1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003

79 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 671,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của Điều 9 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm 1978, Hội đồng Bộ trưởng thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau: - Lãnh đạo công tác của các Bộ, Ủy ban Nhà nước, Ủy ban n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM QUÝ TỴ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Hành chính- Nhà nước đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người hướng dẫn khoa học TS Phạm Quý Tỵ, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

AIR VIXAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày….tháng….năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

AIR VIXAY

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 6

1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 6

1.1.1 Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trước năm 1991 6

1.1.2 Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ năm 1991 đến nay 8

1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003 10

1.2.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003 10

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003 13

1.3 Chính phủ của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 23

1.3.1 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 23

1.3.2 Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 25

1.3.3 Chính phủ Nhật Bản 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO THEO HIẾN PHÁP NĂM 2003, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ

2.1 Thực trạng về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa

dân chủ nhân dân Lào 31

2.1.1 Thực trạng cơ cấu tổ chức của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 31

2.1.2 Thực trạng hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 40

2.2 Phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay 52

2.2.1 Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào 52

2.2.2 Giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào 57

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHDCND Lào : Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Đảng NDCM Lào : Đảng Nhân dân Cách mạng Lào

Hiến pháp năm 2003 : Hiến pháp năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2003)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước trong đó có Chính phủ của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng là vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp Điều

đó do bản chất của chính đối tượng quản lý nhà nước quy định Mặt khác, đời sống xã hội vô cùng đa dạng, phong phú và vận động phát triển không ngừng, đòi hỏi luôn phải có những các tiến, điều chỉnh các chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính và tổ chức bộ máy hành chính, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp cán bộ cho phù hợp Cũng như Việt Nam, Lào xuất phát điểm từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề và một thời kỳ dài duy trì cơ chế quản lý kế hoạch, tập chung bao cấp Trên nền tảng các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, những thành tựu trong đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước thời gian qua rất to lớn, đáng ghi nhận Song những khuyết điểm, tồn tịa của cơ chế cũ vẫn còn nhiều biểu hiện phức tạp đòi hỏi cần phải nỗ lực nghiên cứu khắc phục nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới đất nước của Lào hiện nay Thực tế cho thấy đời sống quốc tế,

sự vận động và phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường diễn ra vô cùng sinh động, sự vận động của hệ thống thiết chế và thể chế nhà nước thường chậm hơn sự phát triển của quá trình kinh tế - xã hội Chính vì vậy, theo mỗi bước phát triển của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước cần phải được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục

Chính phủ là cơ quan cao cấp nhất của hệ thống hành chính nhà nước thực thi chức năng thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên phạm vi toàn quốc, trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Trong giai đoạn hiện nay, cùng với cải cách kinh tế, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ giữ vai trò quan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong

bộ máy nhà nước nói chung, Chính phủ nói riêng nhằm xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, các vấn đề liên quan đến bộ máy hành chính nhà nước Lào nói chung và tổ chức - hoạt động của Chính phủ nói riêng vẫn là đề tài còn rất mới mẻ trong nghiên cứu khoa học nước Lào Trong thời gian vừa qua đã có một số công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Lào, nhưng chưa

có một công trình nào nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước CHDCND Lào theo Hiến pháp năm 2003 Một số đề tài nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính bao gồm:

- Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử: “Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh

đạo quá trình xây dựng bộ máy hành chính nhà nước (1975-1995)” của nghiên cứu

sinh – On Kẹo Phôm Ma Kon Đề tài nghiên cứu này đã được bảo vệ thành công tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) năm 2004

- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước Cộng hòa dân chủ

nhân dân Lào hiện nay” của Phatthana Souk Aloun, bảo vệ năm 2003

- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước Cộng hòa dân chủ

nhân dân Lào hiện nay” của NaLan Thammathava, bảo vệ năm 2003

- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Cải cách bộ máy của Chính phủ Cộng hòa dân chủ

nhân dân Lào”, của Kham Keng Lorberryao đề tài này đã được bảo vệ thành công tại

Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2013

Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí của Lào liên quan đến vấn

đề đổi mới, kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước như: “Nắm vững quan điểm của

Đảng trong công tác kiện toàn bộ máy tổ chức Chính phủ trong giai đoạn mới” của

BunNhăng VoLaChít (Tạp chí A-LunMay, tháng 11/1998); “Một số vấn đề về công

tác tổ chức bộ máy hành chính trong cơ chế thị trường” của On Kẹo PhômMa Kon

(Tạp chí KoSáng Phăk số 32 năm 2000); “Một số suy nghĩ về việc kiện toàn bộ máy

Chính phủ” của PhănKhăm ViPhaVân (Tạp chí A-LunMay tháng 04/2001); “Từng bước kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”

của dự án GPAR (UNDP) (Tạp chí hành chính năm 2004, 2005)

Dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp, trên cơ sở những đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay ở Lào, qua nghiên cứu tác giả thấy rằng việc đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nói chung và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của

Trang 9

Chính phủ là vấn đề rất bức thiết và có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của công cuộc đổi mới hệ thống chính trị và thể chế nhà nước, nhằm đáp ứng những yêu cầu cho

sự phát triển của Lào trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Chính phủ Lào) theo Hiến pháp năm 2003” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài

và hoạt động của Chính phủ Lào;

- Đánh giá mức độ hoàn thiện của các chế định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào; phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Chính phủ, và chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào; trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay của CHDCND Lào

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào như: các chức năng cơ bản và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Chính phủ Lào;

- Làm sáng tỏ quá trình phát triển của Chính phủ Lào, trình bày và phân tích nội dung các văn kiện của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về tổ chức

Trang 10

- Đưa ra những phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện tổ chức

và hoạt động của Chính phủ Lào trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xu hướng hội nhập quốc tế

- Nghiên cứu Chính phủ của các nước tiêu biểu như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản để đưa ra những kinh nghiệm mà Lào nên tham khảo học hỏi;

- Đánh giá thực trạng, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào hiện nay

- Về thời gian nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ khi

Hiến pháp năm 2003 của nước CHDCND Lào có hiệu lực thi hành cho đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Tác giả đã nghiên cứu giải quyết đề tài Luận văn dựa trên phương pháp luận Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng NDCM Lào về cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp lịch sử, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa… Thông qua đó, những vấn đề có liên quan tới tổ chức và hoạt động bộ máy hành chính nhà nước được xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và xác thực theo những nội dung cụ thể trong luận văn này

5 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn Trước hết, đây là một công trình trong khoa học pháp lý nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung lý luận về vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào trong điều kiện mới hiện nay

Trang 11

Từ tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của Chính phủ Lào cùng với những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ, tác giả đi sâu phân tích cơ cấu

tổ chức cũng như các hình thức hoạt động của Chính phủ Lào, từ đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế của tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào Dựa trên thực tiễn

và bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới (đặc biệt là từ Việt Nam) tác giả đưa

ra một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào Đề tài đóng góp một số giải pháp nhằm cải cách cơ cấu, tổ chức, hoạt động cũng như năng lực quản lý của Chính phủ Lào, đồng thời góp phần vào công cuộc cải cách bộ máy hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Lào

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật tại Việt Nam và Lào Với những

đề xuất kiến nghị của luận văn, Chính phủ Lào có thể nghiên cứu để ứng dụng vào Chương trình cải cách bộ máy tổ chức và hoạt động của Chính phủ

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa

dân chủ nhân dân Lào

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân

chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003, Phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.1.1 Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trước năm 1991

Chính phủ Lào trước năm 1991 được hình thành và phát triển cùng với tiến trình phát triển cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào Đây là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử Nhà nước và pháp luật của Lào Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương đã giành được thắng lợi to lớn, đặc biệt là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp

định Giơ-ne-vơ Sau khi dành được độc lập, chính quyền cách mạng Lào còn non trẻ

đã vấp phải sự chống đối của thù trong, giặc ngoài Thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính nước Lào một lần nữa Trước sự can thiệp của thực dân Pháp và các lực lượng thù địch khác, đất nước Lào tạm thời bị chia cắt thành hai khu vực Khu vực

thuộc quản lý của Chính phủ Vương quốc Lào và khu vực giải phóng Neo -Lào –

hắcxạt (thuộc quyền quản lý của Mặt trận dân tộc yêu nước Lào)

Đến năm 1973, theo tinh thần Hiệp ước Viêng – Chăn ngày 21 tháng 02 năm

1973 được ký kết giữa Chính phủ Vương quốc Lào và Mặt trận yêu nước Lào, một cơ cấu chính quyền chung được thành lập Đó là Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia tại Viêng – Chăn Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia đóng vai trò là cơ quan lập pháp, bao gồm 7 Ủy ban [32; tr 408-409] Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các thành

viên khác (tổng số 25 người) Hoàng thân Su Văn – na Phum – ma là Thủ tướng Chính

phủ, các thành viên khác của Chính phủ do Nhà vua và Mặt trận dân tộc yêu nước Lào

bổ nhiệm theo đề nghị của Ủy ban hiệp thương chính trị và có tỷ lệ ngang nhau Ngoài

ra có hai Bộ trưởng do mỗi bên đề nghị bổ nhiệm từ các vị lãnh đạo, có uy tín, có quan điểm hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ [32; tr.140]

Sau khi đất nước được giải phóng, Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Nhà nước CHDCND Lào) ra đời, bao gồm hệ thống cơ quan nhà nước từ Trung ương

Trang 13

tới địa phương Theo quy định của Điều 2, Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm

1978, Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc Thành phần

của Hội đồng Bộ trưởng gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Bộ trưởng và các Chủ tịch Ủy ban Nhà nước, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng

Bộ trưởng do Hội đồng nhân dân tối cao (Quốc hội) bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước [38; tr.47]

Hội đồng Bộ trưởng thống nhất QLNN về mọi mặt, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Hội đồng Bộ trưởng có đầy đủ thẩm quyền trong việc quản lý điều hành đất nước Hội đồng Bộ trưởng ban hành nghị quyết và nghị định Các nghị quyết, nghị định do Hội đồng Bộ trưởng ban hành có hiệu lực trong phạm vi cả nước [38; tr.47]

Theo quy định của Điều 4, Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm 1978, Hội đồng Bộ trưởng gồm các bộ, ủy ban Nhà nước Trong giai đoạn từ 1975 đến 1991 cơ cấu tổ chức của Hội đồng bộ trưởng gồm các cơ quan sau: Bộ Nội vụ; Bộ Quốc phòng;

Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; Bộ Y tế; Bộ Giáo dục – Đào tạo; Bộ Văn hóa; Bộ Nông, thủy lợi và hợp tác xã nông nghiệp; Bộ Vận tải và Bưu điện; Bộ Tài chính; Bộ Xây dựng; Bộ Cung ứng vật chất – kỹ thuật; Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; Ủy ban Ngân sách Nhà nước; ủy ban Tuyên truyền Báo chí; Đài Phát thanh và truyền hình Nhà nước; Ban Tổ chức cán bộ; Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng; Ủy ban dân tộc [38; tr.48] Theo quy định của Điều 9 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm 1978, Hội đồng

Bộ trưởng thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Lãnh đạo công tác của các Bộ, Ủy ban Nhà nước, Ủy ban nhân dân tỉnh trong phạm vi toàn quốc;

- Bảo đảm việc thi hành pháp luật trong các cơ quan nhà nước, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, các ủy ban Nhà nước; thực hiện các biện pháp kiện toàn cơ cấu tổ chức, lề lối làm việc của hệ thống cơ quan quản lý hành chính Nhà nước;

-Bảo đảm thực hiện pháp chế và tăng cường kỷ luật trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước;

-Thống nhất quản lý việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân; đảm bảo thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế, áp dụng lợi nhuận, tăng cường chế độ tiết kiệm

Trang 14

trong mọi lĩnh vực; đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân;

-Tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận tổ quốc và các tổ chức quần chúng nhân khác hoạt động có hiệu quả; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội;

-Quản lý lao động, tiền lương, tài chính, tiền tệ, tín dụng, thị trường và thống nhất về giá cả; quản lý hoạt động ngoại thương của Nhà nước thực hiện độc quyền của Nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu thương mại;

-Quản lý hoạt động đối ngoại của Nhà nước; thực hiện các biện pháp tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật với các nước xã hội chủ nghĩa;

-Tăng cường sự đoàn kết của các bộ tộc Lào trong cả nước để xây dựng XHCN thành công; bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước và xã hội

Nhìn chung, từ giai đoạn năm 1975 đến trước Hiến pháp năm 1991, tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước Lào thể hiện phương thức tổ chức chính quyền kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa và mang nét truyền thống dân tộc Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước ở giai đoạn này đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Lào, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước cũng như trình độ, năng lực quản lý hiện thời của đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước Lào Tuy nhiên, có thể thấy rằng bộ máy hành chính Nhà nước Lào trong giai đoạn này là bộ máy hành chính của nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung quan liêu bao cấp

Bộ máy nhà nước và bộ máy hành chính, số lượng cán bộ viên chức có xu hướng phình to; tính chất trì trệ quan liêu, kém hiệu quả thể hiện ngày một rõ Chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường, tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước Lào trong đó có Chính phủ Lào cần phải được đổi mới theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả đảm bảo thực hiện tốt vai trò của Nhà nước trong điều kiện mới

1.1.2 Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ năm 1991 đến nay

Ngày 15 tháng 8 năm 1991, Quốc hội nước CHDCND Lào đã thông qua Hiến pháp- bản Hiến pháp XHCN đầu tiên của Lào Sự ra đời của Hiến pháp năm 1991 đánh dấu bước phát triển mới trong công cuộc xây dựng nước Lào độc lập, thống nhất, dân chủ nhân dân và giàu mạnh Trên cơ sở Hiến pháp năm 1991, Quốc hội cũng đã ban hành hàng loạt các đạo luật quan trọng khác, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng

Trang 15

và hoàn thiện hệ thống các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan hành chính Nhà nước Lào nói riêng

Theo quy định của Hiến pháp, hệ thống tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước Lào gồm Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ và các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương

Chính phủ nước CHDCND Lào là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của toàn quốc Chính phủ gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ Chính phủ do Quốc hội thành lập, nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội Trong trường hợp Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi Quốc hội bầu ra Chính

phủ khóa mới (Điều 58, Hiến pháp năm 1991 và Điều 5, Điều 6 Luật tổ chức Chính

phủ nước CHDCND Lào năm 1995)

Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ chủ quyền đất nước; bảo vệ tổ quốc; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; bảo

vệ tài sản của Nhà nước và của nhân dân; bảo đảm tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân

Chính phủ hoạt động theo nguyên tắc tập chung dân chủ, trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật Hoạt động của Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào Trong hoạt động của mình, Chính phủ phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quần chúng nhân dân

Hiến pháp năm 1991 được sửa đổi vào năm 2003, qua lần sửa đổi này, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ đã được quy định hoàn thiện hơn Hiện nay, Chính phủ nước CHDCND Lào được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp Lào năm 1991 được sửa đổi bổ sung năm 2003 (gọi tắt là Hiến pháp năm 2003); Luật tổ chức Chính phủ 2003; Chỉ thị số 107/CTN ngày 30/6/2011 của Chủ tịch nước về cơ cấu bộ máy,

sự bổ nhiệm Thủ tướng, Phó Thủ tướng và tập thể Chính phủ của CHDCND Lào (sau đây gọi tắt là Chỉ thị số 107/CTN) và các văn bản hướng dẫn thi hành Chính phủ nước CHDCND ngày càng khẳng định vai trò của mình trong hệ thống bộ máy nhà nước CHDCND Lào Nội dung luận văn này nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước CHDCND Lào theo Hiến pháp năm 2003

Trang 16

1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003

1.2.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003

1.2.1.1 Vị trí, chức năng của Chính phủ Lào

* Về vị trí của Chính phủ Lào Kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn

chế của Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng Lào năm 1978, Hiến pháp năm 1991 cũng như Hiến pháp năm 2003 đã xây dựng bộ máy nhà nước theo quan điểm quyền lực nhà nước tập trung thống nhất, nhưng có sự phân công, phân định chức năng trên cơ sở phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Hiến pháp năm 2003 tại

Điều 69 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước Chính phủ thống nhất

quản lý và điều hành trong tất cả các lĩnh vực của nhà nước: Chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội, quốc phòng an ninh và ngoại giao”

Với quy định như vậy, lần đầu tiên, Hiến pháp đã thay đổi tên Hội đồng Bộ trưởng (Luật Hội động Bộ trưởng năm 1978) thành Chính Phủ (Hiến pháp 1991, Hiến pháp 2003) không chỉ có ý nghĩa là việc thay đổi tên gọi mà còn phản ảnh một xu hướng thay đổi chế độ trách nhiệm, chuyển dần từ chế độ trách nhiệm tập thể chung sang đề cao trách nhiệm của cá nhân, tăng cướng quyền hạn của Thủ tướng chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, đồng thời có thể kết hợp trách nhiệm tập thể Thứ hai, mặc dù không quy định rõ ràng song qua những nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ tại Điều 70 Hiến pháp năm 2003 thì, Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Nhà nước chứ không phải của Quốc hội, có thể hoạt động một cách độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính Nhà nước Quy định này không chỉ

đề cao vai trò hoạt động của Chính phủ mà còn tăng tính chịu trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phru và các thành viên của Chính phủ, nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong hoạt động hành pháp

* Về chức năng của Chính phủ Lào Về vị trí, tính chất, chức năng và cơ chế thực

hiện quyền hành pháp của Chính phủ được quy định theo hướng nhằm xây dựng Chính phủ mạnh, hiện đại, dân chủ, thống nhất quản lý vĩ mô các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nươc Trong bất kỳ một nhà nước nào, quyền hành pháp đều được xem như quyền năng trực tiếp trong hoạch định,

đệ trình chính sách và tổ chức thực thi chính sách [13; tr.409] Cơ quan thực hiện

Trang 17

quyền hành pháp không chỉ bó hẹp ở chấp hành pháp luật, mà còn ở việc định hướng chính sách và tổ chức thực thi chính sách Theo Hiến pháp năm 2003, chức năng của Chính phủ bao gồm phạm vi hoạt động rộng lớn, không đơn thuần chỉ là chấp hành, triển khai chính sách quyết định đã được Quốc hội thông qua Chức năng hành pháp

của Chính phủ được thực hiện ở các phương diện như:

- Đề xuất, xây dựng chính sách vĩ mô, đề xuất định hướng phát triển kinh tế- xã hội trình Quốc hội, trình dự thảo luật trước Quốc hội;

- Ban hành chính sách, kế hoạch cụ thể theo thẩm quyền của Chính phủ, ban hành các văn bản dưới luật để thực thi các chủ trương, chính sách, văn bản do Quốc hội ban hành;

- Tổ chức thực hiện pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát việc thực hiện kế hoạch, chính sách bởi các cơ quan hành chính nhà nước nhằm thống nhất quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội;

- Thiết lập trật tự hành chính, thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia trên

cơ sở các quy định của pháp luật

Chính phủ do Quốc hội thành lập ra, nhiệm kỳ theo nhiệm nhiệm kỳ Quốc hội Thành viên của Chính phủ phải hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội, Chính phủ phải chịu trách hiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội Thành viên của Chính phủ

có thể bị Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm hoặc cách chức theo quy định của pháp luật với thẩm quyền là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hôi quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như kế hoạch, ngân sách, các loại thuế, ban hành Hiến pháp và luật…Chính phủ phải tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản do Quốc hội ban hành Trên cơ sở cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật, Chính phủ đề ra biện pháp thích hợp, phân công, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó trên thực tế

1.2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ Lào

Để khẳng định vị trí của Chính phủ Lào là cơ quan hành chính nhà nước, thống nhất quản lý và điều hành trong tất cả các lĩnh vực của nhà nước, Hiến pháp năm 2003

đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ Lào tại Điều 70, với những nhiệm

vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

- Tổ chức thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

Trang 18

- Dự thảo luật và các đạo luật trình Quốc hội, dự thảo Nghị định trình Chủ tịch nước xem xét và ký quyết định ban hành;

- Thiết lập các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước trình Quốc hội xem xét và thông qua;

- Ban hành Nghị định, các Nghị quyết liên quan đến lĩnh vực quản lý của Chính phủ về kinh tế- xã hội, khoa học, công nghệ, tài nguyên quốc gia, môi trường, an ninh- quốc phòng và ngoại giao;

- Tổ chức, chỉ đạo, và giám sát các hoạt động của các Bộ, Chính quyền địa phương;

- Tổ chức và giám sát các hoạt động quốc phòng và an ninh;

- Ký kết các Điều ước quốc tế, Hợp đồng với nước ngoài và chỉ đạo thực hiện các Điều ước quốc tế, hợp đồng đã ký;

- Bãi bỏ, hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực các văn bản do Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan trực thuộc Chính phủ và Chính quyền địa phương;

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Ngoài 9 nhiệm vụ quyền hạn cụ thể nêu trên, Chính phủ còn thực hiện những nhiệm vụ quyền hạn theo Luật định Điều 7 Luật tổ chức Chính phủ năm 2003 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp hiện hành thành 15 nhiệm vụ quyền hạn, đó là:

- Thực hiện hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, sắc lệnh, pháp lệnh của Chủ tịch nước, tổ chức tuyên truyền pháp luật, giáo dục việc tôn trọng pháp luật, quy định các biện pháp bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân;

- Xây dựng các chính sách phát triển kinh tế- xã hội và ngân sách nhà nước đề nghị Quốc hội xem xét và phê chuẩn;

- Quản lý thống nhất việc xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng cơ sở kinh tế, văn hóa- xã hội, khoa học kĩ thuật, thực hiện chính sách tài chính và tiền tệ, quản lý và đảm bảo việc sử dụng hiệu quả tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật;

- Báo cáo hoạt động của mình trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước;

- Nghiên cứu xây dựng và trình dự thảo trước Quốc hội, dự thảo pháp lệnh trước

Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Nghiên cứu và trình dự thảo sắc lệnh của Chủ tịch nước;

Trang 19

- Ban hành nghị định và quyết định về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, khoa học, kĩ thuật, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; an ninh quốc phòng và quan

hệ đối ngoại;

- Tổ chức, lãnh đạo, quản lý và giám sát hoạt động của các ngành nghề và cơ quan chính quyền địa phương để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả pháp luật;

- Tổ chức và quản lý thống nhất về dân số trên phạm vi cả nước;

- Củng cố và tăng cường kiểm tra việc bảo vệ quốc phòng, bảo vệ an ninh- trật tự

an toàn xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện mệnh lệnh và kỷ luật quân đội cần thiết để bảo vệ an ninh quốc phòng;

- Đình chỉ hoặc xóa bỏ các quyết định, chỉ thị, hướng dẫn và thông tư của cán

bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác trực thuộc trực tiếp Chính phủ và cơ quan chính quyền địa phương nếu các cơ quan này thực thi công việc trái với pháp luật;

- Quyết định thành lập hoặc giải thể huyện và điều chỉnh địa giới giữa các huyện theo đề nghị của Huyện trưởng và Thị trưởng thành phố

- Tổ chức, thực hiện và giám sát việc thanh tra nhà nước nhằm phát hiện ra các

vi phạm luật, tham nhung và các yếu kém khác; giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức và các cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi cấp theo quy định của pháp luật;

- Hợp tác, thương lượng, kí các hiệp định và thỏa thuận với các quốc gia khác, quản lý và giám sát quan hệ đối ngoại và việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận

đã kí

Như vậy, những nhiệm vụ quyền hạn trên vừa thể hiện quan điểm đề cao vai trò Chính phủ, vừa đảm bảo sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan nhà nước theo pháp luật hiện hành

1.2.2 Cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo Hiến pháp năm 2003

1.2.2.1 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào

Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện BMNN, trong đó có Chính phủ Với tư cách là một trong những cơ quan của BMNN nước CHDCND Lào, Chính phủ Lào cũng được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của BMNN Lào bao gồm:

Trang 20

- Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Đây là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất được Hiến pháp Lào ghi nhận Tại Điều 3 Hiến pháp 2003 quy định: “Quyền làm

chủ đất nước của nhân dân các bộ tộc được thực hiện và đảm bảo bằng hoạt động của

hệ thống chính trị do Đảng nhân dân cách mạng Lào là hạt nhân lãnh đạo”

Nguyên tắc tắc Đảng lãnh đạo, biểu hiện cụ thể thông qua các hình thức hoạt động sau của Đảng: Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách về quản lý nhà nước; Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ trong Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ Lào; Đảng lãnh đạo bộ máy của Chính phủ Lào thông qua kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động QLNN của Chính phủ

- Thứ hai, nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều

5 Hiến pháp 2003: “Quốc hội và tất cả các cơ quan của Nhà nước được tổ chức và

hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” Nội dung của nguyên tắc này là sự kết

hợp hài hòa giữa tập trung và dân chủ Trong hoạt động QLNN của Chính phủ, tập trung nhằm bảo đảm sự thâu tóm quyền lực hành pháp nhà nước vào chủ thể quản lý, dân chủ để mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động QLNN Tuy nhiên, trong hoạt động QLNN của Chính phủ hai yếu tố này phải được kết hợp chặt chẽ, có mối quan hệ qua lại và hỗ trợ cho nhau

- Thứ ba, nguyên tắc pháp chế Nguyên tắc này được quy định trong Điều 10

Hiến pháp năm 2003: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, mọi tổ

chức của Đảng và Nhà nước, các tổ chức quần chúng, các tổ chức xã hội và mọi công dân phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Hoạt động của Chính

phủ bao gồm nhiều lĩnh vực, các hoạt động khác nhau nên việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN có ý nghĩa rất quan trọng Cụ thể, Chính phủ Lào phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN trong các hoạt động cụ thể như hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trong tổ chức thực hiện pháp luật; trong kiểm tra thực hiện pháp luật

- Thứ tư, nguyên tắc phân định rõ thẩm quyền và phạm vi quản lý cho các cơ quan trực thuộc Chính phủ có hệ thống các cơ quan để hoạt động có hiệu quả, Chính

phủ vừa phải bảo đảm nguyên tắc tập trung, dân chủ vừa phải thực hiện phân công, phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cho từng cơ quan trực thuộc Nguyên tắc này đòi hỏi, Chính phủ phải dựa trên thẩm quyền chung là thống nhất nhưng có sự

Trang 21

phân công, phân định thẩm quyền, giao nhiệm vụ quản lý cho các cơ quan của mình Tuy nhiên, trong quá trình này cần phải dựa vào chuyên môn và khả năng nhân vật lực của từng cơ quan để phân công, phân định thẩm quyền, giao nhiệm vụ một cách hợp lý

và có hiệu quả

Trên đây là các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của BMNN Lào và cũng là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2003 Những nguyên tắc này là cơ sở để xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động cho Chính phủ Lào

1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào

(i) Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ Lào Sự ra đời của Hiến pháp năm 1991

đánh dấu bước phát triển mới trong công cuộc xây dựng nước Lào độc lập, thống nhất, dân chủ nhân dân và giàu mạnh Trên cơ sở Hiến pháp năm 1991 (được sửa đổi bổ sung năm 2003), Quốc hội cũng đã ban hành hàng loạt các đạo luật quan trọng khác, tạo cơ sở pháp lí cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và bộ máy của Chính phủ nói riêng Về tổ chức và hoạt động của Chính phủ có Luật tổ chức Chính phủ năm 2003; Chỉ thị số 107/CTN ngày 30/6/2011 của Chủ tịch nước về cơ cấu bộ máy, sự bổ nhiệm Thủ tướng, Phó Thủ tướng và tập thể Chính phủ của CHDCND Lào và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo Luật tổ chức Chính phủ của Lào năm 2003 thì cơ cấu Chính phủ gồm có:

* Về cơ cấu thành viên gồm có: Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng, các Bộ

trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ của Bộ và Chủ nhiệm Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, Thủ trưởng của tổ chức ngang Bộ (Điều 6) Trong đó, ngoài Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc Hội Về cách thức thành lập, Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn các Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ do Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Việc Hiến pháp trao cho Thủ tướng quyền được đề nghị bổ nhiệm các thành viên khác của Chình phủ trình Quốc hội phê chuản, đồng thời còn có quyền đê nghị Quốc hội miễn nhiệm, cách chức thành viên của Chính phủ đã làm nổi bật vai trò của Thủ tướng Chính phủ Có thể nói đây là phương pháp hữu hiệu góp phần xây dựng một cơ quan hành chính Nhà nước mạnh mẽ Thành viên chính phủ không đồng thời là thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định này đảm bảo

Trang 22

tính khách quan trong hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ quốc hội đối với Chính phủ

* Về cơ cấu tổ chức gồm có (Điều 5): Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, Bộ và cơ

quan ngang Bộ

 Văn phòng Thủ tướng Chính phủ

Văn phòng Thủ tướng Chính phủ là cơ quan ngang Bộ thực hiện vai trò của Ban thư ký cho Chính phủ, kiểm tra, và tổng hợp tất cả các vấn đề liên quan đến các hoạt động của Chính phủ; tổ chức và sắp xếp hoạt động của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ và các tổ chức trực thuộc Chính phủ Như vậy, văn phòng Thủ tướng Chính phủ của Lào cũng giống như Văn phòng Chính phủ của Việt Nam là cơ quan giúp việc cho Thủ tướng Chính phủ và bộ máy của Chính phủ

Cơ cấu của Văn phòng Thủ tướng Chính phủ: Nội các của Thủ tướng Chính phủ,

Ban thư ký chính phủ và các tổ chức trực thuộc Chính phủ

Nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng Thủ tướng Chính phủ: Theo Điều 19 của

Luật tổ chức Chính phủ năm 2003 thì Văn phòng Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Chuẩn bị, hồ sơ và báo cáo về kết quả của các cuộc họp của Chính phủ;

- Tóm tắt và thu thập dữ liệu và thông tin trong nước và nước ngoài để báo cáo Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ;

- Kiểm tra, phân tích các vấn đề quan tâm, và đề xuất với Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ những vấn đề này được xem xét khi xác định các chính sách, kế hoạch phát triển chiến lược, và cơ chế quản lý nền kinh tế, các vấn đề văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và giữ gìn cân bằng sinh thái;

- Quản lý các hoạt động mà không phải là trong phạm vi trách nhiệm của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các tổ chức trực thuộc Văn phòng Thủ tướng Chính phủ;

- Phối hợp và hợp tác với Nội các của Trung ương Đảng, Nội các của Quốc hội, Nội các của Văn phòng Chủ tịch nước, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các tỉnh, thành phố, Mặt trận Lào xây dựng đất nước, và các tổ chức quần chúng ở cấp Trung ương để đi đến một sự đồng thuận về việc tạo thuận lợi và quản lý các hoạt động chung của Chính phủ;

- Thực hiện các quyền khác và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công

Trang 23

của Thủ tướng Chính phủ và theo quy định của Hiến pháp, pháp luật

 Bộ và cơ quan ngang Bộ

Bộ và các cơ quan ngang Bộ là các cơ quan của Chính phủ có vai trò thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở tầm vĩ mô đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong

phạm vi cả nước

Phạm vi quản lí của Bộ và các cơ quan ngang Bộ được phân công bao quát toàn

bộ mọi tổ chức và hoạt động thuộc mọi thành phần kinh tế, trực thuộc các cấp quản lí khác nhau, từ Trung ương đến địa phương, cơ sở Có thể chia 2 nhóm Bộ và cơ quan

ngang Bộ là Bộ quản lí theo ngành hoặc lĩnh vực công tác

- Bộ quản lí theo ngành (quản lí những ngành kinh tế, kĩ thuật hoặc sự nghiệp

như nông nghiệp, y tế, giao thông vận tải, giáo dục…) là cơ quan của Chính phủ có trách nhiệm quản lý ngành hoặc nhóm ngành Có trách nhiệm chỉ đạo toàn diện các cơ quan, đơn vị hành chính Nhà nước và sự nghiệp; thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực cụ thể do Bộ phụ trách Số lượng, quy mô của các bộ này có thể tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội, tình hình chính trị của đất nước

- Bộ quản lí theo lĩnh vực (Bộ chức năng cơ bản): Là những loại Bộ mà tổ chức

bộ máy của Chính phủ của bất kỳ quốc gia nào cũng phải có và tồn tại Có chức năng thực hiện sự quản lý Nhà nước theo từng lĩnh vực lớn như: Kế hoạch; Tài chính; Ngân hàng; Khoa học và Công nghệ; Lao động; Nội vụ; Ngoại giao; Quân sự Các lĩnh vực này liên quan đến hoạt động của tất cả các Bộ, các cấp quản lý Nhà nước, các tổ chức trong xã hội và công dân Bộ quản lý lĩnh vực có trách nhiệm giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội nói chung; xây dựng các dự án, kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành; xây dựng các quy định chính sách, chế độ chung hoặc

tự mình ra những văn bản pháp quy về lĩnh vực mình phụ trách và hướng dẫn các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội thi hành; kiếm tra và đảm bảo sự thống nhất pháp luật Nhà nước trong hoạt động của các Bộ

Hiện nay, theo Chỉ thị số 107/CTN ngày 30/6/2011 của Chủ tịch nước về cơ cấu

bộ máy, sự bổ nhiệm Thủ tướng, Phó Thủ tướng và tập thể Chính phủ của CHDCND Lào có 18 Bộ và 3 cơ quan ngang Bộ

Về cơ cấu tổ chức của Bộ và cơ quan ngang Bộ: Vụ của Bộ và các cơ quan

ngang Bộ, các Sở, Ban, Viện nghiên cứu và các đơn vị kỹ thuật theo quy định của nghị định của Thủ tướng Chính phủ

Trang 24

Về quyền hạn và nhiệm vụ của Bộ và cơ quan ngang Bộ: Theo Điều 26 Luật tổ

chức Chính phủ 2003 quy định Bộ và cơ quan ngang Bộ có những quyền hạn và nhiệm

dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các nghị quyết, dự án, đề án theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; và ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị để hướng dẫn và đảm bảo quản lý vĩ mô của ngành mình;

Chính phủ quyết định phân cấp nhiệm vụ quản lý nhà nước cho Uỷ ban nhân dân địa phương về nội dung quản lý ngành, lĩnh vực;

- Phát triển nguồn nhân lực trong ngành mình;

- Hợp tác với nước ngoài theo sự phân công của Chính phủ;

- Tổng kết và báo cáo kết quả công tác trong lĩnh vực của mình trước Chính phủ

và Thủ tướng Chính phủ;

- Thực hiện các quyền khác và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Chính phủ và theo quy định của, Hiến pháp, pháp luật

(ii) Về hoạt động của Chính phủ Lào Để thực hiện chức năng là cơ quan hành

chính Nhà nước cao nhất, Luật Tổ chức Chính phủ Lào năm 2003 đã quy định: “Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được đảm bảo bằng những hiệu quả hoạt động của tập thể chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên của Chính phủ” Khẳng định hiệu quả hoạt động thực tế của Chính phủ qua 3 hình thức: Thông qua phiên họp của Chính phủ, thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ và thông qua hoạt động

của các thành viên của Chính phủ

* Thông qua phiên họp Chính phủ Các phiên họp của Chính phủ là hình thức

hoạt động quan trọng của Chính phủ, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động của

Trang 25

Chính phủ Phiên họp là nơi tập trung trí tuệ của cả tập thể Chính phủ, những người trực tiếp nắm quyền quản lý hành chính trên phạm vi một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định đồng thời có sự đóng góp ý kiến của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức

đoàn thể khi tham dự phiên họp

Theo quy định hiện hành, Chính phủ họp thường kỳ mỗi tháng một lần, ngoài ra

có thể họp bất thường theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc theo yêu cầu của

ít nhất 1/3 tổng số thành viên Chính phủ

Tham dự phiên họp gồm: thành viên Chính phủ, nếu vắng mặt trong phiên họp phải được sự đồng ý của Thủ tướng chính phủ, Thủ tướng có thể cho phép thành viên vắng mặt được cử cấp phó của mình tham dự phiên họp Chính phủ Ngoài các thành viên của Chính phủ, Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Chính phủ khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch tổng liên đoàn Lao động Lào và người đứng đầu các tổ chức đoàn thể khác có thể được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn về vấn đề liên quan Khi cần thiết Chính phủ có thể mời Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Tỉnh trưởng tham gia phiên họp của Chính phủ Các đại biểu được mời dự họp không phải là thành viên của Chính phủ có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết Thủ tướng Chính phủ chủ tọa các phiên họp của Chính phủ, khi được Thủ tướng ủy quyền, một Phó thủ tướng cũng có thể chủ tọa phiên họp Thành phần tham sự như trên giúp Chính phủ vừa tập trung được trí tuệ tập thể của các thành viên Chính phủ, ý kiến của các đại biểu được mời từ đó góp phần làm cho quyết định của phiên họp sát với thực tế, toàn diện hơn, đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của thành viên Chính phủ trong quá trình biểu quyết các vấn đề quan trọng của Chính phủ

Tại phiên họp của Chính phủ thảo luận và biểu quyết theo đa số Danh mục các vấn đề được đưa ra thảo luận bao gồm: Chương trình hoạt động hàng năm của Chính phủ; các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội; Dự án

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, năm năm, hàng năm, các công trình quan rọng, dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ Ngân sách Nhà nước, quyết toán Ngân sách Nhà nước hàng năm trình Quốc hội; Các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế -

xã hội, tài chính, tiền tệ, các vấn đề quan trọng về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Các

đề án trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

Trang 26

viêc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tinh, giải thể các cơ quan thuộc Chính phủ; Các báo cáo của Chính phủ trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước

Khẳng định tính tập thể trong quyết định của phiên họp, pháp luật hiện hành quy định: Nghị quyết phiên họp của chính phủ phải được quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành, trường hợp biểu quyết ngang nhau thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng Chính phủ đã biểu quyết Quy định này thể hiện sự kết hợp chặt chẽ chế độ trách nhiệm cá nhân và tập thể, đề cao vai trò tập thể của Chính phủ trong việc quyết định những vấn đề quan trọng, và đặc biệt đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ Phiên họp Chính phủ là hình thức hoạt động tập thể duy nhất của Chính phủ, trên cơ

sở bàn bạc dân chủ công khai, Nghị quyết của phiên họp vừa thể hiện nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ đồng thời đề cao vai trò của cá nhân Thủ tướng Đây được xem

là điểm mới phù hợp với quan điểm xây dựng BMNN theo Hiếp pháp Lào năm 2003

Để đảm bảo hiệu quả cho phiên họp của Chính phủ, ngoài việc hoàn thiện các quy định pháp luật, sự cần thiết phải mở rộng thành phần phiên họp, làm tốt công tác chuẩn bị (đặc biệt chuẩn bị dự án và các nội dung đưa ra phiên họp), phiên họp cần tập trung giải quyết tốt những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ

* Thông qua hoạt động của Thủ tướng Chính phủ Lào Hiến pháp năm 2003 đã

dành một vị trí đặc biệt cho Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương đáp ứng yêu cầu của quản lý đất nước trong điều kiện mới của đất nước Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ Lào, Thủ tướng đóng vai trò là người trực tiếp chỉ đạo điều hành công việc của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ,

cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan hành chính Nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Thủ tướng Chính phủ có quyền bổ nhiệm, điều động và bãi nhiệm Thứ trưởng, phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Cục trưởng, phó Tỉnh trưởng, Phó Thị trưởng; nâng ngạch bậc và chức vụ đại tá trong lực lượng vũ trang và các chức vụ khác

theo luật định (Điều 73 Hiến pháp năm 2003)

Trong lĩnh vực đảm bảo pháp chế, Thủ tướng Chính phủ có các quyền: Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh và Tỉnh trưởng trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên; Đình chỉ việc thi hành những Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực

Trang 27

thuộc Trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường

vụ quốc hội; Lệnh, Quyết định, Chỉ thị của Chủ tịch nước; Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thực hiện văn bản đó Văn bản của Thủ tướng Chính phủ ban hành có hiệu lực thi hành trong phạm

vi cả nước và đồng thời Thủ tướng hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với các ngành, địa phương và cơ sở

Hiến pháp năm 2003 có xu hướng tăng cường chế độ thủ trưởng, việc quy định cho người đứng đầu Chính phủ những nhiệm vụ, quyền hạn như trên mới có thể đảm bảo được quyền lãnh đạo của mình là hoàn toàn hợp lý Các quy định trên cho thấy sự thay đổi trong quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là thẩm quyền ban hành văn bản đã có sự cải thiện đáng kể Hình thức văn bản được quyền ban hành, có thể phân biệt giữa văn bản của Chính phủ với văn bản của Thủ tướng Chính phủ ban hành, tránh được sự chồng chéo về thẩm quyền Hơn thế, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quy định rõ ràng và cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho Thủ tướng Chính phủ hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình

* Thông qua hoạt động của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ Bên

cạnh hoạt động của phiên họp Chính phủ, hoạt động của Thủ tướng cũng như Phó thủ tướng Chính phủ, hoạt động của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đóng vai trò quan trọng Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng QLNN đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là thành viên của Chính phủ lãnh đạo công tác của Bộ và cơ quan ngang Bộ, phụ trách một số công tác của Chính phủ, Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng và Quốc hội về hoạt động QLNN trong phạm vi ngành, lĩnh vực được

phân công

Để thực hiện tốt chức năng của mình, Bộ trưởng hoạt động với hai tư cách:

Một là, vừa là thành viên của Chính phủ, tham gia giải quyết những vấn đề thuộc

thẩm quyền của Chính phủ tại phiên họp Tham gia các phiên họp Chính phủ, các Bộ trưởng có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề quan trọng của Chính phủ; chuẩn

bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án theo sự phân công của Chính phủ; trình bày

Trang 28

trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo của Bộ theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội; thực hiện những nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm

Hai là, vừa là người đứng đầu Bộ, lãnh đạo, quản lý điều hành Bộ theo chế độ

thủ trưởng Với tư cách này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ lãnh đạo, quyết định và chịu trách nhiệm quản lý về ngành, lĩnh vực mình phụ trách như: Trình Chính phủ kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm của ngành, lĩnh vực; tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong phạm vi cả nước; quyết định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế - kĩ thuật của ngành thuộc thẩm quyền; đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương… (Điều 26 Luật tổ chức Chính phủ năm 2003)

Trong phạm vi quản lý của mình, căn cứ vào các Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội; Nghị quyết của Ủy ban thưởng vụ Quốc hội; Quyết định, Chỉ thị của Chủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng có quyền ban hành các loại văn bản pháp luật gồm Quyết định, chỉ thị để hướng dẫn thi hành các văn bản nêu trên và kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó

Với việc bãi bỏ quy định về thẩm quyền được ban hành các văn bản pháp quy của Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Hiến pháp năm 2003 đã tăng cường sự giám sát của Quốc hội với hoạt động lập quy của Chính phủ, đồng thời đề cao tính chịu trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động này của Chính phủ trước Quốc hội Chỉ cơ quan do Quốc hội thành lập mới được quyền ban hành văn bản pháp quy

Về mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc Hội, Hiến pháp năm 2003 đã quy định Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc Hội và phải báo cáo về các hoạt động cho Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (giữa hai kỳ họp của Quốc hội) và báo cáo Chủ tịch nước (Điều 70) Quy định mới này cho thấy vai trò của Chính phủ do Quốc hội lập ra với tính chất là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thì chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Quy định Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước là để đảm bảo sự giám sát của các cơ quan này - với tính chất là những cơ quan tham gia thực hiện quyền giám sát với BMNN

Bên cạnh đó, Hiến pháp Lào năm 2003 cũng quy định rõ Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước

Trang 29

Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách Như vậy, các thành viên của Chính phủ (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ) vừa chịu trách nhiệm về ngành, lĩnh vực mình phụ trách trước Quốc hội vừa phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ Quy định như vậy của Hiến pháp năm 2003 là nhằm mục đích tăng cường vai trò lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với các thành viên khác trong Chính phủ

Hiến pháp năm 2003 đề cao trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ, các

Bộ trưởng và các thành viên khác trước Quốc hội, song chú trọng về trách nhiệm cá nhân của từng chức danh đó chứ không phải trách nhiệm tập thể tập chung như trước

1.3 Chính phủ của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

1.3.1 Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam ra đời năm 1946, qua 5 bản hiến pháp, hiện nay Hiến pháp năm 2013 đã có rất nhiều sửa đổi bổ sung so với các bản Hiến pháp trước, nhấn mạnh vai trò và hoạt động của Chính phủ, dưới đây là những thay đổi trong bản Hiến pháp năm 2013 mà Hiến pháp Lào cần học hỏi khi đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào Cụ thể:

Thứ nhất, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng định rõ hơn địa vị pháp lý của Chính phủ - là cơ quan thực hiện quyền hành pháp; đồng thời, khẳng định vai trò quản lý, điều hành vĩ mô của Chính phủ, vai trò hoạch định chính sách của Chính phủ Ngoài việc kế thừa quy định về trình dự án luật (Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp năm

2013 đã bổ sung quyền ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ như một nhiệm vụ, quyền hạn độc lập của chức năng hành pháp (Điều 100) Hiến pháp Lào nên sửa đổi Điều 69 Hiến pháp năm 2003 theo hướng nhấn mạnh vai trò hành pháp của Chính phủ

chứ không chỉ quy định là “cơ quan hành chính nhà nước” cũng như “thống nhất”

quản lý như hiện nay

Thứ hai, về cơ cấu, thành phần của Chính phủ, Hiến pháp năm 2013 đã quy định

rõ cơ cấu, thành phần của Chính phủ, bao gồm: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Điều đó làm tổ

chức của Chính phủ gọn nhẹ hơn Tại Điều 95 Hiến pháp năm 2013 quy định “Chính

phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định” Trên cơ sở đó, Quốc hội sẽ quy định trong Luật tổ chức Chính phủ về cơ cấu,

Trang 30

số lượng thành viên Chính phủ Như vậy, Chính phủ mới có cơ cấu gọn nhẹ, hợp lý và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong thời kỳ mới Đây cũng là điểm đáng học hỏi khi thực tế hiện nay, cơ cấu số lượng thành viên của Chính phủ Lào không được quy định cụ thể nên tổ chức Chính phủ Lào hiện nay còn khá cồng kềnh

Thứ ba, về hoạt động của Chính phủ, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có một số

điểm mới khi làm rõ hơn vị thế, đồng thời, đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ (Điều 98) Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa quy định Hiến pháp năm

1992, đồng thời khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của Thủ tướng với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, đồng thời là một thiết chế độc lập có quyền hạn và nhiệm vụ riêng và đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước Đồng thời, Hiến pháp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ một cách khoa học và hợp lý hơn, bảo đảm tương thích với nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ Hiến pháp đã phân biệt

và quy định rõ 2 loại nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng: nhiệm vụ, quyền hạn với tư cách là người đứng đầu Chính phủ và nhiệm vụ, quyền hạn với tư cách là một thiết chế độc lập tương đối Hơn nữa, Hiến pháp năm 2013 đã tăng cường tính chịu trách nhiệm

của Thủ tướng Chính phủ “chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính

phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” (Khoản 2 Điều 95

Hiến pháp năm 2013) Với các sửa đổi, bổ sung này, vị thế, vai trò, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ đã được nâng cao hơn, rõ ràng hơn, thể hiện đúng vai trò là

“nhạc trưởng” trong điều hành vĩ mô đối với toàn bộ hoạt động của Chính phủ và hệ

thống hành chính Nhà nước từ Trung ương tới địa phương Qua đó năng lực của cá nhân Thủ tướng Chính phủ được thể hiện một cách rõ ràng, không bị khuất bởi hai chữ

“tập thể”

Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định rõ hơn vị trí, nhiệm vụ của Bộ trưởng,

Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thành viên Chính phủ, đồng thời là người đứng đầu bộ máy hành chính Nhà nước trong lĩnh vực phụ trách, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công (Khoản 1 Điều 99) Đồng thời cũng nâng cao tính trách nhiệm của Bộ

trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ Theo đó, bên cạnh kế thừa quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách (Hiến pháp năm 1992), Hiến

Trang 31

pháp năm 2013 đã bổ sung quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chịu

trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ và “cùng các thành viên khác của Chính phủ

chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ” (Khoản 4 Điều 95) Ngoài ra,

Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung chế độ báo cáo công tác của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý (Khoản 2 Điều 99) Như vậy, những điểm mới nêu trên trong Hiến pháp Việt Nam 2013 về tổ chức

và hoạt động của Chính phủ Việt Nam không chỉ có ý nghĩa làm cơ sở cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ mà còn là những nội dung mà Hiến pháp Lào nên học tập đặc biệt là xu hướng để Quốc hội quyết định cơ cấu, số lượng thành viên của Chính phủ và tăng tính chịu trách nhiệm của Thủ tướng chính phủ và các thành viên của Chính phủ Bởi có thay đổi như vậy, Chính phủ Lào mới được đổi mới theo hướng thúc đẩy nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô của Chính phủ trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đề cao vai trò của Chính phủ trong việc chủ động khởi xướng, hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô; điều hành nhanh nhạy, sáng tạo, ứng phó, giải quyết kịp thời các vấn đề của cuộc sống đặt ra

1.3.2 Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Hiến pháp năm 1982 của CHND Trung Hoa (sửa đổi năm 1988, 1993, 1999 và 2004) có thể nói là một Hiến pháp tập trung đa số các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước Trong 4 chương, 138 điều, thì riêng Chương III về cấu trúc nhà nước đã chiếm

79 điều (57%) Chương này được thiết kế theo hướng quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn khả thi của các cơ quan và người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong đó có Quốc Vụ viện (mục 3)

Quốc Vụ viện nước CHND Trung Hoa còn gọi là chính phủ nhân dân Trung ương là cơ quan hành pháp nhà nước cao nhất, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Nhiệm kỳ của Quốc vụ viện trùng với nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Thủ tướng lãnh đạo công tác Quốc Vụ viện Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Uỷ viên Quốc

vụ viện không giữ chức vụ quá 2 nhiệm kỳ [14; tr.187] Lần sửa đổi Hiến pháp Trung Hoa năm 1993 đã quy định hai điểm mới trong Hiến pháp liên quan tới cơ quan hành pháp ở Trung ương là: Quy định rõ chế độ trách nhiệm của Thủ tướng đối với hoạt động của Quốc vụ viện, trách nhiệm cá nhân của các Bộ trưởng đối với các Bộ và của

Trang 32

người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ; Thành lập cơ quan kiểm toán của Chính phủ để giám sát thu - chi tài chính của các bộ, cơ quan của Chính phủ và của chính

quyền địa phương các cấp (hành chính), của các tổ chức tài chính, tiền tệ, các xí

nghiệp và tổ chức nhà nước (Điều 91)

Hiến pháp xác định tại Điều 85: Quốc vụ viện là Chính phủ Trung ương của

CHND Trung Hoa (cơ quan hành pháp ở địa phương gọi là chính phủ địa phương), là

cơ quan hành pháp của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan cao nhất của hệ thống bộ máy hành chính nhà nước

Quốc vụ viện gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Uỷ viên Quốc vụ, các Bộ trưởng, Tổng kiểm toán trưởng và Tổng thư ký Quốc vụ viện (Điều 86) Quốc vụ viện được tổ chức như một hội đồng lãnh đạo theo nguyên tắc thủ trưởng chế, có sự phân công phân nhiệm cụ thể, trong đó, Thủ tướng chịu mọi trách nhiệm trước Quốc hội về công việc của Quốc vụ viện; các Phó Thủ tướng và Uỷ viên Quốc vụ viện giúp Thủ tướng điều hành công việc; các Bộ trưởng chịu trách nhiệm về mọi công việc của các

bộ hoặc Uỷ ban Nhà nước (Điều 86) Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và Uỷ viên Quốc

vụ viện không được đảm nhiệm cương vị quá hai nhiệm kỳ liên tục (Điều 87)

Quốc vụ viện có 18 nhiệm vụ và quyền hạn (Điều 89), bao gồm quyền lập

quy (quy phạm pháp luật, quy phạm hành chính, biện pháp hành chính); quyền kiến nghị Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; quyền quy định nhiệm vụ và quyền

hạn cụ thể của các bộ, các Uỷ ban nhà nước; chỉ đạo hành chính ở tầm quốc gia những

công việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, ngành hoặc Uỷ ban nhà nước

nào; chỉ đạo thống nhất hoạt động của các cơ quan hành chính địa phương các cấp; phân công chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa chính phủ Trung ương với các

cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh, các vùng tự trị và thành phố trực thuộc Trung

ương; dự toán Ngân sách nhà nước và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia; chỉ đạo và quản lý hành chính các hoạt động kinh tế và phát triển thành thị, nông thôn; chỉ đạo và quản lý về văn hoá, đào tạo, giáo dục, khoa học, y tế và kế hoạch hoá gia đình, về nội vụ, an toàn xã hội; quản lý tư pháp; thực hiện các hoạt

động đối ngoại, ký kết các điều ước quốc tế và thoả thuận với quốc gia khác; chỉ đạo

và quản lý việc xây dựng quốc phòng, các vấn đề dân tộc và quyền tự trị; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân Trung Quốc ở nước ngoài, của những

người Trung Quốc hồi hương và thành viên gia đình của họ đang sống ở nước

Trang 33

ngoài; thay đổi hoặc huỷ bỏ các quy định và quyết định của bộ trưởng hoặc uỷ ban nhà nước, của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương các cấp; phê chuẩn địa

giới tỉnh, khu vực tự trị và các thành phố trực thuộc Trung ương và phê chuẩn việc thành lập mới các đơn vị hành chính cấp khu tự trị, quận hạt, hạt tự trị và thành

phố; quyết định áp dụng tình trạng khẩn cấp ở một phần của tỉnh, khu vực tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương; xem xét và quyết định quy mô tổ chức của các cơ

quan hành chính và bổ nhiệm hoặc bãi chức các công chức hành chính, đào tạo, bồi

dưỡng năng lực, đánh giá thưởng phạt đối với đội ngũ công chức hành chính; và thực

hiện các quyền khác mà Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao cho

Quốc vụ viện chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội và khi Quốc hội không họp thì trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Như vậy, việc tổ chức và hoạt động của Quốc vụ viên theo Hiến pháp năm 1982 của CHND Trung Hoa (sửa đổi năm 1988, 1993, 1999 và 2004) là một Hiến pháp của thời kỳ cải cách, thể hiện rõ ràng quan điểm thực tiễn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tránh bệnh hình thức mà hướng nhiều vào khả năng thực hiện Hiến pháp 1982 đã đề cao tính chịu trách nhiệm của Thủ tướng và các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; cũng như có sự phân định, phân công công việc, nhiệm vụ quyền hạn một cách rõ ràng cũng như chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm Các nhiệm vụ, quyền hạn của các

cơ quan được phân công cụ thể, không chồng chéo, bổ sung lẫn nhau và được bảo đảm bởi cơ chế hợp tác và sự lãnh đạo của Đảng tại chỗ ở từng cơ quan Sự phân công hợp

lý giữa các cơ quan nhà nước và các chức vụ lãnh đạo nhà nước giúp tránh tập trung quá nhiều quyền hạn và nhiệm vụ, dẫn đến ôm đồm, không khả thi Đây là điều phải học tập trong việc tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước CHDCND Lào

1.3.3 Chính phủ Nhật Bản

Bộ máy Nhà nước Nhật Bản được tổ chức dựa trên cơ sở học thuyết “Tam quyền

phân lập” Thuyết “Tam quyền phân lập” đã đưa ra mô hình thực hiện cơ chế quyền

lực nhà nước Nếu nói một cách khái quát nhất, theo nguyên tắc phân quyền thì sự phân bổ quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước phải đảm bảo sao cho không có cơ quan nào nằm trọn vẹn quyền lực Nhà nước trong tay mình, đồng thời không có cơ quan nào không bị ràng buộc bởi pháp luật, không có cơ quan nào nằm ngoài sự giám sát, kiểm tra từ phía các cơ quan khác Trong ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhánh quyền lực hành pháp chiếm một vị trí đặc biệt, thậm chí nó bị thay đổi

Trang 34

theo thời gian không còn đúng với nghĩa chỉ là tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật của cơ quan lập pháp, theo đúng vị trí vai trò của nó được nêu trong học thuyết văn quyền, nền tảng Hiến pháp của các Nhà nước phát triển

Theo Hiến pháp Nhật Bản năm 1947, Nhật bản là nước quân chủ lập hiến Nhật Hoàng là người đứng đầu Nhà nước và là biểu tượng của sự thống nhất của đất nước

và của dân tộc Nhật Hoàng không có quyền hành riêng Quyền hành pháp ở Nhật do Chính phủ thực hiện Chính phủ Nhật được gọi là Nội các Tại Điều 65 Hiến pháp

1947 quy định, Nội các nắm giữ quyền hành pháp

Về cơ cấu tổ chức, Điều 66 Hiến pháp 1947 quy định “Nội các bao gồm Thủ tướng là người đứng đầu Nội các và các Bộ trưởng theo quy định của pháp luật Thủ tướng và các Bộ trưởng phải là công chức dân sự” Nhật Bản đã xây dựng chương

trình cải cách bộ máy của Chính phủ với phương châm xây dựng một chính phủ có bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả cao nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Thủ tướng và nội các Phương pháp thực hiện là tổ chức lại và giảm số lượng các Bộ, xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính độc lập, quy định rõ phạm vi thẩm quyền và nâng cao hiệu quả việc phối hợp công tác giữa các cơ quan; thiết lập một hệ thống tiêu chí nhằm đánh giá các chính sách, tách bộ phận hoạch định chính sách khỏi các cơ quan có chức năng tổ chức, đẩy mạnh tư nhân hóa, thuê khoán bên ngoài một loạt dịch vụ…Kết quả thu được rất đáng khích lệ, bộ máy của Chính phủ được thu gọn đáng kể, từ 23 Bộ và một Văn phòng xuống còn 12 Bộ và một Văn phòng; số lượng các tổ chức bên trong của các cơ quan hành chính giảm đáng kể, từ 128 đơn vị cấp vụ, cục và tương đương thuộc các cơ quan hành chính trước đây, nay đã giảm xuống còn 96 đơn vị; từ 1.600 đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc các cơ quan, tổ chức, nay giảm xuống còn 995 đơn

vị Số lượng công chức làm việc tại các cơ quan hành chính giảm khoảng 300.000 người và sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới; vai trò của Văn phòng Nội các đã được nâng tầm so với các Bộ; tăng cường quyền lực và khả năng kiểm soát của Thủ tướng đối với các Bộ Trước cải cách, đa phần các chính sách được các Bộ đề xuất, sau cải cách thì những chính sách quan trọng có tầm chiến lược được Thủ tướng chỉ đạo và

đề xuất [30; tr.28] Con số này rất đáng lưu tâm khi hiện nay cơ cấu bộ máy của Lào đang dần phình ra và cần một giải pháp hợp lý hơn để tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước Lào

Trang 35

Về hoạt động của Chính phủ Theo Điều 65 Hiến pháp năm 1947, Nội các Nhật

thực hiện quyền hành pháp Ngoài những chức năng hành chính chung, Hiến pháp còn trao cho nội các quyền lãnh đạo các công việc của Nhà nước, lãnh đạo chính sách đối ngoại; ký kết các Hiệp định quốc tế, chuẩn bị và đệ trình lên Quốc hội dự thảo luật về Ngân sách Nhà nước, quyết định đại xã và đặc xá Nội các có quyền ban hành sắc lệnh

trên cơ sở “thi hành Hiến pháp và pháp luật”, sắc lệnh mang tính quy phạm luật Mọi

luật và sắc lệnh đều được các Bộ trưởng hữu quan và Thủ tướng ký chứng thực trước khi có hiệu lực [1; tr 107-108]

Ngoài ra Nội các còn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện một số quyền hạn của Nhật Hoàng Theo lời cố vấn và sự đồng ý của Nội các, Nhật Hoàng công bố những sửa đổi Hiến pháp, luật, sắc lệnh, các Hiệp ước, triệu tập kỳ họp của Quốc hội; chứng nhận việc bổ nhiệm và bãi nhiệm các bộ trưởng và các quan chức khác; trao huân chương; phong cấp, tiếp đại biểu ngoại giao các nước, v.v… (Điều 7 Hiến pháp năm 1947)

Hiến pháp năm 1947 ghi nhận nguyên tắc lãnh đạo cá nhân trong hoạt động của Chính phủ Nhật Nguyên tắc này được biểu hiện ở sự tập trung vào tay Thủ tướng Chính phủ toàn bộ quyền hành pháp Thủ tướng Chính phủ không những có quyền bổ nhiệm, mà còn bãi nhiệm các Bộ trương, thành viên của Nội các (Điều 68) Nhân danh Nội các, Thủ tướng còn đệ trình lên Quốc hội các dự thảo luật; báo cáo trước Quốc hội

về tình hình công việc đối nội và đối ngoại; thực hiện việc giám sát toàn bộ công việc

và hoạt động của bộ máy hành pháp Bộ trưởng đang đương nhiệm, không thể bị truy

tố, nếu không được phép của Thủ tướng (Điều 75) Việc thủ tướng từ chức sẽ dẫn đến

sự từ chức của tàn bộ nội các (Điều 70) Việc đặt vị trí Thủ tướng chính phủ ngày càng cao của Nhật Bản là sự thể hiện áp lực đòi hỏi thực tiễn chính trị hiện đại Xu hướng này ngày càng bàn nhiều với việc sửa đổi Hiến pháp với một nội dung quan trọng là bầu Thủ tướng trực tiếp Đây là một xu hướng muốn khắc phục phần nào khiếm khuyết của nét đẹp văn hóa tập thể trong đời sống chính trị Nhật Bản [7; tr.112] Đây cũng là kinh nghiệm cần học hỏi cho văn hóa tập thể của chính trị Lào

Ngòai ra, một điểm lưu ý trong hoạt động của Nội các Nhật Bản là nhiệm kỳ của

các thành viên khá ngắn (57% dưới một năm và 77% dưới hai năm) [7; tr.114], nhưng Nội các vẫn có thể duy trì được hoạt động có hiệu quả và luôn thể hiện là một thể chế

có quyền lực mạnh Đối với họ, việc rời khỏi Nội các không tạo ra cảm giác ô danh

Trang 36

chính trị, và trên thực tế họ vấn tham gia hoạt động chính trị Đây là điều đáng học hỏi

cho việc văn hóa “sợ từ chức”, sợ chịu trách nhiệm hiện nay của các thành viên Chính

phủ Lào

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chính phủ - một trong những thiết chế quan trọng của bộ máy Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã có hơn 40 năm phát triển và trưởng thành Bộ máy đó được tổ chức theo nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước

là thống nhất, các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, trong đó Chính phủ là

cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, có trách nhiệm điều hành toàn bộ nền hành chính hoạt động một cách thông suốt, hiệu quả trong nền kinh tế thị trường Trải qua hơn 40 năm, Chính phủ Lào luôn giữ vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối, cương lĩnh của Đảng thành chính sách, pháp luật, giải pháp và tổ chức thực hiện các chính sách và giải pháp đó có hiệu quả, đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thử thách; từng bươc chuyển đổi từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế mới có hiệu quả, tạo sự khởi sắc về kinh tế - xã hội Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước CHDCND Lào được quy định trong Hiến pháp năm 2003 và các văn bản liên quan đã tạo điều kiện cho Chính phủ hoạt động hiệu quả Việc tham khảo những kinh nghiệm

từ việc tổ chức Chính phủ của các nước trên thế giới cùng với thực tiễn hoạt động của Chính phủ Lào sẽ chỉ ra cho chúng ta thấy bộ máy tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào còn những thiếu sót gì Do đó, tác giả sẽ chỉ ra những thực trạng tổ chức và hoạt động cũng như những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động Chính phủ Lào tại chương 2 luận văn này

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO THEO HIẾN PHÁP NĂM 2003, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG GIAI ĐOẠN

* Việc thay đổi cơ cấu, sắp xếp, tổ chức lại bộ máy của Chính phủ đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nói chung

và Chính phủ nói riêng đã có sự thay đổi căn bản do có sự thay đổi về chức năng của Nhà nước Bộ máy hành chính của Nhà nước lúc này không phải phình ra theo tỉ lệ thuận với cơ cấu ngành kinh tế và sự phát triển phong phú của các ngành, các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, ngược lại, trong điều kiện nhà nước thực hiện vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, BMNN nói chung, bộ máy hành chính nhà nước nói riêng cần phải gọn nhẹ, đa năng, hiệu lực và hiệu quả Trước yêu cầu đó, với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của đất nước, thực hiện vai trò thống nhất QLNN trên toàn lãnh thổ, những năm qua, Chính phủ CHDCND Lào đã trải qua các bước cải cách, điều chỉnh về cơ cấu tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, tập trung vào thực hiện chức năng nhiệm vụ thống nhất quản lý hành chính Nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động Nhà nước và xã hội, đảm bảo tổ

Trang 38

chức thi hành Hiến pháp, pháp luật, đảm bảo các quyền của công dân và tổ chức Đến nay, cơ cấu tổ chức Chính phủ đã được điều chỉnh, sắp xếp lại gọn nhẹ và hợp lý hơn, tạo điều kiện để Chính phủ tập chung năng lực vào việc thực hiện các chức năng của

cơ quan đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước Về số lượng, hiện nay Chính phủ

Lào có Văn phòng Chính phủ, 18 bộ, 3 cơ quan ngang bộ đó là: Bộ Quốc phòng; Bộ

An ninh, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Thể thao, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa – Thông tin và Du lịch, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông lâm nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Năng lượng

và Địa chất, Bộ Công nghiệp và Thương mại, Bộ Giao thông vận tại, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Bưu chính, Vô tuyến Viễn thông và Thông tin; Cơ quan ngang bộ gồm: Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước CHDCND Lào, Cơ quan kiểm soát Chính phủ Ngoài ra còn có 7 cơ quan trực thuộc Chính phủ So với trước năm

1986, con số đầu mối tổ chức bộ máy của Chính phủ đã giảm, trên cơ sở đó, các chức năng, nhiệm vụ mới của Chính phủ được điều chỉnh sắp xếp lại cho phù hợp Một số

cơ quan mới đã được thành lập để thực hiện vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường Về thành viên Chính phủ, Hiến pháp quy định rõ Chính phủ gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ Như vậy, Chính phủ đã có nhiều đổi mới trong tổ chức bộ máy, hợp lý hóa hơn qua việc tách một số

Bộ từ 13 Bộ, 2 cơ quan ngang Bộ lên thành 18 Bộ, 3 cơ quan ngang Bộ nhằm chuyên môn hóa quản lý nhà nước của các Bộ và cơ quan ngang Bộ, phân cấp mạnh hơn cho các Bộ trưởng về tổ chức và công tác cán bộ Mặt khác, nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn số Bộ quản lý ngành đã tăng lên thêm 5 Bộ Đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngay trong bộ máy của Chính phủ, Chính phủ Lào đã thành lập Cơ quan

kiểm soát Chính phủ để kiểm soát toàn bộ hoạt động của bộ máy của Chính phủ

Đồng thời, Chính phủ cũng củng cố lại một bước chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; lề lối làm việc của các bộ, cơ quan ngang bộ Trên cơ sở văn bản pháp luật của Nhà nước, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ cũng đã tiến hành củng cố tổ chức bộ máy

của mình (các cục, vụ, văn phòng…) theo hướng xác định rõ tính chất, chức năng của

từng loại cơ cấu tổ chức trực thuộc, loại bỏ những cơ cấu trung gian, phân biệt rõ các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng QLNN với các tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ cấu đó; bố trí sắp

Trang 39

xếp lại độ ngũ cán bộ, công chức cho phù hợp với khả năng, trình độ của mỗi người nhằm phát huy tối đa khả năng của họ

Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, củng cố tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà

nước (được thành lập theo Nghị định số 159 của Chính phủ ngày 26/8/1996) Sau khi

củng cố, Kiểm toán Nhà nước gồm các đơn vị; Cục kiểm toán các cơ quan nhà nước

và các đơn vị kinh doanh; Cục kiểm toán dự án đầu tư và hợp tác đối ngoại; phòng quản lý hành chính

Ngoài ra, Chính phủ tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh lại chức năng một số Ủy ban Nhà nước, chuyển một số công việc do các Ủy ban này phụ trách cho Vụ tổ chức cán

bộ, công chức thuộc Văn phòng Chính phủ Tiếp tục củng cố chức năng của Ủy ban Trung ương chỉ đạo hướng dẫn phát triển nông thôn theo hướng chuyển giao công tác nghiên cứu chỉ đạo thực hiện chính sách vĩ mô và công tác chỉ đạo hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ nông thôn cho Bộ nông nghiệp - lâm nghiệp và địa phương thực hiện

Cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn ở địa phương cũng được đổi mới, sắp xếp phù hợp với tổ chức ngành ở Trung ương và điều kiện cụ thể của địa phương Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định về cơ cấu các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, khẳng định mô hình tổ chức cứng, được tổ chức thống nhất theo quy định của Trung ương và đồng thời trao quyền cho địa phương tự quyết định các loại tổ chức mềm phù hợp hơn

Thành viên Chính phủ nhiệm kỳ mới, được đào tạo chính quy, bài bản hơn nhiệm

kỳ trước Hiện nay, thành phần Chính phủ khóa mới nhiều nhà chính trị hơn, nhiều người có bằng cấp, học hàm học vị cao so với thành phần của Chính phủ các khóa trước đây

Nhìn chung, có được cơ cấu tổ chức Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ CHDCND Lào như hiện tại là kết quả của quá trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào trong 20 năm qua Việc điều chỉnh, sắp xếp các cơ quan trong

hệ thống hành chính, nhất là đối với các cơ quan của Chính phủ làm cho bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương trở nên gọn nhẹ hơn, minh bạch và hoạt động có hiệu quả hơn

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w