1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại theo pháp luật Việt Nam

82 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 731,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hoá Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện phá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRÍ THÀNH

THỦ TỤC ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Luật Hà Nội, các thầy,

cô Khoa Sau đại học, các phòng, ban, thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Quý Trọng đã tận tình hướng dẫn suốt thời gian tôi làm luận văn Những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô

Hà Nội, Ngày … Tháng … Năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Trí Thành

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADA Hiệp định về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại

thế giới WTO

BCT Bộ Công thương

GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

PLVN Pháp luật Việt Nam

SCM Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của tổ

chức thương mại thế giới WTO

SG Hiệp định về tự vệ của tổ chức thương mại thế giới WTO VACD Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP 1

PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 1

1.1 Khái niệm chung 1

1.2 Các biện pháp phòng vệ thương mại 2

1.2.1 Biện pháp chống bán phá giá 2

1.2.2 Biện pháp chống trợ cấp 5

1.2.3 Biện pháp tự vệ thương mại 7

1.3 Sự khác biệt giữa các biện pháp phòng vệ thương mại 8

2.1 Các văn bản pháp luật quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam 12

2.2 Thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam 14

2.2.1 Các biện pháp chống bán phá, điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá 14 2.2.2 Thủ tục điều tra vụ việc chống bán phá giá 16

2.2.3 Thủ tục xử lý và rà soát vụ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá 25 2.3 Thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp chống trợ cấp theo pháp luật Việt Nam 28

2.3.1 Các biện pháp chống trợ cấp (biện pháp đối kháng) 28

2.3.2 Nguyên tắc, điều kiện áp dụng các biện pháp đối kháng 30

2.3.3 Thủ tục điều tra, áp dụng các biện pháp đối kháng 32

2.4 Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ theo quy định của pháp luật Việt Nam 37

2.4.1 Các biện pháp tự vệ thương mại 37

2.4.2 Điều kiện áp dụng các các biện pháp tự vệ thương mại 38

Trang 5

2.4.3 Thủ tục xử lý vụ việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Việt Nam 39

2.5 Thực tiễn và kinh nghiệm được rút ra từ hai vụ việc điều tra về chống bán phá giá và tự vệ mà Việt Nam khởi xướng 43

2.5.1 Vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá thành công đầu tiên của Việt Nam 432.5.2 Hai vụ việc điều tra tự vệ thương mại đầu tiên của Việt Nam 47

3.1 Kiến nghị chung 54

3.1.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại 543.1.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại trong thời gian tới 563.1.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật phòng vệ thương mại nói chung 57

3.2 Kiến nghị hoàn thiện thủ tục điều tra và áp dụng cho từng biện pháp phòng vệ thương mại 59

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá 593.2.2 Kiến nghị hoàn thiện thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống trợ cấp 623.2.3 Kiến nghị hoàn thiện thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ thương mại 63

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn tám năm gia nhập WTO, Thị trường Việt Nam đã có một khoảng thời gian nhất định để kiểm chứng những tác động của tự do hoá thương mại đem lại Bên cạnh việc hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam được hưởng ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thi trường các nước thành viên khác của WTO thì đó là khó khăn cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hoá Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại mà điển hình là chống bán phá giá, tự vệ thương mại và một số vụ việc chống trợ câp Tuy nhiên các vụ việc về phòng vệ thương mại mà Việt Nam khởi xướng điều tra thì lại không có là bao, tính tới hết năm 2014 mới chỉ có hai vụ việc điều tra tự vệ thương mại (Kính nổi năm 2009, dầu thực vật 2013) và một vụ việc điều tra chống bán phá giá mặt hàng thép không

rỉ cán nguội năm 2014, còn biện pháp trợ cấp còn chưa từng được khởi xướng một

vụ việc nào Trong khi Việt Nam có mức nhập siêu hàng năm khá lớn, hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa, có một số ngành đã chiếm thị phần áp đảo

so với doanh nghiệp trong nước Chính vì vậy, bên cạnh việc đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới, doanh nghiệp và các hiệp hội cũng nên chủ động trong việc áp dụng các công cụ pháp lý hợp pháp theo quy định của WTO, tận dụng cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngay trên thị trường nội địa Một trong những công cụ đó là thủ tục áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại Tuy nhiên, thực tế với số lượng và diễn biến vụ kiện chống bán phá giá, tự vệ thường mại đã diễn ra có thể thấy các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các nhà sản xuất nội địa thường biết rất ít

Trang 7

về thủ tục kiện tụng và những việc họ phải làm Với kiến thức hạn chế và quyền lợi của mình thì họ khó có thể biết cách để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình trước các đối thủ cạnh tranh khác trong chính sân nhà của họ

Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này trên cơ sở đó có thể đống góp một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng vệ

thương mại ở Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Trình tự thủ tục điều tra và

áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại theo quy định pháp luật Việt Nam” để

làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Việc nghiên cứu và xây dựng hệ thống pháp luật về phòng vệ thương mại cũng như việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại này đã được một số nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, EU, Canada,… thực hiện từ rất sớm

Còn ở nước ta, việc nghiên cứu về các thủ tục áp dụng của các biện pháp phòng

vệ thương mại dưới góc độ luật học vẫn còn khá mới mẻ Chỉ có một số bài viết, đề tài nghiên cứu độc lập về tổng thể pháp luật của một biên pháp trong các biện pháp phòng vệ thương mại của một số tác giả là các nhà nghiên, nhà làm luật trong nước

Có một số công trình nghiên cứu như sau:

1 Đoàn Trung Kiên (2010), “Pháp luật chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu

ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ luật học, Trường

đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

2 Vũ Thị Phương Lan (2011), “Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học,

Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

Trang 8

3 Nguyễn Quý Trọng (2013), “Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sỹ luật

học, Hà Nội, 2013

Ngoài một số công trình kể trên thì còn có một số luận văn thạc sĩ và bài báo nghiên cứu về một trong các biện pháp phòng vệ thương mại khác Tuy nhiên, hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về thủ tục điều tra của

cả ba biện pháp trong phòng vệ thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam

Vì vậy, Việc nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu tổng quát của đề tài là nghiên cứu thủ tục điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại theo pháp luật Việt Nam Cụ thể: (i) Nêu lên những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại; (ii) Chỉ ra những điểm thiếu sót để có thể đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này (iii) Nghiên cứu đánh giá quá trình cũng như kết quả của những vụ việc điều tra áp dụng biện pháp phòng

vệ thương mại mà Việt Nam khởi xướng, để từ đó làm rõ sự cần thiết phải xây dựng hoàn thiệt hành lang pháp lý về thủ tục điều tra, áp dụng một cách đầy đủ, thông thoáng nhằm mang lại lợi ích thực tế cho các nhà sản xuất trong nước

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa lớn về cả mặt lý luận cũng như thực tiễn trong việc góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ tập trung đi vào nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại Bên cạnh đó, luận văn sẽ tập trung vào những quy định pháp luật việt nam về thủ tục là chủ yếu, trong mối tương quan với quy định của pháp luật quốc tế về vấn

Trang 9

đề này Đồng thời, luận văn còn đề cập đến thực tiễn kinh nghiệm mà Việt Nam đã nhận đượckhi tiến hành thủ tục điều tra áp dụng trong ba vụ việc phòng vệ thương mại mà Việt Nam khởi xướng điều tra

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tác giả bản luận văn đã sử dụng tốt các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành Phương pháp mô tả, phân tích được sử dụng nhằm nghiên cứu sâu hơn và kỹ hơn từng vấn

đề, trên cơ sở kết quả phân tích, tác giả đã rút ra một số điểm bất cập trong thủ tục điều tra, áp dụng của pháp luật các biện pháp phòng vệ thương mại hiện hành Phương pháp so sánh luật cũng được sử dụng để so sánh quy định pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế để có thể rút ra những kết luận về điểm được điểm chưa được của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật tự vệ thương mại Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay

6 Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài:

Dựa trên những luận cứ khoa học, trong bản luận văn này tác giả đã đưa ra những

đề xuất cụ thể cho việc hoàn thiện khung pháp lý cho thủ tục điều tra, áp dụng của các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam;

Nội dung của luận văn còn chỉ ra những kinh nghiệm có được về thủ tục điều tra,

áp dụng tại những vụ việc mà Việt Nam đã khởi xướng về các biện pháp phòng vệ thương mại

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy ở bậc đại học và là tư liệu tốt để doanh nghiệp tham khảo, trang bị kiến thức để

tự bảo vệ mình khi cần thiết

7 Kết cấu của luận văn

Trang 10

Ngoài phần mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương như sau:

- Chương I: Một số lý luận về biện pháp phòng vệ thương mại;

- Chương II: Pháp luật Việt Nam về thủ tục điều tra và áp dụng của các biệp pháp phòng vệ thương mại;

- Chương III: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các biện pháp phòng vệ

thương mại;

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP

PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm chung

Toàn cầu hoá là quá trình xoá bỏ các rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của các hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ và nhân công giữa các nước làm cho thị trường giữa các quốc gia mất dần biên giới, hình thành những thị trường khu vực chung và tiến tới hình thành một thị trường thống nhất trên toàn cầu

Đặc biệt, tự do hoá thương mại theo hệ thống GATT/WTO đã làm giảm và loại

bỏ đáng kể một số hàng rào thuế quan và thủ tục hải quan khác gây cản trở đối với thương mại Kết quả là , các ngành công nghiệp trong nước đang được bảo vệ bằng thuế quan đã trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với nước ngoài Để ngăn ngừa thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước, hoặc để khắc phục các thiệt hại bị cạnh tranh với các ngành công nghiệp nước ngoài – do hành vi “không công bằng” hoặc

vì họ có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn so với ngành công nghiệp trong nước – hệ thống GATT/WTO đã đặt ra một khuôn khổ toàn diện các quy định, được gọi là hệ thống biện pháp “phòng vệ thương mại” (trade remedies) Trong thương mại quốc

tế, các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được coi là ba cột trụ của hệ thống các biện pháp phòng vệ thương mại và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hoá nước khác Về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu Khác với hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, biện pháp tự vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp nhằm hạn chế

Trang 12

những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước

do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu Như vậy, biện pháp tự vệ

có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp Chính vì vậy, biện pháp tự vệ được áp dụng một cách khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại Nếu như yêu cầu về điều kiện để áp dụng biện pháp chống phá giá và chống trợ cấp chỉ dừng lại ở mức cơ quan điều tra phải chứng minh có tình trạng bán phá giá hay trợ cấp và việc bán phá giá hoặc trợ cấp đó gây thiệt hại “đáng kể” cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước thì trong các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự

vệ, cơ quan điều tra phải chứng minh được tình trạng thiệt hại “nghiêm trọng” mà ngành sản xuất hàng hóa “tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp” trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng “bất thường” của luồng hàng hóa nhập khẩu [18,19,26]

Biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là ba trụ cột của phòng

vệ thương mại có bản chất hay điều kiện áp dụng khác nhau Từ kết quả nghiên cứu

có thể đưa ra khái niệm về các biện pháp phòng vệ thương mại như sau:

“ Các biện pháp phòng vệ thương mại là các biện pháp được pháp luật quốc tế quy định và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hoá nước khác”

Các biện pháp này chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không được áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ

1.2 Các biện pháp phòng vệ thương mại

Như tiểu mục trên đã nêu, phòng vệ thương mại có ba trụ cột bao gồm biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và biện pháp tự vệ thương mại Cụ thể sẽ được phân tích trong các tiểu mục dưới đây

1.2.1 Biện pháp chống bán phá giá

Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được thể hiện rõ nét trong quy định

Trang 13

của WTO, cụ thể tại khoản 1 Điều VI của GATT 1994 có nêu:

“Các bên ký kết công nhận rằng bán phá giá, theo đó hàng hoá của một nước đưa vào thương mại ở một nước khác với giá trị thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá đó, phải bị lên án nếu như nó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại lớn đối với một ngành công nghiệp đã được thiết lập trên lãnh thổ của một nước ký kết hoặc cản trở nghiêm trọng việc thiết lập một ngành sản xuất nội địa.”

Hay tại khoản 2.1 Điều 2 Hiệp định về chống bán phá giá của WTO

1994(ADA1994) quy định: “Trong phạm vi Hiệp định này, một hàng hoá bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại ở một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá đó) nếu như giá xuất khẩu của hàng hoá được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể

so sánh được của hàng hoá tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”

Như vậy, Bán phá giá trong thương mại quốc tế là một hiện tượng xảy ra

khi một hàng hoá của nước này được xuất khẩu vào một nước khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá tương tự tại nước xuất khẩu

Khái niệm này hàm chứa hai điều kiện để xác định bán phá giá:

Thứ nhất, phải có hai thị trường riêng biệt Hai thị trường này phải bị ngăn cách bởi những đường biên giới quốc gia hoặc vùng

Thứ hai, giá bán của cùng một loại hàng hoá hoặc sản phẩm tương tự ở thị trường nhập khẩu thấp hơn giá bán loại hàng hoá hay sản phẩm tương tự ở thị trường xuất khẩu hoặc một thị trường thứ ba

Tác động của hành vi bán phá giá này đối với lợi ích của các nước nhập khẩu

có thể nhìn nhận theo hai góc độ Góc độ thứ nhất là lợi ích của các doanh nghiệp nội địa sản xuất những hàng hoá đang bị hàng hoá bán phá giá cạnh tranh Từ góc

Trang 14

độ này, việc bán phá giá luôn có hại bởi vì hàng hoá nhập khẩu giá rẻ sẽ cạnh tranh trực tiếp và chiếm thị trường của hàng hoá sản xuất trong nước Góc độ thứ hai là lợi ích của người tiêu dùng hay còn gọi là lợi ích của công chúng Tuy nhiên, trong lăng kính của cơ quan có thẩm quyền chống bán phá giá của nước nhập khẩu, góc

độ thứ nhấp luôn được ưu tiên hơn Chính vì vậy mà các nước có hàng hoá nhập khẩu bán phá giá luôn tìm các áo dụng các biện pháp đối phó với vấn đề này để bảo

vệ cho ngành sản xuất trong nước trước hàng hoá bán phá giá Như vậy, có thể thấy song song tồn tại với khái niệm bán phá giá sẽ là khái niệm chống bán phá giá Chống bán phá giá được khái niệm như sau:

Chống bán phá giá là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu

áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu bán phá giá để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu bán phá giá đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hoá tương tự của nước mình

Để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, nước nhập khẩu là thành viên WTO phải chứng minh được ba điều kiện sau:

Có hành động bán phá giá: được tính bằng độ chênh lệch giữa giá của mặt

hàng nhập khẩu với giá của mặt hàng tương tự bán tại thị trường của nước xuất khẩu (gọi là biên độ phá giá)

Có thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu đang cạnh

tranh trực tiếp với hàng nhập khẩu

Hành động bán phá giá là nguyên nhân gây ra thiệt hại vật chất, hoặc đe

dọa gây ra thiệt hại vật chất nêu trên

Khi thỏa mãn được ba điều kiện trên, Hiệp định cho phép thành viên WTO được phép áp dụng biện pháp chống bán phá giá với mặt hàng nhập khẩu bị điều tra Có các biện pháp chống bán phá giá có thể được áp dụng như thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, can thiệp hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhập

Trang 15

khẩu Trong đó, biện pháp thường được sử dụng là áp thêm một khoản thuế nhập khẩu đối với sản phẩm bị coi là bán phá giá nhằm đưa mức giá của sản phẩm đó xấp

xỉ với "giá trị thông thường" của nó hoặc để khắc phục thiệt hại đối với ngành sản

xuất của nước nhập khẩu Biện pháp chống bán phá giá chỉ mang tính tạm thời nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của hàng hoá nhập khẩu phá giá trên thị trường quốc gia nhập khẩu vì vậy các quốc gia chỉ được phép áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu thời hạn nhất định - tối đa là 5 năm

Điều tra chống bán phá giá sẽ kết thúc ngay lập tức mà không đưa ra biện pháp chống bán phá giá nào nếu cơ quan chức năng xác định rằng biên độ phá giá không đáng kể (nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu) Điều tra cũng chấm dứt nếu khối lượng hàng bán phá giá là không đáng kể (khối lượng hàng phá giá từ một nước bị điều tra nhỏ hơn 3% tổng nhập khẩu, đồng thời tổng khối lượng hàng phá giá từ tất cả các nước

bị điều tra nhỏ hơn 7% tổng nhập khẩu)

1.2.2 Biện pháp chống trợ cấp

Theo điều XVI của GATT thì “trợ cấp” được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào từ phía nhà nước hoặc một tổ chức công ở trung ương hoặc địa phương cho các doanh nghiệp hay ngành sản xuất nội địa của mình Trợ cấp có thể được thực hiện trực tiếp bởi một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức công hoặc cũng có thể do một nhà tài trợ hay đơn vị tư nhân thực hiện theo yêu cầu dịch vụ có thanh toán của nhà nước dưới một trong ba hình thức:

- Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay hoặc hứa chuyển, ví dụ cho vay, góp vốn, cổ phần, bảo lãnh cho các khoản vay;

- Miễn cho những khoản thu lẽ ra phải đóng, ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng;

- Mua hàng cho doanh nghiệp hay cung cấp dịch vụ hay hàng hoá cho doanh nghiệp, trừ việc cung cấp dịch vụ dưới hình thức cơ sở hạ tầng chung

Trang 16

WTO có hai hệ thống quy định riêng về trợ cấp cho hai nhóm sản phẩm Đối với hàng công nghiệp, trợ cấp được quy định trong Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng – Hiệp định SCM; đối với hàng nông sản vấn đề này được quy định trong Hiệp định nông nghiệp Trong khuôn khổ WTO, không phải lúc nào trợ cấp cũng bị cấp và bị áp dụng biện pháp chống trợ cấp, và trong quy định của pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận điều này Luật lệ của WTO phân biệt giữa ba loại trợ cấp:

- Trợ cấp đèn xanh, tức là loại trợ cấp hoàn toàn được phép và không bao giờ

bị áp dụng biện pháp chống trợ cấp Trợ cấp đèn xanh bao gồm các loại trợ cấp không hướng tới một hay một nhóm doanh nghiệp, ngành sản xuất hay khu vực địa

lý cụ thể nào Các loại trợ cấp này được gọi là “trợ cấp không cá biệt”, được cung cấp dựa trên các tiêu chí khách quan mà cơ quan nhà nước không tuỳ tiện xem xét

và không tạo ra hệ quả ưu đãi riêng biệt đối với từng doanh nghiệp cụ thể nào Các loại trợ cấp cá biệt cũng có thể được coi là trợ cấp đèn xanh nếu như nó nhắm vào các hoạt động nghiên cứu của các công ty, tổ chức, nhắm tới các khu vực khó khăn nhất định hay trợ cấp nhằm mục đích hỗ trợ điều chỉnh các điều kiện sản xuất phù hợp với môi trường kinh doanh mới

- Trợ cấp đèn đỏ, tức là loại trợ cấp bị cấm và có thể bị áp dụng các biện pháp chống trợ cấp Trợ cấp đèn đỏ bao gồm tất cả các loại trợ cấp xuất khẩu, theo đó các khoản trợ cấp tài chính được cung cấp từ phía nhà nước cho các doanh nghiệp dựa trên tiêu chí xuất khẩu và để khuyến khách doanh nghiệp xuất khẩu nhiều hơn Trợ cấp xuất khẩu thường dưới dạng xuất khẩu, trợ cấp đèn đỏ cũng bao gồm tất cả các loại trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng hoá xuất khẩu, ví dụ như

ưu đãi tín dụng nếu tiêu dùng sản phẩm nội địa là nguyên liệu đầu vào.v.v

- Trợ cấp đèn vàng, tức là loại trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện Bất kì loại trợ cấp có tính cá biệt nào, trừ những loại đã được xếp vào nhóm trợ cấp đèn xanh, được nước xuất khẩu áp dụng và gây thiệt hại cho nước nhập

Trang 17

khẩu, nghĩa là các nước thành viên có thể áp dụng các hình thức trợ cấp này nhưng nếu gây thiệt hại cho nước thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác có thể bị kiện ra WTO

Biện pháp chống trợ cấp thường được áp dụng dưới hình thức thuế chống trợ cấp Thuế này còn được gọi là thuế đối kháng, là khoản thuế bổ sung ngoài khoản thuế nhập khẩu thông thường, đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu, vì vậy thuế này nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp Thuế chống trợ cấp được tính tương ứng với mức chênh lệch giữa khoản trợ cấp và mức tương ứng nếu như khoản trợ cấp được cung cấp trong điều kiện thương mại bình thường

1.2.3 Biện pháp tự vệ thương mại

Trong ba biện pháp phòng vệ thương mại thì biện pháp tự vệ thương mại được coi là mang tính bảo hộ nhiều nhất bởi nó đi ngược lại mục đích chính của WTO là thiết lập một môi trường thương mại quốc tế mở hơn, bằng việc ràng buộc một Chính phủ với các cam kết thương mại tự do Theo điều XIX GATT và Hiệp định tự vệ của WTO, biện pháp tự vệ cho phép một quốc gia được thoát khỏi sự ràng buộc lien quan đến những cam kết cắt giảm thuế quan, nếu chứng minh được

ba điều (1) lượng hàng hoá nhập khẩu gia tăng “đột biến”; (2) gây thiệt hại hoặc đe

doạ gây thiệt hại nghiêm trong cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước; và (3) có mối quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng đột biến lượng hàng hoá nhập khẩu và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nói trên trong thời gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó Vì vậy, đôi khi người ta còn gọi đó là “điều khoản giải thoát” bởi nó cho phép các thành viên WTO được “chạy thoát” khỏi nghĩa vụ của mình trong những trường hợp đặc biệt

Như vậy, “biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế được hiểu là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng

Trang 18

tăng lên một cách “đột biến”, gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước”

Các biện pháp tự vệ này chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không được áp

dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ

Về hình thức, WTO không có quy định cụ thể về việc biện pháp tự vệ phải được áp dụng dưới hình thức nào để hạn chế tạm thời việc nhập khẩu hàng hoá bị kiện Trên thực tế, các nước thành viên WTO thường áp dụng các hình thức như:

- Hạn ngạch nhập khẩu, theo đó sản phẩm bị kiện sẽ chỉ được nhập khẩu với một số lượng nhất định trong một khoảng thời gian nhận định

- Tăng thuế nhập khẩu với sản phẩm bị kiện trong một thời gian nhất định

- Hạn ngạch thuế quan, theo đó áp dụng mức thuế thấp đối với một số lượng, trị giá nhập khẩu nhất định, nếu vượt qua ngưỡng đó sẽ bị áp thuế cao

- Cấm nhập khẩu sản phẩm bị kiện trong một khoảng thời gian nhất định Các biện pháp tự vệ cho dù được áp dụng dưới hình thức nào thì cũng đều có khả năng gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất khẩu bởi vì hàng hoá của họ bị loại ra khỏi thị trường bởi một biện pháp mang tính chất hành chính Trong trường hợp này, WTO quy định nước nhập khẩu có áp dụng biện pháp tự vệ phải bổi thường cho các doanh nghiệp xuất khẩu có lien quan bị thiệt hại do việc áp dụng biện pháp tự vệ gây ra Do đặc điểm này nên biện pháp tự vệ thương mại còn được gọi là biện pháp phòng vệ thương mại “phải trả tiền”

1.3 Sự khác biệt giữa các biện pháp phòng vệ thương mại

Mặc dù, có thể thấy chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại đều có bản chất giống nhau ở chỗ chúng đều là những biện pháp có thể được nước nhập khẩu áp dụng một cách hợp pháp theo quy định của WTO nhằm bảo hộ một ngành sản xuất nội địa nhất định Việc áp dụng các biện pháp này đều dẫn đến kết quả là hạn chế số lượng nhập khẩu hàng háo vào một quốc gia Tuy nhiên, giữa ba

Trang 19

loại biện pháp phòng vệ thương mại ngày cũng có những điểm khác nhau về căn bản Cụ thể:

Thứ nhất, chống bán phá giá và chống trợ cấp là những biện pháp được áp

dụng để xử lý những thực tiễn bị coi là không công bằng trong thương mại quốc tế trong khi đó tự vệ thương mại được áp dụng như một biện pháp tạm thời trong một tình thế cấp thiết để ứng phó với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường Ở trường hợp chông bán phá giá và chống trợ cấp, sản phẩm nhập khẩu có thể gây ra thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu là bởi vì chúng được hậu thuẫn bởi việc bán phá giá hoặc được trợ cấp từ ngân sách nhà nước Những hậu thuẫn này đem lại lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm nhập khẩu một cách không bình đẳng trước các sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu Chính vì vậy việc bán phá giá và trợ cấp bị lên án trong thương mại quốc tế và biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được xem như những chế tài đối với những thực tiễn phi công bằng trong thương mại quốc tế đó Trong khi đó ở trường hợp tự vệ thương mại, sản phẩm nhập khẩu có thể có giá thấp và lợi thế cạnh tranh hơn so với sản phẩm nội địa song ở đây không có dấu hiệu bán phá giá hay trợ cấp của nhà nước Nói cách khác sản phẩm nhập khẩu vẫn đang cạnh tranh một cách công bằng với sản phẩm nội địa Thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất nội địa xuất phát không phải từ nguyên nhân sản phẩm nhập không cạnh tranh không lành mạnh mà do sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa quá thấp Trong trường hợp này không có lý do gì để áp dụng biện pháp chế tài cả Biện pháp tự vệ thương mại được xem như một giải pháp tạm thời của nước nhập khẩu trong một tình thế cấp thiết để cứu ngành sản xuất nội địa của mình nó còn được ví như biện pháp giải thoát áp lực trong mở cửa thị trường Chính

vì vậy khi áp dụng biện pháp này, nước nhập khẩu phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà biện pháp tự vệ gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm có liên quan

Thứ hai, trong bối cảnh tự do thương mại đang càng được đề cao như hiện

nay, khả năng các nước có thể lựa chọn áp dụng biện pháp chống bán phá giá,

Trang 20

chống trợ cấp hay tự vệ thương mại là khác nhau Biện pháp tự vệ thương mại có sự nhạy cảm về chính trị rất cao bởi vì trong trường hợp này không có vi phạm nào xảy ra từ phía sản phẩm nhập khẩu cả Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ chẳng qua là vì lợi ích riêng của ngành sản xuất nội địa và căn cứ vào chủ quyền của mình mà thôi Khi một nước áp dụng biện pháp tự vệ thường vấp phải sự phản đối gay gắt từ phía các nước có doanh nghiệp xuất khẩu lien quan Trong trường hợp bồi thường cho các doanh nghiệp xuất khẩu liên quan không thoả đáng thì biện pháp tự vệ rất dễ dẫn tới biện pháp trả đũa từ phía các nước xuất khẩu Vì những lý

do này nên biện pháp tự vệ là biện pháp phòng vệ thương mại ít được áp dụng nhất Biện pháp chống trợ cấp có lý do chính đáng hơn so với tự vệ thương mại bởi trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu là nguyên nhân của tình trạng cạnh tranh không lành mạnh đã gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu Tuy vậy, biện pháp chống trợ cấp lại gián tiếp lên án chính phủ nước xuất khẩu đã cung cấp các nguồn trợ cấp cho doanh nghiệp của họ Chính phủ nước xuất khẩu thường sẵn sàng phản đối các biện pháp chống trợ cấp của nước nhập khẩu Điều này là cho biện pháp chống trợ cấp cũng mang tính nhạy cảm chính trị cao và không được áp dụng nhiều mặc dù tần số áp dụng vẫn cao hơn biện pháp tự vệ thương mại Trong

cả ba biện pháp phòng vệ thương mại thì chống bán phá giá là biện pháp dễ áp dụng nhất Đối tượng bị áp dụng trực tiếp của biện pháp chống bán phá giá là các doanh nghiệp xuất khẩu đã tiến hành các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh đáng bị chế tài Chính phủ nước xuất khẩu ít khi xuất hiện trong các vụ kiện chống bán phá giá Chính vì vậy mà chống bán phá giá là biện pháp phòng vệ thương mại được sử dụng phổ biến nhất trong thương mại quốc tế hiện nay [18, tr 29]

Thứ ba, cả chống bán pháp giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại đều được

áp dụng trên cơ sở có thiệt hại vậy chất gây ra đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Tuy nhiên, điều kiện này được áp dụng một cách ngặt nghèo hơn đối với việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại so với hai biện pháp còn lại Trong các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp, cơ quan có thẩm quyền chỉ xác định được thiệt hại xảy ra là đáng kể (hoặc đe doạ gây thiệt hại đáng kể) là đã có thể

Trang 21

áp dụng biện pháp chống bán phá gia hay chống trợ cấp tương ứng Trong khi đó,

để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được đã có thiệt hại nghiêm trong xảy ra đối với ngành sản xuất nội địa, mức độ thiệt hại vật chất cao hơn nhiều so với mức độ thiệt hại để áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay chống trợ cấp Sở dĩ có sự khác biệt này là do biện pháp tự vệ chỉ là một biện pháp tình thế tạm thời, không phải là một biện pháp chế tài Nếu điều kiện áp dụng cũng dễ như hai biện pháp kia thì sẽ dễ dẫn đến lạm dụng biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Thứ tư, về nguyên tắc áp dụng, để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành

mạnh của bên cung cấp hàng hoá nước ngoài thì nước nhập khẩu chỉ được đánh thuế chống bán phá giá hay thuế đối kháng vào số lượng hàng hoá của nước cung cấp hàng hoá có hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó mà không được đánh thuế vào các mặt hàng của các nước khác không liên quan và không là đối tượng của thuế chống bán phá giá hay thuế đối kháng Còn trong trường hợp áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại thì nước nhập khẩu, theo quy định của WTO, phải tuân thủ nguyên tắc tối huệ quốc, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ hàng hoá: nghĩa là một khi đã áp dụng các biện pháp đó cho loại hàng hoá nhập khẩu từ nước nào thì cũng phải áp dụng các biện pháp đó cho loại hàng hoá nhập khẩu từ các nước khác Sở dĩ

có sự khác biệt như vậy vì các biện pháp tự vệ thương mại là biện pháp đánh vào hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích hạn chế chứ không nhằm mục đích trừng phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hoá nhập khẩu

Trang 22

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA VÀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG

2.1 Các văn bản pháp luật quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam

Khác với pháp luật quốc tế về các biện pháp phòng vệ thương mại đã được hình thành từ khá sớm thì ở Việt Nam phải cho tới năm 2002 với sự ra đời của pháp lệnh

về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam và 2004 là pháp lệnh

về chống bán phá giá và pháp lệnh chống trợ cấp, quy định pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại mới chính thức được hình thành Cho tới thời điểm hiện tại, mặc dù hệ thống pháp luật về phòng vệ thương mại chưa thực sự hoàn thiện nhưng cơ bản đã đầy đủ theo quy định của pháp luật quốc tế Dưới đây là các văn bản pháp luật quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam

*) Các văn bản pháp luật quy định về biện pháp chống bán phá giá:

- Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam

- Nghị định số 90/2005/NĐ-CP cụ thể hoá một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá

- Nghị định số 04/2006/NĐ-CP quy định về việc thành lập và chức năng, nhiệm

vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;

- Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh;

- Thông tư số 106/2005/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và các khoản bảo đảm thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế trợ cấp;

Trang 23

- Quyết định số 32/QĐ-QLCT ngày 15/5/2008 của Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương ban hành Mẫu hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá

*) Các văn bản pháp luật quy định về biện pháp chống trợ cấp

- Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 ngày 20/08/2004 về Chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

- Nghị định số 89/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/07/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

- Nghị định Chính phủ số 04/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệ

- Thông tư của Bộ Tài chính số 106/2005/TT-BTC ngày 05 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp

*) Các văn bản pháp luật quy định về biện pháp tự vệ thương mại

- Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25/05/2002 về Tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

- Nghị định số 150/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về Tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

- Nghị định số 04/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006 về việc Thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

Trang 24

2.2 Thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Việt Nam

2.2.1 Các biện pháp chống bán phá, điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá

Biện pháp cam kết

Theo quy định của Pháp lệnh chống bán phá giá, có hai loại cam kết được áp dụng trong các vụ việc chống bán phá giá là điều chỉnh giá bán và tự nguyện hạn chế khối lượng, số lượng và trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam [15,đ21] PLVN chỉ gọi tên mà chưa có những quy định chi tiết về các biện pháp trên

Điều 34 Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định sau khi có kết luận sơ bộ và chậm nhất không quá 30 ngày trước khi kết thúc giai đoạn điều tra, đại diện hợp pháp của người bị yêu cầu có thể gửi văn bản cam kết (sau đây gọi là cam kết loại trừ bán phá giá) trực tiếp đến cơ quan điều tra hoặc đến các nhà sản xuất trong nước để xem xét trước khi trình lên cơ quan điều tra Quy định này được xây dựng từ quan niệm cho rằng với tư cách là biện pháp xử lý vụ việc nên việc áp dụng cam kết chỉ được tiến hành khi đã có kết luận điều tra về vụ việc Kết luận điều tra không chỉ là căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền xử lý vụ việc của cơ quan nhà nước mà còn là cơ sở để tính toán mức độ áp dụng của các biện pháp xử lý Mặt khác, biện pháp cam kết là giải pháp xử lý dung hòa quyền lợi của các bên và có ý nghĩa chấm dứt vụ việc nhanh chóng, không áp dụng thuế chống bán phá giá nên pháp luật không cho phép

áp dụng biện pháp này khi đã có kết luận cuối cùng

Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp chấm dứt việc áp dụng cam kết:

- Chấm dứt áp dụng cam kết theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương sau khi tiến hành rà soát thường niên hoặc rà soát cuối kỳ

Trang 25

- Chấm dứt áp dụng cam kết khi bên cam kết có hành vi vi phạm cam kết, khi bên cam kết không thực hiện đúng theo cam kết, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định tiếp tục tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc ra quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định của Pháp lệnh [15, đ21] [6, k2 đ 37]

Biện pháp thuế chống bán phá giá

Điều 6 và Khoản 1 Điều 22 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định căn cứ vào kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra và quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc,

Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi

có hai điều kiện sau đây:

- Hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải xác định cụ thể;

- Việc bán phá giá hàng hoá phải là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

Trong trường hợp cơ quan điều tra giới hạn phạm vi điều tra bằng cách lựa chọn một số doanh nghiệp được tham gia cung cấp tài liệu, số liệu điều tra Các doanh nghiệp này được xác định biên độ phá giá riêng nên thuế suất cũng được ấn định cụ thể cho từng doanh nghiệp Với những doanh nghiệp không thuộc diện được chọn lựa, pháp luật Việt Nam quy định biên độ phá giá được xác định là biên độ bán phá giá bình quân áp dụng cho người bị yêu cầu được chọn để xác định biên độ bán phá giá riêng [15, k4 đ 25] Để tính biên độ bình quân, cơ quan có thẩm quyền sử dụng biên độ phá giá của tất cả các doanh nghiệp được lựa chọn tính trên tổng lượng hàng hóa, bao gồm cả biên độ bằng không và biên độ không đáng kể Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn quy định cơ quan điều tra có thể xem xét xác định biên độ bán phá giá riêng cho người bị yêu cầu không được chọn nhưng đã tự nguyện cung cấp thông tin cần thiết, kịp thời trong quá trình điều tra, trừ khi số lượng người bị

Trang 26

yêu cầu tự nguyện cung cấp thông tin này quá lớn và việc xác định biên độ bán phá giá riêng cho người bị yêu cầu này làm cho việc điều tra không thể hoàn thành đúng thời hạn [6, k5 đ 25] Trong trường hợp này, cơ quan điều tra có toàn quyền quyết định việc có tính biên độ phá giá riêng cho doanh nghiệp đã tự nguyện cung cấp thông tin và bằng chứng Về việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp xuất khẩu mới, NĐ 90/2005/NĐ-CP quy định trường hợp hàng hóa đang là đối tượng bị áp dụng thuế chống bán phá giá, khi có yêu cầu bằng văn bản, cơ quan điều tra phải nhanh chóng tiến hành xác định biên độ bán phá giá riêng cho các nhà sản xuất, xuất khẩu không xuất khẩu hàng hóa là đối tượng đang bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá vào Việt Nam trong giai đoạn điều tra với điều kiện các nhà sản xuất, xuất khẩu này phải chứng minh được họ không có mối liên hệ nào với các nhà sản xuất, xuất khẩu đang phải chịu thuế chống bán phá giá hoặc các nhà sản xuất, xuất khẩu đang thực hiện cam kết loại trừ bán phá giá theo quy định của pháp luật [6, k1 đ42] Như vậy, cơ quan điều tra sẽ áp dụng thủ tục điều tra nhanh để tính biên độ phá giá cụ thể cho hàng hóa của nhà nhập khẩu mới pháp luật Việt Nam chưa quy định về thời gian tiến hành điều tra nhanh

2.2.2 Thủ tục điều tra vụ việc chống bán phá giá

*) Các căn cứ tiến hành điều tra

Điều 8 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp để cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra vụ việc là: điều tra theo yêu cầu của ngành sản xuất trong nước; và điều tra theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương

a Điều tra theo yêu cầu của ngành sản xuất trong nước

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, khi có yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền chỉ ra quyết định điều tra nếu thỏa mãn hai điều kiện sau:

Điều kiện 1: người yêu cầu phải là tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản

Trang 27

xuất trong nước, bao gồm các tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất hàng hóa nội địa (gọi tắt là doanh nghiệp trong nước) hoặc đại diện của họ [15, Điểm a k1 đ 8] Pháp lệnh chống bán phá giá chỉ quy định tổ chức công đoàn hoặc các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi của người lao động trong ngành sản xuất trong nước tham gia vào vụ việc chống bán phá giá với tư cách là người liên quan mà chưa cho phép họ được quyền nộp hồ sơ yêu cầu [15, k7 đ11] Người nộp hồ sơ yêu cầu phải đại diện cho ngành sản xuất trong nước Tư cách đại diện được cấu thành khi đáp ứng đủ hai yêu cầu:

- Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá do người yêu cầu sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự của ngành sản xuất trong nước (còn gọi là quy tắc 25%)

- Khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hoá do họ sản xuất hoặc đại diện và của các doanh nghiệp trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự của các doanh nghiệp trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (còn gọi là quy tắc 50%)

Điều kiện 2: hồ sơ yêu cầu phải hợp lệ

Theo pháp luật Việt Nam, một hồ sơ yêu cầu được coi là hợp lệ khi chúng bao gồm các lập luận và các bằng chứng về sự cần thiết phải điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu; các bằng chứng ban đầu về tư cách của người yêu cầu, đối tượng bị yêu cầu, việc bán phá giá, dự tính về biên độ phá giá, thiệt hại hoặc nguy cơ đe dọa thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại vật chất… Mọi khẳng định mà không có bằng chứng xác đáng sẽ không được coi là hợp lệ [15,

đ 9]

Trong trường hợp nhận thấy hồ sơ yêu cầu chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra phải thông báo cho người nộp hồ sơ để bổ sung [15, k1,2 đ10] Cơ quan điều tra có trách nhiệm thẩm định hồ sơ trong thời hạn 45 ngày kể từ

Trang 28

ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ

b Điều tra theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương có thể ra quyết định điều tra khi có bằng chứng rõ ràng về việc bán phá giá hàng hoá gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước dù không có người yêu cầu hoặc người yêu cầu không đủ tư cách đại diện cho ngành sản xuất trong nước [6, đ 20] [15, k2 đ8] Trong trường hợp này, vụ việc được khởi đầu bằng việc Bộ trưởng ra quyết định giao cho cơ quan điều tra lập hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá Thời hạn lập hồ sơ là 6 tháng kể từ ngày ký quyết định giao cơ quan điều tra lập hồ sơ Tuy nhiên, pháp luật vẫn chưa quy định thế nào là có bằng chứng rõ ràng về việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại của ngành sản

xuất trong nước

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương có thẩm quyền quyết định điều tra vụ việc Thời hạn ra quyết định điều tra trong trường hợp có người yêu cầu là 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (có thể gia hạn không quá 30 ngày) Trường hợp Bộ trưởng tự ra quyết định điều tra, pháp luật chỉ quy định về thời hạn lập hồ sơ mà chưa quy định về thời hạn ra quyết định điều tra

*) Thu thập và cung cấp chứng cứ

Chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc chống bán phá giá là những gì có thật được Cơ quan điều tra chống bán phá giá, Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá dùng làm căn cứ để xác định tình trạng bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, tình trạng ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể, mối quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc chống bán phá giá [6, đ 3] Thu thập và xử lý các thông tin, tài liệu về

vụ việc là công việc quan trọng nhất trong các hoạt động điều tra của cơ quan có

Trang 29

thẩm quyền Các thông tin, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ trong vụ việc phải được thẩm tra mức độ trung thực và tin cậy

a Các nguyên tắc cho việc thu thập và cung cấp chứng cứ

Nguyên tắc thứ nhất, tôn trọng quyền được tiếp cận thông tin và cung cấp

thông tin của các bên liên quan cho cơ quan điều tra [6, đ 15] Từ yêu cầu cần được đối xử bình đẳng, các bên liên quan được pháp luật tạo cơ hội như nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Quyền được tiếp cận thông tin (trừ những thông tin bảo mật) là cơ sở pháp lý quan trọng để các bên thực hiện quyền tự bảo vệ Tuy nhiên, nghị định 90/2005/NĐ-CP lại không quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của

cơ quan điều tra và cơ chế thực hiện quyền tiếp cận thông tin của các bên Điều này

có thể dẫn đến nguy cơ làm cho quyền tiếp cận thông tin của các bên trở thành hình thức

Về trách nhiệm cung cấp thông tin, các bên liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin xác thực và tài liệu cần thiết theo yêu cầu của cơ quan điều tra Quy định

về trách nhiệm cung cấp thông tin của các bên liên quan là cơ sở pháp lý để cơ quan điều tra thực hiện việc thu thập chứng cứ Tuy nhiên, Pháp luật chưa làm rõ trách nhiệm của cơ quan điều tra và cơ chế pháp lý để các bên thực hiện việc cung cấp thông tin

Nguyên tắc thứ hai, nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, trường hợp thông tin, tài liệu cần thiết không được cung cấp theo đúng yêu cầu thì cơ quan điều tra quyết định dựa trên những thông tin, tài liệu sẵn có [15, k2 đ13] Sự không hợp tác sẽ tạo nên những bất lợi cho các bên liên quan trong quá trình điều tra so với người chủ động và tích cực cung cấp thông tin theo yêu cầu Từ quy định mang tính nguyên tắc trong Pháp lệnh chống bán phá giá, Nghị định 90/2005/NĐ-CP chỉ diễn giải cụm từ trường hợp thông tin, tài liệu cần thiết không được cung cấp theo đúng yêu cầu bằng quy định

Cơ quan điều tra sẽ quyết định dựa trên các thông tin, tài liệu có sẵn trong các

Trang 30

trường hợp sau đây: (1) bên liên quan không cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết theo đúng yêu cầu; (2) kết quả giám định, kiểm tra, xác minh cho thấy các thông tin, tài liệu do các bên liên quan cung cấp là không xác thực; (3) bên liên quan không đồng ý để cho Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra xác minh; (4) bên liên quan gây cản trở quá trình điều tra [6, k5 đ22]

Nguyên tắc thứ ba, ngôn ngữ sử dụng trong các tài liệu, thông tin cung cấp cho

cơ quan điều tra là tiếng Việt Các thông tin, tài liệu không phải bằng tiếng Việt do các bên liên quan cung cấp phải được dịch ra tiếng Việt Các bên liên quan phải đảm bảo tính trung thực, chính xác và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung được dịch thuật [6, k2 đ2] Quy định trên hoàn toàn phù hợp với xu thế chung, tất cả các nước đều sử dụng ngôn ngữ của quốc gia mình cho quá trình giải quyết vụ việc

b Các nguồn thu thập chứng cứ

Các thông tin được sử dụng có thể được thu thập từ nhiều nguồn với những cách thức khác nhau Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, các bên liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan điều tra [15, đ11] Ngoài ra, pháp luật còn quy định luật sư của người yêu cầu, người bị yêu cầu có quyền và nghĩa vụ xác minh, thu thập và cung cấp tài liệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên mà mình đại diện [6, đ15-17] Cơ quan điều tra có thể liên hệ với những cơ quan hữu quan trong nước hoặc của quốc gia bị điều tra để thu thập thêm thông tin về vụ việc Về đối tượng cung cấp thông tin, có một số vấn đề đặt ra cho quá trình thực thi pháp luật: Một là, để xác định trách nhiệm cung cấp thông tin, vấn đề quan trọng nhất là xác định tư cách tham gia vào vụ việc của các chủ thể có liên quan Pháp luật Việt Nam chưa có cơ chế xác lập tư cách chủ thể tham gia vụ việc, đặc biệt đối với những doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu hàng hóa bị điều tra và doanh nghiệp chưa được liệt kê trong hồ sơ yêu cầu Hai là, đối với các bên liên quan khác (không phải là người yêu cầu hoặc bị yêu cầu), pháp luật quy định quyền và trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực và tài liệu cần thiết liên quan đến vụ việc chống bán phá giá theo quan điểm của mình hoặc theo yêu cầu của Cơ

Trang 31

quan điều tra, Điều tra viên [6, k1 đ17] Tuy nhiên, pháp luật chưa có cơ chế xác lập

tư cách cho những đối tượng này

c Các phương thức cung cấp chứng cứ

Các bên liên quan cung cấp thông tin bằng hai phương thức sau:

- Trả lời bản câu hỏi của cơ quan điều tra Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định thì trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày có quyết định điều tra, cơ quan điều tra phải gửi bản câu hỏi điều tra đến địa chỉ của người bị yêu cầu hoặc đại diện hợp pháp của người bị yêu cầu; đại diện tại Việt Nam của nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; cơ quan

có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất, xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; các bên có liên quan khác Trong thời hạn 30 ngày tính từ ngày nhận được bản câu hỏi điều tra, người bị yêu cầu phải gửi văn bản trả lời đầy đủ các câu hỏi ghi trong bản câu hỏi điều tra cho cơ quan điều tra Trong trường hợp cần thiết và nếu người bị yêu cầu có văn bản đề nghị, thời hạn này có thể được cơ quan điều tra xem xét, gia hạn thêm một lần với thời hạn tối

đa không quá 30 ngày Bản câu hỏi điều tra được coi là đến địa chỉ người nhận sau

07 ngày làm việc, tính từ ngày cơ quan điều tra gửi đi Ngày gửi được xác định căn

cứ theo dấu của bưu điện [6, đ23]

- Cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan điều tra Trong giai đoạn điều tra, cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu các bên cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết Các bên liên quan có quyền chủ động cung cấp thông tin để chứng minh cho yêu cầu hoặc quan điểm của họ về vụ việc [15, đ10,15-17] Pháp luật hiện hành chỉ ghi nhận quyền và trách nhiệm cung cấp thông tin của các bên mà chưa xây dựng các tiêu chuẩn của chứng cứ

*) Quy chế bảo mật và thẩm tra thông tin

a Quy chế bảo mật thông tin

Về việc bảo mật thông tin do các bên cung cấp, Điều 15 Pháp lệnh chống bán

Trang 32

phá giá quy định cơ quan điều tra chịu trách nhiệm giữ bí mật thông tin được cung cấp khi nhận được yêu cầu thoả đáng của các bên liên quan đến quá trình điều tra và yêu cầu các bên này cung cấp tóm tắt thông tin cần giữ bí mật Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định hai loại thông tin mật cần được bảo mật, bao gồm: (1) bí mật quốc gia và bí mật khác theo quy định của pháp luật; (2) thông tin mà bên cung cấp cho là mật và được cơ quan điều tra chấp nhận đề nghị bảo mật thông tin [6, k1 đ30] Quy trình chỉ định thông tin mật bao gồm các thủ tục, các quy tắc để cơ quan

có thẩm quyền xác định những thông tin cần được bảo mật PLVN quy định khá đơn giản về vấn đề này Khoản 2 Điều 30 Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định khi cung cấp những thông tin được đề nghị bảo mật, bên cung cấp thông tin phải gửi kèm theo thông tin đó bản giải trình chi tiết về lý do đề nghị bảo mật thông tin và bản tóm tắt những nội dung của thông tin mật có thể công bố công khai cho các bên liên quan khác Ví dụ như thông tin khi được công bố sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho các đối thủ cạnh tranh hoặc thông tin khi được công bố sẽ có ảnh hưởng xấu đến người cung cấp thông tin hoặc người mà người cung cấp thông tin thu thập thông tin

Khoản 3 Điều 30 Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định trường hợp không chấp nhận đề nghị bảo mật của bên cung cấp thông tin hoặc bên cung cấp thông tin không đồng ý công khai thông tin được đề nghị bảo mật, Cơ quan điều tra sẽ không

sử dụng thông tin này và gửi trả lại cho bên cung cấp Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định những trường hợp đề nghị bảo mật thông tin không được chấp nhận

Căn cứ Điều 15, 16, 17 Nghị định 90/2005/NĐ-CP, trừ luật sư của người yêu cầu, người bị yêu cầu, các bên liên quan không được tiếp cận thông tin đã được chỉ định bảo mật Với luật sư của người yêu cầu, người bị yêu cầu, điều 16 Nghị định 90/2005/NĐ-CP ghi nhận quyền tiếp cận hồ sơ vụ việc song không được chi chép, sao chụp những tài liệu đang được bảo mật Như vậy, quy chế bảo mật trong pháp luật chống bán phá giá không tuyệt đối bởi các bên liên quan vẫn có thể tiếp cận

Trang 33

thông tin một cách hạn chế qua bản tóm tắt được người yêu cầu cung cấp hoặc qua vai trò của luật sư đại diện cho họ

b Thẩm tra thông tin, tài liệu và chứng cứ

Thẩm tra thông tin, tài liệu đã thu thập được là quá trình phân tích, so sánh các

dữ liệu để đánh giá độ tin cậy, trung thực và chính xác của các tài liệu thông tin đã thu thập được Việc thẩm tra được thực hiện theo ba phương thức là thẩm tra tại văn phòng; thẩm tra tại chỗ; và tổ chức tham vấn cho các bên

Thẩm tra tại văn phòng bao gồm các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan, cán bộ điều tra ngay tại văn phòng làm việc cơ quan này Pháp luật không quy định chi tiết

về phương thức này ngoài quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan điều tra sẽ tiến hành trưng cầu giám định hoặc kiểm tra, xác minh tính xác thực của các thông tin, tài liệu do các bên liên quan cung cấp hoặc thu thập thêm các thông tin, tài liệu cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc chống bán phá giá [ 6, k2 đ22] Thẩm tra tại chỗ là việc viếng thăm của các chuyên viên điều tra của cơ quan có thẩm quyền đến các nhà sản xuất đã trả lời bản câu hỏi với mục đích xác nhận liệu các thông tin được báo cáo đã phản ánh chính xác hộ sơ kinh doanh của công ty đó hay không Theo đánh giá của Cục Quản lý cạnh tranh, việc thẩm tra tại chỗ có thể

là phương thức tốt nhất để kiểm tra sự chính xác của các thông tin được báo cáo trong quá trình trả lời bằng câu hỏi vì nó cho phép sự so sánh các thông tin được báo cáo với các hồ sơ kinh doanh của DN được thực hiện qua hồ sơ gốc Với các bên có liên quan, việc thẩm tra tại chỗ là cơ hội để họ trực tiếp trình bày và chứng minh một cách sinh động cho quan điểm của mình về vụ việc

Tổ chức tham vấn trong điều tra Pháp lệnh chống bán phá giá quy định Cơ quan điều tra tổ chức tham vấn với các bên liên quan đến quá trình điều tra để tạo điều kiện cho các bên trình bày ý kiến và cung cấp thông tin cần thiết [15, k1 đ14] Theo Nghị định 90/2005/NĐ-CP, căn cứ vào thời gian tổ chức phiên tham vấn nêu trong quyết định điều tra, cơ quan điều tra sẽ tổ chức phiên tham vấn công khai với

Trang 34

các bên liên quan và phân công ít nhất 03 điều tra viên, trong đó có 01 điều tra viên làm chủ tọa để điều hành phiên tham vấn Chậm nhất là 30 ngày trước ngày tổ chức phiên tham vấn, các bên liên quan phải gửi văn bản đăng ký tham gia phiên tham vấn cho cơ quan điều tra, trong đó nêu rõ những vấn đề cần tham vấn kèm theo lập luận bằng văn bản [6, k1,2 đ29] Như vậy, phiên tham vấn là hoạt động bắt buộc trong thủ tục điều tra và để tham gia vào phiên tham vấn, các bên phải đăng ký bằng văn bản với cơ quan điều tra

*) Thời hạn điều tra

Pháp lệnh chống bán phá giá năm 2004 quy định thời hạn điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là không quá mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định điều tra Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Công thương có thể quyết định gia hạn điều tra nhưng không quá 6 tháng [15, đ16] Pháp lệnh chống bán phá giá không trực tiếp phân chia quá trình điều tra thành những giai đoạn cụ thể mà tập trung vào các vấn đề về việc thu thập và xử lý thông tin, tài liệu về vụ việc, bảo mật thông tin, cung cấp thông tin cho các bên, công bố các kết luận điều tra…

*) Chấm dứt điều tra

Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp để cơ quan điều tra ra quyết định chấm dứt điều tra là chấm dứt điều tra theo ý chí của người yêu cầu; và chấm dứt điều tra dựa trên kết luận sơ bộ [ 15, đ19]

- Chấm dứt điều tra theo ý chí của người yêu cầu Khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định Bộ trưởng Bộ Công thương quyết định chấm dứt điều tra khi tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá tự nguyện rút hồ sơ Vì khi người yêu cầu rút hồ sơ thì cơ quan điều tra không còn căn

cứ pháp lý để tiếp tục giải quyết vụ việc

- Chấm dứt điều tra dựa trên kết luận sơ bộ Khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định Bộ trưởng Bộ Công thương quyết định chấm dứt điều tra khi kết luận sơ bộ có ít nhất một trong những nội dung sau đây:

Trang 35

+ Không có bán phá giá theo quy định của pháp luật;

+ Biên độ phá giá không đáng kể Biên độ phá giá không đáng kể là biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam;

+ Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam không đáng kể;

+ Không có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước;

2.2.3 Thủ tục xử lý và rà soát vụ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá *) Quyết định xử lý vụ việc

Xử lý vụ việc chống bán phá giá bao gồm hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra để đưa ra các quyết định giải quyết vụ việc chống bán phá giá Quá trình xử lý vụ việc chống bán phá giá được thực hiện qua hai giai đoạn: giai đoạn tại Hội đồng xử lý vụ việc và giai đoạn

- Hội đồng xử lý tổ chức phiên họp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được

hồ sơ vụ việc Dựa trên quyết định của mình, Hội đồng xử lý kiến nghị Bộ trưởng cách thức xử lý vụ việc, hoặc đề nghị áp dụng hoặc đề nghị không áp dụng biện pháp chống bán phá giá [6, k3 đ33, đ39]

Giai đoạn thứ hai, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định xử lý vụ việc Pháp

Trang 36

lệnh chống bán phá giá quy định trường hợp không đạt được cam kết theo quy định của Pháp lệnh, căn cứ vào kết luận cuối cùng và kiến nghị của Hội đồng xử lý, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá phải có các nội dung theo quy định của pháp luật và được công bố công khai Cơ quan điều tra thông báo bằng phương thức thích hợp quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá cho các bên liên quan đến quá trình điều tra [15, đ 22; đ18, đ40] Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định không áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra và quyết định của Hội đồng xử lý khẳng định một trong những nội dung: (1) không có tình trạng bán phá giá; (2) không có thiệt hại đáng kể hoặc khả năng gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; (3) không có quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Bộ trưởng cũng có thể ra quyết định không áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi nhận thấy việc áp dụng thuế chống bán phá giá gây tổn hại đến lợi ích kinh tế - xã hội trong nước [6, k2 đ39]

*) Các trường hợp rà soát lại quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá

Rà soát là quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục cần thiết để xem xét lại quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo yêu cầu của các bên liên quan hoặc theo định kỳ Việc rà soát lại có thể dẫn đến kết quả chấm dứt trước thời hạn hoặc tiếp tục hoặc gia hạn việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Điều 24 và 25 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp rà soát lại quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá:

Thứ nhất, rà soát trong thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá được thực hiện trong thời gian quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá đang còn hiệu lực nhằm xem xét có nên duy trì hay chấm dứt việc áp dụng hoặc xem xét mức độ áp dụng biện pháp chống bán phá giá Việc rà soát chỉ được tiến hành khi thỏa mãn hai điều kiện sau:

Trang 37

- Các biện pháp chống bán phá giá đã được áp dụng trong khoảng thời gian hợp

lý đủ để phân tích tác động thực tế của chúng đến các dòng thương mại Khoảng thời gian hợp lý được quy định trong pháp luật Việt Nam là một năm, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

- Phải có đề nghị của một hoặc nhiều bên có liên quan và trên cơ sở xem xét các bằng chứng do bên đề nghị cung cấp [15, k1 đ21] Như vậy, pháp luật chỉ cho phép

cơ quan có thẩm quyền tiến hành rà soát trong thời hạn khi các bên có yêu cầu và cung cấp các bằng chứng cho thấy sự cần thiết của việc rà soát

Thứ hai, rà soát ngay trước khi hết thời hạn áp dụng chống bán phá giá (rà soát cuối kỳ - rà soát hoàng hôn) Về bản chất, thủ tục rà soát cuối kỳ được thực hiện để xác định hiện tượng bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất có tiếp tục tái diễn sau khi quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá hết hiệu lực Pháp lệnh chống bán phá giá quy định thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá là 5 năm kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá và một năm trước ngày quyết định trên hết hiệu lực, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định rà soát việc

áp dụng biện pháp chống bán phá giá [15, k2 đ 24] Như vậy, Pháp lệnh chống bán phá giá đã áp dụng cơ chế tự động rà soát, có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành rà soát cuối kỳ trong mọi trường hợp cho dù các bên không có yêu cầu

*) Thủ tục rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Thời hạn tiến hành thủ tục là 12 tháng kể từ ngày có quyết định rà soát Khi kết thúc rà soát, Bộ trưởng Bộ Công thương ra một trong các quyết định sau đây:

- Tiếp tục áp dụng hoặc gia hạn áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

- Điều chỉnh mức thuế chống bán phá giá tương ứng với kết quả rà soát;

- Chấm dứt việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá [15, đ 24-25]

Thủ tục rà soát được quan niệm như một cuộc điều tra lại vụ việc Quan niệm này phù hợp với truyền thống của pháp luật chống bán phá giá Tuy nhiên, pháp luật

Trang 38

Việt Nam chưa có những quy định cụ thể để phân biệt về nội dung của việc rà soát với cuộc điều tra ban đầu

2.3 Thủ tục điều tra, áp dụng biện pháp chống trợ cấp theo pháp luật Việt

Nam

2.3.1 Các biện pháp chống trợ cấp (biện pháp đối kháng)

Cũng giống như chống bán phá giá thì biện pháp chống trợ cấp hay còn gọi là biện pháp đối kháng cũng có hai biện pháp chính đó là áp thuế và cam kết Về thủ tục áp dụng những biện pháp này cũng được pháp lệnh chống trợ cấp quy định tương tự như pháp lệnh chống bán phá giá Điều 4, Pháp lệnh Chống trợ cấp năm

2004 đã đưa ra hai biện pháp chống trợ cấp như sau:

Thứ nhất, Biện pháp áp thuế đối kháng

Về mặt lý luận thì khi hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp bị áp thuế đối kháng thì giá hàng hoá nhập khẩu lúc đó sẽ tăng lên, hàng hoá cùng loại sản xuất trong nước

do không phải chịu thuế như hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp sẽ có giá thấp hơn và lúc đó hàng hoá trong nước sẽ có sức cạnh tranh tốt hơn Điều này cho thấy, về thực chất việc áp thuế đối kháng là một biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước nói chung và ngành hàng sản xuất trong nước bị cạnh tranh nói riêng

Tuy nhiên khi giả thích nội hàm khái niệm “thuế đối kháng” tại điều 2, pháp lệnh chống trợ cấp 2004, thì việc quy định nó là “thuế nhập khẩu bổ sung”, về mặt bản chất của loại thuế này là chưa chính xác Thuế nhập khẩu nói chung và thuế nhập khẩu bổ sung nói riêng là loại thuế được áp dụng thường xuyên, nó đem lại nguồn thu thường xuyên cho ngân sách nhà nước và thiết lập hàng rào cố định bảo

hộ cho nền sản xuất trong nước Tuy nhiên, dẫu hiệu này của thuế nhập khẩu cũng

có thể nhận thấy được từ thuế đối kháng nhưng thuế đối kháng lại được áp dụng chính từ hành động trợ cấp gây “bóp méo” thương mại nên nó không chỉ đơn thuần

là mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước như thuế nhập khẩu mà nó còn nhằm

Trang 39

triệt tiêu nhưng lợi thế của hàng hoá nước ngoài nhận được do cứ sự trợ cấp Biện pháp áp thuế đối kháng được sử dụng sau khi có kết luận sơ bộ của cơ quan điều tra Trong trường hợp này, thuế đối kháng được gọi là thuế đối kháng sơ bộ, được áp dụng khi có quyết định của bộ trưởng BCT

Thứ hai, Biện pháp cam kết

Biện pháp cam kết đó là chấp nhận cam kết của tổ chức, cá nhân hoặc CHính phủ nước hoặc vùng lãnh thể sản xuất, xuất khẩu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về việc tự nguyện chấm dứt trợ cấp, giảm mức trợ cấp cam kết điều chính giá xuất khẩu hoặc áp dụng các biện pháp thích hơp khác [16, k2, đ4]

Về mặt hình thức thì thuế đối kháng áp dụng đối với doanh nghiệp nhưng về bản chất thì nó lại thể hiện thái độ của Chính phủ nước nhập khẩu hàng hoá với chính phủ nước cấp trợ cấp cho hàng háo đó Vì vậy, để hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực từ việc áp dụng thuế đối kháng đối với quan hệ giữa chính phủ nước xuất khẩu và Chỉnh phủ Việc Nam, Pháp lệnh chống trợ cấp 2004 cho phép bên bị điều tra thay vì phải bị áp dụng thuế đối kháng có thể đưa ra cam kết tự nguyện triệt tiêu trợ cấp Việc quy định này được hiểu như là biện pháp mang tính hoà giải giúp nhà sản xuất tránh được tâm lý họ đang bị trừng phạt và dễ được nhầ xuất khẩu chấp nhận một cách “thoả mái” hơn là việc phải nộp một khoản thuế “phạt” Theo quy định của Pháp lệnh chống trợ cấp 2004, bên yêu cầu áp dụng biện pháp đối kháng có thể chủ động đưa ra các cam kết áp dụng các biện pháp thích hợp hơn khác và cam kết chấm dứt trợ cấp hoặc giảm mức trợ cấp Cam kết này chỉ có hiệu lực áp dụng khi có được sự đồng ý của Bộ trưởng BCT

Như vậy có thể nói, việc áp dụng các biện pháp đôi kháng trong mọi trường hợp đều là nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất trong nước Vì vậy, khi kết quả điều tra cho thấy hàng hoá nhập khẩu có sự trợ cấp của Chính phủ nước ngoài đã gây nhưng thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, cơ quan có thểm quyền của Việt Nam sẽ cân nhắc áp dụng các biện pháp đối kháng, biện pháp đó có thể áp thuế đối kháng hoặc có thể là cam kết triệt tiêu trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu

Trang 40

2.3.2 Nguyên tắc, điều kiện áp dụng các biện pháp đối kháng

Thực tiễn cho thấy việc điều tra để áp dụng các biện pháp đối kháng là một việc làm đầy tính phức tạp và có thể nói rằng nó còn mang nặng tính “chính trị”, nên việc xây dựng các nguyên tắc cho việc áp dụng các biện pháp đối kháng cần phải rất cẩn trọng Vì vậy, pháp luật chống trợ cấp 2004 đã đưa ra những nguyên tắc rất nghiêm ngặt và chi tiết cho việc áp dụng biện pháp đối kháng Các nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 5, pháp lệnh chống trợ cấp 2004, cụ thể như sau: Thứ nhất, biện pháp đối kháng chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chết thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước [16, k1 đ 5] Việc quy định này có nghĩa là, cơ quan có thểm quyền khi áp dụng biện pháp đối kháng cần cân nhắc kỹ lưỡng tính hai mặt của các biện pháp đối kháng Việc áp dụng các biện pháp đối kháng phải tiến hàng theo nguyên tắc có cân nhắc

về tính cần thiết và sự hợp lý trong việ bảo hộ ngành sản xuất nội địa trong sự tương quan về lợi ích giữa các chủ thể

Thứ hai, “Việc áp dụng các biện pháp đối kháng chỉ được thực hiện khi đã tiến hàng điều tra và phải dựa trên kết luận điều tra” Như vậy, nguyên tắc này yêu cầu các biện pháp đối kháng chỉ được áp dụng sau khi các cơ quan có thểm quyền tiến hàng điều tra hàng hoá nhập khẩu được trợ cấp và ảnh hưởng của nó đến lợi ích của các nhà sản xuất trong nước Cơ quan chịu trách nhiệm điều tra phải làm rõ mức trợ cấp và mức độ thiệt hại do mức trợ cấp đó gây ra đối với ngành sản xuất trong nước

để đưa ra được mức độ bảo hộ cần thiết đủ để hạn chế hoặc loại bỏ thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

Thứ ba, “Biện pháp đối kháng chỉ đươc áp dụng đối với hàng háo được trợ cấp nhập khẩu vào Việt nam” [14, k3 đ 5] Nguyên tắc này đã nêu rõ đối tượng có thể

áp dụng biện pháp đối kháng là hàng háo được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam nhằm tránh việc áp dụng biện pháp đối kháng sai đối tượng Nếu áp dụng không

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w