1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại những vấn đề lí luận và thực tiễn

71 298 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quy định về trách nhiệm tài sản của Luật Thương mại năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan, về cơ bản, đã tạo được hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ LAN PHƯƠNG

TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI- NHỮNG VẤN ĐỀ

LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô Khoa Sau đại học, Khoa pháp luật kinh tế và cán bộ, nhân Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội – những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình em học tập, nghiên cứu và viết luận văn tại Trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Cô giáo – Tiến sĩ Vũ Thị Lan Anh – người đã tận tình hướng dẫn em thực hiện công trình nghiên cứu này

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – những người đã luôn ở bên động viên, chia sẻ và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2014

Tác giả

Hoàng Thị Lan Phương

Trang 3

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU……… 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN

DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Khái quát về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại 7 1.2 Khái quát pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH……… …… …… ………27

2.1 Các căn cứ áp dụng trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại……….……….27 2.2 Nội dung của trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại……….……… 37 2.3 Các trường hợp miễn trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ……… ………49 2.4 Áp dụng phối hợp các hình thức trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ……… ………55

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO

VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI …… ……57

3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ………… 57 3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại……… ……… 60

KẾT LUẬN ……… ……… 64

Trang 4

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương khóa X đã đề ra mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Hội nghị khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Sau gần 30 năm đổi mới, có thể nói, nền kinh tế thị trường bước đầu đã đem lại sự phát triển cho nền kinh tế của đất nước ta, góp phần tích lũy, tái đầu tư cho phát triển Adam Smith- nhà kinh tế của Scotland từng đề cập tới

“bàn tay vô hình” và cho rằng bản chất của nền kinh tế thị trường là dựa trên

quy luật cung- cầu và cạnh tranh; dưới tác động của quy luật này, nền kinh tế thị trường sẽ tự nó điều chỉnh, thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế.Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, sự vận động của nền kinh tế, thương mại theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết hết được những vấn đề do chính cơ chế đó

và do bản thân thương mại đặt ra Nói cách khác, nền kinh tế thị trường không

thể tự nó điều chỉnh theo quy luật cung cầu hay “bàn tay vô hình” mà Adam

Smith từng nói tới Thực tế ở các nước tư bản phát triển chứng minh rằng, Nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tối đa thế mạnh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường [21, tr.26] Vì vậy, sự tác động của Nhà nước vào các hoạt động thương mại trong nước và với nước ngoài là một tất yếu của sự phát triển Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, sự quản lý của Nhà nước ta đối với hoạt động thương mại được thực hiện bằng pháp luật và các chính sách phát triển kinh tế

Trang 5

2

Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động thương mại diễn ra thường xuyên, liên tục, với số lượng lớn Tất cả chủ thể kinh doanh trong quá trình tiến hành các hoạt động thương mại không hề đứng biệt lập Ngược lại, họ phải cùng nhau tham gia vào các quan hệ thương mại được xác lập chủ yếu trên cơ sở các hợp đồng Dưới góc độ pháp lý, các thỏa thuận hợp pháp được nêu trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên và được pháp luật bảo vệ Lợi ích của một chủ thể chỉ thỏa mãn khi đối tác của họ thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Thế nhưng, vì nhiều lý do khác nhau, một hoặc một số bên trong hợp đồng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa

vụ theo hợp đồng của mình Nói cách khác, một hoặc một số bên đã vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Khi đó, việc vi phạm hợp đồng này sẽ gây ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp, chính đáng của bên còn lại, dẫn đến mục đích sinh lợi khi tham gia vào các hợp đồng trong hoạt động thương mại của họ không được đảm bảo Vì vậy, Nhà nước đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Một trong số đó là trách nhiệm tài sản, bao gồm phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Những quy định về trách nhiệm tài sản của Luật Thương mại năm 2005

và một số văn bản pháp luật khác có liên quan, về cơ bản, đã tạo được hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên bị vi phạm và tăng cường ý thức, trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, các quan hệ thương mại, đặc biệt là các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng đa dạng, phức tạp, thì các quy định này nảy sinh, bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt,

một số quy định còn có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí “vênh” giữa các

văn bản pháp luật Những khiếm khuyết của pháp luật đã gây ra nhiều khó

Trang 6

Chính vì những lí do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Trách

nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lí luận và thực tiễn” cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại và trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với bên vi phạm đã nhận được nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu Dưới các góc độ khác nhau, có thể kể đến một vài công trình sau đây:

- TS Nguyễn Thị Dung, Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh

doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;

- TS Đỗ Văn Đại (Chủ biên), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện

đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2010;

- Quách Thúy Quỳnh, Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp

đồng trong kinh doanh- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, luận văn

thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2005;

Trang 7

4

- Hoàng Thị Hà Phương, Chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động

thương mại- Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2011;

- Nguyễn Thị Thu Huyền, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm

hợp đồng trong hoạt động thương mại, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại

học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2013;

- Nguyễn Thị Hằng Nga, “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi

thường thiệt hại vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong thương mại”, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 9, năm 2006;

- TS Nguyễn Viết Tý, “Vấn đề áp dụng Bộ luật dân sự trong điều

chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại”, Tạp chí Luật học, Số11, năm 2008;

Phần lớn các công trình nghiên cứu trên đề cập tới từng hình thức riêng hoặc phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại hoặc nghiên cứu hai chế tài này trong mối quan hệ với các chế tài khác bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại dưới góc độ là một dạng trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Nói cách khác, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại với bản chất chung của chúng, đó là bản chất của trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Hơn nữa, hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu riêng hệ thống lí luận, thực tiễn về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích mà tác giả hướng tới khi thực hiện luận văn là làm rõ những vấn đề lí luận chung nhất về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, nội dung cơ bản của pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ

đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này

Trang 8

5

Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết gồm:

Một là, tìm hiểu một số vấn đề lí luận về trách nhiệm tài sản do vi

phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại nhằm làm rõ bản chất pháp lý, ý nghĩa của loại trách nhiệm này Ngoài ra, quá trình nghiên cứu của luận văn cần làm rõ nguồn pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, quá trình hình thành và phát triển của các quy định đó

ở Việt Nam;

Hai là, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm

tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Trong quá trình phân tích, luận văn so sánh một số quy định hiện hành của luật thực định với quy định được nêu trong các văn bản trước kia, và với pháp luật nước ngoài Đồng thời, luận văn kết hợp giữa nghiên cứu pháp luật với phân tích các bản

án để đánh giá ưu điểm, hạn chế của các quy định pháp luật và nguyên nhân của các ưu điểm, hạn chế đó

Ba là, từ việc nghiên cứu trên đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp

luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lí luận chung, nội dung

cơ bản của pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại và thực tiễn thi hành

Đây là đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Vì thế, tác giả tập trung chủ yếu nghiên cứu các quy định của Luật thương mại năm

Trang 9

6

2005 Việc dẫn chiếu đến các quy định khác (Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, pháp luật nước ngoài, ) chỉ nhằm so sánh, mở rộng, và làm sáng tỏ hơn đối tượng nghiên cứu cũng như đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, về pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng

Trên nền tảng phương pháp luận ấy, khi nghiên cứu từng vấn đề cụ thể, tác giả có sử dụng các phương pháp như: logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp,

so sánh…

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại và pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại và thực tiễn thi hành

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Trang 10

7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

1.1.1 Vi phạm hợp đồng và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

1.1.1.1 Vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Triết học Mác- Lê nin khẳng định “con người là tổng hòa các mối quan

hệ xã hội” Thật vậy, để tồn tại và phát triển, các cá nhân, tổ chức đều phải

tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó có việc thiết lập với các cá nhân, tổ chức khác những quan hệ tài sản nói chung và các quan hệ kinh doanh, thương mại nói riêng Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ

về kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể này được xác lập chủ yếu trên cơ

sở các hợp đồng trong hoạt động thương mại

Ở Việt Nam, khoa học pháp lý và pháp luật thực định sử dụng nhiều khái niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong thương mại như: hợp đồng kinh doanh (Điều lệ số 735-TTg về hợp đồng kinh doanh do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 4 năm 1956), hợp đồng kinh tế (Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 25 tháng 9 năm 1989), hợp đồng thương mại (Quyết định 0842/2003/QĐ-BTM về việc cửa khẩu Bình Hiệp tỉnh Long An được phép làm thủ tục xuất, nhập khẩu hàng hoá chính ngạch theo hợp đồng thương mại do Bộ trưởng Bộ Thương mại ban hành), Pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa về hợp đồng trong hoạt động thương mại mà chỉ quy định khái niệm chung về hợp đồng dân sự Theo

quy định tại Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng dân sự là “sự thỏa

Trang 11

sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Chung quan

điểm này, có ý kiến cho rằng: “Pháp luật về hợp đồng dân sự là pháp luật có

tính chất cơ bản, chung nhất, là nền tảng, còn pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương mại là bộ phận pháp luật có tính chất chuyên ngành, là sự quy định cụ thể các nguyên tắc của việc kí kết và thực hiện hợp đồng trong một lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các thương nhân”

[14, tr.21]

Trước đây, Điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã đưa ra

khái niệm hợp đồng kinh tế: “Là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao

dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng nghiên cứu khoa học- kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục dích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” Cũng

trong văn bản này, Điều 2 và Điều 42 đề cập tới dấu hiệu chủ thể để nhận diện hợp đồng kinh tế Theo đó, hợp đồng kinh tế là hợp đồng được ký giữa: pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, giữa các pháp nhân với người làm công tác khoa học- kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể Các quy định này của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 vô hình chung đã bó hẹp ngoại diên của khái niệm hợp đồng kinh tế Việc xác định hợp đồng kinh tế dựa trên ba yếu tố cơ bản là chủ thể, mục đích và hình thức của hợp đồng

Trang 12

mại năm 2005: “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng

hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”, có thể hiểu: “hợp đồng trong hoạt động thương mại

là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại” Theo cách hiểu này, hợp đồng trong hoạt

động thương mại có thể là bất kỳ hợp đồng nào với một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể hợp đồng: Hợp đồng trong hoạt động thương mại được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân Theo pháp luật Việt Nam, có những quan hệ hợp đồng trong thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân (hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, ) Nhưng cũng có những hợp đồng chỉ đòi hỏi ít nhất một bên là thương nhân (hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại, ) Những hợp đồng này về nguyên tắc sẽ chịu sự điều chỉnh của luật thương mại Ở một số quốc gia khác, những quy định loại này cũng có sự khác biệt nhất định Đơn cử ở Đức, pháp luật thương mại của nước này có thể được áp dụng khi một bên của hợp đồng là thương nhân thực hiện hoạt động thương

Trang 13

10

mại Luật thương mại của Pháp coi hợp đồng có các bên chủ thể là thương nhân là hợp đồng thương mại Nếu chỉ có một bên là thương nhân, bên kia không phải là thương nhân thì đó được xem là hợp đồng hỗn hợp và việc lựa chọn luật thương mại hay luật dân sự để giải quyết thuộc quyền của bên không phải là thương nhân

Thứ hai, về hình thức hợp đồng: Hình thức hợp đồng thương mại do các bên trong hợp đồng tự thỏa thuận, trừ các trường hợp pháp luật yêu cầu phải thể hiện hợp đồng dưới hình thức văn bản (hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo, ) Ngoài ra, Luật Thương mại 2005 còn cho phép các bên trong hợp đồng có thể thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như fax, telex, (Điều 124, Điều

130 Luật Thương mại 2005, )

Thứ 3, về mục đích của hợp đồng: Mục đích của hợp đồng trong hoạt động thương mại là lợi nhuận Hợp đồng trong hoạt động thương mại được các bên ký kết với nhau trong quá trình họ thực hiện các hoạt động thương mại Mục đích mang tính bản chất của các hoạt động thương mại chính là lợi nhuận Điều này quyết định tới mục đích của các hợp đồng trong hoạt động thương mại mà họ tham gia Pháp luật các nước cũng thừa nhận điều này Bộ luật thương mại Đức nhấn mạnh rằng hợp đồng thương mại là những hợp đồng được thực hiện trong khuôn khổ nghề thương mại một cách hệ thống, chuyên nghiệp và nhằm mục đích kiếm lời Theo pháp luật Việt Nam, những hợp đồng giữa thương nhân với chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận, việc áp dụng Luật Thương mại hay không để điều chỉnh quan hệ hợp đồng này do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định (Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005)

Về nguyên tắc, khi các bên giao kết các hợp đồng trong hoạt động thương mại, các bên phải nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong

Trang 14

11

hợp đồng Tuy nhiên, có thể vì lợi ích của mình hoặc vì những lí do khách quan khiến một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 gọi đó là vi phạm hợp đồng, mà trong trường hợp này, phải hiểu đó là vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Như vậy, theo Luật Thương mại 2005, vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại là việc một hoặc một số bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng trong hoạt động thương mại hoặc theo quy định của pháp luật

1.1.1.2 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Theo Từ điền Tiếng Việt, trách nhiệm có thể được hiểu theo hai nghĩa:

Một là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm

làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”, hai là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì sẽ phải gánh chịu phần hậu quả” [11] Theo hai cách định nghĩa trên,

trách nhiệm có nhiêu điểm tương đồng với nghĩa vụ, nhưng nó cũng hàm chứa điểm khác biệt quan trọng đó là yếu tố “hậu quả” Trách nhiệm pháp lý

là trách nhiệm được điều chỉnh và bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vi vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người mà mình bảo lãnh hoặc giám hộ) Khác với các loại hình trách nhiệm khác, trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với sự cưỡng chế Nhà nước, với việc áp dụng chế tài do pháp luật quy định Trách nhiệm pháp lý bao gồm: Trách nhiệm hình sự; Trách nhiệm pháp lý hành chính là loại trách nhiệm pháp lí do các cơ quan nhà nước áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật hành chính; Trách nhiệm pháp lí kỉ luật; Trách nhiệm dân sự [12] Trong

Trang 15

12

đó, trách nhiệm dân sự bao gồm buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm;

Khi một hoặc một số bên vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

sẽ dẫn tới quyền lợi hợp pháp, chính đáng của bên còn lại trong hợp đồng không được đảm bảo Pháp luật buộc bên vi phạm phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý do đã thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Do hợp đồng trong hoạt động thương mại là một dạng của hợp đồng dân sự (Như đã phân tích tại trang 9, mục 1.1.1.1), trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại là một dạng trách nhiệm dân sự Theo

quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự 2005 “nghĩa vụ dân sự là việc một hoặc

nhiều chủ thể phải làm hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” Cũng trong Bộ luật dân sự 2005, Điều 302 quy

định “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là việc người có nghĩa vụ

không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm trước người có quyền” Như vậy, trách nhiệm chỉ đặt ra khi một hoặc

một số bên vi phạm nghĩa vụ của mình

Từ phân tích trên, có thể hiểu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại là việc một hoặc một số bên trong quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng đã cam kết

Pháp luật ghi nhận trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý Điều này hướng tới nhiều mục đích, trong đó, có việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên bị vi phạm, bảo đảm môi trường kinh doanh trong sạch, đáng tin cậy và góp phần răn đe, xử lý nghiêm khắc các chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong

Trang 16

13

hoạt động thương mại phát sinh trên cơ sở các hợp đồng trong hoạt động thương mại được ký kết và có hiệu lực pháp luật Chỉ khi các bên ký kết hợp đồng, và hợp đồng hợp pháp phát sinh hiệu lực, mới có cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Từ đó, mới có cơ sở để xác định nghĩa vụ bị

vi phạm và bên vi phạm Đặc điểm này cho phép phân biệt trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại với các loại trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm dân sự có thể phát sinh trong các giao dịch dân sự không phải là hợp đồng như hành vi pháp lý đơn phương, chiếm hữu sử dụng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật,… Ngoài ra, trách nhiệm này phát sinh khi có vi phạm, và là trách nhiệm của bên vi phạm trước bên có quyền theo hợp đồng Nếu bên vi phạm không thực hiện trách nhiệm này của mình thì bên có quyền có thể yêu cầu Tòa án hoặc trọng tài giải quyết theo quy định của pháp luật

Về mặt lí luận, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại có mối quan hệ gần gũi với các chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, trong

đó, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại có bản chất

là quan hệ pháp luật; Các chế tài là hình thức trách nhiệm Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại gắn liền với các hình thức chế tài mà bên vi phạm phải gánh chịu, bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế (Điều 292 Luật Thương mại 2005) Trong đó, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có thể gọi chung là trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Trang 17

vi phạm và hậu quả hành vi vi phạm thì sẽ phải chịu những hình thức trách nhiệm pháp lý cụ thể Theo quy định tại Điều 292 Luật Thương mại 2005, các hình thức trách nhiệm pháp lý có thể bị áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại bao gồm: trách nhiệm tài sản gồm bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm; buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng;

Mỗi hình thức trách nhiệm tài sản (phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại) hướng tới những mục đích khác nhau nhưng mang bản chất chung là các chế tài tiền tệ Mục đích của các hình thức trách nhiệm tài sản là một khoản

tiền phạt hoặc khoản tiền bồi thường, mà không phải là “hành vi” như chế tài

buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng Bên cạnh đó, trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại khác với trách nhiệm tài sản do vi phạm các hợp đồng dân sự khác ở chỗ: (i) Chủ thể có thẩm quyền áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại chủ yếu là các thương nhân trong quá trình họ thực hiện các hợp đồng thương mại- bên

bị vi phạm; (ii) Chủ thể chịu trách nhiệm này chủ yếu là các thương nhân- bên

vi phạm; (iii) Trách nhiệm này phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng trong hoạt động thương mại (Hợp đồng trong hoạt động thương mại đã được phân tích tại mục 1.1.1.1)

Trang 18

15

1.1.2.1 Phạt vi phạm

Phạt vi phạm là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó, bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định theo sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật Hình thức trách nhiệm tài sản này được quy định tại Điều 300 và Điều 301 Luật Thương mại

2005 Căn cứ để bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt là: hành vi

vi phạm hợp đồng và thỏa thuận trong hợp đồng của các bên về việc phạt vi phạm Thiệt hại không phải là căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm Yếu tố lỗi trong phạt vi phạm chi mang ý nghĩa suy đoán, nghĩa là mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi (trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được rằng mình không có lỗi) Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng đều không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp giám định đưa ra kết quả sai theo quy định tại Điề 266 Luật Thương mại 2005 Mục đích của chế tài phạt vi phạm là nhằm phòng ngừa, răn đe, trừng phạt bên vi phạm hợp đồng

Thực tế, trên thế giới, không phải pháp luật quốc gia nào cũng ghi nhận hình thức chế tài phạt vi phạm hợp đồng như Việt Nam Đơn cử Hoa Kỳ là nước không thừa nhận chế tài này Người vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại mà không bị phạt hợp đồng Người có nghĩa vụ được tự do

dự liệu có thực hiện nghĩa vụ hay không, nếu xuất hiện những cơ hội hấp dẫn hơn với các bên thứ ba, thì người này có thể không thực hiện nghĩa vụ và chấp nhận đền bù thiệt hại cho bên bị vi phạm Theo lập luận của họ, phạt vi phạm có thể gây hạn chế quyền tự do của bên có nghĩa vụ trong hợp đồng Một điều khoản thỏa thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng như vậy có thể bị tòa án Hoa Kỳ tuyên bố vô hiệu Một bên không được phép dùng hình thức

Trang 19

16

phạt hợp đồng như là một biện pháp răn đe hạn chế quyền tự do định đoạt của bên kia (Vũ Thị Lan Anh, 2010)

1.1.2.2 Bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là loại trách nhiệm tài sản có lịch sử lâu đời và phổ biến nhất Trách nhiệm này có thể đặt ra đối với hầu hết các hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Bồi thường thiệt hại được quy định từ các Điều 302- 307 Luật Thương mại 2005 Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên

bị vi phạm Khác với phạt vi phạm, mục đích của chế tài bồi thường thiệt hại

là nhằm khôi phục, bù đắp lợi ích vật chất bị mất cho bên bị vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Chế tài này được áp dụng khi có đủ các căn

cứ sau: (i) Có hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại; (ii) Có thiệt hại thực tế; (iii) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây

ra thiệt hại Thiệt hại ở đây được hiểu là thiệt hại vật chất bao gồm giá trị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định giá trị tổn thất vật chất rất khó do tính chất

đa dạng của các loại hàng hóa, dịch vụ trong các hợp đồng thương mại Điều này dẫn tới thực tế là khoản thiệt hại đòi bồi thường không thể cao hơn giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi đáng lẽ được hưởng Mặc dù vậy, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại vẫn là loại trách nhiệm tài sản quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực thi nhằm đảm bảo lợi ích của các bên khi hợp đồng bị vi phạm

1.1.3 Ý nghĩa của trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng trong hoạt động thương mại giữ vai trò vô cùng quan trọng Đó là nhân tố không thể thiếu để thúc đẩy hoạt

Trang 20

17

động thương mại giữa các chủ thể kinh doanh Luật Thương mại ghi nhận trách nhiệm tài sản bằng việc quy định về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nhằm mục đích tạo hành lang pháp lý an toàn cho các hợp đồng đó được ký kết và bảo đảm thực hiện Qua đó, trách nhiệm tài sản chứa đựng nhiều ý nghĩa, cụ thể:

Một là, trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại, các bên đều hướng đến những lợi ích nhất định Lợi ích này đạt được khi đối tác của họ thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng Hành vi

vi phạm của một hoặc một số bên, theo đó, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của bên còn lại Trách nhiệm tài sản chính là hậu quả pháp lý bất lợi

mà Nhà nước buộc bên vi phạm phải gánh chịu để trừng phạt bên vi phạm, đồng thời, khôi phục, bù đắp thiệt hại vật chất cho bên bị vi phạm

Hai là, Luật Thương mại 2005 quy định trách nhiệm tài sản đối với các hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại giúp ngăn ngừa, hạn chế hành vi vi phạm hợp đồng, tăng cường ý thức, trách nhiệm của các bên trong suốt quá trình giao kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng Ngoại trừ rơi các trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 Luật Thương mại 2005, các bên có hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại đều phải gánh trách nhiệm tài sản khá nặng nề Trách nhiệm tài sản đó là các hậu quả pháp lý bất lợi, có thể là việc phải trả một khoản tiền phạt, hoặc có thể là việc phải chi trả khoản tiền bồi thường đối với những tổn thất vật chất

mà hành vi vi phạm của họ gây ra cho bên còn lại trong hợp đồng Không chỉ dừng lại ở đó, việc bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bị bên có quyền áp dụng hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng các hình thức trách nhiệm tài sản còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín kinh doanh và thời

Trang 21

18

gian của bên này Chính vì lẽ đó, để không phải gánh chịu các hình thức trách nhiệm tài sản, các bên trong hợp đồng thương mại cần có ý thức tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng

Ba là, trách nhiệm tài sản góp phần xây dựng hành lang pháp lý an toàn, lành mạnh cho việc tiến hành các hoạt động thương mại, góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường bền vững, thu hút đầu tư trong và ngoài nước Bảo đảm cho các thỏa thuận trong hợp đồng trong hoạt động thương mại là tôn trọng quyền định đoạt của các nhà đầu tư Sự tôn trọng đó của Nhà nước thể hiện ở việc Nhà nước buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm tài sản nặng nề và buộc họ phải chịu trừng phạt về tài sản cũng như bù đắp lợi ích vật chất cho bên bị thiệt hại trong hợp đồng Nếu không có các quy định của Luật Thương mại 2005 nói riêng và Bộ luật dân sự nói chung về trách nhiệm tài sản, trật tự pháp luật trong kinh doanh, thương mại không đảm bảo do các vi phạm hợp đồng diễn ra triền miên, không được kiểm soát bởi Nhà nước Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của các nhà đầu tư, khiến họ dè dặt, nghi ngờ môi trường đầu tư đó và không chịu rót vốn

Như vậy, có thể nói, việc quy định về trách nhiệm tài sản của Luật Thương mại 2005 là hoàn toàn hợp lý và cần thiết Các quy định này vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại, vừa góp phần bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, an toàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2 Khái quát pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

1.2.1 Nguồn pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Nguồn pháp luật là nội dung quan trọng trong cả thực tiễn xây dựng, áp

dụng pháp luật và trong khoa học pháp lý “Nguồn của pháp luật là tất cả các

Trang 22

19

căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế” [20, tr.29, 30]

Tùy vào căn cứ phân biệt, nguồn của pháp luật được chia thành: nguồn nội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu (nguồn cơ bản) và nguồn thứ yếu

Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu pháp luật thực định, cách tiếp cận nguồn của pháp luật dưới góc độ nguồn nội dung và nguồn hình thức phổ

biến hơn cả “Nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của

pháp luật bởi vì nó được các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành và giải thích pháp luật” [20, tr.29, 30].; “nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực

tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế” [20, tr.29, 30] Khi xem xét về nguồn pháp

luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, luận văn sẽ tập trung làm rõ cấu trúc nguồn hình thức của pháp luật về vấn đề này

Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

là một nội dung của Luật Thương mại 2005 và chịu sự điều chỉnh chủ yếu của Luật này cũng như các văn bản hướng dẫn có liên quan Trong quan hệ với

Bộ luật dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 được xem là luật chuyên ngành Theo đó, mặc dù vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại về bản chất

là vi phạm hợp đồng dân sự nói chung, nhưng trách nhiệm đối với vi phạm này sẽ ưu tiên áp dụng theo Luật Thương mại 2005 Ngoài ra, đối với các hợp đồng trong hoạt động thương mại được ký giữa một bên là thương nhân, một bên không phải là thương nhân và không có mục đích sinh lợi, việc lựa chọn luật áp dụng (có thể là Luật Thương mại hoặc Bộ luật dân sự) khi trong quan

Trang 23

20

hệ hợp đồng giữa họ có vi phạm và đặt ra trách nhiệm tài sản thuộc về bên không phải là thương nhân Vì thế, Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản hướng dẫn có liên quan có thể trở thành nguồn của pháp luật về trách nhiệm tài sản

do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Thêm vào đó, các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật

về vấn đề này còn có thể kể đến như Hiến pháp với các quy định về quyền tự

do kinh doanh (các bên trong hợp đồng được tự do thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng bao gồm các thỏa thuận về trách nhiệm tài sản của bên vi phạm hợp đồng,…); Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và các văn bản có liên quan với các quy định về thẩm quyền, trình tự tố tụng (bên bị vi phạm có thể yêu cầu Tòa án áp dụng trách nhiệm tài sản đối với bên vi phạm hợp đồng thông qua thủ tụng tố tụng tại Tòa án,…); Luật trọng tài thương mại 2010 và các văn bản hướng dẫn có liên quan (trong trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết các tranh chấp do vi phạm hợp đồng tại cơ quan này trong đó có nội dung về áp dụng các hình thức trách nhiệm tài sản đối với bên vi phạm,…),…

Bên cạnh hệ thống văn bản pháp luật quốc gia, nguồn của pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại còn bao gồm các điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại Việt Nam và quốc tế, thói quen thương mại, pháp luật nước ngoài nếu các bên thỏa thuận, Việc áp dụng các quy định này được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 5 Luật Thương mại 2005:

“1 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

2 Các bên trong giao dịch có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước

Trang 24

21

ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”

Việt Nam hiện nay không ghi nhận án lệ là nguồn khi điều chỉnh về

trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại “Ở các

nước thuộc hệ thống thông luật, các phán quyết của toà án lại giữ vai trò là nguồn luật chủ yếu, tạo nên luật án lệ” [17, tr 8] Thiết nghĩ, pháp luật nước

ta nên nghiên cứu, trên cơ sở đánh giá ưu điểm của án lệ và khả năng áp dụng tại Việt Nam quyết định đưa án lệ trở thành nguồn pháp luật nói chung, và nguồn của pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng

1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1989

Giành được độc lập cũng là lúc miền Bắc tiến hành khôi phục nền kinh

tế, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội với phương hướng phát triển nền kinh tế có kế hoạch và phát huy sức mạnh tập thể Do đó, thời kỳ này tồn tại đồng thời hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ Trong giai đoạn này, tất cả các hợp đồng trong hoạt động thương mại được gọi chung là hợp đồng kinh tế Cũng trong thời gian này, hợp đồng được xem là công cụ thực hiện kế hoạch Nhà nước và thực hiện mệnh lệnh hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế Việc ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng kế hoạch, vi phạm hợp đồng kinh tế là vi phạm kỷ luật kế hoạch Theo tư tưởng này, tất cả các hành vi từ chối, trì hoãn ký kết hợp đồng kinh tế đồng nghĩa với hành vi

từ chối, trì hoãn thực hiện kế hoạch Nhà nước và phải chịu trách nhiệm tài sản trước Nhà nước Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng kinh tế trong các quy định luật pháp thời này phát sinh ngay cả khi các bên chưa ký kết hợp

Trang 25

22

đồng Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế được quy định tại Nghị định số 04/Ttg ngày 04 tháng 01 năm 1960 của Thủ tướng chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế, Nghị định số 54/CP ngày 10 tháng 3 năm

1975 của Chính phủ ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế và các văn bản hướng dẫn thi hành Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng kinh tế đã xuất hiện cùng với việc ghi nhận chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại

Phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ được áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng kinh tế nhằm củng cố kỷ luật hợp đồng và kỷ luật kế hoạch của Nhà nước Căn cứ áp dụng hình thức trách nhiệm tài sản này là có hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế và có lỗi Phạt hợp đồng không mang bản chất một hình thức chế tài phát sinh trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng, mà mang đặc điểm của chế tài hành chính, thể hiện sự cưỡng chế Nhà nước đối với bên vi phạm hợp đồng, nhằm giáo dục bên vi phạm, không liên quan đến bên bị vi phạm và tiền phạt được bổ sung vào quỹ ngân sách nhà nước Mức phạt hợp đồng được Nhà nước ấn định căn cứ vào giá trị hợp đồng mà không căn cứ vào giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Tuy nhiên, mức phạt thời kỳ này rất thấp và còn mang tính hình thức

Bồi thường thiệt hại cũng là một chế tài tiền tệ được áp dụng nhằm mục đích bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị vi phạm trong hợp đồng Căn

cứ để áp dụng hình thức trách nhiệm tài sản này là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại thực tế, có lỗi của bên vi phạm Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thực

tế thuộc về bên bị vi phạm Tuy nhiên, trong trường hợp bên này không chứng minh được, Trọng tài kinh tế (một cơ quan quản lý thuộc Chính phủ bấy giờ, có hai chức năng cơ bản là: quản lý công tác hợp đồng kinh tế và giải quyết tranh chấp quyết định việc áp dụng hay không chế tài bồi thường thiệt hại Tình trạng này cũng áp dụng đối với trường hợp giữa các bên chưa ký kết

Trang 26

23

hợp đồng(Nghị định số 20/Ttg ngày 14 tháng 11 năm 1960 của Thủ tướng Chính phủ) Quy định này của pháp luật, vô hình chung đã dẫn tới sự tùy tiện,

áp đặt và hành chính hóa các quan hệ hợp đồng kinh tế

Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng các quy định về trách nhiệm tài sản

do vi phạm hợp đồng kinh tế trong thời kỳ này đã góp phần quan trọng trong việc củng cố kỷ luật hợp đồng, bảo đảm cho các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước được thực hiện đầy đủ

1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2006

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện nền kinh tế với chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thời kỳ này, pháp luật đã ghi nhận quyền tự do kinh doanh, tự

do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới, pháp luật về hợp đồng nói chung không ngừng được sửa đổi, bổ sung, và ban hành mới

Có thể kể đến các văn bản trong thời kỳ này như: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, Bộ luật dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, các văn bản hướng dẫn có liên quan Trách nhiệm tài sản

do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ghi nhận trọng các văn bản này đã có sự thay đổi đáng kể so với giai đoạn trước Cụ thể:

Một là, việc áp dụng trách nhiệm tài sản đối với các hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại không còn mang tính chất hành chính

mà đã có sự thay đổi về chất, mang tính tài sản rõ nét Đơn cử trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 quy định:

“…trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại” Khoản 1 Điều

229 Luật Thương mại 1997 thì quy định: “Bồi thường thiệt hại là việc bên có

quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi

Trang 27

24

phạm hợp đồng gây ra” Đồng thời, các quy định từ Điều 229 đến Điều 234

Luật này đã quy định cụ thể hơn về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh tổn thất, nghĩa vụ hạn chế tổn thất,…

Hai là, trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại chỉ phát sinh trong lĩnh vực thực hiện hợp đồng (khi đã có hợp đồng và các bên bị ràng buộc với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng) Việc các bên không ký kết hợp đồng, về cơ bản không còn

bị coi là hành vi vi phạm và phải gánh chịu trách nhiệm tài sản Tuy nhiên,

“trong nền kinh tế thị trường, một số doanh nghiệp Nhà nước sản xuất những

sản phẩm trọng yếu vẫn được giao ký kết và thực hiện hợp đồng theo chỉ tiêu

kế hoạch pháp lệnh Việc ký kết và thực hiện hợp đồng này trên cơ sở nguyên tắc bắt buộc và là nghĩa vụ của các bên đối với Nhà nước Chính vì vậy, hành

vi từ chối, trì hoãn việc ký kết những hợp đồng này vẫn được xem là hành vi

Nói chung, pháp luật về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại trong đoạn này đã có nhiều tiến bộ, góp phần điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ kinh tế trong giai đoạn đầu xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.2.3 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay

Ở thời kỳ đầu đổi mới, các quy định về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại còn bộc lộ nhiều hạn chế, khiếm

Trang 28

25

khuyết Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, mở rộng hành lang pháp

lý trong bối cảnh Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại Việt- Mỹ (năm 2000), chuẩn bị gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực thương mại, hàng loạt văn bản pháp lý quan trọng đã ra đời Nổi bật là Bộ luật dân sự 2005, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư năm 2005

Các quy định của Luật Thương mại hiện hành về trách nhiệm tài sản do

vi phạm hợp đồng được tiếp cận đúng bản chất của chúng và được quy định

cụ thể, rõ ràng hơn bao gồm việc định nghĩa nhận diện từng loại trách nhiệm tài sản (khái niệm phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại tại các Điều 300, 302), căn cứ phát sinh từng loại trách nhiệm tài sản, các trường hợp miễn trách nhiệm tài sản,… Đặc biệt, Luật Thương mại 2005 không còn coi lỗi của bên

vi phạm là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm tài sản như trong Luật Thương mại 1997

Mặc dù vậy, các quy định này được xây dựng từ năm 2005 và đã ít nhiều bộc lộ một số khiếm khuyết nhất định Việc nghiên cứu hệ thống lí luận

về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng để góp phần hoàn thiện pháp luật là thực sự cần thiết và sẽ được giải quyết trong các nội dung của luận văn

1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về trách nhiệm tài sản

do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại gắn liền với chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Tìm hiểu nội dung

cơ bản của pháp luật về loại trách nhiệm này chính là việc tìm hiểu nội dung

cơ bản của pháp luật về hai hình thức chế tài: phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Như đã đề cập trong phần phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập

Trang 29

- Quy định về nội dung của trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại bao gồm các quy định liên quan đến chủ thể có thẩm quyền áp dụng, và giới hạn trách nhiệm tài sản;

- Quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Luật Thương mại 2005 không quy định riêng các trường hợp miễn trách nhiệm tài sản mà chỉ quy định các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung Tuy nhiên, các quy định này đương nhiên có giá trị áp dụng đối với trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại vì bản chất của trách nhiệm tài sản chính là trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại;

- Quy định về áp dụng phối hợp các hình thức trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại Các quy định này giúp các bên trong quan hệ hợp đồng và các cơ quan tài phán biết được có được áp dụng đồng thời cả hai hình thức trách nhiệm tài sản hay không và điều kiện áp dụng chúng như thế nào

Trang 30

27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1 Các căn cứ áp dụng trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

2.1.1 Các căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Chế tài phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

đã được quy định trong các văn bản pháp luật như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005,… Sau từng lần sửa đổi, bổ sung, các quy định về hình thức trách nhiệm tài sản này

đã thực sự trở thành một chế định quan trọng, và ngày càng được các bên sử dụng nhiều hơn như một biện pháp hữu hiệu, một điều khoản bảo đảm hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của mình trong các quan hệ hợp đồng thương mại Theo Điều 300 Luật Thương mại 2005, căn cứ áp dụng phạt vi phạm bao gồm:

Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại:

Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “vi phạm hợp đồng

là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Như

vậy, để xác định có hành vi vi phạm hợp đồng hay không, cần dựa trên hai căn cứ: (i) Có tồn tại hợp đồng hợp pháp có hiệu lực pháp luật và (ii) Có hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng hoặc quy định pháp luật

Một là, có tồn tại hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật Luật Thương mại quy định rằng chỉ khi các bên ký kết hợp đồng hợp pháp và hợp

Trang 31

28

đồng đó có hiệu lực pháp luật, quyền và nghĩa vụ theo cam kết trong hợp đồng mới có phát sinh ràng buộc với các bên Đây là điểm mới của Luật thương mại hiện hành so với các văn bản pháp luật về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại trước những năm 1989 Các văn bản trước đây quy định: trách nhiệm chịu phạt hợp đồng phát sinh ngay cả khi các bên chưa

ký kết hợp đồng Ngoài ra, trong quá trình thực hiện hợp đồng, có thể phát sinh tình huống khiến các bên phải sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã ký kết Họ

có thể thực hiện việc này thông qua fax, telex, các phụ lục hợp đồng,… Các tài liệu này chứa đựng thỏa thuận của các bên, được coi như một phần của hợp đồng và có giá trị pháp lý như hợp đồng Vì thế, khi xem xét hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, các bên trong hợp đồng và các cơ quan

áp dụng pháp luật cần quan tâm tới sự tồn tại của các tài liệu này

Hai là, có hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật Về cơ bản, nội dung hợp đồng trong hoạt động thương mại do các bên thỏa thuận Tuy nhiên, nhiều trường hợp pháp luật có quy định các bên trong hợp đồng phải thực hiện hoặc trường hợp các bên không thỏa thuận thì sẽ tuân theo các quy định của pháp luật Như vậy, việc vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng hoặc các nghĩa vụ mà pháp luật quy định sẽ là một căn cứ để áp dụng phạt vi phạm

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức phạt hợp đồng được

áp dụng phổ biến đối với mọi vi phạm hợp đồng, tức là đối với bất cứ vi phạm điều khoản nào trong hợp đồng đã ký kết như: hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán (khoản 4 Điều 51 Luật Thương mại năm 2005), hành vi vi phạm về chất lượng (Điều 40 Luật Thương mại năm 2005), yêu cầu kỹ thuật của hàng hóa, dịch vụ trong thời hạn bảo hành (Điều 49 Luật Thương mại năm 2005), Tuy nhiên, có những vi phạm mà trong thực tế, không có cá nhân, tổ chức nào đặt vấn đề áp dụng trách nhiệm hợp đồng Đó là trường hợp các bên vi phạm các

Trang 32

29

điều khoản về giải quyết tranh chấp, điều khoản về chế tài đối với vi phạm hợp đồng,…

Để áp dụng chế tài phạt vi phạm thì bên chịu phạt được xác định là bên

có hành vi vi phạm hợp đồng, đây là điều kiện cần để áp dụng phạt vi phạm Nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng thì không có phạt hợp đồng Trên thực tế, nhiều trường hợp bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chịu phạt trong khi hành vi của bên có nghĩa vụ không được coi là hành vi vi phạm

hợp đồng, ví dụ: “Bên Công ty cổ phần xây dựng Đăk Lăk không vi phạm và

không có lỗi nên không phải chịu khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng”[29] Thực tiễn trọng tài cũng theo hướng giải quyết này Trong cuốn về án lệ trọng

tài có đoạn viết: “ Như đã phân tích ở điểm 1 nêu trên, bị đơn chưa vi phạm

hợp đồng, nên không thể bắt bị đơn nộp phạt cho nguyên đơn và trọng tài bác yêu cầu đòi nộp phạt của nguyên đơn”[9, tr.255]

Phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng ngay cả khi thiệt hại chưa xảy ra Yếu tố thiệt hại không có tính chất quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt vi phạm Tuy nhiên, trong quan hệ hợp đồng, mức vi phạm cũng có thể ảnh hưởng tới việc áp dụng chế tài này Đó là việc pháp luật cho phép áp dụng xác định khoản tiền phạt dựa trên giá trị phần hợp đồng bị vi phạm

Thứ hai, giữa các bên có thỏa thuận trong hợp đồng về việc áp dụng phạt vi phạm:

Theo quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 1997, “phạt vi phạm

là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng, nếu trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Như vậy, theo Luật Thương mại năm 1997, phạt vi

phạm có thể là hình thức trách nhiệm phát sinh do pháp luật quy định

Điều 300 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Phạt vi phạm là việc

Trang 33

30

bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này” Theo quy định này của Luật Thương

mại 2005, phạt vi phạm là hình thức chế tài áp dụng do có hành vi vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định nếu trong hợp đồng các bên có thỏa thuận vấn đề này Ở đây, chỉ có một loại phạt vi phạm đó là phạt vi phạm theo thỏa thuận Điều đó có nghĩa là các quy định của Luật Thương mại hiện hành không coi việc phạt vi phạm là vấn đề do pháp luật quy định nữa mà là vấn đề của hợp đồng Thỏa thuận về phạt vi phạm không phải là điều khoản bắt buộc trong các hợp đồng trong hoạt động thương mại

Sự thay đổi của pháp luật thương mại nêu trên xuất phát từ bản chất của

hình thức trách nhiệm tài sản “phạt vi phạm” Phạt vi phạm là chế tài tiền tệ,

được áp dụng phổ biến đối với tất cả các hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng, không cần tính đến hành vi đó đã gây thiệt hại hay chưa Mục đích chủ yếu của chế tài này là răn đe, trừng phạt, ngăn ngừa hành vi vi phạm hợp đồng, đề cao ý thức tôn trọng pháp luật nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng Do đó, việc có áp dụng hình thức trách nhiệm tài sản này hay không hoàn toàn do các bên trong hợp đồng thỏa thuận Việc Luật Thương mại 2005 không thừa nhận phạt vi phạm có thể là chế tài được áp dụng do pháp luật quy định như trong Luật Thương mại 1997 là hoàn toàn có cơ sở, hợp lý, tiến bộ

Như vậy, theo Luật Thương mại năm 2005, chế tài phạt vi phạm chỉ

được áp dụng khi các bên trong hợp đồng có thỏa thuận về việc áp dụng chế

tài này, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 của Luật này Điều này có nghĩa một bên không thể yêu cầu bên kia chịu phạt vi phạm nếu các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng về vấn đề này Tuy nhiên, trên thực tế, nếu các bên không có thỏa thuận về phạt vi phạm trong

Trang 34

31

hợp đồng mà thỏa thuận sau khi hợp đồng đã được ký kết thì có hai trường hợp xảy ra: thứ nhất, hai bên ký thỏa thuận bổ sung về phạt vi phạm hợp đồng trước khi có hành vi vi phạm, thỏa thuận này được xem là thỏa thuận bổ sung,

là phụ lục của hợp đồng và là quy định của hợp đồng; Thứ hai, hai bên ký thỏa thuận sau khi có hành vi vi phạm Nhưng nếu căn cứ Điều 300 Luật Thương mại 2005 thì thỏa thuận này phải nằm trong hợp đồng thì mới được áp dụng Trên thực tế, khi phải đối mặt với khoản phạt vi phạm, không ai tự nguyện nhận thêm khoản đó nếu không phải trách nhiệm của họ Do đó, có thể thấy, trường hợp 2 rất hiếm khi xảy ra

Thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta thừa nhận trường hợp thứ nhất Bản án số 03/2007/KDTM-ST ngày 28 tháng 9 năm 2007 của Tòa án nhân

dân tỉnh Tây Ninh đã nhận định rằng: “tại Điều 13 của hợp đồng cũng như

Điều 3 Phụ lục hợp đồng, các bên không quy định phạt vi phạm hợp đồng do một bên ngừng thi công công trình nên công ty Tây Ninh yêu cầu phạt vi phạm đối với công ty Tân Bách khoa là không có cơ sở”[9, tr.237] Trường hợp thứ

hai, quan điểm ủng hộ cho rằng: “Nếu trong hợp đồng các bên không quy định

việc phạt vi phạm hợp đồng, nhưng sau đó một bên thừa nhận vi phạm và chấp nhận mức phạt do bên bị vi phạm đưa ra thì có thể áp dụng chế tài phạt

vi phạm hợp đồng được không? Đây là vấn đề chưa được pháp luật quy định Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, trường hợp này có thể áp dụng chế tài phạt, bởi xét cho cùng, đây là biện pháp răn đe các bên trong việc vi phạm hợp đồng, khi bên vi phạm đã thừa nhận vi phạm hợp đồng và chịu phạt thì không có lý do gì để không chấp nhận điều đó”[23, tr.26]

Theo quan điểm của tác giả, tác giả ủng hộ quan điểm chấp nhận việc trong hợp đồng không thỏa thuận nhưng sau đó (trước khi có hành vi vi phạm xảy ra), các bên có thỏa thuận bổ sung về điều khoản phạt vi phạm thì sẽ áp dụng hình thức trách nhiệm này Mục đích chủ yếu mang tính bản chất của

Trang 35

32

phạt vi phạm là bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, răn đe, phòng ngừa hành vi vi phạm, do đó, áp dụng phạt vi phạm sau khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra sẽ không đảm bảo được vai trò của chế tài này Ngoài

ra, mục đích trừng phạt bên có hành vi vi phạm của chế tài phạt vi phạm, thực chất là trừng phạt bên vi phạm do bên này đã ý thức được nghĩa vụ và hậu quả bất lợi khi vi phạm nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm Việc chịu phạt vi phạm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín kinh doanh của bên vi phạm Hơn nữa, trường hợp thứ hai cũng khó có thể xảy ra Mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng trong hoạt động thương mại là lợi nhuận Thừa nhận hành vi vi phạm hợp đồng và chấp nhận chịu phạt tức là bên vi phạm chấp nhận gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi về mặt tài sản Điều này sẽ mâu thuẫn với mục đích lợi nhuận mà họ hướng tới khi ký kết hợp đồng nên khó được họ chấp nhận Kể cả khi bên vi phạm thừa nhận hành vi vi phạm và chấp nhận chịu phạt thì người chấp nhận phải chịu trách nhiệm trước các cổ đông hoặc thành viên công ty vì xâm phạm đến lợi ích của công ty (không bị phạt mà tự chịu phạt) Thêm vào đó, Điều 307 Luật Thương mại 2005 cho phép bên bị vi phạm được yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại ngay cả khi các bên không thỏa thuận về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Rõ ràng, trường hợp hai này ít có khả năng xảy ra trên thực tế

2.1.2 Các căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại

Trong giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay, bên cạnh việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng thì chế tài bồi thường thiệt hại cũng là một chế tài được áp dụng khá phổ biến Theo quy định tại Điều 302 Luật thương mại năm

2005: “ Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do

hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”

Ngày đăng: 25/03/2018, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm