1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

75 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp sau đó, hàng loạt các văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống quy định điều chỉnh chặt chẽ lĩnh vực này, như: Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/200

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRƯƠNG THỊ LINH

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA WEBSITE

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN CHÍ HIẾU

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận văn tốt nghiệp này hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Trương Thị Linh

Trang 3

Cuối cùng, em kính chúc các thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 8

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 8

6 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 10

1.1 Nhận thức chung về website thương mại điện tử 10

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của website thương mại điện tử 10

1.1.2 Vai trò của website thương mại điện tử trong việc phát triển thương mại điện tử 14

1.1.3 Lược sử về sự hình thành và phát triển của website thương mại điện tử tại Việt Nam 16

1.2 Quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 17

1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt động website thương mại điện tử 17

1.2.2 Nguyên tắc quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 18

1.2.3 Nội dung quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 19

1.2.4 Công cụ quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 21

1.2.5 Kinh nghiệm quản lý bằng pháp luật đối với website thương mại điện tử ở một số nước trên thế giới 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 28

2.1 Thẩm quyền quản lý hoạt động website thương mại điện tử 28

Trang 5

2.1.1 Quản lý theo lãnh thổ 28

2.1.2 Quản lý theo ngành 30

2.2 Trình tự, thủ tục thông báo, đăng ký website thương mại điện tử 32

2.2.1 Trách nhiệm thực hiện 32

2.2.2 Trình tự thực hiện thủ tục 33

2.3 Giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử 37

2.3.1 Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử 37

2.3.2 Xác định chủ thể tham gia giao kết hợp đồng 38

2.3.3 Việc chứng thực chữ ký điện tử 39

2.4 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 42

2.5 Xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động của website……… 45

2.5.1 Trách nhiệm hành chính 45

2.5.2 Trách nhiệm hình sự 49

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 52 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 52

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 53

3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 55

3.3.1 Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước 55

3.3.2 Hoàn thiện quy định hợp đồng trên website thương mại điện tử và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 57

3.3.3 Hoàn thiện quy định xử lý vi phạm pháp luật 61

3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử 64

Trang 6

3.4.1 Bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý nhà nước 64

3.4.2 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho mọi công dân 65

3.4.3 Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đem lại nhiều ứng dụng to lớn cho xã hội loài người, trong đó có việc góp phần phát triển hoạt động thương mại Thông qua khoa học công nghệ những giao dịch kinh doanh thương mại

có thể được thiết lập, thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện mà không phụ thuộc vào yếu tố địa lý Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất thì các giao dịch thương mại được thiết lập, thực hiện dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin được gọi là những giao dịch thương mại điện tử

Thương mại điện tử đem lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp, người tiêu dùng và toàn xã hội Đối với doanh nghiệp, thương mại điện tử giúp tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho việc quảng bá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; nhanh chóng thiết lập giao dịch và thực hiện giao dịch với khách hàng Đối với người tiêu dùng, thương mại điện tử mở rộng khả năng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp Đối với xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đã làm thay đổi phương thức kinh doanh và giao dịch truyền thống, đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội Lợi ích rõ rệt nhất của thương mại điện tử là thu nhập được nhiều thông tin, giảm chi phí sản xuất, chi phí bàn hàng, tiếp thị và giao dịch… Tuy có rất nhiều lợi ích nhưng việc ứng dụng thương mại điện tử cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức Đối với nhiều người, nhiều doanh nghiệp, phương thức giao dịch và kinh doanh bằng các phương tiện điện tử còn chưa quen thuộc, độ tin cậy của các phương tiện điện tử cũng như tính pháp lý của các giao dịch điện tử chưa cao Bên cạnh

đó, việc thiết lập, thực hiện các giao dịch thương mại qua mạng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro

Trong bối cảnh hiện nay, thị trường thương mại điện tử ngày càng mở rộng trên khắp thế giới với tốc độ mạnh mẽ Do đó, nhiều quốc gia, tổ chức

Trang 8

thương mại quốc tế đã xây dựng hệ thống luật pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động thương mại điện tử trong khuôn khổ ổn định và có trật tự Để tham gia và khẳng định vị thế trong sân chơi kinh tế toàn cầu, Việt Nam, với tư cách là thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) phải nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý về loại hình thương mại mới trên phù hợp với pháp luật quốc tế

Năm 2005, Luật Giao dịch điện tử ra đời, đánh dấu bước đầu tiên định hình khung pháp lý điều chỉnh trực tiếp đối với các giao dịch thương mại thông qua phương tiện điện tử Tiếp sau đó, hàng loạt các văn bản pháp luật

đã được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống quy định điều chỉnh chặt chẽ lĩnh vực này, như: Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số

và dịch vụ chứng thực chữ ký số (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 26”), Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/05/2013 của Chính phủ về thương mại điện

tử (sau đây gọi tắt là “Nghị định số 52”), Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 của Bộ Công Thương quy định về quản lý website thương mại điện tử (sau đây gọi tắt là “Thông tư số 47”)… Thương mại điện tử ngày nay không còn là điều mới mẻ với xã hội, nhưng sự phát triển với tốc độ đáng ngạc nhiên của nó đã dẫn tới nhiều hệ lụy khó kiểm soát trong nền kinh tế mà đặc biệt phải kể đến như vấn đề website thương mại điện tử tràn lan khắp mạng internet

Mặc dù pháp luật các nước cũng như Việt Nam đã có nhiều quy định điều chỉnh lĩnh vực này như đề cập trên đây nhưng không thể tránh khỏi sự thiếu sót, bất cập trong quá trình áp dụng vào thực tế, chẳng hạn: chồng chéo trong thẩm quyền quản lý của cơ quan nhà nước, thiếu quy định về chứng cứ điện tử, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng chưa được quan tâm đúng mức, chế tài xử lý hành vi vi phạm thiếu tính răn đe,… Chính bởi lẽ ấy,

Trang 9

tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật với mục đích nghiên cứu làm rõ điểm tích cực, cũng như chỗ hạn chế của quy định

pháp luật Việt Nam hiện hành quản lý hoạt động của website thương mại điện

tử, phân tích nguyên nhân của những hạn chế này và từ đó tìm ra các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật thương mại điện tử nói riêng và pháp luật thương mại Việt Nam nói chung, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các khía cạnh pháp lý của thương mại điện tử, website thương mại điện

tử là vấn đề còn khá mới ở Việt Nam, bởi vậy khoa học pháp lý nước ta còn chưa có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề này

Năm 2000, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp biên soạn

“Sổ thông tin khoa học pháp lý về thương mại điện tử”; Bộ Thương mại xuất bản tài liệu “Tìm hiểu về thương mại điện tử” và một số ấn phẩm khác về đề tài này Về tạp chí ngành luật có các bài viết như: TS Mai Hồng Quỳ (2000),

“Một số vấn đề pháp lý về thương mại điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 02); ThS Nguyễn Thị Minh Hằng với bài viết “Giao kết hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng truyền thống – những vấn đề khác biệt” trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại,…

Trong khi đó ở Mỹ có tạp chí nghiên cứu về thương mại điện tử của trường đại học California, nhưng tiêu biểu là cuốn “Thương mại điện tử và vai trò của WTO” của Marc Bacchetta, Patrick Low, Aaditya Mattoo… Cuốn sách “Thương mại điện tử toàn cầu: những tác động của môi trường và chính sách quốc gia” do đại học Cambridge phát hành năm 2006 đã tập hợp được rất nhiều nghiên cứu của học giả thuộc các trường đại học trên thế giới về các

Trang 10

tác động của môi trường và chính sách quốc gia đến sự phát triển của thương mại điện tử

Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên tập trung chủ yếu vào ba

hướng nghiên cứu chính: một là tập trung vào bản chất, đặc trưng, ý nghĩa của thương mại điện tử và những vấn đề về hạ tầng kỹ thuật – công nghệ; hai là,

có sự kết hợp giữa nghiên cứu bản chất của thương mại điện tử, những đòi hỏi

về hạ tầng công nghệ và hạ tầng pháp lý; ba là, tập trung đi sâu nghiên cứu

một số khía cạnh pháp lý về thương mại điện tử như: quản lý nhà nước về thương mại điện tử, quy định về các loại giao dịch điện tử, hợp đồng điện tử,.v.v…

Đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật quản lý hoạt động của website thương mại điện tử Bởi vậy, có thể nói đề tài “Pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử” là một đề tài mới, cả về nội dung và hướng tiếp cận nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quy định và áp dụng quy định pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử ở nước ta hiện nay, từ đó đề xuất biện pháp hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, luận văn tập trung làm sáng tỏ và nhận xét các quan điểm trên

thế giới về định nghĩa thương mại điện tử và website thương mại điện tử; phân tích nội dung quản lý hoạt động của website thương mại điện tử bằng các công cụ khác nhau: chính sách, pháp luật, kế hoạch…; đúc rút kinh nghiệm quản lý hoạt động website thương mại điện tử bằng pháp luật của các quốc gia trên thế giới;

Trang 11

Thứ hai, trên cơ sở lý luận chung, luận văn đánh giá thực trạng quy định

pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh vấn đề quản lý hoạt động của website thương mại điện tử, đặc biệt cần chỉ ra những điểm dẫn đến thành công và hạn chế, bất cập của hệ thống quy định này

Thứ ba, luận văn đề xuất biện pháp hoàn thiện các quy phạm pháp luật

song song với nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về hoạt động quản lý website thương mại điện tử không chỉ ở Việt Nam mà còn tại một số nước trên thế giới Từ lý luận, tác giả tiếp tục đánh giá thực trạng quy định của pháp luật nước ta hiện hành điều chỉnh vấn đề quản lý hoạt động của website thương mại điện tử trên một số nội dung quan trọng nhất, mà không nghiên cứu toàn bộ các khía cạnh của pháp luật về quản lý website thương mại điện

tử vì đây là một phạm trù rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở phân tích những điểm tích cực, hạn chế của quy định pháp luật Việt Nam, luận văn đưa ra hàng loạt các giải pháp góp phần hoàn thiện chế định về quản lý website thương mại điện tử nói riêng và pháp luật thương mại điện tử nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, để làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu của đề tài, luận văn còn sử dụng những phương pháp

cụ thể là: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, thống kê,…

Trang 12

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA

WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Nhận thức chung về website thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của website thương mại điện tử

1.1.1.1 Khái niệm website thương mại điện tử

Để làm rõ nội hàm của khái niệm website thương mại điện tử, cần làm rõ hai thành tố: website và thương mại điện tử Hiểu một cách đơn giản, website

là một thuật ngữ tin học dùng để chỉ trang thông tin điện tử toàn cầu, nơi mà mọi người, ở bất kỳ đâu có thể truy nhập, tiếp cận các thông tin qua các máy

vi tính kết nối mạng internet Còn về thương mại điện tử, Ủy ban của Liên

Hợp Quốc về thương mại quốc tế (UNCITRAL) nêu định nghĩa “thương mại

điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện

tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch” Ở đây “thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng

kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các tệp văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản thiết kế, hình đồ hoạ, quảng cáo, chào hàng, đơn hàng, hoá đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh “Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng Tổ chức Thương mại

Thế giới (WTO) đưa ra khái niệm khác về thương mại điện tử: “Thương mại

điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua internet dưới dạng số hóa” Dễ thấy,

UNCITRAL và WTO mới chỉ đưa ra định nghĩa thương mại điện tử một cách phiến diện về mặt nội dung hoặc hình thức biểu hiện của hoạt động thương mại điện tử

Trang 14

Tại Việt Nam, hoạt động thương mại điện tử được hiểu là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng

mở khác (khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52) [1], trong đó, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005) [2] Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số,

từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự (khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005) [3]

Dựa trên cách hiểu này, các nhà lập pháp Việt Nam định nghĩa “website

thương mại điện tử là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng” (khoản 8 Điều 3 Nghị

định số 52) [4] Tuy nhiên, nhược điểm của định nghĩa này là liệt kê các hoạt động thường xuyên diễn ra trên website thương mại điện tử tính đến thời điểm hiện tại Giả sử trong tương lai website thương mại điện tử còn cho phép người dùng định dạng cấu trúc hàng hóa, sử dụng thử sản phẩm, hoặc định vị hành trình phân phối hàng hóa từ kho hàng đến địa điểm giao hàng,… thì định

nghĩa trên sẽ xảy ra bất cập Thay vào đó, chúng ta có thể hiểu “website

thương mại điện tử là trang thông tin điện tử được thiết lập cho phép các chủ thể truy cập để tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại” Bởi lẽ hoạt động thương mại bao hàm tất cả các khâu trong quá

trình sản xuất, giao dịch, phân phối,… hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích phát sinh lợi nhuận

Trang 15

1.1.1.2 Phân loại website thương mại điện tử

Ngày nay có nhiều tiêu chí để phân loại website thương mại điện tử như: mục đích hoạt động, tên miền, chủ thể thiết lập,… Dựa vào tiêu chí mục đích hoạt động, pháp luật Việt Nam hiện hành phân loại website thương mại điện

tử thành hai loại dưới đây:

Một là, website thương mại điện tử bán hàng Trên website này, chủ sở

hữu cài đặt sẵn chức năng đặt hàng trực tuyến, thanh toán tự động cho phép khách hàng thực hiện quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo những điều khoản đã ấn định và có thể thanh toán giá trị hợp đồng ngay lập tức thông qua hệ thống ngân hàng điện tử tích hợp trên website đó hoặc liên kết với website ngân hàng điện tử (internet – banking)

Hai là, website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử Trong loại hình

này bao gồm: sàn giao dịch thương mại điện tử, website khuyến mại trực tuyến và website đấu giá trực tuyến Pháp luật cũng đưa ra định nghĩa về các loại website cung cấp dịch vụ thương mại dịch vụ này tại khoản 9, 10 và 11 Điều 3 Nghị định số 52 [5]

Ngoài ra, dựa theo tiêu chí tên miền, website thương mại điện tử được phân loại thành rất nhiều loại khác nhau, chẳng hạn: website có tên miền quốc gia: ở Việt Nam, website thường có tên miền “.vn”, ở Mỹ là “.us”, ở Anh là

“.uk” ; website có tên miền “.net” (network): website này thường được sử dụng bởi các nhà cung cấp dịch vụ internet, các công ty kinh doanh website,

và các tổ chức khác có liên hệ trực tiếp đến hạ tầng internet;…

Hoặc dựa theo tiêu chí chủ thể thiết lập, website thương mại điện tử có thể chia thành các loại như: website cá nhân, website doanh nghiệp, website của chính phủ,…

1.1.1.3 Đặc điểm của website thương mại điện tử

Nhìn chung, website thương mại điện tử mang các đặc điểm cơ bản như sau:

Trang 16

Thứ nhất, website thương mại điện tử được thiết lập và hoạt động thông

qua phương tiện điện tử có kết nối mạng internet Ngày nay, các phương tiện điện tử như máy tính bảng, laptop, điện thoại thông minh,…không còn xa lạ với phần đông mọi người trong xã hội Những máy móc điện tử này có khả năng kết nối với nhau thông qua internet mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý hay thời gian

Thứ hai, nội dung hiển thị trên website thương mại điện tử ngày càng

phong phú và đa dạng Ban đầu, website là không gian vô hình mà con người sáng tạo ra để trao đổi thông tin với nhau Sau đó, website được nâng cấp nhiều tính năng mới, trong đó có giao dịch thương mại điện tử, giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu suất lao động và đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho những ai biết nắm bắt thời cơ kinh doanh

Thứ ba, chủ thể thiết lập website thương mại điện tử có thể là cá nhân, tổ

chức, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước,… Pháp luật Việt Nam nói riêng và luật pháp quốc tế nói chung không quy định giới hạn chủ thể có quyền thiết lập website để tiến hành các hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ Do

đó, bất cứ chủ thể nào có khả năng sử dụng phương tiện điện tử đều có thể là chủ sở hữu hoặc người quản lý, thiết lập website thương mại điện tử

Thứ tư, hoạt động của website thương mại điện tử được quản lý bởi cơ

quan nhà nước của quốc gia mà website đó ra đời Website thương mại điện

tử là không gian vô định hình có tính phi biên giới, cho phép người dùng internet truy nhập và kết nối với nhau mọi lúc mọi nơi, nên tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ xâm phạm an ninh thông tin quốc gia, phát sinh tội phạm trộm cắp thông tin nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền bí mật đời tư của công dân,… Vì thế, hoạt động của website thương mại điện tử được cơ quan nhà nước của các quốc gia chú

Trang 17

trọng quản lý bằng nhiều công cụ khác nhau, trong đó quan trọng và đắc lực nhất là công cụ pháp luật

Thứ năm, quy định về website thương mại điện tử không giới hạn trong

phạm vi pháp luật quốc gia mà còn xuất hiện tại các hiệp định thương mại quốc tế đa phương Luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm chú trọng điều chỉnh quy định về thương mại điện tử, trong đó bao gồm hoạt động của website thương mại điện tử từ rất lâu, ví dụ: Hoa Kỳ ban hành luật giao dịch điện tử thống nhất năm 1999; Hàn Quốc ban hành luật chữ ký điện tử và luật cơ bản thương mại điện tử năm 1999;… Tại Việt Nam, Luật Giao dịch điện tử lần đầu tiên được Quốc hội ban hành năm 2005, tiếp sau đó, các cơ quan có thẩm quyền đã soạn thảo và ban hành hàng loạt các văn bản nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết quy định luật này Bên cạnh pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế cũng điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử, có thể

kể đến như: luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL, tuyên bố về thương mại điện tử toàn cầu của WTO, hiệp định khung của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á về thương mại điện tử (E-ASEAN),…

1.1.2 Vai trò của website thương mại điện tử trong việc phát triển thương mại điện tử

Thương mại điện tử được biết đến như một quá trình thuận lợi hóa thương mại thông qua áp dụng các máy móc điện tử và công nghệ thông tin Trên thế giới, thương mại điện tử được hình thành từ những năm cuối thập niên 70, dưới hình thức đơn giản là gửi tài liệu thương mại, như các đơn đặt hàng thông qua internet Sự tăng trưởng không ngừng của hệ thống thẻ tín dụng, các máy rút tiền tự động cũng như hệ thống ngân hàng điện tử vào đầu những năm 80 đã khiến cho thương mại điện tử thế giới đạt được những bước phát triển mới

Trang 18

Bắt đầu từ thập kỷ 90, thương mại điện tử đã phát triển, trở nên ngày càng đa dạng và phổ biến ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển Dấu mốc quan trọng cho sự phát triển lĩnh vực thương mại điện tử, chính là việc Tim Berners-Lee phát minh ra hệ thống mạng toàn cầu (world wide web hay viết tắt là www.) vào năm 1990 Các doanh nghiệp nhận thấy website thương mại điện tử giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với đối tác, một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế Từ

đó, doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đã tích cực khai thác thế mạnh của internet, website để phục vụ việc kinh doanh Chính internet và website là công cụ quan trọng nhất của thương mại điện tử, giúp cho thương mại điện tử phát triển và hoạt động hiệu quả

Ngày nay, nhờ sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các website thương mại điện tử, theo số liệu thống kê của trang www.rishabhsoft.com thì năm

2011 số lượng người mua sắm trực tuyến trên toàn thế giới là 792,5 triệu người, năm 2013 là 1.006,4 triệu người và ước tính đến năm 2016 con số này được dự đoán sẽ tăng lên 1.321,4 triệu người Thương mại điện tử phát triển rộng khắp trên các châu lục, trong đó khu vực Bắc Mỹ chiếm thị phần nhiều nhất 35,9%, tiếp theo là châu Âu 31,60%, đứng thứ ba là châu Á – Thái Bình Dương với 27,90% Đặc biệt ở các nền kinh tế lớn trên thế giới, thương mại điện tử phát triển rất mạnh thể hiện qua doanh thu từ hoạt động này trong năm

2013 Cụ thể Mỹ đạt 384,80 tỷ đô la, Trung Quốc đạt 181, 62 tỷ đô la, Anh và Nhật Bản thu về hơn 140 tỷ đô la, Đức khoảng 53 tỷ đô la Nhiều doanh nghiệp thành công trong trong thương mại điện tử, có thể kể đến trang Amazon, Alibaba, Best Buy, eBay, Theo báo cáo thường niên năm 2012 của Amazon thì doanh thu thuần của công ty này đã tăng từ 2,5 tỷ đô la vào năm

2001 đến 61 tỷ đô la vào năm 2012, trong đó gần 43% tổng doanh thu đến từ thị trường ngoài nước (ngoài khu vực Bắc Mỹ) [6]

Trang 19

Có thể nói sự ra đời của website thương mại điện tử đánh dấu sự thay đổi quan niệm kinh doanh và mua sắm truyền thống, mở ra thời kỳ bùng nổ phát triển thương mại qua phương tiện điện tử có kết nối mạng internet trên toàn cầu

1.1.3 Lược sử về sự hình thành và phát triển của website thương mại điện

tử tại Việt Nam

Giai đoạn 2001-2010 được coi là thập kỷ hình thành thương mại điện tử

ở Việt Nam Đến cuối giai đoạn này, hạ tầng cơ bản cho ứng dụng thương mại điện tử tại Việt Nam đã được xác lập Thanh toán điện tử đã có những tiến bộ lớn từ năm 2007, góp phần đẩy mạnh hoạt động mua bán trực tuyến thông qua mạng internet Doanh nghiệp trong các lĩnh vực dịch vụ đã biết tận dụng ưu điểm của thương mại điện tử để phát triển các kênh bán hàng trực tuyến, điển hình là các hãng hàng không, công ty du lịch, khách sạn, v.v… Nhiều doanh nghiệp thiết lập website thương mại điện tử để bán hàng hoặc để cho các doanh nghiệp, tổ chức khác tham gia bán hàng hóa hoặc dịch vụ trên website của mình

Theo báo cáo thương mại điện tử năm 2012 của Bộ Công Thương, 42% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã xây dựng webite, trong đó, 89% các website này có chức năng giới thiệu sản phẩm và 38% có chức năng đặt hàng trực tuyến Tuy nhiên, theo khảo sát của công ty công nghệ thanh toán toàn cầu VISA thì trong năm 2012 có 71% người dùng internet ở Việt Nam có tham gia mua hàng trực tuyến với doanh số thương mại điện tử bán lẻ đạt khoảng 667 triệu đô la và 90% trong số đó cho biết họ sẽ tiếp tục mua hàng trực tuyến trong tương lai So với tỷ lệ 30% người tham gia khảo sát cho biết từng mua hàng trực tuyến trước đó một năm, những con số này cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng về mức độ tham gia thương mại điện tử của người tiêu dùng tại các thành phố lớn [7]

Trang 20

Ngày nay thương mại điện tử phát triển rất sôi động với nhiều hình thái khác nhau như B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp), B2C (doanh nghiệp với người tiêu dùng), C2C (người tiêu dùng với người tiêu dùng) hoặc G2B (các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp) Trong vài năm trở lại đây có thêm một mô hình rất mới đang được các cá nhân và doanh nghiệp hưởng ứng đó là thương mại điện tử qua các thiết bị di động Năm 2010 số người truy cập internet qua điện thoại di động chỉ ở mức 27%, sau 4 năm tỷ lệ này đã tăng thêm 38% và đạt mức 65% Điều đó cho thấy thị phần dành cho hoạt động thương mại điện tử nói chung và hoạt động thương mại điện tử trên nền tảng

di động Việt Nam rất lớn [8]

1.2 Quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt động website thương mại điện tử

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế mở và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu đã làm thay đổi thói quen chi tiêu của người tiêu dùng Việt Nam Ngay từ năm 2013 và trong năm 2014, thương mại điện tử tại Việt Nam đã phát triển mạnh với nhiều website điển hình như alibaba.vn, lazada.vn, tiki.vn, hotdeal.vn, sendo.vn Theo thống kê của Hiệp hội Thương mại điện

tử (VECOM), với sự bùng nổ của dịch vụ internet, kết nối 3G và các thiết bị

di động như hiện nay, doanh thu từ giao dịch thương mại điện tử Việt Nam có thể chạm ngưỡng 4 tỷ đô la vào năm 2015 Tuy nhiên, tiềm năng càng lớn thì rủi ro càng nhiều bởi đến nay, hành lang pháp lý và cơ sở hạ tầng trong thương mại điện tử tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển [9] Khảo sát về tình trạng lừa đảo thương mại điện tử tại Việt Nam cho thấy, nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tranh chấp là người bán không chuyển hàng hoặc hàng không đúng như mô tả Thực tế, không ít trường hợp người mua nhận được hàng hóa không đúng với mô tả ban đầu về chất lượng, màu sắc và thậm chí sai lệch cả về mẫu mã so với hình ảnh trên website

Trang 21

Cũng có nhiều trường hợp người tiêu dùng thận trọng khi tìm kiếm, xem hình ảnh sản phẩm trên website, rồi đến tận cửa hàng của người bán để mua, tránh việc bị lừa như trên Điều này làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử tại Việt Nam Tính chất phức tạp của mô hình kinh doanh website thương mại điện tử nói chung đòi hỏi phải có cơ chế quản lý hiệu quả với hành lang pháp lý cụ thể, chặt chẽ, cùng hệ thống biện pháp chế tài đủ mạnh

1.2.2 Nguyên tắc quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

Hoạt động quản lý website thương mại điện tử của cơ quan nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc chủ yếu sau:

Thứ nhất, quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ Quản lý

theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn của bộ chủ quản ở trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành trong phạm vi cả nước Trong khi đó, quản lý theo lãnh thổ là việc tổ chức, điều hòa, phối hợp hoạt động của tất cả các đơn vị kinh tế phân bổ trên địa bàn phân cấp hành chính: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Sự kết hợp giữa quản

lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ sẽ tránh được tư tưởng bản vị của bộ, ngành trung ương và quan niệm cục bộ của chính quyền địa phương

Thứ hai, sử dụng kết hợp hiệu quả các công cụ như: chính sách, kế

hoạch, pháp luật,… trong quá trình quản lý Mỗi công cụ này đều có vai trò nhất định đối với công tác quản lý hoạt động của website thương mại điện tử nói riêng và hoạt động thương mại điện tử nói chung Chính sách định hướng mục tiêu phát triển thương mại điện tử trên website nhằm thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Kế hoạch xác định những nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện trên phạm vi vùng miền và toàn quốc để phát triển website thương mại điện tử trong khoảng thời gian nhất định Pháp luật ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan liên quan đến hoạt động quản lý website thương mại điện tử Sự sử dụng phối hợp nhuần nhuyễn các công cụ quản lý

Trang 22

này góp phần siết chặt quản lý hoạt động thương mại điện tử trên website thống nhất từ trung ương đến địa phương, tạo động lực vận dụng hiệu quả những tiềm năng phát triển sẵn có nhằm xây dựng ngành thương mại điện tử hiện đại, tiên tiến và bền vững

Thứ ba, cơ chế quản lý đi đôi với cơ chế thanh tra, giám sát Cơ quan

chịu trách nhiệm quản lý hoạt động website thương mại điện tử phải độc lập với cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra nhằm đảm bảo hoạt động quản

lý website thương mại điện tử được tiến hành nghiêm chỉnh, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Nhờ sự phát hiện sai phạm trong công tác quản lý hoạt động của website thương mại điện tử khi tiến hành thanh tra, giám sát, chúng

ta sẽ dần khắc phục được những nhược điểm quản lý làm cản trở quá trình phát triển thương mại điện tử, từ đó xây dựng cơ chế quản lý hiệu quả mà vẫn đảm bảo tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho ngành này phát triển hết tiềm năng

1.2.3 Nội dung quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

Trên cơ sở đường lối, chính sách quản lý toàn bộ nền kinh tế, Nhà nước xác định nội dung quản lý đối với từng ngành, lĩnh vực, trong đó có quản lý hoạt động thương mại điện tử thông qua website, email, nền tảng di động, Đối với website thương mại điện tử, nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước bao gồm:

Thứ nhất, cơ quan nhà nước tiến hành xây dựng và tổ chức thực hiện cơ

chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển thương mại điện tử, trong đó lấy website thương mại điện tử làm trọng tâm Chính phủ là

cơ quan có trách nhiệm soạn thảo chương trình quốc gia về phát triển thương mại điện tử để trình Quốc hội phê duyệt hàng năm Vấn đề hoạch định kế hoạch phát triển thương mại điện tử của ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải quán triệt tuân thủ theo nội dung của chương trình quốc gia

Trang 23

Thứ hai, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý

website thương mại điện tử Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp vấn đề quản lý hoạt động của website thương mại điện tử, nhưng vẫn không tránh khỏi thiết sót, hạn chế do sự phát triển quá nhanh chóng của công nghệ thông tin kéo theo biến thể đa dạng của loại hình hoạt động thương mại này Song song với công tác ban hành văn bản pháp luật, việc thực thi pháp luật cũng là vấn đề trọng tâm Không chỉ cơ quan quản lý nhà nước mà toàn thể nhân dân đều cần hiểu biết về quy định pháp luật để nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của luật pháp trên thực tế Một trong những biện pháp giúp đạt mục tiêu đó là đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử sâu rộng thông qua nhiều phương tiện khác nhau như: phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức tuyên truyền lưu động tại địa phương, giáo dục pháp luật trong nhà trường,…

Thứ ba, thống kê về hoạt động của website thương mại điện tử trên phạm

vi toàn quốc và từng địa phương Các cơ quan chuyên môn quản lý về website thương mại điện tử phải kiểm soát được số lượng các website thương mại điện tử đang hoạt động trên địa bàn mình quản lý theo các tiêu chí phân loại khác nhau như: chức năng vận hành website (phân thành: website bán hàng trực tuyến và website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử); phạm vi hoạt động của website (bao gồm website thực hiện các giao dịch trong nước và website tiến hành hoạt động thương mại quốc tế);… Bên cạnh đó, việc rà soát, thống kê danh sách website bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi tên miền, chấm dứt hoạt động do vi phạm pháp luật là cần thiết để cá nhân, cơ quan, tổ chức tham khảo, tránh tình trạng bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay vô

ý giúp các website đó thực hiện hành vi phạm pháp

Trang 24

Thứ tư, tiến hành thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý

vi phạm trong tổ chức và hoạt động của website thương mại điện tử Hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước về các vấn đề liên quan đến website thương mại điện tử như: đăng ký hoặc thông báo thiết lập website thương mại điện tử; hàng hóa, dịch vụ cung cấp trên website; việc giao kết hợp đồng trên website; vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; đảm bảo an ninh thông tin;… cần được tiến hành thường xuyên nhằm đảm bảo hoạt động của website tuân thủ đúng quy định pháp luật Đồng thời, công tác tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân tại các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp phải được nâng cao hiệu quả nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành

vi vi phạm của chủ sở hữu, người thiết lập website thương mại điện tử

Ngoài ra, muốn quản lý tốt hoạt động website thương mại điện tử, thì công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền quản lý cần được chú trọng Việc tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi và học hỏi kinh nghiệm quản lý bằng pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng là một trong các nội dung giúp tăng cường chất lượng quản

lý hoạt động của website thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

1.2.4 Công cụ quản lý hoạt động của website thương mại điện tử

1.2.4.1 Công cụ chính sách

Từ góc độ quản lý nhà nước, chính sách là sách lược cơ bản mà Nhà nước đề ra để định ra phương phướng, mục tiêu quản lý đối với các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách có tác động nhanh và kịp thời, mạnh mẽ, toàn diện đến nhận thức, thái độ và hành vi của chủ thể bị tác động Đặc biệt, chính sách điều chỉnh động cơ, tạo động lực cho hành vi, hoạt động của các cá nhân và từng nhóm đối tượng cụ thể Chính sách có vai trò định hướng cho các hoạt động kinh tế - xã hội; phát huy những mặt tốt của nền kinh tế thị trường và hạn chế những mặt tiêu cực của nó; tạo lập sự cân

Trang 25

đối trong phát triển kinh tế - xã hội; kiểm soát và phân phối các nguồn lực cho quá trình phát triển; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế -

xã hội, giúp cho các thực thể vận động, phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính thống nhất chặt chẽ trong quá trình vận động của thực thể

Trên cơ sở đó, chính sách cũng đảm nhiệm vai trò hoạch định phương hướng, mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững đối với hoạt động của website thương mại điện tử trên phạm vi cả nước và tại địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Hàng năm, Chính phủ trình dự thảo chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia để Quốc hội phê duyệt, trong đó phải xác định được những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể nhằm thúc đẩy ngành này phát triển Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định kèm theo quy chế triển khai chương trình này thống nhất trong phạm vi toàn quốc

1.2.4.2 Công cụ pháp luật

Pháp luật thể chế hóa chính sách, đưa chính sách vào thực thi trong đời sống xã hội, thể hiện rõ nét quyền lực của Nhà nước trong quản lý, điều tiết mọi lĩnh vực, trong đó không ngoại trừ hoạt động của website thương mại điện tử Trong việc quản lý hoạt động của website thương mại điện tử, pháp luật thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng, cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật kiểm soát sự ra đời của website thương mại điện tử

Ngày nay, website đã thực hiện được hầu hết các chức năng như: trưng bày, giới thiệu, quảng cáo sản phẩm, hướng dẫn mua hàng, xác nhận mua hàng, thanh toán,… của một cửa hàng thường gặp tại những trung tâm thương mại, siêu thị, khu phố chợ Bởi thế, nhiều cá nhân, tổ chức thiết lập hàng loạt các website để tiến hành hoạt động thương mại điện tử Việc làm này dẫn đến nhiều hệ lụy khôn lường như tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, sự xâm nhập của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam một cách ồ ạt, tự phát

Trang 26

làm cho trật tự ổn định của thị trường bị phá vỡ, nảy sinh hiện tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản,… Nhằm ngăn chặn và xử lý những hệ lụy trên, các nhà làm luật xây dựng “hàng rào” quy định bắt buộc các chủ sở hữu website thương mại điện tử phải thực hiện thủ tục đăng ký hoặc thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi tiến hành hoạt động Nhờ vậy, Nhà nước phần nào kiểm soát được hoạt động của các website thương mại điện tử tại Việt Nam

Thứ hai, pháp luật là khuôn khổ bắt buộc hoạt động của website thương

mại điện tử phải tuân theo Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành hội nhập kinh tế toàn cầu, Nhà nước ta khuyến khích các cá nhân, tổ chức tự

do kinh doanh trên mọi lĩnh vực nhưng đảm bảo tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, trong đó không loại trừ thương mại điện tử trên website Mặc dù các văn bản pháp lý điều chỉnh về thương mại điện tử nói chung còn chưa hoàn thiện, nhưng cũng đã phát huy tác dụng tích cực đưa lĩnh vực này vào khuôn khổ trật tự, ổn định

Thứ ba, pháp luật có tác dụng thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử

trên website phát triển lành mạnh, bền vững Thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam đang hoạt động hết sức sôi động Hàng loạt website của doanh nghiệp trong nước được thiết lập, cạnh tranh cùng với website thương mại điện tử của doanh nghiệp nước ngoài Pháp luật nước ta hiện hành đang được hoàn thiện từng bước theo những cam kết trong lĩnh vực này để hội nhập kinh

tế quốc tế, nhằm giữ vững sự cạnh tranh lành mạnh giữa website trong nước

và website nước ngoài Ngoài ra, hệ thống quy định pháp luật về thương mại điện tử nói chung và website thương mại điện tử nói riêng chính là cơ sở vững chắc nhất cho người tiêu dùng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Về hình thức, vấn đề quản lý website thương mại điện tử đã và đang được điều chỉnh bởi hàng loạt các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự năm

Trang 27

2005, Luật Thương mại năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ban hành ngày 16/05/2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử, Thông tư số 09/2008/TT-BCT ban hành ngày 21/07/2008 của Bộ Công Thương hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử,… Việc áp dụng các văn bản pháp luật này phải dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau:

Một là ưu tiên áp dụng văn bản pháp luật chuyên ngành để điều chỉnh

hoạt động website thương mại điện tử, chỉ áp dụng văn bản luật chung trong trường hợp pháp luật chuyên ngành không quy định Ví dụ, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 là luật chuyên ngành quy định những vấn đề cụ thể liên quan trực tiếp đến hoạt động của website thương mại điện tử như: thông điệp

dữ liệu, chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử,… Mặt khác, Bộ luật Dân sự năm

2005 là văn bản luật chung quy định các vấn đề cơ bản của giao dịch dân sự theo nghĩa rộng, trong đó bao gồm giao dịch điện tử Như vậy, áp dụng nguyên tắc ưu tiên luật chuyên ngành, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được xem xét áp dụng để điều chỉnh các giao dịch điện tử thông qua website trước

Bộ luật Dân sự năm 2005

Hai là văn bản luật (bao gồm: luật, pháp lệnh) có hiệu lực pháp lý cao

hơn văn bản dưới luật (ví dụ: nghị định, thông tư,…), văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành văn bản luật không được chứa nội dung trái với văn bản luật Theo đó, nếu Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ban hành ngày 16/05/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử có nội dung trái với quy định của Luật Thương mại năm 2005 và Luật Giao dịch điện tử năm 2005 – những văn bản luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử, thì quy định đó sẽ bị vô hiệu

Về nội dung, pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về quá trình thiết lập, tổ chức vận hành và chấm dứt hoạt động website thương mại điện tử,

Trang 28

trong đó cần lưu tâm đến những vấn đề quan trọng như: thẩm quyền quản lý của cơ quan nhà nước; thủ tục đăng ký hoặc thông báo thiết lập website; vấn

đề giao kết hợp đồng trên website; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; xử lý vi phạm pháp luật về lĩnh vực này

1.2.4.3 Các công cụ khác

Ngoài công cụ chính sách, pháp luật, Nhà nước còn quản lý hoạt động của website thương mại điện tử thông qua các công cụ khác: kế hoạch, tài sản quốc gia,… Quán triệt theo phương hướng chỉ đạo nêu tại chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các cấp hành chính địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn) để quản lý và thúc đẩy lĩnh vực này tăng trưởng trên địa bàn mình Kế hoạch phát triển thương mại điện tử của mỗi địa phương đều phải được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền trước khi triển khai trên thực tế

Song song với đó, quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô hay vi mô đều phải bắt nguồn từ việc tận dụng có hiệu quả nguồn tài sản quốc gia như: ngân sách nhà nước, tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng, doanh nghiệp nhà nước, hệ thống thông tin… Tài sản quốc gia là đầu vào quan trọng của sự phát triển kinh tế, do đó, quản lý hoạt động của bất cứ ngành, lĩnh vực kinh tế nào, không loại trừ website thương mại điện tử, chúng ta đều cần xem xét đến vấn

đề quản lý nguồn lực để phát triển nó

1.2.5 Kinh nghiệm quản lý bằng pháp luật đối với website thương mại điện

tử ở một số nước trên thế giới

Hoa Kỳ là nước đi đầu trong lĩnh vực thương mại điện tử, đã ấn định các nguyên tắc cơ bản cho thương mại điện tử của riêng mình, đồng thời kiến nghị xây dựng và phát triển nền thương mại điện tử toàn cầu Tháng 7/1999, hiệp hội các thanh tra viên về pháp luật các tiểu bang Hoa Kỳ đã thông qua luật mẫu về các giao dịch điện tử và gửi cho các cơ quan lập pháp ở từng

Trang 29

bang để thông qua và ban hành Canada cũng được coi là một cường quốc trong việc nghiên cứu và ứng dụng thương mại điện tử Để tạo một môi trường pháp lý hoàn chỉnh cho các giao dịch thương mại điện tử, chính phủ Canada đã tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản hiện hành, đồng thời ban hành các văn bản mới liên quan đến thương mại điện tử như luật về chữ ký điện tử, chứng cứ điện tử Các nước Liên minh châu Âu (EU) đang ngày càng khẳng định vị trí trên thế giới nhờ sự phát triển của thương mại điện tử và nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc ban hành các văn bản luật và dưới luật để điều chỉnh hoạt động thương mại mới mẻ này

Ở châu Á, Hàn Quốc là một trong những quốc gia sớm chú trọng xây dựng hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trên website với nhiều văn bản như: luật khung về thương mại điện tử năm

1999, sửa đổi năm 2002 và năm 2005; luật bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử năm 2002, sửa đổi năm 2005; luật chữ ký điện tử năm

1998, sửa đổi năm 2001 và 2005;… Trong khu vực, thương mại điện tử ở Singapore đã và đang phát triển mạnh mẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước này Năm 1998 Singapore ban hành luật giao dịch điện tử (Electronic Transaction Act 1998) nhằm giải quyết vướng mắc, khó khăn về mặt pháp lý khi các chủ thể tham gia vào các giao dịch trong một môi trường phi giấy tờ và không tiếp xúc trực tiếp với nhau Ngoài ra, Thái Lan cũng đã xây dựng được một số văn bản pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử như: luật bảo vệ dữ liệu, luật tội phạm máy tính, luật trao đổi thông tin điện tử, luật chữ ký điện tử Các chính sách và văn bản pháp luật của Thái Lan liên quan tới việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dựa trên các hợp đồng thương mại điện tử hợp pháp cũng đang dần được hoàn thiện

Trang 30

Qua nghiên cứu pháp luật về quản lý hoạt động của website thương mại điện tử tại một số quốc gia trên có thể thấy chính phủ các nước đều đặc biệt chú trọng việc xây dựng và tạo lập một môi trường pháp lý thuận lợi cho thương mại điện tử, trong đó gồm cả website thương mại điện tử Họ thiết lập khuôn khổ pháp lý đối với những vấn đề được coi là trở ngại và khó khăn về pháp lý cho sự phát triển hoạt động của website thương mại điện tử như sau:

Một là, thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử và xác

định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch này;

Hai là, xây dựng quy phạm về giá trị pháp lý của các loại chữ ký điện tử

cùng với thành lập các cơ quan quản lý về hoạt động xác thực chữ ký điện tử;

Ba là, chú trọng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong giao dịch

thương mại điện tử trên website, đặc biệt quan tâm vấn đề về bảo mật thông tin của khách hàng;

Đồng thời, chính phủ các quốc gia cũng ban hành quy định giải quyết vấn đề tranh chấp trong giao dịch điện tử, xử lý nghiêm khắc những hành vi

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này

Từ việc đúc rút những kinh nghiệm quản lý hoạt động website thương mại điện tử bằng pháp luật của những quốc gia trên thế giới, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để xây dựng hành lang pháp lý phù hợp với tình hình trong nước để điều chỉnh hoạt động thương mại trên website

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA

WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2.1 Thẩm quyền quản lý hoạt động website thương mại điện tử

2.1.1 Quản lý theo lãnh thổ

Quản lý nhà nước về hoạt động của website thương mại điện tử nói riêng

và lĩnh vực thương mại điện tử nói chung được phân thành hai cấp chính là cấp trung ương và cấp địa phương

Ở cấp trung ương, Chính phủ thống nhất quản lý hoạt động của website thương mại điện tử trên phạm vi cả nước, có chức năng, nhiệm vụ:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật (nghị định, quyết định) để hướng dẫn thi hành các luật do Quốc hội thông qua

- Xây dựng chiến lược, chương trình phát triển thương mại điện tử để trình Quốc hội phê duyệt và ban hành quy chế thực hiện các chương trình, chiến lược đó trên phạm vi toàn quốc;

- Lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm dành cho phát triển thương mại điện tử

Giúp Chính phủ thực hiện những chức năng trên là các bộ và cơ quan ngang bộ như: Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương thực hiện tổ chức và quản lý toàn diện hoạt động thương mại điện tử ở tầm vĩ mô thông qua các công cụ và biện pháp nhằm định hướng, tạo khuôn khổ chung cho hoạt động của các chủ thể tham gia thương mại điện tử Trong khi đó, Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm xây dựng và đảm bảo hạ tầng công nghệ thông tin cho sự phát triển của thương mại điện tử, cụ thể: hạ tầng internet, mạng viễn thông di động, xây dựng các trung tâm chứng thực số quốc gia… nhằm bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động thương mại điện tử Ngoài ra, Bộ Tài chính đóng

Trang 32

vai trò tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động của các hệ thống thanh toán, đảm bảo thanh toán điện tử an toàn, hiệu quả, tăng cường tiện ích thanh toán thông minh trên hạ tầng viễn thông để phục vụ mục tiêu phát triển lĩnh vực thương mại hiện đại này Mặc dù pháp luật đã có quy định cụ thể thẩm quyền quản lý như trên, nhưng vẫn tồn tại sự chồng chéo, bất cập giữa thẩm quyền quản lý của các bộ Đơn cử là đăng ký tên miền thì thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, nhưng quản lý lại thuộc Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, còn cấp phép kinh doanh thì do Bộ Công Thương Chính sự chồng chéo trong quản lý website thương mại điện tử này đã được chủ nhân những website lừa đảo nghiên cứu và vận dụng Một trong những phương thức của họ là công khai giấy phép đăng ký tên miền để tạo tin tưởng cho người dùng, nhưng thực

tế có giấy phép tên miền chưa hẳn đã được cấp phép hoạt động website Tuy nhiên, người dùng thấy website đã có đăng ký tên miền thì tin tưởng, mà không thể biết website đó được phép hoạt động hay chưa, cũng không có phương tiện để xác thực thông tin trong môi trường internet đa dạng rất dễ lẫn

lộn thật giả

Ở cấp địa phương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước

về thương mại điện tử trong địa bàn tỉnh, thành phố thuộc thẩm quyền quản lý của mình Hàng năm ủy ban nhân dân cấp tỉnh dựa theo quy chế thực hiện chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ban hành để xây dựng kế hoạch cụ thể về phát triển lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh, sau đó trình Chính phủ phê duyệt Ngoài ra, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn có trách nhiệm thu thập số liệu thống kê

về tình hình ứng dụng thương mại điện tử của địa phương, hàng năm báo cáo

Bộ Công Thương để tổng hợp Sở Công Thương là cơ quan tham mưu, trực tiếp giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng trên

Trang 33

2.1.2 Quản lý theo ngành

Cùng với việc quản lý theo lãnh thổ, hoạt động của website thương mại điện tử còn nằm dưới sự quản lý của hệ thống cơ quan chuyên ngành Nghị định số 52 quy định Bộ Công Thương là cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về lĩnh vực này và chịu trách nhiệm trước Chính phủ Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ ấy, tháng 1 năm 2008 Bộ Công Thương chính thức thành lập Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin Đây là đơn vị chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, chính sách phát triển thương mại điện tử; đồng thời chủ trì hợp tác quốc tế, ký kết hoặc tham gia các thỏa thuận quốc tế liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử và triển khai nhiều công tác quan trọng nhằm phổ biến và phát triển lĩnh vực này tại Việt Nam Đối với quản lý website thương mại điện tử, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra và xác nhận thông tin

do cá nhân, tổ chức, thương nhân thiết lập website thương mại điện tử bán hàng khai báo hoặc số liệu báo cáo thống kê về tình hình hoạt động website của chủ thể sở hữu website cung cấp dịch vụ trực tuyến theo quy định tại Nghị định số 52 và Thông tư số 47

Cơ quan chuyên môn quản lý lĩnh vực này tại địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Sở Công Thương Sở Công Thương trực thuộc sự quản lý của Bộ Công thương, có trách nhiệm phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin trong việc thực hiện thẩm tra, xác minh thông báo, đăng ký của doanh nghiệp hoạt động thương mại điện tử trên địa bàn tỉnh, theo dõi, cập nhật và công bố thông tin trên www.online.gov.vn

Rõ ràng, thương mại điện tử đang rất được cơ quan nhà nước chú trọng quản lý chặt chẽ Hệ thống cơ quan từ trung ương đến địa phương được phân cấp theo lãnh thổ và chuyên ngành cụ thể để thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Trang 34

kiểm soát và điều tiết sự hình thành, phát triển không chỉ của website thương mại điện tử mà còn cả ngành thương mại điện tử Vận dụng các công cụ chính sách, pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã và đang thực hiện tương đối tốt chức năng trên Điều đó được thể hiện thông qua chỉ số thương mại điện tử (EBI) của cả nước và mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Chỉ

số thương mại điện tử giúp các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhanh chóng đánh giá được một cách định lượng sự sẵn sàng ứng dụng thương mại điện tử trên phạm vi cả nước cũng như tại mỗi địa phương trong từng năm và

so sánh sự phát triển ngành này qua các năm Ngày 6/2/2015 vừa qua, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) đã công bố chỉ số EBI năm

2014 được xây dựng trên cơ sở điều tra khảo sát gần 3500 doanh nghiệp toàn quốc Điểm EBI trung bình của tất cả các địa phương năm 2014 là 56,5 - cao hơn gần một điểm so với năm 2013 Kết quả cho thấy năm 2014, thương mại điện tử tiếp tục phát triển vững chắc, đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh doanh và có sự gắn kết khăng khít với công nghệ thông tin và truyền thông, trở thành một trong các trụ cột của tiến trình xây dựng xã hội thông tin và kinh tế tri thức ở Việt Nam Dẫn đầu cả nước về EBI vẫn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với số điểm lần lượt là 72,6 và 72,5, trong khi địa phương

có số điểm EBI thấp nhất là 47,3 [10] Sự chênh lệch lớn này có ảnh hưởng sâu sắc tới chính sách quản lý và phát triển thương mại điện tử ở trung ương cũng như các địa phương Thay vì thương mại điện tử chỉ hiện diện và tăng trưởng nhanh ở vài thành phố lớn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xây dựng kế hoạch, chiến lược và đề xuất giải pháp phù hợp để tỉnh nghèo, vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa,… cũng nắm bắt được cơ hội to lớn do thương mại điện tử mang lại, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương

Trang 35

2.2 Trình tự, thủ tục thông báo, đăng ký website thương mại điện tử

2.2.1 Trách nhiệm thực hiện

Hiện nay, chức năng của website thương mại điện tử chủ yếu phân thành hai loại chính là bán hàng và cung cấp dịch vụ Để quản lý chặt chẽ hoạt động của loại hình thương mại điện tử này, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số

47 quy định trách nhiệm của từng đối tượng chủ thể lập ra website với mục đích tìm kiếm lợi nhuận phải thực hiện thủ tục thông báo, đăng ký với cơ quan này Tuy nhiên, các website hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm; website cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến, đặt cược, hoặc trò chơi có thưởng; website mua bán, trao đổi tiền, vàng, ngoại hối

và các phương tiện thanh toán khác thuộc sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành mà không phải quy định tại Thông tư số 47

Theo đó, đối tượng phải thực hiện thủ tục thông báo là người thiết lập website thương mại điện tử bán hàng, gồm có: (i) thương nhân; (ii) tổ chức

mà trong chức năng, nhiệm vụ bao gồm việc tổ chức hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc tiến hành các hoạt động thương mại điện tử và (iii) cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân và không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh

Trong khi ấy, đăng ký với Bộ Công Thương là nghĩa vụ của thương nhân hoặc tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ doanh nghiệp, có website cung cấp ít nhất một trong các dịch vụ sau: (i) dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử; (ii) khuyến mại trực tuyến và (iii) đấu giá trực tuyến Cũng theo quy định tại Thông tư số 47, chủ sở hữu trang mạng xã hội phải thực hiện đăng ký nếu trang đó tồn tại một hoặc nhiều chức năng như: cho phép người tham gia được mở các gian hàng trên đó để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; cho phép người tham gia được lập các website nhánh để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; có chuyên mục mua

Trang 36

bán trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ Trang mạng xã hội này sẽ được đăng ký dưới hình thức sàn giao dịch thương mại điện tử Đối với trường hợp website vừa thực hiện bán hàng trực tuyến, vừa tiến hành cung ứng dịch vụ thương mại điện tử, pháp luật quy định thương nhân, tổ chức thiết lập nó phải thực hiện đồng thời cả hai thủ tục thông báo và đăng ký tại Bộ Công Thương

về việc xác nhận thông tin khai báo Trong khi đó, đối với thủ tục đăng ký, chủ thể tiến hành khai báo thông tin theo mẫu và đính kèm hồ sơ đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử theo quy định pháp luật Bộ Công Thương sẽ gửi phản hồi qua thư điện tử cho chủ thể đăng ký chậm nhất không quá 07 (bảy) ngày làm việc

Thêm vào đó, Thông tư số 47 cũng quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, thương nhân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ chấm dứt các thông tin mà tổ chức, cá nhân, thương nhân thông báo hoặc đăng ký [12]

Ngay sau khi website thương mại điện tử hoàn thành thủ tục thông báo hoặc đăng ký, thông tin về website sẽ được đưa vào danh sách website thương

Trang 37

mại điện tử đã thông báo hoặc đăng ký để công bố công khai trên cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại điện tử Ngược lại, một website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử bị chấm dứt hoặc hủy bỏ đăng ký, thông tin về website cũng sẽ bị Bộ Công Thương rút khỏi danh sách đã thông báo hoặc đăng ký và chuyển sang chế độ website đã chấm dứt đăng ký hoặc chuyển vào danh sách website vi phạm quy định của pháp luật

Trong quá trình hoạt động, những website đã thông báo hoặc đăng ký với Bộ Công Thương cũng được cập nhật tình hình đánh giá mức độ tín nhiệm trên cơ sở phản hồi của người tiêu dùng trực tiếp trên cổng thông tin quản lý thương mại điện tử Đặc biệt, tình hình kinh doanh của các website cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của các tổ chức được phép hoạt động đánh giá tín nhiệm website thương mại điện tử, ví dụ: tổ chức xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ doanh nghiệp; cơ quan truyền thông, hiệp hội ngành hàng hoặc tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề dịch vụ thương mại điện tử và đã triển khai hoạt động cung cấp dịch vụ đánh giá tín nhiệm này Nhờ những phản hồi có minh chứng thực tế của người tiêu dùng và đánh giá chuyên môn của các tổ chức trên, người dân giảm bớt được nguy cơ bị lừa đảo hay mua phải hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái khi giao dịch trên một số website thương mại điện tử

Về cơ bản, Thông tư số 47 kế thừa các quy định về thủ tục thông báo, đăng ký website thương mại điện tử tại Thông tư số 12/2013/TT-BCT ban hành ngày 20/06/2013 của Bộ Công Thương quy định thủ tục thông báo, đăng

ký và công bố thông tin liên quan đến website thương mại điện tử (Thông tư

số 12) [13] Điểm mới đáng nói là kể từ khi Thông tư số 47 có hiệu lực thi hành ngày 20/01/2015, chủ sở hữu mạng xã hội cũng có nghĩa vụ tiến hành đăng ký với Bộ Công Thương dưới hình thức sàn giao dịch thương mại điện

tử nếu thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 35 Nghị

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w