1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) năm 2014

79 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 773,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sự tham gia của Nhà nước vào hoạt động bảo hiểm xã hội: đối với bảo hiểm thương mại, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động bảo hiểm thương mại chỉ có giới hạn nhất định và đương nhiê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU HÀ MI

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

(SỬA ĐỔI) NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU HÀ MI

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

(SỬA ĐỔI) NĂM 2014

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đào Thị Hằng

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Pháp luật

dân sự, tổ bộ môn Luật Lao động đã giúp đỡ và cung cấp cho em những

kiến thức bổ ích về pháp luật lao động để em có nền tảng thực hiện luận

văn thạc sỹ này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo

– PGS.TS Đào Thị Hằng đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận

văn thạc sỹ

Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2015

Học viên

Chu Hà Mi

Trang 4

nghiên cứu Mọi ý kiến, khái niệm, kết luận, và mọi tham khảo khác được sử dụng trong bài viết mà không phải của riêng tác giả luận văn đều được chú thích và trích dẫn nguồn đầy đủ Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU……… ………1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014………5

1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội 5

1.1.1 Định nghĩa Bảo hiểm xã hội 5

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội 8

1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm xã hội 11

1.2 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội 13

Kết luận chương 1 17

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 ……… ………19

2.1 Chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 19

2.1.1 Về đối tượng tham gia BHXH 19

2.1.2 Chế độ ốm đau 21

2.1.3 Chế độ thai sản 23

2.1.4 Chế độ hưu trí 26

2.1.5 Chế độ tử tuất 35

2.2 Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện 40

2.2.1 Chế độ hưu trí 40

2.2.2 Chế độ tử tuất 42

2.3 Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp 42

2.4 Vấn đề bảo hiểm hưu trí bổ sung 45

2.5 Quỹ bảo hiểm xã hội 46

2.6 Xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội 50

Kết luận chương 2 53

Trang 6

3.1 Yêu cầu cơ bản cần đảm bảo để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật

bảo hiểm xã hội năm 2014 56

3.1.1 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 phải khắc phục được những nhược điểm, bất cập của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành 56

3.1.2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 phải đồng bộ với các văn bản pháp luật khác có liên quan 56

3.1.3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 phải có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn cuộc sống 57

3.1.4 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 phải được tuyên truyền, giải thích, phổ biến rộng rãi đến các bộ phận người lao động 58

3.2 Một số kiến nghị cụ thể 59

3.2.1 Bổ sung một số quy định về chế độ tai nạn, bệnh nghề nghiệp 59

3.2.2 Sửa đổi Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về bảo hiểm xã hội một lần 61

3.2.3 Hình sự hoá các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội 63

3.2.4 Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội 65

Kết luận chương 3 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

NSDLĐ : Người sử dụng lao động

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đối với bất kỳ quốc gia nào, BHXH luôn là trụ cột quan trọng nhất của hệ thống An sinh xã hội Tại Việt Nam, trải qua một quá trình lịch sử, cùng với thay đổi qua những thời kỳ khác nhau, chính sách BHXH đã góp phần to lớn vào việc

ổn định đời sống cho người lao động thụ hưởng các chế độ BHXH; góp phần ổn định chính trị - xã hội đất nước Luật BHXH năm 2006 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế

độ, chính sách BHXH, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách BHXH phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế Chính sách BHXH đã phát huy tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều kiện để mọi người lao động đều có thể tham gia vào hệ thống BHXH với việc bổ sung thêm hình thức BHXH tự nguyện, góp phần thực hiện mục tiêu An sinh xã hội Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thì việc mở rộng đối tượng tham gia và tăng cường tính bền vững của hệ thống BHXH có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội Luật Bảo hiểm xã hội

2006 đã không đáp ứng được yêu cầu trên do còn tồn tại những bất cập cản trở tính bền vững của hệ thống xã hội Chính vì vậy, những bất cập của Luật BHXH năm 2006 đã đặt ra nhu cầu khách quan về việc sửa đổi Luật BHXH một cách căn bản nhằm thiết lập khung chính sách, pháp luật BHXH phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Đáp ứng nhu cầu sửa đổi chế định về bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã ra đời với nhiều điểm mới cơ bản Dưới góc độ nhìn nhận của các nhà làm luật, những điểm mới này thật sự tiến bộ, thực hiện được chủ trương, chính sách phát triển bền vững an sinh xã hội tuy nhiên, không phải những điểm mới nào cũng thuyết phục được mọi người lao động

Trang 9

Với mong muốn không chỉ tìm ra các điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội

2014 mà còn đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân của những sự thay đổi đó để đi đến khẳng định Luật Bảo hiểm xã hội 2014 tiến bộ và thể hiện rõ tính bền vững

hơn Luật Bảo hiểm xã hội 2006, tác giả luận văn đã chọn đề tài: “Những điểm

mới của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) năm 2014” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp cao học Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 là một vấn đề mới, nảy sinh khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời Trong khoảng thời gian ngắn – từ khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về những điểm thay đổi của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 so với Luật Bảo hiểm xã hội 2006 mà chỉ có những bài viết trên một số trang thông tin điện

tử về những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 Tuy nhiên, những bài viết này chưa phân tích cụ thể và đầy đủ những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội

2014, có thể kể đến những bài viết về vấn đề này như:

- “Những điểm mới trong Luật Bảo hiểm xã hội” được đăng trên trang tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam

- “Toạ đàm báo chí về những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)” được đăng trên trang Bộ Lao động – Thương binh và xã hội

- “Một số điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)” được đăng trên trang Thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội chính trung ương …

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội, sự cần thiết phải ban hành Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 Trong những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những điểm mới cơ bản – đó là những chế độ bảo hiểm xã hội mà không đi vào nghiên cứu những điểm mới của những quy định chung Để làm rõ những vấn đề trên, luận văn đã nghiên cứu Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và Luật Bảo hiểm xã hội 2014 để từ đó rút ra những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 so với Luật Bảo hiểm xã hội 2006

Trang 10

Bên cạnh đó, luận văn cũng đi vào nghiên cứu giải pháp để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội 2014

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã áp dụng các phương pháp sau: diễn giải, phân tích, liệt kê, so sánh, tổng hợp, thống kê Phương pháp diễn giải và tổng hợp giúp làm rõ định nghĩa Phương pháp phân tích đặc biệt hữu ích trong việc làm rõ những hạn chế của Luật Bảo hiểm xã hội 2006 cũng như làm

rõ những yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 Phương pháp liệt kê, so sánh giúp tác giả luận văn nêu ra được những hạn chế của Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và những điểm mới của Luật Bảo hiểm

xã hội 2014 Phương pháp thống kê được sử dụng trong việc tổng hợp số liệu thực tế

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội, phân tích những quy định mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm

2014 sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội 2014

Để đạt được mục đích trên, cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Khái quát các vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội

- Nêu bật sự cần thiết ban hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

- Nêu được các điểm mới trong các chế độ của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 cũng như nguyên nhân dẫn đến sự sửa đổi, bổ sung này

- Làm rõ các yêu cầu để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm

xã hội 2014, từ đó đưa ra những kiến nghị cụ thể để Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thực sự đạt được hiệu quả trong quá trình thực thi

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn tổng hợp một cách có hệ thống các vấn đề chung về bảo hiểm

xã hội

- Luận văn so sánh, nghiên cứu, phân tích và chỉ ra những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 so với Luật Bảo hiểm xã hội 2006

Trang 11

- Luận văn nêu ra những yêu cầu cơ bản và những kiến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Một số vấn đề chung về bảo hiểm xã hội và sự cần thiết ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014)

Chương 2 Một số điểm mới cơ bản của Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014) Chương 3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội

1.1.1 Định nghĩa Bảo hiểm xã hội

Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học và được

dự báo trước, con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân như: thiên tai (bão lụt, động đất, hạn hán, hoả hoạn…), tai nạn giao thông (máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả, ô tô, xe máy…), tai nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, dịch bệnh… Những bất trắc, rủi ro đó đã gây ra

và đem đến cho con người những tổn thất, hậu quả to lớn cả về mặt kinh tế, môi trường sinh thái và môi trường xã hội Chính vì vậy mà con người đã phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những biến cố rủi ro đó Chúng ta đang tồn tại trong một xã hội có nhà nước mà nhà nước thì điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật, do vậy những biện pháp phòng ngừa,

né tránh và hạn chế rủi ro được con người chủ động thể chế hoá thành quy định

cụ thể trong các văn bản pháp luật để buộc mọi đơn vị, mọi tổ chức và mọi thành viên trong xã hội phải tuân thủ thực hiện

Thông thường có hai nhóm biện pháp khắc phục rủi ro là các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm chấp nhận rủi ro Biện pháp chấp nhận rủi ro là người gặp phải rủi ro phải chấp nhận khoản tổn thất nhất định, tự bản thân họ phải tự bảo hiểm cho mình Họ có thể chủ động lập quỹ dự trữ, dự phòng trước

để bù đắp, khắc phục những tổn thất do biến cố rủi ro gây nên hoặc cũng có thể

đi vay ngân hàng, các tổ chức tài chính để bù đắp tổn thất trong trường hợp không lập quỹ dự trữ, dự phòng trước

Bảo hiểm là sự chuyển giao, san sẻ rủi ro giữa những người cùng tham gia bảo hiểm trên cơ sở những nguyên tắc, chuẩn mực đã được thống nhất và quy định trước, nhằm đảm bảo an toàn, ổn định sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội

Trang 13

của những người tham gia bảo hiểm và cộng đồng xã hội Bảo hiểm là công cụ quan trọng và có hiệu quả nhất để khắc phục hậu quả tổn thất khi xảy ra rủi ro Mục đích của bảo hiểm là góp phần làm ổn định, an toàn kinh tế cho mọi người, mọi tổ chức và mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm, đảm bảo an toàn xã hội, đồng thời tạo ra nguồn vốn quan trọng để tham gia đầu tư phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Bảo hiểm xã hội đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển theo cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của nhân loại

Hệ thống Bảo hiểm xã hội hình thành đầu tiên trên thế giới ở Đức dưới thời Thủ tướng Bismark với cơ chế ba bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp rủi ro Sau đó, mô hình bảo hiểm xã hội này đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bảo hiểm xã hội đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội [12]

Bảo hiểm xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý… Do đó, hiện nay còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về bảo hiểm xã hội tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các ngành khoa học Ví dụ:

- Theo Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên được xuất bản vào năm 1999 thì bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức có tham gia Quỹ Bảo hiểm xã hội khi họ không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động

- Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật

Trang 14

- Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các

“rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…

- Từ giác độ pháp luật: BHXH là tổng hợp những quy định của Nhà nước điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực đảm bảo thu nhập nhằm ổn định nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong trường hợp gặp phải rủi ro, biến cố trong quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động [1, tr.105]

- Từ điển giải thích từ ngữ Luật học thì xác định, Bảo hiểm xã hội là bảo hiểm cho thu nhập của người lao động trong một số trường hợp, do nhà nước tổ chức quản lý Đặc trưng cơ bản để phân biệt Bảo hiểm xã hội với các hình thức bảo hiểm khác là sự kết hợp nghĩa vụ của người sử dụng lao động, việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội của nhà nước với sự tương trợ cộng đồng giữa những người lao động để ổn định cho họ và gia đình họ trong và sau quá trình lao động

Sự “bảo hiểm cho thu nhập” này chỉ có tính tương đối và tuỳ điều kiện kinh tế –

xã hội của mỗi nước và khả năng của quỹ Bảo hiểm xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển Khi người lao động bị mất thu nhập do không thể lao động được hoặc sức lao động không được sử dụng (trường hợp thất nghiệp), Bảo hiểm xã hội sẽ thực hiện trả trợ cấp bảo hiểm xã hội thay cho phần thu nhập bị mất này Khoản thu nhập thay thế này cũng tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng của quỹ Bảo hiểm xã hội mà có thể thay thế toàn bộ hoặc một phần Chính bởi quỹ Bảo hiểm xã hội được dùng trong việc bù đắp một phần hoặc toàn bộ thu nhập bị mất của người lao động mà việc thành lập Quỹ bảo hiểm xã hội hoàn toàn không mang mục đích về lợi nhuận mà hướng tới đảm bảo an sinh xã hội

Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cũng đưa ra khái niệm về bảo hiểm xã hội như sau: Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể

về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật,

Trang 15

tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [22]

Như vậy, bảo hiểm xã hội có thể được hiểu theo cách khái quát như sau: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi già, hoặc chết; gắn với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia đóng góp và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm đảm bảo an toàn cho đời sống của người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội Dựa trên cách hiểu này, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 đã

đưa ra định nghĩa về Bảo hiểm xã hội tại khoản 1 Điều 3 Luật này như sau: “Bảo

hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cũng có định

nghĩa tương tự

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại đều có tính chất phục vụ và giống nhau ở mục đích cuối cùng là góp phần đảm bảo tái sản xuất diễn ra bình thường, đời sống các thành viên xã hội an toàn và ổn định cuộc sống Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội mang một số đặc trưng để phân biệt với bảo hiểm thương mại như sau:

- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội: khác với đối tượng tham gia bảo hiểm thương mại – tất cả tổ chức, cá nhân trong xã hội, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chỉ gồm người lao động và người sử dụng lao động Điều đó có nghĩa là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội phải là những chủ thể gắn liền với yếu tố lao động

- Hình thức bảo hiểm xã hội: bảo hiểm xã hội có 02 hình thức chính Đó là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và

Trang 16

người sử dụng lao động phải tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và

tử tuất

- Đối tượng bảo vệ của bảo hiểm xã hội: theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 cũng như Luật Bảo hiểm xã hội 2014, bảo hiểm xã hội nhằm hướng tới thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết Do đó, đối tượng bảo vệ của bảo hiểm xã hội chính

là thu nhập của người lao động Trong khi đó, đối tượng bảo vệ của luật bảo hiểm thương mại rất đa dạng và phong phú bao gồm tài sản, tính mạng và sức khoẻ của con người, trách nhiệm dân sự

- Mục đích: Bảo hiểm xã hội được dùng trong việc bù đắp một phần hoặc toàn bộ thu nhập bị mất của người lao động, thể hiện trách nhiệm và sự chia sẻ của người sử dụng lao động với người lao động và giữa những người lao động với nhau Do đó, bảo hiểm xã hội hoàn toàn không mang mục đích về lợi nhuận

mà hướng tới đảm bảo an sinh xã hội Đây là điểm khác biệt rất rõ với bảo hiểm thương mại bởi đối với bảo hiểm thương mại, mục đích kinh doanh, vấn đề lợi nhuận được bên bán bảo hiểm đặt lên hàng đầu

- Sự tham gia của Nhà nước vào hoạt động bảo hiểm xã hội: đối với bảo hiểm thương mại, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động bảo hiểm thương mại chỉ có giới hạn nhất định và đương nhiên tài chính thực hiện không được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước nhưng đối với bảo hiểm xã hội, nguồn tài chính lại được nhà nước bảo trợ thể hiện ở việc chỉ có một quỹ bảo hiểm xã hội duy nhất (theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006, quỹ bảo hiểm xã hội được chia thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc và quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện) do cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý

- Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ an toàn về tài chính, có tính tích luỹ, vừa mang tính hoàn trả vừa không mang tính hoàn trả:

Trang 17

+ Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính

Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ bảo hiểm xã hội Chức năng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, bảo hiểm xã hội phải

tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng số tiền hình thành nên quỹ phải bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ Tuy nhiên, không phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là được dùng để chi trả ngay (nếu vậy đã không tồn tại cái gọi là quỹ bảo hiểm xã hội) mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi tương đối dài (như đối với chế độ hưu trí) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt ra yêu cầu quỹ bảo hiểm xã hội không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng mà còn phải bảo toàn về mặt giá trị Điều đó lý giải tại sao trong Điều 40 Điều lệ Bảo hiểm xã hội (được ban hành năm 1995, đến nay đã hết hiệu lực) và khoản 1 Điều 49 Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày

22/12/2006 hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc nước

ta quy định “Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp bảo toàn và

tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội từ tiền tạm thời nhàn rỗi”

+ Tính tích luỹ

Quỹ Bảo hiểm xã hội là “của để dành” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động Trong quỹ Bảo hiểm xã hội luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết để được hưởng trợ cấp (chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp bảo hiểm xã hội) Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ

+ Quỹ bảo hiểm xã hội vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả

Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ bảo hiểm xã hội là để chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn

Trang 18

đến mất hay giảm thu nhập Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như mức độ đóng góp và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội

Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của bảo hiểm xã hội là có đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn đưọc hưởng một khoản trợ cấp như nhau Trong thực tế, cùng tham gia bảo hiểm

xã hội nhưng có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần (với chế độ ốm đau), thậm chí có người không được hưởng (chế độ thai sản)

1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội thực chất là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi

ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm Nó góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm

an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ Ngoài ra, bảo hiểm xã hội còn đóng vai trò quan trọng đối với xã hội cũng như đối với nền kinh tế thị trường:

- Đối với người lao động và gia đình của họ:

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện

xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của Bảo hiểm xã hội Chúng ta có thể liệt kê một số vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và gia đình họ như sau:

+ Thứ nhất: Bảo hiểm xã hội có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình họ

Khi tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ Bảo hiểm xã hội, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách bảo hiểm xã hội mà họ được nhận một

Trang 19

khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo

- Đối với người sử dụng lao động:

+ Thứ nhất: Tham gia bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động sẽ thể hiện được trách nhiệm và sự chia sẻ của mình đối với người lao động Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đối với người lao động mà mình thuê mướn khi mà họ gặp phải tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (những rủi ro nảy sinh gắn liền với quá trình lao động) Bên cạnh đó, người sử dụng lao động cũng cần chia sẻ những rủi ro và những khó khăn khác của người lao động Sự chia sẻ này chính là sự động viên, chung tay giúp đỡ của người sử dụng lao động đối với người lao động, giúp người lao động an tâm vượt qua khó khăn của mình Người

sử dụng lao động không chỉ có trách nhiệm với người lao động khi trực tiếp sử dụng lao động mà còn trong suốt cuộc đời của người lao động Điều này làm cho quan hệ lao động có tính nhân văn sâu sắc

+ Thứ hai: Tham gia bảo hiểm xã hội chính là cách để người sử dụng lao động tự bảo vệ mình Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may gặp rủi ro thì những trợ cấp cho những rủi ro này đã được chuyển giao cho cơ quan bảo hiểm chi trả Chính vì vậy, tình hình tài chính của doanh nghiệp vẫn được ổn định, quá trình sản xuất cũng không bị ảnh hưởng do phát sinh nhu cầu bảo hiểm xã hội của người lao động

- Đối với xã hội:

+ Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động Đây là mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro và sự chia sẻ này chỉ có được trong quan hệ của bảo hiểm

xã hội Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên các giác độ khác nhau Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình

Trang 20

đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi

ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của bảo hiểm xã hội

+ Thứ hai: Bảo hiểm xã hội thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của

xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của

chân-thiện-mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” Bảo hiểm xã hội

là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

+ Thứ ba: Bảo hiểm xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

+ Thứ tư: Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác

độ xã hội, bảo hiểm xã hội là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, bảo hiểm xã hội là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội

1.2 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội

Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội được ghi nhận tại Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 Mặc dù, nguyên tắc của bảo hiểm xã hội trong 2 điều luật này không hoàn toàn giống nhau nhưng tựu chung lại, Bảo hiểm xã hội có các nguyên tắc sau:

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội

Trang 21

Bảo hiểm xã hội là chính sách an sinh, giúp bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết Tuy nhiên, để nhận được trợ cấp bảo hiểm xã hội thì trước hết, người lao động phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội và mức hưởng bảo hiểm sẽ phụ thuộc vào mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm theo nguyên tắc đóng – hưởng, tức là người lao động có mức đóng càng cao và thời gian đóng càng dài thì mức hưởng càng nhiều Một trong những quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (2006 và 2014) thể hiện nguyên tắc đóng – hưởng này chính là quy định về việc hưởng tiếp chế độ ốm đau nếu hết 180 ngày mà vẫn tiếp tục được điều trị

Ngoài ra, giữa những người tham gia bảo hiểm có sự chia sẻ với nhau trong việc hưởng bảo hiểm bởi bảo hiểm xã hội là sự “chia sẻ rủi ro”, “lấy số đông bù số ít Do đó, người lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội không

có nghĩa chắc chắn sẽ hưởng mọi chế độ bảo hiểm xã hội (ví dụ: chế độ thai sản nói chung chỉ áp dụng với lao động nữ nhưng lao động nam cũng tham gia đóng góp) Nhưng sự đóng góp của họ sẽ có ý nghĩa rất lớn cho những đối tượng gặp phải những rủi ro nghiêm trọng mà nếu không có sự chia sẻ, tương trợ cộng đồng

sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống[2, tr.126-127] Đây chính là sự chia sẻ giữa những người lao động trong việc hưởng bảo hiểm xã hội

- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên

cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn

Thu nhập đóng bảo hiểm xã hội là phần thu nhập của người lao động tham gia bảo hiểm mà nếu có biến động giảm hoặc mất do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, thì tổ chức bảo hiểm xã hội phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc bù đắp một phần cho họ

Mức thu nhập được bảo hiểm là mức tiền lương hoặc mức thu nhập bằng tiền nào đó do Nhà nước quy định Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số người lao động và mức thu nhập quốc dân đầu người , Nhà nước quy định, lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm để đảm bảo

Trang 22

cho mức thu nhập này luôn thăng băng tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia bảo hiểm và gia đình họ Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện do người lao động lựa chọn tính trên cơ sở mức thu nhập của họ

- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ

tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội

Theo quy định của pháp luật về hình thức bảo hiểm xã hội gồm có hai loại chính là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trên cơ sở quy định hiện hành có thể thấy về lý thuyết số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nhiều hơn số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nước ta số đối tượng tham gia bảo hiểm

xã hội bắt buộc là chủ yếu và họ được hưởng nhiều chế độ bảo hiểm xã hội hơn

so với đối tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện Tuy nhiên, về phương diện pháp lý, việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay bảo hiểm xã hội tự nguyện đều tạo nên các quyền lợi về bảo hiểm xã hội có giá trị như nhau và trong thực tế tuỳ theo tính chất và đặc điểm của quan hệ lao động mà người lao động có thể có những thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo các loại hình khác nhau (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện) Vì thế, để đảm bảo quyền lợi người lao động và tính liên thông trong quan hệ bảo hiểm xã hội thì người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (hưu trí, tử tuất) theo quy định của pháp luật trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội [2, tr.128-129]

- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần

Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung bởi cơ quan bảo hiểm xã hội Quỹ được chia ra làm ba quỹ thành phần: quỹ ốm đau và thai sản; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và quỹ hưu trí và tự tuất Tuy Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ chung thống nhất nhưng lại được chia ra thành các quỹ thành phần, do

Trang 23

đó, các hoạt động liên quan đến tài chính phải được hạch toán độc lập đối với riêng từng quỹ thành phần Có như vậy, từng quỹ thành phần mới được bảo toàn

và không phải chịu ảnh hưởng từ biến động của hai quỹ thành phần còn lại giúp cho việc giải quyết các chế độ bảo hiểm được đảm bảo

- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là chính sách an sinh, do đó việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện thì mới thu hút được nhiều người lao động quan tâm và tham gia Thêm nữa, bảo hiểm xã hội được dùng để chi trả cho người lao động trong trường hợp thu nhập của họ bị giảm hoặc bị mất, chính vì vậy việc chi trả này cần phải nhanh chóng và đảm bảo kịp thời thì mới có thể giúp đỡ người lao động đúng lúc họ cần nhất, có như vậy, bảo hiểm xã hội mới thực sự có ý nghĩa

Trang 24

Kết luận chương 1

1 Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội có đối tượng tham gia là người lao động

và người sử dụng lao động, hướng tới bảo vệ thu nhập của người lao động Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ an toàn về tài chính, có tính tích luỹ, vừa mang tính hoàn trả vừa không mang tính hoàn trả và được bảo trợ của Nhà nước

Bảo hiểm xã hội đã tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng cho người lao động đồng thời giúp người lao động ổn định thu nhập khi họ ốm đau, nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, về hưu hoặc tử tuất Bên cạnh đó, bảo hiểm

xã hội chính là sự chia sẻ, thể hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động và bảo hiểm xã hội cũng chính là cách mà người sử dụng lao động bảo vệ mình trước sự phát sinh nhu cầu bảo hiểm xã hội của người lao động Đối với xã hội, bảo hiểm đã giúp tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, thể hiện tinh thần nhân đạo, truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân ta và bảo hiểm cũng góp phần thực hiện bình đẳng xã hội

2 Bảo hiểm xã hội được thực hiện theo các nguyên tắc:

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội

- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên

cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn

- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ

tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội

- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần

Trang 25

- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội

Trang 26

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 2.1 Chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

2.1.1 Về đối tượng tham gia BHXH

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải là công dân Việt Nam, gồm có: người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn

từ đủ ba tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến

sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, với việc quy định giới hạn đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội như vậy đã dẫn đến một số hạn chế:

- Thực tiễn thực hiện cho thấy số người tham gia BHXH bắt buộc còn thấp, mới chiếm khoảng 80% số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trên

cả nước và chỉ chiếm khoảng 20% lực lượng lao động Tốc độ phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khá chậm chỉ đạt bình quân tăng khoảng trên 5%/năm

- Theo quy định của Luật BHXH vẫn còn một bộ phận lớn người lao động

là những người ký kết hợp đồng lao động dưới 3 tháng chưa được tham gia BHXH bắt buộc, việc không quy định áp dụng BHXH bắt buộc đối với những lao động có hợp đồng lao động dưới 3 tháng vừa ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, vừa tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trốn tránh việc tham gia BHXH cho người lao động bằng cách ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng theo chuỗi Ngoài ra, nhóm đối tượng là người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều

Trang 27

hành hợp tác xã có hưởng tiền lương, tiền công mặc dù đang được áp dụng các chế

độ bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng cũng chưa được quy định trong Luật BHXH

- Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành mới chỉ quy định áp dụng đối với công dân Việt Nam mà chưa có quy định áp dụng đối với công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế và thực tiễn các nước trong khu vực như: Thái Lan, Malaysia…đều có quy định cho phép người nước ngoài được tham gia BHXH tại nước họ Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì việc quy định áp dụng chính sách bảo hiểm xã hội đối với công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài mà nước đó có ký Hiệp định song phương với Việt Nam về lĩnh vực bảo hiểm xã hội

- Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006, người hoạt động không chuyên trách ở

xã, phường, thị trấn không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động giám sát và tiếp xúc cử tri cho thấy cần quan tâm đến người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, hiện đang hưởng phụ cấp theo công việc được tham gia BHXH1 vì nhiều người có quá trình làm việc tương đối lâu dài tại cơ sở; mặc dù gọi là không chuyên trách nhưng họ làm việc

cả ngày, mức phụ cấp lại tùy điều kiện kinh tế địa phương, những nơi vùng sâu, vùng xa họ không có chế độ gì, do đó, có rất nhiều ý kiến của những người hoạt động không chuyên trách mong muốn được đóng bảo hiểm xã hội

Để khắc phục hạn chế nêu trên của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã có những quy định mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Theo đó, ngoài những đối tượng được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 thì Luật Bảo hiểm xã hội 2014 còn bổ sung thêm bốn nhóm đối tượng thuộc diện này, bao gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (điểm b khoản 1 Điều 2);

1

Hiện nay, có 23 địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho người hoạt động không chuyên trách; đa số địa phương đóng trên mức tiền lương cơ sở với mức hỗ trợ từ 50% mức tiền đóng bảo hiểm xã hội trở lên

Trang 28

- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương (điểm h khoản 1 Điều 2);

- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn (điểm i khoản 1 Điều 2);

- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (khoản 2 Điều 2)

2.1.2 Chế độ ốm đau

Các quy định về chế độ ốm đau trong Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đã góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi họ không may bị ốm hoặc tai nạn rủi ro phải nghỉ việc hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau Việc Luật Bảo hiểm xã hội quy định người lao động bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc; người lao động có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau được hưởng chế độ ốm đau là hoàn toàn hợp lý Khi người lao động đang làm việc phải nghỉ việc do bị ốm đau hay chăm sóc con ốm đau sẽ không được trả lương nên cần có sự bù đắp về thu nhập để đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình họ Chế độ ốm đau chỉ áp dụng trong trong các trường hợp người lao động gặp rủi ro khách quan do ốm đau hoặc tai nạn Chính

vì vậy, luật quy định loại trừ các trường hợp chính bản thân người lao động chủ động tạo ra bất lợi cho mình như: tự huỷ hoại sức khoẻ, say rượu, dùng các chất

ma tuý… ra khỏi đối tượng được bảo hiểm là phù hợp Ngoài ra, các quy định về thời gian hưởng chế độ bảo ốm đau cũng khá hợp lý, đã thể hiện được sự công bằng và phù hợp với thực tế hiện nay Tuy nhiên, quy định về mức hưởng chế độ

ốm đau vẫn còn hạn chế Cụ thể, luật BHXH quy định mức hưởng chế độ ốm đau trong trường hợp mắc bệnh cần chữa trị dài ngày trong 180 ngày được hưởng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc, sau đó nếu tiếp tục điều trị thì được hưởng theo mức thấp hơn Tuy nhiên, mức hưởng nêu trên được quy định trong một năm nên nếu người lao động có thời gian hưởng chế độ ốm đau từ 2 năm trở lên thì cứ sau mỗi năm mức hưởng lại được lặp lại, điều này không hợp lý và rất phức tạp trong tổ chức thực

Trang 29

hiện Thêm nữa, quy định về mức hưởng chế độ ốm đau cho người bị mắc bệnh cần chữa trị dài ngày đối với trường hợp nghỉ từ ngày 181 trở đi nếu mức hưởng thấp hơn lương cơ sở thì được điều chỉnh bằng mức lương cơ sở cần được nghiên cứu điều chỉnh lại Mức hưởng này tạo ra sự không hợp lý giữa những người cùng mắc bệnh chữa trị dài ngày có mức đóng BHXH khác nhau và giữa những người ốm mắc bệnh thông thường

Ngoài ra, trong chế độ ốm đau, Luật Bảo hiểm xã hội 2006 vẫn còn bộc lộ hạn chế khi mới chỉ quy định mức trợ cấp ốm đau theo tháng mà chưa có quy định mức trợ cấp ốm đau theo ngày Theo các văn bản hướng dẫn thi hành thì mức trợ cấp ốm đau một ngày được tính bằng mức trợ cấp ốm đau theo tháng chia cho 26 ngày Tuy nhiên, việc quy định mức hưởng trợ cấp một ngày bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 26 ngày là thiệt thòi cho những người lao động làm việc 22 ngày/tháng hoặc 24 ngày/tháng

Một hạn chế nữa trong quy định về chế độ ốm đau của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 đó là quy định về chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau Đây là chế độ được quy định với mục đích giúp người lao động được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau điều trị ốm đau mà sức khỏe còn yếu, giúp người lao động sớm hồi phục sức khỏe trở lại làm việc Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện mang tính bình quân do việc quy định sức khỏe còn yếu là rất cảm tính và khó xác định Điều này dẫn đến sự lạm dụng và tùy tiện trong giải quyết khi thực hiện quy định này

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 ra đời đã khắc phục được các hạn chế trên của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, cụ thể theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014:

- Mức hưởng chế độ ốm đau trong trường hợp mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo hướng trong 180 ngày đầu điều trị được hưởng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc, sau đó nếu tiếp tục điều trị thì được hưởng theo mức thấp hơn tùy thuộc vào thời gian đóng BHXH, không quy định lặp lại hàng năm như hiện hành Quy

định này được thể hiện tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội 2014: “Người

Trang 30

lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 26, Điều 27 của Luật này thì mức hưởng tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc”

- Bỏ khoản 4 Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 về quy định mức hưởng chế độ ốm đau cho người bị mắc bệnh cần chữa trị dài ngày đối với trường hợp nghỉ từ ngày 181 trở đi nếu mức hưởng thấp hơn lương tối thiểu chung thì được điều chỉnh bằng mức lương tối thiểu chung

- Sửa đổi quy định mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 24 ngày Quy định này được ghi nhận tại khoản

4 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội 2014: “Mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày

được tính bằng mức trợ cấp ốm đau theo tháng chia cho 24 ngày”

- Sửa đổi Điều 26 về chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau theo hướng quy định cụ thể hơn về “sức khỏe yếu” Cụ thể, theo khoản 2 Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động sẽ được nghỉ tối đa 10 ngày đối với trường hợp sức khoẻ chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày; nghỉ tối đa 07 ngày trong trường hợp sức khoẻ chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật; 05 ngày đối với các trường hợp khác chứ không quy định chung chung là “từ năm ngày đến mười ngày trong một năm” như tại khoản 1 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 Ngoài ra, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau một ngày bằng 30% mức lương cơ sở mà không phân biệt mức hưởng giữa phục hồi sức khoẻ tại gia đình và phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung như quy định tại

Luật Bảo hiểm xã hội 2006

2.1.3 Chế độ thai sản

Sau 8 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội 2006, chúng ta không thể phủ nhận những điểm tích cực trong các quy định về chế độ thai sản mà Luật này đem lại Bên cạnh những thành tựu đạt được khi quy định về chế độ thai sản thì Luật Bảo hiểm xã hội 2006 cũng không thể tránh khỏi có một số hạn chế sau:

- Việc quy định điều kiện đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu, quy định lao động nữ sinh con được hưởng chế độ thai sản khi người lao động đã đóng

Trang 31

BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, quy định này là tích cực, khắc phục được sự lạm dụng chế độ này song lại không hợp

lý với các trường hợp người lao động đã có quá trình đóng BHXH dài, song vì lý

do khó mang thai, thai bệnh lý, thai không bình thường nên phải nghỉ việc ngay khi mang thai do vậy không đủ điều kiện đóng BHXH đủ 6 tháng trong thời gian

12 tháng trước khi sinh để được hưởng chế độ thai sản Trong trường hợp này là không công bằng và không đảm bảo quyền lợi của người lao động vì họ đã có quá trình đóng BHXH dài nhưng lại không được hưởng chế độ thai sản

- Theo quy định hiện hành khi lao động nữ sinh con thì chỉ lao động nữ được nghỉ việc để chăm sóc con, tuy nhiên chưa có quy định về lao động nam được nghỉ việc chăm sóc vợ và con Vì vậy, nên bổ sung thêm quy định trong thời gian người vợ sinh con thì người cha cũng được nghỉ với một thời gian nhất định để có phẩn trách nhiệm trong việc sinh con của người vợ Đó là sự chia sẻ

và cũng thể hiện rõ vấn đề giới trong lĩnh vực này Đây là nhu cầu không chỉ riêng của lao động nữ sinh con mà của cả lao động nam có nguyện vọng được chia sẻ trách nhiệm được có thời gian nghỉ việc chăm sóc con, đảm bảo tốt hơn sức khỏe của người mẹ và trẻ sơ sinh trong điều kiện quỹ còn có thể cân đối

- Theo Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 quy định lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với quy định của Bộ luật lao động

- Cũng theo quy định của Bộ luật Lao động thì lao động nữ nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi nghỉ việc được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ

6 tháng tuổi Quy định này tạo nên sự không thống nhất đối với trường hợp lao động nam nhận nuôi con nuôi chỉ được nghỉ việc hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi và chỉ được hưởng cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi

- Chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau thai sản là chế độ được quy định với mục đích giúp người lao động được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi sinh mà sức khỏe còn yếu, giúp người lao động sớm hồi phục sức khỏe trở lại làm việc Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện mang tính bình quân do quy định

Trang 32

sức khỏe còn yếu là rất cảm tính và khó khăn trong xác định Điều này dẫn đến

sự lạm dụng và tùy tiện trong giải quyết khi thực hiện quy định này

Nhằm bảo vệ và thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với đời sống của người lao động đặc biệt là lao động nữ trong độ tuổi sinh nở, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã có những quy định mới nhằm bảo đảm tốt hơn lợi ích cho người lao động trong chế độ thai sản:

- Bổ sung quy định lao động nam đang tham gia BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 5 đến 15 ngày làm việc tùy thuộc vào sự kiện sinh nở của người vợ (khoản 2 Điều 34 Luật bảo hiểm xã hội 2014) :

sinh con (khoản 3 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

- Sửa đổi quy định về thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con cho phù hợp với quy định của Bộ luật lao động là lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng (khoản 1 Điều

34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

- Cũng như thời gian hưởng chế độ khi sinh con, Luật Bảo hiểm xã hội

2014 đã sửa đổi quy định về chế độ khi nhận nuôi con nuôi theo hướng người lao

Trang 33

động nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi (Điều 36)

- Quy định cụ thể hơn đối với trường hợp mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định Trong trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà không nghỉ việc thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định Ngoài ra, bổ sung quy định trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội

mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc không còn khả năng chăm sóc con thì người cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi (khoản 5, khoản 6 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

- Sửa đổi quy định về trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi theo hướng bổ sung trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được trợ cấp một lần (Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

- Sửa đổi quy định về chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản theo hướng quy định rõ hơn về sức khỏe yếu tương tự như chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau:

+ Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên ; + Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ phải sinh con phẫu thuật;

+ Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác

2.1.4 Chế độ hưu trí

Thực hiện chế độ hưu trí theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006, ngân sách nhà nước và Quỹ Bảo hiểm xã hội đã làm khá tốt nhiệm vụ của mình trong việc giải quyết chế độ lương hưu cho người lao động Tuy nhiên, những quy định về chế

độ hưu trí trong Luật Bảo hiểm xã hội 2006 vẫn còn có những hạn chế:

- Quy định điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu (khoản 1 Điều 50) theo

số liệu thống kê cho thấy, hiện nay trong tổng số những người nghỉ việc hưởng lương hưu có khoảng 60% người nghỉ hưu trước tuổi quy định, trong đó phần lớn nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, đây là một trong các nguyên nhân làm cho tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế xuống thấp hơn so với

Trang 34

quy định Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân hiện nay là 53,4 tuổi, trong đó nam là 55,2 tuổi và nữ là 51,7 tuổi Bên cạnh đó, xu hướng tuổi thọ bình quân của nước ta càng tăng, hiện nay tuổi thọ bình quân của người dân Việt Nam là 73 tuổi, đặc biệt kỳ vọng sống của nhóm người trên 60 tuổi đạt 21,5 năm trong đó nam là 20 năm, nữ là 23 năm Tuổi nghỉ hưu bình quân thấp, trong khi tuổi thọ trung bình cao, đây là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng cân đối của quỹ hưu trí và tử tuất Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), với nền chính sách hiện hành, quỹ hưu trí đến năm 2021 thu trong năm đủ chi trong năm, để đảm bảo khả năng chi trả của quỹ phải lấy từ nguồn kết dư của quỹ Đến năm 2034, quỹ hưu trí hoàn toàn cạn kiệt, mất khả năng chi trả Qua thực trạng trên ta có thể thấy rằng:

+ Quy định tuổi nghỉ hưu như hiện hành là thấp so với xu hướng tuổi thọ ngày càng tăng và nguy cơ mất khả năng cân đối quỹ hưu trí và tử tuất

+ Quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thấp hơn nam 5 tuổi là chưa đảm bảo vấn đề giới, chưa hợp lý trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển và sức ép của già hoá dân số Quy định này chưa phù hợp với Công ước Liên Hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), trong đó đã xác định trách nhiệm quốc gia trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm xóa bỏ phân biệt với phụ nữ

+ Quy định điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

từ 61% trở lên đã thực hiện từ năm 1995 khi mà điều kiện làm việc và tuổi thọ của người lao động chưa có sự cải thiện so với hiện nay Quy định này dẫn tới việc người lao động nghỉ hưu sớm khi thực tế vẫn còn khả năng làm việc và tạo

ra sự không hợp lý giữa đóng và hưởng

+ Một số trường hợp giải quyết chế độ hưu trí trước tuổi do thực hiện lồng ghép chính sách BHXH với các chính sách khác như chính sách lao động, sắp xếp doanh nghiệp,… từ đó làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu và cân đối trong dài hạn của Quỹ BHXH

Mặc dù quy định tuổi nghỉ hưu như hiện nay sẽ dẫn đến mất cân đối Quỹ Hưu trí dần dẫn đến mất khả năng chi trả nhưng trong Luật Bảo hiểm xã hội

Trang 35

2014, quy định về tuổi nghỉ hưu vẫn giữ nguyên là 60 tuổi đối với năm và 55 mà không tăng tuổi nghỉ hưu Việc không tăng tuổi nghỉ hưu là bởi vấp phải nhiều ý kiến không tán thành tại hội thảo “Cải cách chính sách bảo hiểm hưu trí: kinh nghiệm quốc tế và các đề xuất, khuyến nghị đối với xây dựng dự thảo luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)” diễn ra vào tối ngày 27/5/2014 do Ủy ban về các vấn đề

xã hội của Quốc hội và Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam phối hợp tổ chức Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, lý do tăng tuổi nghỉ hưu tránh nguy cơ vỡ quỹ không những không thuyết phục mà còn đổ gánh nặng về phía người dân Cách làm hiện nay quá đơn giản Các nhà làm luật chỉ giải trình trách nhiệm và quản lý quỹ rất đơn giản, gần như rất ít trách nhiệm Trong khi

đó, họ lại đưa ra giải pháp cực đoan nhất, đơn giản nhất, dễ làm nhất và hậu quả rất khó đánh giá là tăng tuổi nghỉ hưu Cũng theo ông Phong, nếu tăng tuổi hưu, nhà nước sẽ phải tăng chi ngân sách để trả lương Như vậy, sẽ tăng bội chi ngân sách Mặt khác, xét về góc độ thất nghiệp cũng không hài hoà, trong khi thất nghiệp có xu hướng tăng Bộ phận công chức không phát huy tác dụng rất đông Nếu tiếp tục nuôi bộ máy này sẽ đi ngược với mục tiêu công bằng, tận dụng chất xám và phát huy năng lực hiệu quả quản lý nhà nước Do vậy, không nên tăng tuổi nghỉ hưu [18]

- Về cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu: theo quy định hiện hành người lao động có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm được tính bằng 45%, sau đó thêm 01 năm tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa là 75% Như vậy, để đạt được tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa là 75% thì người lao động có thời gian đóng BHXH 30 năm đối với nam và 25 năm đối với nữ Tỷ lệ hưởng lương hưu của Việt Nam là cao so với các nước trên thế giới và cao hơn nhiều so với mức đóng góp, điều này không đảm bảo được nguyên tắc đóng-hưởng gây mất cân đối quỹ hưu trí và tử tuất

- Về xác định mức lương hưu hàng tháng: Cách tính mức lương hưu còn

có sự phân biệt giữa nam và nữ; việc mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi chỉ bị trừ giảm 1% sẽ khuyến khích người lao động nghỉ hưu sớm (khi chưa quản lý được chất lượng hoạt động của Hội đồng Giám định Y khoa) tạo nên sự bất hợp lý

Trang 36

giữa các đối tượng thụ hưởng và mất cân đối quỹ (khi tính hưởng thì mỗi năm đóng BHXH tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ); việc quy định mức lương hưu thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung cũng tạo nên sự lạm dụng của chủ sử dụng lao động, chỉ đóng BHXH với mức tiền lương, tiền công thấp

- Về quy định điều kiện hưởng BHXH một lần: Trong 4 trường hợp được hưởng bảo hiểm xã hội một lần cho thấy, trường hợp người đủ tuổi hưởng lương hưu song chưa đủ 20 năm đóng BHXH và người ra nước ngoài định cư là hợp lý Còn các trường hợp còn lại thì cần xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng Thực tế những người này vẫn có cơ hội để tiếp tục tham gia quan hệ lao động hoặc tự tạo việc làm, có thu nhập và tham gia BHXH tự nguyện Bên cạnh đó, việc không cho phép những người có từ đủ 20 năm đóng BHXH được giải quyết BHXH một lần cũng không phù hợp đối với các trường hợp bị mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nan

y cần nhiều tiền để chữa trị bệnh

- Mức hưởng BHXH một lần: theo lộ trình tăng tỷ lệ đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì từ năm 2014 trở đi mức đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động là 22% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH Trong khi đó, mức hưởng BHXH một lần vẫn quy định mỗi năm đóng BHXH hưởng 1,5 mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH Quy định này là thiệt thòi cho người lao động và chưa đảm bảo được nguyên tắc đóng-hưởng

- Về cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần vẫn còn phân biệt giữa người lao động thuộc khu vực trong và ngoài nhà nước Người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 05, 06, 08 hoặc 10 năm trước khi nghỉ hưu tuỳ thuộc vào thời điểm người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian Điều này đã tạo nên sự bất bình đẳng giữa các đối tượng tham gia BHXH

Trang 37

- Về điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng BHXH: Với quy định thực hiện điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của người lao động làm việc trong khu vực nhà nước theo mức lương tối thiểu chung, còn đối với người lao động làm việc ngoài khu vực nhà nước thì theo chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ,

đã tạo ra sự chênh lệch nhất định về mức hưởng lương hưu khi tính cho hai đối tượng có cùng quá trình đóng và cùng mức đóng bảo hiểm nhưng làm việc ở 2 khu vực khác nhau và mức cao hơn thuộc về khu vực Nhà nước

Trước một số hạn chế trong chế độ hưu trí của Luật Bảo hiểm xã hội 2006, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã có thêm những quy định mới nhằm dần dần loại bỏ các hạn chế nêu trên của Luật Bảo hiểm xã hội 2006:

- Về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động: Với sự trợ giúp của máy móc công nghệ, những người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên vẫn có thể còn khả năng làm việc Vì vậy, quy định người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên đã được hưởng lương hưu khi đủ 50 tuổi (đối với nam) và 45 tuổi (đối với nữ) theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đã dẫn tới tình trạng người lao động nghỉ hưu sớm và ảnh hưởng đến quỹ hưu trí Do đó, để sử dụng có hiệu quả tối đa nguồn lao động đồng thời giúp cân đối quỹ hưu trí, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã xây dựng lộ trình tăng tuổi được hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, cụ thể: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và

bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên (điểm a khoản 1 Điều

55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014) Lao động nam đủ 50 tuổi và lao động nữ đủ 45 tuổi chỉ được hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động khi tỉ lệ suy giảm khả năng lao động là từ 81% trở lên (điểm b khoản 1 Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

- Về cách tính tỉ lệ lương hưu: theo quy định hiện hành, người lao động có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm thì sẽ được hưởng mức lương hưu bằng 45%

Trang 38

mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, để cân đối lại quỹ lương hưu, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 vẫn giữ nguyên quy định

về cách tính mức lương hưu như trên trong giai đoạn từ ngày Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có hiệu lực đến trước ngày 01/01/2018, đồng thời có quy định về lộ trình tăng dần thời gian đóng BHXH để đạt tỷ lệ hưởng 45% tương ứng với 20

năm đóng BHXH (đối với nam) Đó là: “Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức

lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm

xã hội như sau: a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019

là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm” (điểm a khoản 2 Điều 56) Bên cạnh đó, để loại bỏ sự phân biệt nam nữ và

hạn chế tình trạng người lao động nghỉ hưu sớm (do mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi chỉ bị trừ giảm 1%), Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã quy định lại cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm, cả lao động nam và lao động nữ đều được tính thêm 2% mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm (khoản 2 Điều 56) chứ không còn là 2% đối với nam và 3% đối với nữ như tại khoản 1 Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2006) và nếu người lao động nghỉ hưu trước tuổi quy định thì mức hưởng hưu hàng tháng sẽ bị giảm đi 2% (khoản 3 Điều 56) chứ không phải là 1% như quy định khoản 2 Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 Ngoài ra, để tránh tình trạng lạm dụng quy định mức lương hưu thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung của chủ sử dụng lao động để chỉ đóng BHXH với mức tiền lương, tiền công thấp, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã bỏ đi quy định này của Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2006

- Về bảo hiểm xã hội một lần:

+ Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần Tuy nhiên, như phân tích ở trên, những đối tượng này vẫn có cơ hội để tiếp tục tham gia quan hệ lao động hoặc tự tạo ra việc làm cho mình, do đó việc cho người lao động bị suy giảm khả năng lao

Trang 39

động từ 61% mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm được hưởng bảo hiểm một lần sẽ dẫn đến suy giảm nguồn lao động, mất cân bằng quỹ hưu trí Chính vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã loại bỏ đối tượng này ra khỏi các nhóm đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội một lần, đồng thời bổ sung trường hợp người

bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, phong, lao, HIV cũng được hưởng bảo hiểm một lần để đảm bảo công bằng cho những người lao động đã đóng bảo hiểm nhưng mắc bệnh hiểm nghèo trên nguyên tắc có đóng – có hưởng và cần nhiều tiền để chữa trị cũng như thể hiện tinh thần nhân đạo tương thân tương ái của Nhà nước và người sử dụng lao động đối với những lao động này

+ Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014 cũng có sự thay đổi so với Luật Bảo hiểm xã hội 2006 Nếu trong Luật Bảo hiểm

xã hội 2006, mức hưởng được tính theo số năm đóng bảo hiểm, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thì sang Luật Bảo hiểm xã hội 2014 mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần cho thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 2014 trở đi theo hướng mỗi năm đóng bảo hiểm tương ứng với 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội (điểm b khoản 2 Điều 60) để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi đã thực hiện tăng mức đóng góp vào quỹ hưu trí và tử tuất trong giai đoạn 2010-2014 + Về tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần: với cách tính hiện nay (theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006) đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người lao động trong và ngoài khu vực nhà nước Chính vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã xây dựng lộ trình thay đổi cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm để tính lương hưu, trợ cấp một lần để tiến tới hoà chung hai phương pháp tính đối với người lao động trong và ngoài khu vực nhà nước, bảo đảm sự bình đẳng trong tham gia

và thụ hưởng Bảo hiểm xã hội của người lao động trong các loại hình, thành phần kinh tế Lộ trình này cụ thể như sau:

“Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà

nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm