1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của TRIẾT học PHẬT GIÁO đến đời SỐNG TINH THẦN một bộ PHẬN dân cư TỈNH AN GIANG

77 225 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 480,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cơ sở đó có nhận thức đúng đắn về sự ảnh hưởng của học thuyết này đối với đời sống tinh thần và văn hóa của người dân Việt Nam nói chung và người dân tỉnh An Giang nói riêng.Nhận thức đư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÊN ĐỀ TÀI

ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI

SỐNG TINH THẦN MỘT BỘ PHẬN DÂN CƯ

TỈNH AN GIANG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh vên thực hiện:

TS.GVC Đinh Ngọc Quyên Phạm Chân Tình

MSSV:6086480 Lớp:Sư phạmGDCD K34

CẦN THƠ – 11/2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU……… 4

1/ Lý do chọn đề tài……… 4

2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài………5

3/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……… 5

4/ Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài………5

5/ Kết cấu của đề tài……… 6

B/ PHẦN NỘI DUNG……….7

Chương I: Cơ sở lí luận về sự hình thành và nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo……… 7

1.1/ Khái lược về sự hình thành Phật giáo……… 7

1.1.1/ Hoàn cảnh ra đời của Triết học Phật giáo……… 7

1.1.2/ Thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca……… 9

1.2/ Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo 11

1.2.1/ Quan điểm Triết học Phật giáo về thế giới……….11

1.2.2/ Quan điểm Triết học Phật giáo về nhân sinh……… 12

1.3/ Quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long………14

1.3.1/ Quá trình du nhập của Phật giáo vào nước ta……… 14

1.3.2/ Quá trình du nhập của Phật giáo vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh An Giang……….17

Chương II: Thực trạng ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đối với đời sống tinh thần một bộ phận dân cư ở tỉnh An Giang……… 19

2.1/ Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang……… 19

2.1.1/ Vị trí địa lí……….19

2.1.2/ Đặc điểm kinh tế - xã hội……… ……… 22

Trang 3

2.2/ Đời sống tinh thần và cấu trúc của đời sống tinh thần……….26

2.3/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đối với đời sống tinh thần của một bộ phận dân cư tỉnh An Giang……….33

2.3.1/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đến đạo đức lối sống………332.3.2/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đến phong tục tập quán…………412.3.3/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đến văn hóa nghệ thuật…………452.3.4/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đến cách suy nghĩ………54

Chương III: Một số giải pháp nhằm kế thừa, phát huy những giá trị tích cực của Triết học Phật giáo trong xây dựng đời sống tinh thần ở tỉnh An Giang………59

3.1/ Những quan điểm định hướng cho việc kế thừa, phát huy những giá trị tích cực của Triết học Phật giáo nhằm xây dựng đời sống tinh thần ở tỉnh An Giang……59

3.1.1/ Quan điểm chỉ đạo về công tác Tôn giáo của Đảng……….593.1.2/ Nguyên tắc và chính sách đối với Tôn giáo……… 61

3.2/ Một số giải pháp nhằm kế thừa, phát huy những giá trị tích cực của Triết học Phật giáo trong xây dựng đời sống tinh thần ở tỉnh An Giang hiện nay…………63

3.2.1/ Kế thừa tư tưởng Phật giáo trong xây dựng đời sống đạo đức mới hiện nay……… 63 3.2.2/ Kế thừa tư tưởng Phật giáo trong phát huy đạo lý dân tộc trong giai đoạn hiện nay……… 673.2.3/ Kế thừa tư tưởng Phật giáo trong xây dựng đời sống văn minh, gia đình hạnh phúc giai đoạn hiện nay………69

C/ PHẦN KẾT LUẬN……….71 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 73

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới, có sức lan tỏa rộng rãi, đặc biệt là ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên, từ đó phát triển mạnh mẽ và trở thành quốc giáo ở các triều đại: Đinh – Lý – Lê - Trần Vào Việt Nam, chủ yếu

là Phật giáo Đại thừa (ở phía Bắc) và muộn hơn là Phật giáo Tiểu thừa (ở phía Nam)

Ngay từ buổi đầu du nhập, đạo Phật đã dễ dàng được nhân dân ta chấp nhận

vì giáo lý đạo Phật rất gần gũi, tương đồng với đạo lý, nếp sống của dân tộc; giáo lý đạo Phật là nơi an ủi tâm hồn, giúp con người vượt qua khổ nạn Đạo Phật đã khơi dậy được giá trị nhân văn trong con người hướng tới chân - thiện -

mỹ, khơi dậy sự khát khao của con người muốn hướng tới bình đẳng, tự do, hạnh phúc cao cả Bởi vậy đạo Phật, xét về mặt tích cực, thực sự là chỗ dựa tinh thần cho một bộ phận đông đảo dân cư trong xã hội Việt Nam suốt trong chiều dài lịch sử

Ngày nay, Phật giáo vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong đời sống tinh thần

và văn hóa của người dân Việt Nam nói chung và người dân Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, trong đó có người dân tỉnh An Giang Phật giáo đã đóng góp cho dân tộc ta những thành tựu đáng kể về văn hóa dân tộc tạo nên nền văn hóa dân tộc đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam

Tìm hiểu “Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đến đời sống tinh thần một bộ phận dân cư tỉnh An Giang” trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách Không những là nhằm để hiểu biết hơn về một trường phái triết học lớn trong lịch sử mà còn hiểu sâu hơn những ảnh hưởng của Phật giáo

Trang 5

cơ sở đó có nhận thức đúng đắn về sự ảnh hưởng của học thuyết này đối với đời sống tinh thần và văn hóa của người dân Việt Nam nói chung và người dân tỉnh An Giang nói riêng.

Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa Triết học của vấn đề, tác giả đã chọn đề tài nói trên làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu trực tiếp: những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo, trong lịch sử Triết học Ấn Độ cổ - trung đại; khảo sát quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam Trên cơ sở đó phân tích rõ thực trạng ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh An Giang Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm kế thừa, phát huy những giá trị tich cực của Triết học Phật giáo trong việc xây dựng đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh An Giang hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài: từ nghiên cứu những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo; đề tài làm rõ sự ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh An Giang Qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm kế thừa phát huy những giá trị tích cực của Triết học Phật giáo trong xây dựng đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh An Giang hiện nay

Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích rõ những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo, từ đó rút ra những giá trị của nó

- Phân tích những ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đến các lĩnh vực đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh An Giang

- Nêu một số giải pháp nhằm kế thừa, phát huy những giá trị tích cực của Triết học Phật giáo trong xây dựng đời sống tinh thần ở tỉnh An Giang hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 6

chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo.

Phương pháp nghiên cứu: để làm rõ đối tượng nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ của đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương

pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú ý là các phương pháp: Lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, gắn

lý luận với thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ của đề tài đặt ra

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương và 7 tiết

Trang 7

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO1.1/ Khái lược về sự hình thành Phật giáo

1.1.1/ Hoàn cảnh ra đời của Triết học Phật giáo

Về điều kiện tự nhiên

Ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn nằm ở phía Nam Châu Á, có điều kiện

tự nhiên rất đa dạng Đất nước này vừa có dãy Hymalaya hùng vĩ, vừa có biển

Ấn Độ Dương rộng mệnh mông, vừa có sông Ấn chảy về phía Tây lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa là chốn tu hành heo hút của các đạo sĩ, lại vừa là nơi hành hương thiêng liêng của mọi người dân; vừa có đồng bằng phì nhiêu màu mỡ vừa có sa mạc khô cằn

Những điều kiện tự nhiên đối lập và khắc nghiệt ấy đã ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách suy nghĩ, suy xét và đời sống của người Ấn Độ Đây là mầm mống của sự hình thành và phát triển tư duy Triết học trong đó có Phật giáo Mặt khác, chúng còn là những thế lực tự nhiên đè nặng và ghi dấu ấn đậm nét lên đời sống vật chất và tinh thần đối với người dân Ấn Độ cổ đại

Về điều kiện kinh tế - xã hội:

Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xã hội xuất hiện rất sớm, là nơi đầu tiên xuất hiện nền văn minh gọi là văn minh sông Ấn, sau đó đã bị diệt vong

Đến thế kỉ thứ XV, từ Trung Á, các bộ lạc du mục Arya đã xâm nhập vào Ấn Độ Họ định cư rồi đồng hóa người bản địa Dravida tạo nên các quốc gia Ấn Độ, hình thành nên nền văn hóa thống nhất của người Ấn Độ gọi là văn hóa Veda

Trang 8

tồn tại rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình “công xã nông thôn” mà đặc trưng của kết cấu này là ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương, mà gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của người dân trong công xã Quan hệ giữa gia đình, thân tộc được coi là quan hệ cơ bản Nền kinh tế kết hợp chặt chẽ với thủ công nghiệp rất được coi trọng.

Lúc bấy giờ xã hội được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn:

- Tăng lữ: những người làm công việc tôn giáo

- Quý tộc: gồm vương công, tướng lĩnh, võ sĩ

- Bình dân tự do: gồm thương nhân, thợ thủ công và dân chúng của công xã

- Nô lệ cung đình

Sự phân chia đẳng cấp đó đã làm phức tạp thêm các quan hệ xã hội, tạo

ra những mâu thuẩn gay gắt giữa nông dân, thợ thủ công, nô lệ với các đẳng cấp khác trong xã hội

Trong lĩnh vực tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo trong kinh thánh Veda, đạo Bàlamôn được suy tôn là hệ tư tưởng chính trị chính thống, ngự trị trong đời sống tinh thần xã hội Văn hóa Veda nghiêng về thờ phụng nhiều thần thánh cũng như có các quan niệm thầnbí về vũ trụ Các trào lưu triết học thời kì này với khuynh hướng đa dạng, đại diện cho lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau, xuất hiện những hệ thống chặt chẽ, đều ít nhiều bị chi phối bởi triết học vừa mang đậm màu sắc tôn giáo được trình bày dưới nhiều hình thức kinh sách Các xu hướng triết lý cũng phân hóa mạnh như là các xu hướng khoái lạc, ngẫu nhiên, duy vật, hoài nghi mọi thứ, huyền bí ma thuật, khổ hạnh, tu đức hạnh, tụng kinh…Các xu hướng đó hoặc dung hòa hoặc xung đột lẫn nhau làm cho nền học thuyết triết học Ấn Độ lâm vào một tình trạng rối ren, con người không biết tin tưởng, bám víu vào đâu

Phật giáo là một trào lưu Tôn giáo Triết học xuất hiện vào khoảng Thế

kỉ VI tr.CN, ở miền Bắc Ấn Độ, phía nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa

Ấn Độ và Nêpan bây giờ Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị

Trang 9

của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và con đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội nô lệ Ấn Độ.

Trong thời kì cổ đại Ấn Độ, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo lên đến đỉnh cao Trong đó, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế

của kinh Veda, chống giáo lý duy tâm hoang đường của đạo Bàlamôn bởi đạo Phật, đạo Jaina, đạo Lokayata và phong trào tự do tư tưởng, đòi bình đẳng xã hội ở Đông Ấn Vì thế, đạo Phật theo phong cách phân chia truyền thống là thuộc phái triết học không chính thống do bác bỏ uy thế của kinh Veda và đạo Bàlamôn

Chính tính đa dạng, phức tạp, đầy mâu thuẫn của điều kiện tự nhiên và

xã hội của Ấn Độ cổ, trung đại là cơ sở hình thành sớm những tư tưởng tôn giáo Triết học, trong đó có Phật giáo

1.1.2/ Thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca

Chính sự phức tạp của xã hội, các tư tưởng về nhân sinh quan, về vũ trụ khá phong phú và sự xuất hiện của các phương thức tu lập dị biệt nhau là một môi trường giúp cho Thích ca từ đó tìm ra con đường riêng cho đạo Phật về sau Đức Phật xuất hiện như mặt trời sưởi ấm buổi ban mai, làm tan đi bóng đen dày đặc từ lâu che phủ cuộc đời Ngài không chỉ là vì cứu tinh cho xứ Ấn

Độ thời bấy giờ mà còn là người vạch hướng đi mới cho nhân loại

Người sáng lập ra Phật giáo tên là Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama, dòng họ này thuộc bộ tộc Sakya

Về năm sinh của Phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều ý kiến cho rằng Phật sinh vào năm 563 tr.CN Ông sinh vào ngày

8 tháng 4 năm 563 nhưng theo truyền thống Phật lịch thì tính là ngày 15 tháng

4 (Rằm tháng 4) còn gọi là ngày Phật Đản Cha ông là vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nêpan), mẹ là Hoàng hậu Maha – Maya, vợ là công chúa ĐaĐu Đàila, con trai tên là La Hầu La

Trang 10

tánh tình đức độ của Ngài đã biểu lộ một cách rõ rệt Những đạo sĩ thông thái, những võ sĩ tài danh đều được vua cha mời dạy cho thái tử và chẳng bao lâu sau thái tử trở thành một người văn võ toàn tài không ai sánh kịp.

Và cũng do tư chất thông minh đó, Ngài đã nhìn thấy rõ được tính cách giả dối, vô thường của sự thế, và lòng thương người vô hạn, không thể ngồi yên

để nhìn thấy sự rên siết, khổ đau của cõi đời, nên tâm hồn Ngài không bao giờ

được yên ổn Ngày đêm, Ngài luôn luôn nghĩ đến phương pháp cứu khổ cho chúng sinh

Vì vậy, mặc dù sinh ra trong một gia đình quý tộc dòng dõi Đế vương, nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước những khó khăn của cuộc đời và xã hội khiến ông có ý định từ

bỏ cuộc đời giàu sang phú quý để đi tìm một đạo lí cứu đời Vì vậy, năm 29 tuổi Tất Đạt Đa đã rời bỏ hoàng cung xuất gia tu đạo, đến năm 35 tuổi Người

đã giác ngộ tìm ra chân lí, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh Ông trở thành người sáng lập ra Tôn giáo mới gọi là Phật giáo

Chính ngay khi Người đắc đạo, Người cảm thấy do dự không rõ có nên

đi truyền bá chân lý ấy cho người trong thiên hạ không? Trước đây sỡ dĩ Người

đi tìm đạo là muốn cứu giúp con người khỏi bể khổ, khỏi những nhục dục của trần gian đâu phải chỉ có cá nhân Người, mà đem lại cho toàn thể nhân loại đau khổ Chân lý mà Người sắp đem đi truyền bá là chân lý Vô ngã, người trong thiên hạ ai mà chịu nghe Giả sử mà có nghe thì chắc gì họ làm theo, chắc gì họ cảm nhận được để rước nó vào tâm hồn mình Bởi vì nó rất cao siêu, quá tầm hiểu biết của con người, không khéo lại đi làm công dã tràng, phí công vô ích

Nhưng cuối cùng đầu óc hoài nghi của Phật đã được giải hóa Đức Phật nhìn thấy trước mắt có một đầm sen, có cọng mọc lên khỏi mặt nước, có cọng thì ẩn dưới nước Trên thế gian có người trí người ngu, đâu phải tất cả đều là bọn ngu phu…Người bèn nói: “Chân lý sẽ mở rộng cho mọi người, kẻ nào có tai nghe thì nghe” Từ đó Người đi khắp nơi truyền đạo lý của mình Đến năm

Trang 11

80 tuổi, Ngài nhập Niết bàn (giải thoát và giác ngộ) vào nửa đêm trăng Rằm ở rừng Sa La song thọ.

Sau này Ngài được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nhau như: Đức Phật (Buddha), Người giác ngộ hay Thích ca mâu ni (Sakyamuni), Thánh Thích ca (Vị thánh dòng họ Thích ca)

Xét về mặt Triết học, Phật giáo được coi là triết lý thâm trầm về vũ trụ

và con người Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được

tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi, bác ái trong đạo đức ruyền thống của các dân tộc Châu Á

Kinh điển Phật giáo rất đồ sộ Nó gồm 3 bộ phận gọi là Tam Tạng kinh:

- Tạng kinh: ghi lại những lời dạy của Phật Thích ca

- Tạng luật: những quy định mà giáo đồ phật giáo phật giáo phải tuân theo

- Tạng luận: các tác phẩm luận giải về phật giáo của các học giả, cao tăng về sau

Như vậy, với tình yêu thương nhân loại vô hạn, Người đã không thể cháp nhận những bất công mà xã hội Ấn Độ đang tồn tại Thái tử Siddharta đã

từ bỏ tất cả để đến với một sự giải thoát con người khỏi những bất công mà thành quả tuyệt mỹ đó là Phật giáo

Học thuyết Phật giáo đề cập đến nhiều nội dung khác nhau Nhưng ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu vấn đề về Thế giới quan và Nhân sinh quan

1.2/ Nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo

1.2.1/ Quan điểm Triết học Phật giáo về thế giới

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù là: Vô ngã, Vô thường và Duyên

* Quan điểm “Vô ngã” cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của 2 yếu tố là “sắc” và “danh” Trong đó “sắc” là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm giác đuợc, nó bao gồm: đất, nước, lửa, không khí Còn “danh” là yếu tố

Trang 12

thức (thụ là cảm thụ; tưởng là sự suy nghĩ, tư tưởng; hành là ý muốn thúc đẩy hành động; thức là sự nhận thức).

Chính cái “danh” và cái “sắc” đó kết hợp với nhau tạo thành “ngũ, uẩn” Ngũ, uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại của

sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có “bản ngã” hay cái tôi chân thực

* Quan điểm “Vô thường” cho rằng thế giới là sự biến đổi không ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận: sinh, trụ, dị, diệt (hay thành, trụ, hoại, không) Do đó, không có cái gì là trường tồn bất định chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng

* Quan điểm về “Duyên” (là điều kiện) giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Phật giáo cho rằng, mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất tới cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó, duyên

là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy nhờ có duyên

mà trở thành nhân khác Nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới,

cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật

Như vậy, thông qua các phạm trù vô ngã, vô thường, duyên, triết học Phật giáo đã bác bỏ quan niệm duy tâm cho rằng thần Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần các sự vật của thế giới nằm trong quá trình vận động biến đổi không ngừng, đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng

1.2.2/ Quan điểm triết học Phật giáo về nhân sinh

Nội dung triết học nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” tức là bốn chân lý tuyệt diệu mà đòi hỏi con người phải nhận thức được

Một là khổ đế: là triết lý về cuộc đời của mỗi người là một bể khổ, ít

nhất có tám nỗi khổ (bát khổ) Đó là: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ

Trang 13

biệt khổ (yêu thương nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu tố tạo nên con người) Vậy con người ở đâu, làm gì cũng khổ.

Hai là nhân đế (tập đế): triết lý về nguyên nhân của sự khổ Phật giáo

cho rằng nỗi khổ của con người là có nguyên nhân, Phật giáo đưa ra 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”

1/ Vô minh: là không sáng suốt

2/ Duyên lành: là ý muốn thúc đẩy hành động

3/ Duyên thức: tâm từ trong sáng trở nên u tối

4/ Duyên danh sắc: sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các giác quan

6/ Duyên xúc: là sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác.7/ Duyên thụ: là sự cảm thụ, sự nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài

8/ Duyên ái: là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài

9/ Duyên thủ: do yêu thích rồi muốn chiếm lấy, giữ lấy

10/ Duyên hữu: là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được

11/ Duyên sinh: là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại

12/ Duyên lão tử: là già và chết do có sự sinh thành

Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗi khổ đau nhân loại

Ba là diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được

để đạt tới trạng thái Niết bàn

Bốn là đạo đế: là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó

cũng là con đường giải thoát nỗi khổ để đạt tới hạnh phúc Phật giáo đưa ra 8 con đường chân chính gọi là “Bát chính đạo”

1/ Chính kiến: là hiểu biết đúng đắn tứ diệu đế

2/ Chính tư duy: là suy nghĩ đúng đắn

3/ Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn

Trang 14

5/ Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn.

6/ Chính tinh tiến: cố gắng nỗ lực đúng hướng

7/ Chính niệm: là tâm niệm tin tưởng vào sự giải thoát

8/ Chính định: là kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu đế, về vô ngã, vô thường

Theo con đường Bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ được

vô minh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi

Ngoài 8 con đường chính để diệt khổ, phật giáo còn đưa ra 5 điều răn để mọi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người

Đó là: bất sát (không được sát sinh); bất dâm (không được dâm dục); bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ); bất ẩm tửu (không được rượu trà); bất đạo (không được trộm cướp)

Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học lớn ở Ấn Độ cổ, trung đại

Ở giai đoạn đầu học thuyết triết học ấy chứa đựng những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng về thế giới Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế

độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do bình đẳng xã hội Đồng thời nó cũng nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bác ái góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên, trong triết lý nhân sinh của phật giáo vẫn mang nặng chất bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội [6, tr16 - 18]

1.3/ Quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

1.3.1/ Quá trình du nhập của Phật giáo vào nước ta

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng đầu công nguyên, qua hai con đường: hồ tiêu (đường biển) và đồng cỏ (đường bộ)

Trang 15

Phật giáo du nhập qua con đường hồ tiêu:

Con đường hồ tiêu tức là con đường biển, xuất phát từ các hải cảng vùng nam Ấn rồi qua ngã Srilanka, Indonesia, Việt Nam…Lợi dụng được luồng gió thổi định kỳ vào hai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ở khu vực Đông Nam Á, những thương nhân Ấn Độ đã tới các vùng này để buôn bán bằng con thuyền buồm Trong các chuyến đi viễn dương này, các thương nhân thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và các

vị tăng này nhờ đó mà đến truyền bá đạo Phật vào các dân tộc Đông Nam Á

Giao châu tiêu biểu lúc bấy giờ là trung tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền Lịch sử chính thức xác nhận năm 240 trước Tây lịch, Mahoda – con vua A Dục (Asoka) đã đưa đạo Phật vào Việt Nam Tư liệu trong Lĩnh nam Chích quái cho biết một dữ kiện chứng tỏ sự có mặt của đạo Phật vào đời Hùng Vương thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể từ tr.CN

2879 – 258) Đó là câu chuyện công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng Vương thứ 3, lấy Đồng Tử Chuyện kể rằng Đồng Tử lấy Tiên Dung lập ra phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài Một hôm, Đồng Tử theo một khách buôn ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đay Đông Tử đã gặp một nhà sư Ấn

Độ ở trong túp lều Nhờ đó mà Đồng Tử và Tiên Dung đã biết đến đạo Phật Qua dữ kiện này, ta thấy sự hiện diện của đạo Phật giáo do các tăng sĩ Ấn Độ truyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch

Một bài nghiên cứu của Ngô Đăng Lợi – Viện nghiên cứu khoa học Hải Dương - viết: “Vùng Đồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng địnhchính là thánh

Nê Lê nơi có bảo tháp của vua Asoka Nếu quả như vậy thì từ thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch, đạo Phật đã được trực tiếp truyền vào nước ta” Và Thuyền Uyển Tập Anh cũng ghi nhận cuộc đàm luận giữa thiền sư Thông Biện và Thái hậu Phù Thánh Linh Nhân (Ỷ Lan) khi bà hỏi về nguồn gốc đạo Phật Việt Nam vào dịp các cao tăng trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc – Hà Nội) vào ngày Rằm tháng 2 năm 1096 Thiền sư Thông Biện dẫn chứng lời pháp sư Đàm Thiên (542 – 607 TL) đối thoại với Tùy Cao Đế (? – 604TL): “Một phương Giao Châu, đường sang Thiên Trúc, phật pháp lúc mới

Trang 16

đồ tăng hơn 40 người, dịch kinh được 15 quyển, vì nó có trước vậy, và lúc ấy thì đã Lâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cuơng Lương, Mâu Bác tại đó”, Ma Ha Kỳ Vực, Khâu Đà La (188 TL) người Trung Hoa; Khương Tăng Hội, Chi Lương Cương (? – 264 TL) người xứ Nhục Chi, theo sử chép đó

là các vị sư có mặt sớm nhất ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ thứ III Có lẽ đây chỉ là những vị được sử ghi lại tên tuổi, kỳ thực đây không phải là phái đoàn truyền bá đầu tiên đến Việt Nam, vì từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch đến thế kỷ

thứ II sau Tây lịch chắc chắn đã có nhiều tu sĩ đặt chân đến Hoằng Pháp tại Việt Nam, cho nên pháp sư Đàm Thiện chỉ dẫn phần giới hạn và căn cứ vào sự

có mặt của tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Bác

Qua nhiều tài liệu lịch sử và dựa vào địa lý, thiên nhiên, dân cư, lịch sử

có thể cho chúng ta kết luận rằng: đạo Phật đã được truyền trực tiếp vào Việt Nam chứ không thông qua Trung Hoa bằng con đường hồ tiêu Tuy nhiên, cũng có nhiều cứ liệu lịch sử chứng minh rằng đạo Phật truyền vào Việt Nam qua con đường đồng cỏ

Phật giáo du nhập qua con đường đồng cỏ:

Con đường đồng cỏ tức là con đường bộ hay còn gọi là con đường tơ lụa, con đường nối liền Đông Tây, xuất phát từ vùng Đông Bắc Ấn Độ, Assam hoặ phía Trung Á, một nhánh của đường tơ lụa đi từ Châu Âu qua các vùng thảo nguyên và vùng sa mạc ở Trung Á tới Lạc Dương bằng phương tiện lạc

đà Cũng có thể các thương nhân và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng và các triền sông Mê Kông, sông Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam Cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Hà Nội, 1988) có nói rõ: “Các thương nhân xuất phát từ Trung Ấn

có thể dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Ba Chùa và theo sông Kanburi mà vào thành phố Raheng, nằm trên một nhánh của con sông Mênam (…) Chính tuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mêkông, địa bàn của vương quốc Kambujan Vương quốc này có thể do di dân Ấn Độ thành lập trước công nguyên đã theo con đường này mà đến đất Lào, rồi từ đây vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An” Những dữ liệu về con đường hồ

Trang 17

tiêu và con đường đồng cỏ có liên quan đến sự giao lưu của Việt Nam tuy chưa nhiều chứng tích mà lịch sử còn để lại, dù lịch sử truyền miệng hay thành văn, theo lịch sử Phật giáo Vịêt Nam thì vào thế kỷ thứ II trước Tây lịch, vua Ấn Độ Asoka sau cuộc đại hội kết tập kinh điển lần thứ 3, vua và trưởng lão Tissa Moggliputta đã gửi nhiều phái đoàn Như lai sứ giả lên đường truyền bá chánh pháp cho các nước thuộc vùng viễn đông, trong đó có phái đoàn của hai vị cao tăng là Uttaga và Sona được phái đến Suvana – Bhumi, xứ Kim Địa Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về vùng Kim Địa nhưng ý kiến trong quyển Lịch sử

Phật giáo thế giới cho rằng: vùng Kim Địa này là bán đảo Đông Dương từ Miến Điện kéo dài đến Việt Nam Vấn đề này được sách sử Việt Nam viết: “Sử liệu Phật giáo Miến Điện chép rằng hai vị cao tăng đó (Uttaga và Sona) đã đến Miến Điện truyền giáo nhưng Sử liệu Phật giáo tại Thái Lan cũng ghi là hai vị cao tăng Uttaga và Sona có đến Thái Lan truyền đạo CÓ học giả dựa vào tài liệu Trung Hoa nói rằng ở Giao Châu tại thành Nê Lê, có bảo tháp của vua Asoka, và học giả đó xác định thành Nê Lê chính là Đồ Sơn hiện nay (cách Hải Phòng khoảng 12km)

Nói chung, căn cứ theo các tư liệu trên thì chúng ta có thể khẳng định rằng Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch bằng những phương pháp hòa bình và vì thế không một giọt máu nào đã chảy, không một giọt lệ nào rơi vì sự truyền bá đạo Phật vào Việt Nam

1.3.2/ Quá trình du nhập của Phật giáo vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh An Giang.

Thế kỷ XVI, với sự phân chia đàng Trong và đàng Ngoài giữa hai họ Trịnh - Nguyễn, lấy sông Gianh làm ranh giới, đã là một mốc quan trọng có ảnh hưởng đến lịch sử Phật giáo Một phần nào đó, những ảnh hưởng từ phía Bắc đã được xem như không còn tác dụng đối với vùng đất đàng Trong mang những nét đặc trưng mới trong quá trình phát triển sau này

Người Việt đã di dân vào khai phá vùng đất phía nam của tổ quốc này, vùng đất mà đạo Phật đã có từ sớm Ở đây có thể nêu lên một cách khái quát về con đường chủ yếu của Phật giáo vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói

Trang 18

Phật đã có mặt trên vùng đất mới tại mỗi khu vực thời gian có khác nhau Có thể tìm bốn hướng chủ yếu sau:

* Hướng thứ nhất: trong số đoàn di dân từ miền Thuận - Quảng vào

khai phá vùng đất mới, có cả những nhà sư người Việt và người Hoa Sử liệu còn ghi lại một số chùa như Đại Giác, Long Thiền (Đồng Nai), Kim Chương, Khải Tường, Từ Ân (Gia Định)…đều do các thiền sư từ miền Trung vào theo

hướng đường bộ và đường thủy từ Đồng Nai xuống Gia Định, vào thế kỷ thứ XVII, XVIII, XIX

* Hướng thứ hai: theo đường thủy, từ Trung Quốc, đạo Phật đã được

các nhà sư đến thẳng vùng đất Đồng Nai, Gia Định, Mỹ Tho truyền đạo (1679) Đây là những nhà sự thuộc nhóm của các tướng Trần Thượng Xuyên đến lập nghiệp ở Trấn Biên và Dương Ngạn Địch đến Gia Định và phụ tá của Dương Ngạn Địch là Hoàng Tiến dẫn đầu một nhóm đến Mỹ Tho Những ngôi chùa cổ

ở Mỹ Tho, Cai Lậy và các Phật đường sau này xuất phát từ các nhà sư Trung Quốc này

* Hướng thứ ba: đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu người Quảng Đông, từ

Chân Lạp sang vùng đất mới, đặt tên là Hà Tiên, dựng chùa Tam Bảo Ngôi chùa này cho đến nay vẫn còn nổi tiếng Đây là một trong những hướng du nhập của Phật giáo Trung Hoa vào Đồng bằng sông Cửu Long nói chung – vào tỉnh An Giang nói riêng – theo hướng ngược lại với cuộc di dân

* Hướng thứ tư: Hộ Tông truyền bá Phật giáo Nam Tông từ

Campuachia vào Đồng bằng sông Cửu Long một nét mới mẻ [21, tr2]

Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đời là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc, đặc biệt là người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm…là một khu vực lịch sử - văn hóa, qua các công trình nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân vừa kể trên rất đậm nét Đặc bịêt, trên lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng ở cư dân Việt, cộng đồng dân tộc chủ thể trên vùng đất Nam Bộ, đã tồn tại nhiều hình thức thờ cúng phong phú, đa dạng

Trang 19

Từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX, Nam Bộ đã tiếp nhận nhiều thành phần cư dân đến sinh sống Thời gian đến khác nhau, thành phần dân tộc có nhiều, vì thế các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng do vậy cũng phong phú, đa dạng Nhưng Phật giáo vẫn là tôn giáo chủ đạo của người Việt, người Hoa và cả người Khmer Người Khmer theo Phật giáo Nam Tông [21, tr28]

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN MỘT BỘ PHẬN DÂN CƯ TỈNH

AN GIANG.

2.1/ Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hôi của tỉnh An Giang

2.1.1/ Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

An giang là một tỉnh phía Tây Nam của Tổ quốc, trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu và dọc theo hữu ngạn sông Hậu, thuộc hệ thống sông Mê Kông Tọa độ địa lý từ 10054’ đến 10031’ vĩ độ Bắc và 104046’ đến 105012’ kinh độ Đông Điểm cực Bắc: xã Khánh An, huyện Châu Phú; Điểm cực Nam: xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn; Điểm cực Đông: xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới; Điểm cực Tây: xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, đường biên giới dài 107,268 km; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, đường biên giới dài 69,789 km; phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ, đường biên giới dài

44, 734 km, phía Đông Nam giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài trên 95 km

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.536 km2 , bằng 1,05% diện tích toàn quốc và bằng 8,71% diện tích toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tổng dân

số trên 2,210 triệu người, trong đó nữ chiếm 50,99% và nam chiếm 49,01%; tỉ

lệ dân thành thị là 28,25% và nông thôn là 81,75% [22, tr5]

Bảng 1: Diện tích tỉnh An Giang chia theo huyện thị

Trang 20

Nguồn: Niên giám thống kê 2008

An giang nằm giữa hai dòng sông Tiền và sông Hậu tạo thành vùng cù lao trù phú, chiếm 30% diện tích của tỉnh; và vùng tứ giác Long Xuyên nằm ở phía Tây sông Hậu, chiếm 70% diện tích của tỉnh, là vùng vừa có đồng bằng vừa có núi (vùng Thất Sơn), nhiều khối núi lớn, không thành dãy núi như: núi Dài, núi Cô Tô, cao nhất là núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) có độ cao trên 710 m

An giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mưa nhiều nhất vào tháng 9; Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mưa ít nhất

Trang 21

vào tháng 2 Nhiệt độ trung bình năm từ từ 260C đến 280C; Nhiệt độ cao nhất

350C – 360C vào tháng 4, tháng 5 Dương lịch; Nhiệt độ thấp nhất 200 C – 210 C vào tháng 12, tháng giêng Dương lịch Giờ nắng bình quân khoảng 1.400 – 1.500 mm, có năm lên tới 1.700 – 1.800 mm Độ ẩm trung bình 80% - 85% và

có sự dao động theo vĩ độ mưa theo mùa An Giang chịu ảnh hưởng hai hướng gió chính là gió Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4) và gió Tây Nam (từ tháng

5 đến tháng 10 dương lịch), nhìn chung khí hậu ở An Giang cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

độ nước của sông Mê Kông.Hằng năm bị ngập lũ từ tháng 8 đến tháng 11, gọi

là “Mùa nước nổi” - nướ dâng cao từ 1m đến 3m, có năm lên đến 4,5m, thời gian ngập lụt từ 3- 4 tháng, đem lại lợi ích to lớn – đưa lượng phù sa, vệ sinh đồng ruộng và đánh bắt thủy sản… nhưng cũng gây ra những tác hại quan trọng, có những lần gập cao làm hai tính mạng, mùa màng cơ sở hạ tầng làm cho suất đầu tư của Tỉnh thường ở mức cao nhưng hiệu quả mang lại bị hạn chế

Trang 22

2.1.2 Điều Kiện Kinh Tế - Xã Hội

Toàn tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm : thành Phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, với 150 đơn

vị hành chính cơ sở (trong đó có 20 phường và 16 thị trấn,122 xã,114 khóm,696 ấp)

Theo số liệu của cục thông kê tỉnh An Giang tính đến 2008, dân số toàn tỉnh là 2.250.573 người (trên 450 ngàn hộ),trong đó nam là 1.108.424 người,

nữ là1.424.149 người; phân bố ở thành thị là 639.397 người, ở nông thôn là1,611.176 người 75% dân số sống bằng nghề nông An Giang có bốn dân tộc chính đang sinh sống trên địa bàn tỉnh là : Kinh, Chăm, Khmer, Hoa.Dân tộc Kinh chiếm 2.135.941 người,chiếm 94.835 dân số toàn tỉnh.Dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh Trong đó, dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592

Trang 23

người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số nguời dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh, dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, dân tộc Hoa có 2.839 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh.

Bảng 2: Bảng số liệu dân số tỉnh An Giang chia theo khu vực (năm 2008)

Kinh tế An Giang trong những năm gần đây không ngừng tăng trưởng đạt kết quả rất khả quan, cụ thể như sau:

- Tăng trưởng GDP giai đoạn 1996 – 2006 đạt bình quân 8,26% năm; trong đó KV 1 (nông, lâm, thủy sản) đạt 3,1%, KV 2 (công nghiệp – xây dựng) đạt 12%, KV 3 (dịch vụ) đạt 12%; riêng giai đoạn 2001 – 2006 đạt tốc độ tăng trưởng cao bình quân 12,7% năm (KV 1: 6,5%; KV 2: 16,3%; KV 3: 15,80%)

- Cơ cấu kinh tế toàn tỉnh có bước chuyển dịch đáng kể theo hướng giảm tỉ trọng KV 1 từ 48,28%, năm 1996 xuống còn 34,56% năm 2006 (2010: 33,46) tăng KV 2 từ 12,31% lên 12,78% năm 2006 (2010: 12,82), KV 3 từ 39,41% lên 52,66% năm 2006 (2010: 53,72)

STT Diễn giải 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Ước

Trang 24

- Kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng tăng, 2006 đạt 444 triệu USD (đến năm 2010 đã đạt 700 triệu USD); trong đó, thủy sản đạt 330 triệu USD, hàng rau quả đông lạnh đạt 8,1 triệu USD, gạo đạt 147,6 triệu USD tăng gấp 3,48 lần (385 triệu USD) so với năm 1996 [22, tr.4]

Nhìn chung chất lượng lúa, gạo, thủy sản, rau quả đông lạnh của tỉnh từng bước được nâng lên; gạo An Giang đã xuất khẩu sang thị trường nhiều nước trên thế giới (năm 2004 xuất sang 26 nước, 2005: 35 nước, 2006: 36 nước; sản phẩm thủy sản trong năm 2007 đã xuất sang 59 nước (tăng 9 nước so với 2006) [Cục thống kê tỉnh An Giang (2008), Thông báo “Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2008”, tr.23]

GDP bình quân đầu người năm 2008 là 15,32 triệu đồng/người/năm (năm 2010 là 18,421 triệu đồng/người/năm) Thu nhập bình quân một tháng của một lao động khu vực nhà nước do địa phương quản lý là 2,652 triệu, tăng 27,5% so với năm 2007 (năm 2007 là 2,080 triệu/đồng/tháng) [4, tr.2]

Thành phần tôn giáo ở An Giang rất đa dạng, gồm các tôn giáo sau: Phật giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Hồi giáo và các đạo khác (Bửu Sơn Kỳ Hương, Hiếu Nghĩa)

An Giang là tỉnh thuộc châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long, là nơi có nhiều nguồn lực về sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, có núi rừng, tài nguyên khoáng sản An Giang cũng là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận tiện Đường giao thông chính của tỉnh là một phần của mạng lưới giao thông liên vùng quan trọng của quốc gia Việt Nam và quốc tế, có cửa khẩu biên giới quốc gia và quốc tế (cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên thuộc huyện Tịnh Biên, Vĩnh Xương thuộc huyện Tân Châu, Long Bình huyện

An Phú), có nhiều di tích lịch sử văn hóa dân tộc lâu đời, phong cảnh hữu tình,

đó là lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội đa dạng trong thời gian qua Một trong những lợi thế của An Giang là có bề dày về văn hóa, lịch sử truyền thống, gắn liền với các khu di tích, di tích lịch sử, văn hóa, tập tục lễ hội cỗ truyền, như: Khu lưu niệm quê hương Bác Tôn (Chủ tịch Tôn Đức Thắng), Nhà Bảo

Trang 25

tàng An Giang, khu du lịch Châu Đốc Núi Sam, Khu du lịch Lâm viên núi Cấm, Di

tích khảo cổ nền văn minh óc Eo…Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập nền kinh tế An Giang trong các tỉnh trong khu vực trong nước

và ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam Á

An Giang là tỉnh đầu nguồn của sông Tiền và sông Hậu nên có nhiều thuận lợi về nguồn nước, khí hậu, thời tiết ôn hòa, đất đai được phù sa bồi đắp hàng năm nên có điều kiện phát triển kinh tế sản xuất nông nghiệp, trong đó thế mạnh của tỉnh là sản xuất lúa, hoa màu và đánh bắt cá Nghề nuôi cá bè truyền thống của tỉnh An Giang tập trung chủ yếu trên sông Hậu, ngoài ra các mô hình nuôi cá ao tập trung chủ yếu hai bên tả ngạn và hữu ngạn của sông Hậu Do sông Hậu có tốc độ chảy thấp, thấp hơn so với sông Tiền, độ sâu của lòng sông thấp, địa hình đáy sông Hậu thoai thoải, chiều rộng lòng sông lớn rất thích hợp cho nghề nuôi cá bè Mặt khác, cộng đồng dân cư của tỉnh An Giang sống tập trung vùng lưu vực sông Hậu nhiều hơn phía sông Tiền, cơ sở hạ tầng tốt hơn như: đường giao thông bộ, bệnh viện, trường học, chợ, bưu chính viễn thông…Đất dùng cho nuôi trồng thủy sản vùng lưu vực sông Hậu tỉnh An Giang rất nhiều tiềm năng (về diện tích) Với những lợi thế trên, nghề nuôi trồng thủy sản

mà nhiều nhất là nghề chăn nuôi cá tra – basa phát triển rất mạnh và là một trong những ngành kinh tế chủ lực của tỉnh

Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với những tác động khôn lường của biến đổi khí hậu thì việc xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mêkông đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của An Giang nói riêng và toàn vùng châu thổ sông Cửu Long nói chung Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi, song trong phát triển kinh tế, An Giang cũng có những điểm hạn chế nhất định, trong nông nghiệp chủ yếu là lao động giản đơn, 96% là lao động thủ công, chủ yếu sử dụng cơ bắp Trong công nghiệp chủ yếu là sử dụng lao động phổ thông, dựa vào nguồn nhân công giá rẻ, chậm chuyển đổi áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, thêm vào đó là mặt bằng dân trí thấp, còn tới hơn

Trang 26

vụ cho phát triển kinh tế và sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa xã hội ở nông

thôn những năm qua tuy được tăng cường, nhưng nói chung vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn

2.2/ Đời sống tinh thần và cấu trúc của đời sống tinh thần.

Đời sống tinh thần – Đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới được nghiên cứu trong triết học và khoa học xã hội khác Từ trước tới nay, các nhà triết học đã chú ý nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần được dựa trên cơ sở ưu tiên trước của đời sống vật chất, tất yếu kéo theo việc xác lập những điều kiện cần thiết và nhu cầu phát triển của sản xuất tinh thần, cùng toàn bộ đời sống tinh thần của mỗi cá nhân và toàn xã hội Mặt khác, quá trình phát triển đời sống tinh thần cũng có tính quy luật riêng của nó, có rất nhiều khía cạnh chưa được nghiên cứu thỏa đáng từ trước đến nay Các nhà triết học đã nghiên cứu và đưa ra các khía cạnh biểu hiện khác nhau của đời sống tinh thần: chẳng hạn, các khía cạnh bản thể luận, nhận thức luận, nhận thức luận – xã hội, xã hội học, khía cạnh giá trị…

Đời sống tinh thần là gì? Cấu trúc của nó ra sao? Nó được biểu hiện ở cá nhân và trong cuộc sống của cá nhân như thế nào?

Đời sống tinh thần của cá nhân – Đây là quá trình và kết quả của sự tồn tại và hoạt động đời sống của cá nhân với mục đích tự hoàn thiện những phẩm chất và xác định quan điểm, vị trí của mình trong môi trường xung quanh, trong cuộc sống và trong hệ thống xã hội Đây là quá trình xây dựng mục đích,

lẽ sống, hoạt động tìm kiếm và sáng tạo những giá trị tinh thần, xác định lý tưởng cuộc đời của cá nhân

Quá trình nhận thức và đời sống tinh thần có những nét đặc thù riêng của mình: quá trình nhận thức - trước hết, là quá trình chủ thể phản ánh hiện thực Sự phản ánh không phải là thụ động, mà là tích cực, chủ động Đây là quá trình tìm tòi và sản sinh những tư tưởng mới, những kiến thức mới của con người Trong quá trình nhận thức, chúng ta nhận được kết quả là những tri thức

Trang 27

mới Tự nhận thức đóng vai trò đặc biệt trong sự hiểu biết đời sống tinh thần của cá nhân Đời sống tinh thần – Đây là quá trình hiện thực có tính toàn vẹn, trong đó không chỉ phản ánh đời sống vật chất của con người, mà hơn thế nữa,

con người phải tìm tòi lời giải đáp cho câu hỏi: Điều kiện vật chất cho đời sống như thế nào, nó có ảnh hưởng gì tới hệ thống các giá trị, và những giá trị tinh thần nào được đưa lên hàng đầu trong đời sống tinh thần của các nhân (hoặc của xã hội)? Chính những giá trị tinh thần là kết quả của quá trình đời sống tinh thần Nếu vậy thì tri thức đóng vai trò gì trong đời sống tinh thần? Trong đời sống tinh thần tri thức đóng một vai trò to lớn, nhưng không phải là tất cả các tri thức nói chung, mà chỉ là những tri thức nào có tính giá trị riêng biệt hoặc giá trị xã hội và đem lại lợi ích cho cá nhân Nhận thức thế giới, nhận thức vị trí

và quan hệ của mình trong thế giới đó cũng là đối tượng và khuynh hướng của các nổ lực tinh thần của cá nhân Nhận thức thế giới và bản thân mình, nhận thức những khả năng và nhu cầu của mình không chỉ là mối quan hệ tương hỗ,

mà chúng còn chế ước lẫn nhau Thế giới, trong đó con người sống và hành động, thế giới lại do chính con người cải biến và sáng tạo là một tấm gương phản chiếu đặc thù, trong đó con người hiểu biết về bản thân mình Nếu như trong nhận thức khoa học về thế giới khách quan, con người có khuynh hướng tiến tới “tách ra” phần lớn khỏi cái chủ quan, thì trong đời sống tinh thần, cái cá nhân bắt đầu trở nên yếu tố quan trọng

Đời sống tinh thần của cá nhân không phải là sự xét đoán lý lẽ trừu tượng, tẻ nhạt về thế giới của đối tượng, mà đây thường xuyên là niềm cảm xúc, nỗi xúc động sâu sắc của con người với thế giới đó Bởi vậy trong khái niệm đời sống tinh thần, khái niệm giá trị chiếm một vị trí quan trọng – đó là vấn đề ý nghĩa, lợi ích và giá trị của thế giới đối với con người, sự tìm kiếm và khẳng định những khả năng ảnh hưởng tích cực của con người với thế giới đó, những khả năng sáng tạo của con người đối với chính tâm hồn mình, với việc

tổ chức đời sống sao cho tương ứng với những nhu cầu và lợi ích của mình

Tri thức chừng nào có được ý nghĩa riêng nào đó với cá nhân thì khi đó trở thành giá trị tinh thần và là kết quả của quá trình đời sống tinh thần Như

Trang 28

tinh thần trong đời sống của con người.

Tri thức càng phong phú thì càng có điều kiện để hiểu biết và đạt được những giá trị tinh thần xứng đáng ở kết quả đời sống tinh thần Như vậy, đời sống tinh thần cũng là hoạt động, là lao động tinh thần cũng không kém gì lao động vật chất (đem lại tài sản vật chất)

Ở đời sống tinh thần của cá nhân thường xuyên xảy ra việc tìm tòi và chọn lọc những giá trị tinh thần Giá trị tinh thần, về bản chất, không những là giá trị khách quan của việc thực hiện xung quanh, mà còn là giá trị của chủ thể Giá trị tinh thần không tồn tại ở thể có sẵn, mà chỉ đạt được bằng con đường hành động tích cực và sáng tạo của chủ thể Giá trị tinh thần không tồn tại ở thể

có sẵn, mà chỉ đạt được bằng con đường hành động tích cực và sáng tạo của chủ thể, chỉ hình thành trong quá trình “trao đổi” thông tin giữa các chủ thể Việc tìm tòi và chọn lọc những giá trị tinh thần là được thực hiện qua quá trình

“trao đổi” thông tin, qua “đối thoại”, tranh luận, thảo luận, trao đổi ý kiến…giữa các chủ thể Ở đó mọi người trao đổi ý kiến, tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc, nguyên lý và thậm chí là cả nhân sinh quan…Quá trình tương tác đó, mỗi

cá nhân không chỉ đơn giản là tiếp thu kiến thức mới nào đó cho mình, mà hơn thế nữa, tiếp thu các ý nghĩa, giá trị tinh thần nào đó cho đời sống tinh thần của mình Việc tìm tòi và chọn lọc những giá trị tinh thần ở mỗi cá nhân dường như hoàn toàn theo một hướng khác, không đơn thuần là theo hướng tiếp thụ tri thức đơn giản nào đó Tri thức “được định vị” trong tâm hồn và làm giàu tâm hồn con người bằng kinh nghiệm có tính chất sở hữu tinh thần cho riêng mình Nói về đời sống tinh thần của cá nhân chúng ta không chỉ chú ý đến hiện tượng

và quá trình diễn ra bên trong thế giới tinh thần của con người, mà còn xem xét việc con người thể hiện bản thân mình trong đời sống hiện thực, ở quan hệ với công việc, trong sự giao tiếp với người khác Ở đó cá nhân thể hiện với tư cách

là chủ thể nhận thức và sáng tạo ra những giá trị tinh thần, là chủ thể của hành

vi, hoạt động và giao tiếp

Trang 29

Đời sống tinh thần của cá nhân về bản tính có tính chất đối thoại Và giao tiếp tinh thần là cuộc đối thoại giữa các chủ thể Về phương diện triết học trong “đối thoại” chứa đựng ý nghĩa cao cả (tức giá trị tinh thần) qua mối hệ

tương hỗ giữa các chủ thể Đó là tư tưởng nhân văn và nhân đạo trong mối quan hệ xã hội của con người Tính nhân ái – đây là giá trị tinh thần vĩnh cửu,

là lý tưởng, mà không thể xuất hiện và được thực hiện ở những giai đoạn lịch

sử bình minh của nhân loại Tính nhân ái trãi qua những giai đoạn khó khăn đáng kể trên chặng đường dài của lịch sử phát triển xã hội loài người và nó chỉ xuất hiện ở xã hội văn minh Chủ nghĩa nhân đạo là kết quả của cuộc đấu tranh

vì tiến bộ xã hội, vì quyền con người, vì con người, vì đời sống tinh thần của cá nhân và xã hội Trong “đối thoại” bao hàm tư tưởng nhân đạo và lòng kính trọng lẫn nhau qua mối quan hệ hữu nghị thân tình giữa các cá nhân Còn đối với quan hệ giữa các quốc gia thì tư tưởng này thể hiện sự kính trọng và giữ gìn nền văn minh của nhân loại trên trái đất, giữ gìn chính cuộc sống của con người trong vũ trụ

Cá nhân biểu lộ phong cách của mình không chỉ trong đối thoại, mà còn bộc lộ mình trong độc thoại Độc thoại - về bản tính – là tiếp tục suy nghĩ trong đầu óc con người Độc thoại đóng vai trò đáng kể trong đời sống cá nhân Độc thoại – đó là một loạt các cử chỉ, thao tác và hành động trong quá trình đời sống tinh thần con người Nó tham gia vào việc kiểm tra ý nghĩa, đặt ra mục tiêu và kế hoạch trong tư duy con người, tham gia việc kiểm tra nhận thức và tự chọn lọc những giá trị tinh thần của cá nhân

Mối tương quan giữa “đối thoại” và “độc thoại” được biểu hiện là chúng

bổ trợ cho nhau Độc thoại là sự kiểm tra những nhiệm vụ đặt ra và kết quả nhận được trong đối thoại Như vậy, đối thoại và độc thoại có liên quan và bổ trợ cho nhau, chúng góp phần làm giàu những suy nghĩ, tư tưởng sâu kín trong đời sống tinh thần con người

Đời sống tinh thần của cá nhân – đây là quá trình, mà ở đó tái tạo những giá trị tinh thần Con người sản sinh và sử dụng những giá trị đó Con người tiếp thụ những giá trị văn hóa xã hội, biến nó thành kinh nghiệm có tính sở hữu

Trang 30

mình, ở đây muốn nói tới biện chứng giữa đời sống tinh thần cá nhân và đời sống tinh thần của xã hội.

Đời sống tinh thần của xã hội – đây cũng là một quá trình và kết quả tồn tại và hoạt động đời sống của mọi người Những giá trị tinh thần được tạo lập không phải do một cá nhân, dù cá nhân đó thiên tài xuất chúng Mỗi cá nhân chỉ góp phần công lao vào kho báu giá trị tinh thần của nhân loại mà thôi Biện chứng giữa đời sống tinh thần của cá nhân và cái chung, như sự mâu thuẩn giữa

“lợi ích xã hội”và “lợi ích cá nhân”

Quan điểm đúng đắn và lịch sử chân chính của nhân loại là tạo ra cơ sở

và điều kiện phát huy lòng nhiệt tình của mọi người, trong đó sự phát triển của

cá nhân trở thành điều kiện phát triển của xã hội Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nằm trong sự thống nhất biện chứng Đời sống tinh thần của cá nhân và của

xã hội – đây là quá trình tương tác và chế ước lẫn nhau Về phương diện này

“sự đối thoại” giữa cá nhân và xã hội cần được thực hiện trong đời sống thực

tế Tư tưởng có tính nguyên tắc trong đối thoại là: “Mình vì mọi người, mọi người vì mình” Chỉ có tính tới sự thống nhất biện chứng giữa đời sống tinh thần của cá nhân và của xã hội mới có thể giải quyết mâu thuẩn giữa “lợi ích cá nhân” và “lợi ích xã hội” Giải quyết hài hòa giữa đời sống tinh thần cá nhân và của xã hội cần dựa trên nguyên tắc sau đây: Sự giàu có, phong phú của đời sống tinh thần trở thành điều kiện cho sự giàu có, phong phú của đời sống tinh thần xã hội

Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề đời sống tinh thần của xã hội và của cá nhân, nhưng lí luận triết học tổng quát về đời sống và hoạt động tinh thần vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Đời sống tinh thần không nên quan niệm như là cái gì đó lộn xộn, mà có trật tự của nó,

có những yếu tố cấu thành hệ thống Thế nhưng, đời sống tinh thần và những yếu tố cấu thành của nó không phải là bẩm sinh mà chúng được hình thành trong quá trình đời sống của cá nhân, trong hoạt động của chủ thể Tính đặc thù của đời sống tinh thần, đặc trưng cho mỗi xã hội, cho loại hình đời sống tinh

Trang 31

thần của xã hội và của cá nhân được biểu hiện ở những hình thức lịch sử cụ thể của nó Hơn nữa, điều quan trọng hiện nay trong đời sống tinh thần là những

định hướng giá trị của xã hội và của cá nhân, có tính tới những thay đổi sâu sắc đang diễn ra trong thế giới hiện tại

2.3/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đối với đời sống tinh thần của một bộ phận dân cư tỉnh An Giang

2.3.1/ Ảnh hưởng tư tưởng Triết học Phật giáo đến đạo đức lối sống

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là lề thói, (moralis nghĩa là

có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) “Luân lý” thường xem là đồng nghĩa với

“đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Ethicos nghĩa là lề lối, tập tục Hai danh từ

đó chứng tỏ rằng khi ta nói đến đạo đức là nói đến những lề lối, tập tục và biểu diễn mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hằng ngày

Ơ phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Hoa cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo đức của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Hoa cổ đại Đạo có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội

Khái niệm đạo đức xuất hiện đầu tiên trong kinh văn đời nhà Chu Đức dùng nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận

xã hội

Đạo đức thuộc lĩnh vực của đời sống tinh thần Vì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nên đạo đức không thể tồn tại một cách biệt lập mà nó có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác của kiến trúc thượng tầng như

Trang 32

là những hình thái ý thức xã hội Tôn giáo và đạo đức đều hướng con người tới những lý tưởng sống thiện, nhân đạo, tránh cái ác, đề cập đến những vấn đề

hạnh phúc, số phận con người…Những nhu cầu đạo đức của con người ít nhiều được phản ánh trong các giáo lý của tôn giáo nói chung và tư tưởng triết học Phật giáo nói riêng

Tư tưởng triết học Phật giáo có sức lan tỏa rộng rãi, đặc biệt là ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam An Giang là trung tâm kinh tế, văn hóa của Đồng bằng sông Cửu Long, cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm về văn hóa, lối sống và đạo đức Phật giáo Triết lý Phật giáo đã khơi dậy được giá trị nhân văn trong con người hướng tới chân - thiện - mỹ, khơi dậy sự khao khát của con người muốn giải thoát trước những mâu thuẩn, bế tắc do chính con người tạo

ra Bởi vậy đạo Phật xét về mặt tích cực, thực sự là chỗ dựa tinh thần cho một

bộ phận đông đảo quần chúng trong xã hội Đặc biệt với một bộ phận cư dân đến sinh cơ lập nghiệp trên đất An Giang, trước những bỡ ngỡ cô đơn nơi vùng đất mới, dân cư, văn hóa, phong tục đều xa lạ, đầy sự huyền bí và sự đe dọa, những người dân lúc ấy đã phải giữ sự bình an của tâm hồn bằng chính những ngôi chùa Phật, những ngôi chùa làng vị tha, hướng thiện, từ bi của Đức Phật là nơi an ủi tâm hồn, giúp con người vượt khổ nạn Cũng chính vậy mà đao Phật

đã bám sâu trong lối sống, đạo đức của người dân An Giang, có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây

Những tư tưởng của Phật giáo đã tác động khá rõ nét trong đạo đức, lối sống của người dân An Giang Cách sống bình tĩnh, dung dị, sâu lắng, thủy chung của người dân An Giang có một phần bồi đắp từ tư tưởng Phật giáo Tính cách, đạo đức, lối sống của người dân An Giang thể hiện rõ sự độc đáo, phong phú và đa dạng Nền tảng của tính cách, lối sống của người dân nơi đây

là văn hóa Việt Nam được dung hòa với văn hóa bản địa ở vùng đất mới vừa được tiếp nhận dưới ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo Những người Việt Nam đầu tiên có mặt tại An Giang trên vùng đất mới với bao gian khó ban đầu để lập nghiệp, thì Phật giáo là chỗ dựa tinh thần, là sự chở che giúp đỡ, rồi

Trang 33

sau đó lâu dần những tư tưởng Phật giáo thấm sâu vào tâm hồn trở thành tính cách, lối sống của người dân An Giang Chùa có mặt khắp nơi, được sống trong

không gian với cảnh chùa thanh tịnh, tiếng chuông chùa hôm sớm, tư tưởng Phật giáo cứ thế mà thấm dần vào tâm can mọi người

Trong di tích nghệ thuật ở tỉnh An Giang, chùa không đơn thuần là cơ sở thờ tự mà là nơi thể hiện tư tưởng, tình cảm, từ lâu đã chi phối cách ăn ở và ứng xử của mọi người, tạo thành phong tục thói quen của người dân nơi đây Đến chùa không chỉ giúp cho người ta tìm được sự thư thái, bình an, hướng thiện mà còn giúp họ quên đi những khó khăn, những việc làm chưa đẹp trong cuộc sống để hướng về những điều thanh cao Do vậy, đi chùa lễ Phật vào những ngày Phật đản, Vu lan, tết Nguyên đán hay những ngày rằm, mồng một hàng tháng đã trở thành nếp sống bình thường không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân Họ đến chùa với tấm lòng thành kính, thân tâm trong sáng cầu mong sự bình an, tốt đẹp cho mình và cho mọi người

Đối với người dân, ăn chay hàng tháng hay trường chay cũng biểu hiện

sự mô đạo và lối sống đạo của người dân Tuy nhiên không phải chỉ Phật tử mới ăn chay mà cả những người không theo đạo Phật cũng ăn chay một tháng 2 đến 4 ngày, bởi đa phần mọi người đều muốn thông qua việc này để gởi gắm tâm nguyện của mình Như quan niệm ăn chay của Phật giáo là để nuôi dưỡng pháp thiện, tăng trưởng căn lành, phát triển tình thương rộng lớn đối với mọi người và mọi loài Chính điều đó đã có tác dụng ngăn ngừa con người ta làm điều bất chính, tạo thân tâm nhẹ nhàng, thanh khiết làm nên tính cách trầm tĩnh

có chiều sâu tư duy và tính nhân ái, an nhiên của người dân Với tính cách này người dân thường chế ngự được nhiều điều, thắng không kiêu, bại không nản, loại bỏ được tham, sân, si, giữ được sự an bình trong quan hệ với người xung quanh, cuộc sống nhờ đó mà tốt đẹp hơn

Nhân sinh quan Phật giáo vơi tinh thần “một ngày không làm, một ngày không ăn” đã ăn sâu vào ý thức của tu sĩ Phật giáo và cả những người dân bình thường Tinh thần cần cù lao động là một giá trị truyền thống của người dân An

Trang 34

nhưng người dân nơi đây có cách làm ăn và cách sống riêng đặc sắc Người dân An Giang không chỉ tiếp thu ở Phật giáo tinh thần tự lực mà còn tiếp thu cả

lòng từ bi, hỷ xả, nếp sống đạm bạc, thanh tịnh ở nhà chùa tạo nên lối sống dung dị đầy nhân bản Tiếp thu khuynh hướng trọng thức của Phật giáo, người dân luôn cố gắng vươn lên trên con đường học vấn Bởi vì họ cho rằng muốn

có sự ổn định bền vững, lâu dài trong cuộc sống thì cần phải có trí tuệ hay nói theo danh từ nhà Phật là phải có Bát nhã Nhờ có trình độ văn hóa cao nên với người dân An Giang những điều bình dị trong cuộc sống thường nhật đều có thể nâng lên thành nghệ thuật từ ẩm thực đến trang trí nhà cửa, vườn cây…Ngoài ra các thế hệ xuất gia tu hành ở An Giang luôn đẩy mạnh các hoạt động

xã hội như nuôi dưỡng trẻ mô côi, mở các lớp học tình thương, dạy nghề cho các em học sinh nghèo, cứu trợ đồng bào thiên tai, bão lụt rất tích cực và hiệu quả Chính điều này đã tạo cho người dân nơi đây giàu lòng thương người, thường giúp nhau trong hoạn nạn “lá lành đùm lá rách”…

Đối với người dân, cái tâm của con người là vô cùng quan trọng, làm bất

cứ việc gì cũng phải với tấm lòng thành thực không vụ lợi mới là đáng quý Họ luôn trang trải lòng mình với mọi người “của ít lòng nhiều”, giá trị vật chất không lớn nhưng cái đáng trân trọng là tình cảm, là tấm lòng được gửi đến người nhận Đó là truyền thống quý báu của người dân An Giang được phát huy dưới ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo

Nhờ ảnh hưởng của nhân sin quan Phật giáo mà con người thường chế ngự được tính ích kỷ, thể hiện tình thương bằng sự giúp đỡ tận tâm tận lực, đùm bọc lẫn nhau khôngvụ lợi, không chờ sự đền đáp Tình nhân ái dược thể hiện trong quan hệ tình làng nghĩa xóm khi “tắt lửa tối đèn”, giữ gìn được truyền thống đạo đức tốt đẹp chung Tính cách người dân bình dị, nhẹ nhàng, trầm tĩnh một phần ảnh hưởng từ triết lý sống của nhà Phật

Thấm nhuần tư tưởng Phật giáo khuyến khích con người sống hướng thiện trên tinh thần phải biết nhẫn nại, tự tin vào sức mình, gieo nhân nào thì

Trang 35

được quả ấy nên người dân luôn ý thức phải làm điều thiện để tạo nhân lành cho đời sau.

Với vai trò, chức năng và những giá trị nhân văn sâu sắc của mình, Phật giáo trở thành chỗ dựa trong đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận quần

chúng Các chuẩn mực của đạo đức Phật giáo có tác dụng điều chỉnh hành vi, nhân cách con người, ảnh hưởng tích cực đến quần chúng Với những tư tưởng

về “vô ngã”, “vô thường”, “từ bi”, “hỷ xả”, “nghiệp chướng luân hồi”, “nhân quả”, Phật giáo đã góp phần đáp ứng nhu cầu về tâm linh của người dân lúc bấy giờ Vì vậy, Phật giáo đã nhanh chóng tìm ra cho chính mình cơ sở tồn tại

và phát triển trên đất nước Việt Nam Cùng với quá trình du nhập và phát triển của đạo Phật, những giá trị và chuẩn mực đạo đức của Phật giáo cũng xâm nhập và tác động đến nền đạo đức của người Việt Nam nói chung và người dân

An Giang nói riêng

Đạo đức Phật giáo đã thực sự bám rễ vào đạo lý truyền thống của dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc đến đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của con người, Phật giáo không những mang tính triết lý mà quan trọng hơn là hành vi mang tính thiện Phật giáo không phải với tư cách là một hệ tư tưởng với các giáo lý cao siêu mà là những điều gần gũi với tâm tư, tình cảm của con người với tư tưởng công bằng, nhân ái, từ bi, hỷ xả, không oán ghét, hận thù…do đó đại đa số người dân nơi đây đã tìm thấy ở Phật giáo một chỗ dựa tinh thần, một niềm tin, một sự hứa hẹn bù đắp

Triết lý Phật giáo đã góp phần làm cho đạo đức , tâm lý lối sống, phong tục tập quán…của người dân nơi đây có những bản sắc riêng Triết lý Phật giáo

đã tác động mạnh mẽ đến nếp sống của mỗi con người cũng như trong cộng đồng dân tộc

Từ những buổi du nhập, Triết lý Phật giáo đã được đại đa số quần chúng nghèo khổ đón nhận vì nó mang khát vọng giải thoát một cách tự nhiên, hài hòa Đạo Phật gần gũi với người dân Việt Nam nói chung và người dân nơi đây đến mức trong ngôn ngữ có nhiều từ ngữ liên quan đến Đạo Phật như “hiền như bụt”, “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” Khi tỏ lòng thương

Trang 36

Phật, hoặc khi chỉ cái gì quá nhiều, người ta thường nói “hằng hà sa số” vì khi xưa Đức Phật thuyết giáp ở lưu vực sông Hằng, khi miêu tả một số quá nhiều Ngài thường lấy ví dụ: “nhiều như cát sông Hằng” Phật giáo đã ngấm sâu vào

máu thịt, trở thànhmột bộ phận văn hóa, nếp sống và tư duy của đồng bào ở An Giang

Do điều kiện lịch sử quy định, ông cha ta đã không có điều kiện đi sâu vào những vấn đề trừu tượng của Triết học Phật giáo mà chỉ có thể hiểu nó để vận dụng vào giải quyết những vấn đề trong cuộc sống Mặc dù họ không hiểu tường tận những triết lý cao siêu của nhà Phật nhưng họ tin rằng: Sống có đạo đức thì sẽ gặt hái được những điều thiện, điều tốt sống vô đạo đức, trái với luân thường đạo đức ắt sẽ bị quả báo

Tư tưởng “từ bi hỷ xả”, “vị tha” của Phật giáo với mục đíc cứu khổ cứu nạn vừa trùng hợp với bản tính người Việt Nam nói chung và người dân An Giang nói riêng Dù là một tôn giáo từ phương trời xa truyền đến, nhưng tư tưởng, triết lý Phật giáo rất gần gũi với tâm lý của người dân nơi đây Triết lý của đạo Phật về sự khổ của cuộc đời, những cái khổ rất cụ thể: sinh, lão, bệnh,

tử Những điều cụ thể đó làm con người sâu xa, suy ngẫm và tính hợp lí Nhà Phật lại nói đến “vô thường”, có chuyển biến, có thay đổi, điều đó thật phù hợp với khát khao và nguyện vọng của con người mong có ngày cuộc đời sẽ thay đổi, hết khổ đau và được hạnh phúc Ở nước ta nói chung và ở An Giang nói riêng, triết lí Phật giáo rất gần gũi với quần chúng nhân dân, triết lý Phật giáo tiêu biểu cho những giá trị đạo đức từ bi, bác ái, hành vi mang tính thiện Từ nhà chùa đến cuộc sống không cách nhau bao xa

Triết lý đạo Phật là dạy cho con người biết nguyên nhân và con đường thoát khỏi khổ đau Dù triết lý Phật giáo mới vạch ra được một nửa nguyên nhân là do con người sinh học, có thân ắt có khổ, nhưng với cách thức tu luyện

là vức bỏ mọi ham muốn dục vọng cá nhân trong mỗi con người cho nên đạo Phật nghiễm nhiên trở thành cách tu dưỡng đạo đức, dễ dàng có sức lan tỏa

Trang 37

trong nhân gian Nói đến Phật giáo người ta hình dung ngay đó là sự hiền hòa, phúc đức, từ bi Vì thế mà triết lý Phật giáo dễ đi vào lòng người.

Đạo đức Phật giáo đã góp phần bổ sung vào văn hóa đạo đức của con người Những giá trị khuyến thiện, hướng thiện không chỉ phát huy trong hàng

ngũ tín đồ mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống nhân dân, góp phần hình thành những quan niệm sống mang tính nhân văn

Triết lý Phật giáo về từ bi, về lòng yêu thương rất phù hợp với truyền thống giàu lòng nhân ái vốn có của dân tộc Khi đã thấm sâu vào tín ngưỡng dân gian, Phật giáo có một vai trò quan trọng trong lối sống của cộng đồng dân tộc từ xưa đến nay Người Việt Nam trong quan hệ giữa con người với con người luôn lấy tình nghĩa làm đầu, biết tôn trọng và cư xử tốt đẹp với nhau Với triết lí đề cao cái tâm, hạn chế sát sinh và mở rộng từ bi đến với muôn loài, đạo đức Phật giáo đã góp phần tạo nên nhân cách, đạo đức, lối sống, cách cư

xử của con người Là sự kết tinh của yếu tố nhân bản, trí tuệ, đạo đức Phật giáo

đã góp phần hướng con người đến chân, thiện, mỹ

Thực tế đời sống đã cho chúng ta thấy rằng, với tư tưởng từ bi, cứu khổ, chùa đã giang rộng vòng tay đón các bác xe ôm, xích lô và các bà bán hàng rong, các cháu bán báo, vé số, đánh giày, ăn xin…vào nghĩ trưa ở ghế đá, dưới bóng mát của các tán cây và họ thường được mời ăn bữa cơm chay đạm bạc cùng với tăng ni trong chùa Hình ảnh đó trở thành quen thuộc với nếp sống thường ngày của nhiều ngôi chùa, đặc biệt các ngôi chùa ở nơi đông dân cư Nhièu người coi chùa là ngôi nhà thứ hai của mình, những ngôi chùa ấy trở thành nơi nghĩ ngơi, nơi chia sẽ bớt những khó khăn của họ lúc thiếu thốn, ốm đau, căng thẳng của cuộc sống đời thường

Những năm gần đây, đời sống kinh tế của người dân nâng cao, tạo điều kiện cho nhiều người đi chùa lễ Phật thường xuyên hơn Ngoài cầu nguyện Phật ban phúc, phù hộ, người dân còn quan tâm hơn tới việc nghe giảng giáo

lý, giáo luật, lễ nghi, tu tập đức hạnh Các buổi nghe giảng giáo lý ngày càng thu hút nhiều người, kể cả những người không phải Phật tử Để thấm nhuần

Trang 38

lý Phật giáo rất uyên thâm Thông qua buổi nghe giảng, mọi người có thể hỏi tăng ni điều chưa hiểu Các buổi giảng trang bị cho họ những hiểu biết về giá trị đạo đức thể hiện trong ngũ giới, thập thiện, lục độ…lấy Đức Phật làm gương

sáng, ghi khắc những giới răn ở trong lòng và thực hiện nó trong đời sống, giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội

Lấy con người là trung tâm, thấy được nỗi khổ của chúng sinh và mong muốn chúng sinh thoát khỏi vòng trầm luân biến khổ Bằng chủ trương cứu nhân độ thế, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, đạo Phật hướng con người tu tập nhân tâm, vượt qua mọi cám dỗ để hoàn thiện dần nhân cách Những chuẩn mực trong giá trị đạo đức của Phật giáo mang tính triết lý nhân văn sâu sắc ngoài việc hoàn chỉnh đạo đức, nó còn ăn sâu vào suy nghĩ, hành vi, lối sống của mỗi người dân, góp phần vào việc giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống Như vậy, những chuẩn mực đạo đức Phật giáo đã ảnh hưởng tích cực đến đạo đức, lối sông của nhân dân tỉnh An Giang trong những năm qua Tuy nhiên, bên cạnh ảnh hưởng tích cực đó thì cũng còn những hạn chế, tiêu cực là lối sống, đạo đức của một bộ phận người dân An Giang chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng triết học Phật giáo Xưa kia, trước khi nhập niết bàn, Phật tổ từng dặn dò

đệ tử không được bói toán, xem sao, xem tướng làm mê hoặc quần chúng Nhưng một số kẻ lợi dụng chùa làm nơi bói toán, lên đồng, xem sao, xem tướng, giải hạn…để kiếm tiền bất chính Trước cổng chùa hay bán đủ loại sách

tử vi, cúng sao, giải hạn không có nguồn gôc xuất xứ, làm mê hoặc quần chúng Lợi dụng lòng tốt của khách đến chùa, một số người trẻ tuổi,lành lặn, khỏe khoắn, lười lao động ngồi dọc lối vào chùa hành nghệ ăn xin, níu kéo làm mất lòng khách Biểu hiện móc túi, lừa đảo khách bán đồ giả có xu hướng gia tăng Trong các ngôi chùa có trang bị thùng rác, nhưng vẫn còn nhiều người thiếu ý thức xả rác bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường Những năm gần đây, nguời đến chùa ngày càng đông Đa số cử chỉ nhã nhặn, ăn mặc trang nhã, thể

Ngày đăng: 26/03/2018, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w