Nhận thấy, tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là quyền con người, quyền công dân quan trọng không kém tiếp cận thông tin về hoạt động của nhà nước nhưng pháp luật hiện hành chưa qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS BÙI ĐĂNG HIẾU
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp Cao học được hoàn thành tại Đại học Luật
Hà Nội Có được bản luận văn tốt nghiệp này, em xin được bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Bùi Đăng Hiếu
– người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em với những chỉ dẫn tận tình trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài:
“Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Việt Nam”
Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo trong tổ bộ môn Luật Dân sự đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho em trong những năm tháng qua
Xin gửi tới Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu
Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu, nhiệt tình của các bạn học viên lớp cao học khóa K21 trường Đại học Luật Hà Nội đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn
Luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em mong được sự đóng góp và chỉ bảo chân thành của các thầy, cô để em
có thể hoàn thiện hơn nữa quan điểm và nhận thức của mình về đề tài
Sau cùng, em xin được kính chúc quý thầy, cô thật dồi dào sức khỏe, niềm tin và nhiệt huyết để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Trang 4MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận của quyền tiếp cận thông tin trong pháp
1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự 6
1.2 Quá trình ghi nhận quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực
1.3 Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự 11
1.4 Đối tượng của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân
1.5.2.2 Nguyên tắc mở thông tin một cách tối đa 17 1.5.2.3 Nguyên tắc hạn chế các giới hạn tiếp cận thông tin 17 1.5.2.4 Nguyên tắc cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, chi phí không
1.5.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên khi tiếp cận thông tin dân sự 18
1.6 Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực
1.6.1 Những thông tin bắt buộc phải công khai 19 1.6.2 Cách thức yêu cầu cung cấp thông tin 21
1.6.3.1 Thời hạn trả lời yêu cầu tiếp cận thông tin 17
Trang 51.6.3.2 Trả lời đối với yêu cầu tiếp cận thông tin 18
1.6.4 Khiếu nại đối với quyết định về yêu cầu tiếp cận thông tin 24
1.7 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền tiếp cận thông tin
2.1 Quyền tiếp cận thông tin về tài sản phải đăng ký quyền sở
2.1.1 Tiếp cận thông tin về tài sản phải đăng ký quyền sở hữu 28
2.1.1.2 Chủ thể có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin 28 2.1.1.3 Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin 30
2.1.2 Tiếp cận thông tin về đăng ký giao dịch bảo đảm 38
2.2 Quyền tiếp cận thông tin về hàng hóa, dịch vụ 46 2.2.1 Tiếp cận thông tin về chất lượng sản phẩm 48 2.2.2 Tiếp cận thông tin qua nhãn phụ của hàng hóa nhập khẩu 49
2.3 Quyền tiếp cận thông tin về cá nhân, thông tin về tổ chức 52 2.3.1 Tiếp cận thông tin tín dụng của cá nhân, tổ chức vay vốn 55 2.3.2 Thực tế kinh doanh từ việc bán thông tin cá nhân, gửi thư rác 58 2.3.3 Tiếp cận thông tin cá nhân của người nổi tiếng 59
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông
3.1 Xây dựng, hoàn thiện quy định pháp luật về tiếp cận thông
3.1.2 Tiếp cận thông tin về giao dịch bảo đảm 64 3.1.3 Tiếp cận thông tin về hàng hóa, dịch vụ 65 3.1.4 Tiếp cận thông tin về cá nhân, thông tin về tổ chức 66
3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện tiếp cận thông tin 66
3.3 Xây dựng hệ thống dữ liệu điện tử quốc gia về cung cấp
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quyền tiếp cận thông tin là quyền con người, quyền công dân cho phép mọi người tiếp cận với mọi loại thông tin, dưới mọi hình thức, không phân biệt phương tiện lưu trữ Quyền này đã được Liên hợp quốc khẳng định tại Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự & chính trị năm 1966
Thể chế hóa các quy định này vào pháp luật quốc gia, rất nhiều nước trên thế giới đã ban hành luật về tiếp cận thông tin Việt Nam cũng đang Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin, tuy nhiên, Dự thảo này chỉ quy định việc tiếp cận thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước, không quy định về tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực khác Nhận thấy, tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là quyền con người, quyền công dân quan trọng không kém tiếp cận thông tin về hoạt động của nhà nước nhưng pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể, đầy đủ nội dung này mà chỉ có một vài quy định rải rác trong các lĩnh vực nên cần nghiên cứu để quy định bổ sung
Giao dịch dân sự được thực hiện hàng ngày, hàng giờ trên khắp đất nước nhưng rất nhiều trường hợp có bên tham gia giao dịch khi không hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình, thiếu thông tin về đối tượng giao dịch, nội dung giao dịch … Việc thiếu thông tin này khiến cho các đối tượng có cơ hội trục lợi bằng cách xâm phạm quyền lợi của người tham gia giao dịch
Nhiều trường hợp người tham gia quan hệ dân sự muốn tìm hiểu rõ thông tin để xác lập quan hệ nhân thân, để đầu tư, hoặc tham gia giao dịch về tài sản cho chắc chắn nhưng bị từ chối cung cấp thông tin hoặc không tiếp cận được thông tin vì lý do luật chưa quy định nên các chủ thể nắm giữ thông tin đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau Và người bị thiệt là cá nhân, tổ chức có yêu cầu
Ngoài ra, các loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường ngày một phong phú
về chủng loại, đa dạng về mẫu mã nên kéo theo sự khó kiểm soát chất lượng hàng hóa, dễ có sự trà trộn của hàng giả, hàng kém chất lượng Thông tin thành phần, công dụng của sản phẩm ít được kiểm nghiệm Đa số các trường hợp người tiêu dùng không hiểu rõ hàng hóa, dịch vụ mình lựa chọn, họ quyết định mua dựa trên thói quen sử dụng, hoặc lựa chọn theo số đông
Trang 7Hơn nữa, thông tin quảng cáo thường vượt quá chức năng, công dụng sản phẩm lại được phát nhiều lần trong ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng ảnh hưởng đến đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm Hoạt động này cộng thêm việc không có kênh thông tin chính thống cung cấp thông tin chất lượng sản phẩm nên người tiêu dùng rơi vào tình trạng thiếu thông tin, họ đặt niềm tin vào một cơ sở kinh doanh quen thuộc và chỉ mua hàng hóa, dịch vụ ở
đó Với cách làm này người tiêu dùng đã tự giới hạn thị trường của mình Trong khi thực hiện được chế độ công khai thông tin sản phẩm, sẽ tạo ra sự so sánh công bằng giữa những hàng hóa, dịch vụ cùng loại, góp phần minh bạch hóa thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
Từ thực tế này cho thấy, để đảm bảo quyền của các chủ thể tham gia quan
hệ dân sự và cũng nhằm phát triển các giao dịch dân sự - kinh tế, vấn đề cấp thiết phải giải quyết là Nhà nước cần sớm ban hành hệ thống các quy định về tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Cho rằng, việc nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân
sự là tất yếu phải thực hiện, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, tác giả đã
lựa chọn đề tài “Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Việt Nam”
để thực hiện luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, pháp luật về tiếp cận thông tin nói chung chỉ được các học giả Việt Nam nghiên cứu trong những năm gần đây Nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự lại rất hạn chế, chủ yếu là các bài viết, chuyên
đề, đề tài về tiếp cận thông tin trong những lĩnh vực cụ thể, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự nói chung
Một số công trình nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong những lĩnh vực riêng biệt là:
+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Đề tài khoa học cấp trường:
Quyền được cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin của người tiêu dùng Đề tài
đã xây dựng cơ sở lý luận về quyền được thông tin, chỉ rõ những quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này, thực trạng thi hành và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên đề tài chỉ xem xét quyền được cung cấp thông tin trong pháp luật
Trang 8bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đề tài không tìm hiểu về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự nói chung
+ Nguyễn Vân Anh (2011), Khóa luận tốt nghiệp: Quyền được thông tin
của người tiêu dùng Tương tự với đề tài trên, đề tài này giới hạn tìm hiểu quyền
được thông tin đối với người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, không tìm hiểu về quyền được thông tin trong giao dịch dân sự nói chung
Một số bài viết về quyền tiếp cận thông tin trong một số lĩnh vực:
+ Nguyễn Văn Cương (2013), “Một số vấn đề lý luận về quyền được
thông tin của người tiêu dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/2013, tr
17-25
+ Phan Thị Thành Dương (2013), “Quyền tiếp cận thông tin tín dụng của
công ty thông tin tín dụng ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04/2013
+ Nguyễn Thị Hồng (2009),”Quyền tiếp cận thông tin trong các giao dịch
liên quan đến quyền sử dụng đất”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15/2009
+ Phan Huy Hồng (2013), “Quyền và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin
trong Luật quốc tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2013
+ Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2013), “Một số vấn đề về quyền tiếp cận
thông tin trong lĩnh vực môi trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2013
Những bài viết này chủ yếu phân tích về nội dung quy định pháp luật hiện hành và thực tế thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực cụ thể, đưa
ra một số bất cập và yêu cầu hoàn thiện Các bài viết cũng đề cập đến chủ thể có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin, phạm vi tiếp cận thông tin, phí tiếp cận thông tin và bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin
Đề tài “Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Việt Nam” được triển khai ở cấp độ luận văn thạc sỹ sẽ nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống
về tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự nói chung Đề tài xây dựng một số nội dung về cơ sở lý luận của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự; đi sâu nghiên cứu về nội dung và thực tế thực hiện quyền trong một số lĩnh vực cụ thể; từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự ở Việt Nam Đề tài không hề có sự trùng lặp về nội dung so với các bài viết, công trình nghiên cứu công bố trước đây
Trang 93 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự nói chung Tìm hiểu thực tế áp dụng các quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
- Chỉ ra những điểm những điểm hợp lý, những điểm chưa hợp lý, chưa thống nhất trong các quy định về tiếp cận thông tin ở một số lĩnh vực cụ thể Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu, tìm hiểu quy định của pháp luật dân sự về quyền tiếp cận thông tin
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự nói chung
- Đánh giá thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về tiếp cận thông tin ở một số lĩnh vực cụ thể, chỉ ra những điểm cần khắc phục
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
3.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Việt Nam, không xem xét quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực khác và pháp luật quốc tế Đề tài có trích dẫn một số nội dung về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật một số quốc gia nhưng chỉ có ý nghĩa tham khảo cách quy định, không tiến hành so sánh, phân tích sâu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng pháp luật dân sự
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp nghiên
Trang 10cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh … Nguồn tài liệu nghiên cứu là các văn bản pháp luật về quyền tiếp cận thông tin, một số nghiên cứu về quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực ở Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự và những vướng mắc, tồn tại khi áp dụng quy định pháp luật Đề tài đã góp phần bổ sung về mặt lý luận và thực tiễn cho lĩnh vực nghiên cứu với các ý nghĩa sau đây:
- Đề tài đã xác định được cơ sở lý luận của quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Cụ thể, đề tài đã xây dựng khái niệm, chỉ rõ các đặc điểm về chủ thể, đối tượng, phạm vi, nguyên tắc, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự
- Đề tài tìm ra được những tồn tại trong công tác xây dựng và thi hành
pháp luật trong tiếp cận thông tin đất đai, giao dịch bảo đảm, chất lượng hàng hóa và tiếp cận thông tin cá nhân
- Đề tài đã đề xuất kiến nghị hoàn thiện một số quy định pháp luật; đề xuất giải pháp cho người tiêu dùng kiểm tra mã vạch sản phẩm để họ tự bổ sung kiến thức về sản phẩm và phần nào hạn chế tình trạng buôn bán hàng giả
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh lục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân
sự Việt Nam
Chương 2: Quyền tiếp cận thông tin trong một số lĩnh vực
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Quyền tiếp cận thông tin là khái niệm còn khá mới ở Việt Nam nhưng trên thế giới nó đã được ghi nhận từ rất sớm Tuy nhiên ban đầu, pháp luật các nước chỉ xác định quyền tiếp cận đối với các thông tin công quyền Đến khi Liên hợp quốc ra đời, tổ chức này mới ghi nhận quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin (trong đó có thông tin dân sự) là một trong những quyền cơ bản của con người tại Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 Sau đó, năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị lại khẳng định một lần nữa Những nội dung về tự do thông tin trong hai văn kiện pháp lý quốc tế này là xuất phát điểm cho các quốc gia trên thế giới xây dựng pháp luật về tiếp cận thông tin của mình Do đó, để xác định thế nào là tiếp cận thông tin trong dân sự chúng ta phải tìm hiểu từ những văn bản luật gốc này
Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948 và Điều 19 trong Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm
1966 đều xác định: mọi người có quyền tự do biểu đạt, tự do tìm kiếm, tiếp nhận
và truyền đạt thông tin, không bị giới hạn về loại thông tin, hình thức tồn tại của thông tin cũng như cách truyền đạt
Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc năm 1977, đó cũng là thời điểm Việt Nam cam kết thực hiện Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền Đối với ICCPR, Việt Nam gia nhập công ước này ngày 24/9/1982 Như vậy, Tuyên ngôn quốc tế
về Nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam
Từ những nội dung về quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin trong Điều 19 của UDHR và ICCPR, chúng ta có thể xác định: mọi người đều có quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin Thông tin được tiếp cận là mọi loại thông tin trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dân sự, trừ những ngoại
lệ được pháp luật quy định
Quyền tiếp cận thông tin, kể cả tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự, là một bộ phận của quyền tự do thông tin, nên quy định về tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự cần được xây dựng dựa trên những quy định về tự do thông tin Trước hết, dựa trên nghĩa gốc của từ thì “tiếp cận” là hành động từng bước, bằng
Trang 12những cách thức nhất định để đến gần, tìm hiểu về một vấn đề nào đó Theo đó, tiếp cận thông tin là một quá trình từ khi một người có nhu cầu tìm hiểu thông tin đến khi họ nắm giữ được thông tin đó Để có được thông tin mình cần, người này có thể phải trải qua các giai đoạn: tìm kiếm, thu thập, sàng lọc thông tin Thu thập thông tin chính là sự tiếp nhận thông tin được truyền đạt từ các chủ thể khác Do đó, để tiếp cận thông tin phải có sự diễn ra đồng thời hành vi tiếp nhận
và hành vi truyền đạt thông tin Hai hành vi này là bản chất của quá trình tiếp cận thông tin nói chung và tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự nói riêng Như vậy, tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự bao gồm các hành vi: tiếp nhận
và truyền đạt thông tin
Mọi chủ thể của quan hệ dân sự đều có quyền tiếp cận những thông tin liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, đó là: thông tin về tài sản, nhân thân của các bên chủ thể, thông tin về nội dung giao dịch, thông tin về hàng hóa – sản phẩm, dịch vụ … Các chủ thể khác có quyền tiếp cận với nhiều loại thông tin nhưng có những thông tin chỉ tổ chức, cá nhân là một bên của quan hệ dân sự (hoặc không trực tiếp tham gia quan hệ nhưng việc thực hiện quan hệ này có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ) mới được tiếp cận, ví dụ: những thỏa thuận cụ thể của các bên trong hợp đồng, những thay đổi, biến động về nội dung thỏa thuận
Thông tin được tiếp cận không bị giới hạn hình thức tồn tại, lưu trữ Hình thức tồn tại có thể dưới dạng văn bản, lời nói (đĩa ghi âm), hình ảnh (hình vẽ, đĩa ghi hình), dạng dữ liệu điện tử hoặc bất kỳ dạng vật chất nào chứa đựng thông tin … đều có thể được tiếp cận
Về bản chất, quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là một quyền con người quan trọng, là quyền nhân thân Do đó, quyền tiếp cận thông tin trong dân sự có những đặc điểm sau:
- Là quyền nhân thân không gắn với tài sản Việc công nhận quyền tiếp cận thông tin của chủ thể quan hệ dân sự là đương nhiên, để được pháp luật bảo
vệ, không cần chứng minh mối quan hệ giữa chủ thể và nội dung quyền
- Là quyền nhân thân gắn với bản thân mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và về nguyên tắc thì không thể chuyển giao cho chủ thể khác – trừ trường hợp pháp luật quy định
- Thời điểm xác lập quyền:có 02 thời điểm xác lập quyền:
Trang 13+ Quyền tiếp cận thông tin phát sinh từ khi sinh ra: là quyền nhân thân gắn với mỗi cá nhân, tổ chức nên thông thường quyền tiếp cận thông tin phát sinh cùng thời điểm con người sinh ra, tổ chức được thành lập
+ Quyền tiếp cận thông tin phát sinh trong hoàn cảnh cụ thể như khi một chủ thể tham gia quan hệ dân sự, hoặc phát sinh trong một điều kiện cụ thể như chủ thể có lợi ích liên quan đến thông tin cần cung cấp Khi đó, thời điểm xác lập quyền tiếp cận thông tin là thời điểm chủ thể tham gia quan hệ dân sự hoặc thời điểm phát sinh lợi ích liên quan của chủ thể yêu cầu
Như vậy, quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự gắn với mỗi cá nhân ngay khi sinh ra Ngoài ra trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể pháp luật quy định cũng làm phát sinh quyền tiếp cận thông tin
- Bảo vệ quyền: quyền tiếp cận thông tin được bảo hộ suốt đời, được xác lập tự động, chấm dứt khi chủ thể chết đi và được bảo vệ khi có yêu cầu
Như vậy, quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là quyền nhân thân của mỗi tổ chức, cá nhân Quyền này được bảo vệ như nhau đối với mỗi chủ thể, không phân biệt giới tính, địa vị, hoàn cảnh kinh tế; và không thể chuyển dịch cho chủ thể khác
Về tên gọi, pháp luật hiện hành có hai thuật ngữ phổ biến để gọi quyền này, đó là “quyền được thông tin” và “quyền tiếp cận thông tin” Quyền tiếp cận thông tin là thuật ngữ được sử dụng trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật được xây dựng, ban hành sau thời điểm này Còn trước Hiến pháp năm 2013 được gọi là quyền được thông tin trong các lĩnh vực cụ thể, ví dụ: quyền được thông tin của người tiêu dùng, quyền được thông tin qua báo chí Dù từ ngữ khác nhau nhưng nội dung quyền thì tương tự nhau Tuy vậy, các quyền này cũng cần được sửa đổi cách gọi để phù hợp với thay đổi của Hiến pháp, và cũng để thay đổi vị thế của người tiêu dùng, người đọc sang thế chủ động tiếp cận thông tin
Tóm lại, quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là một quyền nhân thân của cá nhân, tổ chức và chủ thể quan hệ dân sự Các chủ thể quyền được tìm hiểu những thông tin trong quan hệ dân sự mà pháp luật cho phépthông qua sự cung cấp của chủ thể nắm giữ, quản lý thông tin đó Thông tin tiếp cận là những thông tin về tài sản, nhân thân của các bên trong quan hệ dân sự, hoặc thông tin liên quan về giao dịch dân sự Thông tin này có thể tồn tại dưới dạng bản viết,
Trang 14bản in, hình ảnh, băng ghi âm … hoặc bất kỳ dạng vật chất nào có thể chứa đựng thông tin
1.2 Quá trình ghi nhận quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Những quy định đầu tiên về tiếp cận thông tin đã xuất hiện từ thế kỷ thứ XVIII: năm 1766 tại Thụy Điển, năm 1776 tại Hoa Kỳ và năm 1789 tại Pháp Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng lại ở quyền tiếp cận thông tin nhà nước Thời điểm này, chưa có nhiều quy định về tiếp cận thông tin trong dân sự, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp mới chỉ quy định tại Điều 11:
tự do trao đổi tư tưởng và quan điểm là một trong những quyền quý nhất của con người, mọi công dân có thể tự do nói, viết, công bố nhưng họ sẽ phải chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định pháp luật Nghĩa là công dân
có quyền tự do tiếp nhận và truyền đạt thông tin trong mọi lĩnh vực, kể cả trong quan hệ dân sự
Tuy nhiên, phải đến giữa thế kỷ XX, sau khi Liên hợp quốc được thành lập thì quyền tiếp cận thông tin mới được biết đến rộng rãi trên thế giới qua Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - văn hóa và xã hội năm 1966
Trong Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948, quyền tiếp cận
thông tin đã được công nhận tại Điều 19: mọi người đều có quyền tự do thể hiện
và bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp và tự do tìm kiếm, tiếp nhận, truyền đạt các ý tưởng và thông tin bằng bất
kỳ phương tiện truyền thông nào mà không có giới hạn về biên giới Suy ra, mọi
người đều có quyền tự do tiếp nhận và truyền đạt các thông tin trong lĩnh vực dân sự
Tương tự, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR)
năm 1966 cũng đã ghi nhận tại Điều 19: mọi người đều có quyền tự do biểu đạt;
quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi loại thông tin, ý kiến, không có giới hạn về biên giới; hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết hoặc in, hoặc hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện nào tùy theo sự lựa chọn của họ Theo hai quy định này, có thể thấy, pháp luật quốc
tế ghi nhận sự tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự từ những năm giữa thế kỷ XX: khi đó, quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự được nhấn mạnh là
Trang 15mọi loại thông tin, từ thông tin về tài sản, thông tin về các bên trong quan hệ dân
sự đến những thông tin về nội dung giao dịch như đặc điểm hàng hóa, sản phẩm, giá cả, cách thức thanh toán, vận chuyển, …
Trong vài thập kỷ trở lại đây, việc ban hành luật về tiếp cận thông tin đã lan rộng trên thế giới Liên minh châu Âu đã ban hành Chỉ thị yêu cầu các quốc gia thuộc liên minh phải ban hành luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng Đa số các quốc gia trong Liên minh châu Âu đã
có quy định về tiếp cận thông tin trong dân sự [26]
Ở châu Phi, ngoại trừ Nam Phi có Luật Tăng cường tiếp cận thông tin quy định việc tiếp cận các hồ sơ tài liệu do các cơ sở tư nhân nắm giữ (tiếp cận thông tin dân sự) còn phần lớn các quốc gia khác chưa ban hành luật về tiếp cận thông tin dân sự
Các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận nội dung của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự với nghĩa rộng hẹp khác nhau Đa
số các quốc gia mới chỉ ban hành luật về tiếp cận thông tin nhà nước còn quy định về tiếp cận thông tin dân sự thì tồn tại rải rác trong các văn bản luật chuyên ngành, chưa được quy định riêng
Trong pháp luật Việt Nam, trước và sau khi Hiến pháp năm 2013 ra đời có
sự khác biệt rõ rệt trong việc xây dựng, quy định về tiếp cận thông tin Các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 mới chỉ quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, chưa có quy định nào về quyền tiếp cận thông tin Đến Hiến pháp năm 1992, lần đầu tiên Việt Nam có quy định về quyền được thông tin nói chung: “Công dân có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật” Quy định này là một bước tiến lớn, khẳng định sự đổi mới khi ghi nhận quyền được thông tin (trong đó có quyền được thông tin trong dân sự) là một quyền cơ bản của công dân Sau năm 1992, Nhà nước đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp bằng các văn bản luật nhưng chưa được chú trọng nên suốt một thời gian dài, không có văn bản nào quy định quyền được thông tin trong dân sự
Gần đây, sau khi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời nước ta mới có quy định cụ thể về quyền được thông tin của người tiêu dùng: “Người tiêu dùng được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất
xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch
Trang 16và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng” (khoản 2 Điều 8) Tuy nhiên, quyền này vẫn chưa được thực thi nhiều trên thực tế vì đa số người tiêu dùng chưa đủ kiến thức để tự sử dụng quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình
Từ năm 2012 trở về trước, các thuật ngữ sử dụng trong văn bản pháp luật
về tiếp cận thông tin đều là “quyền được thông tin” Từ năm 2013, thuật ngữ
“quyền tiếp cận thông tin” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp, được công nhận và sử dụng rộng rãi Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tiếp cận thông tin, việc thực hiện quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25) Với việc thay đổi thuật ngữ từ “quyền được thông tin” sang “quyền tiếp cận thông tin” vị thế của người dân đã thay đổi từ bị động sang chủ động và nghĩa vụ của chủ thể nắm giữ thông tin đã thay đổi từ nghĩa vụ công khai thông tin sang nghĩa vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu Việc thay đổi cách gọi này là cần thiết
và phù hợp với bản chất của quyền tiếp cận thông tin
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, pháp luật dân sự đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi
đã có quy định về quyền tiếp cận thông tin: “Cá nhân có quyền tiếp cận thông tin trong quan hệ dân sự Việc thực hiện quyền này do pháp luật quy định” (Điều 49) [15]
Như vậy, với sự ghi nhận quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp và Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi, chúng ta có thể tin tưởng rằng quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự sẽ sớm được cụ thể hóa và thực hiện trên thực tế
1.3 Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự bao gồm chủ thể có quyền tiếp cận thông tin và chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin
Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là cá nhân, tổ chức thông thường và các chủ thể đặc biệt Cá nhân, tổ chức thông thường là những chủ thể mà ngay từ khi sinh ra đã có quyền tiếp cận thông tin Chủ thể đặc biệt là những chủ thể được xác lập quyền tiếp cận thông tin dựa trên những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ví dụ: bên mua tài sản phải đăng ký quyền sở hữu có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về quá trình thực hiện thủ tục chuyển nhượng của bên bán
Trang 17Chủ thể không tham gia vào quan hệ dân sự nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến quan hệ dân sự đó là chủ thể của quyền tiếp cận thông tin với tư cách đặc biệt Họ chỉ được tiếp cận thông tin khi quan hệ này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mình, ví dụ như trường hợp sau: Bà A lập hợp đồng chuyển nhượng xe ô tô cho ông X Giấy chứng nhận đăng ký ô tô do bà A đứng tên chủ sở hữu Trong hợp đồng không nhắc gì đến ông B là chồng bà A Tuy nhiên, ông B vẫn có quyền được biết thông tin về hợp đồng mua bán này Ông B
có quyền yêu cầu văn phòng công chứng nơi bà A công chứng hợp đồng hoặc Phòng Cảnh sát giao thông nơi đăng ký lại xe ô tô cung cấp thông tin về việc chuyển nhượng này
Xác lập quan hệ dân sự với các chủ thể tham gia là công dân, người nước ngoài, tổ chức hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự khác biệt Tuy nhiên, tiếp cận thông tin trong quan hệ dân sự lại không phân biệt tư cách chủ thể Với bản chất là quyền nhân thân phát sinh khi có sự xác lập quan hệ dân sự, các chủ thể quyền tiếp cận thông tin được bảo vệ bình đẳng, không phân biệt tư cách tham gia Mọi công dân Việt Nam, người nước ngoài, tổ chức trong nước hay nước ngoài, có tư cách pháp nhân hay không đều có quyền tiếp cận thông tin như nhau về quan hệ dân sự mà mình xác lập
Để xác định một chủ thể có được tiếp cận thông tin về đối tác tham gia quan hệ dân sự hay không, cần chứng minh mối liên quan về quyền, nghĩa vụ giữa chủ thể đó và thông tin tiếp cận Chủ thể của quan hệ dân sự cần chứng minh mình đã tham gia quan hệ đó bằng các giấy tờ chứng minh nhân thân (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn…) nếu tiếp cận thông tin có liên quan đến quan hệ nhân thân, bằng các giấy tờ chứng minh quyền đối với tài sản (giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng) nếu tiếp cận thông tin về tài sản, bằng các giấy tờ chứng minh việc xác lập giao dịch (hợp đồng, giấy vay tiền, …) nếu tiếp cận thông tin về giao dịch dân sự Người không phải chủ thể của quan hệ dân sự để được tiếp cận thông tin về đối tác tham gia quan hệ dân sự cần chứng minh việc thực hiện quan hệ dân sự đó liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình Trường hợp này, người yêu cầu phải cung cấp thông tin về sự tồn tại của quan hệ dân sự, đồng thời phải có các giấy tờ cho thấy sự liên quan giữa người yêu cầu với chủ thể hoặc đối tượng của quan hệ dân sự đó
Trang 18Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin dân sự là chủ thể đang trực tiếp nắm giữ, quản lý thông tin Chủ thể này có thể là bên còn lại trong quan hệ dân
sự, người thứ ba hoặc cơ quan nhà nước Nếu chủ thể nắm giữ thông tin là cá nhân thì rất khó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin Nếu chủ thể nắm giữ thông tin là tổ chức thì có thể kiếm soát, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin nếu tổ chức đó được thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật Thông tin về quan hệ dân sự thuộc sự quản lý của cơ quan nhà nước
có khả năng được bảo đảm thực hiện cao nhất
Để việc cung cấp thông tin được hiệu quả, cần xác định trách nhiệm cung cấp thông tin thuộc về ai Đối với những thông tin do cơ quan nhà nước, tổ chức nắm giữ, người chịu trách nhiệm cung cấp thông tin có thể là người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó hoặc cá nhân được giao nhiệm vụ này Cơ chế “quy trách nhiệm” này tương tự với quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong hoạt động tố tụng đang được thực hiện khá hiệu quả hiện nay nên hứa hẹn sẽ thực thi tốt
Luật thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi năm 2000 quy định tiếp cận thông tin đối với chủ thể tư nhân Theo mục 56, khi nhận được yêu cầu tiếp cận thông tin, người đứng đầu chủ thể tư nhân có trách nhiệm trả lời [24, tr.1003] Nhờ quy định này, ở Nam Phi, các cá nhân có quyền được biết tại sao đơn xin vay tiền của họ bị ngân hàng từ chối hay các cổ đông thiểu số có thể xem hồ sơ lưu trữ của các công ty tư nhân [25, tr.57]
Có thể thấy, việc “quy trách nhiệm” đến từng cá nhân là việc làm cần thiết
để tăng tinh thần trách nhiệm khi cung cấp thông tin dân sự Pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay thường chỉ quy định nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức và sau đó căn cứ vào quy chế thành lập, hoạt động của cơ quan, điều lệ của tổ chức để xác định người chịu trách nhiệm chung đối với những nghĩa vụ đó (thường là người đứng đầu) Việc quy định gián tiếp như thế có thể góp phần đơn giản hóa các quy định nhưng có thể làm chậm việc thực hiện hoặc làm hạn chế quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự Nếu quy định trực tiếp người đứng đầu cơ quan,
tổ chức hoặc một người chuyên biệt có trách nhiệm cung cấp thông tin sẽ tăng khả năng thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự Pháp luật dân
sự Việt Nam nên quy định theo hướng này
Trang 19Tóm lại, chủ thể có quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là các chủ thể của quan hệ dân sự, chủ thể không tham gia vào quan hệ dân sự nhưng
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến quan hệ dân sự đó hoặc có nhu cầu tìm hiểu thông tin Quyền tiếp cận thông tin của các chủ thể này không phân biệt
họ là công dân Việt Nam, người nước ngoài, tổ chức trong nước hay nước ngoài,
có tư cách pháp nhân hay không Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin trong dân sự là là bên còn lại trong quan hệ dân sự, người thứ ba hoặc cơ quan nhà nước đang trực tiếp nắm giữ, quản lý thông tin
1.4 Đối tượng của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Đối tượng của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là các thông tin được tiếp cận Quan hệ dân sự bao gồm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân nên thông tin có thể được tiếp cận là tất cả các thông tin liên quan đến hai loại quan hệ đó Nghĩa là, đối tượng của quyền tiếp cận thông tin gồm thông tin về tài sản và nhân thân của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự
- Phân loại đối tượng:
+ thông tin mang tính tài sản: là những thông tin về quan hệ tài sản như:
o Thông tin về chủ sở hữu tài sản
o Thông tin về đặc điểm tài sản như: loại tài sản (vật, tiền, quyền tài sản), đặc điểm vật lý, đặc tính kỹ thuật, công dụng, nguồn gốc, hiện trạng … của tài sản
o Thông tin về các giao dịch liên quan đến tài sản (mua – bán, thuê – cho thuê, cầm cố, thế chấp, …) như: nội dung giao dịch, chủ thể còn lại của giao dịch, hiện trạng đăng ký giao dịch – chuyển quyền sở hữu …
+ thông tin mang tính nhân thân: là những thông tin về quan hệ nhân thân như:
o thông tin về các thành viên trong gia đình như: dân tộc, tôn giáo, nơi cư trú – làm việc, tình trạng sức khỏe … của cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi, con đẻ đã được người khác nhận làm con nuôi, vợ/chồng, thông tin về nguồn gốc huyết thống của trẻ em, …
o thông tin về tác giả tạo ra tài sản trí tuệ, thông tin về tác phẩm như nội dung, nguồn gốc ý tưởng, thời gian sáng tạo, …
Trang 20Sự phân loại này là tương đối, có thông tin trong hoàn cảnh này mang tính tài sản, trong hoàn cảnh kia mang tính nhân thân Ví dụ như thông tin về kết cấu,
sự toàn vẹn của tác phẩm nếu do tác giả tiếp cận thì mang tính nhân thân, nếu do chủ sở hữu quyền tác giả (không phải tác giả) tiếp cận thì mang tính tài sản Có thông tin nằm trong mối liên hệ chặt chẽ giữa quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân như: thông tin về động sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ (hoặc chồng)
1.5 Nội dung cơ bản của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
1.5.1 Phạm vi tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Xuất phát từ Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, thì về nguyên tắc, mọi loại thông tin đều có thể được tiếp cận trừ khi việc tiếp cận thông tin làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền khác hoặc xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan
Các trường hợp hạn chế về thông tin tiếp cận được các quốc gia quy định khác nhau, nhưng nhìn chung bao gồm: những thông tin thuộc về đời tư, bí mật kinh doanh; những thông tin, hồ sơ trong hoạt động tố tụng
Luật thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi năm 2000 không áp dụng với hồ sơ của các cơ quan tư pháp (điểm b mục 12) [24, tr.96] Đồng thời, việc thực hiện các quyền về tiếp cận thông tin của tổ chức tư nhân sẽ phải chịu những hạn chế hợp lý, bao gồm nhưng không giới hạn ở những hạn chế nhằm bảo vệ một cách thích đáng đời tư, bí mật thương mại; theo một cách thức mà đảm bảo
sự cân bằng giữa quyền được tiếp cận thông tin và các quyền khác (điểm b mục 9) [24, tr.963]
Ở Nhật Bản, giới hạn cung cấp thông tin của cá nhân là những thông tin liên quan đến một cá nhân mà có thể sử dụng (hoặc kết hợp với thông tin khác)
để xác định tên, tuổi, hoặc những thông tin đời tư khác hoặc có thể gây ra những nguy cơ cho các quyền và lợi ích cá nhân của người có liên quan [24, tr.1031]
Để phù hợp nhất với nguyên tắc được tiếp cận mọi loại thông tin, pháp luật Việt Nam nên quy định những giới hạn tiếp cận thông tin dân sự Ngoài giới hạn này, chủ thể quyền có thể yêu cầu tiếp cận đối với bất cứ thông tin gì Giới hạn này nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan,
Trang 21không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền khác Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự gồm:
- Tiếp cận đến thông tin cá nhân của một người khác, kể cả khi người đó đã chết, trừ các trường hợp:
+ người đó đã chấp nhận việc công khai thông tin về bản thân bằng văn bản;
+ thông tin về tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần của một cá nhân đang được sự chăm sóc của người yêu cầu và cá nhân đó: dưới 18 tuổi hoặc không thể hiểu về bản chất của yêu cầu; và việc cung cấp thông tin là vì lợi ích tốt nhất của cá nhân đó
+ thông tin về một cá nhân đã chết (không bao gồm thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân) và người yêu cầu: là con cháu của người đó; hoặc được
sự đồng ý của con cháu của người đã chết; [24, tr.1007]
- Tiếp cận những thông tin thương mại như:
+ những bí mật thương mại của chủ thể đó;
+ thông tin tài chính, thương mại, khoa học hoặc kỹ thuật mà không phải
là bí mật thương mại của một chủ thể và việc công khai những thông tin đó có thể làm tổn hại đến lợi ích thương mại hoặc tài chính của chủ thể đó;
Chỉ trong các trường hợp sau thông tin thương mại của một chủ thể có thể được cung cấp:
+ thông tin đã được công bố công khai;
+ chủ thể đó đã đồng ý việc cung cấp thông tin bằng văn bản;
+ thông tin về sản phẩm, điều tra về môi trường và các điều tra khác mà việc công bố những thông tin đó là cần thiết để bảo vệ sự an toàn của công chúng và của môi trường [24, tr.1010]
- Tiếp cận những tài liệu dùng trong hoạt động tố tụng Việc tiếp cận thông tin trong các hồ sơ, tài liệu dùng trong hoạt động tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng
Những giới hạn này phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Tuy nhiên, liên quan đến việc tiếp cận, công bố thông tin riêng
tư, khoản 2 Điều 38 Bộ luật dân sự hiện hành lại quy định người thân (cha, mẹ,
vợ, chồng, con) được cho phép thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của
cá nhân đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc chưa đủ 15 tuổi Quy định
Trang 22này mâu thuẫn với nguyên tắc bí mật đời tư là bất khả xâm phạm Do đó, cần sửa đổi quy định này Sửa đổi như trong Dự thảo Bộ luật dân sự là hợp lý Theo Dự thảo này, nội dung tại khoản 2 Điều 38 nói trên đã được bỏ và ghi nhận việc thu thập, sử dụng, công khai thông tin, tư liệu liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân phải được người đó đồng ý
1.5.2 Các nguyên tắc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
1.5.2.1 Mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc được ghi nhận từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 và được giữ nguyên đến nay (khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013) Trong việc tiếp cận thông tin cũng vậy, không thể có sự phân biệt khả năng thực hiện quyền do tư cách của người tiếp cận là cá nhân hay tổ chức, công dân trong nước, người nước ngoài hay tổ chức nước ngoài
1.5.2.2 Nguyên tắc mở thông tin một cách tối đa
Theo Toby Mendel, chuyên gia cao cấp của Liên hợp quốc về Luật tiếp cận thông tin, khi xây dựng Luật về tiếp cận thông tin/ tự do thông tin, nhà làm luật cần tiếp cận theo nguyên tắc thông tin phải được công khai tối đa, nghĩa là thông tin phải được cung cấp theo khả năng cao nhất có thể [25, tr.52]
Mặt khác, thông tin được yêu cầu tiếp cận trong dân sự là thông tin liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người yêu cầu Do đó, để tránh việc họ không hiểu biết hết các quyền của mình, tránh cho quyền lợi của họ bị xâm phạm thì thông tin cần được cung cấp tối đa để những người liên quan có thể tự bảo vệ và thực hiện tốt nhất các quyền của mình
Tiếp cận thông tin là một quyền con người đã được khẳng định trong các cam kết quốc tế, công ước của Liên hợp quốc với nội dung mọi người có quyền tiếp cận với mọi loại thông tin, bằng bất kể hình thức nào Như vậy, về mặt lý luận, khi nước ta thực hiện nội dung cam kết trên thì thông tin cần được tiếp cận một cách tối đa Về mặt thực tiễn, thực hiện tiếp cận thông tin một cách tối đa sẽ tạo ra lượng thông tin chính xác, phong phú giúp mọi người thực hiện tốt nhất các quyền dân sự, kinh tế của mình, đưa ra lựa chọn chính xác nhất trong các giao dịch; và kết quả đạt được sẽ là sự phát triển về kinh tế xã hội
1.5.2.3 Nguyên tắc hạn chế các giới hạn tiếp cận thông tin
Trang 23Để thực hiện nguyên tắc mở thông tin một cách tối đa cần thực hiện đồng thời nguyên tắc hạn chế các giới hạn tiếp cận thông tin Những trường hợp không được tiếp cận thông tin phải được quy định rõ ràng và ở phạm vi hẹp nhất
có thể Chỉ trong các trường hợp này, yêu cầu tiếp cận thông tin mới bị từ chối
1.5.2.4 Nguyên tắc cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, chi phí không quá cao
1.5.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên khi tiếp cận thông tin dân sự
Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Đưa ra yêu cầu tiếp cận thông tin kèm theo đề nghị về cách thức tiếp cận;
- Được nhận trả lời đối với yêu cầu tiếp cận thông tin từ chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin;
- Khiếu nại đối với chủ thể có thẩm quyền nếu như bị từ chối tiếp cận thông tin bởi cơ quan nhà nước;
- Thực hiện các hướng dẫn về thủ tục của chủ thể cung cấp thông tin;
- Nộp phí tiếp cận thông tin (nếu có);
Chủ thể cung cấp thông tin có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Tiếp nhận và xử lý các yêu cầu tiếp cận thông tin;
- Hướng dẫn người có yêu cầu tiếp cận thông tin thực hiện đúng thủ tục về tiếp cận thông tin;
- Cung cấp thông tin đúng, đầy đủ theo yêu cầu, trừ các trường hợp pháp luật quy định và quyết định cách thức tiếp cận thông tin
- Thu phí tiếp cận thông tin (nếu có)
Trong quá trình tiếp cận thông tin, quyền và nghĩa vụ của bên tiếp cận thông tin và bên cung cấp thông tin luôn thực hiện song song Muốn người yêu cầu được tiếp cận thông tin thì phải bảo đảm bên kia sẽ cung cấp thông tin Mà trong quan hệ dân sự, rất nhiều thông tin cần tiếp cận thuộc sự nắm giữ của các chủ thể tư nhân nên khá khó để Nhà nước có thể bảo đảm việc này
Trang 24Để đảm bảo cho việc tiếp cận thông tin trong dân sự thì pháp luật cần quy định theo hướng:
+ Quy định những thông tin bắt buộc phải công khai
+ Khi bên nắm giữ thông tin là cơ quan nhà nước thì người yêu cầu có thể khiếu nại đến cơ quan nhà nước cấp trên việc không được cung cấp thông tin
+ Khi bên nắm giữ thông tin là tổ chức nghề nghiệp hoặc doanh nghiệp thì người yêu cầu có thể khiếu nại đến cơ quan nhà nước quản lý tổ chức, doanh nghiệp này việc không được cung cấp thông tin
+ Khi bên nắm giữ thông tin là cá nhân, tổ chức nằm ngoài hai trường hợp trên thì cách tốt nhất để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin là cần phổ biến, giải thích pháp luật cho người dân để họ hiểu được quyền lợi của mình và yêu cầu tiếp cận thông tin rõ ràng trước khi tham gia quan hệ dân sự liên quan đến tài sản, nhân thân
1.6 Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Để việc tiếp cận thông tin trong dân sự được thực thi, pháp luật cần có những quy định cụ thể, rõ ràng về thủ tục thực hiện quyền này Thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin cần quy định: những thông tin bắt buộc phải công khai
và cách thức công khai; cách thức yêu cầu cung cấp thông tin; thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin; trả lời yêu cầu cung cấp thông tin; thu phí; khiếu nại đối với trả lời về yêu cầu cung cấp thông tin
1.6.1 Những thông tin bắt buộc phải công khai
Thông tin bắt buộc công khai là những thông tin mà mọi người cần biết và phải được biết khi tham gia quan hệ dân sự Đối với quan hệ về tài sản thì những thông tin này gồm có:
- Tên tổ chức, doanh nghiệp, loại hình hoạt động, vốn điều lệ, địa chỉ trụ sở,
họ tên người đại diện theo pháp luật, thông tin về các chi nhánh, mô tả về các hoạt động thực tế, thông tin về chấm dứt, cải tổ, …
- Thông tin chi tiết về sản phẩm, dịch vụ như mô tả kỹ thuật, thành phần, xuất xứ của sản phẩm hoặc thành phần, chức năng, công dụng, hướng dẫn sử dụng, tác dụng phụ, cảnh báo, …
- Thông tin về điều kiện giao dịch, giá, bảo hành, khuyến mại …
Trang 25- Hướng dẫn cách thức, thông tin hỗ trợ để một người thực hiện quyền tiếp cận với những thông tin chủ thể đó nắm giữ, quản lý
Đối với quan hệ nhân thân thì những thông tin bắt buộc công khai là những thông tin cá nhân của các bên: họ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, những thành viên trong gia đình … Việc tiếp cận thông tin trong quan hệ nhân thân đặc biệt quan trọng đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi Trường hợp này, việc tìm hiểu thông tin giữa gia đình mới và trẻ được nhận nuôi có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng rất lớn đến sự hòa nhập của trẻ vào môi trường mới trong khi đa số trẻ em không hiểu rõ quyền của mình
Những thông tin bắt buộc công khai phải được công bố theo quy định Cách thức công khai có thể là: đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở và các chi nhánh, đăng tải trên trang điện tử chính thức của mình, phát hành quyển tài liệu hướng dẫn …
Liên quan đến thông tin bắt buộc công khai của doanh nghiệp có một vấn
đề đặt ra là: thông tin về vốn kinh doanh có bắt buộc công khai hay không? Khác với vốn điều lệ, vốn kinh doanh là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, bao gồm vốn của chủ sở hữu, nợ vay, các khoản phải trả khách hàng hay nhà cung cấp … nói chung, vốn kinh doanh thể hiện tình trạng tài chính thực tế của doanh nghiệp Công khai thông tin này đồng nghĩa với việc mọi người sẽ biết được thực tế doanh nghiệp có bao nhiêu vốn, nợ, lãi như thế nào, có khả năng giao dịch thành công hay không Dự đoán được khả năng này giúp các bên dự định tham gia giao dịch chủ động, hạn chế được thiệt hại khi doanh nghiệp kia không thể thực hiện thỏa thuận Nhìn trên khía cạnh này thì việc công khai vốn kinh doanh là cần thiết, đặc biệt tránh trường hợp những doanh nghiệp thua lỗ nặng ký hàng loạt giao dịch nhằm chiếm dụng vốn rồi cho doanh nghiệp phá sản gây thiệt hại cho các bên liên quan
Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề là nếu thông tin vốn kinh doanh bị công khai thì sẽ đặt doanh nghiệp lợi nhuận kém vào tình trạng yếu thế khi tham gia giao dịch Cộng với tác động dư luận của các doanh nghiệp cạnh tranh và sự không hiểu rõ quy định pháp luật của người dân sẽ dẫn đến nhiều hiểu lầm, đánh giá sai về tình hình tài chính của doanh nghiệp nên không mua sản phẩm hoặc không tham gia giao dịch đối với doanh nghiệp này, điều này sẽ làm giảm khả năng phục hồi của những doanh nghiệp khó khăn
Trang 26Để giải quyết hợp lý cả hai vấn đề, tránh gây thêm khó khăn cho những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ còn có khả năng phục hồi, đồng thời cảnh báo rủi ro cho tổ chức, cá nhân giao dịch với doanh nghiệp sắp lâm vào tình trạng phá sản thì pháp luật cần xác định hợp lý thời điểm công bố vốn kinh doanh của doanh nghiệp Thời điểm này là lúc xác định được doanh nghiệp gần như không còn khả năng phục hồi, đó là trước khi doanh nghiệp đủ điều kiện để mở thủ tục phá sản một thời gian ngắn Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014 thì doanh nghiệp đủ điều kiện để yêu cầu mở thủ tục phá sản là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, tức là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán Như vậy, thời điểm hợp
lý công bố thông tin vốn kinh doanh, cho biết tình trạng tài chính của doanh nghiệp có thể xác định là trong khoảng 01 tháng, kể từ ngày hết hạn thanh toán khoản nợ bất kỳ
Chủ thể có quyền yêu cầu công bố tình trạng tài chính của doanh nghiệp
là chủ nợ, người lao động, công đoàn, hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chủ thể có trách nhiệm công bố tình trạng tài chính của doanh nghiệp là cơ quản quản lý nhà nước về hoạt động doanh nghiệp, có thể là Sở Kế hoạch & đầu tư hoặc Cục Phát triển doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch & Đầu tư
1.6.2 Cách thức yêu cầu cung cấp thông tin
Yêu cầu tiếp cận thông tin có thể được thực hiện trực tiếp bằng lời nói hoặc gửi yêu cầu bằng văn bản Chủ thể cung cấp thông tin là cơ quan nhà nước
và tổ chức thì thường bắt buộc yêu cầu tiếp cận thông tin phải trình bày dưới dạng văn bản, họ trả lời cũng bằng văn bản, yêu cầu trình bày dưới dạng lời nói không được giải quyết Đối với chủ thể cung cấp thông tin là cá nhân thì cả yêu cầu tiếp cận và trả lời thường đều được thực hiện bằng lời nói, rất ít khi được thực hiện bằng văn bản Do đó, để thuận tiện cho người có nhu cầu tiếp cận thông tin, pháp luật nên quy định cả 02 cách yêu cầu bằng lời nói và bằng văn bản
Tuy nhiên, khi đến làm việc tại cơ quan nhà nước, hay tổ chức, nếu người yêu cầu chỉ trình bày nội dung yêu cầu bằng lời nói, không có văn bản kèm theo thì khi cơ quan, tổ chức không cung cấp thông tin, người yêu cầu không có căn
cứ chứng minh đã có sự kiện yêu cầu cung cấp thông tin Nếu xảy ra tình huống này, người yêu cầu mất thời gian làm lại đơn, mất công sức, chi phí đi lại Cho
Trang 27nên, yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản sẽ thuận tiện hơn cho cả hai bên: chủ thể cung cấp thông tin có văn bản do người yêu cầu tự làm thể hiện yêu cầu của họ làm căn cứ giải quyết; người yêu cầu có xác nhận của chủ thể cung cấp thông tin về việc tiếp nhận yêu cầu sẽ chắc chắn được giải quyết đơn Vì vậy, pháp luật nên quy định rõ yêu cầu tiếp cận thông tin gửi đến cơ quan nhà nước,
tổ chức phải dưới dạng văn bản
Trường hợp người yêu cầu không biết chữ hoặc bị khuyết tật nên không thể làm đơn thì có thể nhờ người khác làm đơn và có xác nhận của 02 người làm chứng hoặc UBND cấp xã về việc nội dung đơn thể hiện đúng ý chí của người yêu cầu
Đơn yêu cầu tiếp cận thông tin dân sự cần nêu các thông tin: để xác định người yêu cầu (họ tên, địa chỉ của người yêu cầu), để xác định chủ thể được yêu cầu cung cấp thông tin (tên, địa chỉ của chủ thể đó), những mô tả cần thiết để xác định thông tin yêu cầu, lý do yêu cầu (để thực hiện/bảo vệ quyền nào), hình thức tiếp cận thông tin mong muốn
Nhằm tạo điều kiện tối đa cho người tiếp cận thông tin, theo xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hành chính, pháp luật có thể đa dạng hóa cách thức yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản Cụ thể: Văn bản yêu cầu cung cấp thông tin có thể được lập dưới dạng bản giấy hoặc bản điện tử và gửi đến cơ quan, tổ chức nắm giữ thông tin bằng cách nộp trực tiếp, gửi qua đường bưu điện, qua địa chỉ thư điện tử hoặc fax
1.6.3 Trả lời yêu cầu tiếp cận thông tin
Cách thức cung cấp thông tin:
Sau khi nhận được yêu cầu tiếp cận thông tin, nếu thông tin được nắm giữ bởi cá nhân thì cá nhân này cần trả lời ngay cho người yêu cầu việc có thể cung cấp thông tin hay không, trường hợp cá nhân đồng ý cung cấp thông tin thì có quyền hẹn ngày cung cấp; nếu thông tin được nắm giữ bởi cơ quan, tổ chức thì cần thực hiện thủ tục cung cấp thông tin theo quy định pháp luật
Cách thức cung cấp thông tin có thể được thực hiện theo sự lựa chọn của người yêu cầu, theo cách tương ứng với cách gửi yêu cầu hoặc lựa chọn một hình thức cung cấp phù hợp Đối với chủ thể cung cấp thông tin là cá nhân, hình thức cung cấp thông tin có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản tùy thuộc vào cách thức yêu cầu Đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức, hình thức cung cấp thông
Trang 28tin phải là văn bản, có thể dưới dạng bản giấy hoặc bản điện tử, có thể được giao trực tiếp cho người yêu cầu, gửi qua đường bưu điện, gửi qua thư điện tử hoặc fax Chủ thể cung cấp thông tin có quyền lựa chọn hình thức cung cấp thông tin phù hợp nhưng cần ưu tiên sự lựa chọn của người yêu cầu và cách thức gửi yêu cầu
Trong quá trình giải quyết yêu cầu, có thể nội dung thông tin cần cung cấp thuộc diện thông tin bắt buộc phải công khai Khi đó, chủ thể được yêu cầu phải cung cấp ngay thông tin cho người yêu cầu Việc cung cấp thông tin trong trường hợp này không được tính là trả lời yêu cầu cung cấp thông tin mà là thực hiện trách nhiệm công khai thông tin, do đó, người yêu cầu không phải trả phí
Để tránh nhầm lẫn trong tình huống trên, cần phân biệt hành vi công khai thông tin và hành vi trả lời yêu cầu cung cấp thông tin Theo những phân tích phía trên, thì sự khác biệt cơ bản giữa hai hành vi này ở chỗ:
+ Công khai thông tin là nghĩa vụ của một chủ thể nhằm công bố những thông tin cơ bản mà pháp luật quy định cho tất cả mọi người được biết Cho nên nếu có một cá nhân, tổ chức chưa được biết những thông tin này, thì chủ thể công khai thông tin có trách nhiệm công bố lại với cá nhân, tổ chức ấy
+ Trả lời yêu cầu cung cấp thông tin là nghĩa vụ của một chủ thể nhằm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức Thông tin cung cấp không thuộc diện bắt buộc công khai, do đó, việc cung cấp thông tin chỉ thực hiện khi có yêu cầu và chủ thể nắm giữ thông tin có quyền từ chối cung cấp thông tin trong những trường hợp pháp luật quy định
Lệ phí tiếp cận thông tin:
Người yêu cầu cung cấp thông tin có thể phải trả một khoản phí cho việc cung cấp thông tin Số tiền lệ phí phải được pháp luật quy định rõ, phải giới hạn trong các khoản chi phí thực tế cho việc tìm kiếm và cung cấp thông tin
Chủ thể nhận được yêu cầu cung cấp thông tin phải thông báo cho người yêu cầu về việc trả phí (nếu có) trước khi giải quyết yêu cầu Đối với trường hợp phải nộp phí, luật có thể quy định để người yêu cầu nộp tạm ứng khoảng 50% phí dự tính) như đối với tạm ứng án phí Tòa án hoặc nộp toàn bộ phí một lần
Nếu người yêu cầu đã nộp tạm ứng phí nhưng sau đó yêu cầu bị từ chối thì người yêu cầu phải được nhận lại khoản tiền đã nộp
Trang 29Trường hợp thông tin yêu cầu thuộc diện bắt buộc công khai thì người yêu cầu không phải nộp phí
Phí tiếp cận thông tin phải được xác định hợp lý dựa trên giá để làm một bản sao tài liệu và thời gian trung bình cần thiết để tìm kiếm, chuẩn bị tài liệu đó Pháp luật cần quy định một số trường hợp được miễn phí tiếp cận thông tin như người thuộc diện hộ nghèo, tương tự như các quy định miễn án phí Tòa án để đảm bảo các đối tượng khó khăn có thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin
1.6.4 Khiếu nại đối với quyết định về yêu cầu tiếp cận thông tin
Người yêu cầu có quyền khiếu nại đối với văn bản trả lời về việc tiếp cận thông tin như quyết định từ chối tiếp cận thông tin, quyết định chuyển yêu cầu tiếp cận thông tin, quyết định gia hạn thời hạn giải quyết yêu cầu tiếp cận thông tin, quyết định cho phép tiếp cận thông tin Bên thứ ba có liên quan đến thông tin tiếp cận cũng có quyền khiếu nại quyết định cho phép/từ chối tiếp cận thông tin
Cơ quan nhà nước quản lý chủ thể nhận được yêu cầu tiếp cận thông tin
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Thời hạn giải quyết khiếu nại tương đương thời hạn giải quyết đơn yêu cầu tiếp cận thông tin Pháp luật cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp này
1.7 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền tiếp cận thông tin trong
pháp luật dân sự
- Sự cần thiết phải quy định quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự Tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản của con người Thực hiện quyền tiếp cận thông tin là cơ sở để cá nhân có thể thực hiện, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình Các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia đã khẳng định mọi người có quyền tiếp cận đối với mọi loại thông tin, bao gồm thông tin dân sự Bên cạnh việc tiếp cận thông tin nhà nước đang được chú trọng thì tiếp cận thông tin dân sự là việc quan trọng không kém mà hiện tại chưa được pháp luật điều chỉnh cụ thể Do đó, để hiện thực hóa các cam kết quốc
tế và để mỗi người bảo vệ các quyền, lợi ích của mình một cách hiệu quả nhất, Việt Nam cần quy định quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật dân sự
Hiến pháp năm 2013 đã quy định về quyền tiếp cận thông tin của công dân, tuy nhiên, các văn bản luật hiện hành chưa có quy định cụ thể để công dân
có thể thực hiện quyền này Việc tiếp cận thông tin trên thực tế của công dân là
Trang 30rất khó khăn Khi tham gia giao dịch, bên mua rất khó kiểm chứng thông tin chất lượng sản phẩm, thông tin tình trạng tài sản nên xảy ra nhiều tranh chấp phức tạp Do đó, để minh bạch hóa các giao dịch dân sự, giúp các bên đạt được lợi ích đúng như mục đích thỏa thuận ban đầu, pháp luật dân sự cần quy định cụ thể về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin
- Ý nghĩa của tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự
Thực hiện tốt các quy định về công khai thông tin và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong quan hệ dân sự sẽ giảm thiểu sự độc quyền thông tin Với việc được cung cấp đầy đủ thông tin, mọi người có nhiều lựa chọn hơn và có thể đưa ra quyết định phù hợp nhất khi tham gia giao dịch dân sự Điều này góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh hơn giữa các chủ thể kinh doanh
Việc hiểu rõ thông tin về tài sản, hàng hóa, dịch vụ trước khi quyết định mua tạo ra lòng tin của bên mua đối với bên bán, góp phần xây dựng niềm tin,
uy tín, thị trường của bên bán Điều này rất quan trọng đối với mỗi chủ thể kinh doanh Sự phát triển hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể đóng góp, thúc đẩy
sự phát triển của xã hội, làm cho kinh tế đất nước ngày một giàu có
Bên cạnh đó, buộc công khai thông tin trong quan hệ dân sự còn khiến nâng cao trách nhiệm của nhà sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ cũng như bên bán tài sản và các chủ thể kinh doanh khác Từ đó, chất lượng hàng hóa, dịch vụ
có thể sẽ đảm bảo hơn Ví dụ như khi thông tin sản phẩm, chất lượng sản phẩm được công bố rộng rãi mà sản phẩm thường xuyên bị kiểm tra, đánh giá bởi người tiêu dùng thì những sai phạm sẽ dễ bị phát hiện hơn Khi đó, chủ thể kinh doanh phải tự cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để thu hút người tiêu dùng
Với những ý nghĩa này, việc công khai tối đa thông tin và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là cần thiết, nó giúp bên mua thực hiện tốt nhất quyền lựa chọn, giúp bên bán tự cải thiện hàng hóa, dịch vụ của mình, từ
đó thúc đẩy sự gia tăng các giao dịch và phát triển kinh tế trong xã hội
Với quan hệ nhân thân, thực hiện tiếp cận thông tin là thực hiện được quyền con người, quyền công dân Đồng thời, việc biết rõ về nhân thân của mình, khẳng định giá trị bản thân có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống tinh thần của mỗi cá nhân Hiểu rõ nhân thân của một người trước khi tham gia
Trang 31vào quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng sẽ quyết định sự hòa hợp trong cuộc sống gia đình Đây là lợi ích lớn về tinh thần mà không giá trị vật chất nào có thể so sánh được và cũng là mục tiêu của việc quy định quyền nhân thân
Từ những ý nghĩa trên đây, có thể thấy việc quy định quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là cần thiết Mục đích của quyền là bảo vệ hoặc nhằm thực hiện tốt hơn quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự Thực hiện được quyền này trên thực tế sẽ mang đến những thay đổi lớn đối với tinh thần của mỗi cá nhân, mang đến sự chắc chắn với các bên tham gia giao dịch dân sự
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là quyền nhân thân của chủ thể quan hệ dân sự, phát sinh khi một tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ dân sự Quyền này được bảo vệ như nhau đối với mỗi chủ thể quyền, không phân biệt quốc tịch, địa vị, hoàn cảnh kinh tế; gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể
và không thể chuyển dịch cho chủ thể khác
Các tổ chức, cá nhân được biết những thông tin có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong quan hệ dân sự thông qua sự cung cấp của chủ thể nắm giữ, quản lý thông tin đó
Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là các chủ thể của quan hệ dân sự hoặc chủ thể không tham gia vào quan hệ dân sự nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến quan hệ dân sự đó Trường hợp này người yêu cầu phải cung cấp thông tin về sự tồn tại của quan hệ dân sự, đồng thời phải chứng minh được sự liên quan giữa người yêu cầu và quan hệ dân sự
đó
Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin dân sự là chủ thể đang trực tiếp nắm giữ, quản lý thông tin Chủ thể này có thể là bên còn lại trong quan hệ dân
sự, bên thứ ba hoặc cơ quan nhà nước
Thông tin tiếp cận là những thông tin về tài sản, nhân thân của các bên trong quan hệ dân sự, hoặc thông tin liên quan về giao dịch dân sự Thông tin này có thể tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, hình ảnh, băng ghi âm … hoặc bất
kỳ dạng vật chất nào có thể chứa đựng thông tin
Mục đích của quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự là bảo vệ hoặc nhằm thực hiện tốt hơn quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự
Do đó, giới hạn của quyền là không ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền khác, không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của chủ thể khác
Quyền tiếp cận thông tin được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế
và Hiến pháp Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi cũng khẳng định quyền này, cho thấy quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực dân sự sẽ sớm được quy định cụ thể
và thi hành trên thực tế
Trang 33CHƯƠNG 2:
QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC
2.1 Quyền tiếp cận thông tin về tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và giao
dịch bảo đảm
2.1.1 Tiếp cận thông tin về tài sản phải đăng ký quyền sở hữu
2.1.1.1 Những tài sản phải đăng ký
Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản ở Việt Nam chưa quy định thống nhất trong một văn bản mà có nhiều văn bản quy định riêng đối với mỗi loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu Nếu phân loại tài sản thành động sản và bất động sản thì các bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu còn động sản chỉ bắt buộc đăng ký với một số loại nhất định
Theo quy định pháp luật hiện hành, các loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu gồm có:
- Bất động sản: về nguyên tắc phải đăng ký Đăng ký bất động sản phổ biến nhất là đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Động sản phải đăng ký là: ô tô, xe máy, phương tiện giao thông đường sắt, tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu cá; một số đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ buộc phải đăng ký mới phát sinh quyền bảo hộ như quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng
Đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì giấy tờ đăng ký là văn bản duy nhất để xác định chủ sở hữu, nếu chuyển nhượng tài sản phải đăng
ký lại Do đó, khi tham gia giao dịch những tài sản này bên trả tiền cần xác thực tài sản bằng cách kiểm tra thông tin đã đăng ký Và để khách quan, chính xác thì việc cung cấp thông tin về tài sản cần được thực hiện bởi một bên thứ ba là cơ quan nhà nước thực hiện đăng ký tài sản
2.1.1.2 Chủ thể có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin
Chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong trường hợp này là cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản hoặc có nhu cầu tìm hiểu thông tin về tài sản đó
Trường hợp yêu cầu tiếp cận thông tin tài sản của cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì phải trình bày sự liên quan trong yêu cầu Ví dụ: Bà H là chủ sử dụng diện tích 400m2 đất tại phường Mỹ Đình 2,
Trang 34quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội Ngày 03/7/2000, bà H ký hợp đồng cho công ty TNHH Séc Việt thuê đất trong thời hạn 20 năm để kinh doanh Công ty Séc Việt tự xây dựng cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh Ngày 15/3/2015, bà H thế chấp quyền sử dụng đất nói trên để vay vốn Ngân hàng Khi biết được thông tin này, công ty Séc Việt có văn bản yêu cầu Ngân hàng nơi bà H thế chấp tài sản cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên Khi đó, trong văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, công
ty Séc Việt phải chứng minh việc thế chấp tài sản liên quan đến quyền lợi của mình Trường hợp này, để bảo vệ quyền của người có lợi ích liên quan, chủ thể nắm giữ thông tin không cần sự đồng ý của chủ tài sản để quyết định cung cấp thông tin
Trường hợp tài sản yêu cầu cung cấp thông tin không liên quan đến quyền lợi của người yêu cầu nhưng họ có nhu cầu tìm hiểu thông tin (ví dụ để nghiên cứu) thì cần trình bày rõ mục đích tiếp cận thông tin Do quyền lợi của người yêu cầu không bị ảnh hưởng từ việc không cung cấp thông tin tài sản, mà chủ sở hữu
có toàn quyền quyết định về tài sản, kể cả việc cung cấp thông tin nên chủ thể nắm giữ thông tin chỉ được cung cấp thông tin khi chủ tài sản đồng ý
Quy định phải chứng minh được sự liên quan giữa người yêu cầu tiếp cận thông tin và tài sản là hợp lý Tuy nhiên có trường hợp người yêu cầu không chứng minh được sự liên quan này nhưng yêu cầu tiếp cận thông tin là cần thiết
Ví dụ như một người muốn mua một tài sản có đăng ký quyền sở hữu nhưng có dấu hiệu khiến họ nghi ngờ Giấy chứng nhận sở hữu tài sản của bên bán nên người mua cần xác minh thông tin về tài sản và chủ sở hữu tài sản Hoặc một người muốn thuê nhà ở, thuê cửa hàng kinh doanh thì cần xác định người cho thuê có đúng là chủ sở hữu tài sản hay không Lúc này, do chưa xác lập giao dịch nên không có sự liên quan giữa người yêu cầu và tài sản, việc chứng minh
là không thực hiện được Vậy, giải quyết yêu cầu tiếp cận thông tin này như thế nào, chấp nhận hay từ chối cung cấp thông tin?
Có hai hướng giải quyết trái ngược nhau Hướng thứ nhất cho rằng, về nguyên tắc, mọi người được quyền tiếp cận đối với mọi loại thông tin, do đó, yêu cầu tiếp cận thông tin không cần giải thích, chứng minh lý do, chỉ cần thông tin yêu cầu thuộc diện được tiếp cận thì yêu cầu nói trên phải được chấp nhận Hướng thứ hai thì ngược lại, thông tin về tài sản của một cá nhân là thông tin
Trang 35riêng tư, không ai được tự ý công bố những thông tin này khi chưa được sự đồng
ý của người đó nên yêu cầu trên không thể chấp nhận
Thực tế, theo quy định pháp luật về tiếp cận thông tin tài sản là nhà đất thì người yêu cầu không cần chứng minh mối liên quan với tài sản nên yêu cầu sẽ được chấp nhận Nhưng xét về mặt lý luận, quan điểm thứ hai hợp lý hơn, bởi lẽ: mọi người có quyền tiếp cận mọi loại thông tin trừ khi việc tiếp cận thông tin ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền hợp pháp của chủ thể khác Chủ sở hữu có toàn quyền quyết định đối với tài sản, trong đó có quyền cho phép tiếp cận thông tin về tài sản của mình Việc tiếp cận thông tin về tài sản xâm phạm đến việc thực hiện quyền sở hữu của chủ tài sản Cho nên, về nguyên tắc, tiếp cận thông tin tài sản chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của chủ sở hữu Ngoại lệ của nguyên tắc này là trường hợp người yêu cầu có quyền lợi liên quan đến tài sản Khi đó, để bảo vệ quyền của người có lợi ích liên quan, pháp luật cho phép người nắm giữ thông tin tài sản cung cấp thông tin mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu
Như vậy, trường hợp người yêu cầu tiếp cận thông tin về tài sản không có liên quan đến tài sản đó thì việc cung cấp thông tin phải được sự đồng ý của chủ tài sản Để giải quyết tình huống trên, người mua tài sản/người thuê nhà không được cơ quan quản lý nhà nước cung cấp thông tin về tài sản thì có thể thỏa thuận đặt cọc với bên bán/bên cho thuê và chỉ thanh toán tiền sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng tài sản/thủ tục đăng ký hợp đồng cho thuê nhà Trong quá trình thực hiện hai thủ tục này, nếu có vấn đề về quyền sở hữu tài sản của bên bán, quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của bên cho thuê thì giao dịch sẽ không thể đăng ký
2.1.1.3 Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin
Chủ thể giải quyết yêu cầu tiếp cận thông tin đối với các tài sản phải đăng
ký quyền sở hữu là cơ quan thực hiện việc đăng ký đó:
- Đăng ký quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất (Văn phòng đăng ký đất đai)
- Đăng ký các loại xe:
Căn cứ Điều 3 Thông tư sô 15/2014/TT-BCA ngày 04 tháng 04 năm 2014 của Bộ Công an thì hầu hết các loại xe được đăng ký tại Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh, thành
Trang 36phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Phòng Cảnh sát giao thông – Công an cấp tỉnh đồng thời quản
lý việc đăng ký xe tại Công an cấp huyện Do đó, Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể giải quyết đa số yêu cầu tiếp cận thông tin về xe trên địa bàn
- Đăng ký phương tiện thủy nội địa (theo Điều 8 Thông tư số BGTVT ngày ngày 19 tháng 12 năm 2014 của Bộ Giao thông vận tải quy định
75/2014/TT-về đăng ký phương tiện thủy nội địa)
+ phương tiện mang cấp VR-SB (tàu được chạy trên tuyến pha sông biển) của tổ chức, cá nhân đăng ký tại Cục Đường thủy nội địa Việt Nam và các Chi cục Đường thủy nội địa khu vực
+ phương tiện mang cấp VR-SB, phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần trên 15 tấn, phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính trên 15 sức ngựa, phương tiện có sức chở trên 12 người đăng ký tại Sở Giao thông vận tải các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
+ phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 05 sức ngựa đến
15 sức ngựa hoặc có sức chở từ 05 người đến 12 người đăng ký tại Cơ quan quản
lý giao thông cấp huyện nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
+ phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 01 tấn đến 15 tấn hoặc có sức chở từ 05 người đến 12 người, phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 05 sức ngựa hoặc có sức chở dưới 05 người đăng ký tại cấp xã, phường, thị trấn nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
- Đăng ký phương tiện giao thông đường sắt tại Cục đường sắt Việt Nam
- Đăng ký tàu bay tại Cục Hàng không Việt Nam
- Đăng ký tàu biển tại Cục Hàng hải Việt Nam hoặc Chi cục hàng hải, Cảng
vụ hàng hải
- Đăng ký tàu cá tại Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Sở hữu trí tuệ
Biết được cơ quan có thẩm quyền đăng ký tài sản trên đây sẽ giúp tiết kiệm thời gian tiếp cận Nhìn chung, nếu tiếp cận thông tin về nhà đất thì yêu cầu
Trang 37Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (hoặc Văn phòng đăng ký đất đai/Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai) của địa phương đó; tiếp cận thông tin về xe thì yêu cầu Phòng Cảnh sát giao thông – Công an cấp tỉnh nơi cấp biển số xe đó; nếu tiếp cận thông tin về phương tiện giao thông đường sắt thì yêu cầu Cục đường sắt; nếu tiếp cận thông tin về phương tiện thủy nội địa thì yêu cầu Sở Giao thông vận tải nơi cấp biển kiểm soát phương tiện; nếu tiếp cận thông tin về tàu bay thì yêu cầu Cục Hàng không; nếu tiếp cận thông tin về tàu biển thì yêu cầu Cục Hàng hải; nếu tiếp cận thông tin về tàu cá thì yêu cầu Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; nếu tiếp cận thông tin về quyền sở hữu trí tuệ thì yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ
2.1.1.4 Tiếp cận thông tin về đất đai
Về tiếp cận thông tin đất đai, pháp luật hiện hành đã có Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên & Môi trường về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai quy định khá rõ nội dung này (gọi tắt là Thông tư 34) Theo đó:
- Cách thức yêu cầu tiếp cận thông tin đất đai gồm 02 dạng:
+ Qua cổng thông tin đất đai, dịch vụ tin nhắn SMS
+ Bằng phiếu yêu cầu hoặc văn bản yêu cầu tiếp cận thông tin (khoản 1 và khoản 2 Điều 9 Thông tư 34)
Mặc dù pháp luật quy định có hai cách yêu cầu tiếp cận thông tin đất đai nhưng hiện nay cá nhân, tổ chức chỉ có thể yêu cầu theo cách thứ hai là gửi phiếu/văn bản yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai Còn cách yêu cầu qua cổng thông tin đất đai hay dịch vụ tin nhắn SMS chưa đi vào hoạt động thực tế Trang điện tử Cổng thông tin đất đai được bắt đầu xây dựng vào tháng 9/2008, dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 12/2013 với 9 tỉnh thí điểm nhưng đến nay vẫn chưa hoạt động Trong tương lai, khi Cổng thông tin đất đai chính thức được khai thác trên toàn quốc sẽ là bước phát triển lớn trong tiếp cận thông tin, tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, nhân lực tìm kiếm và cung cấp thông tin so với hiện nay
- Hình thức tiếp cận thông tin đất đai có thể là: nhận bản giấy sao chụp tài liệu hoặc bản lưu trữ điện tử bằng USB, CD (theo mẫu phiếu yêu cầu kèm theo Thông tư 34)
Trang 38- Phương thức nhận kết quả có thể là nhận tại nơi cung cấp, gửi EMS theo địa chỉ, fax hoặc email (theo mẫu phiếu yêu cầu kèm theo Thông tư 34)
Rõ ràng hình thức cung cấp thông tin và cách trả kết quả như quy định này là hợp lý Việc thông tin có thể được cung cấp dưới dạng bản giấy hoặc bản điện tử, có thể được gửi qua bưu điện hoặc email là nhằm tạo điều kiện tối đa cho người yêu cầu Quy định này giúp tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí
đi lại cho người yêu cầu, thuận tiện trong việc sử dụng thông tin và có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển thủ tục hành chính qua mạng điện tử
- Những thông tin về đất đai được tiếp cận:
Theo khoản 4 Điều 6, khoản 3 Điều 9 Thông tư 34 và mẫu phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai (Phụ lục 1) thì những thông tin về đất đai được tiếp cận bao gồm:
+ kết quả đo đạc, bản đồ địa chính, thông tin thửa đất (số hiệu thửa đất, số
tờ bản đồ địa chính, diện tích, địa chỉ), thông tin người sử dụng đất (họ tên vợ chồng, năm sinh, CMND, địa chỉ), thông tin quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tình trạng pháp lý, lịch sử biến động, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao dịch bảo đảm, những hạn chế về quyền
+ Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
+ khung giá đất, bảng giá đất đã công bố
Có thể thấy mẫu phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai đã liệt kê đa số các loại thông tin về đất đai người dân có nhu cầu tiếp cận Nếu người yêu cầu muốn được tiếp cận những thông tin ngoài danh mục trên thì có thể làm văn bản yêu cầu (tương tự mẫu phiếu yêu cầu) ghi rõ nội dung thông tin cần cung cấp và gửi đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Văn phòng đăng ký đất đai) của địa phương đó Đây là lý do tại sao Thông tư 34 đã có mẫu phiếu yêu cầu cung cấp thông tin rất chi tiết mà vẫn cho phép cá nhân, tổ chức nộp văn bản yêu cầu cung cấp thông tin Điều này cho thấy pháp luật đã tạo điều kiện cho mọi chủ thể tiếp cận với mọi loại thông tin đất đai
- Các trường hợp không cung cấp thông tin: được quy định tại Điều 13 Thông tư 34 Theo đây, lý do là những thiếu sót trong phiếu yêu cầu cung cấp thông tin; do thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước; do không nộp phí, lệ phí
và do mục đích sử dụng thông tin không phù hợp với quy định pháp luật Lý do
Trang 39về mục đích sử dụng thông tin lại không có quy định cụ thể nên chưa được thực hiện Các trường hợp từ chối cung cấp thông tin không có trường hợp vì quốc tịch của người yêu cầu hay vì lý do yêu cầu nên đồng nghĩa với việc mọi chủ thể đều có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin đất đai và không cần chứng minh sự liên quan với tài sản đó
- Mục đích sử dụng dữ liệu và cam kết: Mọi yêu cầu tiếp cận thông tin đất đai đều phải ghi rõ mục đích sử dụng dữ liệu, đồng thời cam kết không sử dụng
dữ liệu được cung cấp trái với quy định pháp luật và không cung cấp cho bất kỳ bên thứ ba nào khác
Thông tư 34 không giới hạn chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin đất đai có nghĩa mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền yêu cầu tiếp cận thông tin Như vậy thì cam kết buộc người tiếp nhận thông tin không cung cấp thông tin cho bên thứ ba là không hợp lý Các trường hợp không cung cấp thông tin (Điều
13 Thông tư) cũng không quy định trường hợp từ chối cung cấp thông tin vì lý
do chủ thể Lý do mục đích sử dụng dữ liệu không phù hợp với quy định pháp luật lại không được quy định rõ nên đây không thể là lý do cho việc buộc người tiếp nhận thông tin không được phổ biến cho người khác
Một ví dụ thể hiện rõ nhất sự bất hợp lý này là trường hợp: bà A thông báo cho thuê một căn nhà 05 tầng, có thể thuê toàn bộ nhà hoặc thuê từng tầng riêng biệt X có nhu cầu thuê tầng 1 để làm cửa hàng kinh doanh quần áo Y có nhu cầu thuê tầng 2 để làm văn phòng công ty T, V, P có nhu cầu thuê tầng 3,4,5 để ở Những người này đều muốn thuê ổn định, lâu dài, do đó họ cần chắc chắn bà A đúng là chủ sở hữu hợp pháp đối với căn nhà Họ yêu cầu bà A phải
có trả lời của UBND khẳng định việc bà là chủ sở hữu hợp pháp duy nhất của căn nhà cho thuê Khi đó, nếu bà A yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai để xác nhận nội dung trên mà thông tin này bà A không được phép cung cấp cho bên thứ ba thì việc cung cấp thông tin này là vô nghĩa Còn nếu để 5 đối tượng X, Y, T, V, P
tự yêu cầu cung cấp thông tin về căn nhà thì họ phải chịu 5 lần phí cho cùng một thông tin
Như vậy, cam kết “không cung cấp cho bất kỳ bên thứ ba nào khác” của người yêu cầu là không hợp lý, nó gây khó khăn cho chính chủ sở hữu và những người có nhu cầu giao dịch đối với tài sản Nếu thực thi cam kết này thì quy định
về quyền tiếp cận thông tin đất đai chỉ nằm trên giấy bởi chẳng mấy ai yêu cầu