Tuy nhiên, sau hơn 8 năm thi hành, những quy định về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa tại Luật Thương mại năm 2005 cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải tiếp tục được sửa đổi,
Trang 1NGUYỄN KHÁNH THU
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ỦY THÁC
MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP
ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
28
2.1 Chủ thể của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa 28 2.2 Giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa 30 2.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ủy thác mua bán hàng
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA
Ở VIỆT NAM
49
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ủy thác
mua bán hàng hóa ở Việt Nam
49
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ủy
thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam
52
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa với những ưu điểm của mình đang ngày càng trở thành hoạt động thương mại phổ biến trong nền kinh tế thị trường So với Luật thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005 đã sửa đổi một số quy định để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của loại hoạt động thương mại này cũng như để bảo vệ quyền lợi của thương nhân và các bên thứ ba tham gia quan hệ
ủy thác mua bán hàng hóa theo hướng tăng cường nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, sau hơn 8 năm thi hành, những quy định về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa tại Luật Thương mại năm 2005 cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải tiếp tục được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn phát triển của các hoạt động thương mại ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc tế cũng như khắc phục những mâu thuẫn, không thống nhất giữa Luật Thương mại với các văn bản pháp luật có liên quan Do vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, thì việc hoàn thiện các quy định của Luật Thương mại về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng và yêu cầu sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp đồng nói chung là rất cần thiết Với mong muốn tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa để tạo tiền đề phân tích và đánh giá được những hạn chế, bất cập của những quy định hiện hành về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn nội dung:
Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam làm đề tài
cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề pháp lý về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng đã được trình bày, giới thiệu trong giáo trình Luật Thương mại của một số cơ sở đào tạo luật như Trường Đại học Luật
Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội… hay trong một số cuốn sách chuyên
khảo như chuyên khảo Luật Kinh tế năm 2004 của TS Phạm Duy Nghĩa (Nhà xuất
Trang 4bản Đại học Quốc gia); Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư - Những vấn đề pháp lý cơ bản năm 2009 của TS Nguyễn Thị Dung, chủ biên (Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia) … Trong các cuốn giáo trình, cuốn sách chuyên khảo này, những quy định về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được nghiên cứu và giới thiệu chủ yếu dừng ở việc mô tả các quy định của pháp luật nhằm trang bị những kiến thức cơ bản cần thiết cho người đọc chứ chưa có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến loại hợp đồng này
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu với tích chất là một hoạt
động trung gian thương mại như Luận án tiến sỹ luật học “Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam” năm 2007 của Nguyễn Thị Vân Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội), Luận án tiến sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật thương mại hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” năm
2004 của Lê Hoàng Oanh (Trường Đại học Luật Hà Nội)… Những công trình này nghiên cứu bao quát về các hoạt động trung gian thương mại mà không tập trung nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa Nghiên cứu đối với từng hoạt động trung gian thương mại đã có một số công trình như:
“Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam - Nhìn tự góc độ Luật so sánh” năm 2009 của TS Ngô Huy Cương (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4), Luận văn thạc sỹ luật học “Hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa- những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2010 của Trần Quỳnh Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm pháp lý về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa và pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, các văn bản pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới quy định về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc phân tích những khía cạnh pháp lý của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa trên cơ sở lý luận cũng như các quy định có liên quan đến hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được quy định chủ yếu tại Bộ Luật dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó xây dựng chính sách, pháp luật thương mại tạo điều kiện phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ là vấn đề trọng tâm Luận văn được thực hiện dựa trên việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: Phân tích, thống kê, tổng hợp và so sánh luật học…
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa Để trên
cơ sở đó, luận văn đề ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Với mục đích như trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết là:
- Làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận cơ bản nhất về hợp động ủy thác
mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng cũng như những vấn đề lý luận của pháp lý hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa;
- Xác định và phân tích được những nội dung cơ bản của pháp luật về hợp
đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng và kiến nghị được một số giải pháp hoàn thiện pháp
luật hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng, qua đó giúp phân biệt với những hoạt động và hợp đồng trong lĩnh vực trung gian thương mại khác
- Luận văn đã chỉ ra và phân tích được những nội dung cơ bản của pháp luật
về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam, nhất là việc chỉ ra những hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện
Trang 6- Luận văn đã đề ra được phương hướng và kiến nghị được một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng ủy thác mua bán
hàng hóa và pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Chương 2: Những nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng ủy thác mua
bán hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
ủy thác mua bán hàng hóa ở Việt Nam
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ỦY
Giao dịch trực tiếp là phương thức giao dịch trong đó người bán và người mua trực tiếp bàn bạc và thoả thuận với nhau về các nội dung giao dịch như: Đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán và các điều kiện giao dịch khác Phương thức giao dịch này có những ưu điểm như: các bên trực tiếp thương thảo hợp đồng nên ít xảy ra hiểu lầm, sai sót đáng tiếc, do đó nâng cao hiệu quả của đàm phán giao dịch; thương nhân có điều kiện trực tiếp tiếp cận thị trường, do đó có thể nhanh chóng thích ứng với nhu cầu thị trường một cách tốt nhất; thương nhân có thể trực tiếp phát triển mối quan hệ với bạn hàng nước ngoài một cách nhanh chóng Tuy nhiên, phương thức giao dịch trực tiếp cũng có những hạn chế nhất định như khi thương nhân mua bán hàng hoá ở thị trường mới hay đối với sản phẩm mới, vì do chưa am hiểu thị trường, chưa có nhiều thông tin nên thương nhân dễ bị ép giá, dễ gặp rủi ro lớn Mặt khác, phương thức giao dịch này chỉ có thể đạt hiệu quả khi thương nhân có đội ngũ thực hiện giao dịch giàu kinh nghiệm và phải tốn khá nhiều chi phí giao dịch
Do đó, đối với các thương nhân vừa và nhỏ hoặc lần đầu tiên tham gia thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế hoặc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ mới hoặc tại thị trường mới thì phương thức giao dịch trực tiếp chưa hẳn đã tốt, dễ gây rủi ro Trong những trường hợp này, thương nhân có thể lựa chọn phương thức giao dịch qua trung gian
Phương thức giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán
Trang 8hàng hoá (người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiện giao dịch phải thông qua một người trung gian [29, tr.17]
Trong phương thức giao dịch trực tiếp chỉ có hai chủ thể trực tiếp thiết lập quan hệ với nhau còn trong phương thức giao dịch qua trung gian sẽ xuất hiện một chủ thể nữa, người này đứng ở vị trí độc lập với hai bên còn lại trong quan hệ và là người thực hiện dịch vụ theo sự uỷ quyền và vì lợi ích của người khác để hưởng thù lao Có thể gọi công việc do người trung gian thực hiện trong hoạt động thương mại
để hưởng thù lao là dịch vụ trung gian thương mại Đây là loại dịch vụ được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực phân phối thương mại và đối với nhà sản xuất thì thông qua dịch vụ này giúp họ tiếp cận với người tiêu dùng một cách nhanh chóng hơn [28]
Xuất phát từ nhu cầu này mà nhiều hoạt động trung gian thương mại đã ra đời như: dịch vụ đại diện, dịch vụ môi giới, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại Trong các dịch vụ trung gian thương mại liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa, nhất là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thì ủy thác mua bán hàng hóa là phổ biến và được ưa chuộng trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Dưới giác độ lịch sử, trên thế giới hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XIII Vào thời điểm đó, các thương nhân, thay vì theo hàng hóa giao tại cảng đến, họ ủy thác cho thương nhân khác thực hiện công việc đó thay mình và trả thù lao Đó là khởi nguồn của việc sử dụng ủy thác trong hoạt động thương mại Cùng với sự phát triển của thương mại toàn cầu, đặc biệt từ nửa sau thế
kỷ XIX, khi các quan hệ quốc tế gia tăng đáng kể thì ủy thác trong hoạt động thương mại, đặc biệt là hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa ngày càng trở nên có ý nghĩa Đến nay, ở hầu hết các nước đều tồn tại các hoạt động thương mại qua trung gian, trong đó có hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa [28]
Ở Việt nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ủy thác mua bán hàng hóa chủ yếu tồn tại trong khu vực kinh tế có yếu tố nước ngoài Các khu vực kinh tế khác, hoạt động này chưa có điều kiện để hình thành Thời kỳ này, một số văn bản pháp luật của Bộ ngoại thương (sau này là Bộ thương mại) dưới hình thức Thông tư, được ban hành để điều chỉnh các hoạt động ủy thác xuất nhập khẩu và đại
lý mua bán hàng hóa ở nước ngoài
Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, trước những đòi hỏi bức
Trang 9thiết của việc sử dụng các hoạt động thương mại qua trung gian, Luật Thương mại năm 1997 ra đời, có những quy định cơ bản về các hoạt động trung gian thương mại, trong đó hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được quy định từ Điều 99 đến Điều 110 Sau hơn bảy năm thi hành, Luật Thương mại năm 1997 bộ lộ nhiều bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại trong nước và quốc tế
Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Thương mại năm 2005 Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thay thế Luật Thương mại năm 1997 Luật Thương mại năm 2005 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân thực hiện hoạt động kinh doanh Các hoạt động thương mại nói chung trong đó có hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được điều chỉnh một cách linh hoạt bởi một hành lang pháp lý mềm dẻo Luật Thương mại năm 2005 quy định hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa từ Điều 155 đến Điều 165, theo đó ủy thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác Như vậy, không giống như nhiều nước trên thế giới, Luật Thương mại nước ta đã tách hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa ra khỏi hoạt động đại lý mua bán hàng hóa thành hoạt động thương mại độc lập với những nét đặc trưng riêng
1.1.2 Ưu điểm và nhược điểm của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Thành phần kinh tế tư nhân không được thừa nhận và bị liệt vào dạng phải cải tạo và xoá
bỏ Do không có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, toàn bộ nền kinh tế cũng như từng đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa đều phải thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh
đã được phân bổ từ trước, ký kết hợp đồng kinh tế là kỷ luật của Nhà nước nên thời
kỳ này nền kinh tế không có tính cạnh tranh [18, tr.575] Trong lĩnh vực ngoại thương, nhà nước thông qua các doanh nghiệp của mình thành lập độc quyền đối với hoạt động xuất nhập khẩu Vì vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng không có cơ hội phát triển
Sau năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế theo hướng phát triển
Trang 10nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nước do Đại hội Đảng VI (12/1986) khởi xướng, các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại bình đẳng Quyền tự do kinh doanh được ghị nhận tại Hiến pháp (1992) với sự đa dạng về các thành phần kinh tế được thừa nhận và được tạo điều kiện để phát triển đã tạo ra và thúc đẩy môi trường cạnh tranh phát triển Cạnh tranh không còn là một hiện tượng mới mẻ trong nền kinh tế Thực tiễn đó, buộc Nhà nước ta phải ban hành các văn bản pháp luật thể chế hóa đường lối đổi mới về kinh tế của Đảng [18, tr.575] Luật Thương mại năm 1997 ra đời là một minh chứng, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động thương mại nói chung và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, các hoạt động thương mại trong đó có hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa ngày càng có ý nghĩa và vài trò quan trọng, được các thương nhân sử dụng phổ biến, thể hiện ở một số ưu điểm sau đây:
Thứ nhất, người nhận ủy thác thường hiểu rõ và nắm bắt đầy đủ thông tin thị
trường, am hiểu pháp luật và tập quán địa phương, do đó có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán, phòng tránh hoặc giảm thiểu rủi ro cho người ủy thác Điều này đặc biệt có ích đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập và hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở nước ta Đã từng có bài học đắt giá được rút
ra đối với một công ty xuất khẩu ở Đà Nẵng khi xuất khẩu một lô hàng mây tre đan sang Úc mà không biết quy định của pháp luật nước đó, khiến toàn bộ lô hàng không được chấp nhận và bị tiêu hủy [25] Từ đó có thể thấy rằng việc hiểu biết rõ tình hình pháp luật, tập quán địa phương nơi dự định thực hiện giao dịch thương mại đóng vai trò hết sức quan trọng Khi một doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường nước ngoài, nhất là ở những thị trường mới mà không am hiểu về pháp luật
và tập quán thương mại của nước đó; đồng thời cũng không có khả năng tự tìm bạn hàng tiêu thụ sản phẩm thì việc sử dụng dịch vụ thương mại qua trung gian, đặc biệt
là hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa sẽ có vai trò quan trọng, khắc phục được những hạn chế nêu trên
Thứ hai, hoạt động ủy thác mau bán hàng hóa góp phần phát triển nền kinh tế
đất nước, tăng thu ngân sách Trong hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu là lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt vì nó chi phối lớn đền nhiều ngành kinh tế quốc gia Hoạt động xuất nhập khẩu muốn được đẩy mạnh phải tìm được đầu mối xuất nhập
Trang 11khẩu, tổ chức tiêu thụ sản phẩm Dịch vụ ủy thác đã góp phần không nhỏ đối với những doanh nghiệp không đủ điều kiện trực tiếp xuất nhập khẩu, không tìm được đầu mối để xuất nhập khẩu Ví dụ: Một cơ sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ có các sản phẩm tranh thêu, muốn đưa sản phẩm của mình xuất khẩu ra thị trường nước ngoài nhưng là chủ thể không được phép xuất khẩu hoặc không thông thạo về các thủ tục xuất nhập khẩu cần thiết, thì có thể thông qua dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu để tiếp cận thị trường
Thứ ba, nhờ dịch vụ ủy thác trong việc lựa chọn, phân loại đóng gói, người
ủy thác có thể giảm bớt chi phí vận tải Người nhận ủy thác thường có sẵn cơ sở vật chất, khi sử dụng dịch vụ này, người ủy thác đỡ được khoản đầu tư đáng kể Nếu nhà sản xuất, kinh doanh tự mình tổ chức phân phối hàng, tự tìm bạn hàng, ký hợp đồng và thực hiện hợp đồng thì khoản đầu tư là rất lớn Trong khi đó người được ủy thác đã có đầy đủ kể cả đội ngũ công nhân viên có kinh nghiệm, hiểu biết thị trường, hiểu biết pháp luật và tập quan thương mại… Như vậy, dù lợi nhuận bị chia
sẻ, phải trả thù lao cho người nhận ủy thác nhưng khoản đầu tư và chi phí vẫn ít hơn nhiều Ví dụ: một doanh nghiệp muốn bán sản phẩm của mình sang nước ngoài khi
sử dụng dịch vụ ủy thác; người nhận ủy thác sẽ tiến hành tất cả các khâu như tìm đối tác, ký kết và thực hiện hợp đồng, làm thủ tục hải quan, thuê phương tiện vận tải… Tất cả các công việc đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp xuất khẩu Hay như nhà sản xuất thực phẩm đóng hộp Vissan thông qua dịch vụ ủy thác
để thu mua hải sản được phân bố ở khắp các vùng đánh bắt hải sản, sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí không nhỏ cho việc phân loại sản phẩm thu được
Thứ tư, nhà kinh doanh có thể tổ chức một hệ thống rộng rãi các trung gian
tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ do tiết kiệm được chi phí khi sử dụng dịch vụ ủy thác Người ủy thác có thể mở rộng thêm thị trường, dần dần hình thành mạng lười buôn bán để chiếm lĩnh thị trường Nhờ đó việc buôn bán được xúc tiến mạnh mẽ hơn so với việc tự mình tìm kiếm bạn hàng, tổ chức phân phối sản phẩm Ta có thể thấy qua việc doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hàng thực phẩm, hàng may mặc sang nước ngoài và sử dụng dịch vụ ủy thác Bên nhận ủy thác đã tìm bạn hàng, ký và thực hiện hợp đồng với cơ sở vật chất và kinh nghiệm sẵn có, còn doanh nghiệp ủy thác chỉ phải trả thù lao cho người nhận ủy thác
Trang 12Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa cũng
có những nhược điểm nhất định, đó là:
Thứ nhất, khi hoạt động thương mại được thực hiện thông qua người trung
gian, người sử dụng dịch vụ trung gian thương mại sẽ có nguy cơ bị mất mối liên hệ trực tiếp với thị trường và đối tác Do vậy, các nhà kinh doanh khi sử dụng dịch vụ
ủy thác mua bán hàng hóa có thể không cần tìm hiểu nhu cầu thị trường cũng như đối tác, do đó có thể họ không điều chỉnh kịp thời kế hoạch kinh doanh, thay đổi mặt hàng sản phẩm phù hợp với điều kiện thực tế Nếu họ không tự tìm bạn hàng, nghiên cứu thị trường, họ sẽ luôn ở thế bị động, phụ thuộc vào người nhân ủy thác
Thứ hai, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của người ủy thác bị
chia sẻ do họ phải trả một khoản tiền thù lao khi sử dụng dịch vụ ủy thác của người nhận ủy thác Số tiền này tính theo phần trăm giá trị hợp đồng hoặc tùy theo sự thỏa thuận của hai bên Ngay cả khi lợi nhuận chưa chắc đã thu được nhưng tiền thù lao thì vẫn phải trả cho người nhận ủy thác vì số tiền này không phụ thuộc người ủy thác kinh doanh có lãi hay không
Thứ ba, người ủy thác luôn ở thế bị động trong việc tiếp cận thị trường và đối
tác, họ phụ thuộc vào người nhận ủy thác Nếu người nhận ủy thác làm việc kém hiệu quả, không thành công hay gian lận, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại, tổn thất,
bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh… thì người ủy thác sẽ phải chịu Chẳng hạn có nhiều doanh nghiệp mua lúa của nông dân nhưng ít đầu mối xuất khẩu trực tiếp nên phía đầu mối được dịp ép giá hưởng lợi từ bên ủy thác
Tóm tại, hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa vừa có những ưu điểm và vừa
có những hạn chế nhất định Do vậy, khi sử dụng dịch vụ ủy thác, bên ủy thác phải cân nhắc sao cho phù hợp và hiệu quả nhất
1.1.3 Phân biệt hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa với các hoạt động trung gian thương mại khác
1.1.3.1 Phân biệt hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa với hoạt động đại diện cho thương nhân
Trên thế giới, chế định đại diện thương mại có lịch sử phát triển lâu đời và được xem là chế định quan trọng bậc nhất trong số các hoạt động trung gian thương mại Ở Việt Nam, đại diện cho thương nhân là một dạng của đại diện theo ủy quyền
Trang 13được thực hiện trong hoạt động thương mại Theo Điều 141 Luật Thương mại năm
2005, đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện
Như vậy, đại diện cho thương nhân được hiểu là việc bên đại diện nhân danh bên giao đại diện thực hiện các hoạt động thương mại trong phạm vi ủy nhiệm và được hưởng thù lao đại diện Với bản chất là thực hiện công việc trong nội dung ủy nhiệm thay thương nhân giao đại diện, đại diện cho thương nhân có những điểm khác căn bản
so với hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa ở những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, đại diện cho thương nhân bắt buộc bên giao đại diện
phải là thương nhân, trong khi đó, bên ủy thác không nhất thiêt phải là thương nhân
Luật thương mại quy định, bên giao đại diện phải là thương nhân có quyền thực hiện hoạt động thương mại mà mình ủy quyền, trong khi, đối với hoạt động ủy thác, bên ủy thác không nhất thiết phải có quyền hoạt động thương mại đối với lĩnh vực mà họ ủy thác
Thứ hai, về tư cách pháp lý khi thực hiện ủy nhiệm, đối với hoạt động ủy
thác mua bán hàng hóa, bên nhận ủy thác nhân danh chính mình khi thực hiện giao dịch với bên thứ ba, do vậy, mọi hậu quả pháp lý của hành vi từ giao dịch đó sẽ trực tiếp mang lại cho chinh bên nhận ủy thác Ngược lại, trong quan hệ đại diện cho thương nhân, bên đại diện nhân danh bên giao đại diện khi thực hiện giao dịch với bên thứ ba và như vậy, mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ hành vi của bên đại diện sẽ mang lại cho bên giao đại diện
Thứ ba, về phạm vi nhận ủy nhiệm, theo Điều 161 Luật Thương mại năm
2005, bên nhận ủy thác có thể nhận ủy thác mua bán hàng hóa cho nhiều bên ủy thác, trong khi bên đại diện cho thương nhân có thể không thực hiện được điều này trừ trường hợp hợp đồng đại diện có thỏa thuận Bởi khoản 4 Điều 145 Luật thương mại năm 2005 quy định: Bên đại diện không được thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa của mình hoặc của người thứ ba trong phạm vi đại diện
Thứ tư, về quyền chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng do bên trung
gian thương mại ký với bên thứ ba không đúng thẩm quyền, bên giao đại diện có
Trang 14quyền quyết định chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng do bên đại diện ký với bên thứ ba không đúng thẩm quyền, trong khi ủy thác mua bán hàng hóa không đặt
ra vấn đề này
Do bản chất của hoạt động đại diện cho thương nhân, bên đại diện chỉ là người được ủy quyền thực hiện hành vi thay cho thương nhân, mọi hậu quả pháp lý của hành vi đại diện trực tiếp mang lại cho chính bên giao đại diện Vì vậy, theo khoản 1 Điều 146 Luật Thương mại năm 2005, bên giao đại diện có quyền chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng ký ngoài phạm vi đại diện giữa bên đại diện với bên thứ ba Trong khi đó đối với hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, bên nhận
ủy thác nhân danh chính mình khi ký kết hợp đồng với bên thứ ba, mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ hành vi đó trực tiếp mang lại cho chính họ Do vậy, bên nhận
ủy thác có quyền tự do lựa chọn đối tác để giao kết hợp đồng, không phụ thuộc vào vấn đề chấp nhận hay không chấp nhận việc giao kết hợp đồng từ phía bên ủy thác
1.1.3.2 Phân biệt hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa với hoạt động môi giới thương mại
So với các hoạt động trung gian thương mại khác, hoạt động môi giới thương mại ở Việt Nam mới có điều kiện hình thành và phát triển những năm gần đây Ở thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, hoạt động môi giới thương mại gần như không có
cơ hội phát triển Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung buộc các thực thể kinh doanh vận động theo cơ chế đã được hoạch định, trên cơ sở chỉ tiêu pháp lệnh được giao,
do đó khó có cơ hội cho các trung gian thương mại nói chung và hoạt động môi giới thương mại nói riêng hoạt động Sau đổi mới, đặc biệt khi kinh tế thị trường tạo lập được nền móng và đi vào phát triển tương đối ổn định, hoạt động môi giới thương mại mới thực sự có điều kiện phát triển Tuy thế, so với thế giới, hoạt động môi giới thương mại mới chỉ đi những bước đầu tiên Ở các nước tư bản, đặc biệt là Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, nơi có thị trường chứng khoán, tài chính, bất động sản phát triển sôi động thì vai trò, vị thế và những hiệu quả to lớn mà môi giới thương mại mang lại mới thực sự thể hiện được những giá trị của nó
Ở Việt Nam những năm gần đây, khi thị trường chứng khoán, bất động sản được giao dịch chính thức, công khai trên các sàn giao dịch, vị thế của môi giới thương mại đang dần được khẳng định và ngày càng có nhiều nhà môi giới chứng
Trang 15khoán, môi giới bất động sản, môi giới vận tải chuyên nghiệp Tuy thế hoạt động môi giới vẫn chưa thể hiện hết những tiềm năng đích thực của nó
Về phương diện pháp lý, Luật Thương mại không dành nhiều quy định cho môi giới thương mại, nếu không nói là thiếu nhiều quy định pháp lý cần thiết về hoạt động môi giới, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền của bên môi giới
và bên được môi giới Những năm tới đây, khi môi giới thương mại thực sự phát huy tiềm năng, hiệu quả của nó, với tính chất phức tạp của hoạt động này ở những thị trường nhạy cảm như chứng khoán, tiền tệ, bất động sản thì việc sửa đổi, bổ sung các quy định điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại là cần thiết
Theo Điều 150 Luật thương mại, môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới
Như vậy, môi giới được hiểu là người làm trung gian cho các bên tiếp xúc, giao thiệp với nhau, trong hoạt động thương mại đó là người xúc tiến cho các bên giao kết, xác lập quan hệ thương mại So với hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, môi giới thương mại có những điểm khác nhau sau đây:
Thứ nhất, về pham vi hoạt động, môi giới thương mại được thực hiện trên
nhiều lĩnh vực (du lịch, dịch vụ, bất động sản, tài chính, chứng khoán ), trong khi
đó ủy thác mua bán hàng hóa được thực hiện trong phạm vi hẹp là ủy thác mua hàng hóa hoặc là ủy thác bán hàng hóa
Thứ hai, về quan hệ pháp lý xác lập với bên thứ ba, bên môi giới không trực
tiếp tham gia vào quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng với bên thứ ba, trong khi bên nhận ủy thác trực tiếp giao kết và thực hiện hợp đồng với bên thức ba
Ở phương diện này, người môi giới chỉ là bên trung gian thuần túy làm nhiệm vụ tìm kiếm cơ hội kinh doanh cho các bên được môi giới tiếp xúc, giao dịch với nhau và sau đó các bên được môi giới tự đi đến ký kết hợp đồng Bên môi giới không có quan hệ với bên thức ba về mặt pháp lý
Thứ ba, về hình thức hợp đồng, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được
pháp luật quy định chặt chẽ dưới hình thức văn bản hoặc các hình thức khác có giá
Trang 16trị pháp lý tương đương, trong khi hợp đồng môi giới không thể hiện sự bắt buộc về hình thức Như vậy, hợp đồng môi giới có thể giao kết bằng văn bản, thậm chí bằng lời nói, hành vi cụ thể theo quy định của Bộ Luật dân sự về hình thức hợp đồng dân sự
1.1.3.3 Phân biệt hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa với hoạt động đại lý thương mại
Mô hình đại lý thương mại được sử dụng phổ biến hơn khi nhu cầu mua bán hàng hóa của các nhà sản xuất từ quy mô nhà máy, xí nghiệp đến các công ty, tập đoàn lớn đòi hỏi nguồn cung nguyên, nhiên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ổn định và
có hệ thống
Ở Việt Nam, khi kinh tế thị trường có điều kiện phát triển, không còn hiếm những hệ thống đại lý bán hàng được các tập đoàn lớn ủy nhiệm như Honda, các siêu thị, đại lý phân phối sản phẩm điện máy, điện lạnh, hay đại lý thu mua nông sản Khó có thể phủ nhận những cơ hội mà toàn cầu hóa tạo ra cho các nhà sản xuất có thể đưa sản phẩm của mình trực tiếp đến tay khách hàng mà chi phí lại ít tốn kém như khi tổ chức một hệ thống tiêu thụ thông qua các đại lý thương mại Hãng IBM muốn bán máy tính của họ tại Việt Nam, sẽ là tốn kém và không hợp lý nếu IBM trực tiếp tổ chức hệ thống tiêu thụ bằng chính nhân lực và chi phí của mình Thay vì điều đó, họ sử dụng dịch vụ trung gian thương mại, các đại lý bán hàng sẵn
có tại Việt Nam [22, tr.536]
Theo Điều 166 Luật Thương mại năm 2005, đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao
Như vậy, đại lý thương mại được hiểu là thương nhân thực hiện việc thu mua hoặc tiêu thụ sản phẩm hay cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý để hưởng thù lao Xét từ bản chất, đại lý thương mại khác ủy thác mua bán hàng hóa đặc điểm pháp lý chủ yếu sau:
Thứ nhất, về chủ thể, trong quan hệ đại lý thương mại cả hai bên giao đại lý
và bên đại lý đều phải là thương nhân, trong khi chủ thể của quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa, bên ủy thác không nhất thiết phải là thương nhân
Thứ hai, về phạm vi hoạt động, đại lý thương mại có phạm vi hoạt động rộng
Trang 17hơn, bao gồm các hoạt động đại lý mua bán hàng hóa, hoạt động đại lý cung ứng dịch vụ, trong khi ủy thác mua bán hàng hóa chỉ giới hạn ở hoạt động mua hoặc bán hàng hóa
Thứ ba, bên đại lí được tự do hơn bên nhận uỷ thác trong việc lựa chọn bên
thứ ba để giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng
Thứ tư, quan hệ uỷ thác thường mang tính vụ việc, đơn lẻ còn quan hệ đại lí
thường là quá trình hợp tác lâu dài giữa bên đại lí và bên giao đại lí Vì vậy, trong quan hệ đại lí bên đại lí có sự gắn bó phụ thuộc vào bên giao đại lí đồng thời bên giao đại lí có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của bên đại lí hơn so với quan hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác
1.2 Bản chất pháp lý của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng ủy thác mua bán hàng
Quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa được xác định trên cơ sở hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng trong hoạt động thương mại Vì vậy, nó mang đầy đủ những đặc điểm của hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng Đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là một công việc cụ thể, do vậy, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa còn phản ánh đầy đủ các đặc điểm của loại hợp đồng dịch vụ
Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng ủy thác mua hàng hóa, song có thể dựa vào khái niệm hoạt đồng ủy thác mua bán hàng hóa được quy định tại Điều 155 Luật Thương mại năm 2005 cũng như những biểu hiện đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng dịch vụ được quy định tại Điều 518 Bộ Luật dân sự năm 2005, có thể định nghĩa hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa như sau:
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện công việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác, còn bên ủy thác có nghĩa vụ trả thù lao cho bên nhận ủy thác
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập trên cơ sở có đề nghị giao kết
và có chấp nhận đề nghị giao kết hay thỏa thuận được tạo ra và xác định bởi nghĩa vụ
về công việc mua, bán hàng hóa có điều kiện giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa mang bản chất của hợp đồng dịch vụ,
Trang 18nói cách khác hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là hợp đồng dịch vụ dân sự trong hoạt động thương mại Về phương diện chủ thể, bên nhận ủy thác là chủ thể cung ứng dịch vụ thương mại chuyên nghiệp được thuê thực hiện công việc mua bán hàng hóa, nhân danh chính mình cho bên ủy thác và được bên ủy thác trả thù lao theo thỏa thuận Về đối tượng của hợp đồng này là công việc mua bán hàng hóa - đối tượng của một loại hợp đồng dịch vụ Về nội dung, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa chứa đựng các điều khoản của hợp đồng dịch vụ như thỏa thuận về công việc phải làm, phạm vi, thời hạn, thù lao
Ngoài bản chất của một loại hợp đồng dịch vụ, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa còn chứa đựng trong đó các dấu hiệu của hợp đồng ủy quyền Yếu tố ủy quyền được thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện công việc của người được ủy quyền trong phạm vi được ủy quyền và được nhận thù lao theo thỏa thuận Tuy nhiên, ủy thác không đồng nhất với ủy quyền.Về bản chất của hành vi, ủy quyền trong dân sự
là hành vi giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật đã trao cho mình Trong khi đó ủy thác trong hoạt động mua bán hàng hóa là hành vi giao cho người khác làm thay công việc mua bán hàng hóa cho mình Do đó, về tư cách chủ thể khi thực hiện hành vi, bên được ủy quyền thực hiện công việc được ủy quyền nhân danh bên ủy quyền, còn bên nhận ủy thác thực hiện công việc được ủy thác nhân danh chính mình Về phạm vi, bên được ủy quyền có thể được ủy quyền thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại trong khi ủy thác mua bán hàng hóa mang tính vụ việc, thu hẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Về năng lực pháp lý, bên được ủy quyền có thể là cá nhân, tổ chức có hoặc không có tư cách thương nhân, tùy thuộc vào hành vi được ủy quyền, còn bên nhận ủy thác phải là thương nhân, đặc biệt phải có giấy phép kinh doanh phù hợp với hàng hóa được ủy thác mua bán Như vậy, ủy thác có dấu hiệu của ủy quyền dân sự nhưng không phải ủy quyền dân
sự trong hoạt động thương mại
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng có những điểm tương đồng và khác biệt Về bản chất, quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là quan hệ ba bên (quan hệ giữa bên ủy thác với bên nhận ủy thác và quan hệ giữa bên nhận ủy thác với bên thứ ba), còn quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa là quan hệ mua bán trực tiếp giữa bên mua và bên bán Về phương
Trang 19diện chủ thể, bất kỳ cá nhân, tổ chức có hay không có tư cách thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong khi hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có yêu cầu đặc thù đối với năng lực chủ thể của bên nhận ủy thác (Bên nhận uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác) Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, trong khi hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bắt buộc về hình thức phải bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa, trong khi đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là công việc mua bán hàng hóa Tuy nhiên, việc cùng hướng đến mua hoặc bán được hàng hóa cũng là một điểm tương đồng giữa hai loại hợp đồng này Điều này dẫn đến trong hợp đồng có nhiều điều khoản quy định tương tự nhau, chẳng hạn: chủng loại hàng hóa, số lượng, chất lượng, quy cách, giá, địa điểm, phương thức, thời hạn giao hàng
Thông qua khái niệm và sự phân tích nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, cụ thể là:
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Chủ thể của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm bên ủy thác và bên nhận ủy thác
Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, bên ủy thác là thương nhân hoặc không phải là thương nhân Tuy nhiên, bên nhận ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác và thực hiện việc mua bán hàng hóa theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác
Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Đối tượng của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa Như đã phân tích ở trên, bản chất của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là một loại cụ thể của hợp đồng dịch vụ nên đối tượng của hợp đồng là việc thực hiện một công việc cụ thể
Thứ ba, về nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là các điều khoản thỏa thuận giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác, thể hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của
Trang 20các bên trong quan hệ ủy thác, theo đó bên nhận ủy thác có nghĩa vụ thực hiện công việc ủy thác mua bán hàng hóa theo ủy quyền của bên ủy thác và được hưởng thù lao; bên ủy thác có nghĩa vụ trả tiền thù lao cho bên nhận ủy thác
Trong thực tiễn, tùy thuộc vào công việc được ủy thác, nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được thể hiện khác nhau Tuy nhiên, thông thường nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm các điều khoản chủ yếu sau: hàng hóa được ủy thác mua, bán; thù lao ủy thác; thời hạn thực hiện hợp đồng
ủy thác mua bán hàng; các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng; trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng; các trường hợp miễn trách nhiệm; thủ tục giải quyết tranh chấp Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận về vấn đề mua bảo hiểm cho hàng hóa ủy thác để dự liệu cho trường hợp bên nhận ủy thác đã thực hiện đúng nghĩa vụ bảo quản hàng hóa ủy thác song hàng hóa vẫn gặp rủi ro ngoài tầm kiểm soát
Pháp luật các nước có những cách khác nhau trong quy định về nội dung hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa Các nước theo truyền thống luật Anh - Mỹ thường không có quy định riêng điều chỉnh các dịch vụ trung gian trong hoạt động thương mại Tất cả các giao dịch qua trung gian, bất kể nhằm mục đích gì cũng được quy định chung trong Luật đại diện (Luật của Anh là The commercial Agents Regulatiens Luật của Hoa Kỳ là Law of Agency) Về nội dung hợp đồng, về cơ bản chỉ bắt buộc thỏa thuận về điều khoản đối tượng của hợp đồng, những nội dung khác, nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể, có thể được dẫn tập quán thương mại
để xác định [36]
Các nước khác theo truyền thống Châu Âu lục địa, bên cạnh Bộ Luật dân sự, còn có Luật Thương mại, quy định cụ thể về từng hoạt động trung gian thương mại, trong đó có vấn đề về nội dung hợp đồng Điển hình là pháp luật của Cộng hòa Pháp, nội dung hợp đồng phải thỏa thuận rõ về đối tượng, chất lượng, giá cả [12]
Thứ thư, về hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Về nguyên tắc, hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận kết quả
mà các bên thoả thuận với nhau Phương tiện này có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể
Tuy nhiên, Điều 159 Luật Thương mại năm 2005 quy định: Hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có
Trang 21giá trị pháp lý tương đương (các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm: điện báo, TELEX FAX, Thông điệp dữ liệu)
Như vậy, một trong những điều kiện để hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
có hiệu lực pháp luật là phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng Quy định này có phần cứng nhắc, không phù hợp tính năng động, linh hoạt của sự tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng như các hợp đồng khác có vai trò quan trọng trong giao dịch thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Thứ nhất, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là phương tiện pháp lý tạo
điều kiện cho cá nhân, tổ chức, nhà kinh doanh thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình
Để tồn tại và phát triển, mọi cá nhân cũng như tổ chức phải tham gia vào các mối quan hệ kinh tế khác nhau Tuy nhiên các quan hệ đó chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Sự thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên là cơ sở hình thành hợp đồng Một doanh nghiệp muốn bán hoặc mua sản phẩm cho mình nhưng không có đủ điều kiện trực tiếp bán hoặc mua
từ đối tác, họ sẽ ký một hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa với bên kinh doanh dịch vụ ủy thác để bên nhận ủy thác ký hợp đồng bán hoặc mua hàng từ bên thứ ba thay họ Như vậy nhu cầu tiêu thụ hoặc thu mua sản phẩm của doanh nghiệp đã được đáp ứng Thông qua hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa mà hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi, các chủ thể kinh doanh có thêm lợi nhuận, phát triển sản xuất kinh doanh
Thứ hai, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là căn cứ pháp lý ghi nhận
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa được giao kết hợp pháp, có hiệu lực pháp luật sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình Nói cách khác, bên ủy thác và bên nhận ủy thác có cơ sở pháp lý để thực hiện trách nhiệm của mình như thỏa thuận và yên tâm là bên kia cũng phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình Bởi vì hợp đồng ủy thác là sự thể hiện ý chí thống nhất của
Trang 22các bên, bao gồm những điều khoản mà các bên đã cam kết Do đó, các bên phải thực hiện những cam kết mà mình đã đồng ý xác lập, không thể viện lý do để từ chối nghĩa vụ
Thứ ba, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là cơ sở pháp lý để Nhà nước
kiểm tra tính hợp pháp của quan hệ kinh tế và giải quyết tranh chấp, vi phạm nếu
có, thông qua đó kiểm soát được các hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa
Qua kiểm tra, phát hiện sai phạm trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, các cơ quan chức năng có thể đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật phù hợp với thực tiễn kinh doanh, bảo vệ quan hệ hợp đồng, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Hay các cơ quan giải quyết tranh chấp chỉ giải quyết yêu cầu của các bên khi giữa họ có hợp đồng ủy thác hợp pháp, tức là hợp đồng có hiệu lực Khi đó, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
sẽ là chứng cứ quan trọng để giải quyết tranh chấp, vi phạm phát sinh giữa các bên
Ví dụ: Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng, điều khoản phương thức giải quyết tranh chấp sẽ quy định việc các bên sẽ giải quyết tranh chấp như thế nào, thông qua cơ quan tài phán nào, luật áp dụng ra sao… Hay khi một bên cố tình không thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì hợp đồng chính là căn
cứ buộc bên vi phạm thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng
1.3 Khái quát pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
1.3.1.Nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại nói chung và hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng, trong đó có hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Có thể chia nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa thành 02 nhóm cơ bản:
Thứ nhất, nhóm các quy định chung về hợp đồng, trong có hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Nhóm các quy định này quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc chung
về mọi loại hợp đồng, không phụ thuộc vào đó là hợp đồng gì, phát sinh trong lĩnh vực nào Giai đoạn trước ngày 01/01/2006, nhóm các quy định này bao gồm có Bộ luật dân sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 Giai đoạn kể từ
Trang 23ngày 01/01/2006 tới nay, nhóm các quy định này được tìm thấy ở Bộ luật dân sự năm 2005
Bộ luật dân sự năm 2005, có các quy định chung liên quan đến hợp đồng ủy thác mua bán hàng sau đây:
- Giao dịch dân sự (Chương VI): các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự, các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả của giao dịch dân sự
vô hiệu
- Đại diện (Chương VII) và ủy quyền (mục 12 Chương XVII): người đại diện
cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập các giao dịch dân sự, vấn
đề đại diện theo ủy quyền
- Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (Chương XVII, Chương XVIII): các
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự; trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự; các vấn đề liên quan đến nguyên tắc giao kết hợp đồng; thủ tục giao kết hợp đồng, điều kiện có hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt thanh lý hợp đồng; các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng; thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng
Ngoài ra, Bộ Luật dân sự năm 2005 còn rất nhiều quy định có liên quan đến hợp đồng nói chung và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng như quy định
về chủ thể của quan hệ dân sự, quy định về tài sản và quyền sở hữu tài sản
Thứ hai, nhóm các quy định chuyên ngành về hợp đồng ủy thác mua bán
hàng hóa
Bên cạnh những quy định chung về hợp đồng được quy định tại Bộ Luật dân
sự năm 2005 thì Luật Thương mại năm 2005 cũng chứa đựng rất nhiều quy định cụ thể về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa như:
- Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa;
- Điều kiện đối với hàng hóa được ủy thác mua bán;
- Hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa;
- Vấn đề ủy thác lại cho bên thứ ba;
- Phạm vi nhận ủy thác mua bán hàng hóa;
- Quyền và nghĩa vụ chính của các bên trong quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa;
Trang 24- Chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, trong đó có hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Bên cạnh đó, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh bởi các Nghị định của Chính phủ về xuất nhập khẩu, danh mục hành hóa cấm kinh
doanh, hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện
Như vậy, một hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cụ thể có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau Bởi vậy, để áp dụng pháp luật đúng đắn cần nắm vững nguyên tắc áp dụng phối hợp các văn bản pháp luật
Theo quy định tại Điều 4 Luật Thương mại năm 2005, ủy thác mua bán hàng hóa là một hoạt động thương mại nên phải tuân thủ quy định của Luật Thương mại
và pháp luật có liên quan Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó Nếu không có quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để điều chỉnh
Ngoài ra, đối với các hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa quốc tế, nguồn luật điều chỉnh đối với loại hợp đồng này còn bao gồm cả các điều ước quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế, chẳng hạn như: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các nguyên tắc thương mại quốc tế (PICC), Công ước về đại diện trong mua bán hàng hóa quốc tế của UNIDROIT, các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS), các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP)
Phù hợp với tinh thần này, Điều 5 Luật Thương mại năm 2005 quy định, trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có
quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
1.3.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng
Trang 25ủy thác mua bán hàng hóa
Dựa trên nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa bao gồm:
- Các quy định về chủ thể hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Đây là nội dung quy định về các điều kiện chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa Chủ thể của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa gồm bên ủy thác và bên nhận ủy thác Pháp luật của các nước đều quy định bên nhận ủy thác là thương nhân, trong khi đó bên ủy thác không nhất thiết phải là thương nhân Điều này được lý giải dựa trên hoạt động mang tính nghề nghiệp của thương nhân Sẽ là không hợp lý khi người thực hiện công việc được ủy thác thay cho người khác không am hiểu nghiệp vụ thương mại Nói cách khác, người nhận
ủy thác thực hiện hành vi thay cho người khác buộc phải có nghiệp vụ thương nhân Trong khi đó, người ủy thác là chủ thể có nhu cầu mua hoặc bán hàng hóa nào đó - những công việc xuất phát từ nhu cầu mua bán hàng hóa phục vụ hành vi thương mại (sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm ), cũng có thể phục vụ mục đích tiêu dùng trong đời sống sinh hoạt Do đó, không đòi hỏi tư cách thương nhân của họ
- Giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa phát sinh trên cơ sở hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác Do vậy, một trong những nội dung quan trọng của pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là những quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng, đại diện ký kết hợp đồng và trình tự thủ tục giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
- Hiệu lực pháp lý của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Để bảo đảm hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có hiệu lực pháp luật, ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác, pháp luật quy định các điều kiện về nội dung, các điều kiện về hình thức của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng như vấn đề vô hiệu và xử lý hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa vô hiệu
- Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa Nội dung của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là những điều khoản
Trang 26mà bên ủy thác và bên nhận ủy thác đã thỏa thuận với nhau cũng như những nội dung mà pháp luật đã quy định thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có tính chất của hợp đồng song vụ do
đó các bên chủ thể đều có nghĩa vụ đối với nhau Nói cách khác, mỗi bên chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ của mình Trong nội dung của hợp đồng, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là hợp đồng mang tính chất đền bù theo
đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Chẳng hạn bên nhận ủy thác sẽ được nhận phí ủy thác sau khi thực hiện công việc cho bên ủy thác
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Tất cả những thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên, khi đó hợp đồng có tính chất là “luật” đối với các bên Các bên phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng Việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp luật quy định Về bản chất, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là một loại trách nhiệm pháp lý, phát sinh trong lĩnh vực thương mại Trách nhiệm pháp lý này có những đặc điểm cơ bản nhất định, đó là: được áp dụng trên cơ
sở hành vi vi phạm hợp đồng có hiệu lực pháp luật Nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trách nhiệm về tài sản, bên bị vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật
Chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa có nội dung chủ yếu là các quy định về căn cứ áp dụng trách nhiệm, các hình thức trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm Những quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng như đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
vè kinh doanh
- Chấm dứt hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Đây là nội dung ghi nhận các trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy thác mua
Trang 27bán hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc theo các điều kiện mà các bên đã
thỏa thuận trong hợp đồng cũng như việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên
khi hợp đồng được chấm dứt
1.3.3 Pháp luật về hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa của một số nước
trên thế giới
1.3.3.1 Các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa
Ủy thác thương mại là một hoạt động trung gian thương mại được pháp luật
của nhiều nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa quy định
Bộ Luật thương mại Pháp năm 2005 quy định từ Điều L132-1 đến Điều 132-9; Luật
hợp đồng của Trung Quốc năm 1999 quy định từ Điều 414 đến Điều 418; Bộ Luật
thương mại Đức quy định tại Điều 383 [8, tr.37]
Một đặc điểm chung của pháp luật Châu Âu lục địa là chia hoạt động trung
gian thương mại thành nhiều hình thức khác nhau Ví dụ Bộ Luật thương mại của
Pháp sử dụng các khái niệm khác nhau để chỉ những người hoạt động trung gian
thương mại như người đại diện, người môi giới, người nhận ủy thác và đại lý
thương mại Khi giao dịch với người thứ 3, người đại diện nhân danh người được
đại diện, người nhận ủy thác, bên đại lý thương mại nhân danh chính mình [30]
Hoạt động ủy thác thương mại có đặc điểm là bên nhận ủy thác (bên trung gian)
nhân danh chính mình để giao dịch với bên thứ ba vì lợi ích của bên ủy thác Trong
trường hợp này, quan hệ giữa bên thuê dịch vụ của người trung gian và bên trung gian
có thể được coi là quan hệ ủy quyền không đại diện (hoặc đại diện gián tiếp)
So với hoạt động đại diện thương mại và hoạt động môi giới thương mại, bên
nhận ủy thác khác với bên đại diện và bên môi giới thương mại chính là ở tư cách
và trách nhiệm của họ khi quan hệ với bên thứ ba Trong hoạt động ủy thác thương
mại, bên nhận ủy thác được bên ủy thác tin cậy giao cho thực hiện việc mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo những chỉ dẫn rất cụ thể của bên giao ủy thác với
danh nghĩa của chính mình chứ không phải với danh nghĩa của bên ủy quyền như
trong hoạt động đại diện cho thương nhân Do đó, những hành vi của bên nhận ủy
thác sẽ mang lại hậu quả pháp lý cho chính họ chứ không phải cho bên ủy thác
Ủy thác thương mại có phạm vi hoạt động rộng hẹp khác nhau tùy thuộc vào
pháp luật của mỗi nước Theo pháp luật của một số nước Châu Âu lục địa như Đức,
Trang 28Ý, ủy thác chỉ thực hiện trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, do đó bên nhận ủy thác chỉ thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa cho bên ủy thác theo những điều kiện bên ủy thác quy định [34] Trong khi đó Bộ Luật dân sự và Luật Thương mại Thái Lan, Bộ Luật Thương mại Pháp không giới hạn hoạt động của bên ủy thác, theo đó bên nhận ủy thác có thể thực hiện bất cứ giao dịch thương mại nào cho bên
ủy thác với danh nghĩa của chính mình [8, tr.37]
Quan hệ ủy thác được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ủy thác được ký kết giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác Do pháp luật Châu Âu lục địa có sự phân biệt
rõ ràng Luật dân sự và Luật thương mại Do đó, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa một mặt chịu sự điều chỉnh của các quy định chung về hợp đồng trong Luật dân
sự, mặt khác chịu sự điều chỉnh của các quy định về ủy thác - với tư cách là một hoạt động thương mại của thương nhân trong Luật thương mại
1.3.3.2 Các nước theo truyền thống pháp luật Anh -Mỹ
Các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ dùng thuật ngữ “agent” (thường được dịch là đại lý hoặc đại diện) để chỉ những người trung gian tiến hành hành vi theo sự ủy quyền của người ủy thác mà không chia thành nhiều khái niệm rạch ròi như pháp luật Châu Âu lục địa “Agent” là những người nhân danh chính mình hoặc nhân danh người ủy quyền (“ the principal”), tiến hành một hoặc nhiều hành vi theo sự ủy quyền của người ủy quyền [8, tr.19]
Pháp luật Anh - Mỹ không có sự phân chia Luật dân sự hay Luật thương mạ,
do đó quy định về hợp đồng ở các nước thường được điều chỉnh bởi luật riêng về hợp đồng Luật hợp đồng của các nước này (điển hình là luật của Anh, Mỹ) phần lớn được hình thành dựa trên các bản án của Tòa án Các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng được toàn quyền thỏa thuận các vấn đề có liên quan, pháp luật hợp đồng chỉ nhằm giải quyết những vấn đề mà các bên không thỏa thuận hoặc chưa thỏa thuận trong hợp đồng
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cũng như các loại hợp đồng khác khác đều chịu sự điều chỉnh chung của luật hợp đồng Luật hợp đồng của pháp luật Anh -
Mỹ cũng chứa đựng các quy định liên quan đến: đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng, chấm dứt hợp đồng… Ở các nước theo truyền thống luật Châu Âu lục địa, nếu các bên không thỏa thuận
Trang 29hoặc thỏa thuận không rõ điều khoản của hợp đồng thì có thể dựa vào các quy định của pháp luật để thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp Trong khi đó, ở các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ, do thiếu các quy định mang tính định khung liên quan đến nghĩa vụ hợp đồng nên việc soạn thảo hợp đồng thường được các bên tiến hành tỉ mỉ để dự phòng mọi tình huống xảy ra Một điển hình của luật hợp đồng của Anh - Mỹ là việc yêu cầu phải có nghĩa vụ đối ứng (consideration) như là một điều kiện để hợp đồng có hiệu lực Consideration được hiểu là sự đáp trả cho một người khi người này hứa thực hiện một hành vi nhất định Theo nguyên tắc chung thì thỏa thuận của các bên nếu thiếu (consideration) không được coi là hợp đồng và không
có hiệu lực bắt buộc [7, tr.24-25]
Trang 30Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
ỦY THÁC MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
2.1 Chủ thể của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa giao kết giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác
Bên ủy thác là bên giao cho bên nhận ủy thác thực hiên việc mua bán hàng hóa theo yêu cầu của mình Theo Điều 157 Luật Thương mại năm 2005, bên ủy thác
là thương nhân hoặc không phải là thương nhân (Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh - Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại)
Như vậy, bên ủy thác không nhất thiết phải có tư cách thương nhân, đó có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu ủy thác mua bán hàng hóa Trong thực tiễn, một cá nhân có thể ủy thác cho một thương nhân bán sản phẩm, tác phẩm của mình Chẳng hạn như thợ thủ công, nghệ nhân ủy thác cho thương nhân có cửa hàng, cửa hiệu bán sản phẩm; người có đồ cũ, đồ cổ nhờ bán ký gửi [22, tr.551] Tuy nhiên, theo Điều 3 khoản 11 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa về hoạt động trung gian thương mại trong đó có các hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa thì bên nhận ủy thác và bên ủy thác đều phải là thương nhân Như vậy, có thể thấy quy định về điều kiện chủ thể của bên ủy thác tại Điều 3 Khoản 11 và Điều 157 Luật Thương mại là không thống nhất với nhau
Bên nhận ủy thác là bên thực hiện công việc được ủy thác có hưởng thù lao Theo Điều 156 Luật Thương mại năm 2005, bên nhận ủy thác là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác và thực hiện việc mua bán hàng hóa theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác Thương nhân nhận ủy thác
có thể nhận ủy thác mua bán hàng hóa cho nhiều bên ủy thác khác nhau
Như vậy, để trở thành thương nhân nhận ủy thác mua bán hàng hóa hợp pháp, một chủ thể phải đáp ứng hai điều kiện: điều kiện thứ nhất, phải là thương nhân và điều kiện thứ hai, phải kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được
ủy thác
Trang 31Khi thực hiện hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, bên nhận ủy thác nhân danh chính mình để mua bán hàng hóa cho bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác Đây là dấu hiệu pháp lý cơ bản để phân biệt ủy thác mua bán hàng hóa với mua bán hàng hóa hoặc với đại diện cho thương nhân Trong hoạt động mua bán hàng hóa, bên mua hàng và bên bàn hàng trực tiếp thiết lập quan hệ với nhau để thực hiện việc mua bán hàng hóa vì lợi ích của chính mình Trong hoạt động đại diện cho thương nhân, thương nhân đại diện thực hiện hoạt động thương mại (có thể là mua bán hàng hóa) cho bên giao đại diện trên danh nghĩa của bên giao đại diện
Trong thực tế, ở Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau, ủy thác mua bán hàng hóa đã trở nên phổ biến trong hoạt động xuất nhập khẩu Thường là một số chủ thể trong nước do không có điều kiện xuất nhập khẩu trực tiếp (không có chức năng xuất nhập khẩu) hoặc một số thương nhân “ không có nghiệp vụ xuất nhập khẩu” ủy thác cho đơn vị chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu thực hiện các hoạt động đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng (xuất khẩu hàng hóa) hoặc đưa hàng hóa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam (nhập khẩu hàng hóa)
Chủ thể tham gia quan hệ xuất nhập khẩu ủy thác có một số điều kiện riêng Theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, chủ thể tham gia quan hệ ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu là các thương nhân Các thương nhân này, được ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu (Điều 16) Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, bên ủy thác hoặc bên nhân ủy thác phải có giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu trước khi ký kết hợp đồng ủy thác hoặc nhận ủy thác (Điều 17)
Kế thừa Nghị định 12/2006/NĐ - CP, Điều 18 Nghị định 187/2013/NĐ-CP tiếp tục cho phép các tổ chức, cá nhân Việt Nam không phải là thương nhân trên cơ
Trang 32sở hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật, được ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phục vụ nhu cầu của tổ chức, cá nhân đó, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm dừng nhập khẩu Đây là điểm tiến bộ của các Nghị định này so với các quy định về
ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa trước kia Theo Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài và Nghị định 44/2001/NĐ - CP ngày 02 tháng 8 năm
2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/1998/NĐ - CP thì chỉ
có thương nhân mới được tham gia quan hệ ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
2.2 Giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
Hợp đồng trong thương mại nói chung và hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa nói riêng được giao kết theo các nguyên tắc chung được quy định tại Bộ Luật dân sự Nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định nhằm bảo đảm quyền tự do hợp đồng Quyền tự do này của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ và quyền đó phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật để không xâm hại đến lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan Theo Điều 389 Bộ Luật dân sự năm 2005, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản sau:Tự do giao kết nhưng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Việc tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng
có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí thực của họ, hợp đồng có thể mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ
Khi giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, các bên giao kết phải tuân thủ theo các thủ tục giao kết dưới đây:
Thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng
Theo khoản 1 Điều 390 Bộ Luật dân sự năm 2005, đề nghị giao kết hợp đồng
là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể
Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng có bản chất là hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể, có nội dung bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể
Trang 33khác theo những điều kiện đã xác định
Trong giao kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, bên đề nghị giao kết hợp đồng là bên ủy thác, có nhu cầu mua hoặc bán hàng hóa nhất định bày tỏ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này với bên trung gian (bên nhận
ủy thác) là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được đề nghị
ủy thác theo những điều kiện được xác định trong đề nghị giao kết hợp đồng
Về nguyên tắc, hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với hình thức của hợp đồng Bộ Luật dân sự năm 2005 không quy định về hình thức của
đề nghị giao kết hợp đồng, song có thể dựa vào quy định về hình thức của hợp đồng
để xác định hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc kết hợp giữa các hình thức này Điều 159 Luật Thương mại năm 2005 quy định hợp đồng
uỷ thác mua bán hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Như vậy, hình thức của đề nghị giao kết hợp ủy thác mua bán hàng hóa cũng phải bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp
lý tương đương
Đề nghị giao kết hợp đồng được gửi đến cho một hoặc nhiều thương nhân trung gian có đăng ký kinh doanh phù hợp với hàng hóa được đề nghị ủy thác Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá được bên ủy thác xác định Nếu bên ủy thác không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá có hiệu lực khi bên nhận ủy thác nhận được đề nghị đó Theo khoản 2 Điều 391 Bộ Luật dân sự năm 2005, các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng: (i) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên nhận ủy thác là cá nhân; được chuyển đến trụ sở nếu bên nhận ủy thác là pháp nhân; (ii) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên nhận ủy thác; (iii) Khi bên nhận ủy thác biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác
Luật Thương mại không quy định nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, tuy nhiên dựa trên các quy định của Bộ Luật dân sự về nội dung hợp đồng dân sự và các quy định cụ thể về hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa tại Luật Thương mại, nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng uỷ thác mua bán
Trang 34hàng hoá có thể bao gồm những vấn đề chủ yếu như hàng hóa được đề nghị ủy thác mua, bán; các điều khoản cụ thể về số lượng, chất lượng, quy cách, giá cả; thù lao
ủy thác; thời điểm có hiệu lực của đề nghị hợp đồng; các trường hợp thay đổi, rút lại, hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng
Bên ủy thác chịu trách nhiệm về đề nghị giao kết được đưa ra Trong thời hạn đề nghị hợp đồng có hiệu lực nếu bên nhận ủy thác thông báo chấp nhận vô điều kiện đề nghị hợp đồng thì hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá hình thành và ràng buộc các bên, nếu các bên không thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải chịu các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật
Theo Điều 392 Bộ Luật dân sự năm 2005, bên ủy thác có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp: Nếu bên nhận ủy thác nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên ủy thác có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện
đó phát sinh Như vậy, bên ủy thác có thể ủy ngang lời đề nghị của mình Quy định này có hai vấn đề đặt ra Thứ nhất, thời hạn đề bên ủy thác rút lại đề nghị trong trường hợp không quy định điều kiện được rút lại đề nghị là quá ngắn, có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các bên Thứ hai, trong trường hợp hợp đồng có quy định thời hạn có hiệu lực nhưng pháp luật vẫn quy định cho bên ủy thác được tự do rút lại đề nghị sẽ làm mất đi ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của bên
ủy thác đối với việc xác định hiệu lực của đề nghị Theo Pháp luật của Hoa Kỳ, người đề nghị được quyền thay đổi hoặc rút lại đề nghị vào bất kỳ thời điểm nào trước khi người được đề nghị chấp nhận đề nghị nhưng không được rút lại đề nghị nếu đã hứa trước một thời hạn để đề nghị này có hiệu lực và đã nhận được của người nhận một nghĩa vụ đối ứng như là một sự trả giá cho việc giữ lời hứa trên [27, tr.182-183] Bộ Luật dân sự của Ý thì quy định: bên đề nghị giao kết hợp đồng gửi lời đề nghị đến một đối tượng cụ thể thì có thể rút lại đề nghị của mình trước khi hợp đồng được ký kết trừ trường hợp có ấn định thời hạn có hiệu lực trong
đề nghị giao kết hợp đồng [20, tr.99]
Khi bên ủy thác thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề