Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là việc Nhà nước quy định và thực hiện các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý; các điều kiện bảo đảm hoạt động
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG ĐĂNG HUỆ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc của tôi để hình thành hướng nghiên cứu Các thông tin, số liệu nêu trong Luận văn có tham khảo và sử dụng một số thông tin, số liệu từ các nguồn sách, báo cáo, các tạp chí Các thông tin, số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc, chính xác Kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu đề tài
Hà Nội, năm 2014 TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Minh Sơn
Trang 3Trang
Mục lục
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁP
LÝ CHO DOANH NGHIỆP
của doanh nghiệp
27
1.3.2 Xây dựng tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật
cho doanh nghiệp
28
1.3.3 Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp 29 1.3.4 Giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp 30 1.3.5 Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp và hoàn thiện pháp luật 31 1.3.6 Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý cho
doanh nghiệp
32 1.4 Pháp luật về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 34
Trang 4DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1 Kết quả thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 37
2.1.11 Bộ Tư pháp và Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh
nghiệp giai đoạn 2010-2014
37
2.1.2 Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 42
2.2 Tồn tại, hạn chế trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và
nguyên nhân
46
2.2.1 Tồn tại, hạn chế trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 46
2.2.1.1 Công tác xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến công tác hỗ trợ
pháp lý cho doanh nghiệp
46
2.2.1.2 Kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 47
2.2.1.3 Tổ chức và đội ngũ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 49 2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 50 2.3 Thực tiễn kinh nghiệm quốc tế về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp
52
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP Ở VIỆT
3.1.2 Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 12/10/2010 của
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn lập dự toán, sử dụng và thanh
quyết toán kinh phí thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
62
3.1.3 Tiếp tục thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho
doanh nghiệp đến năm 2020
63
Trang 5hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa
3.4 Tăng cường cơ chế phối hợp giữa Trung ương và địa phương, các tổ
chức đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình tổ chức các hoạt động hỗ
trợ pháp lý cho doanh nghiệp
71
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là việc Nhà nước quy định và thực hiện các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý; các điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp là đối tượng đóng góp chủ yếu cho tổng sản phẩm quốc gia GDP, là đòn bẩy quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, giải quyết các vấn đề
xã hội như xóa đói, giảm nghèo, góp phần đảm bảo ổn định xã hội và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi
để các doanh nghiệp phát triển và lớn mạnh Điều này đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Quan tâm và chăm lo cho sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam luôn là ưu tiên của các cấp, các ngành Định hướng
về việc hình thành và phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có sức cạnh tranh cao không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt, mà còn được xác định là một mục tiêu chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước
Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, hàng loạt đạo luật liên quan đến doanh nghiệp đã được ban hành như: Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ góp phần tạo khung pháp lý tương đối đầy đủ và thuận tiện cho doanh hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và từng bước khẳng định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tại Việt Nam
Tuy nhiên, trong hoạt động của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều mặt yếu kém, trong đó có việc thực hiện pháp luật, nhất là đối với đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, đối tượng chiếm 97,7% trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam1 Về vấn
1 Nguồn: Báo cáo đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ngày 17/5/2014
Trang 7đề này, theo Báo cáo Thủ tướng Chính phủ năm 2008 của Bộ Tư pháp đã nêu rõ:
“Về phía doanh nghiệp, trình độ hiểu biết luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận chủ sở hữu và người quản lý chưa cao; một số doanh nghiệp còn làm ăn không trung thực, cố tình vi phạm quy định pháp luật; quản trị nội bộ doanh nghiệp còn yếu, chưa minh bạch; ”
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam, nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2008 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (viết tắt là Nghị định số 66/2008/NĐ-CP), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 5 tháng 5 năm 2010 phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 (viết tắt
là Chương trình 585), Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch
số 157/2010/TTLT/BTC-BTP ngày 12 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn lập dự toán, thực hiện và thanh quyết toán kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (viết tắt là Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT/BTC-BTP) và một loạt các Chương trình hỗ trợ pháp lý trong phạm vi ngành, địa phương do các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành
Các quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được ban hành kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp trong thời gian qua Tuy nhiên, sau hơn 5 năm triển khai thực hiện (năm 2008 là năm ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP), Nghị định số 66, Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BTP và các Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (Chương trình liên ngành và Chương trình trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương) đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, vướng mắc, khó khăn đặt ra nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ pháp lý này cho doanh nghiệp Ngoài ra, do được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
trên phạm vi cả nước, do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 8của mình để góp phần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đã từ lâu nhiều nước đã thiết lập cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Hầu hết các nước thuộc Cộng đồng chung Châu Âu coi việc thông tin và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của Nhà nước Tại Cộng hòa Pháp, năm 1978 đã ban hành Luật số 78-753 quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm trả lời chính xác mọi câu hỏi của cá nhân và doanh nghiệp có liên quan đến các quy định pháp luật.2 Tại Hàn Quốc, Nhật Bản… việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được Chính phủ đặt biệt coi trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước3 Tại nước ta, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành đầu tiên năm 2008 là văn bản pháp lý đầu tiên và cao nhất của Nhà nước ta quy định một cách đầy đủ về hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý, điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện Nghị định số 66/2008/NĐ-
CP từ năm 2008 đến nay, trên thực tế đã bộc lộ nhiều vướng mắc, khó khăn và hạn chế cần được nghiên cứu để tìm ra các giải pháp triển khai hiệu quả hơn nữa hoạt động này trong thời gian tới, trong khi đó tuy có nhiều công trình nghiên cứu về cơ
chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (Bản thân tác giả cũng có 05 công trình nghiên cứu) nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đồng bộ về cơ
chế này như:
- “Cơ chế mới hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp sẽ làm thay đổi đời sống doanh nghiệp”, của Trần Minh Sơn, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 8 năm 2008;
2 Nguồn: Báo cáo của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật của EC cho Việt Nam (ETV2) tại Hội thảo:
"Kinh nghiệm một số nước về trợ giúp pháp luật cho doanh nghiệp và nghiên cứu vận dụng tại Bộ Tài chính" ngày 15/11/2007
3 Nguồn: Báo cáo ngày 26/2/3013 của Bộ Tư pháp về sơ kết 2 năm thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014.
Trang 9- “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay – một vài bất cập, nguyên nhân
và kiến nghị”, của Trần Minh Sơn, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số tháng
1(214)/2010;
- “Nâng cao hoạt động hỗ trợ pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên trong hệ thống Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”, của Nguyễn
Thanh Bình, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 12/2010;
- “Doanh nghiệp mong gì từ hỗ trợ pháp lý”, của Trương Thanh Đức, Tạp chí
dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 12/2010;
- “Vai trò của Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp”, của Trần Minh Sơn, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên
đề tháng 12/2010;
- “Phát huy hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”, của Tô Hoài Nam, Ths Lê Anh
Văn, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 5/2013;
- “Bước đột phá mới góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn”, của Trần Minh Sơn, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề, tháng
- “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính”, của Hồ Thị
Hằng, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 2/2014;
- “Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian tới”, của Trần Minh Sơn, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng
2/2014
Trang 10Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu, các công trình nghiên cứu này cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu kết quả thực hiện, nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và giới thiệu về các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mà chưa nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, tổng thể về các nội dung liên quan đến vấn đề này để từ đó đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới Tuy vậy, đây vẫn là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam, các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý, điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ
và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam; nhận diện được những hạn chế, bất cập của chế định này và các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chúng Từ đó, tìm ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, vướng mắc, tồn tại đã nhận diện, góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc đặt ra trong công tác hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp hiện nay
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như nội dung, hình thức và ý nghĩa, cơ sở của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; phân tích, đánh giá những hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
- Nghiên cứu tình hình thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam
- Tìm ra được một số giải pháp nhằm triển khai hiệu quả công tác hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, các quy định của pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và thực trạng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay
Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm nhiều vấn đề khác nhau Tuy vậy, do giới hạn của một luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung đề tài như những vấn đề chung về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; cơ sở của việc pháp luật quy định các nội dung, hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm qua trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị hiệu quả
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:
- Làm rõ được đặc điểm, ý nghĩa, nội dung, hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện;
- Kiến nghị, đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Trang 12Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp ở Việt Nam Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hỗ trợ pháp lý
cho doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 13
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁP LÝ
CHO DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, nhu cầu và vai trò của công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Thực hiện chủ trương đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian vừa qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng: Luật Doanh nghiệp (1999
và 2005); Luật Doanh nghiệp Nhà nước (1995 và 2003), Luật Đầu tư (2005), Luật Hợp tác xã (2003 và 2012), Bộ luật Dân sự (2005), Luật Thương mại (2005), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Luật Phá sản (2004 và 2014) và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các văn bản pháp luật này đã tạo nên một khung pháp lý tương đối đầy đủ
và thuận tiện cho các doanh nghiệp hoạt động Trên thực tế, so với thời kỳ trước đổi mới, các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác được thành lập ngày càng nhiều về số lượng, đa dạng về quy mô và hình thức hoạt động4 Kết quả hoạt động của lực lượng doanh nhân này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, trong hoạt động của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều mặt yếu kém, trong đó có việc thực hiện pháp luật Trình độ hiểu biết luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận chủ sở hữu và người quản lý chưa cao; một số doanh nghiệp còn làm ăn không trung thực, cố tình vi phạm quy định pháp luật; quản trị nội bộ doanh nghiệp còn yếu, chưa minh bạch; Sự yếu kém trong việc
4 Hiện có khoảng 348.342 doanh nghiệp được đăng ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, trong đó có tới 348,342 doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 97,7%), trên 3.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trên 20.000 hợp tác xã và trên 2,5 triệu hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp, 10 triệu hộ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và gần 100.000 trang trại lớn, nhỏ các loại (nguồn: Báo cáo đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ ngày 17/5/2014)
Trang 14thực hiện pháp luật của doanh nghiệp là do những nguyên nhân từ hai phía gây ra: phía doanh nghiệp và phía Nhà nước
Về phía doanh nghiệp, có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của pháp luật của nhiều chủ sở hữu,
người quản lý doanh nghiệp còn hạn chế.5 Tình trạng doanh nghiệp không chú ý tới việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật là phổ biến Nhiều doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng tư vấn pháp luật để áp dụng, thi hành pháp luật và phòng, chống rủi ro trong kinh doanh;
Thứ hai, nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc sử dụng tư vấn
pháp luật; hoạt động hỗ trợ của các hiệp hội doanh nghiệp về vấn đề này cũng còn nhiều bất cập Thực tế này khó giải quyết vì tuyệt đại đa số các doanh nghiệp hiện nay là nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính eo hẹp;
Thứ ba, các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với thông tin
pháp luật Theo kết quả điều tra của Bộ Tư pháp năm 2012 thì có khoảng 25% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng, việc tiếp cận với văn bản pháp luật là khó hoặc không thể Điều này đã ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người quản lý doanh nghiệp về hệ thống pháp luật kinh doanh của nhà nước ta và do đó cũng gây khó khăn cho họ trong việc thực thi pháp luật
Về phía Nhà nước, có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Việc thực thi pháp luật của các doanh nghiệp khó một phần cũng do một số nguyên nhân từ phía Nhà nước, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu là:
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự quan tâm đến việc
thông tin, hướng dẫn, tổ chức thi hành pháp luật cho doanh nghiệp Theo Luật Tổ chức Chính phủ thì Chính phủ có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành pháp luật của tổ chức, cá nhân nói chung và của doanh nghiệp nói riêng6 Luật Doanh nghiệp năm
5 Kết quả điều tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 cho thấy trong số 1237 doanh nghiệp được khảo sát thì có khoảng 70 đến 80% số doanh nghiệp không hiểu hoặc hiểu không đầy đủ các quy định pháp luật cơ bản về kinh doanh; có nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật
6 Khoản 2, Điều 8, Luật Tổ chức Chính phủ
Trang 151999 cũng như Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng có các quy định, theo đó, việc thông tin, phổ biến và tổ chức thi hành các văn bản pháp luật là một trong các nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp7 Trách nhiệm của Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong hướng dẫn, tổ chức thực hiện pháp luật cũng đã được quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ8 (được thay thế bằng Nghị định số 178/2007/NĐ-CP và nay là Nghị định số 36/2012/NĐ-CP) và
Nghị định số 171/2004/NĐ-CP, của Chính phủ, ngày 29/9/2004 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương9 (được thay thế bằng Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và nay là Nghị định 24/2014/NĐ-CP) Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước trong lĩnh vực này được đánh giá là còn nhiều bất cập Các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là tại các địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
gặp nhiều gặp khó khăn trong tiếp cận với pháp luật;
Thứ hai, nhiều thắc mắc của doanh nghiệp về nội dung các quy định pháp
luật và việc áp dụng pháp luật chưa được các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm giải đáp kịp thời, do đó cũng làm cho việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp gặp khó khăn Thực tế thời gian qua cho thấy tình trạng doanh nghiệp yêu cầu cơ quan quản
lý nhà nước giải đáp pháp luật nhưng không nhận được trả lời, hoặc trả lời không kịp thời còn phổ biến Những bất cập này đã không tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật nhằm giảm thiểu rủi ro và kinh doanh có hiệu quả
Những nguyên nhân từ hai phía trên đây đã làm cho công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp còn kém hiệu quả Pháp luật được ban hành nhưng chưa được tổ chức thi hành tốt đã ảnh hưởng tới việc xây dựng môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội Đối với doanh nghiệp, cùng với những hạn chế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm, thị trường , việc hiểu biết pháp luật hạn chế đã làm cho năng lực cạnh tranh của
7 Điều 162, Luật doanh nghiệp 2005
8 Khoản 4, Điều 4 và khoản 1, Điều 13
9 Khoản 6, Điều 4
Trang 16doanh nghiệp Việt Nam đã thấp lại càng thấp hơn gây bất lợi cho doanh nghiệp nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay10
Chính phủ đã ban hành Nghị định 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, thiết lập cơ chế thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, quy định cụ thể hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 585/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014, định hướng đến năm 2020, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTP-BTC hướng dẫn lập, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; các Bộ, cơ quan ngang Bộ và
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành các Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi Bộ, ngành và địa phương như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng… Ủy ban nhân dân TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Bình Phước, Phú Thọ, Quảng Ngãi Sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật và các Chương trình hỗ trợ nêu trên đã thể hiện nhất quán chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đánh dấu bước chuyển về chất và lượng, đưa công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lên một tầm cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước
Khái niệm hỗ trợ được hiểu là “Sự giúp đỡ nhau, giúp thêm vào” 11 Sự hỗ trợ thường được thực hiện khi đối tượng hỗ trợ yếu hoặc chưa đủ mạnh ở một góc độ nào đó Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một nhiệm vụ quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường Nhiệm vụ ấy càng quan trọng hơn khi hiện nay các
10 Thực tế cho thấy, trong 5 năm (2007-2012) gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới chưa được cải thiện đáng kể, sức cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn còn thấp, độ ổn định chưa cao Nguồn: Trang tin Bộ Ngoại giao
11 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, trang
835
Trang 17doanh nghiệp Việt Nam đang yếu, rất yếu và thiếu kiến thức, hiểu biến pháp luật (trong số gần 350.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động hiện nay thì 97,7% doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ) Tuy nhiên, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất có thể hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, mà còn có các thiết chế khác như các hiệp hội doanh nghiệp, câu lạc bộ, luật sư… cũng có thể cùng Nhà nước thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhưng Nhà nước đóng vai trò chính, quản lý nhà nước, điều phối, chi phối, phân công các nhiệm vụ thực hiện cho thống nhất, hiệu quả
Theo quy định của Nghị định số 66/2008/NĐ-CP thì có thể hiểu: hỗ trợ pháp
lý là việc Nhà nước có các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, quy định các điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và tổ chức,
cá nhân kinh doanh; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (xây dựng chương trình, kế hoạch; triển khai chương trình, kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thông qua việc áp dụng các hình thức, nội dung hỗ trợ; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp)
Hiểu theo nghĩa rộng, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được hiểu là việc thực hiện các hoạt động của các tổ chức được Nhà nước giao chức năng thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho doanh nghiệp hình thành ở họ ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong kinh doanh, góp phần bảo vệ pháp chế, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật
1.1.2 Nhu cầu về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Trang 181.1.2.1 Nhu cầu tiếp cận thông tin pháp luật
Đối với các doanh nghiệp, việc nắm bắt kịp thời những thông tin, thực hiện đúng những quy định của pháp luật là hết sức cần thiết và tùy vào từng loại hình kinh doanh, chiến lược phát triển và nhu cầu của người quản lý mà nhu cầu tiếp cận
về pháp luật có mức độ khác nhau Việc tiếp cận văn bản pháp luật, am hiểu và thực thi theo đúng pháp luật của doanh nghiệp tác động rất lớn đến chiến lược phát triển, giúp doanh nghiệp phòng, tránh rủi ro trong kinh doanh, đảm bảo quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động Qua khảo sát của Bộ Tư pháp năm 2011 cho thấy, những loại văn bản và nội dung pháp lý mà doanh nghiệp cho là ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến kinh doanh, sản xuất đó chính là những Thông tư, Chỉ thị, văn bản hướng dẫn… của các đơn vị có liên quan như tài chính, kế hoạch đầu tư, thuế, các quy định của ngân hàng, hải quan Vì đây là những loại văn bản giúp doanh nghiệp định hướng, thực hiện trong quá trình kinh doanh, sản xuất và nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện như khai báo thuế, đóng thuế, thủ tục hải quan…
Như vậy, nắm vững và tuân thủ những quy định pháp luật ngay từ khi thành lập và trong quá trình hoạt động là điều kiện rất quan trọng để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, có rất nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến đội ngũ chuyên trách pháp lý, từ đó cho thấy doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến việc áp dụng, thực hiện pháp luật để phòng tránh rủi ro trong kinh doanh, đảm bảo quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động
Bên cạnh việc các doanh nghiệp phải tự trang bị kiến thức về pháp luật như bố trí bộ phận pháp chế doanh nghiệp, thuê luật sư tư vấn… thì rất cần sự hỗ trợ về pháp lý từ phía các cơ quan quản lý nhà nước Có thể nói song song với nhu cầu hỗ trợ về vốn, thông tin, mặt bằng sản xuất kinh doanh; hỗ trợ về đào tạo, xúc tiến đầu
tư, xúc tiến thương mại thì nhu cầu về hỗ trợ pháp lý cũng là một trong những yêu cầu cấp thiết của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập Bởi vì những quy định
Trang 19trong các văn bản giúp doanh nghiệp chấp hành đúng chính sách quản lý kinh tế của nhà nước, không vi phạm luật kinh doanh, đồng thời giúp doanh nghiệp nắm rõ những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế vĩ mô của đất nước để từ đó có định hướng phát triển rõ ràng hơn và tránh được những rủi ro trong kinh doanh, sản xuất Trong số doanh nghiệp được khảo sát theo kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp năm
2012 cho thấy, có 53% doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ tiếp cận thông tin, các văn bản pháp luật, 39% là cần được hỗ trợ, 4.6% ít cần và 3.7% không cần đến sự hỗ trợ Trong số doanh nghiệp cần được hỗ trợ tiếp cận thông tin, văn bản quy phạm pháp luật, tập trung ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa với 87%, doanh nghiệp siêu nhỏ và lớn lại có mức độ quan tâm ít hơn
Theo kết quả này, có đến 98.2% doanh nghiệp rất cần và cần tiếp cận thông tin, văn bản có nội dung về chính sách thuế (bao gồm thuế doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân), 60.4% có nhu cầu tiếp cận chính sách trợ vốn, 40.1% có nhu cầu tiếp cận văn bản về thủ tục hải quan và 36.9% có nhu cầu tiếp cận luật, quy định, thông
lệ quốc tế
Sự thay đổi nội dung văn bản pháp luật cũng tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, do đó có đến 77% doanh nghiệp muốn được cung cấp kịp thời các văn bản pháp luật mới Tỷ lệ thuận với ý kiến này thì phần lớn các doanh nghiệp đều muốn tiếp cận các văn bản pháp luật ngay khi có nhu cầu mà không xác định cụ thể thời gian (chiếm 74.2%), tiếp cận theo định kỳ hàng tháng chiếm 13.8%, hàng tuần chiếm 5.1%, hàng ngày chiếm 3.7% và không cần chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 1.8%
Cũng theo các doanh nghiệp, văn bản của các Bộ, ngành là phương tiện phổ biến pháp luật hiệu quả nhất (chiếm 57.1%), sau đó là thông qua website của Bộ, ngành (chiếm 34.1%), qua các phương tiện truyền thông đại chúng (chiếm 14.3%), tại các hiệp hội (chiếm 4.1%) và cuối cùng là Hệ thống Đối thoại doanh nghiệp (chiếm 3.2%) Qua đây cũng cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp vẫn sử dụng
“kênh thông tin” truyền thống để tìm hiểu, tiếp cận văn bản pháp luật là văn bản của các Bộ, ngành Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ thông tin, internet cũng góp
Trang 20phần phổ biến văn bản pháp luật đến doanh nghiệp, nhưng mức độ truy cập, cập nhật của doanh nghiệp vào các trang web của Bộ, ngành chưa cao (chiếm 34.1%) Bên cạnh đó cũng cho thấy, các tổ chức hiệp hội còn yếu kém, hoạt động mang tính hình thức, chưa làm cầu nối để văn bản pháp luật đến với doanh nghiệp tốt hơn (số doanh nghiệp lựa chọn phương án này chỉ chiếm 4.1%)
Về hình thức thông tin pháp luật đến doanh nghiệp có hiệu quả nhất là văn thư của các Bộ, ngành đến doanh nghiệp (chiếm 78.3%); hội họp, gặp gỡ trao đổi giữa các doanh nghiệp (chiếm 19.4%), đội tuyên truyền của các ngành đến doanh nghiệp (chiếm 5.5%), tổ chức các mô hình trò chơi trên truyền hình (chiếm 1.8%) và tổ chức cuộc thi giữa các doanh nghiệp (chiếm 1.4%) do khâu chuẩn bị và thực hiện mất nhiều thời gian
Như đã phân tích ở trên, có đến 17% doanh nghiệp không thể tiếp cận và 29% doanh nghiệp khó tiếp cận văn bản pháp luật Ngược lại, chỉ 1% doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và 34% có thể tiếp cận được với văn bản pháp luật Trong khi đó, doanh nghiệp siêu nhỏ và lớn lại có mức độ quan tâm ít hơn Những số liệu đó cho thấy việc tiếp cận với văn bản pháp lý của doanh nghiệp chưa dễ dàng như mong muốn của những người làm chính sách
1.1.2.2 Nhu cầu được bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh
Đa phần hoạt động pháp lý do chính chủ doanh nghiệp thực hiện nên phần lớn
tự tìm kiếm thông tin trên mạng internet hoặc trên báo chí và khó sàng lọc thông tin, dẫn đến việc có những quyết định mang nhiều tính tâm lý nên rủi ro cao Vì vậy,việc được tiếp cận và được bồi dưỡng thêm kiến thức pháp luật giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả và phòng tránh, giảm rủi ro pháp luật trong kinh doanh Những kiến thức pháp luật doanh nghiệp muốn bồi dưỡng chủ yếu có nội dung liên quan trực tiếp đến quản lý, điều hành, hoạt động trong kinh doanh và sản xuất như: sở hữu, thực hiện quyền sở hữu đối với vốn góp trong doanh nghiệp; đất đai; cạnh tranh; các loại thuế và miễn giảm; thương mại quốc tế, hội nhập kinh tế; giải quyết tranh chấp
Trang 21lao động; soạn thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng; kế toán, kiểm toán; đăng ký giao dịch bảo đảm cho doanh nghiệp
Tuy nhiên, qua khảo sát của Bộ Tư pháp năm 2011 cho thấy, chỉ có 9% doanh nghiệp thường xuyên được chính quyền mời tham dự các chương trình phổ biến pháp luật, các buổi đối thoại, trong khi đó có đến 39% doanh nghiệp thỉnh thoảng được mời, 30% ít khi được mời và có đến 22% doanh nghiệp chưa bao giờ được chính quyền mời tham dự Khi nhận được thư mời tham dự các chương trình này thì rất nhiều doanh nghiệp tích cực tham gia (82%) và có 11,5% không tham gia vì thời gian không phù hợp
Tuy doanh nghiệp rất quan tâm đến các chương trình phổ biến pháp luật, cũng như tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nhưng họ chưa thực sự được hỗ trợ sâu rộng bởi chính quyền và các cấp có liên quan Qua đây, cũng cho thấy các cấp chính quyền, cũng như các Bộ, ban, ngành cần đẩy mạnh hơn nữa chương trình phổ biến pháp luật, cũng như hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao kiến thức pháp luật
1.1.2.3 Nhu cầu được giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp
Quy định pháp luật tuy được thể hiện với văn phong đơn nghĩa nhưng là sản phẩm của khoa học pháp lý và quản lý nhà nước, vì vậy không dễ hiểu với tất cả mọi người Từ đó, giải đáp pháp luật là nhu cầu phát sinh từ những người thực hiện luật
dù ở vị trí chủ động (công chức thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước) hay bị động (doanh nghiệp) Do đó, xét về mặt lý thuyết, doanh nghiệp có nhu cầu được công chức nhà nước hướng dẫn, giải đáp pháp luật Kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp năm
2011 cũng đưa đến nhận định như trên
Trong các doanh nghiệp được khảo sát, số lượng doanh nghiệp “rất cần được giải đáp pháp luật” chiếm tỉ lệ cao nhất với 49.8%, gần một nửa số doanh nghiệp trả lời Kế đến, 41.5% doanh nghiệp “cần được giải đáp pháp luật”, 5.5% “ít cần” và số
“không cần” chỉ chiếm 2.8% Như vậy là, với 96.8% doanh nghiệp có nhu cầu được giải đáp pháp luật đòi hỏi phải có sự đáp ứng từ phía cơ quan chức năng nhằm thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật Bởi lẽ, doanh nghiệp không thể có sự tự giác
Trang 22thực hiện khi chính họ không hiểu các quy định pháp luật Vì vậy, ngay trong Nghị định 66/2008/NĐ-CP đã có hẳn Điều 10 của Chương II để nói về việc giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp, các hình thức và thời gian, cách thức giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp
Việc không thống nhất giữa các cơ quan chức năng trong việc áp dụng luật cũng được 17.1% doanh nghiệp cho là có ảnh hưởng xấu tới hoạt động của mình Chỉ 4.6% doanh nghiệp nhận thấy sự chênh giữa luật Việt Nam và luật pháp quốc tế Kết quả này khá hợp lý vì đối tượng doanh nghiệp được hỏi đa số là nhỏ và vừa mà hoạt động xuất nhập khẩu không phải là thế mạnh nên chưa có nhiều cảm nhận về luật pháp quốc tế
Kết quả cho thấy dù có đến 47% doanh nghiệp hài lòng với việc giải đáp của các cơ quan chức năng nhưng vẫn là một con số thấp so với nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ công thuộc chương trình cải cách hành chính của Nhà nước 39.6% số doanh nghiệp cho rằng giải đáp khi có khi không và 10.6% thì cho rằng chỉ giải đáp qua loa, thậm chí dù là cá biệt nhưng có đến 2.3% doanh nghiệp nói rằng cơ quan chức năng chẳng giải đáp trước khi xử phạt cũng là điều nên lưu tâm
Như vậy, việc giải đáp, hướng dẫn thực hiện các văn bản dưới Luật như Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị… cần được các cơ quan nhà nước chú ý hơn Vì như kết quả khảo sát năm 2012 của Bộ Tư pháp, với hệ thống pháp lý và pháp chế doanh nghiệp còn nhiều hạn chế hiện nay, các doanh nghiệp luôn cần sự trợ giúp của
cơ quan chức năng và sự trợ giúp này chưa được nhiều doanh nghiệp đánh giá tốt
Khoảng 2/3 số doanh nghiệp (từ 70.5% - 76.0% tổng số doanh nghiệp được
Bộ Tư pháp khảo sát năm 2011) cho rằng, trong thời gian qua, các phương tiện giải đáp bằng văn bản của Sở ngành, từ website Sở ngành, từ các phương tiện truyền thông lẫn hệ thống đối thoại doanh nghiệp đều không đạt hiệu quả cao Đặc biệt, hầu hết doanh nghiệp của cuộc khảo sát (đến 96.3%) đánh giá việc giải đáp pháp luật qua hiệp hội là không đạt hiệu quả
Trang 23Ở đây, cần phân tích sâu từng phương tiện để nhận diện những vấn đề phản ánh kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp Ở phương tiện giải đáp pháp luật thông qua hệ thống website của các Sở ngành, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá không đạt hiệu quả chiếm đến 70.5% Trên thực tế, nếu khảo sát mức độ hiệu quả của các website Sở ngành sẽ cho thấy đánh giá của các doanh nghiệp là hoàn toàn có cơ sở Điểm qua một số website Sở, ngành có liên quan nhiều đến hoạt động kinh doanh như Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Công thương, các Sở, ngành khác đều trả lời chủ yếu cho cá nhân và theo các vụ việc chung chung, không hiệu quả Có thể nói, hiện hệ thống Chính phủ điện tử của nước ta vẫn chưa phát triển đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là trong việc giải đáp, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Đây cũng là vấn đề đặt ra cho việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong giai đoạn sắp tới khi giải đáp qua mạng điện tử là một trong bốn cách thức giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp mà Nghị định 66/2008/NĐ-CP quy định
Giải đáp pháp luật là nhu cầu lớn nhất của doanh nghiệp khi có tới 96.8% lựa chọn Trong số những doanh nghiệp gặp khó khăn với thủ tục hành chính, chiếm đa
số là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 50 người, đồng thời không có nhân viên pháp chế và không tham gia vào hội nghề nghiệp nào Như vậy có thể thấy, nếu doanh nghiệp có sự đầu tư phù hợp cho nhân viên pháp chế và tham gia hoạt động hội thì khó khăn này sẽ giảm đi rất nhiều
1.1.2.4 Nhu cầu kiến nghị và được tiếp nhận kiến nghị
Một hệ thống pháp luật hiệu quả khi quá trình xây dựng và áp dụng đối với xã hội luôn mang tính chất mở, không đóng khuôn, luôn được cập nhật, điều chỉnh để đáp ứng với thực tiễn phát triển của nền kinh tế, xã hội Quá trình vận hành phát triển không ngừng của nền kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi được chỉnh sửa, bổ sung của
hệ thống quy định của pháp luật Trong giai đoạn đổi mới, quá trình xây dựng hệ thống văn bản pháp lý của nước ta có những thay đổi tiến bộ và dần mang tính văn hóa đối thoại khi được các Bộ ngành, địa phương thực hiện cơ chế góp ý, kiến nghị với nhiều hình thức khác nhau như tổ chức hội nghị đối thoại doanh nghiệp, doanh
Trang 24nghiệp gửi văn bản kiến nghị trong quá trình hoạt động hay tổ chức các hoạt động đóng góp dự thảo các văn bản luật liên quan từ các Bộ, ngành, địa phương dành cho doanh nghiệp, lấy ý kiến hay kiến nghị phản hồi từ hệ thống hiệp hội ngành nghề… trong giai đoạn những năm gần đây trên phạm vi cả nước là minh chứng cho một cơ chế đối thoại tiến bộ của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Điều cần khẳng định là sự thay đổi này đã đem lại những lợi ích tích cực, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng văn bản pháp luật và dần tạo lập một môi trường mang tính văn hóa đối thoại thể hiện tính dân chủ trong xã hội, đồng thời giải quyết
và nhận diện nhanh chóng những bất cập khi áp dụng hệ thống quy định pháp luật trong thực tiễn hoạt động doanh nghiệp
Tuy nhiên, theo các kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp năm 2012, trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, nhiều cơ quan chức năng vẫn chưa quan tâm lấy ý kiến của doanh nghiệp – vốn là đối tượng chịu tác động trực tiếp của các văn bản này Trên trang thông tin điện tử của các cơ quan chức năng tuy có mục lấy ý kiến nhưngnhưng lại cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc không đăng tải các
dự thảo để doanh nghiệp xem và đóng góp ý kiến Hơn nữa, không có sự phản hồi với những kiến nghị đó khiến số doanh nghiệp không hài lòng khi gửi kiến nghị là khá cao Doanh nghiệp cho rằng các hoạt động mang tính đối thoại để góp ý kiến hay kiến nghị còn mang tính hình thức, cơ quan chức năng không giải quyết các ý kiến, kiến nghị đó hoặc kéo dài thời gian Chính những điều này gây nên tâm lý
“mất lòng tin” nơi doanh nghiệp khi thực hiện việc kiến nghị, đóng góp ý kiến Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp, nhất là nhóm siêu nhỏ, nhỏ, thuộc hệ thống bán lẻ… ít có
sự quan tâm đến quy định và văn bản pháp luật nên cũng ít có kiến nghị đến cơ quan chức năng
Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp có thường tham dự các hoạt động đối thoại, trao đổi ý kiến hay phổ biến pháp luật mà các cơ quan chức năng tổ chức hay không? Kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp năm 2012 cho thấy những chỉ số khá bất ngờ khi chỉ có 8.8% doanh nghiệp thường xuyên tham dự các chương trình hay buổi
Trang 25đối thoại của chính quyền, trong khi đó có 21.7% doanh nghiệp chưa bao giờ tham
dự Còn lại, số doanh nghiệp thỉnh thoảng tham dự các hoạt động này chiếm một tỷ
lệ tương đối trong số doanh nghiệp được khảo sát là 39.6% và có đến 30% số doanh nghiệp ít khi tham dự Trong tổng số đó có đến 82% nhận được thư mời tham dự các hoạt động này nhưng chỉ 8.8% đến dự là một điều hết sức đáng lưu tâm
Ở đây vấn đề là các doanh nghiệp không nhận thấy sự cần thiết của các hoạt động mang tính đối thoại này hay cho rằng chất lượng của các hoạt động này mang tính hình thức cần được làm rõ thêm Các kết quả khảo sát tiếp theo cho thấy, doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp) chỉ tham gia đối thoại và kiến nghị với cơ quan chức năng khi nào chính bản thân doanh nghiệp gặp vấn đề pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động mà thôi
Kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp năm 2012 cho thấy, tương quan giữa mức
độ hài lòng với không hài lòng của các doanh nghiệp được khảo sát khi gửi kiến nghị là tương đương nhau (38.2% - 40.1%), đặc biệt có đến 21.7% doanh nghiệp được hỏi không trả lời Điều này cho thấy, mức độ hài lòng của doanh nghiệp trong việc kiến nghị đối với hệ thống cơ quan chức năng ở mức không khả quan
Việc giải quyết khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp ở cấp Sở sẽ còn khó khăn hơn do phân cấp thấp hơn kéo theo sự co giãn chính sách cũng sẽ kém hơn, chưa kể nhiều việc phải chờ ý kiến từ Bộ
1.1.3 Vai trò của công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Pháp luật là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói riêng Pháp luật không chỉ
là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh trong xu hướng hội nhập hóa toàn cầu
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát
Trang 26triển các giá trị chân chính bảo vệ thành quả kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế đẩy lùi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với pháp luật là phải tác động tích cực giúp doanh nghiệp và nội tại nền kinh tế đất nước phát triển, các doanh nghiệp đều được cạnh tranh bình đẳng Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong hoạt động của mình phải tính toán chặt chẽ những điều kiện khách quan
và hiệu quả kinh tế Khi đời sống kinh tế - xã hội đã và đang có những chuyển biến lớn, thì quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau không thể chỉ là "mối quan hệ như con người trực tiếp, cảm tính, chủ yếu vẫn bị chi phối bởi những nguyên tắc và chuẩn mực của sự phát triển ưu trội về đạo đức” như trước đây, mà nó cần được bổ sung những chuẩn mực, những giá trị mới, như tính kinh tế, tính hiệu quả, tính cạnh tranh trong khuôn khổ pháp lý
Đối với nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đều hình thành trên nền tảng ý thức pháp luật thấp, hầu hết các doanh nghiệp mới đăng ký thành lập hoạt động rầm
rộ nhất khi Luật doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi bổ sung, trong một thời kỳ dài chúng ta chuyển đổi nền kinh tế thị trường trong khi Nhà nước ban hành nhiều chính sách văn bản pháp luật cho phù hợp với yêu cầu tạo hành lang pháp lý cho phù hợp với tiến trình hội nhập Vì vậy, việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức kinh doanh theo pháp luật đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như xã hội dân sự đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời, xã hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý pháp lý và khoa học, chuyển thói quen điều chỉnh xã hội theo “lệ”, chủ yếu là sự cảm thông sang điều chỉnh xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội
Trang 27Có thể nói việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp là thước đo hiệu lực hiệu quả quản lý của nhà nước Trước những vấn đề ý nghĩa và vai trò của pháp luật đã nêu ở trên có thể nói vai trò của công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thể hiện trên những điểm sau:
Thứ nhất, trước hết phải nhận thức đúng đắn về công tác hỗ trợ pháp luật cho
doanh nghiệp coi đây là trách nhiệm của toàn xã hội không chỉ riêng cơ quan nhà nước và nó cần phải nằm trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhận thức đầy đủ vấn đề này là một quá trình khó khăn và lâu đài Bởi vì, đây
là vấn đề không những góp phần tăng cường cơ sở pháp lý để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và nuôi dưỡng ý thức đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam
Thứ hai, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phải gắn với việc xây dựng đồng bộ
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Phương châm chỉ đạo của Đảng ta là hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Vấn đề này có liên quan chặt chẽ với việc nghiên cứu các quy định và thông lệ của pháp luật kinh doanh của các nước trên thế giới, các quy định của WTO, Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP), quá trình đó, chúng ta có thể lựa chọn các chuẩn mực, các giá trị phù hợp để luật hóa chúng, biến thành những quy phạm chung của
xã hội mà mỗi doanh nghiệp, tổ chức đều có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh Có thể nói, đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và thực sự cấp bách trong quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh ở nước ta hiện nay
Thứ ba, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phải xác định rõ nội dung các biện
pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần bảo đảm nguyên tắc Nhà nước không làm thay công việc của doanh nghiệp, mặt khác cũng phải bảo đảm việc hỗ trợ của Nhà nước không làm hạn chế sự phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý nói chung và thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng
Bám sát nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp, nội dung của các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trên cơ sở có tính đến điều kiện
Trang 28kinh tế, xã hội cụ thể của từng ngành, từng địa phương trong từng thời kỳ, bảo đảm
sự hài hòa giữa trách nhiệm hỗ trợ với nguồn lực thực tế về tài chính, nhân sự của các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương và địa phương
1.2 Nguyên tắc của hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Pháp luật, thông qua các hình thức của nó, là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập ở nước ta hiện nay, quan hệ xã hội trong kinh doanh rất đa dạng, linh hoạt, do đó cũng rất phức tạp và biến đổi thường xuyên khiến cho việc điều chỉnh bằng pháp luật, cũng như các yếu
tố cơ sở của nó, đã bộc lộ những hạn chế nhất định như thiếu tính cân đối trong sự phát triển của các loại quan hệ pháp luật, năng lực chủ thể không theo kịp với nhu cầu của đời sống xã hội, cơ chế kiểm soát quá trình hình thành và vận động quan hệ pháp luật trên thực tế kém hiệu quả, nhiều loại quan hệ pháp luật bị biến dạng về cơ cấu và tính chất Vì vậy, nỗ lực xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là chưa đủ mà còn phải có kế hoạch đưa pháp luật vào cuộc sống Muốn vậy, pháp luật thông các hình thức của nó phải được các cơ quan chức năng phổ biến, tuyên truyền rộng rãi đến mọi tầng lớp, mọi đối tượng trong xã hội Tuy rằng, mọi đối tượng trong xã hội phải chủ động tiếp cận pháp luật để thực thi, song, hỗ trợ mọi đối tượng tiếp cận với pháp luật cũng là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trước khi thực hiện vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với họ
Các lý luận về pháp luật đều cho rằng, ngoài việc điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó thiết lập, pháp luật còn có chức năng giáo dục bằng cách thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của đối tượng làm cho họ xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật Vì vậy, hỗ trợ pháp lý là sự tác động từ phía cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp Vì vậy, tuy nhu cầu hỗ trợ pháp lý mong muốn được tiếp cận và sử dụng các công cụ pháp lý cần thiết phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của cơ quan quản lý nhà nước Tuy là nghĩa vụ nhưng không có nghĩa là nhà nước phải có trách nhiệm đáp ứng hết những nhu cầu
Trang 29đa dạng của cộng đồng doanh nghiệp mà phụ thuộc vào thẩm quyền, chức năng và mục đích quản lý của từng cơ quan quản lý cụ thể Xem xét giới hạn trách nhiệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của cơ quan quản lý nhà nước một cách thấu đáo phải dựa trên nền tảng lý luận về nhà nước và gắn với điều kiện thực tiễn hiện nay trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới Đây là một chủ đề rất hay và đề tài này không chỉ nghiên cứu lý thuyết mà cũng nghiên cứu thực tiễn thi hành và xem xét trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giới hạn trong khuôn khổ nguồn lực hữu hạn mà chính quyền có thể đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp để có thể lựa chọn nội dung, cách thức, tiến tới xây dựng
cơ chế hỗ trợ phù hợp dựa trên cơ sở nhu cầu chính đáng của các doanh nghiệp và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước
Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản như sau:
Thứ nhất, các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được áp dụng cho
mọi loại hình chủ thể kinh doanh, không phân biệt hình thức sở hữu, quy mô kinh doanh và lĩnh vực hoạt động nhằm giúp các chủ thể kinh doanh có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các biện pháp hỗ trợ pháp lý của Nhà nước;
Thứ hai, nội dung các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần bảo đảm
nguyên tắc Nhà nước không làm thay công việc của doanh nghiệp, mặt khác cũng phải bảo đảm việc hỗ trợ của Nhà nước không làm hạn chế sự phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý nói chung và thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng;
Thứ ba, nội dung của các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy
định trên cơ sở có tính đến điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của từng ngành, từng địa phương trong từng thời kỳ, bảo đảm sự hài hòa giữa trách nhiệm hỗ trợ với nguồn lực thực tế về tài chính, nhân sự của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương;
Trang 30Thứ tư, xác định cụ thể trách nhiệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của các
Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để bảo đảm nhu cầu hỗ trợ cho các doanh nghiệp được đáp ứng một cách nhanh chóng, thuận lợi, khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước như hiện nay;
Thứ năm, các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần lấy đối tượng
doanh nghiệp nhỏ và vừa là trung tâm, đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Lấy doanh nghiệp nhỏ và vừa là lực lượng chiếm số đông trong số lượng doanh nghiệp đăng ký và đang là lực lượng có nhiều hạn chế về mặt pháp luật trong kinh doanh để làm mục tiêu hỗ trợ chính, trong một thời gian nhất định từ 2010 – 2020 nâng cao ý thức pháp luật cho doanh nghiệp lên một bước, hình thành nên thói quen tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập;
Thứ sáu, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phải gắn sát với nhu cầu của doanh
nghiệp về pháp luật, hướng về cơ sở, được tổ chức thực hiện lồng ghép trong các chương trình, dự án, đặc biệt ưu tiên đến các doanh nghiệp tại các vùng và địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số và miền núi, đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ pháp luật của doanh nghiệp tại các địa bàn này;
Thứ bảy, tăng cường đầu tư, đổi mới các hình thức, phương thức hỗ trợ pháp
lý theo hướng xã hội hóa, huy động sức mạnh của các tổ chức xã hội, đoàn thể các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và công tác hỗ trợ pháp lý
Hỗ trợ pháp lý được hiểu là việc thực hiện các hoạt động mang tính chất hỗ trợ về mặt pháp lý miễn phí (không phải là cung cấp trực tiếp bằng vốn hay bằng các công cụ tài chính) của các cơ quan, tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật
Mục đích của hoạt động hỗ trợ pháp lý là nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao hiểu biết pháp luật, có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ
Trang 31công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm cho mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội
Chủ thể thực hiện hỗ trợ pháp lý hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các tổ chức cơ quan nhà nước và các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp Còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chủ thể thực hiện hỗ trợ pháp lý chỉ bao gồm các tổ chức được giao kinh phí và tổ chức bộ máy thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Theo quy định của Nghị định số 66/NĐ- CP thì cơ quan thực hiện hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp bao gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, các hiệp hội, Câu lạc bộ của doanh nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Hoạt động hỗ trợ pháp lý được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: xây dựng tài liệu phổ biến, bồi dưỡng pháp luật; xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu thông tin pháp luật; hỗ trợ thiết lập mạng lưới tư vấn pháp luật tại các địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, hội thảo khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật, thông tin pháp luật, giải đáp vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thi hành pháp luật, tăng cường năng lực cho cán bộ thực hiện chức năng hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp
Hoạt động hỗ trợ pháp lý hoàn toàn miễn phí đối với người được hỗ trợ pháp
lý Doanh nghiệp không phải trả không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí hay thù lao nào dưới bất kỳ hình thức nào
Kinh phí hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do ngân sách Nhà nước cấp và nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân và doanh nghiệp, các cơ quan đại diện doanh nghiệp tham gia vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Trên cơ sở đó, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây:
Trang 32- Chủ thể thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là các đối tượng: Bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, các hiệp hội, Câu lạc bộ của doanh nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật
- Đối tượng được hỗ trợ là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế bao gồm hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã, các loại hình doanh nghiệp trong nhà nước và ngoài quốc doanh
- Nội dung hỗ trợ pháp lý tập trung vào lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến những vướng mắc pháp luật của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình điều hành quản lý của doanh nghiệp, từ đó có sức lan tỏa tới những người quản lý, chủ sở hữu, cán bộ pháp chế trong doanh nghiệp, hình thành nên thói quen tuân thủ pháp luật trong kinh doanh
- Thông qua hoạt động hỗ trợ pháp lý các doanh nghiệp kiến nghị cơ quan nhà nước những vấn đề về vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật, từ đó giúp cơ quan nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của tình hình kinh tế, xã hội đất nước
1.3 Các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
1.3.1 Xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ hoạt động của doanh nghiệp
Cơ sở dữ liệu pháp luật là tập hợp thông tin các văn bản pháp luật được xây dựng, quản lý, thu thập, cập nhật, duy trì, khai thác và sử dụng thông qua các phương tiện điện tử Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức xây dựng, duy trì, cập nhật các cơ sở dữ liệu về tất cả các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản giải đáp pháp luật trong ngành, lĩnh vực, phạm vi do mình phụ trách và đăng tải trên trang thông tin chính thức của Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cụ thể:
“Các Bộ, ngành tổ chức xây dựng, duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu về văn bản quy
Trang 33phạm pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để đăng tải trên trang thông tin điện tử chính thức của
Bộ, ngành trừ văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật” Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng, duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu về
văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương ban hành liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để đăng tải trên trang thông tin điện
tử chính thức của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trừ văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được quyền tiếp cận, sử dụng, khai thác miễn phí thông tin đăng tải trên cơ sở dữ liệu này và có quyền yêu cầu Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cập nhật toàn văn nội dung văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật mà chưa được đăng tải trên trang thông tin chính thức của
Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật
có hiệu lực pháp luật mà chưa được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì doanh nghiệp có quyền đề nghị Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cập nhật văn bản đó
Hình thức hỗ trợ này đang được phổ biến, phù hợp với mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đất nước, sẽ khắc phục được bất cập hiện nay là doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận với thông tin pháp lý, nhất là các văn bản hướng dẫn thi hành luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ ngành và địa phương ban hành Đồng thời, quy định này cũng góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam về bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật
1.3.2.Xây dựng tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật
Để bảo đảm việc phổ biến kịp thời các quy định pháp luật có liên quan phục
vụ hoạt động của doanh nghiệp, tại Điều 8 Nghị định 66/2008/NĐ–CP quy định các
Trang 34Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức biên soạn, xuất bản tài liệu giới thiệu, tuyên truyền tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành có liên quan đến ngành, lĩnh vực hoặc phạm vi do mình quản lý cho doanh nghiệp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch và phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp phổ biến các tài liệu giới thiệu, tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy
phạm pháp luật cho doanh nghiệp, cụ thể: “Các Bộ ngành thuộc trung ư ơng
tổ chức việc biên soạn tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp”
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biên soạn tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương ban hành
có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức phổ biến tài liệu giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật cho doanh nghiệp tại địa phương
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có trách nhiệm tiếp nhận các tài liệu giới thiệu phổ biến pháp luật theo các chương trình mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp của nhà nước, các tổ chức đại diện doanh nghiệp hoặc trực tiếp dùng kinh phí của doanh nghiệp để đầu tư xây dựng các tủ sách pháp luật tại trụ sở cơ quan đơn vị nhằm trang bị để tiếp cận có hệ thống các văn bản
1.3.3 Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp và kỹ năng nghiệp
vụ cho cán bộ pháp chế doanh nghiệp
Để đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, tại Điều 9 Nghị định số 66/2008/NĐ- CP quy định các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức xây dựng, định kỳ cập nhật tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình quản lý và phối hợp với các
Trang 35tổ chức đại diện của doanh nghiệp thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho
doanh nghiệp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch hàng năm và phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho các báo cáo viên thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp tại địa
phương
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được quyền tham dự các lớp bồi
dưỡng kiến thức pháp luật do Bộ, ngành và địa phương tổ chức theo thông báo
1.3.4 Giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp
Pháp luật hiện hành quy định việc hướng dẫn thực hiện pháp luật là chức năng, nhiệm vụ của các Bộ và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Để tổ chức thực thi pháp luật, trong thẩm quyền của mình, Chính phủ, các Bộ cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị định Mặc dù đã có các văn bản hướng dẫn thi hành, nhưng thực tiễn sản xuất - kinh doanh thường xuyên phát sinh nhiều vấn đề mới mà chưa
có pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp, mặt khác pháp luật nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đảm bảo tính đồng bộ, tính cụ thể, đôi khi còn chồng chéo, mâu thuẫn nên đã gây ra cho doanh nghiệp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình tìm hiểu và thực thi pháp luật Vì vậy trên thực tế, doanh nghiệp vẫn có nhu cầu được giải đáp pháp luật
Tại Điều 10 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP quy định trách nhiệm của Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp Việc giải đáp pháp luật được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như:
+ Giải đáp bằng văn bản;
+ Giải đáp thông qua mạng điện tử;
+ Giải đáp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại;
+ Các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Trang 36Về thời hạn giải đáp các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, các Bộ có trách nhiệm trả lời yêu cầu giải đáp pháp luật trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày doanh nghiệp cung cấp đủ thông tin có liên quan đến yêu cầu giải đáp pháp luật; Đối với các trường hợp có nội dung phức tạp hoặc liên quan đến phạm vi quản lý nhà nước trong nhiều ngành, lĩnh vực thì thời hạn trả lời là 30 ngày làm việc
Trong trường hợp không giải đáp pháp luật thì cơ quan được yêu cầu giải đáp phải nêu rõ lý do Việc giải đáp pháp luật quy định nêu trên không áp dụng đối với các yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp về những trường hợp cụ thể liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Về phân cấp thẩm quyền thực hiện giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp, Nghị định 66/2008/NĐ–CP quy định 2 cấp: (1) Doanh nghiệp có quyền yêu cầu các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp (2) Trong trường hợp việc giải đáp pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nêu trên chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có quyền yêu cầu các Bộ, ngành có liên quan giải đáp
1.3.5 Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp về hoàn thiện pháp luật
Việc tiếp nhận, tổng hợp, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp về hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được quan tâm thực hiện nhưng kết quả còn hạn chế Công tác tiếp nhận, tổng hợp về công tác này chưa được thực hiện đều khắp ở tất cả các Bộ,
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cũng chưa được thực hiện toàn diện đối với các quy định pháp luật về kinh tế, thương mại Còn có tình trạng kiến nghị của doanh nghiệp chưa đến được các địa chỉ cần thiết để kịp thời phục vụ cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật Bất cập này, một mặt gây bức xúc trong giới doanh nghiệp, trong xã hội, mặt khác không kịp thời cung cấp thông tin cho các cơ quan có trách nhiệm trong việc tham mưu, đề xuất xây dựng hoàn thiện các quy định pháp luật đáp ứng yêu cầu pháp triển của quan hệ kinh doanh, thương mại
Trang 37Tại Điều 11 Nghị định số 66/2008/NĐ – CP giao cho các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp những kiến nghị của doanh nghiệp để xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định Giao Vụ pháp chế Bộ, ngành và Sở Tư pháp là cơ quan giúp Bộ trưởng
và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì và phối hợp với các đơn vị có liên quan tổng hợp và đề xuất việc xử lý đối với những kiến nghị của doanh nghiệp về hoàn thiện pháp luật Giao Bộ Tư pháp chủ trì theo dõi, tổng hợp công tác này để bảo đảm
sự gắn kết giữa việc tiếp nhận, tổng hợp, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp với công tác xây dựng pháp luật
1.3.6 Xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Để triển khai thi hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP, giúp doanh nghiệp đứng
vững và hội nhập hiệu quả thì biện pháp hỗ trợ pháp lý phải cần một “cú huých” hoặc “lực đẩy” để trong một thời gian nhất định chúng ta có thể nâng tầm nhận thức
pháp luật của doanh nghiệp lên một bước tiến mới đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền, chính vì vậy, Nghị định số 66/2008/NĐ–CP quy định các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh phải xây dựng
và tổ chức thực hiện các Chương trình hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp (Điều
12 Nghị định số 66/2008/NĐ–CP)
Đặc điểm của Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là tổng thể các mục tiêu, kế hoạch và giải pháp thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong một giai đoạn thời gian nhất định được triển khai trong một lĩnh vực nhất định hoặc tại một địa bàn địa phương tỉnh, thành phố thuộc Trung ương hoặc trên phạm vi cả nước
Mục tiêu của chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được xây dựng và
tổ chức thực hiện sẽ tạo ra bước chuyển biến mới trong việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các đạo luật đã và sẽ được ban hành trong thời gian sắp tới và đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp Trong đó, tùy
Trang 38thuộc vào từng giai đoạn cụ thể, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp sẽ tập trung giải quyết các vấn đề ưu tiên như thông tin pháp lý; phổ biến, bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh; kỹ năng, nghiệp vụ pháp chế doanh nghiệp; tư vấn pháp luật cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các địa bàn khó khăn
Hình thức hỗ trợ pháp lý đó là thông qua việc tổ chức và thực hiện các Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy việc thực hiện các hình thức được quy định tại các Điều 7, 8, 9, 10, 11 của Nghị định số 66/2008/NĐ–CP, trong đó tùy từng giai đoạn, từng địa bàn, từng đối tượng doanh nghiệp cơ quan chủ trì chương trình có thể lựa chọn những hình thức nhất định làm chủ công để tạo một
“lực đẩy” trong một giai đoạn nhất định để đẩy nhanh việc hoàn thành các mục tiêu
về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp của Nhà nước
Căn cứ để cứ xây dựng Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đó là xuất phát từ tình hình thực tiễn ban hành và triển khai văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước và nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, tại các vùng, ngành, lĩnh vực vực kinh doanh Trên cơ sở đó chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thường được xây dựng và thực hiện như sau:
- Đối với Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, địa phương: Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức xây dựng
và phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc địa phương do mình quản lý Ví dụ như: Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong lĩnh vực giao thông, vận tải; Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
- Đối với chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành: Các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực hoặc địa phương do mình quản lý gửi Bộ Tư pháp tổng hợp vào Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành; các tổ chức đại diện của doanh nghiệp đề xuất hoạt động hỗ trợ pháp lý theo yêu cầu của doanh nghiệp là thành viên tổ chức mình gửi
Bộ Tư pháp tổng hợp vào Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành;
Trang 39Sau khi Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình Các tổ chức đại diện của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân có chức năng cung cấp dịch
vụ pháp lý được khuyến khích tham gia thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo các chương trình hỗ trợ
1.4 Pháp luật về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Xây dựng và hoàn thiện hệ pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp luôn
là vấn đề được Ðảng và Nhà nước ta dành sự quan tâm, nhất là hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã chỉ rõ: "Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thật sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Ðảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc"
Hiện nay, Hiến pháp mới đã được Quốc hội ban hành năm 2013, các chương trình xây dựng Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và kế hoạch ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương mới được ban hành cùng với việc phát sinh thêm các nhu cầu mới, các vấn đề pháp lý mới như hỗ trợ pháp luật kinh doanh thủy hải sản, pháp luật biển, pháp luật đầu tư công, đầu tư kinh doanh vốn nhà nước… và việc Việt Nam gia nhập Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào cuối năm 2014 đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác hỗ trợ pháp lý theo nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, đối tượng cần được sự quan tâm hỗ trợ pháp luật từ Nhà nước để nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 40Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về công tác hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp đang được hoàn thiện
để góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và hiệu quả với nhiều hình thức, biện pháp phù hợp Có thể nói hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một trong những nhiệm
vụ quan trọng trong điều kiện kinh tế, xã hội như hiện nay ở nước ta Đó là khâu then chốt nhằm ngăn ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật cho doanh nghiệp, tăng cường năng lực cạnh tranh
và góp phần hạn chế rủi ro pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp
Việc đưa pháp luật đi vào cuộc sống thì đối tượng là doanh nghiệp có những
nét đặc thù, đây là lực lượng quan trọng là “xương sống” của nền kinh tế, là lực
lượng tác động đến nhiều đối tượng khác trong xã hội, vì vậy việc hỗ trợ pháp luật cho đối tượng này cần có những nét đặc thù và phải được thực hiện bằng cơ chế riêng mà cụ thể đã được quy định trong Nghị định số 66/2008/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Tiếp đó ngày 05/5/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 585/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010-2014, định hướng đến năm 2020, trong đó có 03 dự án gồm: hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động thông tin pháp lý cho doanh nghiệp; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên một số hoạt động cụ thể; tăng cường năng lực cho cơ quan tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Để triển khai Nghị định số 66/2008/NĐ - CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ
về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Quyết định số 585/2008/QĐ-TTg ngày 05/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 -2014, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các địa phương đã ban hành nhiều văn bản như Chỉ thị, Quyết định, Kế hoạch