Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm qua chủ đề nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả luật học và kinh tế học dưới các
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ YẾN
HÀ NỘI- 2015
Trang 2Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Kinh tế
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình sau đại học tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng viên- TS.Nguyễn Thị Yến, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
HỌC VIÊN
ĐỖ THỊ MAI
Trang 3Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng” là do bản thân
tự thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên TS.Nguyễn Thị Yến Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận văn đã được trích dẫn và nêu rõ nguồn trong phần tài liệu tham khảo Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
HỌC VIÊN
ĐỖ THỊ MAI
Trang 4
BCC : Hợp đồng hợp tác kinh doanh
BOT : Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 3
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 6
1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài 11
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 12
1.2 Khái quát pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 15
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
1.2.2 Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 17
1.2.3 Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI
2.1 Quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 21
2.1.1 Quy định về chủ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài 21
2.1.3 Quy định về lĩnh vực và địa bàn đầu tư 28
2.1.4 Quy định về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ và bảo đảm đầu tư 32
2.1.5 Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư 36
2.1.6 Quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 37
2.1.7 Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài 40
Trang 6trên địa bàn thành phố Hải Phòng 44
2.2.1 Chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng 44
2.2.2 Những kết quả mà Hải Phòng đã đạt được khi thực hiện pháp luật đầu
2.2.3 Những khó khăn đặc thù của Hải Phòng 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 58
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài 58 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 61
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư 62
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 64
3.3 Phương hướng hoàn thiện quy định, chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng 65 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cùng với việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ chính sách kinh
tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Thời gian qua đầu tư trực tiếp nước ngoài càng ngày càng được thừa nhận như là một giải pháp quan trọng góp phần thúc đẩy
sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tiếp tục phát triển khi nó đem lại các điều kiện để giải quyết hai vấn đề cơ bản hiện nay
đó là vốn và kỹ thuật – hai vấn đề quan trọng nhất đối với sự nghiệp công nghiệp hóa của nước đang phát triển
Trong suốt 10 năm qua, kể từ khi Luật Đầu tư (2005) có hiệu lực và đi vào thực tiễn đời sống kinh tế xã hội, bộ mặt kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi tích cực, đặc biệt trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Với những quy định tích cực trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta đã tận dụng được nguồn vốn từ nước ngoài vào phát triển nền kinh tế đất nước đặc biệt trong những lĩnh vực mà ta còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu khoa học kỹ thuật Đứng trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh của các quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt, Luật Đầu tư (2005) bên cạnh những kết quả tích cực mà nó mang lại cũng đã bộc lộ không ít những bất cập, hạn chế cần khắc phục bằng sự ra đời của Luật Đầu tư (2014)
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng – một trong những thành phố có nền kinh tế phát triển vào tốp đầu của cả nước, với những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả đã mang lại tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài lớn trên cả nước sẽ là một nghiên cứu vừa mang tính học thuật vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, về sự vận dụng các quy định của pháp luật đầu tư trong suốt thời gian qua, đồng thời sẽ mang đến cái nhìn toàn diện và thực tế nhất về những hạn chế về đầu tư trực tiếp nước ngoài mà Luật Đầu tư (2005) đã và đang mắc phải, qua đó nhằm thấy rõ những điểm mới, tích cực của Luật Đầu tư (2014)
Trang 8Với mong muốn đóng góp vào việc khắc phục những khó khăn trong việc thu hút, quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài mà Hải Phòng đang gặp phải, từ đó đưa ra bài học cho các địa phương khác Luận văn cũng hi vọng đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nhất là khi Luật Đầu tư (2014) sắp có hiệu lực, để hoạt động này tiếp tục phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp cao học Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua chủ đề nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả luật học và kinh tế học dưới các góc độ như: cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài,… Có thể kể đến một số công trình về lĩnh
vực này đã được công bố gần đây như: “Thực hiện pháp luật đầu tư nước ngoài trên địa bàn thủ đô Hà Nội” luận văn thạc sĩ - Nguyễn Văn Trường, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007; “Pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Đỗ Phương Hiền, luận văn thạc sĩ Luật học 2014; “Những bước tiến trong pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” Đỗ Minh Thư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
Bộ tư pháp, số 2/2009; “Một số bất cập trong pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay”, Trần Văn Duy, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ tư pháp,
số chuyên đề/2012; “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật đàu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, Trân Văn Duy, Nghề luật, Học viện Tư pháp, số 4/2012; “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam; thành tựu và những vấn đề đặt ra”, Nguyễn Mại, Cộng sản, Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, số 12/2014; “Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, khoá luận tốt nghiệp, Đỗ Thị Phương Thảo 2011; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp
Trang 9luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI)”, Nguyễn Thị Thanh Huyền –
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháp luật của Việt Nam về đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng Luận văn nghiên cứu văn bản pháp luật Việt Nam về đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm: Luật Đầu tư (2005), Luật Đầu tư (2014), các luật có liên quan đến chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản dưới luật (nghị định, thông tư,…), chính sách áp dụng riêng của thành phố Hải Phòng, đồng thời cũng dành một phần nghiên cứu các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài của một số nước trên thế giới cũng như khu vực trong mối tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam qua đó thể hiện sự tương thích của pháp luật Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích trong việc phân tích vấn đề lý luận của đề tài, phân tích các quy định của pháp luật; phương pháp chứng minh, bằng việc đưa ra những
ví dụ cụ thể để minh chứng cho một nhận định; phương pháp diễn giải; phương
Trang 10pháp quy nạp; phương pháp so sánh dùng trong việc so sánh với pháp luật nước ngoài; phương pháp thống kê áp dụng trong thống kê và tổng hợp số liệu thực tế,…
5 Nhiệm vụ và mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là trình bày một cách có hệ thống, phân tích và chứng minh các quy định của pháp luật trước đây cũng như hiện tại về lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam; thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn thành phố Hải Phòng để thấy được quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện từng bước, qua từng giai đoạn của pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngoài ra, luận văn còn có nhiệm vụ nêu rõ những ưu điểm của pháp luật hiện tại về đầu tư trực tiếp nước ngoài, minh chứng cụ thể bằng số liệu, thành tựu nổi bật của Hải Phòng; đồng thời phát hiện ra những bất cập, hạn chế của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như những khó khăn mà thành phố Hải Phòng đang gặp phải trong việc thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua đó chỉ ra những điểm mới của Luật Đầu tư (2014)
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là hệ thống hóa một cách toàn diện về pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay và việc áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng; thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, mục đích cuối cùng mà luận văn muốn đạt được là nêu ra được những phương hướng và giải pháp cụ thể, có tính thực tế và thuyết phục để thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thực tiễn
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn thể hiện sự phân tích sâu sắc, có hệ thống các chế định thuộc lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam với kết quả là chỉ rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành về pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Luận văn nghiên cứu và phân tích những chính sách, quy định của Hải Phòng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Thông qua số liệu thống kê về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng luận văn muốn
Trang 11chỉ ra những thuận lợi và khó khăn mà Hải Phòng đang gặp phải, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình kinh tế của thành phố
- Luận văn nghiên cứu, so sánh với một số quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài của pháp luật một số nước trên thế giới; rút ra bài học cho việc hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Luận văn cũng chỉ ra những điểm mới, tiến bộ của Luật Đầu tư (2014) và
đề xuất một số biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam khi luật mới có hiệu lực
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam;
Chương 2 Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Phòng;
Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và giải pháp cho Hải Phòng
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư
Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của nền kinh tế quốc gia gắn liền với vai trò, tác động tích cực của hoạt động đầu tư kinh tế cả trong nước và nước ngoài Vấn đề đầu tư đã được sự quan tâm và chú trọng của nhiều nước song quan niệm về đầu tư vẫn chưa có sự thống nhất
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, đầu tư “chỉ việc bỏ nhân lực, tài lực, vật lực vào một công việc gì dựa trên cơ sở tính toán những hiệu quả về kinh tế - xã hội” [21, tr.27] Với cách định nghĩa này, đầu tư bao giờ cũng có chủ
thể xác định, đối tượng, mục đích và cách thức thực hiện xác định
Dưới góc độ khoa học kinh tế, đầu tư được hiểu là khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất, kinh doanh của một chủ thể đầu tư, là chi phí ban đầu phục vụ một đối tượng nào đó, được sử dụng một cách có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ đầu tư
Có quan điểm coi đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế - xã hội Tuy nhiên, quan điểm này mới chỉ đề ra một phần rất chung chung của hoạt động đầu tư mà thôi Cũng có quan điểm khẳng định đầu tư là việc bỏ vốn vào một cơ sở sản xuất, một công trình xây dựng hay một đơn vị sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như: cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây mới…nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng
Thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư, xuất phát từ cách tiếp cận hoạt động đầu tư khác nhau mà quan điểm khác nhau Mặc dù cách diễn giải và cách thức tiếp cận khác nhau song tựu chung lại các quan điểm này đều thống nhất với nhau về bản chất của hoạt động đầu tư Khái quát một cách đơn giản nhất, khái
Trang 13niệm đầu tư được hiểu là chủ đầu tư bỏ ra chi phí ban đầu vào một đối tượng nào
đó, theo những cách thức nhất định, chi phí này được sử dụng một cách có mục đích (kinh tế, xã hội) nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ đầu tư (nhu cầu lợi nhuận kinh tế, nhu cầu phúc lợi phát triển xã hội, ) Như vậy, đầu tư là hoạt động của một chủ thể nhất định, có đối tượng xác định, có cách thực thực hiện và mục đích rõ ràng
1.1.1.2 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trên thế giới từ trước đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm ĐTTTNN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư
dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ
sở sản xuất kinh doanh này [30]
Xét theo khía cạnh khả năng cạnh tranh và vận động, ĐTTTNN thực chất được coi là hình thức kéo dài chu kỳ tuổi thọ sản xuất, chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật và nội bộ hóa khả năng độc lập kĩ thuật
Một số nhà lý luận và kinh tế lại cho rằng, về bản chất thì ĐTTTNN là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và một bên là nước tiếp nhận đầu tư, xét về hiệu quả thì ĐTTTNN được coi là lối thoát cho các nước nghèo
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại đưa ra khái niệm ĐTTTNN
như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư với mục đích thiết lập các quan hệ kinh tế bền vững với một công việc kinh doanh, đem lại khả năng thực hiện một ảnh hưởng có hiệu quả đối với quản lí việc đầu tư ấy” [18,tr.28]
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đưa
ra định nghĩa về ĐTTTNN: “Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động
có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”
tư-[18,tr.27]
Trang 14Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về ĐTTTNN: Đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [31]
Các khái niệm về ĐTTTNN là không giống nhau, xét dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau, mỗi khái niệm lại nhấn mạnh đến một khía cạnh của ĐTTTNN, có quan điểm đề cao vai trò, có quan điểm nhấn mạnh cách thức đầu tư, có quan điểm nhấn mạnh đến tính chất hoạt động đầu tư Hiện nay ĐTTTNN đang là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nước, tuy nhiên pháp luật của các nước khác nhau lại quy định khác nhau về vấn đề này
Năm 1967, Indonesia ban hành Luật số 1 về đầu tư nước ngoài, trong đó tại
chương I đã ghi nhận “đầu tư trong luật này chỉ có nghĩa là đầu tư trực tiếp của nước ngoài được thực hiện phù hợp với hoặc dựa trên các quy định của luật này nhằm mục đích thực hiện kinh doanh tại Indonesia với nhận thức rằng người sở hữu vốn phải trực tiếp gánh chịu rủi ro của đầu tư” Rõ ràng quan điểm của Indonesia
về đầu tư trực tiếp nước ngoài là khá “cởi mở”[22] Luật đầu tư nước ngoài của Malaixia quy định và chỉ điều chỉnh các quan hệ về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaixia Malaixia coi tất cả các nguồn ngoại tệ, công nghệ mới, phát minh, sang chế,…từ nước ngoài chuyển vào Malaixia nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận là đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaixia[23]
Ở nước ta, ngay từ năm 1977, khái niệm đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã chính thức được ghi nhận trong Điều lệ đầu tư của nước ngoài được ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 Đến Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, khái niệm ĐTNN đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2, khái niệm ĐTTTNN trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 còn khá dè dặt Luật Đầu tư
Trang 15nước ngoài năm 1996 đã tiến một bước nữa so với các luật đầu tư trước đây, so với các quy định của pháp luật trước đây, khái niệm ĐTTTNN được đưa ra vừa ngắn gọn vừa bảo đảm các dấu hiệu đặc trưng của ĐTTTNN Luật Đầu tư (2005) đã thống nhất luật đầu tư trong nước với ĐTNN là một, do đó không còn quy định thế nào là ĐTTTNN, tuy nhiên theo quy định tại khoản 2, khoản 5 và khoản 12 Điều 3 Luật đầu tư (2005) có thể hiểu, ĐTTTNN là việc nhà ĐTNN đưa vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó
Qua một số khái niệm về ĐTTTNN, có thể thấy bản chất của hoạt động ĐTTTNN là sự bỏ vốn dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận và
cá nhân hay công ty nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư được quyền quản lý hoạt động kinh doanh của mình tại nước mà họ thực hiện hoạt động đầu tư
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ khái niệm ĐTTTNN nêu trên, có thể thấy hoạt động ĐTTTNN có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện đầu tư trực tiếp là cá nhân, tổ chức nước
ngoài Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt ĐTTTNN với đầu tư trong nước
Theo khoản 1, khoản 5 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 13/11/2008; khoản 2 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự (2005) về quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, “Người nước ngoài” được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam Bộ
luật Dân sự (2005) không có quy định thế nào là tổ chức nước ngoài nhưng tại Điều
765 về năng lực của pháp nhân nước ngoài có quy định, năng lực pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân được thành lập Như vậy, có thể hiểu, tổ chức nước ngoài là chủ thể của hoạt động đầu tư là những tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước nơi tổ chức được thành lập
Thứ hai, về thời hạn đầu tư: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư dài hạn
Vốn đầu tư vào nước nhận đầu tư là nguồn vốn dài hạn, ít biến động Sở dĩ ĐTTTNN
Trang 16là đầu tư dài hạn bởi các chủ ĐTNN khi thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại tại nước nhận đầu tư, ngoài việc họ mang nguồn “vốn đầu tư” từ nước ngoài sang thì họ phải tiến hành một chu trình kinh doanh thương mại hoàn chỉnh nhằm thực hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lâu dài Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải
có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, do đó nguồn vốn đầu tư trong trường hợp này được xác định là vốn dài hạn
Thứ ba, mục đích đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm tìm kiếm lợi nhuận
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức kinh doanh theo cơ chế thị trường, các nhà ĐTTTNN được xác định là tư nhân, vốn đầu tư là vốn tư nhân, họ bỏ vốn thực hiện hoạt động kinh doanh và họ cũng phải chịu hoàn toàn về lỗ và lãi của hoạt động kinh doanh đó Vì vậy, trong ĐTTTNN, tìm kiếm lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu của các CĐT
Thứ tư, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ đầu tư có quyền kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp nhận vốn đầu tư của mình Quyền kiểm soát doanh nghiệp là
quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động của công ty, thông qua phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp lập, quyết định việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, sống còn của doanh nghiệp Quyền kiểm soát doanh nghiệp, xuất phát từ quyền sở hữu đối với vốn mà CĐT bỏ ra, và xuất phát từ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của mình mà các CĐT được quyền kiểm soát để đảm bảo lợi ích từ hoạt động đầu tư đó
Thứ năm, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được sự chấp thuận của nước nhận đầu tư Hoạt động ĐTTTNN không mang lại gánh nặng nợ nần cho nước
nhận đầu tư, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận nên cũng không ảnh hưởng đến hoạt động chính trị của nước sở tại Tuy nhiên, bất kỳ hoạt động kinh tế nào cũng phải chịu
sự giám sát và điều tiết của Nhà nước Nước nhận vốn đầu tư cần có cơ chế giám sát và cấp phép đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định nhằm cân bằng nền
Trang 17kinh tế, phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng quản lý vĩ mô của mình, tránh trường hợp chỉ phục vụ lợi ích lợi nhuận cho nhà đầu tư mà cơ cấu kinh tế mất cân đối
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay, ĐTTTNN là hoạt động được cả chủ thể đầu tư và chủ thể nhận đầu
tư đặc biệt quan tâm Xuất phát từ vai trò, lợi ích to lớn mà hoạt động ĐTTTNN mang lại Khi mà sự phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt, tạo ra một khoảng cách quá lớn thì không những các nước nghèo phải chịu nhiều thua thiệt, mà chính nó cũng trở thành yếu tố cản trở sự phát triển của các nước giàu Khi đã tìm ra căn nguyên gây nghèo đói của các quốc gia chậm phát triển, các nhà kinh tế học cho rằng, để phát triển kinh tế các nước đang phát triển phải có biện pháp thu hút được nguồn vốn từ ĐTTTNN Họ cho rằng đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, khả năng tích lũy vốn hạn chế, nguồn nhân lực
bị hạn chế bởi tuổi thọ và dân trí thấp, mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công rẻ… như trong một vòng luẩn quẩn không lối thoát Bởi vậy, muốn phát triển kinh tế phải có cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn ấy Cú huých đó chính là sự đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển Dù ĐTTTNN trước hết phục vụ cho lợi ích của các nước công nghiệp xuất vốn chứ chưa phải nước nhận vốn nhưng nó là nhân tố quan trọng, là giải pháp tích cực cho nền kinh tế chậm phát triển có thể vươn đến những thị trường mới, khuyến khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý hiệu quả hơn Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Khi nguồn vốn trong nước không đủ, thì việc thu hút, bổ sung vốn ĐTTTNN sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng [18,tr69]
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết
Trang 18quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu hút ĐTTTNN từ các công ty
đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, hiệu quả của việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của nước nhận.[3,tr.25]
Tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở ra cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu Khi thu hút ĐTTTNN từ các công ty đa quốc gia, không chỉ các
doanh nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các doanh nghiệp khác trong nước có quan hệ hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có
cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công Một trong những mục đích của ĐTTTNN là khai thác các điều kiện để đạt
được chi phí sản xuất thấp, nên doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ thuê nhiều lao động địa phương Khi thu nhập của một bộ phận dân cư được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương Trong quá trình sử dụng lao động, doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ tổ chức đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp những kỹ năng này là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút ĐTTTNN, điều này tạo ra đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút ĐTTTNN Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có
cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại nguồn thu ngân sách lớn Đối với
nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ nhất, các nhân tố liên quan đến chủ đầu tư Hoạt động ĐTTTNN là hoạt
động mang tính chất tư nhân, nhằm mục đích lợi nhuận và xuất phát từ nhu cầu tự
Trang 19thân của chính các CĐT Chủ đầu tư sẽ quyết định đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức ĐTTTNN khi bản thân họ có các lợi thế độc quyền riêng và ĐTTTNN sẽ giúp
họ tận dụng được lợi thế nội bộ hóa các tài sản riêng này Lợi thế độc quyền riêng (lợi thế gắn với quyền sở hữu): CĐT có thể nghĩ đến việc đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức ĐTTTNN khi họ sở hữu một hoặc một số lợi thế cạnh tranh độc nhất (lợi thế về quyền sở hữu, năng lực đặc biệt), lợi thế này giúp các CĐT khắc phục những bất lợi trong cạnh tranh với các công ty của nước CĐT, đặc biệt nó cho phép doanh nghiệp vượt qua các khó khăn về chi phí hoạt động ở nước ngoài Chủ đầu tư khi xây dựng nhà máy ở nước ngoài phải trả những chi phí phụ trội so với đối thủ cạnh tranh của nước đó do:
- Sự khác biệt về văn hóa, luật pháp, thể chế và ngôn ngữ
- Thiếu hiểu biết về các điều kiện thị trường nội địa
- Chi phí thông tin liên lạc và hoạt động do sự khác biệt về địa lý
Muốn tồn tại được ở nước ngoài, các CĐT sẽ phải tìm cách để có được thu nhập cao hơn hoặc tiết kiệm được các chi phí khác để bù lại chi phí nước ngoài Vì vậy CĐT phải có một số các lợi thế không bị chia sẻ với các đối thủ cạnh tranh Các lợi thế này phải là lợi thế riêng biệt của doanh nghiệp, có thể là lợi thế về kiến thức, công nghệ; giảm chi phí nhờ hoạt động với quy mô lớn; lợi thế về nội bộ hóa…
Thứ hai, các nhân tố liên quan đến nước chủ đầu tư Các nước có thể có các
biện pháp khuyến khích, hỗ trợ cho các CĐT nước mình tiến hành đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài và trong những trường hợp cần thiết, cũng có thể áp dụng các biện pháp để hạn chế, hoặc cấm đầu tư ra nước ngoài Các biện pháp khuyến khích đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm: tham gia ký kết các hiệp định song phương và
đa phương về đầu tư hoặc có liên quan đến đầu tư; Chính phủ đứng ra bảo đảm cho các hoạt động đầu tư ở nước ngoài Việc đầu tư ra nước ngoài có thể gây ra cho các CĐT rất nhiều rủi ro Nếu Chính phủ các nước đứng ra bảo hiểm cho các rủi ro này thì nhà đầu tư của nước đó sẽ yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài
Trang 20Thứ ba, các nhân tố liên quan đến nước nhận đầu tư
Một là, yếu tố môi trường kinh tế của nước nhận đầu tư: Môi trường kinh tế
của nước nhận đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mà các CĐT trước khi đầu tư phải tìm hiểu một cách kỹ lưỡng Tùy động cơ của chủ ĐTNN mà
có các yếu tố khác nhau của môi trường kinh tế ảnh hưởng đến dòng vốn ĐTTTNN Các CĐT có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu tố như dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường Các CĐT tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên, lao động chưa qua đào tạo giá rẻ, lao động có tay nghề, công nghệ, phát minh, sáng chế; cơ sở hạ tầng phần cứng như cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông,… Các CĐT tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồn tài nguyên
và tài sản được đề cập ở phần trên có cân đối với năng suất lao động; các chi phí đầu vào khác như chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc đi-đến hoặc trong nước nhận đầu tư, chi phí mua bán thành phẩm,…
Hai là, yếu tố về chính sách pháp luật điều chỉnh ĐTTTNN của nước nhận
đầu tư Đây được coi là yếu tố vô cùng quan trọng vì nó sẽ là cơ sở để xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng hay bó hẹp đối với các nhà đầu tư; nó sẽ là yếu
tố góp phần khuyến khích hay hạn chế sự đầu tư vào quốc gia này Nhìn chung, các CĐT đều muốn đầu tư vào một nước có hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch và an toàn Hệ thống pháp luật giúp cho các nhà đầu tư nắm bắt được các quy định về đầu
tư thuế, các mức thuế, sự phân chia lợi nhuận cũng như tài sản và môi trường cạnh tranh Cơ chế chính sách phản ánh khả năng sinh lợi của vốn đầu tư cũng như bảo đảm an toàn cho sự sinh lợi của đồng vốn Vì vậy nó có ảnh hướng rất lớn đến việc thu hút ĐTTTNN
Ba là, yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh Các yếu tố này bao gồm chính
sách đầu tư, các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư; giảm các tiêu cực phí bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả
Trang 21hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước; nâng cao các dịch vụ tiện ích xã hội để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các chủ ĐTNN; các dịch vụ hậu đầu tư
Thứ tư, các nhân tố liên quan đến môi trường hợp tác kinh doanh quốc tế
Đó là các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có ổn định hay không, có thuận lợi hay không thuận lợi cho nước CĐT và nước nhận đầu tư cũng như cho chính phủ đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài Nếu nền kinh tế thế giới có sự ổn định, các nhà đầu tư sẽ an tâm đầu tư vốn của mình Xu hướng hợp tác quốc tế của các nước hiện nay đã kéo các nền kinh tế lại gần với nhau, chính sự liên kết này đã tạo cơ sở cho sự lưu chuyển nguồn lực của các nước với nhau, trong đó quan trọng là nguồn vốn Tình hình chính trị thế giới và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tác động không nhỏ tới việc ĐTTTNN, sự ổn định hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã giúp các nước tận dụng, phát huy được cả tiềm năng của nước mình và của nước bạn
1.2 Khái quát pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Hoạt động ĐTTTNN phát sinh từ các quan hệ ĐTTTNN, các quan hệ này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư Vì vậy, nước tiếp nhận đầu tư đã xác định hành lang pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự phát sinh, phát triển, vận động của các quan hệ này theo mục tiêu và ý chí của mình Tổng thể các quy phạm pháp luật nói trên hợp thành pháp luật về ĐTTTNN Nói cách khác, pháp luật về ĐTTTNN là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực ĐTTTNN Đây chính là khái niệm pháp luật về ĐTTTNN phù hợp với bất cứ nước tiếp nhận đầu tư nào, nội dung khái niệm này không chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Hoạt động ĐTTTNN vào Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam Hiến pháp, Luật đầu tư có nhiều quy định
cụ thể về hoạt động này Tiếp đó là các đạo luật điều chỉnh về địa vị pháp lý của các
Trang 22doanh nghiệp như: Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; hay luật quy định về các hoạt động thương mại như: Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật Ngân hàng,… Luật quy định về ưu đãi, nghĩa vụ của doanh nghiệp ĐTTTNN như: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Đất đai, Luật Môi trường,…
Bên cạnh đó, pháp luật về ĐTTTNN còn bao gồm các điều ước quốc tế song phương và đa phương về đầu tư mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, như: Công ước
về Tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên tháng 9 năm 1985, Việt Nam tham gia năm 1993; Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trên 30 Hiệp định tránh đánh thuế trùng mà Việt Nam đã ký kết song phương với các nước; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định về khu vực đầu tư ASEAN (AIA), nhiều quy định trong các hiệp định này có nội dung liên quan đến việc điều chỉnh các quan hệ đầu
tư trực tiếp được coi là các quy phạm do Nhà nước thừa nhận và là nguồn của pháp luật về ĐTNN [11,tr27]
Pháp luật về ĐTTTNN tại Việt Nam có những đặc điểm đặc trưng sau:
Thứ nhất, pháp luật về ĐTTTNN của Việt Nam là tập hợp các chế định pháp
luật của một số ngành luật khác như Luật Hành chính, Luật Tài chính, Luật Thương mại, pháp luật thuế,… Các quy định của các đạo luật này có sự khác nhau nhất định
về chức năng và nội dung cụ thể, tuy nhiên luật đầu tư nói chung và pháp luật về ĐTTTNN nói riêng là một bộ phận và có mối liên hệ chặt chẽ với các bộ phận cấu thành khác của các luật trên
Thứ hai, pháp luật về ĐTTTNN của Việt Nam được hình thành và phát triển
trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần Hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam chỉ thực sự được quan tâm xây dựng trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế
Thứ ba, pháp luật về ĐTTTNN của Việt Nam có một quá trình phát triển từ
thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Qua gần 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật về ĐTTTNN của Việt Nam đã được hoàn thiện từng bước Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý về
Trang 23đầu tư trong nước, bằng việc ban hành Luật Đầu tư (2005), đánh dấu một bước tiến lớn trong sự phát triển của pháp luật đầu tư; sự ra đời của Luật Đầu tư (2014) càng thể hiện rõ hơn sự hoàn thiện của pháp luật đầu tư Việt Nam với môi trường đầu tư thông thoáng, an toàn
Thứ tư, pháp luật ĐTTTNN của Việt Nam là một hệ thống pháp luật vừa
mang tính chất công lại vừa mang tính chất tư điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong hoạt động ĐTTTNN Pháp luật công thể hiện trong việc điều chỉnh các quan
hệ giữa Nhà nước mà đại diện là các cơ quan có thẩm quyền với nhà ĐTNN trong việc cấp phép đầu tư và quản lý Nhà nước liên quan đến thực hiện dự án ĐTTTNN tại Việt Nam; quan hệ giữa các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN với Nhà nước Việt Nam thông qua các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình hoạt động của dự án đầu
tư và quản lý dự án đầu tư Pháp luật tư thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp tác kinh doanh, liên doanh giữa các nhà ĐTNN với nhà đầu
tư trong nước; giữa các doanh nghiệp có vốn ĐTNN với người lao động,…
1.2.2 Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
* Các quy định về chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là
các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ĐTTTNN tại Việt Nam Quy định về chủ thể là một quy định quan trọng, nó quyết định phạm vi quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này
* Các quy định về hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Pháp luật quy định
cụ thể về hình thức đầu tư và nội dung của hình thức đó Về nguyên tắc các doanh nghiệp có thể được chấp nhận lựa chọn đầu tư theo hình thức đầu tư như: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp doanh, hợp đồng đầu tư,…
* Các quy định về lĩnh vực, địa bàn đầu tư trực tiếp nước ngoài Pháp luật
của nước ta có quy định về lĩnh vực khuyến khích đầu tư và các lĩnh vực bị cấm đầu
tư trực tiếp nước ngoài Quy định này mang ý nghĩa chính trị xã hội, đảm bảo ổn định chính trị và lợi ích quốc gia
Trang 24* Các quy định về khuyến khích, bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài Các
quy định này mang ý nghĩa quan trọng và là lực hút đối với các nhà ĐTNN khi quyết định đầu tư trực tiếp vào Việt Nam
* Các quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là quá
trình đăng ký, thẩm định cấp giấy chứng nhận ĐTTTNN tại Việt Nam Quy định về thủ tục đầu tư đóng vai trò quan trọng tới sự vận động, phát triển của quá trình ĐTTTNN, thủ tục thông thoáng sẽ tạo tâm lý thoải mái cho các nhà ĐTNN khi quyết định đầu tư vào thị trường Việt Nam
* Các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Pháp luật về ĐTTTNN tại Việt Nam quy định những quyền lợi
mà bất cứ chủ thể nào khi tham gia quan hệ pháp luật này đều được hưởng Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra nghĩa vụ buộc trách nhiệm của doanh nghiệp đối với Nhà nước khi tiến hành ĐTTTNN tại Việt Nam
1.2.3 Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Thứ nhất, pháp luật về ĐTTTNN thừa nhận, định hướng và thúc đẩy các hoạt
động ĐTTTNN, là công cụ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam Xu thế quốc tế hóa đời sống xã hội, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và các vùng lãnh thổ từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Trong bối cảnh đó, việc tách biệt, đóng cửa với thế giới của một quốc gia sẽ đẩy quốc gia đó cách xa khỏi sự tiến bộ về văn hóa, khoa học kỹ thuật của xã hội Việc thu hút ĐTTTNN là một trong những hình thức thu hút vốn kinh doanh khá hữu hiệu hiện nay của các nước, đã và đang trở thành phổ cập tại rất nhiều nước Pháp luật quy định về ĐTTTNN vào Việt Nam đã đưa lại lợi ích quốc gia khi biến nó trở thành công cụ để khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích để các doanh nghiệp nước ngoài mạnh dạn đầu tư vốn, thu được lợi nhuận kinh doanh đáng kể cho đất nước Nhờ sự thừa nhận chính thức của pháp luật mà các quan hệ ĐTTTNN vào Việt Nam phát sinh và cũng chính các quy định về hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu
tư, chủ thể đầu tư, biện pháp bảo đảm, biện pháp khuyến khích, biện pháp hạn
Trang 25chế,… mà pháp luật ĐTTTNN định hướng được sự phát triển của các quan hệ ĐTTTNN vào Việt Nam
Thứ hai, pháp luật ĐTTTNN là công cụ quản lý của Nhà nước về hoạt động
ĐTTTNN tại Việt Nam Quan hệ về ĐTTTNN vào Việt Nam là quan hệ mang bản chất kinh tế thị trường nên không thể tránh khỏi những hạn chế cố hữu của bất cứ hoạt động thị trường nào như: tính tự phát, chạy theo lợi nhuận tối đa, ít chú ý tới lợi ích của Nhà nước và xã hội Vì vậy, pháp luật ĐTTTNN đóng vai trò thực sự là một công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước nhằm định hướng, giới hạn “hành lang” và phát huy tối đa các mặt tích cực của hoạt động này Pháp luật vừa là công
cụ quyền lực, vừa có khả năng chống lại sự lạm quyền, nhũng nhiễu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp của một số cán bộ công chức biến chất trong bộ máy công quyền Như vậy, pháp luật ĐTTTNN là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc quản lý các hoạt động ĐTTTNN nhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế những tiêu cực của quá trình luân chuyển vốn từ nước ngoài vào lãnh thổ quốc gia
Thứ ba, pháp luật ĐTTTNN góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống
pháp luật của Việt Nam về đầu tư Nếu ĐTTTNN là hoạt động kinh tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước thì pháp luật về ĐTTTNN
là một bộ phận pháp luật cũng có vai trò tác động làm phát sinh nhu cầu nội sinh của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Các quy định của pháp luật về ĐTTTNN đang ngày càng trở nên hợp lý, bảo đảm tính rõ ràng và thống nhất, góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về ĐTTTNN, phù hợp với thông lệ quốc tế về đầu tư và thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam
Thứ tư, pháp luật ĐTTTNN là một trong những yếu tố tạo lên lợi thế cạnh
tranh quốc tế trong phát triển kinh tế Do có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy các hoạt động ĐTTTNN nên pháp luật về ĐTNN tiến bộ, thông thoáng sẽ là một lợi thế cạnh tranh trong thu hút ĐTNN của mỗi nước Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế, môi trường đầu tư ở các nước luôn được cải thiện Sự chênh lệch khá xa về nhu cầu
và khả năng cung cấp vốn đầu tư trực tiếp càng làm cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu
tư trực tiếp thêm gay gắt Hầu hết các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực đều
Trang 26đang ra sức sửa đổi, bổ sung nhiều quy định pháp luật để hấp dẫn các nhà ĐTNN hơn Chính vì vậy, pháp luật về ĐTTTNN luôn được đặt trong quá trình vận động, hoàn thiện nhằm thực hiện tốt vai trò là lợi thế cạnh tranh của mỗi nước trong thu hút ĐTNN để phát triển kinh tế
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, Chương 1 đề cập đến những nội dung chủ yếu sau đây:
- Một là, ĐTTTNN xuất hiện cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, việc
thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc thúc đẩy kinh tế đất nước Tìm hiểu bản chất và các yếu tố ảnh hướng đến ĐTTTNN sẽ giúp các nhà quản lý kinh tế điều tiết được nền kinh tế
vĩ mô của đất nước
- Hai là, nhận thức rõ vai trò quan trọng của ĐTTTNN, Nhà nước ta đã ban
hành nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau quy định cụ thể hoạt động này Việc nghiên cứu pháp luật về ĐTTTNN vào Việt Nam, giúp ta có được cái nhìn tổng quan về cách thức thu hút, chính sách thu hút của Nhà nước ta cũng như những hạn chế trong các quy định pháp luật để có phương hướng hoàn thiện hơn
- Ba là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật ĐTTTNN như: khái
niệm, đặc điểm, bản chất, mục đích, vai trò, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu toàn bộ pháp luật về ĐTTTNN tại Việt Nam, là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và tìm hiểu các quy định của pháp luật thực định
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
2.1.1 Quy định về chủ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chủ thể của hoạt động ĐTTTNN theo quy định của Luật Đầu tư (2005) là các nhà ĐTNN bao gồm các tổ chức, cá nhân nước ngoài Trong Luật Đầu tư cũng không quy định rõ tiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài của các chủ thể này Việc xác định yếu tố nước ngoài trên thực tế được dẫn chiếu theo quy định của Bộ luật Dân sự (2005) về yếu tố nước ngoài như: quốc tịch đối với cá nhân nhà đầu tư, quốc tịch của người làm chủ đối với doanh nghiệp, quốc tịch của tổ chức (nơi thành lập, quy chế hoạt động, theo quy định của pháp luật nước nào) Theo như pháp luật của một số nước trong khu vực, khi xác định chủ thể của hoạt động ĐTTTNN họ đưa ra những tiêu chí xác định hết sức cụ thể
Trong luật đầu tư của Thái Lan, khi xác định một doanh nghiệp nước ngoài phải đảm bảo đủ các tiêu chí sau: “Doanh nghiệp nước ngoài gồm: Thể nhân không phải là công dân Thái Lan (1); Pháp nhân không đăng ký kinh doanh tại Thái Lan (2); Pháp nhân đăng ký tại Thái Lan nhưng có các đặc điểm sau: Có một nửa hoặc hơn một nửa vốn điều lệ nắm giữ bởi những chủ thể (1) hoặc (2); hoặc pháp nhân có các chủ thể (1) hoặc (2) đã đầu tư với giá trị bằng một nửa hoặc hơn tổng tài sản của pháp nhân đó Một công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn hoặc một công ty hợp danh thông thường có đăng ký mà thành viên điều hành hoặc người quản lý là một người nêu tại điểm 1 trên đây (3); Một pháp nhân đăng ký tại Thái Lan có một nửa hoặc hơn một nửa cổ phần được nắm giữ bởi các chủ thể (1) hoặc (2) hoặc (3) hoặc các chủ thể (1), (2) hoặc (3) đã đầu tư với giá trị bằng một nửa hoặc hơn một nửa vào tổng tài sản của công ty [1]” Có thể thấy, quy định về một doanh nghiệp nước ngoài theo luật đầu tư của Thái Lan là hết sức rõ ràng và chặt chẽ
Theo quy định của Philippines, một nước luôn thu hút các nhà ĐTNN đầu tư trực tiếp, nguồn vốn ĐTTTNN đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Philippines, Luật
Trang 28đầu tư của Philippines quy định về tổ chức, cá nhân nước ngoài bằng việc đưa ra khái niệm về công dân Philippines và dùng phương pháp loại trừ để đưa ra khái niệm về nhà ĐTNN Theo đó:
“Khái niệm “Công dân Philippines” trong Luật đầu tư nước ngoài gồm: (i) Công dân Philippines; (ii) Đối tác trong nước hoặc doanh nghiệp sở hữu hoàn toàn bởi công dân Philippines; (iii) Một doanh nghiệp được tổ chức theo luật Philippines trong đó tối thiểu 60% tổng vốn hiện tại và quyền biểu quyết được nắm giữ bởi công dân Philippines; (iiii) Một doanh nghiệp thành lập ở nước ngoài và đăng ký thực hiện hoạt động kinh doanh tại Philippines theo Luật Doanh nghiệp trong đó 100% tổng vốn hiện tại và quyền biểu quyết được nắm giữ bởi người Philippines; (iiiii) Hoặc một nhà đầu tư ủy thác của quỹ lương, quỹ lợi ích khác của người lao động nghỉ hưu, khi mà nhà đầu tư ủy thác là công dân Philippines và tối thiểu 60% của quỹ được trả cho lợi ích của công dân Philippines
Với điều kiện là: Khi mà một doanh nghiệp và những cổ đông không phải
người Philippines của doanh nghiệp đó nắm giữ cổ phần tại một doanh nghiệp đã được đăng ký tại một sàn giao dịch chứng khoán, tối thiểu 60% của vốn hiện tại và quyền biểu quyết của mỗi một doanh nghiệp trong cả hai doanh nghiệp phải được
sở hữu và nắm giữ bởi công dân Philippines và tối thiểu 60% thành viên ban giám
đốc của mỗi một trong cả hai doanh nghiệp phải là công dân của Philippines
- Khái niệm “đầu tư nước ngoài”: là hoạt động đầu tư thực hiện bởi các chủ
thể không phải là công dân Philippines dưới hình thức chuyển ngoại hối và/hoặc
các hình thức tài sản thực tế khác vào lãnh thổ Philippines và được đăng ký với Ngân hàng Trung ương Philippines Cơ quan này sẽ đánh giá, thẩm định tài sản đó ngoại trừ ngoại hối.” [1]
Việc xác định khái niệm nhà ĐTNN là cơ sở quan trọng để áp dụng điều kiện
và thủ tục đầu tư đối với nhà ĐTNN phù hợp với pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế Tuy nhiên, khái niệm này chưa được quy định rõ trong Luật Đầu tư hiện hành nên đã gây nhiều lúng túng trong việc áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư đối với nhà ĐTNN, doanh nghiệp có vốn ĐTNN Hạn chế này là nguyên nhân phát
Trang 29sinh hầu hết vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về điều kiện và thủ tục đầu
tư đối với nhà ĐTNN
Để tạo cơ sở pháp lý áp dụng thống nhất quy định về vấn đề này, luật quy định khái niệm nhà ĐTNN căn cứ vào quốc tịch, nơi đăng ký thành lập của cá nhân, tổ chức nước ngoài, theo đó tại khoản 3 Điều 3 Luật Đầu tư (2014) quy định: Nhà ĐTNN là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Quy định này của Luật đầu tư đã xác định tiêu chí cơ bản và quan trọng nhất khi xác định nhà ĐTNN tại Việt Nam Mặc dù không chi tiết như pháp luật của Thái Lan hay Phillipines nhưng đã khái quát được tiêu chí đặc thù và quan trọng nhất khi xác định một chủ thể là nước ngoài
Yếu tố thứ hai khi xác định một chủ thể có thực hiện hoạt động ĐTTTNN ở Việt Nam hay không chính là yếu tố đầu tư trực tiếp Tại khoản 3 Điều 3 Luật Đầu
tư (2005) quy định về đầu tư trực tiếp dựa trên hai yếu tố là “bỏ vốn” và “tham gia quản lý hoạt động đầu tư” Hoạt động bỏ vốn được hiểu là việc CĐT bỏ vốn từ ban
đầu để thực hiện đầu tư hoặc tham gia góp vốn vào doanh nghiệp Việt Nam với tỷ
lệ vốn góp trên 49% theo quy định tại Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 về việc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN trong các doanh nghiệp Việt Nam thì tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49% được coi là nhà ĐTNN Tuy nhiên, khái niệm “tham gia quản lý hoạt động đầu tư” trong Luật còn rất mơ hồ, thiếu cụ thể bởi Luật này cũng như các văn bản pháp luật liên quan đều không quy định rõ thế nào là tham gia quản lý hoạt động đầu tư Mặt khác, việc xác định hoạt động đầu tư trực tiếp chỉ dựa trên tiêu chí tham gia quản lý dự án cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn hoạt động đầu tư tại Việt Nam Sự thiếu rõ ràng trong các quy định về vấn đề này dẫn đến nhiều khó khăn trong việc xác định văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động đầu tư cũng như cơ chế quản lý các hoạt động này Tại Luật Đầu tư (2014) khái niệm đầu tư trực tiếp đã không được đưa vào quy định của pháp luật, xuất phát từ bản chất của hoạt động đầu tư mà Luật Đầu tư (2014) điều chỉnh, luật chỉ điều chỉnh các hoạt động đầu tư trực tiếp còn những hoạt
Trang 30động đầu tư gián tiếp mà Luật Chứng khoán đã điều chỉnh Luật Đầu tư không điều chỉnh lại, tránh trường hợp chồng chéo của pháp luật [10]
2.1.2 Quy định về hình thức đầu tư
Đối với hình thức đầu tư, việc phân loại được quy định dựa vào cách thức nhà đầu tư đưa tiền vào thị trường để thu lợi nhuận Có ba hình thức đầu tư phổ biến
là đầu tư sở hữu (ownership), đầu tư cho vay (lending) và đầu tư tiền – tương đương tiền (Cash- Cash Equivalents) Luật đầu tư của hầu hết các nước chỉ quy định về hình thức đầu tư sở hữu Một số nước quy định hình thức đầu tư cho vay (Ví dụ tại Điều 8 Luật Khuyến khích đầu tư của Hàn Quốc) quy định về hình thức đầu tư bằng các khoản cho vay dài hạn Tuy nhiên, những quy định như luật Hàn Quốc là không phổ biến Trong hình thức đầu tư sở hữu có hai hình thức cụ thể thường được pháp luật của các nước quy định là đầu tư thành lập pháp nhân mới và đầu tư thông qua việc mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đã tồn tại Ví dụ, Khoản 3 Điều 5 Luật Đầu tư số 25 năm 2007 của Indonesia cũng quy định nhà đầu tư được đầu tư theo hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc mua cổ phần, trong đó đối với trường hợp thành lập doanh nghiệp nhà đầu tư được yêu cầu phải mua cổ phần của công ty vào thời điểm công ty được thành lập[22] Khoản b, Điều 2 Luật đầu tư trực tiếp của Thổ Nhĩ Kỳ quy định hai hình thức đầu tư: đầu tư thành lập mới một công ty hoặc chi nhánh của nhà ĐTNN, đầu tư mua cổ phần của một công ty đã được thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ[24] Quy định này có nhiều điểm tương đồng đối với các hình thức đầu tư quy định của Luật Đầu tư Việt Nam Theo quy định tại Chương IV Luật Đầu tư (2005), hoạt động đầu tư trực tiếp được thực hiện thông qua các hình thức:
Thứ nhất, hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài là tổ chức được thành lập bằng 100%
nguồn vốn thuộc sở hữu của nhà ĐTNN Ở các nước khác nhau sẽ có quy định về hình thức tồn tại cho các tổ chức kinh tế này khác nhau Ví dụ: Luật đầu tư Indonesia chỉ cho phép nhà ĐTNN lựa chọn loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn (Khoản 3 Điều 5 Luật Đầu tư số 25) Luật khuyến khích đầu tư Hàn Quốc không đưa ra một giới hạn cụ thể nào về việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp đối với nhà
Trang 31ĐTNN trong khi luật doanh nghiệp nước này cũng quy định 4 loại hình doanh nghiệp là công ty hợp danh, công ty hợp danh hữu hạn, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Luật Trung Quốc lại đưa ra những loại hình doanh nghiệp chỉ
áp dụng đối với trường hợp có nhà ĐTNN tham gia ví dụ như: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp liên doanh vốn, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn nước ngoài, tập đoàn Mỗi loại hình doanh nghiệp nói
trên cho nhà ĐTNN được quy định bởi một đạo luật riêng về ĐTNN[1]
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 108/2006/NĐ-CP, các tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức: Doanh nghiệp tư nhân, công
ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần Có thể thấy, quy định của pháp luật Việt Nam là bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN trong việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp khi thành lập
Thứ hai, hình thức đầu tư góp vốn, thành lập tổ chức liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước Đây là loại hình đầu tư với đặc điểm
là nhà ĐTNN và nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Đầu tư (2005), tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN do Chính phủ quy định Tuy nhiên, Nghị định 108/2006/NĐ-CP và Nghị định 102/2010/NĐ-
CP cũng chỉ quy định về nguyên tắc việc áp dụng tỷ lệ này theo các điều ước quốc
tế, trong đó có biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam với WTO (tổ chức thương mại thế giới) và dẫn chiếu áp dụng pháp luật chứng khoán đối với hoạt động mua cổ phần của nhà ĐTNN trên thị trường chứng khoán Việc không rõ ràng và thiếu nhất quán trong việc quy định tỷ lệ vốn góp đã dẫn đến cách hiểu: “Doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam có 1% vốn của nhà đầu tư nước ngoài cũng bị coi là nhà đầu
tư nước ngoài và phải tuân thủ điều kiện đầu tư nước ngoài” [4]
Khắc phục những hạn chế trên, Điều 25, 26 Luật Đầu tư (2014) đã sửa đổi,
bổ sung quy định về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần theo hướng khẳng
định quyền của nhà đầu tư trong việc thực hiện hoạt động đầu tư theo hình thức góp
Trang 32vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp và trên cơ sở đáp ứng các điều kiện, thủ tục được quy định cụ thể tại luật này Ngoài ra, Luật Đầu tư (2014) đã xác định rõ tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN trong trường hợp thành lập doanh nghiệp cũng như đầu tư góp vốn, mua lại phần vốn góp,
cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp Việt Nam Theo đó, nhà ĐTNN được sở hữu vốn điều lệ với mức không hạn chế trong doanh nghiệp Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác (khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 26) Mặt khác, thủ tục góp vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần của nhà ĐTNN cũng được áp dụng như quy định đối với nhà đầu tư trong nước Theo đó, doanh nghiệp nhận vốn góp hoặc bán cổ phần, phần vốn góp cho nhà ĐTNN thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Như vậy, theo các quy định nêu trên, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt động theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà ĐTNN đã được đối xử bình đẳng với nhà đầu tư trong nước về quyền thực hiện hoạt động đầu tư
Thứ ba, hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT Đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hình đầu tư mà
trong đó nhà ĐTNN và nhà đầu tư trong nước cùng bỏ vốn ra để kinh doanh theo một hợp đồng, mỗi bên có tư cách pháp nhân riêng và không tiến hành để thành lập
ra một pháp nhân mới Theo quy định của Luật Đầu tư (2005) thì đầu tư theo hình
thức hợp đồng bao gồm các hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT
Hợp đồng BOT, BTO và BT là hình thức đầu tư giữa một bên là nhà đầu tư
và một bên là Nhà nước, chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng Thực
tế cho thấy đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO hay BT thường khó kiểm soát quyền và nghĩa vụ của các bên Vì vậy trong Luật Đầu tư (2014) không quy định hợp đồng BOT, BTO và BT mà thay bằng hình thức PPP
Hợp đồng PPP đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, tuy nhiên ở Việt Nam, PPP là hình thức hợp đồng hợp tác tương đối mới, mới cả trong hệ thống văn bản pháp luật đến thực tế áp dụng Về bản chất PPP là phương thức đầu tư, trong đó
Trang 33khu vực công và khu vực tư nhân trở thành đối tác của nhau, cùng tham gia đầu tư thực hiện các dự án phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội để cung cấp dịch vụ công Hiểu theo cách khác, PPP là quá trình xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực đầu tư công
Từ nghiên cứu thực tiễn trong nước và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác, có thể hiểu một cách cụ thể, PPP là hình thức Nhà nước và khu vực tư nhân cùng thực hiện dự án đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng phân chia rõ trách nhiệm, lợi ích và rủi ro, theo
đó, một phần hoặc toàn bộ dự án sẽ do khu vực tư nhân thực hiện trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh, đảm bảo các lợi ích công cộng, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng công trình hoặc dịch vụ do Nhà nước quy định
Hình thức hợp đồng PPP phù hợp với chủ trương thu hút các nguồn vốn đầu
tư tư nhân để phát triển các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công PPP đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi hài hòa giữa các bên, trong mô hình PPP, Nhà nước và tư nhân bình đẳng với nhau, là đối tác của nhau và cùng nhau thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ thông qua hợp đồng dự án Trong hợp đồng PPP sự tham gia của Nhà nước là một cơ chế bảo đảm; sự tham gia, sự cam kết của Nhà nước sẽ khiến dự án trở thành khả thi, mang tính thương mại Trong dự án PPP, Nhà nước chuyển nghĩa vụ thu xếp, thu hút vốn sang cho khu vực tư nhân Một lợi thế nữa của PPP là các khoản vay để đầu tư thực hiện dự án không làm tăng nghĩa vụ trả nợ của Nhà nước Trong PPP, Nhà nước vẫn giữ nguyên quyền quản lý, kiểm soát và thậm chí còn đặt ra những chuẩn mực, yêu cầu ràng buộc về cam kết chất lượng và dịch
vụ đối với nhà cung cấp tư nhân, sở hữu vẫn nằm trong tay Nhà nước, dự án sau một thời gian giao cho tư nhân vận hành và khai thác sẽ được chuyển giao lại cho Nhà nước [17,tr10-15]
Hợp đồng BCC là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân Nếu PPP là hình thức hợp đồng công – tư thì BCC điều chỉnh quan hệ tư nhân, theo tinh thần của luật dân sự Ghi nhận hình thức hợp đồng BCC, Luật Đầu
Trang 34tư (2014) đã quy định cụ thể về hợp đồng BCC, hình thức, nội dung và các trường hợp được thực hiện hợp đồng BCC trong các Điều 23, 28 và 29 Luật Đầu tư (2014)
Thứ tư, đầu tư phát triển kinh doanh Trong Luật Đầu tư (2014) đã bỏ quy
định về hình thức đầu tư phát triển kinh doanh vì nội dung này trong Luật Đầu tư hiện hành về cơ bản trùng lặp với quy định về nội dung dự án đầu tư mở rộng và thực chất đây là mục đích đầu tư chứ không phải là một hình thức đầu tư Trên thực
tế, trong thời gian qua, không có dự án đầu tư nào thực hiện theo hình thức này
2.1.3 Quy định về lĩnh vực và địa bàn đầu tư
Thứ nhất, địa bàn ưu đãi đầu tư
Địa bàn ưu đãi đầu tư được quy định tại Điều 28 Luật Đầu tư (2005) gồm:
- Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế-
xã hội đặc biệt khó khăn;
- Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Luật Đầu tư (2005) cũng như Nghị định số 108/2006/NĐ-CP chỉ đưa ra định nghĩa về KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế mà không có định nghĩa về địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn Thay vào đó, pháp luật đầu tư xác định cụ thể các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tại Danh mục về các địa bàn ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP
Trong Danh mục về các địa bàn ưu đãi đầu tư được ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, có 54 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có địa bàn
ưu đãi đầu tư, trong đó, mỗi tỉnh, thành phố lại được phân loại địa bàn nào có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn để được hưởng ưu đãi đầu tư, và địa bàn nào có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để được hưởng ưu đãi đặc biệt Danh mục cũng có sự phân biệt về mức độ được hưởng ưu đãi đầu tư của các KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Theo đó, các khu công nghệ cao và khu kinh
tế được hưởng ưu đãi đầu tư như địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Các
Trang 35KCN và khu chế xuất được hưởng ưu đãi đầu tư như địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn
Luật Đầu tư (2014) tiếp tục quy định địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm: địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khu công nghiệp, khu chế xuất (trừ khu công nghiệp, khu chế xuất ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi theo quy định của Chính phủ), khu kinh
tế, khu công nghệ cao Để khắc phục việc áp dụng ưu đãi đầu tư tràn lan đối với tất
cả các dự án thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư, Luật Đầu tư (2014) quy định ưu đãi đầu tư theo địa bàn không áp dụng đối với các dự án khai thác khoáng sản; dự án sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phù hợp với quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi bổ sung năm 2014
Thứ hai, quy định về lĩnh vực ưu đãi đầu tư Điều 27 Luật Đầu tư (2005)
khuyến khích các dự án đầu tư sản xuất vật liệu, năng lượng mới, sản phẩm công nghệ cao; sử dụng công nghệ hiện đại; nuôi trồng, chế biến các sản phẩm nông nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng; phát triển sự nghiệp đào tạo, y tế; sử dụng nhiều lao động; phát triển ngành nghề truyền thống; đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh
tế, xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, các KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế… Trong đó, tùy vào việc nhà đầu tư có dự án đầu tư vào lĩnh vực nào mà được hưởng ưu đãi đầu tư ở hai cấp độ khác nhau là: đặc biệt ưu đãi và ưu đãi Căn cứ các quy định nêu trên, Nghị định 108/2006/NĐ-CP đã quy định cụ thể các Danh mục lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư để áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN Mặc dù các lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư về cơ bản là phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước, song những quy định chi tiết về các lĩnh vực nhìn chung còn
dàn trải và có một số nội dung chưa thật sự rõ ràng, minh bạch Tiêu chí xác định
lĩnh vực, ngành nghề, dự án ưu đãi đầu tư chưa được quy định cụ thể, gây khó khăn trong quá trình áp dụng Chẳng hạn, dự án xây dựng khu du lịch sinh thái thuộc lĩnh
Trang 36vực ưu đãi đầu tư, nhưng không có văn bản pháp luật nào xác định rõ khái niệm khu
du lịch sinh thái nên không có cơ sở để xác định dự án được hưởng ưu đãi đầu tư
Khắc phục những hạn chế trên, Luật Đầu tư (2014) đã hoàn thiện các quy định về lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư theo hướng tiếp tục khuyến khích các dự
án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai, Cụ thể, các lĩnh vực ưu đãi đầu tư được quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Đầu tư (2014) Theo đó, Luật Đầu tư (2014) đã bổ sung vào danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư các dự án năng lượng mới, năng lượng sạch, các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao, sản phẩm cơ khí trọng điểm Cụ thể hóa tiêu chí xác định một số dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư chưa được quy định rõ trong Luật hiện hành (ví dụ: bảo vệ môi trường sinh thái gồm dự án thu gom, tái chế hoặc tái
sử dụng chất thải, khí thải) Mặt khác, nhằm đảm bảo tính khả thi, minh bạch và đồng bộ giữa quy định của Luật này với quy định của pháp luật liên quan, Luật Đầu
tư (2014) đã làm rõ tiêu chí xác định một số dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư chưa được quy định cụ thể trong Luật hiện hành, như: dự án sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển kết cấu hạ tầng…
Thứ ba, quy định về lĩnh vực đầu tư có điều kiện Theo quy định tại khoản 15
Điều 3 Luật Đầu tư 2005, lĩnh vực đầu tư có điều kiện là lĩnh vực chỉ được thực hiện đầu tư với các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định Khoản 1 Điều 29 Luật Đầu tư
2005, Phụ lục C ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-C quy định và liệt kê chi tiết các lĩnh vực đầu tư có điều kiện Ngoài các lĩnh vực, vấn đề nói trên, nhà ĐTNN còn phải tuân thủ một số điều kiện đầu tư khác phù hợp với các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Trong thời gian qua, các danh mục lĩnh vực đầu tư, kinh doanh có điều kiện ở Việt Nam cũng như các điều kiện áp dụng đối với từng lĩnh vực, ngành nghề thuộc danh mục này đã liên tục được thu hẹp và được quy định theo hướng ngày càng thuận lợi, hấp dẫn hơn đối với cả nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp có vốn ĐTNN Xu hướng tích cực
đó là minh chứng cho thấy kết qủa của việc thực hiện những biện pháp cải thiện
Trang 37mạnh mẽ hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư và thực hiện lộ trình mở cửa thị trường, xóa bỏ các rào cản đầu tư phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định của Luật Đầu tư (2005) có điều kiện còn tồn tại một số vướng mắc: một số lĩnh vực đầu tư có điều kiện theo luật chưa được quy định rõ ràng nên đã gây ra cách hiểu đa nghĩa, áp dụng tùy tiện (như lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng, lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, lĩnh vực môi trường sinh thái )
Để bảo đảm tính khả thi, minh bạch và ổn định của hệ thống pháp luật, Điều
7 Luật Đầu tư (2014) đã sửa đổi quy định về lĩnh vực đầu tư có điều kiện không liệt
kê cụ thể các lĩnh vực, ngành nghề trong điều luật mà ban hành danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong phụ lục kèm theo Mặt khác, Luật cũng quy định rõ không cho phép Bộ, cơ quan ngang Bộ và các hệ thống cơ quan hành chính địa phương ban hành các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh Điều này hoàn toàn hợp lý, khi xây dựng một môi trường đầu tư đồng bộ, thống nhất và hạn chế tối đa các văn bản quy phạm pháp luật trái luật ở địa phương
Thứ tư, quy định về lĩnh vực cấm đầu tư Xuất phát từ mục đích bảo vệ an
ninh quốc phòng, đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật đầu tư đã có những quy định cụ thể về lĩnh vực cấm đầu tư Các lĩnh vực cấm đầu tư được quy định cụ thể tại Điều 30 Luật Đầu tư (2005) và Phụ lục C ban hành kèm theo Nghị
định số 108/2006/NĐ-CP
Tuy nhiên, để tạo cơ sở để thực thi quyền Hiến định (Điều 33) về việc mọi người được tự do đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề mà luật không cấm; dễ xác định ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đầu tư kinh doanh có điều kiện do các ngành, nghề này được quy định tại một văn bản luật; tăng tính minh bạch về việc cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện theo danh mục được quy định Kiểm soát tập trung, giám sát chặt chẽ việc quy định các điều kiện đầu tư kinh doanh [15] Trong Luật Đầu tư 2014, 51 lĩnh vực, ngành nghề, hàng hóa, dịch vụ được thu hẹp xuống còn 6 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và được quy định tại Điều 6 của Luật Tất cả 6 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều này đều đã
Trang 38được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhưng được tổng hợp trong Luật Đầu tư 2014 để làm rõ hơn quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư; ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được xây dựng theo nguyên tắc “chọn bỏ” Theo đó, những ngành, nghề không quy định ở luật là những ngành, nghề không có hạn chế về đầu tư kinh doanh đối với người dân, doanh nghiệp
Như vậy, thay đổi quan trọng nhất của Luật Đầu tư 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện nguyên tắc Hiến định về quyền tự do đầu
tư kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật không cấm thông qua các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2014 với việc ban hành kèm theo phụ lục liệt kê chi tiết các ngành nghề, lĩnh vực hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh thiết nghĩ là chưa thật sự phù hợp Bởi trên thực tế là các lĩnh vực này có thể thay đổi nhanh chóng tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, yêu cầu quản lý của Nhà nước cũng như kết quả đàm phán của Việt Nam về mở cửa thị trường theo các điều ước quốc tế Do
đó, việc ban hành danh mục các ngành nghề trong chính văn bản luật sẽ khó trong việc sửa đổi, không tạo tính ổn định, lâu dài của một đạo luật
2.1.4 Quy định về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ và bảo đảm đầu tư
* Quy định về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Phần lớn các nước trên thế giới đều ban hành chính sách khuyến khích và hạn chế ĐTNN phù hợp với chương trình phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu thu hút vốn ĐTNN trong từng thời kỳ của mình Chính sách này được thể hiện dưới hình thức các danh mục lĩnh vực khuyến khích, cấm và hạn chế ĐTNN Một số nước không ban hành danh mục khuyến khích ĐTNN mà chỉ đưa ra các danh mục lĩnh vực cấm hoặc hạn chế đầu tư; ngoài các lĩnh vực này, nhà đầu tư được phép tiến hành hoạt động đầu tư và xin được hưởng ưu đãi nếu đáp ứng một số điều kiện nhất định Các nước có thể áp dụng nhiều cách thức khác nhau để hạn chế nhà ĐTNN như: hạn chế về sở hữu vốn tối đa và tối thiểu của nhà ĐTNN; hạn chế về địa bàn tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ; yêu cầu xuất khẩu, nội địa hóa, phát triển nguồn
Trang 39nguyên liệu trong nước; yêu cầu về chuyển giao công nghệ, mức độ sử dụng lao động Tuy nhiên, để thực hiện các cam kết quốc tế song phương và đa phương, các nước trong khu vực đã xóa bỏ hầu hết những hạn chế nói trên Hiện nay, hình thức hạn chế ĐTNN được áp dụng chủ yếu ở các nước này là quy định về giới hạn sở hữu vốn tối đa của nhà ĐTNN và phạm vi kinh doanh, chủ yếu trong một số ngành dịch vụ nhạy cảm Các nước thường xây dựng các danh mục cấm đầu tư, khuyến khích đầu tư, đầu tư có điều kiện Ví dụ như Thái Lan, nước này còn ban hành danh mục hoạt động kinh doanh trong đó doanh nghiệp Thái Lan chưa sẵn sàng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Hay Philippines ban hành danh mục các lĩnh vực đầu tư trong đó quy định cụ thể đối với từng lĩnh vực, nhà ĐTNN được đầu
tư tối đa bao nhiêu phần trăm [1]
Theo pháp luật Việt Nam chế định ưu đãi đầu tư bao gồm các quy định dành
sự đãi ngộ cho nhà ĐTNN Các ưu đãi này nhằm mục tiêu định hướng đầu tư, thu hút vốn vào các lĩnh vực, các vùng cần ưu tiên phát triển để thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, pháp Luật Đầu tư (2005) đã xác định trong tâm ưu đãi bao gồm:
- Ưu đãi những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển;
- Ưu đãi những vùng, địa bàn có điều kiện khó khăn hoặc các vùng trọng điểm làm đà để phát triển kinh tế một khu vực;
- Ưu đãi do sử dụng nhiều lao động hoặc công nghệ tiên tiến
Biện pháp ưu đãi chủ yếu trong pháp luật Việt Nam là ưu đãi về thuế Đây là biện pháp thu hút đầu tư hiệu quả nhất được hầu hết các nước sử dụng Theo luật thuế của Việt Nam thì các nhà ĐTNN phải chịu các loại thuế trong quá trình kinh doanh như các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, thời gian được miễn giảm thuế
và thuế suất có khác tùy theo từng trường hợp cụ thể Trong quá trình sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, nhà ĐTNN có thể phải chịu các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,… Tùy theo các trọng tâm ưu đãi mà nhà ĐTNN được miễn và giảm thuế trong một thời gian nhất định sao cho nhà đầu tư thu được lợi nhuận một cách hợp lý Có thể coi là ưu đãi cho nhà ĐTNN khi pháp luật Việt
Trang 40Nam gần như không hạn chế lĩnh vực đầu tư, trừ những lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng và thuần phong mỹ tục của đất nước
Biện pháp hỗ trợ đầu tư có ý nghĩa là những hoạt động chủ động của Nhà nước Việt Nam nhằm trợ giúp các nhà ĐTNN trong những trường hợp cần thiết
Chính sách khuyến khích đầu tư cơ bản được các nước trên thế giới sử dụng bao gồm:
- Khuyến khích bằng thuế hoặc trợ cấp: đây là một trong những biện pháp phổ biến nhất được áp dụng trên thế giới cũng như trong khu vực Các nước có thể ban hành các chính sách miễn, giảm các loại thuế (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển lợi nhuận về nước) hoặc hỗ trợ một số chi phí như chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật kết nối với nhà máy của doanh nghiệp, chi phí vận hành (vận chuyển, điện, nước) Ví dụ: trường hợp Thái Lan có thể áp dụng giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực ưu đãi, bổ sung 25% khấu trừ chi phí xây dựng và lắp đặt cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp; khấu trừ hai lần chi phí vận chuyển, điện và nước hoặc miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị
- Hỗ trợ phi thuế như cho phép đưa vào lãnh thổ của mình công dân nước ngoài để nghiên cứu cơ hội đầu tư hoặc đưa vào những người lao động kỹ năng cao
và chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư; cho phép sở hữu đất đai; cho phép mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng ngoại tệ [1];
Hiện nay theo pháp luật Đầu tư Việt Nam, chúng ta đã áp dụng kết hợp cả hai nhóm phương pháp này một cách có chọn lọc cho phù hợp với tình hình kinh tế- chính trị xã hội của đất nước
* Quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư
Cùng với việc tham gia ngày càng sâu hơn vào tiến trình tự do hóa đầu tư, phạm vi, mức độ của các cam kết bảo đảm đầu tư ở các nước đã dần dần trở nên tương đồng hơn Những biện pháp bảo đảm đầu tư được áp dụng ở hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á bao gồm:
- Nhà nước không quốc hữu hóa các tài sản của Nhà đầu tư;