ, điều kiện phương tiện hoạt động còn nhiều hạn chế Công tác giáo dục chính trị, giác ngộ lý tưởng cho đoàn viên, hội viên quần chúng nhân dân còn chưa được quan tâm đúng mức, một bộ phận nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự giúp đỡ của Nhà nước, ý thức làm chủ chưa tốt, chưa hăng hái tham gia các phong trào hành động cách mạng của địa phương; còn nhẹ dạ cả tin nghe theo bọn xấu Công tác tuyên truyền pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, không ít những phát sinh, diễn biến xấu trong xã hội chưa phát hiện, xử lý kịp thời

- Công tác Dân vận chính quyền ở một số cơ quan có mối quan hệ với dân chưa thật sự quán triệt quan điểm vận động quần chúng, vẫn còn một số cán bộ,

Trang 26

công chức thực thi nhiệm vụ đối với dân còn thái độ sách nhiễu, gây phiền hà trong giải quyết các thủ tục về hành chính, đất đai, giải tỏa đền bù … [14, tr 2-4]

2.3 Vai trò của Đảng bộ An Giang trong công tác dân vận thời kỳ đổi mới (2006-2010)

2.3.1 Nhu cầu tất yếu đặt ra

Những năm qua, công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh ta đã thu được những thành tựu đáng kể Đó là mức sống của đại bộ phận nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt; bộ mặt của đất nước được đổi mới khá toàn diện ; mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân được củng cố và tăng cường; nhiều kênh truyền thông đại chúng được tăng cường để theo dõi, nắm bắt tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đề xuất những kiến nghị kịp thời với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách, giải quyết các quyền lợi chính đáng của nhân dân Cơ cấu,

tổ chức và hoạt động của Ban Dân vận các cấp được củng cố và kiện toàn Các cơ quan, tổ chức dân vận trong hệ thống chính trị đã có sự phối hợp nhịp nhàng trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác dân vận Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Dân vận các cấp và các tổ chức, đoàn thể quần chúng

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, công tác dân vận vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận đối với sự nghiệp phát triển đất nước Công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân vẫn chưa đi vào chiều sâu, đồng bộ Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Tâm trạng của người dân còn nhiều phiền muộn và không bằng lòng với một

bộ phận cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước cố tình nhũng nhiễu, gây phiền

hà Nguyên nhân là do nhận thức về đổi mới công tác dân vận chưa đồng đều trong tất cả các cấp, ngành; đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận bất cập về trình độ, năng lực, nghiệp vụ chuyên môn; cơ chế, chính sách và điều kiện làm việc của tổ chức và

cá nhân cán bộ làm công tác dân vận còn nhiều khó khăn, bất cập Cơ chế phối hợp hoạt động trong công tác vận động nhân dân còn chưa đồng bộ trong các tổ chức trong hệ thống chính trị; khuynh hướng "hành chính hóa" các tổ chức quần chúng

Trang 27

và công tác vận động quần chúng đang có xu hướng phát triển Đây thực sự là những vấn đề bức xúc cần được quan tâm nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn, để

có những giải pháp hữu hiệu nhằm tiếp tục phát huy bản chất tốt đẹp của Đảng ta trong công tác dân vận trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế

Trước tình hình đó, việc đổi mới công tác dân vận theo hướng công bằng trong

hệ thống chính trị và trong toàn xã hội là vấn đề rất cần thiết và cấp bách hiện nay Điều đáng chú ý là, công bằng giữa các giai tầng, dân tộc, tôn giáo, giữa nam và nữ Đó là vì nước ta bị những hạn chế rất cơ bản: 1 - Nền tảng kinh tế - xã hội nông nghiệp - nông thôn truyền thống nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, 2 - Nền tảng văn hóa truyền thống trọng nam khinh nữ vừa là hệ quả của nền tảng kinh tế -

xã hội nêu trên vừa là nhân tố xã hội độc lập tạo ra tình trạng bất bình đẳng giới dai dẳng và nan giải, 3 - Quan hệ giữa nhà nước (vô thần) và tôn giáo (hữu thần) là một vấn đề xuyên suốt lịch sử dân tộc cũng như nhân loại mà trong quá trình hóa giải mâu thuẫn thì xung đột thường dễ xảy ra hơn là đồng thuận, hài hòa nhiều khi chỉ là

ảo tưởng

Cần có cái nhìn thực tế, khách quan về việc xây dựng mô hình tổ chức dân vận trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Sự chuyển đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, đã dẫn đến sự chuyển đổi về tư duy và cách làm ăn của người dân Từ sự biến đổi về kinh tế dẫn đến tình trạng là, đông đảo người nông dân từ nông thôn ra thành thị làm ăn sinh sống không thuộc tổ chức nào quản lý, công tác dân vận ở đây gần như bị bỏ trống Vậy, ai là người quản lý họ? Những người dân xa quê, đi lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa và không có chỗ để sinh hoạt, thì các tổ chức dân vận phải làm gì để mỗi người dân thực hiện đúng vai trò của người công dân?

Họ là người dân nhưng “không được biết, không được bàn, không được làm, không được kiểm tra”, thậm chí họ bị công an kiểm tra do không rõ nguồn gốc xuất thân, hoặc tham gia các tệ nạn xã hội (cờ bạc, ma túy, trộm cắp ) thì xã hội phải trả giá như thế nào về việc này? Do đó, phải có một tấm lòng thật sự chân thành với dân mới tạo được niềm tin vững chãi trong dân Tấm lòng “vì nước quên thân, vì dân

Trang 28

phục vụ” của Hồ Chí Minh là tấm gương sáng cho mọi dân tộc, giai cấp, tầng lớp nhân dân (công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanh niên ) noi theo Cũng từ niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Người, và tấm lòng cao cả của Người đối với nhân dân mà không có một trở ngại, khó khăn nào không vượt qua [44, tr 1]

Vì vậy, cần phải đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng công nghiệp (nơi không

có các tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn ) có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị vững vàng, có kiến thức hiểu biết tâm lý dân vận sâu rộng, biết cách làm việc có hiệu quả và được nhân dân tin yêu Đồng thời, nâng cao năng lực và sự tham gia của người dân vào việc thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua công tác dân vận Đó là một nhiệm vụ cấp thiết hiện nay đặt ra cho các cấp chính quyền

2.3.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ An Giang (2006-2010)

Để phát triển công tác dân vận một cách hiệu quả và thiết thực, Đảng bộ An Giang đã không ngừng chỉ đạo kịp thời, triển khai các chủ trương, Nghị quyết của Trung ương và ban hành những văn bản, nhiều chỉ thị về lãnh đạo Đại hội các đoàn thể như:

Nghị quyết 09 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc thực hiện chính sách an sinh xã hội cho nhân dân Trong đó Ủy ban nhân dân tỉnh có đề cập là phải

“tiếp tục thực hiện các chương trình quốc gia về y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình Nâng cấp trạm y tế xã, phấn đấu mỗi xã có ít nhất 01 bác sĩ, 02 y sĩ, chú ý xây dựng đội ngũ y, bác sĩ là người dân tộc Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vận động thực hiện niếp sống vệ sinh, bảo vệ môi trường từng noi sinh hoạt, cư trú nhất là những nơi đồng bào dân tộc sinh sống”

Song song với việc phát triển kinh tế, các cấp ủy và chính quyền ở An Giang luôn quan tâm đầu tư xây dựng đời sống văn hóa trong nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc, tôn giáo Do đó, trong Nghị quyết 09 của Ủy ban nhân dân tỉnh cũng

có đề cập là: “Phải thường xuyên phát động các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phòng chống các tệ nạn xã hội, văn hóa độc hại, đẩy lùi hủ tục,

Trang 29

giữ gìn các bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những nền văn hóa tiên tiến.”

Công văn của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang số 1076/UBND – VX ngày 01/04/2009 về điều chỉnh kinh phí hỗ trợ ban đầu cho lao động đi làm việc ngoài tỉnh: đối tượng hỗ trợ là lao động thuộc người dân tộc thiểu số (kể cả các hộ có vợ (chồng) hoặc cha (mẹ) là người dân tộc thiểu số) với mức hỗ trợ là 700.000 đồng/người

Bên cạnh đó, giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề được ưu tiên hàng đầu, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo Chính vì thế, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang có Quyết định số 2152/QĐ-UBND ngày 16/10/2008 về việc ban hành một số chế độ đối với học sinh sinh viên của An Giang đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trong và ngoài nước Ngoài ra tỉnh còn có những chính sách trợ giúp giáo dục, hỗ trợ việc làm, hỗ trợ học nghề, phát triển sản xuất

Tỉnh còn đề ra đề án số 25/ĐA-UBND để thực hiện Quyết định số 74/2008/QĐ_TTg về việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, dạy nghề, giải quyết việc làm cho những hộ dân nghèo, trong đó có những đồng bào dân tộc thiểu số

Tỉnh còn đang triển khai thực hiện cố gắng hoàn thành tốt Chương trình 135 của Chính phủ về duy trì bồi dưỡng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo cán bộ Tập trung triển khai thực hiện hỗ trợ cho hộ nghèo thuộc 35 xã vùng khó khăn trong tỉnh theo Quyết định số 102 của Thủ tướng Chính phủ

Chính sách hỗ trợ dầu hỏa cho những hộ nghèo, trong đó có các dân tộc thuộc

hộ nghèo theo quyêt định 289/QĐ-TTg ngày 18/03/2008 của Thủ tướng chính phủ

Để năng cao đời sống tinh thần của người dân, nhất là đồng bào dân tộc, tôn giáo các cơ sở ban ngành, các cấp ủy Đảng đã thực hiện tốt Chính sách hỗ trợ báo, tạp chí cho đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện theo Quyết định 975/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Đảng bộ tỉnh An Giang không ngừng tiếp tục quán triệt Chỉ thị 10-CT/TW, Thông báo kết luận số 159- TB/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị định 79-NĐ/CP, Nghị định 07-NĐ/CP, Nghị định 71-NĐ/CP của Thủ tướng

Trang 30

Chính phủ về việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Tiếp tục thực hiện những Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về dân vận, Đảng bộ An Giang cũng không ngừng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Chỉ thị 18-CT/TT, ngày 21/9/2000 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường công tác dân vận chính quyền”, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở theo Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị, ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết

số 11 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, Chỉ thị 19- CT/TW đối với Hội Khuyến học, Nghị quyết 09-NQ/TW về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số Khmer đến năm 2010, định hướng năm 2015 Ban hành các Chỉ thị về lãnh đạo Đại hội các Đoàn thể, tổng kết thực hiện 5 năm thực hiện Chỉ thị 59-CT/TW về chăm sóc Người cao tuổi Tổng kết

10 năm thực hiện Chỉ thị 62-CT/TW của Ban Bí thư (khóa VII)“công tác người Hoa trong tình hình mới” Phối hợp Ban Tổ chức tỉnh ủy sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết 02 Tỉnh ủy về “Đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” trong đồng bào dân tộc Khmer huyện Tri Tôn, Tịnh Biên Tổ chức

sơ kết 2 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; công tác dân tộc; công tác tôn giáo” để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và có giải pháp thực hiện tốt hơn

Trong quá trình lãnh đạo, các cấp ủy đã kịp thời chỉ đạo triển khai các chủ trương, Nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy liên quan đến công tác vận động quần chúng như: Chỉ thị 20-CT/TU về việc tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Chỉ thị 22-CT/TU về việc tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Chỉ thị 19-CT/TU đối với Hội Khuyến học, Chỉ thị 23-CT/TU về an toàn giao thông; Chỉ thị 24-CT/TU về giáo dục quốc phòng tình hình mới, chương trình hành động về công tác Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Công đoàn… Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các chỉ thị về lãnh đạo Đại hội các đoàn thể: Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động và Mặt trận Tổ quốc các cấp làm cơ sở để các cấp, các ngành tập trung tuyên

Trang 31

truyền sâu rộng và tổ chức thực hiện đạt kết quả, tạo điều kiện cho công tác dân vận

đi vào nề nếp

Kịp thời tổ chức sơ kết, tổng kết Chỉ thị, Nghị quyết có liên quan như: tổng kết

10 năm thực hiện Chỉ thị 59-CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; 15 năm thực hiện Chỉ thị 59-CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VIII) về chăm sóc người cao tuổi; 15 năm thực hiện Nghị quyết về công tác Thanh niên; 07 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác tôn giáo; Nghị quyết số 09-NQ/TU về phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer,…27 năm thực hiện Chỉ thị 14-CT/TW về củng cố tổ chức, phát huy tác dụng Hội Chữ thập đỏ, 10 năm thực hiện Chỉ thị 18/2000 của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân vận chính quyền

Các cấp ủy lãnh đạo không ngừng quan tâm chỉ đạo những vấn đề liên quan về nội dung, nhân sự Đại hội Đại biểu Hội Luật gia lần III ; Đại hội Hội Đông Y khóa II(2005 - 2010); Đại hội Hội Cựu giáo chức lần thứ I

Thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 04/8/2009 của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 10/9/2009 về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, gắn với đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”;

Không ngừng chỉ đạo các cấp ủy Đảng phối hợp Ban Tổ chức tỉnh ủy, Sở Nội

vụ, Sở Tài chính, tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy đồng ý chủ trương chính sách trợ cấp chi hội trưởng đoàn thể khóm ấp 180.000 đồng/người/tháng và chi hội trưởng thanh niên là 140.000 đồng/ người/tháng, cán bộ công đoàn không chuyên trách ở xã - phường - thị trấn 608.300 đồng/người/tháng, điều chỉnh mức kinh phí cuộc vận động TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư đối với xã, phường, thị trấn là 7 triệu đồng/năm, khóm - ấp là 2 triệu đồng/năm Đồng thời còn có chính sách bảo hiểm y

tế, bảo hiểm xã hội cho cán bộ chuyên trách ở cơ sở

Ngày đăng: 26/03/2018, 00:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w