1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật Đất đai năm 2013

66 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, thực tiễn thi hành pháp luật đất đai cũng cho thấy địa phương nào chú trọng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tạo sự đồng thuận của người dân trong quản lý đất đai thì đất đai l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ VƯƠNG GIANG

THAM VẤN NGƯỜI DÂN TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN QUANG TUYẾN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả

Lê Thị Vương Giang

Trang 3

GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

HĐND: Hội đồng nhân dân UBND: Uỷ ban nhân dân GPMB : Giải phóng mặt bằng

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM VẤN NGƯỜI DÂN TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 6

1.1 Khái quát về tham vấn người dân 6

1.1.1 Cơ sở của việc tham vấn người dân 6

1.1.1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1.2 Cơ sở pháp lý 8

1.1.1.3 Cơ sở thực tiễn 10

1.1.2 Khái niệm tham vấn người dân 12

1.1.2.1.Quan niệm về tham vấn người dân 12

1.1.2.2 Đặc điểm của tham vấn người dân 13

1.1.3 Mục đích, ý nghĩa của việc tham vấn người dân 13

1.1.4 Hình thức tham vấn người dân 15

1.1.5 Đối tượng tham vấn và cơ quan tiến hành tham vấn 20

1.1.5.1 Đối tượng tham vấn 20

1.1.5.2 Cơ quan tiến hành tham vấn 21

1.1.6 Các nguyên tắc tham vấn người dân 22

1.1.7 Quy trình tham vấn người dân 24

1.2 Khái quát về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 31

1.2.1 Sự cần thiết của việc tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 31

1.2.2 Khái niệm tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 33

1.2.2.1 Quan niệm về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 33

1.2.2.2 Đặc điểm của tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 33

1.2.3 Mục đích, ý nghĩa của việc tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 34

1.2.3.1 Mục đích của việc tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 34

1.2.3.2 Ý nghĩa của việc tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 36

1.2.4 Đối tượng tham vấn và cơ quan tiến hành tham vấn trong lĩnh vực đất đai 37

Trang 5

1.2.4.2 Cơ quan tiến hành tham vấn trong lĩnh vực đất đai 37

1.2.5 Các công cụ tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 38 1.2.6 Nguyên tắc tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 39

Chương 2THỰC TRẠNG THAM VẤN NGƯỜI DÂN TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM

THỰC HIỆN 40 2.1 Thực trạng tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật đất đai năm 2013 40

2.1.1 Nội dung các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 40

2.1.1.1 Nội dung quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 40 2.1.1.2 Nội dung quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 43

2.1.2 Bình luận nội dung các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 47

2.1.2.1 Những thành công 47 2.1.2.2.Những khuyết điểm, hạn chế 49

2.2 Các giải pháp bảo đảm thực thi các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 53

2.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng các giải pháp đảm bảo thực thi các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 53 2.2.2 Định hướng của việc xây dựng các giải pháp bảo đảm thực thi các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 54 2.2.3 Một số giải pháp đảm bảo thực thi các quy định của Luật đất đai năm

2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai 55

KẾT LUẬN 58 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tích cực vận động Nhân dân tham gia vào các hoạt động quản lý Nhà nước là một trong những quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Quan điểm này được ghi nhận tại Điều 28, Hiến Pháp năm 2013:

“ 1 Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước

2 Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”

Như vậy, tham vấn người dân là một trong những phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động người dân tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước Tuy nhiên, tham vấn người dân như thế nào, tham vấn bằng cách thức, trình

tự cụ thể ra sao để khuyến khích đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp ý kiến và đạt hiệu quả; tránh việc lợi dụng tham vấn để lôi kéo, kích động Nhân dân, gây rối làm mất ổn định chính trị - xã hội lại là một vấn đề không hề đơn giản

Để điều chỉnh việc tham vấn Nhân dân theo đúng quỹ đạo quản lý của Nhà nước; tránh việc lợi dụng tham vấn nhằm mục đích gây rối hoặc tham vấn mang tính hình

thức v.v thì các quy định của pháp luật về tham vấn được ban hành

Xét trong lĩnh vực đất đai, ở nước ta, đất đai được quản lý và sử dụng dựa trên bản chất dân chủ, Nhân dân của Nhà nước ta (tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân) thông qua việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước được pháp luật trao quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thực hiện quyền đại diện này thông qua các phương thức như quyết định quy hoạch; kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất; quyết định giá đất và chính sách tài chính về đất đai; trao quyền sử dụng cho người sử dụng đất v.v Dẫu vậy, do tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường cộng với sự thiếu công tâm, vì lợi ích nhóm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức Nhà

Trang 7

nước, viên chức Nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý đất đai nên trên thực tế, việc thực thi pháp luật đất đai (đặc biệt là các quy định liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân như quy định về giao đất, cho thuê đất; thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là GCNQSDĐ) v.v) đã phát sinh tham nhũng, tiêu cực, thiếu công khai, minh bạch, không công bằng và mất dân chủ Hậu quả làm suy giảm lòng tin của người dân vào sự quản lý của Nhà nước, phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, kéo dài, phức tạp tiềm

ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội Song, thực tiễn thi hành pháp luật đất đai cũng cho thấy địa phương nào chú trọng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tạo sự đồng thuận của người dân trong quản lý đất đai thì đất đai lại không phải là vấn đề phức tạp; thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không trở thành việc quá khó khăn, vướng mắc mà thành phố Đà Nẵng là một ví dụ điển hình Ở một khía cạnh khác, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nước ta đang phấn đấu xây dựng một nền quản trị đất đai hiện đại và hiệu quả nhằm phát huy vai trò của đất đai là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước Đây không chỉ thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập các tổ chức quốc tế, các định chế quốc tế về tài chính -thương mại lớn của thế giới và khu vực mà còn là điều kiện khuyến khích, thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư nước ngoài Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá một nền quản trị đất đai hiện đại là vấn đề thực thi có hiệu quả việc tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai Luật Đất Đai năm 2013 ra đời có những sửa đổi, bổ sung nhằm hướng tới một nền quản trị đất đai hiện đại mà một trong những sửa đổi, bổ sung đó là quy định về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai Để

góp phần tìm hiểu Luật Đất Đai năm 2013, em lựa chọn đề tài : “ Tham vấn người

dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật Đất Đai năm 2013” làm luận văn Thạc sĩ Luật

học Đây là cách thức hữu ích hưởng ứng quá trình thi thành Luật Đất Đai năm

2013 ở nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Tham vấn nói chung và tham vấn người dân nói riêng trong lĩnh vực đất đai không phải là vấn đề mới Tuy nhiên, tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật đất Đai năm 2013 thì dường như chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu

Trang 8

tương xứng của giới nghiên cứu Luật học ở nước ta Có không nhiều những công trình về đề tài này đã được công bố Liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn nghiên cứu có bài viết của tác giả PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến và ThS Lưu Thiên Hương gửi đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập Pháp Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố trong thời gian qua về tham vấn người dân nói chung và tham vấn người dân nói riêng trong lĩnh vực đất đai, luận văn đi sâu tìm hiểu tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật Đất Đai năm 2013 dưới góc độ lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu cơ bản của luận văn là tìm hiểu về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật Đất Đai năm 2013 và các giải pháp bảo đảm thực hiện trên hai phương diện lý luận và thực tiễn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luân văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu và bình luận về nội dung các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm thực thi có hiệu quả các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các nội dung cơ bản sau đây :

- Những quan điểm, trường phái lý thuyết về tham vấn người dân nói chung và tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai nói riêng

Trang 9

- Nội dung các quy định của Luật đất đai năm 2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai

- Thực tiễn tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học ,luận văn giới hạn phạm

vi nghiên cứu ở các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai; khu trú vào hai nội dung cơ

bản: Một là, các quy định về tham vấn người dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Hai là, tham vấn người dân trong lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư khi Nhà nước thu hồi đất

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

i) Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, v.v được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai ii) Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh luật học, phương pháp quy nạp, phương pháp đánh giá mặt mạnh, mặt yếu (phương pháp SWOT), phương pháp tổng hợp, v.v được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật đất đai năm 2013 và các giải pháp bảo đảm thực hiện

6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn

Bản luận văn này được nghiên cứu thành công sẽ có một số đóng góp chủ yếu sau đây:

- Tập hợp, hệ thống hóa, phân tích và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về tham vấn người dân nói chung và tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai nói riêng ở nước ta

Trang 10

- Nghiên cứu tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai dựa trên việc phân tích, bình luận các quy định của Luật đất đai năm 2013 về vấn đề này

- Lý giải sự cần thiết và đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực thi Luật đất đai năm

2013 về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 02 Chương:

Chương 1 : Một số vấn đề lý luận về tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai Chương 2: Thực trạng tham vấn người dân trong lĩnh vực đất đai theo Luật đất đai

năm 2013 và các giải pháp bảo đảm thực hiện

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM VẤN NGƯỜI DÂN TRONG

LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1.1.Khái quát về tham vấn người dân

1.1.1 Cơ sở của việc tham vấn người dân

1.1.1.1 Cơ sở lý luận

Ở nhiều nước trên thế giới, đối với nhiều dự luật, pháp luật các nước đòi hỏi

cơ quan soạn thảo phải đưa ra tham vấn công chúng (public consultation) Quyền của công chúng tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, chính sách được quy định ở mức cao nhất trong hệ thống pháp luật, kể cả trong Hiến pháp

Ở Thái Lan, Hiến pháp năm 1997 quy định: “Công dân có quyền tham gia

vào quá trình hoạch định và xây dựng chính sách của Nhà nước, vào việc thực thi các hoạt động hành chính có thể ảnh hưởng đến quyền và tự do của công dân đó được pháp luật bảo đảm”.Ở Mỹ, cơ quan ban hành văn bản pháp luật phải lấy ý

kiến công chúng Công báo (Federal Register) là công cụ đăng tải các luật, dự thảo luật của các cơ quan liên bang, các văn bản của hành pháp, được cập nhật vào 6 giờ chiều hằng ngày, phát từ thứ hai đến thứ sáu Còn Regulation.com là diễn đàn trên mạng để công chúng tham gia đóng góp ý kiến về các dự thảo luật đã được đăng công khai trên Federal Register Trong một số trường hợp, bên cơ quan Chính phủ phải tổ chức những buổi gặp mặt công chúng, trực tiếp đưa chứng cứ, trình bày lý

lẽ, nghe và giải đáp thắc mắc Theo Luật về thỏa ước trong khi ban hành văn bản pháp quy, cơ quan Chính phủ khi ban hành văn bản cũng phải đạt được thỏa thuận với các bên có liên quan thông qua một ủy ban điều đình do các bên liên quan cử ra

Ở Canada, nguyên tắc xây dựng pháp luật là phải lấy ý kiến công chúng; để công chúng có cơ hội tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật; các đối tượng chịu

sự tác động của dự thảo có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo cung cấp thông tin cơ bản của dự thảo luật Công báo Canada (Canada Gazette) là công báo chính thức của Chính phủ Canada từ năm 1841, công cụ tham vấn giữa Chính phủ và người dân, công cụ cho phép người dân tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật Nội dung đăng tải gồm dự thảo cuối cùng của luật để lấy ý kiến công chúng,

Trang 12

các nhóm đối tượng có liên quan và cá nhân có cơ hội được đọc và góp ý kiến về dự thảo tại giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng luật trước khi thông qua; các văn bản đã được ban hành; các thông báo chính thức, các bổ nhiệm chính thức Việc đăng tải các thông tin trên là bắt buộc theo quy định của Statutory Instrument Act

Còn ở Việt Nam, chúng ta hay kêu gọi đưa pháp luật vào cuộc sống, hay than phiền là luật chưa đi vào cuộc sống Tuy nhiên điều không kém phần quan trọng là theo chiều ngược lại là luật phải bắt nguồn từ cuộc sống; hỏi xem người dân, xã hội

có cần đến luật đó hay không, có nghĩa là cần phải đưa cuộc sống vào luật

Muốn như vậy, sự tham gia của nhân dân góp phần rất lớn trong việc nhận ra các vấn đề trong xã hội, tạo cơ sở để phân tích chính sách trước khi xây dựng văn bản pháp luật Những người chịu tác động của một quyết sách sắp ban hành cần có

cơ hội khả thi tối đa để đóng góp ý kiến hoặc tham gia vào quá trình gia quyết định

Sự tham gia này cũng chứng tỏ quyền được nghe và quyền yêu cầu cơ quan nhà nước phải công khai và có trách nhiệm Công chúng hiểu rõ, họ cần cái gì, nên có thể mách bảo nhiều giải pháp tốt mà các chuyên gia cũng không ngờ tới Một nguyên nhân nữa để thu hút sự tham gia của công chúng là: khi được tham gia, công chúng thực sự thấy mình là một thành viên trong quá trình đó, có vai trò tích cực trong đó, nên các quyết định sẽ được tiếp nhận và ủng hộ nhiều hơn, tránh được những vướng mắc sau này trong khi thực thi

Tóm lại, việc tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách,

pháp luật dựa trên những cơ sở chủ yếu sau đây:

Một là, xuất phát từ bản chất dân chủ, nhân dân của Nhà nước ta; theo đó

“mọi quyền lực thuộc về Nhân dân” được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 Do

đó, người dân tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình quản lý của Nhà nước là biểu hiện sinh động của nguyên tắc này

Hai là, hiện nay trên thế giới, quá trình dân chủ hóa được thực hiện một cách

rộng rãi với việc chuyển từ dân chủ đại diện (thông qua cơ quan đại diện, đại biểu của dân) sang dân chủ trực tiếp (người dân trực tiếp quyết định thông qua trưng cầu dân ý, bỏ phiếu trực tiếp) Nên việc tham vấn ý kiến của người dân là một hình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp

Trang 13

Ba là, người dân là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước, là đối tượng

chấp hành và thụ hưởng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật muốn đạt hiệu quả phải đạt được sự đồng thuận của xã hội Chỉ khi người dân được tôn trọng, được hỏi ý kiến, phản ánh tâm tư nguyện vọng và Nhà nước tiếp thu, chuyển hóa vào nội dung, chính sách, pháp luật thì họ mới tự giác chấp hành

1.1.1.2 Cơ sở pháp lý

Tham vấn người dân được thực hiện dựa trên những cơ sở pháp lý chủ yếu sau:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013: Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy

định: “1 Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các quyền con người,

quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Điều 25 Hiến pháp khẳng

định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội

họp, lập hội, biểu tình”; qua đó nhấn mạnh quyền tiếp cận thông tin của nhân dân là

một quyền Hiến định và có ý nghĩa quan trọng “1 Công dân có quyền tham gia

quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước

về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước 2 Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quả lý nhà nước và xã hội; công khai minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28)

Thứ hai, Luật đất đai năm 2013: Điều 28 Luật đất đai 2013 quy định về trách

nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai khẳng định Nhà nước phải có trách nhiệm xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai Điều 43 Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể hóa về việc lấy ý kiến về quy hoạch; kế hoạch sử dụng đất; trong đó cơ quan có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến nhân dân thì phải có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến nhân dân vè quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Và điểm a khoản 2 Điều 69 về lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư quy định : “Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có

trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu

Trang 14

hồi, đồng thời niêm yết, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ

sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi”

Thứ ba, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008: Quyền của

người dân tham gia ý kiến và trách nhiệm của các cơ quan và đơn vị soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải thu thập, nghiên cứu và báo cáo về ý kiến của người dân đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật

Thứ tư, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân năm 2004: Luật này quy định về quyền góp ý kiến của các tổ chức

và cá nhân; về nghĩa vụ tham vấn của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân trong khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thứ năm, Nghị đinh số 79/2003/NĐ- CP về quy chế dân chủ: Nghị định này

quy định quyền tham gia của người dân ở các cấp huyện, xã với các công việc tại địa phương, bao gồm :

i) + Những công việc cần phải được thông báo

ii) + Những công việc cần phải đưa ra trao đổi trực tiếp

iii)+ Những công việc cần được tham gia đóng góp ý kiến

iv)+ Những công việc cần kiểm tra

Thứ sáu, Luật xây dựng năm 2014: Được Quốc Hội thông qua ngày 18 tháng

6 năm 2014 có quy định rất rõ tại Điều 15 về trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng theo đó cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng Về hính thức, thời gian lấy ý kiến phải tuân thủ theo quy định tại Điều 17 của Luật Theo đó, đại diện cộng đồng dân cư có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở

Thứ bảy, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009: Luật Quy hoạch đô thị năm 2009

do Chính Phủ ban hành quy định quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch đô thị Cụ thể, tại các Điều 20, 21, 53 và 54 có đề cập vấn đề tham gia đóng góp ý kiến của cộng đồng

Trang 15

dân cư trong quy hoạch đô thị bằng cách đưa ra yêu cầu “lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan đến nhiệm vụ và đồ án quy hoạch

đô thị” thông qua hình thức phát phiếu điều tra, phỏng vấn và quy định thời gian lấy

ý kiến là 15 ngày đối với cơ quan và 30 ngày đối với tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư

Thứ tám, Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007: Hệ thống chính

trị nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Trong đó, thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở là sự thể hiện quyền làm chủ trực tiếp của người dân Nhân dân tham gia trực tiếp đóng góp ý kiến vào các vấn đề sau: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế; Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã: Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch dân cư; Dự thảo đề án thành lập mới, nhập,chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã; Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

1.1.1.3 Cơ sở thực tiễn

Tham vấn công chúng đã được thực hiện ở Việt Nam từ những năm 1980 dưới hình thức lấy ý kiến nhân dân vào Hiến pháp và các dự án luật, pháp lệnh, những vấn đề có quan hệ tới lợi ích rộng rãi của người dân Tham vấn công chúng

đã được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, sửa đổi năm 2009 Tham vấn công chúng được thực hiện dựa trên những cơ sở thực tiễn sau:

Thứ nhất, trước hết, xuất phát từ nguyên tắc lý luận phải gắn liền với thực

tiễn, lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không có lý luận thì thực tiễn rời rạc Nói cách khác trong quá trình sửa đổi, ban hành các chính sách quản lí Nhà nước về đất đai thì các chính sách, pháp luật phải bắt nguồn từ cuộc sống, có như vậy pháp luật mới phù hợp với thực tiễn, là khung pháp lý vững chắc điều chỉnh thực tiễn Điều đó có nghĩa là theo chiều ngược lại phải đưa cuộc sống

Trang 16

vào ngay quá trình hoạch định và ban hành chính sách, pháp luật Và một trong những kênh để cuộc sống vào chính sách, pháp luật là “ tham vấn người dân” trước khi ban hành những quyết định, chính sách đó

Thứ hai, xuất phát từ tư tưởng “lấy dân làm gốc”, nhân dân là động lực của

cách mạng, là thành phần quan trọng nhất làm nên chiến thắng lịch sử trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc Tư tưởng của Hồ

Chí Minh về vấn đề tham vấn cộng đồng cũng đã được khẳng định rõ : “Có việc gì

thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nhiều người theo hơn thì được Ấy là dân chủ” “ Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra” ; “ Đưa mọi vấn đề cho dân chúng bàn luận và tìm cách giải quyết” ;“ Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không phù hợp thì để họ đề nghị sửa chữa Dựa và ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ, tổ chức ta”.[11, tr.60].Vai

trò to lớn của quần chúng nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hiển nhiên, không thể chối cãi Mọi thành quả cách mạng mà chúng ta giành được,

là do mồ hôi, xương máu và nước mắt của nhân; không có nhân dân thì cách mạng không thể thành công Do đó, nhân dân hoàn toàn có quyền được tham gia, bàn bạc, được đóng góp ý kiến vào các công việc của chính quyền Đó là quyền hiển nhiên

và không thể chối cãi

Thứ ba, xuất phát từ quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân; Nhà nước là

đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Nói cách khác, chủ sở hữu đích thực về đất đai là toàn thể nhân dân Việt Nam Họ có những quyền năng của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đất đai trong phạm vi mà pháp luật cho phép Tuy nhiên, để quản lý đất đai một cách thống nhất, có quy hoạch, kế hoạch rõ ràng nhân dân trao quyền cho Nhà nước để thay mặt mình thực hiện các quyền năng đối với đất đai Theo quy định tại khoản 3, Điều 144 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì người đại diện chỉ được thực hiện các công việc trong phạm vi đại diện Trong trường hợp vượt quá phạm vi đại diện thì phải có sự đồng ý của người được đại diện Nói cách khác với tư cách là người đại diện của chủ sở hữu toàn dân, Nhà nước chỉ được thực hiện các công việc trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ được đại diện và chịu sự giám sát của nhân dân Do đó, mọi chính sách mà Nhà nước ban

Trang 17

hành nhằm thực hiện hoạt động quản lý phải có sự tham gia, đóng góp ý kiến của nhân dân Ý kiến của nhân dân cần được các cơ quan Nhà nước tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu và có trách nhiệm giải trình khi không tiếp thu

1.1.2.Khái niệm tham vấn người dân

1.1.2.1.Quan niệm về tham vấn người dân

Trước khi giải mã nội hàm khái niệm tham vấn người dân, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là tham vấn Tham vấn là từ Hán – Việt, hàm ý hỏi để tham khảo một vấn đề nào đó

- Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2008 định nghĩa:

“tham” là dự vào; xen vào, chen vào; “vấn” là hỏi

- Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học năm 2010, tham vấn là hỏi ý kiến

để tham khảo, thường là về vấn đề quan trọng

- Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học năm 2010 cũng định nghĩa, tham vấn là hỏi để tham khảo, thường là vấn đề về chuyên môn Theo nghĩa này, tham vấn đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo đó, trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách, các cơ quan dân cử và chính quyền cần phải hỏi ý kiến công chúng để có cơ sở quyết định [16, tr.60]

“Người dân” ý muốn chỉ tới một cá nhân hay một cộng đồng người dân cụ thể,

được hiểu là bất kỳ bên nào có quyền lợi bị ảnh hưởng hoặc liên quan đến quyết định sẽ được đưa ra và không phải là bên ra quyết định, bao gồm : người hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp, người chịu thiệt hại trực tiếp, gián tiếp; người quản lý, thực hiện (nhà chức trách cùng cấp, thậm chí cấp trên); người bảo vệ (các hội); người có vai trò hỗ trợ (doanh nghiệp); người am hiểu sâu (chuyên gia; các cán bộ chuyên môn); người “vô can” về quyền lợi hoặc thiệt hại

Theo tài liệu Hướng dẫn tham vấn công chúng của Hội đồng nhân dân của Dự

án Tăng cường năng lực của các cơ quan dân cử ở Việt Nam thì tham vấn người dân(cộng đồng) được hiểu là hành động có chủ đích của chính quyền nhằm thông báo, hỏi và lắng nghe, thảo luận với những người chịu ảnh hưởng bởi một quyết định, một giải pháp nào đó hoặc những người có liên quan, có quan tâm đến chính sách, giải pháp sắp được ban hành hoặc đã được ban hành Thông qua đó, các nhóm người trong xã hội có cơ hội để bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, tạo điều kiện để

Trang 18

người ra quyết định có cơ sở xem xét và cân nhắc trước khi quyết định ban hành hoặc sửa đổi chính sách [12, tr.60]

1.1.2.2 Đặc điểm của tham vấn người dân

Tham vấn được coi là một hoạt động thường xuyên của cơ quan dân cử và đại biểu dân cử Do đó, tham vấn người dân mang một số đặc điểm sau:

- Đối tượng tham vấn: Là bất kỳ bên nào có quyền lợi chịu ảnh hưởng hoặc liên

quan đến quyết định sẽ được đưa ra và không phải là bên ra quyết định Đó là những người chịu tác động trực tiếp và gián tiếp từ quyết sách đã hoặc có thể sẽ được đưa ra; những người hưởng lợi trực tiếp và những người có quyền, lợi ích liên quan; những người bảo vệ quyền lợi và những người am hiểu sâu về lĩnh vực đó; những người cung cấp dịch vụ có liên quan; những người chịu trách nhiệm pháp lý, thực hiện chính sách đó

- Nội dung tham vấn bao gồm: Các vấn đề lợi ích của các nhóm đối tượng nói

trên; các vấn đề chính sách chung; các nhóm nội dung lớn liên quan đến các chính sách trong các dự thảo, các vấn đề chuyên môn sâu Cũng có thể phân loại các nội dung tham vấn thành các loại vấn đề về hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp

- Hình thức tham vấn: Rất đa dạng Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật

năm 2008 chỉ quy định một số hình thức lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật, pháp lệnh Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan dân cử trong những năm gần đây, có thể thấy tham vấn được thực hiện bằng một số hình thức như: Lồng ghép tham vấn vào một số hoạt động giữ mối liên hệ với cử tri; các hội nghị tham vấn trên địa bàn rộng; thảo luận nhóm nhỏ theo trọng tâm; họp các hộ dân thuộc một khu dân cư; khảo sát thực địa, thị sát; phỏng vấn sâu từng cá nhân; tiếp nhận ý kiến qua báo chí, internet, các phương tiện liên lạc khác; hội thảo, tọa đàm với các nhóm đối tượng hẹp như các chuyên gia, các nhà khoa học, điều tra dư luận

xã hội

1.1.3 Mục đích, ý nghĩa của việc tham vấn người dân

Một văn bản pháp luật được ban hành bao giờ cũng tác động đến quyền và lợi ích của một hoặc một nhóm đối tượng nhất định Thực tế cho thấy, nếu văn bản pháp luật không phù hợp với thực tiễn sẽ dẫn tới những khó khăn trong quá trình thực thi, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan chủ trì soạn thảo và ban hành văn

Trang 19

bản Để hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ quy trình rất chặt chẽ, trong đó có quy trình tham vấn người dân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản

Thực tế chứng minh rằng văn bản pháp luật có thể không phù hợp với lợi ích của một nhóm đối tượng Do đó, quy trình lấy ý kiến của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là cơ hội tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm với cộng đồng , xã hội Từ đó, tránh được những phản ứng tiêu cực của người dân khi lợi ích của họ bị ảnh hưởng Việc lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng là một hình thức tuyên truyền mang tính tích cực, chủ động để người dân nghiên cứu, thảo luận, tập dần thói quen tham gia quản lý nhà nước và xã hội, chọn ý kiến hay, tiếp cận trước một bước với văn bản pháp luật, tao điều kiện thuận lợi để văn bản đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành

Việc tham gia đóng góp ý kiến của người dân không chỉ là sự thể hiện quyền làm chủ của họ mà còn là yêu cầu công khai, minh bạch trong việc thực hiện các cam kết quốc tế Thông qua việc lấy ý kiến của người dân, người hoạch định chính sách

sẽ có thông tin xác thực để đưa ra những quy định phù hợp với điều kiện xã hội Từ

đó, văn bản pháp luật sẽ có tính khả thi cao, bảo đảm tuân thủ các cam kết quốc tế

mà Việt Nam là thành viên, tránh được các tranh chấp và kiện tụng quốc tế

Mục đích của việc tham vấn không phải nhằm thu nhận được đa số sự đồng thuận

mà chủ yếu là thu nhập các ý kiến trái chiều, các quan điểm, cách thức, giải pháp được góp ý để làm cơ sở nghiên cứu, củng cố về mặt lý luận và thực tiễn cho nội dung chính sách pháp luật được đưa ra cũng như các phương án kỹ thuật giải quyết vấn đề sẽ được quy định trong văn bản Chính vì vậy, nhiều trường hợp có những quan điểm thuộc thiểu số nhưng vẫn được ghi nhận để trình lên cơ quan có thẩm quyền xem xét

Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới cho thấy, việc tham vấn ý kiến người dân có ý nghĩa và tầm quan trọng như sau:

Thứ nhất, hoạt động tham vấn phát huy dân chủ, phát huy tính tích cực chính trị

trong việc tham gia công việc nhà nước của người dân và điều này đã được Hiến pháp năm 2013 quy định

Trang 20

Thứ hai, tham vấn là nguồn thu thập thông tin kiểm chứng, bổ khuyết việc thiết

kế chính sách, giám sát việc thực thi chính sách ở các giai đoạn

Thứ ba, tham vấn tạo ra nguồn thông tin hữu ích cho hoạt động xây dựng chính

sách và pháp luật

Thứ tư, tham vấn tạo điều kiện cho các cơ quan xây dựng pháp luật cũng như các

cơ quan hữu quan khác xây dựng mối quan hệ hợp tác ngay từ lúc xây dựng chính sách

Thứ năm, tham vấn giúp cho việc lựa chọn chính sách, quyết định ban hành chính

sách được minh bạch hơn; giảm đáng kể và xóa bỏ các “cú sốc” đối với thị trường gây ra bởi những quy định và quyết định bất ngờ của Nhà nước

Thứ sáu, tham vấn sẽ làm cho chính quyền quan tâm hơn đến nhu cầu, lợi ích

cũng như suy nghĩ của người dân

Thứ bảy, tham vấn để đảm bảo tính tuân thủ các quy định pháp luật và các cam

kết từ phía Nhà nước

Bên cạnh đó, tham vấn cũng chính là để thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới ( WTO) của Việt Nam

1.1.4 Hình thức tham vấn người dân

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định một số hình thức lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật, pháp lệnh Cụ thể tại khoản 2 Điều 35:

“Việc lấy ý kiến có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo để góp ý, tổ

chức hội thảo, thông qua Trang thông tin điện tử của Chính phủ, của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng” Tuy nhiên, từ

hoạt động thực tiễn của các cơ quan dân cử trong những năm gần đây, có thể thấy tham vấn người dân thường được thể hiện bằng một số hình thức sau:

Thứ nhất, tổ chức Hội nghị tham vấn lấy ý kiến người dân tại địa bàn rộng

Việc tham vấn người dân dưới hình thức Hội nghị về một số nội dung chính sách quan trọng là một cách làm ngày càng phổ biến của Hội đồng nhân dân các cấp và được thực hiện dưới nhiều hình thức, quy mô và với các nhóm đối tượng khác nhau; trước hết là những tập thể, cá nhân chịu tác động trực tiếp của chính sách; những cơ quan; đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện và các bên liên quan khác

Trang 21

Việc tổ chức hội nghị tham vấn lấy ý kiến có thể tổ chức theo địa bàn dân cư rộng

ở huyện hoặc liên xã Địa điểm cần ưu tiên cho người dân tiện đi lại, không gây cảm giác xa cách Nếu kết hợp với việc khảo sát nhiều hội nghị sát nhau, cần chọn các địa điểm nằm trên một lộ trình hợp lý, tiết kiệm

Thành phần chủ yếu và các bên liên quan tham dự bao gồm người dân, đại diện chính quyền cơ sở; các ngành chức năng, các doanh nghiệp có liên quan đến lĩnh vực đất đai; đơn vị tư vấn và chuyên gia am hiểu sâu về lĩnh vực đất đai sẽ cùng nhau thảo luận các vấn đề trong Hội nghị

Phương án tốt nhất là chủ trì Hội nghị nên gồm Thường trực Hội đồng nhân dân cùng với đại diện các Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra chương trình, dự án hoặc Tổ trưởng tổ đại biểu của Hội đồng nhân dân tỉnh

Chương trình Hội nghị gồm ba phần : Giới thiệu các nội dung cần hỏi ý kiến; điều hành thảo luận lần lượt các nội dung; kết thúc Hội nghị

Thứ hai, thảo luận nhóm theo trọng tâm

Trong các Hội nghị tham vấn theo địa bàn rộng, có nhiều nhóm khác nhau tham dự Đối với những nội dung mà các nhóm đó có cùng mối quan tâm, hiểu biết; Hội đồng nhân dân hỏi chung Nhưng đối với các nội dung mà các nhóm có sự hiểu biết khác nhau thì nên chia tách các nhóm để thảo luận trọng tâm vấn đề Cách thức này sẽ mang lại hiệu quả nhanh hơn và thực tế hơn

Thứ ba,họp các hộ dân tại một khu dân cư

Đây là cách thức tham vấn theo phạm vi hẹp, gồm những người dân cùng sống trong thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư

Khác với việc tổ chức Hội nghị tham vấn, cách thức tham vấn này chỉ cần mời đại diện các hộ dân sống trong cùng nơi cư trú góp ý kiến mà không cần lập danh sách các đối tượng cần mời Do quy mô hẹp, có thể chọn thời gian buổi tối để thuận tiện cho người tham dự

Để cuộc họp dân thu kết quả tốt, quy mô họp các hộ dân chỉ nên có trên 40 người mỗi cuộc họp, phù hợp với sức chứa của phần lớn hội trường, nhà văn hóa ở thôn, xã, tổ dân phố

Việc họp dân nơi cư trú có thể do Mặt trận Tổ Quốc phối hợp với Hội đồng nhân dân cùng cấp chuẩn bị và thực hiện nhằm tăng cường mối liên hệ đoàn kết với

Trang 22

nhau Cần đề cao vai trò của tổ đại biểu và từng đại biểu trong việc chủ động đưa vào chương trình hoạt động của mình một số cuộc tiếp dân nơi cư trú nhằm tăng cường, duy trì mối quan hệ thường xuyên với cử tri Tất cả đại biểu nên tham gia đối thoại Có thể thông báo nhắc nhở nhiều lần bằng loa máy hay qua hệ thống truyền thanh để huy động cao nhất số hộ tham dự

Thứ tư, khảo sát thực địa

Hình thức này giúp Hội đồng nhân dân nắm bắt, nhận dạng trực tiếp vấn đề, thu thập thông tin được về thực tế, bước đầu tạo cơ sở cho việc đáng giá tình hình Hội đồng nhân dân tìm và thu thập những chứng cứ, nhân chứng liên quan trực tiệp tới vấn đề cần khảo sát Khảo sát trực tiếp thu được những thông tin hữu ích và kịp thời bằng cách quan sát công việc hoặc đời sống của người dân hoặc nhóm đối tượng khác Cần tổ chức ghi âm, ghi hình, chụp ảnh và ghi biên bản cuộc khảo sát

Sau khi chọn đúng vấn đề khảo sát cần làm tốt công tác chuẩn bị để tiến hành cuộc khảo sát, cụ thể là : Thu thập thông tin bổ sung thông qua việc nghiên cứu ý kiến mới nhất của cơ quan điều hành; qua bảng tổng hợp các ý kiến trái chiều về vấn đề đang được xem xét Từ đó xác định rõ thời gian, địa điểm khảo sát, cơ cấu

và thành phần để ra quyết định thành lập đoàn khảo sát; lên danh sách những đối tượng cần bố trí làm việc để thu thập cứ liệu, triển khai công tác truyền thông để các thành viên trong đoàn và các đơn vị phối hợp nắm rõ kế hoạch hoạt động, chi tiết và chuẩn bị tốt hậu cần, phương tiện phục vụ

Thực hiện kế hoạch khảo sát thực địa, làm việc với các ngành chức năng, với chính quyền sở tại; với những đối tượng chịu sự tác động của công trình, dự án, đơn

vị tư vấn và đi đến hiện trường để xem xét cụ thể Mỗi một hoạt động cần có biên bản ghi chép đầy đủ, những cứ liệu cần được ghi âm, ghi hình hoặc chụp ảnh

Họp đoàn khảo sát để thống nhất, nhận định, đánh giá thông qua kết luận và kiến nghị Kết quả khảo sát thực địa sẽ được sử dụng để có kiến nghị với Uỷ ban nhân dân và các ngành chức năng; là căn cứ để cơ quan và đại biểu dân cử bày tỏ chính kiến tại các phiên họp, kỳ họp

Nên đưa các cuộc khảo sát thực địa độc lập vào chương trình giám sát chuyên đề để tập trung nguồn lực, tiếp kiệm thời gian, chi phí hoạt động của cơ quan dân cử Cần thu thập những cứ liệu có giá trị, có sức thuyết phục cao là điều

Trang 23

kiện tiên quyết đối với hình thức tham vấn này Ngoài ra, cần sử dụng tư vấn chuyên gia khi cuộc khảo sát đồi hỏi phải tiếp cận những vấn đề mới mẻ, phức tạp đồi hỏi trình độ chuyên môn cao

Thứ năm, phỏng vấn sâu cá nhân

Đây là hình thức phỏng vấn trực tiếp cá nhân có liên quan sau khi thấy cần trao đổi thêm về một số ý kiến đã được góp ý tại các cuộc tiếp dân, họp dân nơi cứ trú; khảo sát Nếu thấy có một số vấn đề quan trọng chưa được làm sáng tỏ thì cơ quan và đại biểu dân cử có thể lựa chọn hình thức này nhằm tham vấn ý kiến rõ hơn

Người phỏng vấn nên lựa chọn kỹ một số câu hỏi hướng tới chủ đề nhằm chủ động dẫn dắt người đối thoại đi vào đúng trọng tâm Thu xếp nơi phỏng vấn nhằm tạo thuận lợi, an toàn cho người trả lời phỏng vấn, tạo cảm giác an tâm, đảm bảo không có sự chen ngang của người khác; của hoạt động khác, trừ khi có sự đồng thuận trước của người được phỏng vấn Nếu việc phỏng vấn xảy ra ở nơi công cộng thì đại biểu phải yêu cầu cán bộ giúp việc tìm một vị trí thuận lợi, có khoảng cách với đám đông để thực hiện hình thức tham vấn này

Cố gắng tạo không khí thuận tiện, tôn trọng lẫn nhau từ cuộc gặp để thúc đẩy cuộc đối thoại đi tới thành công Cần nói ngay từ đầu về việc danh tính của người trả lời sẽ được giữ kín nhằm khuyến khích họ mạnh dạn nói Phải tôn trọng quan điểm riêng của người đối thoại Không vội vàng bày tỏ chính kiến cá nhân hoặc quan điểm của cơ quan dân cử; không bình luận tốt xấu về những dẫn chứng mà người dân nêu ra

Việc thu thập thông tin đôi khi đòi hỏi những phương tiện kỹ thuật ghi âm, ghi hình nhưng phải được sự đồng thuận của người đối thoại; rèn luyện kỹ năng viết tốc ký để kịp ghi nhận hết thông tin đặc biệt khi không có cán bộ giúp việc cùng tham dự Các yêu cầu bảo mật về nguồn cung cấp thông tin cần được đáp ứng Việc sử dụng thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu cần được cân nhắc kỹ lưỡng vì không phải mọi việc đều có thể công khai hóa

Thứ sáu, tiếp nhận ý kiến qua báo chí, internet, các phương tiện đại chúng

Đây là cách thức tham vấn bị động thông qua việc nêu yêu cầu và tiếp nhận thông tin phản hồi bằng đơn, thư, qua báo chí, qua mạng thông tin điện tử, fax Cơ

Trang 24

quan và đại biểu dân cử có thể huy động thêm sức đóng góp của những người không có điều kiện tham gia các buổi tham vấn trực tiếp

Cách làm đối với việc tiếp nhận ý kiến qua bảo chí, internet, các phương tiện đại chúng như sau: Phải soạn thảo các thông báo về nội dung tham vấn, cho đăng tải lên báo chí hoặc trang web của Hội đồng nhân dân; ghi rõ địa chỉ và cách thức tiếp thu ý kiến phản hồi hoặc qua trang thông tin điện tử này hoặc góp ý kiến qua đường bưu điện Cần phổ biến rõ chủ đề trọng tâm; phổ biến mục đích, yêu cầu tham vấn công chúng Nên công bố địa chỉ, số điện thoại, email có liên quan để người dân tự liên hệ góp ý

Thư góp ý của người dân sẽ được tập hợp và chuyển giao cho bộ phận xử lý

ý kiến tham vấn để yêu cầu đối tượng tham vấn bổ sung, làm rõ thông tin và tổng hợp, phản hồi cho người góp ý một cách thích hợp Đối với những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, kiểm chứng, những kiến nghị đối với cán bộ, công chức thuộc bộ máy chính quyền địa phương, ý kiến đóng góp cho những chương trình, dự án cụ thể và những đơn thư khiếu nại, tố cáo phải chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết và thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc xử lý Đối với những nguồn tin, những kiến nghị có giá trị cần tiếp tục đối thoại bằng các hình thức thích hợp để những vấn đề có tầm chính sách đều được phản ánh vào các quyết định của cơ quan dân cử hoặc kiến nghị lên cấp cao hơn nghiên cứu

Cần hệ thống hóa đơn thư và thông tin tiếp nhận được, phân công theo dõi việc giải quyết Quan tâm ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý thông tin kịp thời và đạt kết quả cao hơn Cần có mẫu phản hồi ngay và bày tỏ lòng cảm ơn đối với những đóng góp xây dựng của cử tri đối với hoạt động của cơ quan và đại biểu dân

cử Biểu thị thái độ khuyến khích việc tiếp tục đóng góp bằng đơn thư

Cơ quan dân cử có thể lập kế hoạch, xây dựng kịch bản, tổ chức các diễn đàn trên đài truyền hình, truyền thanh hoặc trên các báo cáo viết ở địa phương, phát hành kịp thời thông cáo báo chí nêu rõ nội dung, chính sách cần tham vấn; hoặc trả lời phỏng vấn của báo cáo để làm rõ mục đích, nội dung tham vấn và phản hồi ý kiến của người dân qua phương tiện thông tin được chọn

Thứ bảy,điều tra xã hội học

Trang 25

Đây là cách thức tham vấn thông qua phiếu điều tra hoặc trực tiếp phỏng vấn một số đối tượng liên quan được chọn theo mẫu về một chủ đề nhất định nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc đánh giá và ra quyết định

Các cuộc điều tra xã hội học thường trải qua ba giai đoạn chủ yếu: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực hiện; giai đoạn xử lý, phân tích thông tin, báo cáo kết quả

Người thực hiện phải có kiến thức nhất định về điều tra xã hội học Quan trọng nhất là xác định đúng đối tượng và nội dung cần điều tra, phương pháp phỏng vấn và chọn mẫu phù hợp, làm tốt công tác truyền thông về cuộc điều tra để tạo sự đồng thuận cao và thiết lập mối quan hệ tương tác giữa điều tra viên và người được phỏng vấn Đồng thời phải có đủ nguồn lực cần thiết bao gồm người thực hiện, người giám sát đủ thời gian và kinh phí để điều tra xã hội học

Thời gian tiến hành điều tra xã hội học thường khá dài nên không thể áp dụng cách này nhiều lần trong một năm, thậm chí trong một nhiệm kỳ Chỉ nên áp dụng cho những chương trình, dự án đặc biệt quan trọng; trên nhiều vùng lãnh thổ

và kéo dài nhiều năm

1.1.5 Đối tượng tham vấn và cơ quan tiến hành tham vấn

1.1.5.1.Đối tượng tham vấn

Trong thuật ngữ “tham vấn người dân”, thì “người dân” được hiểu là bất kỳ

bên nào có quyền lợi bị ảnh hưởng hoặc liên quan đến quyết định sẽ được đưa ra và không phải là bên ra quyết định, bao gồm: người hưởng lợi trực tiếp, gián tiếp; người chịu thiệt hại trực tiếp, gián tiếp; người quản lý, thực hiện (nhà chức trách cùng cấp,thậm chí cấp trên); người bảo vệ (các hội); người có vai trò hỗ trợ (doanh nghiệp); người am hiểu sâu (chuyên gia, cán bộ chuyên môn); người “vô can” về quyền lợi hoặc thiệt hại

Trong các cuộc tham vấn rộng rãi, tùy theo yêu cầu cụ thể, các địa phương

đã lựa chọn đối tượng đóng góp ý kiến Tiêu chí lựa chọn chủ yếu là những người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến nội dung của chính sách pháp luật mới và những chuyên gia, người có khả năng và điều kiện đóng góp ý kiến Cách này đi vào thực tế rất hiệu quả Tuy nhiên, để thêm nhiều người biết và góp ý, nên áp dụng các hình thức khác, có tính đa dạng hơn, trong đó có hình thức công bố rộng rãi dự

Trang 26

thảo pháp luật, chính sách trên phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết và góp ý kiến

1.1.5.2 Cơ quan tiến hành tham vấn

Bảo đảm sự tham gia của tổ chức, cá nhân trong xây dựng và thi hành pháp luật được xác định là một trong những nguyên tắc của xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là nhằm bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch trong việc hoạch định chính sách của

cơ quan nhà nước, đồng thời, bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình này Cũng nhờ sự góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà tính khả thi của văn bản cũng được đảm bảo

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa phương, đại diện cho ý chú, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân bầu

ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ và địa vị pháp lý cao nhất ở địa phương; Hội đồng nhân dân cùng cơ quan chấp hành của mình là Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm xây dựng chính sách cũng như quyết định mọi vấn đề ở địa phương trong phạm vi và thẩm quyền của mình, trong đó có hoạt động tham vấn lấy ý kiến người dân Cụ thể :

Theo quy định tại Điều 4, Điều 23 và Điều 37 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 thì việc tham vấn ý kiến đóng góp của người dân được ghi nhận như sau:

Thứ nhất,tham gia góp ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân:

“Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan, tổ chức khác và cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cơ quan hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ

Trang 27

quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản

Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cơ quan hữu quan phải tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và hình thức thích hợp

Cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến để chỉnh lý dự thảo văn bản.” (Điều 4)

Thứ hai, về lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh:

“Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan soạn

thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết

Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được sự thảo nghị quyết

Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết.” (Điều 23)

Thứ ba,về lấy ý kiến về dự thảo quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp

tỉnh:

“Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo, quyết định, chỉ thị,cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, chỉ thị

Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được dự thảo quyết định, chỉ thị Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, chỉ thị thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo quyết định chỉ thị.”(Điều 37)

1.1.6 Các nguyên tắc tham vấn người dân

Việc tham vấn người dân cần thực thiện theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:

Trang 28

Tuân thủ : Tham vấn phải tuân thủ các quy định của pháp luật Tham vấn có

thành công hay không thì trước tiên phải tuân thủ các quy định của pháp luật, dựa trên pháp luật để từ đó áp dụng pháp luật vào cuộc sống một cách linh hoạt

Minh bạch : Khi tiến hành tham vấn người dân các chủ thể tiến hành tham

vấn phải công khai những thông tin về mục đích của việc tham vấn và khuôn khổ, nội dung chính sách cần tham vấn Đồng thời, phải cung cấp thông tin phản hồi về việc tiếp thu các ý kiến góp ý

Liên tục : Việc tham vấn ý kiến người dân phải được tiến hành một cách liên

tục và phải bắt đầu ngay của quá trình phát triển chính sách

Chuyên nghiệp: Thực hiện đúng kế hoạch,nội dung tham vấn và kỹ thuật

tham vấn đã thống nhất Cần tham khảo đầy đủ các công cụ, kỹ thuật tham vấn, các phương pháp điều tra xã hội học và đánh giá có sự tham gia của người dân

Đúng, đủ đối tượng: Thu hút sự tham gia của các cấp chính quyền, các tổ

chức chính trị ở địa phương, của cộng đồng dân cư và người lãnh đạo Cần tổ chức tham vấn trên diện rộng Vì vậy, cần phải có các hình thức quảng bá rộng rãi để người dân hiểu và có thể tham gia vào quá trình tham vấn

Tôn trọng tính đa dạng : Cần tìm hiểu ý kiến người dân từ nhiều góc độ, bình

diện khác nhau, thậm chí có thể xung đột nhau Tuy vậy, không nên tránh né mà cần lắng nghe mọi ý kiến đóng góp Cần sử dụng ở mức độ, phạm vi đa dạng nhất những ý kiến đã thu nhận từ cơ quan, tổ chức, cá nhân

Đủ thời gian: Việc tham vấn phải được tiến hành khi các mục tiêu và các lựa

chọn chính sách đã được xác định rõ ràng Các đối tượng tham vấn ý kiến phải có

đủ thời gian để tìm hiểu và phản hồi

Phản hồi : Thực hiện cơ chế thông báo và phản hồi rõ ràng để người dân biết

thiện ý của việc tham vấn và những điều họ quan tâm sẽ được xem xét

Đồng lòng: Kết hợp giữa sự cam kết mạnh mẽ, việc vận dụng một cách linh

hoạt, phù hợp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với sự tham gia tích cực của người dân là yếu tố không thể thiếu đối với thành công của tham vấn Đến lượt mình, những công dân tích cực sẽ càng làm cho chính quyền năng động hơn, phản ứng nhạy hơn trước những vấn đề của cuộc sống

Trang 29

1.1.7 Quy trình tham vấn người dân

Hiệu quả của quy trình tham vấn phụ thuộc vào hai yếu tố :

i) Việc tham vấn: Nội dung, cách đặt vấn đề, mục đích tham vấn

ii) Cách thức tham vấn: Tùy theo cơ quan tham vấn là ai, có chức năng gì liên quan đến nội dung tham vấn mà cách thức tham vấn được thiết kế thích hợp

Quy trình tham vấn bao gồm năm giai đoạn như sau :Chuẩn bị tham vấn; thực hiện tham vấn; tổng hợp, xử lý phân tích thông tin; sử dụng kết quả tham vấn; phản hồi

+ Giai đoạn chuẩn bị tham vấn: Các chính sách, vấn đề của cuộc sống được đưa ra

tham vấn rất nhiều Dó đó, trước hết cần phải sắp xếp, ưu tiên lựa chọn chính sách

và xác định vấn đề trọng tâm cần tham vấn

Nội dung được lựa chọn để tiến hành tham vấn thường liên quan đến chính sách kinh tế - xã hội mà cơ quan có thẩm quyền tham vấn cần thẩm tra, giám sát, quyết định theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình

Việc chọn các nội dung đưa ra tham vấn thường dựa vào một số căn cứ sau: i) Phải phù hợp với thẩm quyền, quyết định của cơ quan tiến hành tham vấn ii) Nội dung tham vấn tác động trực tiếp đến lợi ích, đời sống của người dân iii ) Phù hợp với khả năng tổ chức, thực hiện

iv) Nội dung đặc thù của một số ngành, địa phương nhưng chưa được quan tâm đúng mức khi quyết định chính sách

v) Những chính sách mới cần có sự đóng góp ý kiến của người dân

Sau khi cơ quan có thẩm quyền tham vấn đã chọn nội dung cần tham vấn, bước tiếp theo cần xác định đúng và trúng các vấn đề trọng tâm thuộc nội dung đó Chỉ khi xác định các vấn đề này, việc thu thập, xử lý thông tin sau đó mới chính xác, đầy đủ, việc ban hành chính sách mới giải quyết được vấn đề đang tồn tại

Để ban hành chính sách, pháp luật thích hợp, trước hết cần nhận diện và xác định trúng vấn đề nhằm xác định có cần đến sự can thiệp của cơ quan ban hành chính sách cũng như để chữa bệnh thì phải biết bệnh, từ đó có cơ sở kiến nghị hoàn chỉnh hay bác bỏ hoàn toàn

Đặc biệt cần phải phân biệt bản chất vấn đề với hiện tượng của vấn đề Ví dụ:

khiếu kiện đông người về đất đai là một hiện tượng, nhưng vấn đề có thể nằm ở

Trang 30

pháp luật về đất đai, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham nhũng của chính quyền địa phương Do đó, nhiều khi vấn đề tưởng chừng hiển nhiên lộ diện trong sự kiện nhưng thực tế vấn đề đó lại nằm ở chỗ khác Nên trên thực tế, có vô số hiện trạng lo ngại của người dân nhưng chỉ có một phần nhỏ trong đó trở thành vấn đề cần giải quyết bằng chính sách, pháp luật

+ Giai đoạn thực hiện tham vấn: Trước hết phải lập kế hoạch tham vấn; đưa ra

những nội dung chủ yếu của kế hoạch tham vấn cũng như lựa chọn các hình thức tham vấn

Lập kế hoạch tham vấn là xây dựng các phương án chung và chi tiết cho tất

cả các hoạt động tham vấn với hình thức, nguồn lực, bước đi thích hợp

Nội dung cốt lõi của một bản kế hoạch tham vấn bao gồm: xác định chủ đề

và mục đích tham vấn, làm rõ danh sách đối tượng cần tham vấn; xác định cơ quan chủ trì thực hiện và lực lượng phối hợp; các hình thức tham vấn được lựa chọn; các bước tiến hành; hoạt động truyền thông để triển khai kế hoạch tham vấn; thời gian bắt đầu, kết thúc và các bước thực hiện; nguồn lực huy động phục vụ tham vấn, nhân lực, phương tiện, kinh phí, dự kiến kết quả đạt được Nội dung của giai đoạn này bao gồm các vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Chuẩn bị nội dung tham vấn

Là một trong những công việc chủ chốt khi lập kế hoạch Công việc này căn

cứ vào việc lựa chọn nội dung và xác định vấn đề cốt lõi Theo đó, bao gồm những bước sau:

Bước 1: Thu thập thông tin

Thu thập thông tin đầy đủ và hệ thống từ nhiều nguồn khác nhau như : Tài liệu sẵn có về nội dung cần tham vấn; thông tin từ báo chí; các cuộc gặp gỡ, trao đổi của đại biểu với đồng nghiệp hoạt động trong ngành, lĩnh vực cần tham vấn; các cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm do cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan có thẩm quyền tổ chức; các nhóm dân cư trong xã hội

Bước 2: Xác định nội dung tham vấn

Cơ quan tiến hành tham vấn cần xác định đâu là vấn đề trọng tâm Thông thường đó là những vấn đề chung liên quan đến sự cần thiết của việc ban hành văn bản; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của dự thảo, chính sách; ảnh hưởng, tác động

Trang 31

của dự thảo,chính sách đó đến các nhóm đối tượng điều chỉnh: ai được, ai mất, cụ thể thế nào; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp; đơn vị kinh tế, cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo, chính sách

Thứ hai, xác định đối tượng tham vấn

Từ thực tiễn hoạt động tham vấn, có thể nêu ra các nhóm đối tượng chủ yếu cần tham vấn như sau:

Một là, các nhóm dân cư nói chung, trong đó có thể phân chia thành người

dân ở khu vực nông thôn và thành thị, hoặc miền núi và đồng bằng

Hai là, những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách

Ba là, các cán bộ quản lý, chuyên gia, người làm công tác thực tiễn am hiểu

về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị quyết

Bốn là, thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã

hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp

Năm là, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh liên quan đến nội dung,

chính sách

Căn cứ vào nội dung tham vấn để xác định nhóm đối tượng tham vấn và ngược lại, căn cứ vào nhóm đối tượng tham vấn để tham vấn nội dung cho phù hợp với nhóm đối tượng đã được lựa chọn, cụ thể là:

i) Đối với người dân nói chung: Sẽ chú trọng hơn nếu chú trọng hỏi về

những vấn đề có tác động chung tới tất cả người dân

ii) Đối với người làm công tác thực tiễn: Là đối tượng chịu sự tác động trực

tiếp của dự thảo, chính sách thì sẽ hiệu quả hơn nếu tập trung tham vấn về phạm vi, đối tượng điều chỉnh của dự thảo, các vấn đề chuyên ngành của Nghị quyết

iii) Đối với chuyên gia nghiên cứu: Sẽ hiệu quả hơn nếu hỏi về phạm vi, đối

tượng điều chỉnh, những nội dung mang tính lý luận, học thuật để làm rõ căn cứ, lý

lẽ lập luận cho các quy định của Nghị quyết

iv) Đối với cán bộ quản lý: Sẽ hiệu quả hơn nếu hỏi về những nội dung vừa

liên quan đến thực tiễn, vừa liên quan đến khía cạnh của vấn đề, thực trạng thực thi, giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật mà dự thảo cần thể hiện

Trang 32

Thời điểm để tham vấn người dân thích hợp nhất là sau khi dự thảo đã được UBDN cho ý kiến và càng sớm càng tốt trước khi dự thảo Luật được trình HĐND Khi đó, các luồng ý kiến khác nhau về dự thảo đã được định hình rõ Do vậy, sẽ dễ dàng hơn cho HĐND trong việc phân loại các ý kiến về các vấn đề chủ yếu của dự thảo nghị quyết

Thứ ba, lựa chọn; sử dụng các hình thức tham vấn Cần xác định đúng các

hình thức tham vấn phù hợp trong khi lập kế hoạch tham vấn tổng thể

Việc tham vấn chủ yếu dựa trên kế hoạch đã được xây dựng và phê duyệt, nhưng có sự điều chỉnh khi cần thiết Trong khi tiến hành tham vấn phải chú ý một

số vấn đề sau: điều phối, phối hợp các hoạt động tham vấn; điều hành hội nghị; ghi chép thông tin trong khi tham vấn; công tác truyền thông

Việc điều phối, tổ chức phối hợp trong quá trình thực hiện kế hoạch tham vấn được thể hiện qua việc lựa chọn mô hình tổ chức chỉ đạo, điều hành, bố trí lực lượng đảm nhiệm các hoạt động tham vấn, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc trong phạm vi từng tổ chức và mối quan hệ với các lực lượng phối hợp

Kỹ năng điều hành hội nghị, các cuộc họp là kỹ năng không thể thiếu của Hội đồng nhân dân, từ kiểm tra công tác chuẩn bị, rà soát các thủ tục, phân công điều hành và các công tác phục vụ nhằm đảm bảo đạt mục đích, yêu cầu đề ra Để thực hiện tốt việc điều hành chủ tọa cần thực hiện tốt một số công việc sau :

Thứ nhất, nội quy: Cần làm rõ thời gian tối đa cho một lượt phát biểu, quy

định về việc phát biểu lần thứ hai và việc góp ý sau Hội nghị bằng đơn, thư, Internet; giữ gìn trật tự, quyền can thiệp của chủ tọa khi cần thiết

Thứ hai, là nguyên tắc điều hành: Cần truyền đạt thông tin ngắn gọn, dễ hiểu;

phần trình bày phải chiếm ít thời gian hơn để giành cho việc tiếp thu ý kiến phản hồi của các đối tượng được tham vấn Có thái độ lắng nghe tôn trọng, chân thành, cởi mở, thúc đẩy tương tác hai chiều Các thành viên trong bàn chủ tọa phải tham gia hỏi Không nhận xét đúng, sai về ý kiến vừa phát biểu; không gây căng thẳng, không bộc lộ chính kiến, áp đặt Không hứa sẽ giải quyết mọi kiến nghị Chủ động

xử lý các tình huống bất thường

Trang 33

Thứ ba, cuốn chiếu: Điều hành phương thức cuốn chiếu, dứt điểm từng nôi

dung một, khi thấy xuất hiện ý kiến trùng lặp mà hết thời gian giành cho một nội dung thì chủ động chuyển sang nội dung tiếp theo

Thứ tư, thúc đẩy sự trao đổi: Cần tóm tắt lại chủ đề tham vấn trước khi nghe

ý kiến phản hồi Thông báo trước tên người sẽ phát biểu tiếp theo để giữ nhịp điệu tham gia ý kiến của các đối tượng tham vấn Gợi ý để người phát biểu đi đúng những vấn đề tham vấn đã xác định, khéo léo nhắc nhở họ khi hiểu sai ý, đi lạc đề Đặt mình vào vị trí của người dân để xem có trả lời được không Động viên người dân mạnh dạn nói lên những suy nghĩ lâu nay về vấn đề tham vấn

Lắng nghe ý kiến là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình tham vấn để thu nhận được đầy đủ các ý kiến khác nhau về nội dung chính sách Góp phần đem lại thành công của hội nghị, cuộc khảo sát, phỏng vấn sâu

Việc ghi chép thông tin trong quá trình tham vấn phụ thuộc vào phương pháp thu thập dữ liệu (ví dụ như điền vào biểu, mẫuđể ghi lại các câu trả lời phỏng vấn, dùng băng ghi âm, máy quay, hoặc ghi chép biên bản theo nội dung )

Đối với mỗi loại thông tin, cần xác định rõ ghi chép thông tin đó như thế nào; cần thực hành trước khi tiến hành thu thập dữ liệu thực tế; luôn nhất quán về cách thức ghi chép dữ liệu Xem xét các yếu tố liên quan đến việc lưu trữ dữ liệu - nên lưu trữ ở đâu, lưu trữ như thế nào và ai là người chịu trách nhiệm

Tiến hành truyền thông trong quá trình tham vấn, có thể nói kỹ năng truyền thông là kỹ năng phổ biến, truyền đạt thông tin hai chiều giữa cơ quan và đại biểu dân cử với các đối tượng tham vấn và các bên liên quan trong quá trình triển khai các hoạt động tham vấn theo kế hoạch đã định

Nội dung truyền thông bao gồm các phần cụ thể như: Chủ trương, mục đích tham vấn; nội dung, chính sách và các vấn đề trọng tâm cần tham vấn; kế hoạch tóm tắt tiến hành tham vấn; địa chỉ tiếp nhận, thời hạn nhận và hình thức phản hồi ý kiến công chúng

Các hình thức thể hiện nội dung truyền thông có thể là một thông cáo báo chí, một văn bản viết lời lẽ ghi trong nội dung phải ngắn gọn, dễ hiểu, ngôn ngữ phải thích hợp với trình độ của đối tượng tham vấn, phù hợp với đặc điểm kinh tế -

xã hội, phong tục, tập quán nơi tiến hành tham vấn Cơ quan dân cử có thể chủ động

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w