1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008

225 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các văn bản pháp luật này đã kế thừa được các quy định hợp l về thi hành án dân sự của các văn bản pháp luật trước đây, khắc phục được một số khiếm khuyết của các văn bản về thi hành dân

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

1 TS NGUYỄN CÔNG BÌNH GVC Trường Đại học Luật

Hà Nội

Chuyên đề 1, 16

2 ThS LÊ THỊ KIM DUNG Tổng cục thi hành án dân sự Chuyên đề 13

3 ThS NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG Giảng viên Trường Đại học

12 NGUYỄN THỊ KIM THOA Cục Thi hành án dân sự Hà Nội Chuyên đề 15

13 TS TRẦN ANH TUẤN GVC Trường Đại học Luật

Trang 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự

BPKCTT Biện pháp khẩn cấp tạm thời

CHV Chấp hành viên

CQTHADS Cơ quan Thi hành án dân sự

LTHADS Luật Thi hành án dân sự

PLTHADS Pháp lệnh Thi hành án dân sự

PLTTGQCTCLĐ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động PLTTGQCVADS Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

TAND Tòa án nhân dân

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Trang 4

1 Cơ sở của việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 64

2 Đổi mới hệ thống cơ quan thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư

3 Chấp hành viên trong thi hành án dân sự 81

4 Mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức có liên

quan trong thi hành án dân sự 88

5 Đối tượng, thời hiệu, thẩm quyền thi hành án dân sự 94

6 Thủ tục thi hành án dân sự 103

7 Xác minh trong thi hành án dân sự 110

8 Những sửa đổi, bổ sung của Luật Thi hành án dân sự về hoãn, tạm đình chỉ,

đình chỉ, trả lại đơn yêu cầu thi hành án và những vấn đề đặt ra 116

9 Một số điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về biện pháp bảo đảm thi

10 Một số điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về biện pháp cưỡng chế

11 Vấn đề tài chính trong thi hành án dân sự 146

12 Thủ tục thi hành án dân sự trong một số trường hợp cụ thể 157

13 Thực tiễn áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 tại các cơ quan thi hành

án dân sự địa phương và một số kiến nghị 167

14 Thực tiễn áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh 189

15 Thực tiễn áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 tại thành phố Hà Nội 195

16 Xã hội hóa thi hành án dân sự 206

17 Đánh giá kết quả khảo sát đề tài “Những điểm mới của Luật Thi hành án dân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 224

Trang 5

1.2 Thực trạng pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam trước khi Luật thi

hành án dân sự năm 2008 được ban hành là một trong những cơ sở thực

tiễn chủ yếu để ban hành Luật thi hành án dân sự

quả của việc thực hiện những quy định mới của Luật Thi hành án dân sự

về hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, cán bộ thi hành án dân sự

thủ tục yêu cầu thi hành và ra quyết định thi hành án

21

3.2 Về thủ tục ra các quyết định khác 23 3.2.1 Về thủ tục xác minh trong thi hành án 23 3.2.2 Về thủ tục ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả lại đơn

yêu cầu thi hành án dân sự

27

Trang 6

Trang 3.3 Về thủ tục bảo đảm và cưỡng chế thi hành án 35 3.3.1 Những điểm mới về thủ tục bảo đảm và cưỡng chế thi hành án 35 3.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Luật Thi

hành án dân sự về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự

3.5 Vấn đề tài chính trong thi hành án dân sự 51

3.5.1 Những điểm mới và những vấn đề đặt ra về phí thi hành án dân sự 51 3.5.2 Về chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự 53 3.5.3 Về vấn đề bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành

án dân sự

55

4 CÁC VẤN ĐỀ KHÁC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 58 4.1.Mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức,

cá nhân khác trong thi hành án dân sự

58

4.2 Xã hội hoá công tác thi hành án dân sự 59

Trang 7

TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

1 CƠ SỞ CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật thi hành án dân sự nước ta, tạo cơ sở pháp l vững chắc bảo đảm cho việc tổ chức thi hành án dân sự có hiệu quả Luật Thi hành án dân sự năm 2008

được ban hành xuất phát từ những luận cứ khoa học sau:

1.1 Đản v N nướ t n n t ứ r n ủ t n n n sự v v trò ủ p p lu t đố vớ t n n n sự

Xác định r mục đích của hoạt động thi hành án là nhằm làm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế, vì vậy Đảng và nhà nước

ta đã nhận thức được đầy đủ các ngh a của hoạt động thi hành án nói chung cũng như các ngh a của hoạt động thi hành án dân sự nói riêng

Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm lớn cho công tác thi hành án (trong

đó có thi hành án dân sự) nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác thi hành

án, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, giải quyết căn bản tình trạng án tồn đọng như đưa ra chủ trương từng bước đổi mới tổ chức, cơ chế thi hành, cơ sở vật chất bảo đảm thi hành án, việc xây dựng và chế độ đối với những người làm công tác thi hành án Ngay từ nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám khoá VII đã chủ

trương: “sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án theo hướng tiến tới tập

trung nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác thi hành án vào Bộ tư pháp”1 Nghị

quyết Trung ương Đảng lần thứ ba khoá VIII tiếp tục yêu cầu “Kiện toàn tổ chức thi

hành án, bảo đảm thi hành đầy đủ, nhanh chóng các bản án và quyết định của Tòa án, của tổ chức trọng tài… chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản

lý tập trung thống nhất công tác thi hành án Nghiên cứu thành lập cảnh sát tư pháp… phục vụ công tác thi hành án Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất chính trị, đạo đức và có năng lực chuyên môn ”2 Quán triệt tư tưởng chỉ đạo này, việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định đã được quy định thành một nguyên tắc Hiến định Điều 136 của Hiến pháp năm 1992 đó quy định:

“Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được

các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân

và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành” Trên cơ sở quy định này của Hiến pháp năm 1992, Điều 19 BLTTDS năm 2004

tiếp tục quy định: “Bản án, quyết định của Toà án đó có hiệu lực pháp luật phải được

1 Xem văn kiện Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám khóa VII

2 Xem văn kiện Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ ba khóa VIII

Trang 8

thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.”

Thực tiễn thi hành án dân sự trong thời gian qua cho thấy thi hành án dân sự là một hoạt động rất phức tạp Trong quá trình tổ chức thi hành án, nhiều đương sự có điều kiện thi hành án nhưng vẫn cố tình trây ỳ, không tự nguyện thi hành án, thậm chí

có trường hợp còn chống đối quyết liệt, hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ của công dân làm đơn khiếu nại, tố cáo không đúng qui định của pháp luật, nhằm để trì hoãn việc thi hành án Nhiều trường hợp các khiếu nại, tố cáo đó được cơ quan có thẩm quyền giải quyết thỏa đáng nhưng các đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại gửi đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, thậm chí có trường hợp còn tổ chức tụ tập đông người, gây rối trật tự Trước thực tế này Đảng và nhà nước ta nhận thấy cần thiết phải xây dựng một cơ chế pháp l thi hành án dân sự phù hợp để bảo đảm hiệu quả của công tác thi hành án dân sự và đến lúc đó pháp luật phải thể hiện được vai trò của nó đối với công tác thi hành án dân sự

Với chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a làm cho dân giàu, nước mạnh thì pháp luật nói chung và LTHADS nói riêng càng có vai trò quan trọng Các quan điểm, tư tưởng của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, cải cách tư pháp ngày nay được quán triệt trong các quy định của pháp luật nói chung và LTHADS nói riêng có ngh a buộc các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện là yếu tố rất quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là đối với việc thực hiện

mục tiêu cải cách tư pháp ở nước ta: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,

dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lí, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng

sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”3

Quá trình thi hành án dân sự bao gồm nhiều công việc khác nhau, nảy sinh các quan hệ khác nhau giữa các chủ thể tham gia vào quá trình này Trong đó, mỗi chủ thể tham gia vào các quan hệ này với những động cơ, mục đích và nhiệm vụ khác nhau nên rất phức tạp Vì vậy, các quy định của LTHADS Việt Nam về quyền và ngh a vụ của các chủ thể thi hành án, thời hiệu thi hành án, thẩm quyền thi hành án, thủ tục thi hành án, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án v.v… có tác dụng điều chỉnh các quan hệ quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự bảo đảm được hiệu quả của việc thi hành án dân sự

Ngoài ra, các quy định của LTHADS Việt Nam về cơ chế giám sát, kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự, trách nhiệm pháp lí của các chủ thể trong việc tổ chức hoặc tham gia thi hành án dân sự v.v… còn có tác dụng nâng cao trách nhiệm của

3 Xem: Mục I Nghị quyết của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX số NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trang 9

49-các chủ thể tổ chức hoặc tham gia thi hành án dân sự để bảo đảm hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, mặt khác còn góp phần nâng cao được thức pháp luật của các chủ thể trong xã hội

1.2 T ự trạn p p lu t T n n n sự V ệt N m trướ k Lu t Thi

n n n sự năm 2008 đượ b n n l một tron n ữn ơ sở t ự t ễn ủ yếu để b n n Lu t T n n n sự

Trước khi LTHADS năm 2008 được ban hành, việc tổ chức thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự (PLTHADS) năm 2004

và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này Các văn bản pháp luật này đã kế thừa được các quy định hợp l về thi hành án dân sự của các văn bản pháp luật trước đây, khắc phục được một số khiếm khuyết của các văn bản về thi hành dân sự trước đó

và có một số quy định mới về quyền yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án, lệ phí thi hành án, miễn, giảm thi hành án đối với các khoản án phí, tiền phạt, kết thúc thi hành án, chuyển giao quyền và ngh a vụ thi hành án, thông báo thi hành án…, đặc biệt BLTTDS được ban hành cũng đã có một phần gồm 2 chương với 9 điều luật quy định

về thi hành án dân sự, tuy vậy, các quy định này vẫn còn nhiều khiếm khuyết, bất cập thể hiện ở những điểm sau:

- “PLTHADS năm 2004 được ban hành trong bối cảnh Quốc hội đã có kế hoạch xây dựng Bộ luật thi hành án nên Pháp lệnh này chỉ tập trung tạo cơ sở pháp l để tháo

gỡ một số khó khăn, vướng mắc trước mắt trong việc giải quyết án tồn đọng mà chưa giải quyết một cách cơ bản những khó khăn vướng mắc trong cơ chế quản l , mô hình

tổ chức, thủ tục thi hành án dân sự nói chung và các loại án kinh tế, lao động nói riêng”.4

Vì vậy, “PLTHADS năm 2004 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, nhiều nội dung của Pháp lệnh còn thiếu cụ thể; tính hệ thống trong các quy định của pháp LTHADS chưa được bảo đảm; cơ cấu tổ chức và cơ chế quản l chưa r ràng; trình tự thủ tục về thi hành án chưa được quy định đầy đủ, chặt chẽ; một số vấn đề bức xúc liên quan đến hoạt động thi hành án chưa được pháp luật điều chỉnh”5 Để bảo đảm hiệu quả thi hành án, ngoài các quy định của BLTTDS và PLTHADS năm 2004 Nhà nước ta còn phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành (tới 43 văn bản) như Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để bảo đảm thi hành án, Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt hành chính trong thi hành án dân sự; Thông tư số 117/2005/TT-BQP ngày 12/8/2005 của Bộ quốc phòng hướng dẫn việc xử lí tài sản tịch thu theo bản án, quyết định của toà án quân sự

và trách nhiệm của đơn vị quân đội được thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 của TANDTC,

4 Nguyễn Thanh Thủy, Tham luận hội thảo về Dự thảo 5 LTHADS do Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với Dự

án STAR tổ chức, Hà Nội ngày 25/3/2008

5 Xem Tham luận của Bộ Tư pháp tại cuộc Tọa đàm về Dự án LTHADS do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội phối hợp với Dự án STAR tổ chức ngày 25 và 26/02/2008

Trang 10

VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ công an và Bộ tài chính hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí; Quyết định số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự; Thông tư số 86/2005/TT-BTC ngày 3/10/2005 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự v.v… Các quy định này tản mạn nên không chỉ gây khó khăn cho việc tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự và CHV mà còn gây cả khó khăn cho cả các đương sự và những người liên quan trong việc thi hành án dân sự

- Về thời hiệu, thẩm quyền và thủ thi hành án dân sự chưa được quy định đầy

đủ và khoa học, có quy định mâu thuẫn với các quy định của các văn bản pháp luật khác như thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự được quy định quá ngắn nên không bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và mâu thuẫn với thời hiệu xác lập quyền sở hữu được quy định tại Điều 255 BLTTDS; chưa quy định ngh a vụ xác minh điều kiện thi hành án của người được thi hành án, ngh a vụ xác minh tài sản

do cơ quan phải thi hành án gánh chịu trong khi đó người được thi hành án chỉ hưởng quyền là chưa hợp l ; chưa có quy định cơ chế phối hợp giữa thi hành án phạt tù với thi hành quyết định bồi thường thiệt hại của người bị kết án, trách nhiệm của cơ quan thi hành án phạt tù; chưa có quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án trong khi thi hành án dân sự yêu cầu cần phải được tiến hành nhanh nhạy và kịp thời; chưa có cơ chế xử l trong trường hợp đã thi hành được một phần sau đó lại có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm v.v…

- Việc quản l nhà nước đối với công tác thi hành án dân sự cũng quy định chưa khoa học, còn bị xé lẻ, phân tán với sự tham gia quản l của quá nhiều cơ quan nhà nước khác nhau như Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và Uỷ ban nhân dân dân địa phương Với cơ chế quản l phân tán như vậy đã gây khó khăn không ít trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra và giám sát các hoạt động thi hành án dân sự, tạo ra

sự cồng kềnh, chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan quản l và cơ quan tổ chức thi hành án dân sự Hơn nữa, các cơ quan thi hành án dân sự chưa được pháp luật quy định có vị trí pháp l ngang tầm với nhiệm vụ được giao nên không đủ điều kiện cần thiết để thực hiện tốt được nhiệm vụ

- Tuy PLTHADS năm 2004 đã quy định cụ thể các tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của CHV nhưng vẫn thiếu các quy định để bảo đảm cho CHV thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn thi hành án được giao như Pháp lệnh này quy định CHV có quyền quyết định và áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng lại không quy định cho phép CHV được khám người, thu giữ đồ vật, phương tiện và tiền do người phải thi hành án hay người khác giữ dẫn đến nhiều trường hợp biết người phải thi hành án hoặc người khác có tài sản liên quan đến việc thi hành án giấu trong người nhưng thể thu được hoặc buộc họ giao cho CHV để thi hành án Ngoài ra, các quy định về chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ thi hành

Trang 11

án còn chưa phù hợp, chưa tương xứng với tính chất đặc thù của công tác thi hành án nên chưa động viên, khuyến khích được họ toàn tâm toàn với công việc

- PLTHADS năm 2004 chưa tạo được cơ sở pháp l cho việc xã hội hóa công tác thi hành án dân sự Theo quy định của PLTHADS năm 2004 thì việc tổ chức thi hành án dân sự là thuộc trách nhiệm của các các cơ quan thi hành án dân sự, cả các công việc về thi hành án có thể giao cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện nhưng đều do

cơ quan thi hành án thực hiện như việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, định giá tài sản kê biên để thi hành án v.v… nên các công việc tổ chức thi hành án của CHV rất nặng nề Năm 2007, bình quân mỗi CHV thường xuyên phải đảm đương một khối lượng công việc rất cao (hơn 20 việc/người/tháng), cá biệt như ở thành phố Hồ Chí Minh có nơi hơn 100 việc/người/tháng Với số lượng án phải thi hành ngày một tăng, mỗi CHV ngày càng phải thi hành nhiều bản án, quyết định nên

số lượng án tồn đọng cũng ngày một nhiều Tính đến ngày 31/10/2007, toàn quốc còn 346.332 việc tồn đọng (chiếm 55% tổng số việc phải thi hành), trong đó có 97.225 việc có điều kiện thi hành nhưng chưa thi hành xong (chiếm 31% số việc có điều kiện thi hành)6 Do vậy, nhiều trường hợp CHV phải khất lần đương sự vì chưa giải quyết xong vụ việc này đã phải giải quyết vụ việc khác làm cho đương sự phải đi lại nhiều lần, gây phiền hà, tốn kém cho họ

- Trách nhiệm phối hợp của cá nhân, cơ quan và tổ chức có liên quan đến việc thi hành án với cơ quan thi hành án cũng chưa được PLTHADS năm 2004 quy định cụ thể nên khi được cơ quan thi hành án yêu cầu hỗ trợ thi hành án thì cá nhân, cơ quan

và tổ chức được yêu cầu đã không mặn mà cộng tác, do lợi ích trước mắt thậm chí còn chống đối gây cản trở đến công việc tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án như

tổ chức tín dụng không thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án về việc cung cấp thông tin về tài khoản hoặc quyết định phong tỏa, khấu trừ tài sản của người phải thi hành án gửi tại tổ chức tín dụng đó

Xuất phát từ thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định ban hành LTHADS để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn pháp LTHADS

1.3 N ữn yêu ầu mớ đặt r đố vớ t n n n sự ũn l một tron n ữn l o để Đản v N nướ quyết địn b n n LTHADS

Sau 20 năm thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, kinh tế xã hội nước ta đã

có nhiều phát triển Tuy vậy, để làm cho dân giàu, nước mạnh Đảng ta vẫn chủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a và cải cách tư pháp ở Việt Nam Thi hành án dân sự bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được thực hiện trên thực tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước góp phần giữ nghiêm kỷ

6 Xem Tham luận của Bộ Tư pháp tại cuộc Tọa đàm về Dự án LTHADS do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội phối hợp với Dự án STAR tổ chức ngày 25 và 26/02/2008

Trang 12

cương phép nước, trật tự xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển nên cũng có nhiều yêu cầu mới đặt ra đối với thi hành án dân sự

Thứ nhất, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trước đây, nước ta theo mô hình kinh tế tập trung, bao cấp Nhà nước nước can thiệp sâu vào mọi hoạt động kinh tế, các đơn vị kinh tế thực hiện việc sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu, kế hoạch được giao thì các quan hệ xã hội chưa phát triển Các quan hệ phát sinh trong sản xuất, kinh doanh chủ yếu được hình thành giữa các doanh nghiệp của Nhà nước (xí nghiệp), giữa người lao động với người sử dụng lao động là các doanh nghiệp của Nhà nước, cơ quan Nhà nước Vì vậy, các tranh chấp nảy sinh ít, không nhiều phức tạp, giá trị về tài sản của các tranh chấp không lớn dẫn đến việc tổ chức thi hành án dân sự không nhiều và cũng không mấy khó khăn trở ngại Ngày nay, khi Nhà nước chủ trương đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản l của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ ngh a thì các quan hệ xã hội phát sinh phức tạp hơn, đặc biệt là các quan hệ phát sinh trong l nh vực sản xuất, kinh doanh Các tranh chấp Tòa án phải thụ l giải quyết không ngừng gia tăng, giá trị tranh chấp lớn và phức tạp Do đó, số lượng các bản án, quyết định của Tòa án phải thi hành ngày càng nhiều, giá trị tiền, tài sản phải thi hành lớn nên việc thi hành án dân sự cũng phức tạp hơn Để bảo đảm được hiệu quả của thi hành án dân sự đòi hỏi phải có sự đổi mới công tác thi hành án dân sự cho phù hợp với sự phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ ngh a

Thứ hai, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách

tư pháp ở Việt Nam

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a ở Việt Nam, bảo đảm Nhà nước của ta là Nhà nước của dân và vì dân Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a đòi hỏi phải coi trọng pháp luật và pháp chế trong quản l xã hội, quản l Nhà nước,

hệ thống pháp luật phải được hoàn thiện và pháp luật phải được nghiêm chỉnh chấp hành Thi hành án dân sự vấn đề rất quan trọng liên quan trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả quản l Nhà nước, kỷ cương pháp luật và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước Các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên cơ sở các quy định của pháp LTHADS Vì vậy, để thi hành án dân sự có hiệu quả góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a ở Việt Nam thì phải hoàn thiện pháp LTHADS thông qua việc xây dựng và ban hành văn bản có hiệu lực cao hơn PLTHADS năm 2004

Công cuộc cải cách tư pháp đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ và toàn diện tổ chức

và hoạt động của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, các tổ chức bổ trợ tư pháp

và cơ quan thi hành án Mục tiêu cơ bản của công cuộc cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống các cơ quan tư pháp đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thi hành án dân sự là một trong

Trang 13

các nội dung của hoạt động tư pháp Nhận thức r tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự từ lâu Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng có

đề cập đến vấn này như Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám khoá VII quan lần thứ tám khoá VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ ba khoá VIII, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 v.v Trong đó, Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ ba khoá VIII yêu cầu: “Kiện toàn tổ chức thi hành án, bảo đảm thi hành đầy đủ, nhanh chóng các bản án và quyết định của Tòa án, của tổ chức trọng tài… chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản l tập trung thống nhất công tác thi hành án”; Nghị quyết số 08/NQ-TW tiếp tục

yêu cầu: “Trên cơ sở tổng kết, đánh giá về công tác thi hành án cần sớm xây dựng,

hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thi hành án, bảo đảm các quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được tôn trọng

và thi hành nghiêm chỉnh" Như vậy, công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam cũng đòi

hỏi phải đổi mới tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự và hoàn thiện hệ thống pháp luật

về thi hành án dân sự để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp

Thứ ba, yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế về thi hành án dân sự

Ngày nay, hợp tác quốc tế trở thành xu hướng tất yếu trong sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Thực hiện đường lối đổi mới, để phát triển kinh tế - xã hội Đảng ta chủ trương mở rộng quan hệ với các nước và hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập của Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ nhất là sau khi ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 27 tháng 11 năm 2001 của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế

quốc tế, trong đó xác định r mục tiêu: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở

rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quán lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước mắt thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 - 2005”

Việc mở rộng quan hệ quốc tế, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại cùng với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài làm gia tăng các quan hệ dân sự kinh tế, lao động

có yếu tố nước ngoài Các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và các quyết định của Trọng tài nước ngoài có yêu cầu thi hành án ở Việt Nam cũng ngày một gia tăng Để phục vụ đường lối phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ với các nước

và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng thì phải tăng cường hợp tác quốc tế cả về l nh vực thi hành án dân sự đòi hỏi thi hành án dân sự cũng phải đổi mới

Như vậy, từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc xây dựng và ban hành LTHADS năm 2008 là sự thể chế hóa các đường lối, chủ trương lớn của Đảng và là

Trang 14

một đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân sự Việc xây dựng và ban hành LTHADS năm 2008 đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự, tạo cơ sở pháp l vững chắc cho việc thi hành án, và góp phần khắc phục, tháo gỡ

được những vướng mắc trong thi hành án dân sự

2 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ HỆ THỐNG

TỔ CHỨC, CÁN BỘ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐẶT RA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 N ữn đ ểm mớ về ệ t ốn tổ ứ v n bộ t n n n sự

2.1.1 Về hệ thống tổ chức

* Về hệ thống cơ quan quản lý thi hành án dân sự

LTHADS năm 2008 đã khắc phục về cơ bản những bất cập, vướng mắc trước đây của PLTHADS năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề xây dựng

hệ thống cơ quan quản l thi hành án dân sự Cụ thể là nếu trước đây hệ thống cơ quan quản l thi hành án dân sự chưa được đưa vào Điều 11 PLTHADS 2004 thì đến LTHADS năm 2008, khoản 1 Điều 13 LTHADS đã quy định r hệ thống cơ quan quản

án, quản l theo ngành dọc đối với 683 cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, 63 cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh

* Về hệ thống cơ quan thi hành án dân sự

- Thứ nhất: LTHADS đã tạo cơ sở pháp l , đặt nền móng để Chính phủ nâng

Cục thi hành án dân sự thành Tổng cục thi hành án dân sự, “đảm bảo tổ chức cơ quan THADS theo nguyên tắc thu gọn đầu mối”

Với mục đích phải khắc phục được hạn chế cơ bản, “là nguyên nhân chủ yếu làm công tác thi hành án dân sự còn nhiều hạn chế, bất cập là do mô hình tổ chức cơ quan thi hành án chưa ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc được giao”7, của PLTHADS năm 2004, LTHADS năm 2008 đã có những sửa đổi tương đối phù hợp về vấn đề tổ chức cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay Cụ thể

là mặc dù mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản l ; tên gọi, cơ cấu,

tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự không quy định trong LTHADS mà do Chính phủ quy định nhưng Khoản 2 Điều 13 LTHADS cũng đã chỉ ra hệ thống tổ chức

cơ quan thi hành án dân sự gồm:

7 TS Nguyễn Quang Thái; “Đổi mới hệ thống cơ quan thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam; tr 2

Trang 15

+ Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Cục hoặc vẫn để nguyên) trực thuộc Tổng cục (Cục), (gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);

+ Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, quân, thành phố thuộc tỉnh (Chi cục trực thuộc Cục), (gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện);

+ Cơ quan thi hành án dân sự quân khu và tương đương (gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp quân khu)

Như vậy, mặc dù LTHADS không quy định cụ thể về tên gọi, mô hình tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự nhưng vì vào thời điểm 2009, Cục thi hành án dân sự

đã được nâng từ Cục loại ba lên thành Cục loại 1 (đơn vị tương đương với Tổng cục) nên trên cơ sở khoản 2 Điều 13 LTHADS, Chính phủ đã quyết định nâng Cục thi hành

án dân sự thành Tổng cục thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng quản l và tổ chức hoạt động thi hành án Cùng với việc thay đổi này, LTHADS tuy chưa quy định tên của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nhưng gián tiếp đã xác định đây là cơ quan tương đương với cấp Cục, ở cấp huyện

là tương đương với Chi cục

- Thứ hai: LTHADS và Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 đã tạo cơ

sở pháp l và định hướng cho quy định r hơn về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự

từ trung ương đến địa phương, qua đó vừa giữ nguyên cơ bản về tổ chức và hoạt động của các cơ quan THADS, bảo đảm phù hợp với tính chất, đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự, vừa khắc phục được nhiều bất cập của hệ thống cơ quan THADS trong thời gian qua Cụ thể là:

+ Ở trung ương: Tổng cục thi hành án dân sự là cơ quan quản l thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;

+ Ở cấp tỉnh: Cục thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cục thi hành án dân sự tỉnh) là cơ quan thi hành án dân sự trực thuộc Tổng cục thi hành án dân sự;

+ Ở cấp huyện: Chi cục thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là chi cục thi hành án dân sự huyện) là cơ quan thi hành án dân

sự huyện trực thuộc Cục thi hành án dân sự tỉnh

Không chỉ tạo được cơ sở pháp l để xây dựng một hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án thống nhất từ trung ương đến địa phương, LTHADS còn giành hẳn chương VIII quy định r trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thi hành án theo các mức độ khác nhau

Trang 16

chuẩn và ngạch CHV

Khắc phục những vướng mắc trong các quy định của PLTHADS năm 2004 về tuyển dụng, bố trí sử dụng, điều động, luân chuyển, đặc biệt là khó khăn trong việc bổ nhiệm CHV ở những địa phương vùng sâu, vùng xa do thiếu nguồn tuyển dụng , Điều 17 LTHADS đã quy định CHV có ba ngạch: sơ cấp, trung cấp và cao cấp Quy định mới này có ngh a rất quan trọng đối với việc phân công, bố trí công việc của cơ quan thi hành án

LTHADS đã quy định linh hoạt hơn về điều kiện bổ nhiệm CHV như CHV trung cấp phải là người có trình độ cử nhân luật trở lên, CHV sơ cấp chỉ yêu cầu trình

độ trung cấp luật Những quy định linh hoạt này vừa thu hút nguồn nhân lực, khắc phục được tình trạng thiếu nguồn nhân lực, vừa có tác dụng phân loại công việc tại các

cơ quan thi hành để giao cho từng đối tượng CHV phù hợp

- Thứ hai: LTHADS có những quy định mới về thi tuyển CHV

Để lựa chọn những người có đủ tiêu chuẩn, năng lực để bổ nhiệm CHV, tạo khả năng thu hút cấn bộ có năng lực ở những l nh vực khác, LTHADS đã quy định việc bổ nhiệm CHV thông qua thi tuyển Bên cạnh đó, LTHADS bỏ quy định nhiệm kỳ đối với CHV nhằm tạo tâm l yên tâm, ổn định công tác của CHV Bên cạnh đó, quy định

về hình thức xử l kỷ luật CHV nếu có vi phạm hoặc miễn nhiệm nếu không đủ năng lực đã có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CHV

- Thứ ba: LTHADS đã bổ sung một số quyền cho CHV

Ngoài việc kế thừa các quy định tiến bộ, phù hợp về quyền hạn của CHV trong PLTHADS như kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công, thi hành đúng nội dung bản án, triệu tập đương sự, xác minh tài sản, thu giữ tài sản, thanh toán tiền cho người được thi hành án, quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế , LTHADS còn bổ sung một số quyền hạn mới tương đối quan trọng cho CHV như quyền được áp dụng biện pháp bảo đảm, được sử dụng theo đúng quy định các công cụ hỗ trợ khi thi hành án như các loại roi cao su, roi điện, súng bắn hơi cay, súng bắn đạn nhựa, găng tay điện Ngay cả với những quyền trước đây PLTHADS đã quy định như quyền cưỡng chế thi hành án thì LTHADS cũng quy định cụ thể hơn hoặc bổ sung thêm cho đầy đủ và phù hợp hơn, ví dụ LTHADS đã bổ sung quyền cưỡng chế của CHV đối với quyền sở hữu trí tuệ, tài sản là phương tiện giao thông, tài sản là phần vốn góp

- Thứ tư: LTHADS quy định rất cụ thể những việc CHV không được làm

Để phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của CHV, LTHADS đã quy định r nhưng việc không được làm tại Điều 21 LTHADS

Trang 17

Trong giai đoạn hiện nay, công tác thi hành án dân sự có nhiều thuận lợi như công tác thi hành án tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,

cơ quan thi hành án có vị thế mới nên có nhiều thuận lợi trong việc phối hợp với các

cơ quan ban ngành ở trung ương và địa phương, hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án được kiện toàn một bước tạo sự độc lập hơn sơ với cơ quan tư pháp địa phương, những bất cập trong cơ cấu cán bộ của các cơ quan THADS được khắc phục phần nào Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, việc thực hiện những quy định mới của LTHADS

về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay đang phải đối mặt với những thử thách lớn lao Đó là:

- Hệ thống tổ chức cơ quan THADS được LTHADS quy định tổ chức theo ngành dọc, vì thế một thách thức rất lớn đó là nếu không quản l chặt và không phối hợp nhịp nhàng giữa cơ quan quản l ngành với cơ quan quản l lãnh thổ sẽ rất dễ dẫn đến sự buông lỏng quản l , nhất là đối với cấp huyện

- Hệ thống tổ chức cơ quan THADS được LTHADS quy định tổ chức theo ngành dọc, vì thế đòi hỏi lãnh đạo cơ quan THADS phải có sự phối hợp chặt chẽ và phải tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cấp ủy, chính quyền địa phương Điều này cũng có ngh a là với vị thế mới, với nhiệm vụ mới, vai trò của người thủ trưởng đơn vị của cơ quan THADS phải được nâng lên đủ tầm, đòi hỏi năng lực quản l phải tốt Với quá trình hình thành và phát triển hơn 15 năm của hệ thống cơ quan THADS, những đòi hỏi này thực sự là một thử thách với đội ngũ CHV của chúng ta hiện nay

- Tổ chức quản l cơ quan THADS theo quy định mới đòi hỏi phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ giữa cơ quan trung ương và địa phương, giữa cấp tỉnh với cấp huyện Điều này cho thấy mỗi cơ quan thi hành án dân sự cần phải vừa có sự nỗ lực để

tự hoàn thiện, vừa phải có tinh thần hợp tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ chung

- Các phòng chức năng là cơ quan tham mưu giúp thủ trưởng CQTHADS cấp tỉnh quản l và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao nhưng hiện nay mới chỉ kiện toàn được một bước Tình trạng thiếu biên chế để thực hiện nhiệm vụ mới vẫn còn nên trong thời gian tới cần phải có những chính sách thu hút nhân lực nhiều hơn nữa, tích cực hơn nữa

2.2.2 Về vấn đề cán bộ thi hành án dân sự

LTHADS đã có những quy định mới tương đối phù hợp về vấn đề cán bộ thi hành án dân sự Việc thực hiện theo những quy định mới này đã bước đầu thể hiện được những kết quả nhất định Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của các quy định này, chúng tôi xin được đưa ra những giải pháp để giải quyết những vướng mắc, thách thức đang gặp phải, đó là:

- Bổ sung cho CHV quyền khám xét người, nơi ở, nơi cất giấu tài sản, tài liệu của người phải thi hành án để họ có thể thực thi công vụ một cách thuận lợi, triệt để, bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án tốt nhất Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy đa số các kiến (261 kiến chiếm 90,62%) cho rằng cần bổ sung cho CHV

Trang 18

thêm quyền khám xét người, nơi ở, nơi cất giấu tài sản, tài liệu của người phải thi hành

án bởi các l do như: nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình tổ chức thi hành án dân sự; thông thường trên thực tế đương sự thường có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản và không hợp tác với CHV; việc bổ sung cho CHV thêm quyền này sẽ giúp cho CHV nhanh chóng phát hiện ra tài sản của người phải thi hành án, từ đó mới nhanh chóng giải quyết xong vụ việc; nhiều trường hợp CHV nhìn thấy đương sự cầm tiền, cất giấu

mà không có biện pháp gì để thu hồi tiền, tài sản của đương sự vì luật không cho phép CHV khám xét người và nơi ở của đương sự; trên thực tế thi hành án, người phải thi hành án không có tài sản khi CHV xác minh nhưng họ lại có nhiều tài sản cất giấu, tiền bạc trong người Thậm chí còn có kiến cho rằng, thẩm quyền của CHV càng cao thì sẽ càng thuận lợi cho quá trình tổ chức thi hành án dân sự Chúng tôi đồng tình với kiến đa số nêu trên, bởi đối tượng của hoạt động THA trong nhiều trường hợp chỉ là tài sản, giấy tờ của người phải THA thì không thể lúc nào CHV cũng có thể yêu cầu lực lượng công an khám xét người, nơi cất giấu tài sản Hơn nữa, để có lệnh khám xét

họ phải thông qua cơ quan điều tra, công an với nhiều thủ tục rườm rà Với mục đích

và bản chất của hoạt động THADS là đảm bảo những bản án, quyết định của Tòa án

có hiệu lực và được thực thi nghiêm chỉnh,chính xác, kịp thời trên thực tế, sẽ thật cần thiết khi trao cho CHV tất cả những quyền năng để họ có thể thực thi công vụ được thuận lợi, triệt để, bảo vệ quyền lợi của người được THA tốt nhất

- Pháp luật tố tụng dân sự và LTHADS cần có những quy định phù hợp, thống nhất về quyền khởi kiện vụ án dân sự của CHV Hiện nay, LTHADS có quy định thừa nhận quyền khởi kiện yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung nhưng BLTTDS lại không có quy định nào thừa nhận trong trường hợp trên CHV có quyền khởi kiện Chúng tôi cho rằng, BLTTDS và LTHADS cần phân thành hai trường hợp để có quy định phù hợp, đó là người được thi hành án

có quyền khởi kiện nếu thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự, CHV có quyền khởi kiện trong trường hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án

- Pháp luật thi hành án dân sự cần bổ sung quyền được sử dụng các công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ Với kết quả khảo sát là đa số các kiến (167 kiến, chiếm 57,98% ) cho rằng, việc quy định cho CHV có quyền được sử dụng công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ là cần thiết và trên thực tế các CHV cũng thường sử dụng công cụ hỗ trợ thi hành án, chúng tôi cho rằng việc quy định cho CHV có quyền sử dụng công cụ

hỗ trợ là cần thiết bởi các l do như: Đây là công việc thường xuyên va chạm với mặt trái của xã hội, trong trường hợp thi hành các quyết định dân sự trong bản án hình sự thì CHV còn phải tiếp phải tiếp xúc với tội phạm; vì đương sự luôn có tư tưởng trốn tránh ngh a vụ thi hành án hay xúc phạm và có biểu hiện chống đối, đe dọa tính mạng, sức khỏe của CHV; vì hầu hết các vụ việc khi tổ chức cưỡng chế đương sự thường chống đối đến cùng; vì để bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho CHV Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi của pháp luật thì các CHV cần phải được trang bị và tập huấn về cách

sử dụng công cụ hỗ trợ thi hành án dân sự

Trang 19

3 NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐẶT RA

3.1 Về t ủ tụ yêu ầu, r quyết địn t n n

3.1.1 Những điểm mới

- Thứ nhất: Về quyền yêu cầu và nộp đơn yêu cầu của đương sự

+ Ngoài những quy định có tính kế thừa về quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và người phải thi hành án, điểm mới nổi bật trước hết trong quy định về thủ tục yêu cầu thi hành án là về thời hiệu làm đơn yêu cầu thi hành án là

5 năm, tức là đã được kéo dài hơn trước đây (trước đây là 3 năm) Về nội dung đơn yêu cầu thi hành án cũng thể hiện điểm mới tại điểm đ khoản 1 Điều 31 LTHADS: trong đơn yêu cầu thi hành án bắt buộc phải có thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Ngoài ra người yêu cầu thi hành án còn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định tại Điều 66 LTHADS

+ LTHADS đã bổ sung quy định về việc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, khắc phục tình trạng tiếp nhận đơn hoặc không tiếp nhận đơn một cách “bừa bãi” thiếu cơ

sở pháp l Nếu như trước đây vì không có quy định nào về quyền từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án của cơ quan thi hành án nên cơ quan thi hành án phải tiếp nhận đơn trong mọi trường hợp, nếu không muốn tiếp nhận đơn thì cũng không có căn cứ pháp l Nay với quy định tại Điều 34, LTHADS đã quy định cụ thể ba căn cứ từ chối nhận đơn

- Thứ hai: Về thẩm quyền ra quyết định thi hành án

+ Trước hết LTHADS đã loại bỏ việc cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản, đồng thời bổ sung một loại việc mà cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức thi hành đó là quyết định xử l vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử l vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực mà đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại tòa án

+ LTHADS quy định r hơn về thẩm quyền ra quyết định thi hành án, đó là thẩm quyền theo địa hạt (địa danh hành chính) Quy định này cho phép đương sự được lựa chọn cơ quan thi hành án nào trong cùng một cấp sẽ tổ chức thi hành án cho họ

+ LTHADS đã quy định r thời hạn ra quyết định thi hành đối với các biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa án Trước đây, PLTHADS năm 2004 chưa có quy định

cụ thể về vấn đề này nên đã dẫn đến tình trạng hiểu không thống nhất của các cơ quan thi hành án trong việc ra quyết định thi hành đối với các quyết định áp dụng BPKCTT Nay theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 36 LTHADS, thời hạn ra quyết định thi hành đối với loại việc này là 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định áp dụng BPKCTT

do tòa án hoặc đương sự chuyển giao đã đảm bảo

- Thứ ba: LTHADS đã có quy định về việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết

định thi hành án

Trang 20

Trước đây, các văn bản PLTHADS chưa có quy định nào về vấn đề này ngoài Nghị Định 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định duy nhất về một trường hợp cơ quan thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án khi thực hiện việc ủy thác thi hành án Nay với quy định tại Điều 37, LTHADS đã quy định tương đối r và đầy đủ về thẩm quyền và các trường hợp ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ các quyết định về thi hành án

- Thứ tư: LTHADS đã giảm thời hạn tự nguyện thi hành án

Trước đây, thời hạn tự nguyện thi hành án được pháp luật quy định là không quá 30 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án nên

đã làm cho việc ấn định thời hạn tự nguyện thi hành án ở các cơ quan thi hành án không thống nhất, tùy tiện khác nhau Khắc phục tình trạng này, LTHADS đã quy định thời hạn tự nguyện thống nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án

- Thứ năm: LTHADS đã có những quy định mới về thủ tục thông báo về thi

hành án Đó là:

+ Xác định r hơn mục đích thông báo về thi hành án cho đương sự, người có quyền, lợi ích liên quan Đối tượng được thông báo sẽ tùy thuộc vào nội dung của từng văn bản thông báo chứ không phải thông báo cho mọi đương sự, người có quyền, lợi ích liên quan như trước đây

+ Quy định cụ thể về thời hạn thông báo trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án

+ Quy định cụ thể về 3 hình thức thông báo thi hành án là thông báo trực tiếp, niêm yết hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng

+ Quy định cụ thể thời điểm thông báo hợp lệ tính từ ngày lập biên bản thông báo + Quy định cụ thể thời gian niêm yết công khai là 10 ngày kể từ ngày niêm yết

và ngày niêm yết là ngày được thông báo hợp lệ

- Thứ sáu: LTHADS có một số quy định mới về ủy thác thi hành án, đó là:

+ Ủy thác thi hành án trong trường hợp thi hành ngh a vụ liên đới đã được LTHADS quy định phù hợp hơn, khắc phục được tình trạng hiểu theo nhiều cách khác nhau, theo đó thi hành ngh a vụ liên đới (chia phần hoặc không chia phần) mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì phải ủy thác toàn bộ ngh a vụ liên đới đến một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

+ LTHADS đã quy định r thời hạn ra quyết định ủy thác là 5 ngày làm việc

kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác

+ LTHADS đã có quy định cụ thể về thời hạn ra quyết định thi hành án khi nhận được quyết định ủy thác là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác

Trang 21

- Thứ bảy: LTHADS đã có quy định mới trong mọi trường hợp đều phải có kết

thúc thi hành án, không như trước đây việc kết thúc thi hành án được chia thành hai trường hợp: loại đương nhiên kết thúc và loại ra quyết định kết thúc

3.1.2 Những thách thức đặt ra khi thực hiện những quy định mới về thủ tục yêu cầu thi hành và ra quyết định thi hành án

Với những điểm mới nêu trên về thủ tục yêu cầu thi hành án và thủ tục ra quyết định thi hành án thể hiện trong LTHADS, rất nhiều người trong đó có chúng tôi cho rằng nhìn chung các điểm mới này nhất định sẽ tạo được luồng sinh khí mới, có tính đột phá trong công tác thi hành án dân sự, giúp các cơ quan quản l thi hành án dân sự, các CHV, các công chức làm công tác thi hành án sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng

và Nhà nước giao phó, đồng thời góp phần thực hiện thành công chiến lược cải cách tư pháp, cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ ngh a Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện những điểm mới này chúng tôi cũng nhận thấy những thách thức, những vấn đề đang đặt ra cần phải giải quyết, cần phải có thêm chỉ đạo, hướng dẫn Đó là:

- Thứ nhất: Về điểm mới được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 31 LTHADS

mà cụ thể là nội dung đơn yêu cầu thi hành án bắt buộc phải có thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án hiện đang tồn tại hai quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án thì đương sự phải đưa ra các thông tin về tài sản và phải chứng minh được những tài sản

đó thuộc sở hữu của người phải thi hành án Quan điểm thứ hai, cho rằng trong đơn yêu cầu thi hành án chỉ cần có thông tin về tài sản của người phải thi hành án, người có đơn không phải chứng minh quyền sở hữu những tài sản đó Chính vì còn có sự khác nhau trong hai quan điểm trên nên trong thực tiễn thực hiện thủ tục làm đơn yêu cầu thi hành án và ra quyết định thi hành án ít nhiều sẽ tạo ra sự lúng túng, khó khăn cho những chủ thể liên quan Để giải quyết được vấn đề này, chúng tôi cho rằng cơ quan

có thẩm quyền cần có ngay văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người làm đơn yêu cầu thi hành án có thể thực hiện công việc yêu cầu thi hành án một cách thuận lợi nhất, cụ thể là họ chỉ cần đưa thông tin về tài sản Trong quá trình thi hành án, nếu người yêu cầu thi hành án không cung cấp được các giấy tờ pháp l về quyền sở hữu tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì họ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự (CHV) xác minh

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát về vấn đề hiểu thế nào là thông tin về tài sản

hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Kết quả khảo sát cho thấy còn

có các kiến khác nhau Có 203/288 kiến, chiếm 70,5% cho rằng thông tin về tài

sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là bất kỳ một thông tin nào

đó về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Song có 77 kiến cho rằng, phải là các thông tin pháp l về tài sản như nếu là nhà thì phải nêu r chủ quyền (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và nhà ở hay chưa); nếu đã được cấp thì giấy tờ đó có số k hiệu như thế nào Có 18 kiến cho rằng, không nhất

Trang 22

thiết phải là các thông tin pháp l về tài sản nhưng phải là các thông tin cụ thể như nếu

là nhà thì đó là nhà ở hay nhà có tính năng sử dụng khác, nhà cấp nào (cấp 4 hay biệt thự ), nhà mấy tầng, có người ở hay ai đang quản l sử dụng; tình trạng pháp l như thế nào (có thế chấp hay không) Theo chúng tôi, trong giai đoạn xét xử, người khởi kiện phải cung cấp cho Tòa án các giấy tờ tài liệu để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp bởi nếu là tranh chấp tài sản thì tài sản đó là đối tượng của tranh chấp nên các bên tranh chấp là người nắm giữ thông tin Song trong, giai đoạn thi hành án, tài sản của người phải thi hành án thông thường không phải là đối tượng tranh chấp trong giai đoạn xét xử Hơn nữa, việc thu thập thông tin nếu thông tin

đó đang do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nắm giữ không hề đơn giản trong điều kiện

hiện nay Vì vậy, để tạo điều kiện và không làm khó cho người dân khi yêu cầu thi hành

án, theo chúng tôi cần hiểu thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người

phải thi hành án là bất kỳ một thông tin nào đó về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của

người phải thi hành án Tuy nhiên, Tổng cục Thi hành án dân sự cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này

- Thứ hai: Điểm mới về thẩm quyền quy định tại Điều 35 LTHADS mà cụ thể

là quy định thẩm quyền thi hành án theo địa hạt hành chính đã cụ thể hơn, r ràng hơn nhưng chúng tôi vẫn e ngại vì cho rằng quy định này chưa thực sự đảm bảo được quyền lựa chọn yêu cầu cơ quan thi hành án của đương sự khi thấy người phải thi hành

án đang cư trú, làm việc hoặc có tài sản ở địa phương khác Người được thi hành án phải mất thêm một thời gian nhất định để cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án theo địa danh hành chính làm thủ tục ủy thác thi hành án về cơ quan thi hành án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, có tài sản hoặc có trụ sở thì mới được CHV tổ chức thi hành Về phía cơ quan thi hành án cũng phải mất thời gian

và kinh phí cho việc thực hiện thụ l đơn yêu cầu và ủy thác thi hành án Với sự nhìn nhận này thì quy định như Điều 21 PLTHADS 2004 trước đây: người được thi hành án

có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trực tiếp đến cơ quan thi hành án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, có tài sản hoặc có trụ sở được cho là hợp l và hiệu quả hơn và như vậy LTHADS nên giữ nguyên quy định về thẩm quyền thi hành án như PLTHADS năm 2004

- Thứ ba: Về vấn đề ra thông báo, quyết định về thi hành án bộc lộ những

vướng mắc sau:

+ Hiện nay, LTHADS chưa có văn bản nào quy định trách nhiệm trả lời xác minh thuộc về tòa án trong trường hợp cơ quan thi hành án ra quyết định xử l vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử l vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực mà đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại tòa án Việc xác định đương sự không khởi kiện tại tòa án cần được LTHADS quy định r hơn theo hướng trách nhiệm xác minh của người yêu cầu thi hành án và tòa án có thẩm quyền phải có trách nhiệm cung cấp thông tin

+ Về tạm đình chỉ thi hành án: Cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi

Trang 23

hành án khi cơ quan có thẩm quyền rút kháng nghị là chưa phù hợp vì khi nhận được kháng nghị cơ quan thi hành án chỉ thông báo tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định, do đó khi tiếp tục thi hành án thì chỉ cần có thông báo tiếp tục thi hành án

3.2 Về t ủ tụ r quyết địn k

3.2.1 Về thủ tục xác minh trong thi hành án

3.2.1.1 Những điểm mới

Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là một công việc có

vị trí quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ quá trình thi hành án Kết quả xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án sẽ là cơ sở để CHV, Thủ trưởng cơ quan thi hành án tiến hành các công việc tiếp theo hoặc ra các quyết định phù hợp LTHADS đã có những nội dung đổi mới quan trọng góp phần khắc phục những bất cập trong PLTHADS trước đó Cụ thể là:

- Thứ nhất, LTHADS đã chuyển đổi một cách cơ bản trách nhiệm xác minh

điều kiện thi hành án, quy định xác minh điều kiện thi hành án không còn đơn thuần là ngh a vụ của CHV mà còn là ngh a vụ của người được thi hành án

Trước đây, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 PLTHADS và Điều 8 Nghị định

số 173/2004/NĐ-CP quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự thì trong mọi trường hợp trách nhiệm xác minh thuộc về CHV Thực tế, khi tiến hành xác minh tại cơ sở, CHV phải có thái độ hết sức mềm mỏng để nhận được sự phối hợp của các cơ quan hữu quan Thậm chí, nhiều trường hợp

để việc xác minh được tiến hành nhanh chóng, hoặc để có thông tin, CHV buộc phải

chấp nhận mất một số chi phí Điều này khiến cho nhiều CHV có tâm l “ngại” tiến

hành xác minh và dẫn đến tình trạng trì hoãn trong thi hành án hoặc là xuất hiện tình

trạng xác minh “khống”, tức là CHV không xuống địa bàn xác minh mà tự “vẽ” biên

bản xác minh Khắc phục thực tế này, LTHADS đã bổ sung trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án thuộc về người được thi hành án tại Điều 44 Việc bổ sung trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của người được thi hành án đã tháo gỡ bớt “gánh nặng” xác minh của CHV, mặt khác, nâng cao hiệu quả của công tác xác minh trong thi hành

án Như vậy, khác với PLTHADS năm 2004: CHV không phải thực hiện bất kỳ một tác nghiệp nào trước khi tiến hành xác minh, thì nay theo quy định tại Điều 44 LTHADS,

CHV cần phải xem xét đối với từng loại việc thi hành án khác nhau: trường hợp chủ

động ra quyết định thi hành án thì CHV phải chủ động tiến hành xác minh, trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của người

phải thi hành án thuộc về người được thi hành án (Khoản 1 Điều 44 LTHADS)

- Thứ hai, LTHADS quy định r thời hạn phải tiến hành xác minh của CHV

Trước đây, pháp LTHADS không có bất kỳ quy định nào về thời hạn CHV phải thực hiện nhiệm vụ xác minh, ngoại trừ mục 5 Công văn 404/2005/TP-THA ngày 24/2/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án có đề cập tới thời hạn xác minh nhưng lại không đầy đủ Nay khoản 2 Điều 44 LTHADS đã quy

Trang 24

định r thời hạn phải tiến hành xác minh của CHV trong từng trường hợp như sau:

+ Đối với trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, CHV phải tiến hành xác minh ngay

+ Đối với trường hợp thi hành quyết định thi hành án chủ động, CHV tiến hành xác minh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án Thời hạn này không tính theo ngày làm việc nên CHV phải có sự dự liệu trước, nhất là vào thời điểm có các ngày nghỉ

+ Đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, CHV tiến hành xác minh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án Khi xác định thời hạn tiến hành xác minh trong trường hợp này CHV cần lưu ngày nhận yêu cầu trong trường hợp này phải là yêu cầu hợp pháp

- Thứ ba, LTHADS quy định r yêu cầu về mặt nội dung và hình thức của biên

- Nhiều người được thi hành án đã gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin

về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án bởi chúng ta chưa có sẵn thông tin

để tìm kiếm thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án như chúng ta chưa có hệ thống đăng k tài sản thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận Mặt khác những nơi có thông tin của người phải thi hành án chưa sẵn sàng cung cấp thông tin như một trách nhiệm hay một dịch vụ Từ thực trạng này, hướng giải quyết là phải nhanh chóng hiện đại hóa và minh bạch hóa hệ thống đăng k , quản l tài sản trong phạm vi toàn quốc để tiện lợi trong việc tra cứu, quản l tài sản

- Thứ nhất: theo quy định trên của LTHADS thì khi yêu cầu CHV xác minh,

người được thi hành án phải lập văn bản yêu cầu ghi r các biện pháp xác minh đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh cho việc xác minh không có kết quả của mình Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, đối với cơ quan thi hành

án, tài liệu chứng minh như thế nào thì được chấp nhận Chẳng hạn khi yêu cầu xác minh, người được thi hành án chỉ xuất trình cho CHV một biên bản viết tay có chữ k của người được thi hành án và một người làm chứng có nội dung xác nhận một cơ

Trang 25

quan có thẩm quyền cung cấp kết quả xác minh không thực hiện yêu cầu của người được thi hành án, hoặc người được thi hành án xuất trình cho CHV một băng ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện của người được thi hành án với người có thẩm quyền cung cấp kết quả xác minh và người này đã từ chối cung cấp thông tin Trong những trường hợp như vậy, CHV có xem đó là tài liệu chứng minh hợp pháp để thực hiện việc xác minh theo yêu cầu của người được thi hành án hay không?

Về điểm này, tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009

đã hướng dẫn: việc xác minh tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân được coi là không có kết quả khi người được thi hành án hoặc người được ủy quyền chứng minh đã trực tiếp hoặc yêu cầu bằng văn bản nhưng đã quá thời hạn 1 tháng kể từ ngày yêu cầu nhưng không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không có l do chính đáng Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, kể cả trong trường hợp Nghị định trên đã hướng dẫn như vậy vẫn chưa r ràng để có thể áp dụng một cách thống nhất Chẳng hạn, căn cứ vào điều luật này, có cơ quan thi hành án sẽ yêu cầu người được thi hành

án phải xuất trình giấy tờ hoặc một chứng cứ khác để chứng minh về việc đã có yêu cầu và đã quá một tháng, có cơ quan thi hành án chỉ cần có cam kết của người được thi hành án về việc đã yêu cầu Vì lẽ đó, theo chúng tôi, đối với trường hợp người được thi hành án có đơn yêu cầu xác minh thì chỉ cần người được thi hành án tự cam kết về việc yêu cầu thi hành án là tự nguyện và tự chịu chi phí xác minh Hơn nữa, việc quy định ngh a vụ xác minh thuộc về người được thi hành án là để đạt mục tiêu giảm bớt gánh nặng cho CHV nhưng không có ngh a là lại đặt gánh nặng lên vai người được thi hành án Thực tế thi hành án đã cho thấy, đại đa số các vụ việc thi hành án theo đơn yêu cầu, người được thi hành án có đơn yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án ngay từ thời điểm nộp đơn yêu cầu thi hành án và các cơ quan thi hành án dân sự cũng tiếp nhận đơn

và tiến hành các thủ tục thi hành án, trong đó có thủ tục xác minh mà không yêu cầu đương sự chứng minh về việc đã tiến hành xác minh nhưng không xác minh được

Ngoài ra, để quy định về ngh a vụ xác minh của người được thi hành án thực sự hiệu quả, LTHADS cần quy định cụ thể về ngh a vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan đối với yêu cầu cung cấp kết quả xác minh của người được thi hành án Thực

tế cho thấy, đối với người được thi hành án, việc phải tự mình tiến hành xác minh là không đơn giản Khác với ngh a vụ chứng minh của đương sự được quy định trong BLTTDS, nguyên đơn trong vụ án thường là người hiểu nội tình của sự việc, nắm giữ những chứng cứ để làm căn cứ cho việc khởi kiện, trong thi hành án, ngoại trừ trường hợp thi hành án thừa kế, thi hành án hôn nhân gia đình, một số vụ việc trong thi hành

án kinh doanh thương mại thì giữa người được thi hành án và người phải thi hành án

có mối quan hệ mật thiết với nhau, còn lại, gần như không biết về điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của nhau Hơn nữa, ngay trong khoản 2 Điều 44 LTHADS đã quy định rất r yêu cầu về hình thức của biên bản xác minh đó là phải có xác nhận của Tổ trưởng Tổ dân phố, Ủy ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh Như vậy, r ràng, người được thi hành án không thể tự đảm nhận việc xác minh

Trang 26

mà đòi hỏi phải có sự tham gia, sự hỗ trợ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Trong khi đó, thực tế thi hành án thời gian qua cho thấy, ngay cả đối với bản thân CHV, là người được nhân danh Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ thi hành các bản

án, quyết định dân sự, việc yêu cầu sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong vấn đề xác minh không phải là việc dễ dàng, suôn sẻ Vì lẽ đó, trong LTHADS và văn bản hướng dẫn thi hành cần có quy định về ngh a vụ của các cơ quan,

tổ chức, cá nhân hữu quan trong việc cung cấp kết quả xác minh hoặc ngh a vụ cung cấp xác nhận về việc từ chối cung cấp kết quả xác minh cho người được thi hành án

- Thứ hai: Theo quy định tại khoản 2 Điều 44 LTHADS, việc xác minh phải

được lập thành biên bản, có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh Quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Cách hiểu thứ nhất cho rằng, với quy định tại khoản 2 Điều 44 LTHADS thì trong biên bản xác minh chỉ cần một trong các cơ quan cung cấp thông tin k xác nhận là đủ, chẳng hạn như, nếu xác minh qua Tổ trưởng Tổ dân phố thì chỉ cần xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, nếu xác minh qua cơ quan công an thì chỉ cần xác nhận của công an Cách hiểu thứ hai cho rằng, trong biên bản xác minh cần có đủ chữ k của các cơ quan được nêu trong điều luật Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách thứ hai này thì quá cứng nhắc và có quá nhiều chữ k , con dấu được thể hiện trong biên bản xác minh Thực tế hiện nay, các cơ quan thi hành án vẫn thực hiện theo thói quen cũ, đó là trong trường hợp xác minh tại cơ quan công an thì chỉ cần có xác nhận của cơ quan công an, còn trong trường hợp xác minh qua tổ trưởng tổ dân phố thì thường phải lấy chữ k xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này cần hiểu theo cách hiểu thứ nhất, tức là chỉ cần một trong các cơ quan cung cấp thông tin k xác nhận là biên bản xác minh đã đủ cơ sở pháp l

- Thứ ba: Chi phí cho việc xác minh chưa được quy định r ràng Hướng giải

quyết vướng mắc này là cần nhanh chóng ban hành thông tư hướng dẫn vấn đề

- Công tác xác minh tài sản và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án của CHV trên thực tế gặp nhiều khó khăn Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thấy có 158 kiến cho rằng khó khăn đó là do đương sự cố tình gây ra như cất giấu, tẩu tán tài sản

Có 234 kiến cho rằng, khó khăn đó là do sự thiếu hợp tác của các cá nhân, cơ quan,

tổ chức quản l tài sản, trong đó có 167 kiến, chiếm 57,98%, cho rằng các tổ chức tín dụng, ngân hàng không tạo điều kiện thuận lợi cho CHV xác minh tài sản hay phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án Có 189 kiến, chiếm 65,63%, cho rằng cơ quan bảo hiểm không nghiêm chỉnh, kịp thời thực hiện yêu cầu của CHV về cung cấp thông tin và khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án Theo chúng tôi, sở d có tình trạng trên bởi chúng ta chưa có chế tài cụ thể đối với trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối việc cung cấp thông tin Trong hệ thống ngân hàng, có những

ngân hàng đến nay vẫn lấy l do “trách nhiệm phải bảo mật thông tin của khách

hàng” nên từ chối cung cấp thông tin cho khách hàng, trong khi Luật các tổ chức tín

Trang 27

dụng và Nghị định hướng dẫn thi hành, Luật Ngân hàng và LTHADS đã quy định cụ thể những trường hợp phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của người có thẩm quyền, trong đó có CHV cơ quan thi hành án dân sự Nhiều tổ chức thì lại thể hiện thái độ không biết, không cung cấp thông tin bằng cách im lặng, không trả lời những thông tin đương sự yêu cầu Điều này làm cho đương sự phải đi lại nhiều lần, g cửa nhiều lần nhưng không có kết quả Từ thực trạng trên, hướng giải quyết là cần phải nhanh chóng hiện đại hóa và minh bạch hóa hệ thống đăng k , quản l tài sản trong phạm vi toàn quốc để tiện lợi cho việc tra cứu, tìm kiếm thông tin về việc thi hành án Đồng thời, cần quy định r ràng hơn nữa về cơ chế xử l trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân hay người đứng đầu của cơ quan, tổ chức khi không hợp tác, gây khó khăn cho người yêu cầu thi hành án tìm kiếm thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án

3.2.2 Về thủ tục ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả lại đơn yêu cầu thi hành án dân sự

3.2.2.1 Những điểm mới

 Về quyết định hoãn thi hành án dân sự:

- Thứ nhất: LTHADS đã sửa đổi các quy định về căn cứ hoãn thi hành án dân

sự, cụ thể là:

+ Khắc phục tình trạng điểm a khoản 1 Điều 26 PLTHADS không quy định cụ thể cơ sở để xác định người phải thi hành án ốm nặng dẫn đến việc xác định không thống nhất về việc người thi hành án ốm nặng để ra quyết định thi hành án, điểm a khoản 1 Điều 48 LTHADS đã quy định cụ thể cơ sở để xác định người phải thi hành

án ốm nặng là phải có xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên

+ Quy định mới tại điểm b khoản 1 Điều 48 LTHADS: Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp người được thi hành án đồng cho người phải thi hành án hoãn thi hành án, việc đồng hoãn phải lập thành văn bản ghi r thời hạn hoãn, có chữ k của các bên và trong thời gian hoãn thi hành án do

có sự đồng của người được thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án Quy định này đã khắc phục được hạn chế của PLTHADS trước đây là không quy định r hình thức ghi nhận sự đồng hoãn thi hành án của người được thi hành án

+ Trước đây, khoản 2 Điều 26 PLTHADS năm 2004 quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp khi thủ trưởng cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền thì bản án, quyết định đã thi hành được một phần hoặc cơ quan thi hành án đã ra quyết định cưỡng chế và lúc này thì thủ trưởng cơ quan thi hành án không thể ra quyết định hoãn thi hành án được Do đó, để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thi hành án cũng như tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án khi quyết định hoãn thi hành án thì khoản 2

Trang 28

Điều 48 LTHADS quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi

hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị

ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết

- Thứ hai: LTHADS bổ sung căn cứ hoãn thi hành án và thời hạn ra quyết định

hoãn thi hành án

Theo quy định tại các điều 284, 306, 382 BLTTDS và khoản 5, 6 Điều 16 PLTHADS năm 2004 thì đương sự, thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa r trong bản án, quyết định đó để thi hành, có quyền kiến nghị với những người có thẩm quyền xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, trong thời gian chờ Tòa án giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị thì việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải bị dừng lại nhưng PLTHADS năm 2004 lại không quy định đây là căn cứ hoãn thi hành án Để khắc phục hạn chế này của PLTHADS năm 2004, điểm đ khoản 1 Điều 48 LTHADS quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 179 LTHADS

PLTHADS năm 2004 không có quy định trong thời hạn bao lâu kể từ khi có căn

cứ hoãn thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi hành án Việc không quy định cụ thể thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án sẽ kéo dài thời hạn thi hành án đồng thời gây khó khăn, không bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án hoặc người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành án Vì vậy, để bổ sung hạn chế này của PLTHADS năm 2004 cũng như nâng cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án trong việc ra quyết định hoãn thi hành án, khoản 3 Điều 48 LTHADS quy định thời hạn ra quyết định hoãn thi hành

án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 48 LTHADS Trường hợp hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị thì thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền

Về quyết định tạm đình chỉ thi hành án dân sự

- Thứ nhất: LTHADS sửa đổi quy định về căn cứ tạm đình chỉ thi hành án, căn

cứ ra quyết định tiếp tục thi hành án và thời hạn tạm đình chỉ thi hành án khi người có thẩm quyền đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 PLTHADS và khoản 1 Điều 15 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính Phủ, thì việc thi hành án bị tạm

Trang 29

đình chỉ trong trường hợp người phải thi hành án bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 27 Luật phá sản thì việc thi hành án đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản phải tạm đình chỉ ngay khi Tòa án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Như vậy, đã có sự không thống nhất giữa quy định của PLTHADS năm 2004

và Luật phá sản về căn cứ tạm đình chỉ thi hành án Điều này đã gây khó khăn cho cơ quan thi hành án khi ra quyết định tạm đình chỉ Để giải quyết vướng mắc này, khoản

2 Điều 49 LTHADS đã quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Tòa án về việc đã thụ lí đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án Việc LTHADS quy định như vậy là

hoàn toàn hợp l bởi lẽ thứ nhất, nó tạo nên sự phù hợp giữa LTHADS và Luật phá sản Thứ hai, việc người phải thi hành án bị toà án thụ l đơn yêu cầu mở thủ tục phá

sản dẫn đến việc thi hành án chỉ tạm thời bị dừng lại, chứ không phải ngừng hẳn và chấm dứt vì theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật phá sản trong thời hạn 30 ngày kể

từ ngày toà án thụ l đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, toà án phải xem xét các điều kiện để ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản Khi toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản thì việc thi hành án lại được tiếp tục Do đó, khi Tòa án thụ

lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì việc thi hành án bị tạm đình chỉ

+ Khoản 2 Điều 27 PLTHADS năm 2004 quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án khi nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 297 và Điều 309 BLTTDS thì quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án chỉ có thể là giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Trong đó, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị Tòa án hủy là căn cứ để đình chỉ thi hành án Như vậy, theo PLTHADS năm 2004 thì quyết định của Tòa án hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có trường hợp là căn cứ để thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, có trường hợp là căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án Để giải quyết cụ thể vấn đề này, điểm b khoản 3 LTHADS

năm 2008 quy định r thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi

hành án khi nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản

án, quyết định bị kháng nghị

+ Trước đây, khoản 2 Điều 27 PLTHADS năm 2004 quy định thời hạn tạm

đình chỉ khi người có thẩm quyền đã kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là 6 tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm chỉ thi hành án Tuy nhiên, quy định này mâu thuẫn với thời hạn mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại Điều 293, Điều 302, Điều 310 BLTTDS Theo Điều 293 BLTTDS thì thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là 4 tháng kể từ ngày nhận kháng nghị Điều 302 BLTTDS quy định quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực pháp luật ngay, trong khi đó khoản 2 Điều 27 PLTHADS năm 2004 lại quy định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án là 6 tháng kể từ ngày ra quyết định kháng nghị Như vậy, khi đã có quyết

Trang 30

định giám đốc thẩm rồi mà vẫn còn tạm đình chỉ bản án, quyết định bị kháng nghị là không hợp l Do đó, LTHADS năm 2008 đã quy định thời hạn tạm đình chỉ trong trường hợp này căn cứ vào thời hạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của BLTTDS Và trong thời gian tạm đình chỉ do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án

- Thứ hai: LTHADS bổ sung quy định về thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án và căn cứ ra quyết định tiếp tục thi hành án

+ Khoản 2 Điều 49 LTHADS quy định trong trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tạm đình chỉ khi nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ

lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án thì thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ là 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án Việc quy định cụ thể thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ của LTHADS đã khắc phục được tình trạng chậm ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án cũng như bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan trong thi hành án

+ LTHADS bổ sung quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án khi người được thi hành án chết mà không có người thừa kế (Điểm b khoản 1 Điều 50 LTHADS)

+ Trước đây PLTHADS năm 2004 không quy định thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án Điều này dẫn đến việc tùy tiện trong khi ra quyết định đình chỉ thi hành án Do đó, để khắc phục hạn chế này của PLTHADS năm 2004, khoản 2 Điều 50 LTHADS quy định thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể

từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án

- Thứ hai: LTHADS sửa đổi một số căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự

+ Trước đây, khoản 5 Điều 28 PLTHADS năm 2004 quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án khi người phải thi hành án bị Tòa án tuyên bố phá sản Tuy nhiên, khoản 1 Điều 57 Luật phá sản quy định kể từ ngày Toà án

ra quyết định mở thủ tục phá sản, việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành án phải được đình chỉ Vì vậy, để tạo nên sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật cũng như tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án khi ra quyết định đình chỉ thi hành án, điểm g khoản 1 Điều 50 LTHADS năm 2008 quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án

+ Điểm c khoản 1 Điều 50 LTHADS quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án

Trang 31

ra quyết định đình chỉ thi hành án khi đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba Quy định này của LTHADS nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba, ngăn chặn người được thi hành án trốn tránh thực hiện ngh a vụ đối với thứ ba, đồng thời khắc phục được hạn chế của PLTHADS trước đây là không chỉ r trường hợp nào thì người được thi hành án không được yêu cầu chấm dứt việc thi hành án

- Thứ ba: LTHADS bỏ quy định “thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết” là căn

cứ đình chỉ thi hành án dân sự

Trước đây, theo PLTHADS năm 2004 thì thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết là căn cứ để đình chỉ thi hành án Đây là trường hợp, khi ra quyết định thi hành án cơ quan thi hành án không phát hiện ra thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết và sau khi ra quyết định thi hành án rồi mới phát hiện ra căn cứ này nên phải chấm dứt việc thi hành

án Như vậy, việc ra quyết định thi hành án trong trường hợp khi thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết là không đúng và do lỗi của người ra quyết định thi hành án nên phải thu hồi lại quyết định thi hành án đã ban hành Vì vậy, LTHADS bỏ quy định “thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết” là căn cứ đình chỉ thi hành án dân sự và quy định trong trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành án mà thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết thì cơ quan thi hành án từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án Trường hợp đã ra quyết định thi hành án mà thời hiệu yêu cầu thi hành án

đã hết thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án đã ban hành Người có lỗi trong việc ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều 5 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009)

Về trả lại đơn yêu cầu thi hành án dân sự

- Trước đây, Điều 29 PLTHADS năm 2004 quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc có căn cứ xác định người phải thi hành án không có tài sản để thi hành

án Tuy nhiên, khi đã có quyết định đình chỉ thi hành án thì hoạt động thi hành án sẽ đương nhiên chấm dứt và đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án nữa nên không nhất thiết phải trả lại đơn yêu cầu thi hành án Thực chất việc quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án chỉ làm phức tạp thêm quá trình thi hành án chứ không có tác dụng đối với việc thi hành án Vì vậy, LTHADS năm 2008 đã bỏ căn cứ này ra khỏi những trường hợp thủ trưởng cơ quan thi hành án trả lại đơn yêu cầu thi hành án

- PLTHADS năm 2004 quy định trả lại đơn yêu cầu thi hành án do người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án là chưa đầy đủ bởi việc thi hành các bản

án, quyết định của Tòa án trong đó có việc buộc người phải thi hành án thi hành ngh a

vụ trả tiền, thi hành ngh a vụ giao vật, giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất, ngh a vụ buộc làm hoặc không được làm công việc nhất đinh Khắc phục hạn chế này, khoản 1

Trang 32

Điều 51 LTHADS năm 2008 đã bổ sung thêm các căn cứ để trả lại đơn yêu cầu, đó là: người phải thi hành án có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử l

để thi hành án; Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và gia đình; Tài sản kê biên

không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án; Người phải thi

hành án phải thi hành ngh a vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc

hư hỏng đến mức không thể sử dụng được mà đương sự không có thoả thuận khác

Về việc tiếp tục thi hành án dân sự

Theo quy định Luật phá sản thì sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì Tòa án cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phục hồi kinh doanh Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi được hoạt động kinh doanh thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và sau khi có quyết định này thì việc thi hành án dân sự lại được tiếp tục (khoản 2 Điều 77 Luật phá sản) Việc tiếp tục thi hành án trong trường hợp này nếu như trước đây chưa được quy định trong PLTHADS năm 2004 thì hiện nay đã được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 49 LTHADS Đó là, thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án khi nhận được quyết định của Toà án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Việc quy định này tạo nên sự thống nhất giữa LTHADS và Luật phá sản đồng thời thủ trưởng cơ quan thi hành án có cơ sở pháp lí để ra quyết định tiếp tục thi hành án

3.2.2.2 Những nội dung cần hoàn thiện

Mặc dù LTHADS đã thể hiện những điểm mới nhất định về việc ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc trả lại đơn yêu cầu thi hành án dân sự nhưng cũng từ những điểm mới này đã nảy sinh một số vấn đề cần được bàn luận, giải quyết cho hợp

l hơn với thực tiễn thi hành án dân sự

○ Thứ nhất: LTHADS quy định về các căn cứ hoãn và tạm đình chỉ thi hành án

dân sự chưa phù hợp với bản chất, đặc điểm của hoãn và tạm đình chỉ thi hành án

- Hoãn thi hành án khác với tạm đình chỉ thi hành án ở chỗ hoãn thi hành án là việc cơ quan thi hành án quyết định chưa cho thi hành bản án, quyết định dân sự, trong trường hợp này cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa tổ chức cưỡng chế thi hành án và chưa thi hành được khoản nào, còn tạm đình chỉ thi hành án

là việc cơ quan thi hành án tạm thời cho dừng việc thi hành án, bản án, quyết định dân

sự trong trường hợp này đang được cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án Do đó, hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án chỉ khác nhau ở thời điểm cho thi hành bản án, quyết định dân sự Cùng là một căn cứ pháp lí nhưng nếu xuất hiện ở thời điểm

cơ quan thi hành án chưa thi hành án, chưa tổ chức việc cưỡng chế thi hành án thì cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi hành án, còn nếu xuất hiện ở thời điểm thì cơ quan thi hành án ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án Điều này đã được quy định tại

Trang 33

khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 25 PLTHADS năm 1993 và chúng tôi cho rằng quy định này là hoàn toàn phù hợp với bản chất, đặc điểm của hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án Tuy nhiên LTHADS đã không tiếp tục kế thừa những quy định

này của PLTHADS năm 1993 Vì vậy, chúng tôi kiến nghị nên bổ sung vào Điều 49

LTHADS các căn cứ quy định tại điểm a, b, đ khoản 1 Điều 48 LTHADS

- Theo điểm c khoản 1 Điều 48 LTHADS thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không

đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được

kê biên Như vậy, khi người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án thì việc

thi hành án phải tạm thời ngừng lại và khi nào người phải thi hành án có tài sản để thi hành án thì việc thi hành án lại được tiếp tục Vậy tại sao không quy định đây là căn cứ tạm đình chỉ thi hành án mà lại quy định là căn cứ hoãn thi hành án Theo điểm d khoản 1 Điều 48 LTHADS thì việc hoãn thi hành án trong trường hợp có tài sản kê biên có tranh chấp đã được toà án thụ lí để giải quyết Tuy nhiên, đây cũng không phải

là căn cứ của hoãn thi hành án vì như phân tích ở trên hoãn thi hành án chỉ trong trường hợp bản án, quyết định dân sự chưa được đưa ra thi hành, cơ quan thi hành án

đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa tổ chức cưỡng chế thi hành án và chưa thi hành được khoản nào còn đây là trường hợp cơ quan thi hành án đang cho thi hành bản

án, quyết định dân sự và khi tiến hành kê biên tài sản thì gặp phải sự tranh chấp về tài sản kê biên đã được toà án thụ lí, giải quyết dẫn đến việc thi hành án phải tạm thời

ngừng lại Do đó, cần phải chuyển căn cứ ở điểm c, d khoản 1 Điều 48 LTHADS sang

Điều 49 LTHADS

○ Thứ hai: Khoản 3 Điều 49 LTHADS quy định có 3 trường hợp thủ trưởng cơ

quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án là chưa đầy đủ Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản Điều này có ngh a, doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn hoạt động kinh doanh bình thường và việc thực hiện ngh a vụ về tài sản theo bản án, quyết định đang bị tạm đình chỉ sẽ lại được tiếp tục

Do đó, theo chúng tôi, khoản 3 Điều 49 LTHADS cần bổ sung căn cứ: “Tòa án ra

quyết định không mở thủ tục phá sản”

○ Thứ ba là về đình chỉ thi hành án

- Theo điểm b khoản 1 Điều 50 LTHADS, khi người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của họ theo bản án, quyết định là quyền và lợi ích về tài sản nhưng không có người thừa kế thì thủ trưởng cơ quan thi hành án cũng ra quyết định đình chỉ thi hành án Theo chúng tôi, quy định này là chưa hợp l Điều 644 Bộ luật Dân sự quy

định: “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có

nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước” Như

vậy, nếu không có người thừa kế mà cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi

Trang 34

hành án sẽ không đảm bảo lợi ích của Nhà nước Do đó, khi người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của họ theo bản án, quyết định là quyền và lợi ích về tài sản nhưng không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản thì cơ quan thi hành án không ra quyết định đình chỉ thi hành án

mà vẫn tiếp tục thi hành án và đại diện của Nhà nước được nhận tài sản của người được thi hành án sẽ tiếp tục tham gia vào quá trình thi hành án thay cho người được thi

hành án Vì vậy, theo chúng tôi điểm b khoản 1 Điều 50 LTHADS nên bỏ: “hoặc

không có người thừa kế”

- Điểm g khoản 1 Điều 50 LTHADS và khoản 1 Điều 57 Luật phá sản quy định thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án là chưa thật sự hợp lí, chưa phù hợp với bản chất của đình chỉ thi hành án Bởi theo quy định của Luật phá sản sau khi toà án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ phải tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi được hoạt động kinh doanh thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và sau khi có quyết định này thì việc thi hành án dân sự lại được tiếp tục Nếu doanh nghiệp, hợp tác

xã không phục hồi được hoạt động kinh doanh và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh l tài sản Như vậy, về bản chất cho đến khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh l tài sản thì lúc đó việc thi hành án dân sự về tài sản mới bị dừng hẳn lại và những vấn đề liên quan đến tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mới chính thức được giải quyết theo thủ tục phá sản Còn khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì việc thi hành án dân

sự về tài sản chưa dừng lại hẳn mà chỉ là tạm thời dừng lại, nó có thể vẫn được tiếp tục thi hành khi Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Do

đó, theo chúng tôi điểm g khoản 1 Điều 50 LTHADS và khoản 1 Điều 57 Luật phá sản năm 2005 nên quy định theo hướng: Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định

đình chỉ thi hành án khi: “đã có quyết định của Toà án mở thủ tục thanh lí tài sản đối

với doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án”

- LTHADS chưa quy định về hậu quả pháp lí của việc đình chỉ thi hành án Khi

cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án thì hoạt động thi hành án cũng đương nhiên chấm dứt, bản án, quyết định sẽ không được đưa ra thi hành nữa, các bên đương sự cũng chấm dứt mọi quyền và ngh a vụ của họ đã tuyên trong bản án, quyết định kể cả ngh a vụ đối với Nhà nước Khi có quyết định đình chỉ thi hành án thì đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án nữa Do đó, theo chúng tôi Điều 50 LTHADS nên bổ sung quy định về hậu quả pháp lí của việc đình chỉ thi hành án như

sau: “1 Khi có quyết định đình chỉ thi hành án thì đương sự không có quyền yêu cầu

thi hành án nữa trừ trường hợp được quy định tại khoản 5 Điều 28 Pháp lệnh này và các trường hợp pháp luật có quy định khác 2 Khi có quyết định đình chỉ thi hành án,

cơ quan thi hành án xoá tên việc thi hành án trong sổ thụ lí việc thi hành án dân sự 3

Trang 35

Trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì khoản lệ phí mà người được thi hành án đã nộp được sung vào công quỹ Nhà nước”

3.3 Về t ủ tụ bảo đảm v ƣỡn ế t n n

3.3.1 Những điểm mới về thủ tục bảo đảm và cưỡng chế thi hành án

○ Về biện pháp bảo đảm thi hành án

- Thứ nhất: LTHADS 2008 đã có những quy định theo hướng phân biệt giữa

biện pháp bảo đảm thi hành và biện pháp cưỡng chế thi hành án, theo đó, các biện pháp bảo đảm thi hành án được quy định tại Mục 1, biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định từ mục từ 2 đến mục 10 của chương IV LTHADS Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng k , chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản Các quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự trong LTHADS là những vấn đề rất mới, là sự thay đổi trong quan niệm lập pháp về thi hành án dân sự Nghiên cứu các quy định về thi hành án dân

sự trong PLTHADS 2004 cho thấy Pháp lệnh này không có sự phân biệt giữa biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án Theo quan niệm của các nhà lập pháp khi xây dựng LTHADS, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp

l mà CHV áp dụng đối với tài sản của người phải thi hành án, được tiến hành trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhằm bảo đảm hiệu quả của việc thi hành án dân sự Khi tổ chức việc thi hành án dân sự, nếu xét thấy cần phải ngăn

chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án dân sự, CHV có thể tự

mình hoặc theo yêu cầu của đương sự quyết định áp dụng các biện pháp bảo đảm thi

hành án dân sự cần thiết Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án

dân sự có thể nhằm thi hành các quyết định trước đó của Toà án về việc áp dụng biện

pháp khẩn cấp tạm thời

Trong LTHADS, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự khác với các biện pháp cưỡng chế thi hành án ở những điểm sau:

+ Về mục đích áp dụng: Biện pháp bảo đảm thi hành án được áp dụng nhằm

ngăn chặn hành vi tẩu tán, định đoạt tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án Các biện pháp bảo đảm thi hành án cũng nhằm bảo toàn tình trạng tài sản, đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thi hành ngh a vụ theo bản án, quyết định của toà án Còn biện pháp cưỡng chế thi hành án được áp dụng nhằm mục đích đảm bảo việc thực hiện ngh a vụ của người phải thi hành án đã được ấn định trong bản án, quyết định của toà án Biện pháp cưỡng chế thi hành án đảm bảo bản án, quyết định của toà án được thực hiện trên thực tế, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của người phải thi hành án Bên cạnh đó, biện pháp cưỡng chế thi hành án cũng có thể được áp dụng nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản Nhưng đây chỉ là mục đích “phụ” của biện pháp cưỡng chế thi hành án

+ Về thời điểm áp dụng: Biện pháp bảo đảm thi hành án thường được tiến hành

trước, khi người phải thi hành án có dấu hiệu tẩu tán, định đoạt tài sản, trốn tránh việc

Trang 36

thi hành án nhằm bảo đảm hiệu quả của việc thi hành án dân sự Còn biện pháp cưỡng chế thi hành án thường được áp dụng sau khi đã áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án

mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành mặc dù có điều kiện thi hành

+ Về mối liên hệ giữa biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự: Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là tiền đề, cơ sở

cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án sau này Chẳng hạn, phong toả tài khoản là tiền đề cho việc thực hiện biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; tạm giữ giấy tờ, tài sản là tiền đề cho việc thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên, xử l tài sản, cưỡng chế trả vật, trả giấy tờ; tạm dừng việc đăng k , chuyển dịch, thay đổi hiện trạng

về tài sản là tiền đề cho việc thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên, cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất

- Thứ hai: Về các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cụ thể có thể được áp dụng + Về biện pháp phong tỏa tài khoản

Về bản chất thì biện pháp phong toả tài khoản là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được CHV áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành ngh a vụ trả tiền và họ có tiền gửi trong tài khoản tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng Với góc nhìn này, biện pháp bảo đảm này không thể áp dụng đối với việc thi hành ngh a vụ phải làm một công việc

Biện pháp phong toả tài khoản nhằm cô lập, đặt tài khoản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong toả, không thể sử dụng được, ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản Thông thường, biện pháp bảo đảm này có thể được chuyển đổi thành biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án để

thi hành án ngh a vụ trả tiền của người phải thi hành án

Điều 67 LTHADS đã có quy định cụ thể về điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp phong toả tài khoản Cụ thể là việc phong toả tài khoản được thực hiện trong trường hợp cần ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của người phải thi hành án Khi tiến hành phong toả tài khoản, CHV phải giao quyết định phong toả tài khoản cho cơ quan, tổ chức đang quản l tài khoản của người phải thi hành án Cơ quan, tổ chức đang quản l tài khoản phải thực hiện ngay quyết định của CHV về phong toả tài khoản Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, CHV phải áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án

Tiếp theo đó, thủ tục áp dụng biện pháp phong toả đã được quy định rất cụ thể

và chi tiết tại Điều 11 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 như việc xác định số tiền bị phong toả, người được giao nhận quyết định phong toả, lập biên bản về việc chuyển giao quyết định, trách nhiệm của kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác đang quản l tài khoản của người phải thi hành án, trách nhiệm của CHV về bảo mật những thông tin về tài khoản của người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp phong toả

+ Về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Trang 37

Bản chất và điều kiện áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự thể hiện khá r tại Điều 68 LTHADS Điều 68 LTHADS có quy định về hai biện pháp

bảo đảm cụ thể, tuỳ theo trường hợp mà CHV có thể áp dụng một cách độc lập hoặc

đồng thời áp dụng để đảm bảo hiệu quả của việc thi hành án dân sự Tạm giữ tài sản

của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án được tiến hành trên các động sản mà

người phải thi hành án đang quản l , sử dụng, đặt những động sản này trong tình trạng

bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án

Tài sản bị tạm giữ sau đó sẽ được bán đấu giá nếu xác định được thuộc sở hữu của người phải thi hành án và họ không tự nguyện thi hành án Ngoài ra, biện pháp tạm giữ tài sản có thể được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành ngh a vụ trả vật Trong trường hợp này biện pháp tạm giữ tài sản là tiền đề cho việc cưỡng chế trả đồ vật cho người được thi hành án

Tạm giữ giấy tờ của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án được tiến hành

trên các động sản phải đăng k quyền sở hữu, giấy tờ có giá hoặc bất động sản thông qua việc tạm giữ các giấy tờ liên quan đến động sản, bất động sản mà người phải thi

hành án đang quản lý, sử dụng Biện pháp tạm giữ giấy tờ mà người phải thi hành án

đang quản l , sử dụng là tiền đề, cơ sở cho việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá (Điều 82), kê biên quyền sở hữu trí tuệ (Điều 84), kê biên phương tiện

giao thông (Điều 96), cưỡng chế trả giấy tờ (Điều 116) nếu xác định được các tài sản,

giấy tờ bị tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án Như vậy, biện pháp tạm

giữ giấy tờ của đương sự có thể được tiến hành trên các động sản phải đăng k quyền

sở hữu của người phải thi hành án Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả của việc thi hành

án nếu xét thấy cần thiết thì bên cạnh việc tạm giữ giấy tờ, CHV cần đồng thời tạm giữ

cả tài sản mà người phải thi hành án đang quản l , sử dụng

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ranh giới giữa tạm giữ tài sản, giấy tờ

mà người phải thi hành án đang quản l , sử dụng với tư cách là một biện pháp bảo đảm thi hành án và thu giữ tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án khi thực hiện việc cưỡng chế thi hành án dân sự là chưa thật sự r ràng Xét theo logic của vấn đề, tạm giữ tài sản, giấy tờ chỉ là một biện pháp bảo toàn mang tính tạm thời được áp dụng đối với tài sản, giấy tờ mà người phải thi hành án đang quản l , sử dụng khi chưa có căn cứ để khẳng định một cách chắc chắn là tài sản, giấy tờ đó thuộc sở hữu của người

phải thi hành án Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ này sẽ được chuyển đổi thành biện pháp thu giữ tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án khi có căn cứ khẳng định các

tài sản, giấy tờ bị tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án Trong trường hợp

có căn cứ để khẳng định ngay tài sản, giấy tờ mà người phải thi hành án hoặc người thứ ba đang giữ là thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì CHV không tiến hành biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ mà sẽ tiến hành thu giữ tài sản, giấy tờ để cưỡng chế thi hành án

Theo quy định tại Điều 68 LTHADS thì CHV đang thực hiện nhiệm vụ thi hành

Trang 38

án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản l , sử dụng Việc tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ k của CHV và đương sự Trường hợp đương sự không k thì phải có chữ

k của người làm chứng Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho đương

sự Ngoài ra, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 58/2009/NĐ-CP thì biên bản này phải ghi r tên người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ; loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ; số lượng, khối lượng, kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ Nếu tài sản tạm giữ là tiền mặt thì phải ghi r số lượng tờ, mệnh giá các loại tiền, nếu là ngoại tệ thì phải ghi là tiền nước nào và trong trường hợp cần thiết còn phải ghi

cả số sê ri trên tiền Trường hợp tài sản tạm giữ là kim khí qu , đá qu phải niêm phong trước mặt người bị tạm giữ tài sản hoặc thân nhân của họ Nếu người bị tạm giữ giấy tờ, tài sản hoặc nhân thân của họ không đồng chứng kiến việc niêm phong thì phải có mặt của người làm chứng Trên niêm phong phải ghi r loại tài sản, số lượng, khối lượng và các đặc điểm khác của tài sản đã niêm phong, có chữ k của CHV, người bị tạm giữ hoặc thân nhân của họ hoặc người làm chứng Việc niêm phong phải ghi vào biên bản tạm giữ tài sản Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ, CHV sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu xác định được tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án hoặc trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án Việc trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ phải lập biên bản, có chữ k của các bên

+ Về biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Ngoài biện pháp phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ mà người phải thi hành án đang quản l , sử dụng thì biện pháp bảo đảm thi hành án cũng có thể được tiến hành trên các động sản, bất động sản của người phải thi hành án thông qua việc quyết định tạm dừng việc đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi của người phải thi hành án như chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay đổi hiện trạng tài sản Biện pháp bảo đảm này được áp dụng đối với các động sản phải đăng k quyền sở hữu hoặc bất động sản của người phải thi hành án và là tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án như kê biên, xử l tài sản (quyền sở hữu trí tuệ, động sản, bất động sản) của người phải thi hành án; cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất

Theo quy định tại Điều 69 LTHADS và Điều 10 Nghị định 58/2009/NĐ-CP thì trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu,

sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, CHV ra quyết định tạm dừng việc đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án và gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó

Trang 39

Kể từ thời điểm nhận được quyết định về việc tạm dừng đăng k , chuyển quyền

sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, cơ quan đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không được thực hiện việc đăng

k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng hoặc thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định của CHV về việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng việc đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản Đối với tài sản được đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng sau thời điểm này thì CHV có quyền xử l để thi hành án theo quy định của pháp luật, nếu có tranh chấp thì hướng dẫn các bên khởi kiện để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Trong thời hạn

15 ngày, kể từ ngày ra quyết định, CHV thực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng việc đăng k , chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

○ Về biện pháp cưỡng chế thi hành án

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định trong PLTHADS 2004

được xây dựng dựa trên tính chất của loại biện pháp cưỡng chế thi hành án và có những bước phát triển mới cho phù hợp Qua nghiên cứu các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong LTHADS cho thấy có nhiều điểm mới, nhiều quy định trước đây về cưỡng chế thi hành án dân sự đã được cụ thể, chi tiết hơn hoặc được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn Cụ thể là :

- LTHADS đã có quy định cụ thể về việc cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung và xử l đối với tài sản cưỡng chế có tranh chấp (Điều 74, 75);

- Biện pháp khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án theo PLTHADS 2004 trước đây hiện nay đã được LTHADS cụ thể hoá thành các biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản (Điều 76); thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án (Điều 79), thu tiền của người phải thi hành án đang giữ (Điều 80); thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 81) và thu giữ giấy tờ có giá (Điều 82, Điều 83)

- Biện pháp kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp mới được bổ sung vào LTHADS (từ Điều 84 đến 86)

- Kê biên, xử l tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ trước đây đã được LTHADS cụ thể hoá thành nhiều biện pháp kê biên khác nhau như kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng k quyền sở hữu hoặc đăng k giao dịch bảo đảm (Điều 89); kê biên vốn góp (Điều 92); kê biên đồ vật bị khoá, đóng gói (Điều 93); kê biên tài sản gắn liền với đất (Điều 94); kê biên nhà ở (Điều 95); kê biên phương tiện giao thông (Điều 96); kê biên hoa lợi (Điều 97)

- Biện pháp phong toả tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nước theo quy định tại Điều 37 và Điều 39 PLTHADS 2004 trước đây không được coi là một biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nữa mà được xác định là một biện pháp bảo đảm thi hành án

Trang 40

- Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành án mới được quy định bổ sung trong các Điều từ Điều 107 tới Điều 109 Đây là một điểm mới quan trọng trong pháp LTHADS ở nước ta, cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay

- LTHADS đã có quy định cụ thể hơn về biện pháp kê biên quyền sử dụng đất cũng như việc tạm giao quản l , khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên; phương án

xử l tài sản gắn liền với đất đã kê biên (Điều 110 đến Điều 113)

- LTHADS đã có quy định bổ sung về biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ đồng thời

cụ thể hoá hơn về biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà, giao quyền sử dụng đất, đặc biệt là việc xử l tài sản gắn liền với đất được chuyển giao (Điều 114 đến Điều 117)

Nghiên cứu cụ thể hơn, một số nội dung của LTHADS về các biện pháp cưỡng chế thi hành án đã thể hiện những điểm mới, đó là :

+ Về việc cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung và xử lý đối với tài sản cưỡng chế có tranh chấp:

Điều 74 LTHADS đã quy định rất cụ thể về quyền khởi kiện yêu cầu xác định

quyền sở hữu trong khối tài sản chung, quyền của CHV trong việc xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án

Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì CHV xác định phần

sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết

Khi cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người

khác thì CHV tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi

kiện tại toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết Khoản 1 Điều 75 LTHADS đã xác định r chủ thể tranh chấp là người phải thi hành án với “người khác” tức là những người trực tiếp liên quan đến tài sản kê biên có tranh chấp Đây là điểm mới của LTHADS 2008 nhằm khắc phục tình trạng quy định chung chung tại Khoản 5 Điều 15 PLTHA 2004 trước đây “nếu có tranh chấp thì CHV vẫn tiến hành kê biên và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự”

Ngoài ra, thời gian để đương sự, người có tranh chấp khởi kiện ra Toà án là 30 ngày, kể từ ngày CHV yêu cầu nếu không khởi kiện thì tài sản được xử l đề thi hành

So với quy định của PLTHADS 2004 thì thời hạn này được rút ngắn thay vì thời hạn 3 tháng như trước đây Quy định này thể hiện sự tiến bộ của LTHADS 2008 nhằm khắc phục tình trạng trì hoãn hoặc không khởi kiện dẫn tới thời gian thi hành án bị kéo dài

+ Có sự cụ thể hoá biện pháp khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ

có giá của người phải thi hành án thành các biện pháp riêng biệt:

Trước đây, biện pháp khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án được quy định tại Điều 39 PLTHADS 2004 Nay theo LTHADS thì biện pháp này đã được cụ thể hoá thành các biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản (Điều 76); thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án (Điều 79), thu

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w