1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp

89 243 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tin tức mà thương nhân cung cấp cho NTD bao gồm: những thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; những thông tin về nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ ví dụ giá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU DIỆU HUYỀN

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP

THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của tổ bộ môn Khoa pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫnPGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh, giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội, em đã thực hiện nghiên cứu đề tài

“Pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam_Thực trạng

và giải pháp”

Để thực hiện đề tài này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện trong suốt thời gian hai năm vừa qua.Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo

hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh - Giảng viên Trường Đại học Luật

Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Luật Kinh tế nói riêng và các thầy cô giáo của trường Đại học Luật Hà nội cũng như các anh chị trong thư viện đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tiễn thực thi pháp luật cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin kính chúc quý thầy cô trong tổ bộ môn pháp luật kinh tế cũng như các thầy cô giáo đang công tác và giảng dạy trong trường Đại học Luật luôn dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày 15 tháng 5 năm 2015

Học viên

Chu Diệu Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực

Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

CHU DIỆU HUYỀN

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cục QLCT Cục Quản lý cạnh tranh

VINASTAS Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam

Thươngnhân Tổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịchvụ

CI Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thế giới

UB KHCNMT Ủy ban khoa học công nghệ môi trường

Trang 5

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤPTHÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1 1.1 Khái quát về thông tin và quyền được cung cấp thông tin của NTD……… 1

1.1.1 Khái niệm về người tiêu dùng và các quyền của người tiêu dùng 1 1.1.2 Khái niệm thông tin và vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường 4

1.2 Khái quát pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD 8

1.2.1 Sự cần thiết phải quy định quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 8 1.2.2 Khái quát về quá trình phát triển các quy định về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam 8

1.2.3 Kinh nghiệm pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của một số nước trên thế giới 13

Trang 6

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NTD 17 2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng 17

2.1.1 Quy định quyền cơ bản của người tiêu dùng trong việc được biết các thông tin liên quan đến hàng hoá dịch vụ mà tổ chức, cá nhân cung cấp 17 2.1.2 Quy định trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng 17 thế của hàng hóa 26 2.1.3 Quy định trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD 30 2.1.4 Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD……… 32

2.2 Thực trạng thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng 42

2.2.1 Những kết quả đạt được về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng ……….42 2.2.2.Những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng 51

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 63 3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD 63Error! Bookmark not defined 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quyền được cung cấp thông tin của NTD……… 69 KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xã hội ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng (NTD) đã và đang trở thành một lực lượng vô cùng đông đảo và là động lực phát triển của nền kinh tế của một quốc gia.Mối quan

hệ giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là một loại quan

hệ dân sự phổ biến và có ảnh hưởng vô cùng to lớn tới sự phát triển của nền kinh tế Các hoạt động khi tham gia mua bán, trao đổi, sử dụng hàng hóa dịch vụ của NTD trên thị trường sẽ kích thích sự lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của thương nhân và tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước Đồng thời NTD cũng là lực lượng quyết định xem doanh nghiệp hay loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh nào đó có thể tồn tại được trên thị trường hay không, từ đó chọn lọc những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng tốt và phù hợp với thu nhập của người dân, loại bỏ những hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm không phù hợp và những tổ chức cá nhân kinh doanh sai trái Do đó một quốc gia muốn có nền kinh tế phát triển một cách bền vững không những phải đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp, các thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

mà còn phải đảm bảo cân bằng lợi ích cho NTD

Để đảm bảo hành lang pháp lý và tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD đang được nhà nước ta hết sức

quan tâm.Luật Bảo vệ quyền lợi NTD số 59/2010/QH12 đã được Quốc hội khóa

XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011

Thực tế hiện nay,NTD thường bị hạn chế về thông tin,về kiến thức chuyên

môn đặc biệt là các kiến thức liên quan đến đặc tính kỹ thuật, tính năng sử dụng, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm cũng như hạn chế về khả năng đàm phán hợp đồng và khả năng chịu rủi ro khi mua sản phẩm Vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cùng với các chiêu thức quảng cáo, khuyến mãi và cạnh tranh giá cả đang ngày càng diễn ra phổ biến Sự phát triển của các sản phẩm công nghệ kỹ thuật và sự xuất hiện của các phương thức kinh doanh mới như bán hàng online, bán hàng qua điện thoại, các giao dịch thương mại điện tử khiến nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng tới quyền lợi của NTD Vì vậy, các quốc gia trên thế giới cũng như tổ chức CI (tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD thế

giới) đã có quy định cụ thể về tám quyền cơ bản của NTD, trong đó Quyền được

Trang 8

cung cấp thông tin của NTDlà một trong những quyền được ưu tiên hàng đầu trong việc thực thi có hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi NTD

Ngày 13 tháng 3 năm 2015 vừa qua, tổng kết hơn 3 năm thực hiện Luật bảo vệ quyền lợi NTD và để hưởng ứng ngày bảo vệ quyền lợi NTD của thế giới 15/5 hàng năm, Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Châu Âu (EU-MUTRAP) phối hợp với Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) đã tổ

chức hội thảo “Quyền được thông tin của người tiêu dùng – Thực trạng và giải pháp” Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu “Quyền được

cung cấp thông tin của NTD”, em đã lựa chọn nghiên cứu “Pháp luật về Quyền

được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải

pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền được cung cấp thông tin của NTD”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD là một vấn đề mới của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là đối với quyền được cung cấp thông tin của NTD là nội dung chưa được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc.Qua quá trình tìm hiểu về tình hình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD_thực trạng và giải pháp” em nhận thấy chưa có một luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này Tuy nhiên, hiện nay có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến các quyền của NTD viết về các vấn đề như:

- Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Hoàng Mỹ

Linh, do TS Phan Chí Hiếu hướng dẫn năm 2014;

- Trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Thị Thu Hiền, do

TS Bùi Ngọc Cường hướng dẫn năm 2011;

- Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của học

viên Đặng Đình Ngọc, do TS Nguyễn Thị Vân Anh hướng dẫn năm 2013;

- Pháp luật quảng cáo với vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD, luận văn thạc sĩ

luật học của học viên Đào Tuyết Vân, do TS Nguyễn Viết Tý hướng dẫn năm 2007;

- Vai trò của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi NTD Vĩnh Phúc trong việc bảo vệ NTD, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Thị Tâm, do TS

Nguyễn Thị Vân Anh hướng dẫn năm 2013

Có thể thấy, một số nội dung của quyền được cung cấp thông tin đã được các công trình nghiên cứu trên nhắc tới, tuy nhiên, những nội dung đó chưa

Trang 9

thực sự cụ thể và được nghiên cứu môt cách có hệ thống về quyền được cung cấp thông tin của NTD Vì vậy, có thể thấy đề tài về Quyền được cung cấp thông tin của NTD là một đề tài có tính mới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành về

quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam và thực trạng thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quyền được cung cấp thông tin của NTD trên thực tế

Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong giới hạn một đề tài luận văn thạc sĩ luật học, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế ảnh hưởng đến quyền được cung cấp thông tin của NTD mà chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin của NTD và việc thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD trên trong thực tiễn Ngoài ra, tìm hiểu thêm một số quy định của một số quốc gia trên thế giới về quyền được cung cấp thông tin của NTD

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý luận xác định quyền được

cung cấp thông tin của NTD; nghiên cứu nội dung pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam; nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật

về quyền được cung cấp thông tin ở Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật liên quan đến thông tin của NTD Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền liên quan đến thông tin của NTD để từ đó tham khảo và áp dụng, tiếp thu những điểm tốt cho pháp luật Việt Nam.Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ

nghiên cứu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở xác định quyền được cung cấp thông tin của NTD;

- Nghiên cứu nội dung pháp luật về các quyền liên quan đến thông tin của NTD ở Việt Nam;

- Nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin ở Việt Nam hiện nay;

Trang 10

- Nghiên cứu thêm một số quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới trong việc ghi nhận quyền được cung cấp thông tin của NTD để tham khảo

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, trong khi thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu khoa học

sau đây:

- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu Trong quá trình nghiên cứu

đề tài, em áp dụng các phương cụ thể bao gồm: phương pháp tổng hợp, phương pháp này chủ yếu được sử dụng để khái quát các quy định của pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD; Phương pháp so sánh được áp dụng trong quá trình tìm hiểu các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau như Luật BVQLNTD, Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Bộ luật dân sự… và so sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình lập bảng biểu, số liệu thống kê của Cục QLCT đối với các khiếu nại của NTD; phương pháp tra cứu mạng internet nhằm tìm kiếm các thông tin liên quan, các bài báo,

sự việc được đăng tải trên mạng internet

6 Những đóng góp mới của luận văn

Việc nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quyền được cung cấp thông tin của NTD theo pháp luật Việt Nam mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Về phương diện lý luận, luận văn đã đánh giá một cách chi tiết và có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh quyền được cung cấp thông tin của NTD.Có liên hệ so sánh giữa các quy định của Luật BVQLNTD năm 2010 với Pháp lệnh bảo vệ QLNTD năm 1999 Bên cạnh đó, Luận văn cũng nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan như Luật Quảng cáo

2012, Luật Thương mại 2005, Luật Giá 2012, các văn bản hướng dẫn với Luật bảo vệ QLNTD 2010, Luật Giá 2012, Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD…

Về phương diện thực tiễn, luận văn đã nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin của NTD và đưa các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của NTD nói riêng và bảo vệ quyền lợi NTD nói chung

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luậnvà Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1:Tổng quan pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD;

- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền được cung cấp thông tin của NTD;

- Chương 3:Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG CẤP

THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Khái quát về thông tin và quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng

1.1.1 Khái niệm về người tiêu dùng và các quyền của người tiêu dùng

1.1.1.1 Khái niệm về người tiêu dùng

Dưới giác độ kinh tế,NTD là mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ hàng hóa cho mục đích tiêu dùng không phải cho mục đích kinh doanh kiếm lời.Người tiêu dùng là một khái niệm chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được

tạo ra bởi nền kinh tế.Người tiêu dùng là người mua nhưng khác với việc mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó.Dưới giác độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái niệm người mua hàng

là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì

Dưới giác độ pháp lý, khái niệm NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể

pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đời Việc xác định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì đó là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD.1[15, tr 8]

Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Sở dĩ, NTD được ưu tiên hơn so với thương nhân trong quan hệ tiêu dùng bởi họ có nhiều yếu thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu

về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng Bởi vậy, dưới giác độ pháp lý việc xác định chủ thể nào là NTD và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng

Luật pháp của đa số các nước trên thế giới quy định, NTD chỉ là các cá nhân và không coi tổ chức là NTD Các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ mà

tổ chức tham gia mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng

1

Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ biên: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Cương…, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, Trang 8

Trang 13

sẽ được bảo vệ theo pháp luật hợp đồng chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD 2 [15, tr.11]

Trong hệ thống pháp luật Hoa kỳ, tuy các đạo luật cụ thể không quy định

khái niệm NTD nhưng theo các chuyên gia pháp luật Hoa kỳ thì: “NTD là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình” 3 [32, page 2] Còn Chỉ thị số 1999/44/EC của EU về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm liên quan quy định: “NTD là bất cứ tự nhiên (tức cá nhân) tham gia vào các hợp đồng trong chỉ thị này vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình” Thêm

vào đó, Điều 2 Luật Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 giải thích:

“NTD là cá nhân không bao gồm trường hợp cá nhân trở thành một bên của hợp đồng như một thương nhân hoặc vì mục đích thương mại”

Ở Việt Nam, khái niệm NTD được thừa nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và tiếp tục ghi nhận trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD

năm 2010 Hai văn bản pháp luật này đều quy định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,

tổ chức”

Có thể thấy, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, đối tượng là NTD được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hơn Ngoài đối tượng là các cá nhân được pháp luật bảo vệ như thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đó mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng Trong thực tế, nhiều giao dịch thực hiện khi thương nhân mua hàng hóa của thương nhân khác không phải để trực tiếp phục vụ kinh doanh mà để thưởng cho nhân viên hay để phục

vụ nhu cầu ăn uống, giải trí, nghỉ ngơi của nhân viên, theo tinh thần của Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, trong những trường hợp đó, thương nhân cũng được coi là NTD Ví dụ, Công Ty xây dựng 1 mua 2000 chai nước tinh khiết và

1000 gói bánh trung thu để tổ chức lễ trung thu cho con của các công nhân xây dựng trong công ty Trong trường hợp này, theo Luật bảo vệ quyền lợi NTD tổ chức này được bảo vệ với tư cách NTD

Ở Việt Nam hiện nay, việc xác định tổ chức hay thương nhân có được coi

là NTD hay không là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau.Một số ý kiến cho rằng khi thương nhân mua hàng hóa không nhằm mục đích bán lại hoặc kinh doanh thì vẫn được coi là NTD Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng trong mọi

2 Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ biên: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Cương…, nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, Trang 11

3

Theo Everyday Law for Consumers, Paradign Publishers, 2007, page 2, Michael L.Rustad

Trang 14

trường hợp thương nhân mua hàng hóa, dịch vụ đều là những hành vi thương mại phụ thuộc, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thương nhân nên đều phải được điều chỉnh theo pháp luật hợp đồng thương mại chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD4 [15, tr 14]

1.1.1.2 Các quyền của người tiêu dùng

Trên thế giới, vấn đề bảo vệ NTD bắt đầu được quan tâm sau chiến tranh thế giới thứ hai Khi đó xuất hiện ý tưởng cần thiết phải bảo vệ NTD chống lại các hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn, lạm dụng NTD đảm bảo sự an toàn cho người NTD khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ Điều này được chứng minh bằng sự ra đời

và phát triển của Tổ chức Quốc tế NTD (CI) Năm 1960, tiền thân của CI là Liên hiệp các tổ chức Quốc tế NTD (IOCU – International Union of consumers association) được thành lập với 5 thành viên ở 123 nước và vùng lãnh thổ Ngay

từ những ngày đầu thành lập CI đã đưa vào trong hoạt động tuyên truyền, vận động chính sách của mình về việc đấu tranh bảo vệ 8 quyền cơ bản của NTD Các quyền của NTD là phạm trù pháp lý xuất phát từ các quyền con người Đây

là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật bảo vệ NTD vì việc xác định các quyền của NTD là cơ sở pháp lý cốt lõi để định hướng cho quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, các đạo luật chuyên ngành, các chính sách liên quan đến NTD nhằm bảo đảm cho các quyền của NTD được thực hiện trên thực tế Đồng thời việc xác định các quyền của NTD có ảnh hưởng trực tiếp đến các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD cũng như trách nhiệm của các thiết chế bảo vệ NTD Sau đó, với sự nỗ lực của CI, năm 1985, Liên hiệp quốc ban hành “Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD” kèm theo nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc số A/RES/39/248 ngày 16/4/1985 trong đó đã ghi nhận 8 quyền của NTD

Điều 8 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã quy định tương đối

rõ ràng các quyền cơ bản của NTD căn cứ vào hướng dẫn của liên hiệp quốc Theo đó, NTD có các 8 quyền cơ bản sau:

Một là, được an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp

khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp

Hai là, được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân

kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc,

4 Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ biên: Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Cương…, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2012, Trang 14

Trang 15

xuất xứ hàng hóa, được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua, sử dụng

Ba là, lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,

dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với

tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Bốn là, góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo

nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Năm là, tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ

quyền lợi NTD

Sáu là, yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng

tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá

cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết

Bảy là, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện

để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Tám là, được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa,

dịch vụ

Như vậy có thể thấy, Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 của Việt Nam

đã ghi nhận khá đầy đủ các quyền của NTD theo bản hướng dẫn bảo vệ NTD của Liên hiệp quốc Đây là những quy định vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý vững chắc để các thương nhân, những người cung cấp dịch vụ, hàng hóa cụ thể được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình khi tham gia và các hoạt động kinh tế và trong mối quan hệ đối với NTD

1.1.2 Khái niệm thông tin và vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường

1.1.2.1 Khái niệm thông tin

Trang 16

1.1.2.2 Theo triết học phương Tây, “Thông tin theo được hiểu là thông

báo những tin tức, cung cấp kiến thức về một khía cạnh, lĩnh vực nào đó, nhằm đưa ra những hiểu biết nhất định cho người được cung cấp” 5 [26]

Trong quan hệ tiêu dung, thương nhân là chủ thể cung cấp những tin tức cho NTD, để NTD nắm bắt và có những hiểu biết về hàng hóa, dịch vụ mà mình

có nhu cầu từ đó đưa ra quyết định thực hiện giao dịch với Thương nhân Những tin tức mà thương nhân cung cấp cho NTD bao gồm: những thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; những thông tin về nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ (ví dụ giá cả, thời điểm giao hàng, địa điểm giao hàng, số lượng hàng, chất lượng hàng theo tiêu chuẩn…); những thông tin về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa (hàng nhập khẩu hay hàng sản xuất trong nước…); những hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch chính là những hình thức cung cấp thông tin cho NTD và những thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch

vụ mà NTD đã mua, sử dụng (ví dụ thông tin về bảo hành sản phẩm, thông tin

về đổi trả sản phẩm trong thời gian bao lâu nếu sản phẩm có lỗi, thông tin về việc bảo dưỡng sản phẩm…)

Đây là cách hiểu chung nhất về khái niệm thông tin mà người tiêu dùng được pháp luật quy định cho quyền được cung cấp thông tin để đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình

1.1.2.3 Vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường

* Thông tin là yếu tố quyết định trong các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường

Trong các phân tích về kinh tế thị trường và quan hệ thị trường truyền thống (trước những năm 1970) người ta thường chỉ chú ý tới định nghĩa thị trường là sự tương tác giữa người mua với người bán để xác định hàng hóa, dịch

vụ cần mua bán (đối tượng của giao dịch) và giá cả của hàng hóa, dịch vụ đó Khía cạnh thông tin trong tương tác thị trường ít được nhắc đến Tuy nhiên, trong vài thập niên trở lại đây, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng thông tin

và truyền thông, các nhà kinh tế ngày càng ý thức rõ hơn tầm quan trọng của thông tin đối với sự vận hành của thị trường, của tương tác cung cầu

Thực chất tương tác cung cầu trong nền kinh tế thị trường chính là chuỗi các quyết định của nhà sản xuất, phân phối và của NTD thông qua các hành vi chọn lựa loại hàng hóa, dịch vụ để sản xuất, cung ứng, hành vi định giá hàng

5 Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%B4ng_tin

Trang 17

hóa, dịch vụ, hành vi tiếp thị, khuyến mại… Có thể nói, mọi tương tác (giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường) đều liên quan tới thông tin và đều dựa trên nền tảng thông tin mà các chủ thể tham gia tương tác (doanh nghiệp, NTD…) có được Ví dụ, Tập đoàn Viễn Thông Quân Đội Viettel thường xuyên nhắn tin tới thuê bao của các khách hàng đang sử dụng mạng Viettel các chương trình khuyến mại tặng 50% giá trị của thẻ nạp Chương trình khuyến mãi của Viettel chính là hoạt động cung cấp, trao đổi, đưa thông tin từ thương nhân kinh doanh dịch vụ viễn thông Viettel tới NTD-những người nhận được thông báo khuyến mãi của viettel để nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng mạng di động, thúc đẩy NTD sử dụng tiêu dùng sản phẩm của Viettel nhằm thu lợi nhuận

Thêm vào đó, bản thân các tương tác này đều là quá trình trao đổi thông tin Thiếu quá trình trao đổi thông tin, bên bán và bên mua không thể biết tới nhau và không thể thực hiện được quá trình mua bán, trao đổi Bản thân hợp đồng giữa các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cũng là một tập hợp thông tin về các bên tham gia quan hệ, về đối tượng mua bán, giá cả và các quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ

* Thông tin là nền tảng để NTD tiến tới quyết định mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân

Theo lý luận về marketing hiện đại, có thể phân tích hành vi lựa chọn mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của thương nhân này mà không phải của thương nhân khác chủ yếu dựa trên nền tảng những thông tin liên quan tới hàng hóa, dịch vụ của của tổ chức cá nhân kinh doanh cung cấp cho NTD và dựa trên những hiểu biết, khả năng thu thập những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau như sách báo, phương tiện truyền thông của NTD

Một ví dụ rất cụ thể và thực tế dưới đây về quyết định mua hàng hóa hoàn toàn dựa trên những thông tin mà Bà Hoàng Thị Hiên, cán bộ hưu trí phường Niệm Nghĩa có được từ những người bạn cùng sinh hoạt trong tổ hưu và trên website quảng cáo cho rằng chiếc vòng titan có tác dụng chữa bách bệnh, nâng cao sức khỏe

Theo bà Hiền nói lại lời các bạn trong tổ hưu rằng, chiếc vòng titan với đặc tính tự đẩy lùi các sóng điện từ có hại, tia phóng xạ do titan phát ra làm tăng nhiệt lượng cơ thể, ấm các tế bào, loại bỏ nhanh những tác nhân gây mệt mỏi, đau nhức, nâng cao chất lượng của giấc ngủ Nếu đeo vòng titan trong thời gian dài sẽ thấy rõ hơn sự chuyển biến về mặt sức khỏe, nhất là những người mắc các chứng bệnh như máu lưu thông kém, huyết áp, tim mạch, khớp

Trang 18

Cập nhật một số trang web rao vặt cũng có vô vàn thông tin về tác dụng của vòng titan Theo lời quảng cáo trên những trang này, các nhà khoa học trên

thế giới cho biết, một số thiết bị điện tử như TV, máy vi tính, ĐTDĐ đều phóng ra những sóng điện từ có hại cho cơ thể người, gây mệt mỏi, mất cân bằng và chính là nguyên nhân của những bệnh phổ biến trong xã hội ngày nay như: stress, tim mạch, xương khớp, lão hóa sớm Qua thời gian dài nghiên cứu, các nhà khoa học đã cho ra đời dòng sản phẩm vòng tay, dây chuyền titan có tác dụng hỗ trợ về sức khỏe cho người sử dụng, với những công năng rất đặc biệt khi mang các sản phẩm titan vào người, dòng điện từ trong titan thông qua các bước sóng dài của tia phóng xạ hồng ngoại để đi vào cơ thể điều tiết dòng điện

âm dương, kích thích quá trình tuần hoàn máu, làm thoải mái các dây thần kinh, nâng cao khả năng vận động đối với những người chơi thể thao, sử dụng cơ bắp nhiều

Trên một số phương tiện thông tin khác thì quảng cáo, chiếc “vòng hộ mệnh titan” đã được các minh tinh màn bạc hollywood, quý tộc Anh, người mẫu

Pháp tin dùng bởi có nhiều tác dụng như: năng lượng từ thiên nhiên loại bỏ đau nhức, hạ huyết áp, có chất lọc máu, có khả năng dưỡng sinh,sảng khoái đầu óc, kháng bức xạ, giải độc rượu thuốc, điện thoại giúp ngủ ngon, rũ bỏ mệt mỏi Không những thế khi đeo sản phẩm này, càng đeo càng thoải mái và ngày càng trẻ trung ”6

Như vậy, có thể thấy thông tin ảnh hưởng vô cùng lớn tới quyết định mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ của NTD NTD dựa trên những thông tin mà họ được cung cấp từ nhà sản xuất, từ thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, từ các phương tiện truyền thông như đài truyền hình, mạng internet, sách báo, điện

tử Thông tin lúc này là yếu tố quyết định NTD trở thành NTD thông thái và sự thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch sẽ khiến cho quyền lợi của NTD bị xâm hại Thông tin trở thành yếu tố đầu vào của quá trình ra quyết định mua sắm, sử dụng hàng hóa của NTD Vì vậy, để đảm bảo quyền được thông tin của NTD một cách có hiệu quả thì việc quản lý các nguồn thông tin từ những nhà cung cấp thông tin trên là vô cùng quan trọng và cấp thiết.Theo các nhà kinh tế học, qua nghiên cứu, thông thường một quyết định mua sắm của NTD hiện nay thường trải qua 6 bước:

Bước 1: Nhận diện cơ hội mua sắm;

6

http://www.ngoquyen.gov.vn/site/frondend/index.asp?website_id=113&menu_id=781&parent_menu_i d=3361&article_id=30189&fuseaction=DISPLAY_SINGLE_ARTICLE&hide_menu=0

Trang 19

Bước 2: Tìm kiếm hàng hóa, dịch vụ, đối tác để phục vụ việc mua sắm; Bước 3: Đánh giá các phương án lựa chọn khác nhau;

Bước 4: Quyết định việc mua sắm;

Bước 5: Thực hiện hành vi mua sắm;

Bước 6: Đánh giá, nhìn nhận lại việc mua sắm của mình để rút kinh

lý (sự thuận tiện, thoải mái khi sử dụng, tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ)

Trong thực tế, cung cấp thông tin cho NTD là một nhu cầu mang tính chất

tự thân của các doanh nghiệp khi tham gia thị trường Chính vì vậy, pháp luật các nước thường quy định thông tin cho NTD và quảng cáo sản phẩm hàng hóa, dịch vụ là quyền của các doanh nghiệp khi tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường Việc các nhà sản xuất, các thương nhân muốn kinh doanh và tiêu thụ được hàng hóa, dịch vụ của mình, muốn cạnh tranh được với các thương nhân khác cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cùng loại chắc chắn sẽ phải cung cấp thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ mà ḿnh kinh doanh tới cho NTD một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất Việc cung cấp thông tin về các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của NTD trong

xã hội Quyết định tới sự lưu thông hàng hóa trên thị trường Có thể nói những yếu tố kể trên sẽ trở nên không còn nhiều ý nghĩa khi NTD thiếu các thông tin thiết yếu

1.2 Khái quát pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của NTD 1.2.1 Sự cần thiết phải quy định quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong thời đại kinh tế thị trường, mặc dù các thương nhân đều hô khẩu

hiệu “Khách hàng là thượng đế”, thương nhân “luôn cung cấp những mặt hàng

có chất lượng tốt nhất với giá cả hợp lý nhất” cho NTD, tuy nhiên, điều đó

không phải lúc nào cũng xảy ra mà thường chỉ tồn tại trong một thị trường cạnh

tranh hoàn hảo, trong đó tất cả sự cạnh tranh đều là cạnh tranh lành mạnh

Trong thực tế, cung cấp thông tin cho NTD là một nhu cầu mang tính chất

tự thân của các doanh nghiệp khi tham gia thị trường Chính vì vậy, pháp luật các nước thường quy định thông tin cho NTD và quảng cáo sản phẩm hàng hóa, dịch vụ là quyền của các doanh nghiệp khi tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ

Trang 20

cho thị trường Việc các nhà sản xuất, các thương nhân muốn kinh doanh và tiêu thụ được hàng hóa, dịch vụ của mình, muốn cạnh tranh được với các thương nhân khác cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cùng loại chắc chắn sẽ phải cung cấp thông tin về loại hàng hóa, dịch vụ mà ḿnh kinh doanh tới cho NTD một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất Việc cung cấp thông tin về các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của NTD trong

xã hội Quyết định tới sự lưu thông hàng hóa trên thị trường Có thể nói những yếu tố kể trên sẽ trở nên không còn nhiều ý nghĩa khi NTD thiếu các thông tin thiết yếu

Với sự phát triển của xã hội hiện nay, các loại hàng hóa, dịch vụ không những đa dạng về số lượng, mẫu mã sản phẩm mà còn phong phú về chủng loại hàng hóa và phong phú cả về số lượng các nhà sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch

vụ Các mặt hàng đa dạng từ các loại hàng hóa như: thực phẩm tươi, thực phẩm đóng gói, hoa quả (những loại mặt hàng cần dùng thiết yếu trong sinh hoạt hàng ngày); tới các sản phẩm đáp ứng những nhu cầu cao hơn như: mỹ phẩm, công nghệ (điện thoại, ô tô, máy lọc nước, máy giặt, ti vi, tủ lạnh, điều hòa…) và các dịch vụ như du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, marketing, truyền thông, điện ảnh… với rất nhiều các nhà cung cấp hàng hóa sản phẩm khác nhau Vì vậy, để tồn tại

và đạt được mục đích lợi nhuận của mình, không ít tổ chức, cá nhân kinh doanh chỉ cung cấp những thông tin có lợi cho chính bản thân tổ chức, cá nhân kinh doanh mà vô tình hay hữu ý “lờ” đi những thông tin đáng lẽ ra bắt buộc phải cung cấp cho NTD như thông tin về tác dụng phụ, những tác hại có thể xảy ra khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Đặc biệt trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như ngày nay, các sản phẩm dịch vụ công nghệ cao (như ô tô, máy móc, đồ điện tử hay dịch vụ bán hàng online, dịch vụ viễn thông…) do các thương nhân cung cấp chứa rất nhiều những thông tin kỹ thuật, những thông tin chuyên môn mà NTD không thể có đủ kiến thức, trình độ và thời gian để tìm hiểu Vì vậy, trong mối quan hệ giữa NTD và thương nhân, NTD vốn đã ở vị trí yếu thế so với thương nhân thì ngày nay với các sản phẩm dịch vụ mang đặc tính kỹ thuật, công nghệ cao, NTD lại càng bị yếu thế hơn nữa

NTD bị hạn chế về thông tin và kiến thức chuyên môn, đặc biệt là những kiến thức liên quan đến đặc tính kỹ thuật, tính năng sử dụng, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm NTD cũng bị hạn chế về khả năng đàm phán hợp đồng (đối với những dạng hợp đồng theo mẫu, NTD không có quyền đàm phán mà buộc phải thực hiện theo những điều khoản đã quy định trong hợp đồng…) và khả năng

Trang 21

chịu rủi ro khi mua sản phẩm (đối với những sản phẩm hoặc những dịch vụ mà thương nhân không có bảo hành, nếu sản phẩm hoặc dịch vụ bị hỏng, bị lỗi trong một thời gian sử dụng nhất định thì không được sửa chữa và đổi trả…) Nguyên nhân thứ nhất, là do quan hệ giữa thương nhân với NTD không phải lúc nào cũng là mối quan hệ đồng thuận về lợi ích, vì vậy, sẽ có những lúc

tổ chức, cá nhân kinh doanh không cung cấp đầy đủ mọi thông tin cần thiết cho NTD Thứ hai, vì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, có những doanh nghiệp, những tổ chức cá nhân kinh doanh chỉ cung cấp những thông tin tốt về sản phẩm mà không cung cấp những thông tin về rủi ro tiềm ẩn khi sử dụng sản phẩm, thậm chí đôi khi có những tổ chức, cá nhân kinh doanh còn cung cấp những thông tin sai lệch về sản phẩm làm người tiêu dùng lầm tưởng gây ra những thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần cho người sử dụng Điển hình là

vụ việc sữa hoàn nguyên hay còn chính là sữa bột pha thì lại quảng cáo là sữa tươi, gây nhầm lẫn cho NTD

Do vậy, từ góc độ của NTD, khi tham gia thị trường và các giao dịch tiêu dùng đối với thương nhân, họ thường phải đối mặt với việc: được cung cấp quá nhiều thông tin tốt (những thông tin có lợi đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh) mà không được cung cấp những thông tin về mặt trái, những nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ do thương nhân cung cấp Đây

chính là tình trạng “thừa thông tin tốt, thiếu thông tin cần thiết” khi NTD tham

gia trên thị trường

Như vậy, bản thân một trong những yếu tố làm cho NTD trở nên yếu thế,

dễ bị xâm hại về quyền lợi khi tham gia thị trường chính là yếu tố liên quan đến thông tin, đó là tình trạng NTD thiếu thông tin, không được cung cấp thông tin đầy đủ hoặc được cung cấp thông tin nhưng thông tin không cân xứng Bởi vậy,

có thể nói, bài toán bảo vệ quyền lợi NTD trong nền kinh tế thị trường thường là bài toán về việc đảm bảo quyền được thông tin một cách đầy đủ, chính xác và trung thực của NTD

Thông tin chính là yếu tố thiết yếu giúp NTD trở thành NTD thông thái và

sự thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch cũng khiến cho quyền lợi của NTD bị xâm hại

Như vậy, có thể thấy, yếu thế về thông tinvà các loại yếu thế khác mà

NTD thường phải đối mặt khi tham gia thị trường đã làm cho ý nghĩa của

nguyên tắc chủ quyền của NTD trở nên ít ý nghĩa Nếu không khắc phục những

điểm yếu đó, ý nghĩa của công tác bảo vệ NTD sẽ không đạt được hiệu quả

Trang 22

Chính vì thực tế trên, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD đã sử dụng công

cụ pháp lý,khẳng định NTD có quyền được cung cấp thông tin Đồng thời, yêu cầu các thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết đối với NTD, hạn chế tình trạng thừa thông tin tốt, thiếu thông tin cần thiết của NTD

1.2.2 Khái quát về quá trình phát triển các quy định về quyền được cung cấp thông tin của NTD ở Việt Nam

Bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam là lĩnh vực còn tương đối mới mẻ, bắt đầu từ khi nước ta chính thức chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa vào năm 1986 và chỉ thực sự được quan tâm khi Pháp lệnh bảo

vệ quyền lợi NTD ra đời năm 1999

* Trước năm 1999

Thời kỳ này, vấn đề bảo vệ NTD chưa có văn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh mà thường được quy định trong các văn bản pháp luật thương mại hoặc dân sự Quy định về quyền được cung cấp thông tin của NTD thường được thể hiện dưới dạng quy định về nghĩa vụ của thương nhân trong việc cung cấp

thông tin cho NTD, cụ thể tại Điều 9 Luật Thương mại 1997 quy định về “Bảo

vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng” theo đó, “Thương nhân có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực về hàng hóa và dịch vụ mà mình cung ứng” Ngoài ra, Điều 435 Bộ luật Dân sự năm 1995 đã quy địnhNghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng của bên bán như sau: “Bên bán

có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này, thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện và nếu bên bán vẫn không thực hiện, thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Có thể thấy, những quy định này chưa đủ đảm bảo cho NTD được cung

cấp thông tin một cách đầy đủ khi giao dịch với thương nhân

* Từ năm 1999 đến 2010

Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD có hiệu lực từ ngày 01/10/1999 và là văn bản pháp luật đầu tiên quy định cụ thể các vấn đề về bảo vệ NTD ở Việt Nam, từ các quy định về quyền, trách nhiệm của NTD đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong việc bảo

vệ NTD

Quyền được cung cấp thông tin của NTD lần đầu tiên được quy định cụ

thể tại một văn bản pháp luật, theo đó NTD “được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ”, quy định

Trang 23

này đã phần nào xác định được những thông tin mà thương nhân cần phải cung cấp cho NTD khi giao kết hợp đồng Ngoài ra, tại Điều 15 của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin cho NTD cũng được liệt kê như sau:

“Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thông tin, quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hóa, dịch vụ, niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng há, dịch vụ của mình cho NTD”

Bên cạnh những quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm

1999, quyền được cung cấp thông tin của NTD cũng được đề cập đến trong quy

định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 về Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng (Điều 442) và trong Luật Thương mại năm 2005 về Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD (Điều 14)

* Từ năm 2010 đến nay

Sau khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 có hiệu lực, thực trạng vi phạm quyền lợi của NTD vẫn có chiều hướng tăng lên, đặc biệt trong vài năm trở lại đây, do đó đòi hỏi pháp luật cần phải có sự bổ sung, sửa đổi để quyền lợi của NTD có thể được bảo vệ trên thực tế Chính vì những lý do trên

mà Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 Lần đầu tiên, tám quyền của NTD đã chính thức được ghi nhận và quy định tại Điều 8 của Luật, trong đó quyền được cung cấp thông tin của NTD

được quy định tại Khoản 2 : “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa…” Bên cạnh việc quy định NTD có quyền

được cung cấp các thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình mua hoặc

sử dụng, Luật còn xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD tại Điều 12 bao gồm các trách nhiệm sau: ghi nhãn hàng hóa, niêm yết giá, cung cấp hướng dẫn

sử dụng…

Ngoài những quy định tại Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, một số văn bản pháp luật có liên quan cũng có quy định về quyền được cung cấp thông tin của NTD như: Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi năm 2010) tại Điều

19 về Trách nhiệm cung cấp thông tin; Luật quảng cáo năm 2012 tại Điều 16 về Quyền và nghĩa vụ của người tiếp nhận quảng cáo; Luật bưu chính năm 2010 tại Điều 30 về Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ bưu chính; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 tại Điều 8 về Những hành vi bị nghiêm

Trang 24

cấm (Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dôi về chất lượng sản

phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc và xuất xứ hàng hóa) hay tại Điều 10 về Nghĩa

vụ của người sản xuất, Điều 12 về Nghĩa vụ của người nhập khẩu, Điều 16 về Nghĩa vụ của người bán hàng, đặc biệt là tại Điều 17 quy định về Quyền của NTD (Được cung cấp thông tin trung thực về mức độ an toàn, chất lượng, hướng

dẫn vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa; Được cung cấp thông tin về việc bảo hành hàng hóa, khả năng gây mất an toàn của hàng hóa và cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo từ người sản xuất, người nhập khẩu…)

1.2.3 Kinh nghiệm pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của một số nước trên thế giới

Kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới cho thấy, vấn đề về quyền được cung cấp thông tin của NTD đã được các nhà lập pháp trên thế giới dành nhiều sự quan tâm Quyền được tiếp cận thông tin về hàng hóa, dịch vụ của NTD được công nhận và nêu cao như một trong các quyền cơ bản nhất của NTD Dưới đây là bảng quy định của một số quốc gia trên thế giới về quyền được cung cấp, tiếp cận thông tin về hàng hóa, dịch vụ của NTD:

Quốc gia Quyền của NTD được tiếp cận

thông tin về hàng hóa, dịch vụ

Nghĩa vụ của nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ phải cung cấp thông tin và nghĩa vụ của bên thứ ba

Ấn độ Luật bảo vệ NTD năm 1986, điều

6 thuộc chương II:

-Ủy ban Trung ương về bảo vệ NTD sẽ phát huy và bảo vệ các quyền của NTD, trong đó có quyền: b) được thông tin về chất lượng, số lượng, cường lực, độ trong sạch, tiêu chuẩn và giá cả của hàng hóa, dịch vụ,…

Không đề cập trực tiếp trong Luật bảo vệ NTD

Thái lan Điều 4(1), Luật Bảo vệ NTD số

Trang 25

chất lượng hàng hóa, dịch vụ”

Malaysia Luật Bảo vệ NTD 1999 của

Malaysia không nêu cụ thể quyền được tiếp cận thông tin của NTD, cũng không tiếp cận theo hướng quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà chọn cách tiếp cận cấm các hành vi cung cấp thông tin sai lệch gây nhầm lẫn cho NTD liên quan đến hàng hóa, dịch vụ

Luật Bảo vệ NTD 1999, Điều

9, Phần II về các hành vi lừa đảo, gây nhầm lẫn và các hành vi thương mại không

công bằng: cấm các hành vi gây nhầm lẫn về bản chất, đặc điểm, tính khả dụng… của hàng hóa, dịch vụ

Điều 10: cấm các hành vi biểu đạt gây nhầm lẫn liên quan đến chất lượng, nguồn gốc, chủng loại, tiêu chuẩn hàng hóa

Điều 12 cấm các hành vi gây nhầm lẫn cho NTD liên quan đến giá của hàng hóa

Indonesia Luật Bảo vệ NTD số 8 năm 1999,

Điều 3 Chương I (Các điều khoản chung)

Mục tiêu của công tác bảo vệ NTD

là (d) xây dựng một cơ chế đảm bảo tính chắc chắn về một pháp lý, tính minh bạch về thông tin cũng như đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

Trung

Quốc

Luật Bảo vệ Quyền và lợi ích của NTD số 8 năm 1994, Điều 8 Chương II:

NTD có quyền được biết tình trạng thực tế của hàng hóa mua

Luật Bảo vệ Quyền và lợi ích của NTD số 8 năm 1994, Điều 19 Chương III:

“Thương nhân có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo đúng

Trang 26

bán, sử dụng cũng như dịch vụ mà

họ chấp nhận NTD có quyền, tùy theo tình trạng khác nhau của hàng hóa, dịch vụ, yêu cầu thương nhân cung cấp những thông tin liên quan về mặt hàng đó như giá

cả, nguồn gốc, thời hạn, sử dụng,…”

thực tế về hàng hóa, dịch vụ cho NTD và không được quảng cáo gây nhầm lẫn Thương nhân sẽ công bố thực

tế và trả lời các thắc mắc của NTD về chất lượng và phương thức sử dụng hàng hóa, dịch vụ do họ cung cấp Các cửa hàng phải dán nhãn

kê rõ giá của hàng hóa bán trong cửa hàng”

Cách tiếp cận chung của các quốc gia là quy định nghĩa vụ của thương nhân, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ phải cung cấp thông tin, hay quy định các hành vi bị cấm như: quảng cáo hay biểu đạt gây nhầm lẫn… Tuy nhiên, như đã phân tích, không phải lúc nào cũng thương nhân cũng tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ này, đặc biệt khi họ không thấy có lợi ích trong việc tôn trọng các quyền lợi này Trong thực tế, việc đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của NTD không dễ dàng được bảo đảm Vì vậy, cần phải có những giải pháp nâng cao nhận thức của NTD trong việc bảo vệ quyền lợi của mình cũng như những giải pháp từ phía cơ quan nhà nước nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện tốt nghĩa vụ cung cấp thông tin cho NTD

Tiểu kết chương 1

Quyền được cung cấp thông tin của NTD là một trong tám quyền cơ bản của NTD và là quyền được ưu tiên, quan trọng nhất của NTD.Đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của NTD sẽ giúp cho các quyền khác của NTD được thực hiện Nếu NTD không được cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, gây nhầm lẫn về tổ chức, cá nhân kinh doanh và hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ, NTD sẽ không thể đưa ra những quyết định chính xác trong việc tiêu dung và sử dụng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ Để đảm bảo quyền được cung cấp thông tin của NTD, pháp luật Việt Nam quy định chế tài xử lý đối với chủ thể có hành vi xâm phạm đến quyền này của NTD Các quy định được thể

hiện trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật Bảo vệ quyền lợi NTD số 59/2010/QH12 đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 17

tháng 11 năm 2010 và chính thức có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011;

Trang 27

Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 11 năm

2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014; Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005; Bộ Luật Hình sự 1999… và các văn bản pháp luật khác như Luật Thương mại 2005, Luật Quảng cáo 2012… Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật cũng như các văn bản dưới luật

đã có những quy định rõ ràng và cụ thể đối với nội dung của quyền được cung cấp thông tin của NTD và có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật khác nhau trong việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền được cung cấp thông tin của NTD

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐƯỢC CUNG

CẤP THÔNG TIN CỦA NTD

2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng

2.1.1 Quy định quyền cơ bản của người tiêu dùng trong việc được biết các thông tin liên quan đến hàng hoá dịch vụ mà tổ chức, cá nhân cung cấp

Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã quy định về quyền được cung

cấp thông tin của NTD tại Điều 8 như sau: “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng

từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch

vụ mà NTD đã mua, sử dụng”

Theo quy định này, NTD có quyền được biết: thông tin về sự tồn tại hợp pháp của đơn vị cung ứng hàng hóa (như tên, địa chỉ, trụ sở kinh doanh); thông tin về hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân cung cấp; được cung cấp các giấy tờ, bằng chứng sau khi giao dịch với NTD (như hóa đơn); thu hồi hàng hóa có khuyết tật và những thông tin cần thiết liên quan khác.Quy định này mang tính chất chung chung, không cụ thể về những thông tin mà NTD có quyền được biết

là những thông tin thuộc loại nào Nếu áp dụng theo quy định trên, tất cả những thông tin được coi là có liên quan đến tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua hoặc sử dụng sẽ đều được coi là thông tin phải cung cấp cho NTD Như vậy sẽ khó có tổ chức, cá nhân kinh doanh nào có thể đảm bảo được quyền của NTD được thực hiện trên thực tế Vì vậy, pháp luật quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp những thông tin cho NTD quy định tại Điều 12 cũng chính là những thông tin

mà NTD có quyền được cung cấp Quy định cụ thể được phân tích ở phần dưới đây

2.1.2 Quy định trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng

Theo điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm phải cung cấp những thông tin sau cho NTD:

1 Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật

Trang 29

2 Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ

3 Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD và các biện pháp phòng ngừa

4 Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa

5 Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành

6 Thông báo chính xác, đầy đủ cho NTD về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch

Vậy nếu dựa theo những quy định về trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp thông tin cho NTD, ta có thể xác định được những thông tin mà NTD được cung cấp khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ: đó là nhãn hàng hóa, giá cả, linh kiện, phụ kiện thay thế, hướng dẫn sử dụng, bảo hành… Mỗi thông tin này lại được hướng dẫn tại các văn bản pháp luật khác nhau Cụ thể là:

2.1.2.1 Trách nhiệm ghi nhãn hàng hoá

Ghi nhãn hàng hóa được quy định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP của

Chính phủ về nhãn hàng hóa, theo đó “Ghi nhãn hàng hóa là thể hiện nội dung

cơ bản, cần thiết về hàng hóa lên nhãn hàng hóa để NTD nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát”

Theo đó, tại Điều 3 của Nghị định 89/2006/NĐ-CP đã giải thích rất rõ ràng và cụ thể thế nào là nhãn hàng hóa, nhãn gốc của hàng hóa, nhãn phụ, bao

bì thương phẩm (bao bì trực tiếp, bao bì ngoài), tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, định lượng của hàng hóa, ngày sản xuất, hạn

sử dụng, hạn bảo quản, xuất xứ của hàng hóa, thành phần, thành phần định lượng, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản… giúp cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh dễ dàng thực hiện được trách nhiệm cung cấp thông tin của mình cho người tiêu dùng

Có thể thấy, nhãn hàng hóa là một trong các yếu tố quan trọng mà NTD cần nắm bắt được trước khi quyết định mua hoặc sử dụng hàng hóa, tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ của hàng hóa,

dịch vụ… Pháp luật cũng quy định rất rõ ràng những mặt hàng bắt buộc phải ghi nhãn hàng hóa tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 89/2006/NĐ-CP là những hàng

hóa lưu thông trong nước, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải ghi nhãn theo

quy định của nghị định này và những mặt hàng không bắt buộc phải ghi

Trang 30

nhãnhàng hóa được quy định tại khoản 2 Điều 5 nghị định này như: thực phẩm

tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho NTD.Bên cạnh việc quy định các thông tin mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải ghi trên nhãn hàng hóa, Nghị định 89/2006 còn quy định cụ thể về vị trí nhãn hàng hóa (Điều 6); kích thước nhãn hàng hóa (Điều 7); Màu sắc của chữ, ký hiệu và hình ảnh trên nhãn hàng hóa (Điều 8); Ngôn ngữ trình bày trên nhãn hàng hóa (Điều 9) và trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa (Điều 10).Ngoài ra, tùy từng mặt hàng mà

có những nội dung bắt buộc tùy theo tính chất của hàng hóa cũng phải ghi trên nhãn hàng hóa như các mặt hàng đồ điện tử và kỹ thuật cao như: mô tô, xe máy,

ô tô, máy móc, trang thiết bị đo lường, sản phẩm điện, điện tử, vàng, bạc, đá quý… sẽ có những thông tin đặc trưng riêng đối với từng sản phẩm và bắt buộc phải được ghi trên nhãn hàng hóa cũng được quy định tại Điều 12 Nghị định 89/2006/NĐ-CP Các điều khoản tiếp theo từ điều 13 đến điều 20 trong nghị định 89/2006 đã giải thích và làm rõ hơn các nội dung bắt buộc ghi trong nhãn hàng hóa

Đối với mặt hàng là thuốc và liên quan đến thuốc, ngày 12/5/2008, Bộ

Y tế đã ban hành Thông tư số 04/2008/TT-BYT hướng dẫn ghi nhãn thuốc, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc tại Việt Nam Theo thông tư số 04/2008/TT-BYT, Thuốc lưu thông trong nước,

thuốc xuất khẩu, thuốc nhập khẩu phải ghi nhãn theo quy định của Thông tư này Tổ chức, cá nhân sản xuất thuốc, xuất khẩu thuốc phải chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn và tự xác định kích thước của nhãn nhưng phải bảo đảm ghi đầy

đủ nội dung bắt buộc Trường hợp nhãn trên bao bì ngoài không đủ diện tích để ghi nội dung của chỉ định, chống chỉ định thì trên nhãn phải có dòng chữ “Chỉ định, cách dùng, chống chỉ định: xin đọc trong tờ hướng dẫn sử dụng” và phải

có tờ hướng dẫn sử dụng kèm theo bao bì thương phẩm của thuốc Thuốc nhập khẩu vào Việt Nam mà nhãn gốc không phù hợp với quy định của Thông tư này thì tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải ghi nhãn phụ theo quy định tại điểm c khoản

8 Phần I Thông tư này trước khi đưa ra lưu thông và phải giữ nguyên nhãn gốc

Đối với mặt hàng là thực phẩm và liên quan đến thực phẩm, ngày

27/10/2014, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công

Thương đã ban hành Thông tư liên tịch số BCThướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn Theo đó, việc ghi nhãn hoặc gắn

34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-trên nhãn các loại hình ảnh, hình vẽ, biểu trưng phải trung thực và không được gây hiểu nhầm, lừa dối hoặc tạo ra ấn tượng không đúng về bản chất đặc tính,

Trang 31

công dụng của sản phẩm Không được ghi những lời lẽ, ký hiệu, họa tiết đề cập đến hay gợi ý trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản phẩm khác, làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm là sản phẩm khác Đối với những thông tin bắt buộc ghi trên nhãn sản phẩm, chiều cao chữ không được thấp hơn 1,2 mm Đối với trường hợp một mặt của bao gói dùng để ghi nhãn không tính phần giáp mí nhỏ hơn 80 cm2 thì chiều cao chữ không được thấp hơn 0,9 mm Màu của chữ phải tương phản với màu nền của nhãn Nhãn hàng hóa phải bảo đảm tồn tại lâu dài, không được tẩy, xóa và không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Khuyến khích tổ chức,

cá nhân ghi nhãn thông tin dinh dưỡng theo hướng dẫn của Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế

Đối với việc quản lý hoạt động ghi nhãn hàng hóa, pháp luật quy định trách nhiệm thuộc về Bộ khoa học và công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về nhãn hàng hóa trên phạm vi cả nước bao gồm các nhiệm vụ:

- Xây dựng và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về nhãn hàng hoá

- Phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật, tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn về nhãn hàng hoá

- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật về nhãn hàng hoá Chủ trì giải quyết và xử lý các hành vi vi phạm về nhãn hàng hoá

- Quy định việc công bố nhãn hàng hoá

- Tổ chức xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về nhãn hàng hoá

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện quản lý nhà nước về nhãn hàng hoá Ngoài trách nhiệm của Bộ khoa học và công nghệ, Các Bộ và cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, cùng UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng có trách nhiệm phối hợp với Bộ khoa học và công nghệ thực hiện nhiệm vụ này

2.1.2.2 Trách nhiệm công bố giá hàng hóa, dịch vụ

Theo khoản 4 Điều 4 Luật giá năm 2012, Giá thị trường được hiểu là giá hàng hóa, dịch vụ hình thành do các nhân tố chi phối và vận động của thị trường quyết định tại một thời điểm, địa điểm nhất định

Giá cả là một trong những yếu tố quyết định tới hành vi mua sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của NTD NTD khi quyết định mua sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ sẽ luôn cân nhắc, xem xét đến tính hợp lý của giá cả sản phẩm, hàng

Trang 32

hóa, dịch vụ đối với thu nhập của bản thân Nếu cùng một loại hàng hóa, dịch vụ với chất lượng như nhau được nhiều thương nhân cung cấp thì NTD chắc chắn

sẽ lựa chọn tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra giá thấp nhất Tuy nhiên, không phải lúc nào các tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng công khai thông tin về giá cả cho tất cả mọi NTD, và luôn luôn thực hiện bán đúng giá cho NTD trong mọi trường hợp Vì vậy, pháp luật cần phải quy định quyền được cung cấp thông tin

về giá cả cho NTD để buộc các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện

Luật giá năm 2012 giành hẳn Điều 13 để quy định về quyền được cung

cấp thông tin về giá cả của NTD Theo đó NTD có quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về giá, chất lượng, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ Nếu hàng hóa, dịch vụ không đúng với giá đã niêm yết thì NTD có quyền được khiếu nại, tố cáo khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật về giá của tổ chức cá nhân kinh doanh Đồng thời, NTD còn được yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh khi vi phạm pháp luật về giá, thực hiện giá không đúng giá niêm yết còn có quyền đòi bồi thường thiệt hại

Pháp luật về giá cũng quy định rõ về vấn đề niêm yết giá:

Theo đó, niêm yết giá được hiểu: “là việc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh

doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nambằng cách dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của

hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Ngoài ra, pháp luật còn quy định: đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá (hàng hóa, dịch vụ thuộc độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh như: điện, nước sinh hoạt hoặc những hàng hóa là tài nguyên quan trọng, hàng dự trữ quốc gia, sản phẩm, dịch vụ công ích…) thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải niêm yết giá và bán đúng giá nhà nước đã quy định; đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ do nhà nước định giá thì niêm yết theo giá tổ chức, cá nhân kinh doanh quyết định và không được mua, bán cao hơn giá

đã niêm yết Đặc biệt, pháp luật đã quy định rõ các tổ chức, cá nhân phải công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của mình để đảm bảo quyền được cung cấp thông tin cho NTD

Trang 33

2.1.2.3 Trách nhiệm công bố tác hại của hàng hóa, dịch vụ khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Tại Khoản 3 Điều 12 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 có quy định rất rõ

rằng: Tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm “Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa”, nhằm tránh cho NTD những thiệt hại không đáng có do sự thiếu thông tin đem đến

Các loại hàng hóa, dịch vụ do thương nhân cung cấp không phải lúc nào cũng đảm bảo an toàn về chất lượng Vì mục đích lợi nhuận, nhiều thương nhân bất chấp cả tính mạng, sức khỏe của NTD đưa ra những sản phẩm, hàng hóa không còn hạn sử dụng hoặc những loại hàng hóa khi sử dụng có thể gây ra những tác dụng phụ mà cố tình không nhắc tới cho NTD Việc các tổ chức, cá nhân không công bố tác hại của sản phẩm, hàng hóa dịch vụ sẽ gây thiệt hai về vật chất cũng như tinh thần cho NTD Không những ảnh hưởng tới quyền lợi của NTD mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin của NTD đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh, làm chậm đi sự lưu thông hàng hóa trên thị trường, giảm đáng kể doanh thu của nền kinh tế quốc gia Do đó, đối với những loại hàng hóa, sản phẩm có khả năng gây hại, tổ chức, cá nhân kinh doanh luôn luôn phải có những cảnh báo cho NTD một cách đầy đủ, kịp thời và được ghi trên bao bì, hướng dẫn sử dụng hoặc công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

Cũng như phân tích ở phần trước, NTD thường không có đủ trình độ chuyên môn để nhận thức được những nguy hiểm mà sản phẩm họ mua mang lại

do các sản phẩm hiện nay vô cùng phong phú, đa dạng về cả mẫu mã sản phẩm Thêm vào đó, các loại mặt hàng có hàm lượng tri thức cao thuốc biệt dược, thực phẩm chức năng, thực phẩm chế biến sẵn… là những loại sản phẩm mà NTD khó có thể kiểm tra chất lượng hàng hóa bằng mắt thường Ví dụ: nước tương chứa 3-MCPD, gây nguy hại cho con người những NTD không thể đủ kiến thức, trang thiết bị để có thể thẩm định chai nước tương nào có chứa chất gây nguy hại cho sức khỏe để phòng tránh mà phải có sự tham gia của các cơ quan chức năng trong việc thẩm tra, thẩm định chất lượng các loại mặt hàng này Hoặc những sản phẩm dược phẩm có hàm lượng tri thức cao như thuốc bổ não, thuốc dành cho người tai biến, thuốc trị đau dạ dày, thuốc trị cảm cúm… khi sử dụng

có thể gây ra một số tác dụng phụ thì tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp thuốc phải có trách nhiệm cung cấp thông tin về tác dụng phụ, tác hại không mong muốn khi sử dụng các loại thuốc này

Trang 34

Ngoài ra, tại Điều Điều 16 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số05/2007/QH12 cũng quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh phải kịp thời cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của hàng hóa và cách phòng ngừa cho người mua khi nhận được thông tin từ người sản xuất, người nhập khẩu

2.1.2.4 Trách nhiệm cung cấp hóa đơn, hướng dẫn sử dụng, điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành

Theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa,

cung ứng dịch vụ quy định: “Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận

thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật”

Đối với một hóa đơn mua bán hàng hóa, Nghị định 51/2010/NĐ-CP cũng

quy định: hóa đơn bán hàng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp Hóa

đơn có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức bao gồm:

- Hóa đơn tự in: là loại hóa đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh tự tin

ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, dịch vụ;

- Hóa đơn điện tử: là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, dịch vụ được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Hóa đơn đặt in: là hóa đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc do cơ quan thuế đặt in để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân

Hóa đơn là chứng từ, bằng chứng chứa những thông tin vô cùng quan trọng trong quan hệ giữa NTD và thương nhân, do đó, khoản 3 Điều 4 của Nghị định 51/2010/NĐ-CP cũng quy định những nội dung bắt buộc phải có trong các

hóa đơn bao gồm: a) Tên hóa đơn, ký hiệu hóa đơn, số hóa đơn, tên liên hóa đơn Đối với hóa đơn đặt in còn phải ghi tên tổ chức đã nhận in hóa đơn; b) Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán; c) Tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua; d) Tên, đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hóa, dịch vụ; thành tiền chưa

có thuế giá trị gia tăng, thuế suất thuế giá trị gia tăng, số tiền thuế giá trị gia tăng trong trường hợp là hóa đơn giá trị gia tăng; đ) Tổng số tiền thanh toán, chữ ký người mua, chữ ký người bán, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập hóa đơn

Trang 35

Hình ảnh mang tính chất minh họa

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có hàm lượng thông tin kỹ thuật cao, nếu không có hướng dẫn sử dụng, NTD sẽ không thể khai thác hết các tính năng, công dụng của sản phẩm Hướng dẫn sử dụng lúc này chính là một tài liệu cung cấp thông tin vô cùng quan trọng đối với NTD, đặc biệt là những sản phẩm mang đặc tính kỹ thuật, công nghệ cao (như ô tô, máy móc, các sản phẩm điện tử…), NTD bắt buộc phải có hướng dẫn

sử dụng mới có thể khai thác triệt để các tính năng, công dụng của sản phẩm, đồng thời tránh những thiệt hại có thể gây ra đối với NTD do sử dụng sản phẩm không đúng cách

Bảo hành được hiểu là một dịch vụ hậu mãi, sau bán hàng của các tổ

chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng lại sản phẩm, hàng hóa mà NTD đã mua, sử dụng Đây được coi là một dịch vụ mà các doanh nghiệp nước ngoài thường áp dụng như một chiến lược kinh doanh hiệu quả, bởi họ hiểu muốn thu hút được sức mua lớn từ NTD thì phải đặt lợi ích của NTD lên hàng đầu, tạo niềm tin đối với khách hàng, tạo ra một lực lượng NTD đông đảo và chiến lược kinh doanh bền vững, lâu dài Tuy nhiên, ở Việt Nam, bảo hành chưa thực sự được coi trọng, đối với những loại sản phẩm công nghệ

kỹ thuật cao, việc bảo hành là điều vô cùng cần thiết bởi bản thân NTD không thể tự mình sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng sản phẩm đúng cách và hiệu quả Đối với các sản phẩm được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải

cung cấp đầy đủ thông tin về bảo hành như: điều kiện được bảo hành (còn tem bảo hành, không phải do lỗi của NTD như làm rơi, vỡ sản phẩm)…; thời hạn, địa điểm và thủ tục bảo hành Đây chỉ là cung cấp những thông tin chung cho

Trang 36

NTD để NTD biết được sản phẩm của mình được bảo hành tại đâu và trong thời hạn nào mà thôi, còn cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, kinh doanh trong việc bảo hành lại được quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật BVQLNTD quy định

về nghĩa vụ phải cung cấp thông tin về điều kiện bảo hành Theo đó, “Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm:

…2 Cung cấp cho NTD giấy tiếp nhận bảo hành, trong đó ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào thời hạn bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện Trường hợp tổ chức kinh doanh hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì thời hạn bảo hành linh kiện, phụ kiện hoặc hàng hóa đó được tính từ thời điểm thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới”

Như vậy, theo quy định này, người tiêu dùng cần phải xác định hàng hóa,

dịch vụ mình đã mua có thể rơi vào một trong hai trường hợp đó là “được bảo hành” hoặc “không được bảo hành” Trường hợp sản phẩm có bảo hành thì tổ

chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm cung cấp hướng dẫn sử dụng, điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành (theo quy định tại Điều 12 về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng) Cụ thể hơn, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải

có trách nhiệm cung cấp cho người tiêu dùng giấy chứng nhận bảo hành với đầy

đủ các nội dung nói trên (điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành) đối với các sản phẩm có bảo hành hoặc bắt buộc có bảo hành

Rõ ràng, doanh nghiệp sẽ là đối tượng hiểu rõ nhất chất lượng thực tế, cơ chế hoạt động cũng như dự báo trước những tác động lý hóa trong quá trình sử dụng có ảnh hưởng như thế nào tới chất lượng Trong khi, không phải người tiêu dùng nào cũng hiểu rõ về sản phẩm và chất lượng thực của nó Luật BVQLNTD

2010 ra đời đã góp phần quan trọng xác định rõ vị trí giữa hai đối tượng đó trong quan hệ giao dịch hàng hóa cũng như chế độ bảo hành

Bên cạnh đó, Luật BVQLNTD 2010 còn quy định giới hạn sửa chữa tối

đa là 3 lần trong thời hạn bảo hành, nếu không sửa chữa hoặc khắc phục được thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa phải đổi sản phẩm hoặc linh kiện, phụ kiện mới tương tự hay thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng Thực

tế có không ít trường hợp, doanh nghiệp sau nhiều lần sửa chữa vẫn không khắc phục được lỗi trên sản phẩm, hàng hóa đó Vì vậy nếu không giới hạn thời hạn bảo hành, quyền lợi của người mua sẽ bị ảnh hưởng Đối với những sản phẩm có

Trang 37

giá trị lớn, người mua sẵn sàng chờ đợi nhưng trong trường hợp hàng hóa, vật dụng có giá trị nhỏ thì chắc hẳn sẽ không ít người tự nhủ nên mua sản phẩm

khác thay thế… “Mặc dù luật này không nêu rõ thứ tự trước sau về yêu cầu của bên mua trong việc bảo hành sản phẩm nhưng quy định giới hạn sửa chữa được xem là điểm mới so với những văn bản pháp luật trước” 7

2.1.2.5 Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa

Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như ngày nay, các sản phẩm máy móc, công nghệ là một trong những loại mặt hàng được các tổ chức cá nhân cung cấp cũng như NTD sử dụng và tiêu thụ với số lượng lớn Đối với mặt hàng

có đặc tính kỹ thuật, công nghệ như máy móc, thì khi sản phẩm bị hỏng hóc, các

tổ chức, cá nhân kinh doanh thông thường sẽ cung cấp cho NTD những linh kiện, phụ kiện thay thế, đảm bảo cho NTD không phải thay toàn bộ sản phẩm

Ví dụ, một chiếc máy vi tính sẽ có nhiều linh kiện như: 1 CPU (Vi xử lí) 2 Main (Bộ mạch chủ) 3 Ram (Bộ nhớ trong) 4 HDD (Ổ cứng máy tính) 5 VGA (Card màn hình) 6 PSU (Nguồn máy tính) 7 Card sound (Card âm thanh) 8 Case (Vỏ máy tính) 9 Mouse, Keyboard (Chuột và bàn phím) 10 Sound (Loa máy tính hoặc tai nghe) 11 Monnitor (Màn hình máy tính) 12 Phụ kiện máy tính khác (Bàn di chuột, tản nhiệt …) 8

NTD khi mua một sản phẩm, họ thường chưa đặt ra vấn đề sản phẩm này sau một thời gian sử dụng sẽ phải sửa chữa, thay thế linh, phụ kiện, mà vấn đề này thường phát sinh sau khi NTD đã sử dụng sản phẩm được một thời gian Trong trường hợp hàng hóa của NTD khi bị hỏng hóc không có linh kiện để thay thế thì hàng hóa đó chắc chắn sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của NTD và nếu NTD biết rõ về tình trạng không có linh kiện thay thế trước khi mua hàng hóa đó NTD thường không lựa chọn Do vậy, việc cung cấp thông tin

về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế cũng được coi là một chính sách thu hút NTD sử dụng sản phẩm, hàng hóa của mình và tiêu dùng một cách lâu dài, bền vững của hầu hết các tổ chức, cá nhân kinh doanh giống như chính sách bảo hành đã phân tích ở phần trên Tuy nhiên, vẫn tồn tài một số tổ chức,

cá nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận mà không cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế cho NTD

Trang 38

2.1.2.6 Trách nhiệm thông báo về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch

Theo khoản 5 và khoản 6 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010 quy định: Hợp

đồng theo mẫu (HĐTM) được hiểu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh

soạn thảo để giao dịch với nhiều người tiêu dùng; Điều kiện giao dịch chung

(ĐKGDC) được hiểu là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do

tổ chức, cá nhân kinh doanh công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng

Đối với HĐTM, ĐKGDC, NTD không thể thỏa thuận được với tổ chức,

cá nhân kinh doanh mà bắt buộc phải đồng ý với những điều kiện, hợp đồng đó Chính vì lý do này mà NTD có thể phải chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình mua bán sản phẩm với tổ chức, cá nhân kinh doanh Do đó, Luật bảo vệ quyền lợi NTD bắt buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thông báo cho NTD biết về HĐTM, ĐKGDC trước khi giao dịch nhằm tránh cho NTD bị thiệt hại vì thiếu thông tin

Pháp luật quy định cụ thể đối với hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung bắt buộc phải được lập thành văn bản Trong đó, ngôn ngữ phải được

sử dụng bằng Tiếng Việt, có nội dung rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ tối thiểu là 12, nền giấy và màu mực thể hiện nội dung của hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau Những quy định này nhằm đảm bảo quyền được cung cấp thông tin về HĐTM, ĐKGDC cho NTD, giúp NTD nắm bắt được thông tin một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác nhất, đảm bảo cho quyền được cung cấp thông tin về HĐTM, ĐKGDC cho NTD

Điểm khác biệt của HĐTM và ĐKGDC chính là việc chỉ có duy nhất một bên tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa ra các thỏa thuận nội dung của HĐTM, ĐKGDC, còn phía NTD không được tham gia thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng, do đó, khả năng đàm phán và thương lượng của NTD bị hạn chế Bởi

vậy, điều 17 Luật BVQLNTD 2010 đã quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh khi giao kết hợp đồng theo mẫu phải dành một khoảng thời gian hợp lý để NTD nghiên cứu hợp đồng Hơn nữa, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

phải lưu giữ hợp đồng theo mẫu đã giao kết cho đến khi hợp đồng hết hiệu lực Trường hợp hợp đồng do người tiêu dùng giữ bí mật hoặc hư hỏng thì tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cấp cho người tiêu dùng bản sao hợp đồng Còn đối với ĐKGDC, Điều 18 Luật BVQLNTD 2010 cũng quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng ĐKGDC có trách nhiệm thông báo công khai ĐKGDC cho NTD ĐKGDC phải xác định rõ thời điểm áp dụng và phải được niêm yết ở nơi thuận lợi tại địa điểm giao dịch

Trang 39

để NTD có thể nhìn thấy Những quy định này đã góp phần bảo đảm quyền được cung cấp thông tin HĐTM, ĐKGDC cho NTD trên thực tế

Ở Việt Nam hiện nay, theo Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM, ĐKGDC, tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc 09 nhóm trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký HĐTM, ĐKGDC phải tiến hành đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bao gồm:(1)

Cung cấp điện sinh hoạt;(2) Cung cấp nước sinh hoạt; (3) Truyền hình trả tiền; (4) Thuê bao điện thoại cố định; (5) Thuê bao di động trả sau; (6) Kết nối Internet;(7) Vân chuyển hành khách đường hàng không;(8) Vận chuyển hành khách đường sắt; (9) Mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp Đây là những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu nhà

nước quy định bắt buộc phải đăng ký HĐTM, ĐKGDC bởi đây là những loại hàng hóa, dịch vụ có số lượng NTD sử dụng đông đảo, chiếm gần 90% dân số,

do đó, cần thiết phải có HĐTM, ĐKGDC với các loại hàng hóa, dịch vụ này, đảm bảo cho tất cả NTD trên cả nước đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, thống nhất quản lý các mặt hàng này trên toàn quốc

Có thể thấy, nghĩa vụ đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (HĐTM, ĐKGDC) là một trong những biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc kiểm soát nhằm loại bỏ những điều khoản không phù hợp quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các HĐTM, ĐKGDC được tổ chức, cá nhân kinh doanh soạn thảo và sử dụng trong quá trình giao dịch

Pháp luật cũng quy định Thẩm quyền tiếp nhận đăng kýHĐTM, ĐKGDC

thuộc về:Bộ Công Thương (Cục QLCT) chịu trách nhiệm tiếp nhận đăng ký hợp

đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp hợp đồng theo mẫu

và điều kiện giao dịch chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên

phạm vi từ hai tỉnh trở lên; và Sở Công Thương chịu trách nhiệm tiếp nhận đăng

ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung áp dụng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

2.1.2.7 Trách nhiệm công bố thông tin về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật

Trong quá trình sản xuất, kinh doanh cũng như lưu thông hàng hóa, sản phẩm trên thị trường, không phải lúc nào hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ cũng đạt tiêu chuẩn chất lượng hoàn toàn Khoản 3 Điều 3Luật BVQLNTD 2010 định

Trang 40

nghĩa về hàng hóa có khuyết tật như sau: “hàng hóa không đảm bảo an toàn cho NTD, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho NTD, bao gồm: 1) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; 2)hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; 3) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho NTD”

Như vậy, có thể thấy hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật, khi lưu thông trên thị trường, được NTD mua và sử dụng sản phẩm sẽ luôn có nguy cơ gây ra những rủi ro, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc các thiệt hại về tài sản khác cho NTD Vì vậy, một khi sản phẩm được lưu thông trên thị trường được xác định là có “khuyết tật”, một trong những giải pháp được áp dụng chính là loại bỏ

sự lưu thông những sản phẩm này trên thị trường Thu hồi sản phẩm chính là một trong những biện pháp đó

Luật BVQLNTD 2010 không định nghĩa thế nào là trách nhiệm thu hồi sản phẩm có khuyết tật của tổ chức, cá nhân kinh doanh nhưng dựa vào khái niệm hàng hóa có khuyết tật (Khoản 3 Điều 3) và những trách nhiệm cụ thể của

tổ chức, cá nhân kinh doanh khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật (Điều 22) có

thể hiểu “Trách nhiệm thu hồi sản phẩm làmột loại nghĩa vụ mà pháp luật quy

định theo đó tổ chức cá nhân kinh doanh phải tiến hành loại bỏ hàng hóa có khuyết tật ra khỏi quá trình lưu thông trên thị trường, ngăn ngừa NTD tiếp cận với hàng hóa có khuyết tật và phải gánh chịu những rủi ro từ việc sử dụng hàng hóa có khuyết tật do mình sản xuất, cung ứng”

Thông thường, khuyết tật của hàng hóa, sản phẩm phát sinh có thể do lỗi của nhà sản xuất (không tuân thủ quy trình sản xuất hoặc thực hiện sai thao tác

kỹ thuật) Tuy nhiên, khuyết tật của hàng hóa cũng có thể phát sinh nằm ngoài mong muốn của nhà sản xuất do tính chất lý hóa của các yếu tố cấu thành nên hàng hóa, sản phẩm cũng như do quá trình vận chuyển, bảo quản Tuy nhiên, dù nguyên nhân phát sinh khuyết tật không phải do lỗi của nhà sản xuất thì trách nhiệm thu hồi vẫn thuộc về nhà sản xuất bởi chỉ có nhà sản xuất mới nắm rõ nhất những đặc điểm sản phẩm của mình và có những biện pháp thu hồi thích hợp

Ngay khi xác nhận khuyết tật xảy ra, pháp luật quy định các tổ chức, cá nhân phải kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w