Trần Văn Thắng viết chương XI "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" trong cuốn Giáo trình Luật dân sự Tập II..., chủ yếu nhằm phục vụ mục đích giảng dạy; Đinh Trọng Nghĩa 1996, Khóa luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ THỊ DIỄM
MỘT SỐ QUAN HỆ TÀI SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 - THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60380108
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN MINH NGỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Để có thể hoàn thành được Luận văn thạc sĩ, lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn tới:
Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện giúp cho em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Luật Quốc tế nói chung và các thầy, cô giáo trong tổ bộ môn Tư pháp quốc tế nói riêng, những người
đã giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập
Đặc biệt, em xin ảm ơn TS Trần Minh Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2015
Học viên
Hà Thị Diễm
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn: “Một số quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
trong Bộ luật dân sự 2005 - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” là do bản thân tự
thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS Trần Minh Ngọc Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận văn đã được trích dẫn và nêu rõ nguồn trong phần tài liệu tham khảo Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Học viên
Hà Thị Diễm
Trang 4Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 5QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
21
2.1 Quy định của BLDS năm 2005 về quyền sở hữu đối với tài sản (hữu
hình) có yếu tố nước ngoài 21 2.1.1 Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản 21 2.1.2 Vấn đề phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản 23 2.1.3 Một số trường hợp ngoại lệ 23
2.2 Quy định của BLDS năm 2005 về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 28 2.2.1 Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài 28 2.2.2 Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài 30 2.2.3 Di sản không có người thừa kế 33
2.3 Quy định của BLDS năm 2005 về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 35 2.3.1 Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với nội dung của hợp đồng 36 2.3.2 Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với hình thức của hợp đồng 39
Trang 6có yếu tố nước ngoài 45 2.4.1 Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố
3.1 Thực tiễn hoạt động áp dụng các quy định của Bộ Luật Dân sự năm
2005 về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 51 3.2 Sự cần thiết hoàn thiện các quy định của BLDS về pháp luật áp dụng
đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 55 3.3 Một số yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định của BLDS
về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 56 3.4 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ Luật Dân sự
năm 2005 về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh sửa đổi Bộ Luật Dân sự
57
3.4.1 Về quyền sở hữu tài sản (hữu hình) có yếu tố nước ngoài 57 3.4.2 Về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 58 3.4.3 Về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 60 3.4.4 Về quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài 66 3.5 Một số giải pháp khác 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
71
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện mục tiêu “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường,…phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp cụ thể xây dựng chiến lược phát triển về kinh tế - xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế Tuy nhiên đi liền với những chiến lược ấy, phải có một hệ thống pháp luật phù hợp, cần và đủ nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước và pháp luật trong điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật là công cụ không thể thiếu trong một nhà nước phát triển Sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của pháp luật đối với vấn đề xây dựng đất nước Đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, nêu ra các nguyên tắc chung, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng Luật và các văn bản dưới luật
Cùng với nhịp độ phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế - thương mại có yếu tố nước ngoài đã làm phát sinh ngày càng nhiều các vụ tranh chấp về hợp đồng, thừa kế, có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời Những vấn đề này, rõ ràng là không thể giải quyết được nếu không có đủ cơ sở pháp lý cần thiết cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét vụ việc Đồng thời nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay
đã trở thành một yêu cầu tất yếu của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển buộc Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện Khác với các nước trên thế giới như Ba Lan,
Áo, Thụy Sĩ,…ở Việt Nam phần quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được thiết lập trong một đạo luật Tư pháp quốc tế riêng mà tồn tại trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau Tuy vậy các quy định trong BLDS luôn được coi là “phần hồn” của
Tư pháp quốc tế [3, tr 3] Việc BLDS 2005 chính thức thừa nhận một cách rõ ràng là “đạo luật mẹ” điều chỉnh không chỉ các quan hệ trong nước mà còn điều chỉnh các quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài tại phần thứ bảy đã đáp ứng được những đòi hỏi thực tế Có thể thấy trên cơ sở kế thừa những thành tựu nổi bật của Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân
sự năm 2005 (sau đây gọi là BLDS) nhưng sau 9 năm thực hiện đã bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại, bất cập, có nhiều điều khoản không còn phù hợp với điều kiện hiện tại và cũng có một số điều khoản cần phải bổ sung thêm cho hợp lý Yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005, trong đó có phần thứ bảy về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, cũng như các văn bản pháp luật dân sự có liên quan để thể chế hóa những nguyên tắc của
Trang 8Hiến pháp năm 2013, càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Góp phần tạo hành lang pháp
lý cho việc ổn định các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ mới nhất
Nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tác giả thấy nổi lên các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài, một trong những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cơ bản, diễn ra phổ
biến và cũng có nhiều tranh chấp, xung đột trên thực tế nhất Vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Một số quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật dân sự 2005 – Thực trạng
và giải pháp hoàn thiện” làm đề tài nghiên cứu của mình trong bối cảnh Bộ Tư pháp và
các Bộ, ngành liên quan đang tiến hành sửa đổi BLDS 2005 xây dựng Dự thảo BLDS mới và lấy ý kiến nhân dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ta thấy rằng: từ khi BLDS năm
1995 ra đời, lần đầu tiên đưa những quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vào trong luật thì đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các luật gia về các quy định tại Phần thứ bảy của BLDS, tuy nhiên còn hạn chế Tiêu biểu như:
Bài viết của TS Hà Hùng Cường viết chương VIII "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" trong cuốn Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của BLDS; TS Trần Văn Thắng viết chương XI "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" trong cuốn Giáo trình
Luật dân sự (Tập II) ), chủ yếu nhằm phục vụ mục đích giảng dạy;
Đinh Trọng Nghĩa (1996), Khóa luận tốt nghiệp:“Bước đầu tìm hiểu các quy định của các Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”, Hà Nội;
Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp
nghiên cứu khái quát về "Hoàn thiện pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài"
(thuộc Chương trình nghiên cứu chung Việt Nam - Nhật Bản về việc sửa đổi BLDS);
Nguyễn Công Khanh (2003), Luận án tiến sĩ luật học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Hà Nội;
Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Mối quan hệ giữa Tư pháp quốc tế và Luật dân sự”, Hà Nội
Sau khi BLDS 2005 ra đời, đã có thêm một số công trình nghiên cứu về quan hệ này như:
Kỷ yếu hội thảo (2005): “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quan hệ nhân thân
và tài sản trong Tư pháp quốc tế”, Nhà pháp luật Việt Pháp;
Lê Thị Bích Thuỷ (2010), Khoá luận tốt nghiệp: “Hệ thống quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam”, Hà Nội;
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường/Trường Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Hồng
Trang 9Bắc (chủ nhiệm đề tài): “Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội, 2012; Bài viết của tác giả Nguyễn Trung Tín: “Mấy ý kiến về phần quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật dân sự 2005”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, số 23/2013, tr 20 – 26;…
Và mới đây nhất, để đóng góp cho việc sửa đổi BLDS có đề tài nghiên cứu khoa học
cấp trường/Trường Đại học Luật Hà Nội, TS Trần Minh Ngọc (chủ nhiệm đề tài): “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong điều kiện sửa đổi Bộ luật dân sự”, Hà Nội, 2014
Như vậy, các công trình trên đây đã nghiên cứu có thể sâu hoặc chưa sâu về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng đã góp phần tạo dựng nên hệ thống cơ sở lý luận
và thực tiễn cho việc nghiên cứu sau này Tuy nhiên, về vấn đề quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS 2005 hiện nay còn chưa được bóc tách, nghiên cứu riêng một cách đầy đủ, toàn diện, chi tiết Nhận thấy, đây là một trong những quan hệ lớn trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, hơn nữa trong bối cảnh Dự thảo BLDS mới đang được sửa đổi, lấy ý kiến nhân dân nên tác giả đặt vấn đề nghiên cứu về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS 2005 này trong Luận văn nhằm phần nào tìm ra những thành tựu cũng như tồn tại của pháp luật, tham gia đóng góp ý kiến cho Dự thảo BLDS mới, giúp hoàn thiện trong thời gian tới những quy định của pháp luật đặc biệt những quy định của BLDS liên quan đến quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài là một phạm trù rộng, bao gồm các quy phạm pháp luật có thể chia ra làm hai loại: quan hệ tài sản hữu hình có yếu tố nước ngoài và quan
hệ tài sản vô hình có yếu tố nước ngoài Nhận thấy, tài sản hữu hình là một trong những đối tượng chủ yếu và phổ biến rộng rãi trong các quan hệ tài sản được điều chỉnh tại Phần thứ bảy BLDS 2005 và mới đây là Phần thứ năm Dự thảo BLDS sửa đổi, đồng thời cũng có nhiều tồn tại, mâu thuẫn liên quan trên thực tế cần phải giải quyết, vì vậy, trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan đến quan hệ tài sản hữu hình có yếu tố nước ngoài bao gồm: quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài (tài sản hữu hình), quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện những quy định này trong thời gian tới
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm sáng tỏ các quy định của BLDS
2005 về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài đã giới hạn trong phần phạm vi nghiên cứu
và từ đó nêu ra những thực trạng và giải pháp hoàn thiện cụ thể những quy định này trong thời gian tới Để đạt được mục đích này cần hoàn thành những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa
của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong tổng thể quan hệ dân sự có yếu tố nước
Trang 10ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế và phương pháp điều chỉnh quan
hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
Thứ hai, phân tích, đánh giá quy định của BLDS 2005 về một số quan hệ tài sản
(hữu hình) có yếu tố nước ngoài gồm: quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài, quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, quan hệ hợp đồng dân sự và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài Qua đó phần nào thấy được những ưu điểm, tồn tại, bất cập của pháp luật liên quan đến quan hệ này
Thứ ba, tổng kết, đánh giá thực tiễn hoạt động áp dụng những quy định của BLDS
2005 về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong những năm qua và nêu giải pháp hoàn thiện các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh về quan hệ này trong BLDS
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp thu thập, phân tích, liệt kê, tổng hợp tài liệu; phương pháp diễn giải, quy nạp và phương pháp so sánh
6 Những điểm mới của luận văn
Những điểm mới của đề tài nghiên cứu này là:
a) Đưa ra một cái nhìn khái quát về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong tổng thể quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế;
b) Phân tích và làm nổi bật những quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trên cơ sở so sánh với các Điều ước quốc tế và pháp luật của các quốc gia trên thế giới để chỉ ra những bất cấp, hạn chế trong quy định của BLDS năm
2005 về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
d) Nêu nguyên nhân, yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi có hiệu quả vấn đề giải quyết quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Có thể nói Luận văn là một công trình hoàn toàn mới, nghiên cứu bóc tách riêng
về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh sửa đổi BLDS
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về quan hệ tài sản có yếu tố
nước ngoài
Chương 3: Thực tiễn hoạt động áp dụng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy
định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Trang 11CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái quát về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài được quy định tại phần thứ bảy của BLDS 2005 Khái niệm “quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài” hiện nay vẫn chưa được định nghĩa cụ thể Để hiểu được khái niệm này chúng ta cần phải xem xét đến các khái niệm liên quan như khái niệm“quan hệ tài sản”, khái niệm "yếu tố nước ngoài", từ đó rút ra được cách hiểu về khái niệm quan hệ
tài sản có yếu tố nước ngoài một cách khái quát nhất
Thứ nhất, về “quan hệ tài sản” trong BLDS 2005
Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trước hết là một quan hệ tài sản, thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự Việt Nam là những nhóm quan hệ về nhân thân và tài sản trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (Điều 1 BLDS năm 2005) Trong đó, nhóm quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của Luật dân sự
Theo Từ điển Luật học, quan hệ tài sản được hiểu là “quan hệ giữa người với người liên quan đến tài sản” [39, tr 631]
Theo giáo trình Luật dân sự (Tập một), Trường Đại học Luật Hà Nội: “Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác” [24, tr 8] Theo giáo trình “những quy định chung về Luật Dân sự”, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, quan hệ tài sản được hiểu là “quan hệ giữa người và người về những lợi ích vật chất (dưới dạng tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng) được tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất của xã hội Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người về tài sản chứ không phải quan hệ giữa người và tài sản nhưng chính đằng sau tài sản là quan hệ xã hội” [27, tr 8]
Theo giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội: “Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội được hình thành giữa con người với nhau thông qua một tài sản Như vậy, quan hệ tài sản là một dạng của quan hệ xã hội nhưng đó là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản chứ không phải quan hệ giữa người với tài sản” [30, tr 12]
Từ những định nghĩa trên có thể hiểu: quan hệ tài sản là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác thông qua một tài sản (dưới dạng tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng hay giao dịch chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó trong quá trình sản xuất, phân phối lưu thông)
Trang 12Theo đó, quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn liền với một tài sản và khái niệm quan hệ tài sản có liên quan chặt chẽ với khái niệm tài sản Tài sản có thể là tài sản hữu hình (động sản và bất động sản) hoặc tài sản vô hình (quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền đối với sáng chế, ), tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Khi nói tới quan hệ tài sản, quan hệ đó có thể là sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, cũng có thể là quan hệ liên quan đến việc xác định quyền của chủ thể nhất định đối với tài sản
Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, quan hệ tài sản được hình thành một cách khách quan Các quan hệ này được thiết lập ngày càng đa dạng, phụ thuộc vào từng điều kiện phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và sự điều chỉnh của pháp luật thì quan hệ tài sản ở mỗi quốc gia khác nhau, qua mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau
Tài sản và quyền sở hữu tài sản là một trong những tiền đề vật chất quan trọng cho
sự phát triển của kinh tế - xã hội Các quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau như Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, Mỗi ngành luật điều chỉnh các quan hệ này ở một phạm vi, mức độ và giới hạn nhất định, bằng phương pháp đặc thù của mình Trong Luật dân sự, các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản giữ vị trí trung tâm Các quan hệ giữa chủ thể khác liên quan đến vật, tiền, các giấy tờ
có giá và quyền tài sản đều là quan hệ tài sản
Thứ hai, về việc xác định "yếu tố nước ngoài"
Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài nó mang đặc điểm của một quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài được quy định trong phần bảy BLDS 2005
Có thể thấy, khi đời sống con người ngày càng phát triển, để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống, giao lưu trao đổi, buôn bán thì các mối quan hệ vượt ra ngoài phạm vi quốc gia phát sinh càng nhiều, và dưới đòi hỏi đó thì không có một dân tộc nào hoàn toàn đóng cửa với
bên ngoài Những quan hệ này được Tư pháp quốc tế gọi là quan hệ có “yếu tố nước ngoài”
Hiện nay, theo quan điểm phổ biến trong Tư pháp quốc tế của nhiều nước trên thế giới cho rằng quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được coi là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: khi trong quan hệ đó có chủ thể nước ngoài tham gia hoặc khi căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc khi tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nước ngoài Như vậy, quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài có thể là quan hệ tài sản thuộc một, hai hoặc cả ba trường hợp đó [19, tr 10] Pháp luật Việt Nam đã định nghĩa khái niệm này trong một số văn bản Đây là đặc điểm khá đặc biệt so với pháp luật một số nước, ví dụ như Thụy Sĩ, Ý, Bỉ đều có luật về
Tư pháp quốc tế riêng nhưng đều không định nghĩa cụ thể về khái niệm này [13, tr 21]
Theo quy định tại Điều 758 BLDS 2005 thì “yếu tố nước ngoài” được xác định như sau:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
Trang 13ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”
Như vậy, Tư pháp quốc tế Việt Nam dựa trên các dấu hiệu cơ bản sau để xác định
“yếu tố nước ngoài” trong một quan hệ dân sự:
Một là, chủ thể có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở các nước khác nhau
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được thiết lập bởi những chủ thể khác nhau
về quốc tịch hoặc nơi cứ trú Chính sự khác nhau này dẫn đến việc cùng một quan hệ nhưng tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia sẽ khác nhau bởi mỗi người đều phải chịu sự điều chỉnh về quy chế nhân thân của một hệ thống pháp luật mà họ mang quốc tịch hoặc cư trú Vì lý do chủ quyền quốc gia nên khó có thể có một quy chế pháp lý về nhân thân chung cho các chủ thể này, vì vậy cần phải thông qua một cơ chế giải quyết khác để giải quyết thực tế quyền và nghĩa vụ cho họ
Theo quy định tại BLDS 2005 thì yếu tố nước ngoài được xác định đầu tiên cũng
dựa trên tiêu chí “trong quan hệ đó có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Cụ thể:
Người nước ngoài: theo quy định của pháp luật Việt Nam, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài: theo khoản 3 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, khoản 3 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 2 loại là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Cụ thể:
Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013)
Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là những người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (khoản 4 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 2008)
Cơ quan, tổ chức nước ngoài là các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức Việt Nam được thành lập theo pháp luật nước ngoài, bao gồm cả cơ quan, tổ chức quốc tế được thành lập theo pháp luật quốc tế (khoản 4 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP)
Pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài (khoản 5 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP)
Cần lưu ý rằng người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài phải là chủ thể của quan
hệ pháp luật Nếu là quan hệ có người đại diện thì cần phải xét tư cách người nước ngoài
Trang 14đối với người được đại diện: chủ thể là chủ thể nước ngoài khi người được đại diện là người nước ngoài, tổ chức nước ngoài
Hai là, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật xảy ra
ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài
Trên cơ sở thực thi chủ quyền của quốc gia đối với dân cư và lãnh thổ, pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam đều thống nhất quan điểm cho rằng một quan hệ có thể được coi là có yếu tố nước ngoài nếu căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh
ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài mặc dù các bên chủ thể của quan hệ là công dân, tổ chức Việt Nam
Ví dụ: pháp nhân Việt Nam ký hợp đồng mua bán hàng hoá với pháp nhân Việt Nam tại Tokyo, Nhật Bản, việc ký kết hợp đồng là một sự kiện pháp lý xảy ra tại Nhật Bản, mặc dù do hai pháp nhân Việt Nam ký kết nhưng quan hệ hợp đồng này vẫn được thừa nhận là quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài Theo đó, các quốc gia có thể điều chỉnh các hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức, pháp nhân trên lãnh thổ nước mình không phân biệt là cá nhân, tổ chức, pháp nhân trong nước hay ngoài nước Điều này phù hợp với nguyên tắc luật nơi xảy ra hành vi hoặc sự kiện pháp lý Tuy nhiên, cũng có những quy định về trường hợp ngoại lệ không sử dụng nguyên tắc này
Ba là, tài sản liên quan đến quan hệ này tồn tại ở nước ngoài
Khi tài sản dịch chuyển ra khỏi lãnh thổ một quốc gia thì rất có thể có sự thay đổi về quy chế pháp lý đối với tài sản đó, tài sản đó có thể chịu sự điều chỉnh của một hay nhiều
hệ thống pháp luật khác nhau Chính sự đặc biệt này nên pháp luật Việt Nam coi một quan
hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam được cho là có yếu tố nước ngoài nếu như tài sản liên quan đến quan hệ này ở nước ngoài
Ví dụ: Công ty Tân H mua của một công ty Thụy Điển bộ phận thiết bị phân tích khí gas Công ty Tân H đã ủy thác cho Công ty Đức V nhận lô hàng này tại kho của nhà sản xuất và vận chuyển về Hà Nội [42] Ở đây mặc dù công ty Tân H và công ty Đức V là hai chủ thể Việt Nam nhưng tài sản ủy thác lại ở nước ngoài nên theo quy định đây cũng là quan hệ có yếu tố nước ngoài
Như vậy, quan hệ dân sự được coi là có yếu tố nước ngoài có thể là một quan hệ thuộc một, hai hoặc cả ba trường hợp trên So với quan hệ thông thường quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung có điểm khác biệt đó là nó luôn liên quan đến hai hay nhiều
hệ thống pháp luật Vấn đề chọn hệ thống pháp luật nước nào để điều chỉnh quan hệ này chính là mấu chốt của Tư pháp quốc tế
Đối chiếu với BLDS 1995 thì BLDS 2005 đã mở rộng khái niệm yếu tố nước ngoài, bởi vì trước đây một quan hệ giữa hai bên chủ thể Việt Nam mà căn cứ để xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài không được coi là “có yếu tố nước ngoài” Điều 826 BLDS 1995 chỉ quy định: “Trong Bộ luật này quan hệ dân sự có yếu tố
Trang 15nước ngoài được hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”
Như vậy, từ việc phân tích trên có thể hiểu khái niệm “quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài” như sau:
Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác thông qua một tài sản mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ tài sản giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài theo quy định tại phần thứ bảy BLDS 2005 bao gồm: quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài, quan hệ hợp đồng dân sự có yếu
tố nước ngoài, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Trong đó BLDS 2005 cũng không quy định trực tiếp về các khái niệm này, dựa trên những quy định của BLDS 2005 có thể định nghĩa như sau:
Về quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài
Quyền sở hữu là quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật [19, tr 34]
Quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài là quan hệ mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tài sản hữu hình có yếu tố nước ngoài và quan hệ sở hữu đối với tài sản vô hình có yếu tố nước ngoài
Về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật [12, tr 39]
Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là những quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia khi các quốc gia tiến hành giao lưu và hợp tác quốc tế Điều này được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị định
138/2006/ NĐ-CP, được hiểu là quan hệ mà trong đó có ít nhất một trong các bên để lại thừa kế hoặc bên nhận thừa kế cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Trang 16Về quan hệ thừa kế, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nước ngoài phân biệt thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc của mỗi nước:
Thừa kế theo pháp luật là trường hợp khi người chết để lại di sản thừa kế không có
di chúc, cơ quan có thẩm quyền phải dựa vào pháp luật nhà nước để giải quyết [33, tr 213]
Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là trường hợp khi một công dân nước này, cư trú ở một nước khác lập di chúc để lại di sản cho những người thừa kế khác Di sản cũng có thể nằm ở nhiều quốc gia khác nhau [33, tr 219]
Về quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng dân sự: “Hợp đồng dân sự là
sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện tại chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp
đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Theo một số quy định của Luật Thương mại mới chỉ quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài Nếu coi quan hệ hợp đồng là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì có thể định nghĩa quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo các tiêu chí của Điều 758 BLDS 2005 (chủ thể có ít nhất một bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài; hợp đồng được giao kết, thực hiện ở
nước ngoài; tài sản là đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài)
Về quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây hại của người gây thiệt hại không thuộc về trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng đã
ký kết [29, tr 122]
Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài là quan hệ mà trong đó các bên chủ thể tham gia trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm bên gây hại và bên bị hại có quốc tịch khác nhau hoặc nơi cứ trú khác nhau (đối với
cá nhân) hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau (đối với pháp nhân) và hành vi gây thiệt hại hoặc hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại xảy ra ở nước ngoài [1, tr 279]
1.1.2 Đặc điểm của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trước tiên
nó là một quan hệ tài sản, vì thế nó mang đặc điểm của một quan hệ tài sản nói chung thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự như sau:
Một là, quan hệ tài sản luôn liên quan đến tài sản: nếu không có tài sản thì không
thể hình thành quan hệ tài sản Quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật dân
sự có thể trực tiếp liên quan đến tài sản (như sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua mua bán, thuê, mượn, ) hoặc gián tiếp có liên quan đến tài sản (như thông qua việc thanh toán giá trị của hợp đồng, bồi thường thiệt hại )
Khái niệm tài sản theo quy định tại Điều 163 BLDS 2005 như sau: “Tài sản bao
Trang 17gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Vật có thực là những vật có sẵn trong
tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra, con người có thể nhìn thấy, sờ thấy được (tài sản hữu hình) và có thể chiếm giữ được làm của mình Tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền (séc, tín phiếu, công trái, ) cũng là một loại tài sản có giá trị trao đổi, lưu thông kinh tế, chúng có đặc điểm là chủ sở hữu thực hiện các quyền năng pháp lý đối với loại tài sản này phải tuân thủ các quy định của Nhà nước Các quyền tài sản (sản phẩm trí tuệ, quyền đòi nợ ) cũng trị giá được bằng tiền và được phép chuyển dịch trong giao lưu dân sự
Tài sản theo quy định của pháp luật có thể là vật hiện có, tài sản được hình thành trong tương lai, quyền tài sản Có những trường hợp đặc biệt, một loại tài sản nào đó chỉ
có thể là đối tượng hạn chế trong một quan hệ dân sự cụ thể thì tài sản này chỉ là đối tượng trong các quan hệ được xác định Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội thì khái niệm về tài sản cũng dần dần được mở rộng, ngoài tài sản vật chất cụ thể (hữu hình),
khái niệm tài sản còn có tài sản “ vô hình” Nhưng dù là bất cứ một loại tài sản nào thì quan
hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh cũng liên quan đến tài sản [21, tr 8-9]
Hai là, quan hệ tài sản là các quan hệ mang tính chất hàng hoá - tiền tệ Trong quan
hệ tài sản các chủ thể tiến hành trao đổi hàng hoá, dịch vụ, các sản phẩm trí tuệ với nhau để đổi lấy giá trị vật chất trong đó cơ bản là được tính bằng tiền Quy luật thị trường trong nền sản xuất hàng hoá chi phối các quan hệ tài sản mà chúng được biểu hiện dưới hình thức tiền
tệ Đây là đặc điểm để phân biệt các nhóm quan hệ tài sản do mỗi ngành luật điều chỉnh Trong sự trao đổi thông qua hình thức hàng - tiền: sức lao động và các hoạt động dịch vụ khác cũng được coi là hàng hoá Định hướng chiến lược của Nhà nước ta, hiện nay là xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, trong mô hình kinh tế này, các tài sản được thể hiện dưới dạng hàng hóa và được quy thành tiền Sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ để bán, để trao đổi là đặc trưng của nền sản xuất này
Ba là, quan hệ tài sản tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người Các
quan hệ tài sản có liên quan trực tiếp với quan hệ sản xuất và phù hợp với phương thức sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở của xã hội, bởi lẽ các quan hệ tài sản là những quan hệ kinh tế cụ thể được phát sinh giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và cung ứng dịch vụ trong xã hội Các quan hệ sản xuất xã hội là những quan hệ mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người Theo C.Mác nhận định mối liên hệ qua lại giữa các quan hệ tài sản và quan hệ sản xuất như sau:
“ trong sản xuất xã hội của cuộc sống, con người tham gia vào các quan hệ nhất định và cần thiết không phụ thuộc vào ý chí con người - các quan hệ sản xuất mà chúng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất nhất định ” [14, tr 100] Tính độc
lập của các quan hệ sản xuất đối với ý chí con người được thể hiện ở ba yếu tố:
Con người tham gia vào mối quan hệ sản xuất đang tồn tại và không thể thay đổi quan hệ đó theo ý mình
Trang 18Con người phải tham gia vào các quan hệ giữa họ với nhau, phải trao đổi kết quả lao động của mình do để đảm bảo cuộc sống và lao động, chính điều đó đã thu hút con người vào hệ thống các mối quan hệ sản xuất - xã hội đang tồn tại
Sự tồn tại độc lập của các quan hệ sản xuất xã hội đối với ý chí con người còn được thể hiện: theo Lê Nin: “Khi trao đổi các sản phẩm lao động con người đã tham gia vào các quan hệ sản xuất, thậm chí cả khi chưa ý thức được rằng ở đấy có quan hệ sản xuất xã hội”
Như vậy, con người không ý thức đầy đủ được tất cả sự đa dạng và phức tạp của các quan hệ sản xuất xã hội mà họ tham gia Tuy nhiên trong khuôn khổ của sự cần thiết đó con người đã thể hiện ý chí, tức là hành động có suy nghĩ và có ý thức để đạt được những mục đích đặt ra
và cuối cùng, quan hệ sản xuất là kết quả của hoạt động có ý thức của con người trong quá
trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng các tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động
Bốn là, quan hệ tài sản thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ, ý chí đó
phải phù hợp với ý chí của Nhà nước Tuy rằng quan hệ sản xuất tồn tại độc lập với ý chí con người, nó phát triển theo quy luật khách quan, nhưng quy luật này được nhận thức và phản ánh thông qua những quy phạm pháp luật lại mang tính chủ quan – ý chí của giai cấp thống trị phản ánh sự tồn tại xã hội thông qua các quy phạm pháp luật Quan hệ tài sản là quan hệ giữa con người với con người về một tài sản nào đó, chứ không phải là quan hệ giữa con người với đồ vật Các quan hệ tài sản rất đa dạng, phong phú và các chủ thể tham gia vào các quan hệ này cũng rất khác nhau (có thể là cá nhân hay tổ chức) nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất – kinh doanh Trong quan hệ tài sản, chủ thể có thể lựa chọn quan hệ tài sản mà mình tham gia, lựa chọn chủ thể tham gia quan hệ với mình, lựa chọn các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ này
Tuy nhiên, khi tham gia quan hệ tài sản, ý chí của chủ thể tham gia quan hệ phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, ý chí đó thể hiện qua các quy định của pháp luật Thông qua các quy phạm pháp luật, Nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, tức là các quan
hệ có ý chí mang nội dung kinh tế, hướng cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển phù hợp với ý chí Nhà nước Thông thường, theo nguyên tắc chung, Nhà nước thường có sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc đưa ra các quy định xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ tài sản mà họ tham gia Nhưng có những trường hợp nhất định, pháp
luật còn có các quy định mang tính chất “cấm đoán”– tức là nghiêm cấm chủ thể thực
hiện những hành vi nhất định hoặc buộc chủ thể phải thực hiện những hành vi nhất định Quy định này thể hiện ý chí của Nhà nước buộc các chủ thể phải tuân theo
Năm là, trong quan hệ tài sản có sự đền bù ngang giá về lợi ích vật chất đối với các
chủ thể tham gia Do phát sinh trên cơ sở sử dụng hình thức tiền – hàng trong lưu thông phân phối, trao đổi nên các quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh phải tuân theo quy luật giá trị Tham gia quan hệ tài sản, ít nhất một bên trong quan hệ tài sản cũng quan tâm đến lợi ích vật chất – đó là tài sản Chính vì lý do đó, sự đền bù ngang giá là yếu tố đặc
Trang 19trưng của các quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh Sự đền bù ngang giá đem lại lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ tài sản, tuy nhiên cũng cần hiểu sự đền bù ngang giá
có tính tương đối vì không phải quan hệ tài sản nào cũng có sự đền bù ngang giá (ví dụ: quan hệ thừa kế, quan hệ tặng cho không có điều kiện ) Ngoài ra, tính đền bù trong quan
hệ tài sản còn có thể bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố như tình cảm, phong tục tập quán
Những người tham gia quan hệ tài sản là chủ thể (theo phương diện pháp lý) độc lập với nhau, có vị trí bình đẳng với nhau, có tài sản riêng và hoàn toàn chủ động định đoạt tài sản đó, họ không bị phụ thuộc, ràng buộc với nhau bởi bất kỳ mối quan hệ hành
chính, hay xã hội khác Sự bình đẳng thể hiện ở chỗ: dựa trên tinh thần “thuận mua, vừa bán”, không có sự ép buộc nhau, kể cả quan hệ tặng, cho, thừa kế Chủ thể của các quan
hệ tài sản này rất đa dạng (cá nhân, pháp nhân) nhưng đều nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần Các quan hệ tài sản này gồm hai loại cơ bản sau đây:
Các quan hệ tài sản ở trạng thái “tĩnh” gắn với việc chiếm giữ những đối tượng vật
chất nhất định – chúng được gọi là các quan hệ sở hữu (quan hệ vật quyền)
Các quan hệ tài sản ở trạng thái “động” trong lĩnh vực trao đổi những lợi ích vật
chất, được gọi là các giao dịch dân sự (quan hệ trái quyền) Đây là hình thức pháp lý phổ biến được sử dụng trong lưu thông dân sự và trao đổi hàng hoá
Thứ hai, do quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của
Tư pháp quốc tế nên nó còn mang những đặc điểm cơ bản của một quan hệ dân sự có yếu
Xét về đặc điểm thì quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài sẽ có đặc điểm của một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
Một là, về chủ thể của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài: quan hệ tài sản có yếu
tố nước ngoài là quan hệ có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Hai là, căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ: quan hệ dân sự giữa các bên
tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài
Ba là, khách thể của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài: quan hệ dân sự giữa
các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Đối với các quan hệ dân sự không thuộc trường hợp nào trong ba trường hợp nêu trên, thì về nguyên tắc chỉ cần một hệ thống pháp luật điều chỉnh là đủ
Trang 201.2 Ý nghĩa của các quy định về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Trước xu thế phát triển của nền kinh tế, các giao dịch vượt ra khỏi biên giới quốc gia ngày càng nhiều, kéo theo là phát sinh những tranh chấp giữa các chủ thể vì vậy việc xác định tòa án nào có thẩm quyền giải quyết ngày càng cần thiết Có thể thấy, các quốc gia thực hiện quyền tối cao và riêng biệt trong phạm vi lãnh thổ của mình trên mọi phương diện, đặc biệt là quyền tài phán Tuy nhiên có nhiều trường hợp công dân của quốc gia có hành vi vi phạm pháp luật nhưng họ lại đang cư trú ở nước ngoài thì Tòa án của quốc gia khó có thể thực hiện được quyền tài phán, nếu không có sự tương trợ của Nhà nước nước ngoài hữu quan (như thu thập chứng cứ, ủy thác điều tra, tống đạt giấy tờ ) Như vậy, khi thụ lý và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài, thì Tòa án không chỉ căn cứ vào hệ thống pháp luật nước mình hoặc sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan chức năng của nước mình, mà trong nhiều trường hợp phải xem xét áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc cần có sự tương trợ, giúp đỡ của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, thì mới có thể giải quyết vụ việc Vì vậy, việc có những quy định hoàn thiện về những quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong pháp luật
sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cơ quan có thẩm quyền áp dụng để giải quyết
Thứ hai, điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể tham gia
Có thể thấy đối với những xung đột pháp luật về quan hệ tài sản, các quốc gia có liên quan đều muốn xác định thẩm quyền giải quyết để bảo vệ công dân nước mình hoặc đảm bảo yếu tố chủ quyền quốc gia Tại Việt Nam, khi chưa xác định được quan hệ đó là
Trang 21quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài thì đối với rất nhiều quan hệ, Tòa án Việt Nam đều
được xác định có thẩm quyền để giải quyết và đương nhiên pháp luật áp dụng là pháp
luật Việt Nam Điều này sẽ là bất lợi cho một số chủ thể vì đáng lẽ ra pháp luật nước họ
được áp dụng để giải quyết Hoặc ngược lại, sẽ là bất lợi đối với chủ thể Việt Nam nếu
như không có những quy định rõ ràng trong pháp luật về những quan hệ được điều chỉnh
bởi pháp luật Việt Nam Vì vậy, ghi nhận quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài chính là
cơ sở quan trọng để các bên chủ thể bảo đảm quyền và nghĩa vụ của họ
Đồng thời hiện nay, quy định về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS
2005 là nền tảng cho người nước ngoài thực hiện các giao dịch có tính chất đảm bảo hơn
ở Việt Nam đặc biệt các giao dịch liên quan đến tài sản Trên cơ sở pháp lý rõ ràng, góp
phần thuận tiện cho việc áp dụng các chế định đối với người nước ngoài khi cần thiết giải
quyết một vấn đề xảy ra trên thực tế, đồng thời qua đó giúp họ nắm được hệ thống pháp
luật, quyền và nghĩa vụ mà họ được hưởng
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, quy định về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài đáp ứng đòi hỏi khách
quan của phát triển đời sống xã hội, giúp ổn định các quan hệ xã hội
Ngay từ thời La Mã, các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài đã được pháp luật quy
định Sau đó, các quốc gia đều chú trọng đến việc xây dựng những quy định của pháp luật
để điều chỉnh quan hệ này Nhật Bản đã ban hành đạo luật về Tư pháp quốc tế riêng năm
1898 (từ thời Minh Trị) nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Điều đó
khẳng định thái độ và trách nhiệm của nhà nước trong việc thừa nhận và bảo hộ đối với các
loại quan hệ này, tạo thuận lợi cho các quan hệ này ngày càng phát triển
Dưới tác động và ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, kéo theo sự phát triển của
các quan hệ dân sự, thương mại trên phạm vi quốc tế là sự dịch chuyển các dòng vốn, tài
sản từ nước này sang nước khác làm phát sinh các quan hệ tài sản có tính chất quốc tế Đây
là một thực tế khách quan, thể hiện nhu cầu giao lưu dân sự giữa các cá nhân, pháp nhân
trong xã hội và tạo tiền đề cho việc pháp luật điều chỉnh Trên cơ sở đó, tùy thuộc vào
phạm vi, tính chất và mức độ tác động, ảnh hưởng của các quan hệ này đối với xã hội, mà
đặt ra cho mỗi quốc gia yêu cầu điều chỉnh các quan hệ đó theo hướng như thế nào
Đối với Việt Nam - một nước đang phát triển, từ khi thực hiện chính sách đổi mới
(1986), quan hệ quốc tế được mở rộng theo hướng đa phương, đa dạng hóa Với chính sách
mở cửa nền kinh tế, những năm qua ngày càng có nhiều những nhà đầu tư nước ngoài mang
vốn, tài sản đầu tư tại Việt Nam và công dân Việt Nam đi làm ăn, đầu tư kinh doanh tại nước
ngoài tạo ra môi trường khá sôi động, đòi hỏi cần có những quy định chặt chẽ hơn nữa để
điều chỉnh những vấn đề này Việc quy định về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong
BLDS - đạo luật mẹ đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của phát triển đời sống xã hội
Có thể thấy việc điều chỉnh các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS
Trang 22đã góp phần làm ổn định các quan hệ dân sự, từ đó định hướng cho các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát triển một cách lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật, và làm giảm thiểu các tranh chấp phát sinh
Thứ hai, điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài phản ánh rõ nét chính sách đối ngoại mở rộng của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế, là biểu hiện của chủ quyền quốc gia, phù hợp trong với quan hệ hợp tác quốc tế
Thông qua cơ chế điều chỉnh hết sức đặc thù (bằng phương pháp giải quyết xung đột pháp luật), đã phản ánh khá rõ nét chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế Từ đó có thể khẳng định rằng, phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài càng rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thì cho thấy mức độ ảnh hưởng của chính sách đối ngoại của Nhà nước đối với sự phát triển của các quan hệ dân sự quốc tế càng lớn Ngược lại, nếu phạm vi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài càng hẹp, thậm chí chỉ xuất hiện một số quan hệ trên một số lĩnh vực nhất định, thì điều đó cũng phản ánh sự hạn chế nhất định trong chính sách đối ngoại của Nhà nước
Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia - chủ thể cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, là những yêu cầu cơ bản trong thực tiễn quốc tế hiện đại và đã được ghi nhận trong rất nhiều Điều ước quốc tế song phương và đa phương (Ví dụ: Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan
hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc) Trong giai đoạn hiện nay, khi các giao lưu thương mại ngày càng phát triển, thì nhu cầu hợp tác quốc tế không chỉ dừng lại ở phạm vi các vấn đề có tính phổ cập như ổn định hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển kinh tế - khoa học kỹ thuật, mà đã được mở rộng trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia, trong đó hợp tác về pháp luật và tư pháp (hiểu theo nghĩa rộng) giữ vai trò đặc biệt Do đó, điều chỉnh các quan hệ tài sản nói riêng và quan hệ dân
sự nói chung phát sinh giữa công dân, pháp nhân của các quốc gia với nhau, là đòi hỏi tất yếu xuất phát từ chủ quyền quốc gia, trên cơ sở nghĩa vụ hợp tác nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của công dân trong các giao lưu dân sự có yếu tố nước ngoài
1.3 Phương pháp điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
Ngay từ thời Trung cổ, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật đã được lưu ý và thiết lập một cách quy củ và phát triển liên tục với những quy chế biệt lập Các quốc gia dù sớm hay muộn đều có những quy định riêng trong pháp luật để điều chỉnh những quan hệ này Tuy nhiên, để điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài hiện tại Tư pháp quốc
tế các nước đều thống nhất chủ yếu sử dụng hai phương pháp điều chỉnh là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất Việt Nam cũng áp dụng chủ yếu hai phương pháp điều chỉnh này để giải quyết vấn đề liên quan đến quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột được hình thành, xây dựng trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các Điều ước quốc tế mà
Trang 23quốc gia đó là thành viên Đây là phương pháp chủ yếu được áp dụng trong Tư pháp quốc
tế của các nước Phương pháp này là phương pháp gián tiếp, không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mà chỉ
ra việc lựa chọn một trong các hệ thống pháp luật liên quan để điều chỉnh quan hệ đó Quan niệm này được đa số các luật gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thừa nhận Phương pháp điều chỉnh này thể hiện thông qua sự dẫn chiếu của các quy phạm xung đột (trong các văn bản pháp luật hoặc Điều ước quốc tế) đến một hệ thống pháp luật có liên quan Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể sẽ do hệ thống pháp luật của nước được quy
phạm xung đột “dẫn chiếu” đến điều chỉnh Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là phải căn cứ vào sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột để tìm ra pháp luật của nước nào được áp dụng Ưu điểm nổi bật của phương pháp này chính là đơn giản, dễ dàng xây dựng và có tính chất bao quát và toàn diện
Trên thực tế, để giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài, các hệ thuộc cơ bản thường được sử dụng:
- Hệ thuộc Luật nhân thân (lex personalis) là hệ thuộc luật liên quan đến nhân thân của một con người [31, tr 101] Bao gồm hai biến dạng là luật quốc tịch (lex nationalis) và luật nơi cư trú (lex domicilii) Đây là hệ thống pháp luật gắn bó nhất với một chủ thể Hiện nay tại các nước việc vận dụng hai hệ thuộc này có sự khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi nước Cụ thể là có những quốc gia chủ yếu áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch như Pháp, Đức ;
có những quốc gia áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú hàng đầu như Anh, Mỹ, và cũng có những quốc gia sử dụng song song hai hệ thuộc này như Áo, Thụy Sĩ [1, tr 86-88]
Luật quốc tịch (lex nationalis) hay còn gọi là luật bản quốc (lex patriae) được hiểu
là luật của quốc gia mà đương sự là công dân Ví dụ khoản 1 Điều 767 BLDS 2005 quy
định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài: “Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết”
Luật nơi cư trú (lex domicilii) là luật của nước mà người đó có nơi cư trú ổn định (thường là nơi thường trú) Theo Điều 760 BLDS thì hệ thuộc này được áp dụng thay cho
hệ thuộc luật quốc tịch trong trường hợp đương sự là người không quốc tịch hay nhiều quốc tịch
- Hệ thuộc Luật quốc tịch của pháp nhân (lex societatis): đây là hệ thống pháp luật nơi mà pháp nhân mang quốc tịch Theo Tư pháp quốc tế thì các nguyên tắc cơ bản
để xác định quốc tịch của pháp nhân như sau:
Nơi đặt trụ sở của pháp nhân: nguyên tắc này chủ yếu được áp dụng tại các nước châu Âu lục địa như Pháp, Thụy Sĩ,
Nơi thành lập pháp nhân (nơi đăng ký điều lệ): nguyên tắc này được vận dụng chủ yếu tại các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ và một số nước ở Mỹ Latinh
Nơi pháp nhân thực tế thực hiện hoạt động kinh doanh: nguyên tắc này được áp dụng chủ yếu ở các nước khu vực Ả Rập như Ai Cập, Xyri [1, tr 87-88]
Trang 24Đối với Việt Nam, pháp nhân được coi là có quốc tịch Việt Nam khi pháp nhân đó đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và đăng ký điều lệ ở Việt Nam không phụ thuộc vào việc hoạt động ở đâu
- Hệ thuộc Luật nơi có tài sản (lex rei sitae): được hiểu là hệ thống pháp luật nước nơi tài sản thực tế tồn tại Hệ thuộc này sử dụng chủ yếu để giải quyết các quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài và giải quyết xung đột pháp luật về định danh tài sản BLDS 2005 Việt
Nam cũng thừa nhận nguyên tắc này, ví dụ: khoản 3 Điều 766 quy định: “Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản”
Tuy nhiên, về việc áp dụng hệ thuộc này có những ngoại lệ không áp dụng trong các trường hợp sau: các quan hệ sở hữu và các quan hệ tài sản trong lĩnh vực hàng không dân dụng và hàng hải quốc tế (hệ thuộc luật quốc kỳ (lex libri) hoặc hệ thuộc luật nơi ký hợp đồng (lex loci contractus) được áp dụng); các quan hệ sở hữu đối với các đối tượng của sở hữu trí tuệ; các quan hệ về tài sản liên quan đến pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó giải thể hoặc liên quan đến tài sản của quốc gia đang ở nước ngoài hoặc quan hệ tài sản liên quan đến các đối tượng của các đạo luật về quốc hữu hóa
- Hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus) bao gồm ba biến dạng: luật nơi ký kết hợp đồng (lex loci contractus), luật nơi thực hiện nghĩa vụ (lex loci solutionis), luật nơi thực hiện hành động [1, tr 92-93]
Luật nơi ký kết hợp đồng được hiểu là khi các bên tham gia ký kết hợp đồng thì quyền và nghĩa vụ của họ sẽ được xác định theo luật của nơi họ ký kết hợp đồng đó
Luật nơi thực hiện nghĩa vụ được hiểu là khi các bên tham gia thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thì phải tuân theo luật của nước nơi họ thực hiện nghĩa vụ
Luật nơi thực hiện hành động là hệ thuộc được áp dụng trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài
- Hệ thuộc Luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn (lex voluntaitis): các bên khi tham gia ký kết hợp đồng có thể tự do lựa chọn hệ thống pháp luật để giải quyết quan
hệ hợp đồng Tuy nhiên việc thỏa thuận này cũng phải đáp ứng các điều kiện sau: một là, việc thỏa thuận chọn luật để điều chỉnh các quan hệ phải thuộc trường hợp pháp luật cho phép chọn luật; hai là, việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của quốc gia các bên và việc áp dụng này không để lẩn tránh pháp luật;
ba là, các bên phải lựa chọn quy phạm thực chất trong hệ thống pháp luật của một nước cụ thể hoặc trong tập quán quốc tế điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên
- Hệ thuộc Luật Tòa án (lex fori): là hệ thống pháp luật của nước tòa án thụ lý vụ việc Luật tòa án bao gồm luật tố tụng và luật nội dung Tòa án thụ lý sẽ áp dụng luật tố tụng của nước mình đối với việc: xác định thẩm quyền xét xử; trình tự thủ tục giải quyết
vụ việc; thủ tục tố tụng công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án, trọng tài nước ngoài trừ trường hợp các Điều ước nước ngoài có những quy định khác
Trang 25- Hệ thuộc Luật nơi vi phạm pháp luật (lex loci delicti commissi): được áp dụng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật, theo đó khi xảy ra xung đột pháp luật về vấn đề này sẽ giải quyết theo pháp luật nơi vi phạm pháp luật Nơi vi phạm pháp luật có thể hiểu là nơi hiện diện kết quả của hành vi gây thiệt hại, nơi thực hiện hành vi gây thiệt hại,
- Hệ thuộc luật quốc kỳ (lex banderae) là pháp luật nước mà phương tiện vận tải mang quốc kỳ và hệ thuộc luật nơi đăng ký phương tiện vận tải (lex libri sotae) là pháp luật nước nơi phương tiện vận tải đăng ký
1.3.2 Phương pháp thực chất
Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Tức là các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan
hệ Khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết quan hệ đó không phải tiến hành chọn hệ thống pháp luật của nước này hay nước khác mà căn cứ trực tiếp vào quy định đó để giải quyết các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ
Quy phạm thực chất được chia làm hai loại là:
Thứ nhất, quy phạm thực chất thống nhất tức là những quy phạm thực chất được
xây dựng trong các Điều ước quốc tế hoặc quy phạm được thừa nhận trong các tập quán quốc tế Những quy phạm này góp phần làm hài hòa hóa sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia
Ví dụ: quy phạm thực chất được ghi nhận trong Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 67, 68, 69)…hoặc trong các tập quán thương mại quốc tế thuộc lĩnh vực thương mại và hàng hải quốc tế như các quy tắc tập quán trong incoterms (international commercial tems) 2010…
Thứ hai, quy phạm thực chất thông thường tức là những quy phạm thực chất
được ghi nhận trong pháp luật quốc gia Ví dụ: quy phạm thực chất được áp dụng để giải quyết quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS 2005 như: khoản 3, 4 Điều 767 BLDS quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài:
“3 Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó;
4 Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về Nhà nước mà người để lại
di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết”
Lợi thế của phương pháp này là ở chỗ, góp phần trực tiếp giải quyết nhanh chóng xung đột pháp luật liên quan đến quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài Tạo ra khả năng nhất định để đảm bảo áp dụng thống nhất nội dung các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh cùng một quan hệ cụ thể ở các nước khác nhau, tránh việc áp dụng đơn phương ở từng nước Khi áp dụng quy phạm pháp luật thực chất (là quy phạm trực tiếp quy định
Trang 26quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, kể cả biện pháp chế tài) để giải quyết các tranh chấp phát sinh, Tòa án có thể thấy rõ ngay hậu quả của việc áp dụng pháp luật là phù hợp hay trái với nguyên tắc tôn trọng trật tự công cộng của quốc gia mình
Phương pháp thực chất điều chỉnh bằng cách các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế mà trong đó có các quy phạm thực chất thống nhất đã làm tăng khả năng điều chỉnh hữu hiệu của pháp luật Nó loại bỏ sự khác biệt, thậm chí mâu thuẫn trong luật pháp các nước với nhau Việc vận dụng và tăng cường khả năng áp dụng quy phạm thực chất thống nhất giữa các quốc gia sẽ thúc đẩy hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia, là biểu hiện của sự hợp tác quốc tế
Tuy nhiên, việc xây dựng quy phạm thực chất không đơn giản vì lợi ích các quốc gia khi tham gia vào quan hệ Tư pháp quốc tế là khác nhau, trình độ phát triển kinh tế -
xã hội khác nhau, phong tục tập quán khác nhau nên quy phạm này chiếm số lượng không nhiều
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc tìm hiểu về những vấn đề lý luận chung về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong tổng thể các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ta thấy rằng: quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài do Tư pháp quốc tế điều chỉnh, mang đặc điểm và bản chất của một quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh bởi nó trước hết là một quan hệ tài sản, đồng thời nó có những đặc điểm riêng biệt về chủ thể, căn cứ phát sinh quan hệ, khách thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài để phân biệt với những quan hệ tài sản thông thường do Luật dân sự điều chỉnh Phương pháp điều chỉnh các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm: phương pháp thực chất và phương pháp xung đột, phù hợp với thông lệ quốc tế Từ việc tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài tác giả rút ra được ý nghĩa về mặt pháp lý và thực tiễn của các quy định về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài làm cơ sở
để phân tích, đánh giá nội dung những quy định của BLDS 2005 về quan hệ này ở chương tiếp theo Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan
hệ đối ngoại được mở rộng theo nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa với tất cả các nước trên thế giới, các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng phát triển ngày càng mạnh mẽ thì việc quy định về quan hệ này trong BLDS càng cần thiết
Trang 27CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ QUAN HỆ TÀI
SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Theo phân tích tại Chương 1 thì trong quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài theo quy định tại phần thứ bảy BLDS 2005 gồm: quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài, quan
hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Đối với mỗi quan hệ BLDS 2005 lại có những quy chế pháp lý riêng Tại Chương 2 tác giả sẽ chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của BLDS 2005 về quan hệ tài sản hữu hình có yếu tố nước ngoài như giới hạn trong phần phạm vi nghiên cứu trên cơ sở so sánh với quy định của một số quốc gia trên thế giới để khẳng định những ưu điểm và rút ra những tồn tại, hạn chế trong quy định của BLDS 2005, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện những quy định này tại Chương 3
2.1 Quy định của BLDS năm 2005 về quyền sở hữu đối với tài sản (hữu hình)
có yếu tố nước ngoài
Chế độ pháp lý về tài sản là chế định trung tâm trong hầu hết hệ thống pháp luật các nước, bởi nó hình thành và phát triển dựa trên nền tảng của các hình thái kinh tế xã hội Vì vậy, việc quy định về quyền sở hữu trong dân luật của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng có ý nghĩa quan trọng Liên quan đến vấn đề này cần xem xét những nội dung sau:
2.1.1 Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản
Quy định của pháp luật nước ngoài
Do pháp luật của các nước trên thế giới có quy định khác nhau về vấn đề sở hữu nên đã dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật từ quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài Để giải quyết vấn đề này, hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản (lex rei sitae), theo đó, quyền sở hữu tài sản sẽ được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó Nguyên tắc này dựa trên cơ sở học thuyết quy chế lãnh thổ, theo đó quốc gia nơi hiện có tài sản sẽ có quyền tài phán trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản tồn tại ở lãnh thổ quốc gia mình
Phần lớn pháp luật của các nước châu Âu lục địa (Bỉ, Hà Lan, Ý, Liên Bang Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Ba Lan…) và pháp luật Anh – Mỹ cũng như pháp luật Australia, Nhật Bản,…đều áp dụng nguyên tắc này [1, tr 143] Có thể kể đến cụ thể như sau:
Đối với Cộng hòa Pháp: Cộng hòa Pháp không có đạo luật riêng điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà việc điều chỉnh các quan hệ này được đưa vào BLDS và các văn bản pháp luật khác Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật Pháp được quy định rải rác trong BLDS Napoleon
1804 Theo đó, đối với các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) được coi là hệ thuộc cơ bản ở Pháp để điều chỉnh [18, tr 56]
Động sản: đối với động sản trên lãnh thổ Pháp thì pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật của Pháp - nơi có tài sản đó Về việc bảo vệ quyền sở hữu (như quyền chiếm hữu, sự
Trang 28ngay tình ) phải tuân theo pháp luật của nước nơi có tài sản
Bất động sản: Điều 3 BLDS Napoleon quy định: "Mọi bất động sản, ngay cả do người nước ngoài chiếm hữu, đều chịu sự chi phối của pháp luật nước Pháp" Từ đó có
thể hiểu là nếu như bất động sản nằm trên đất nước Pháp thì đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật Pháp còn nếu bất động sản tồn tại ở nước ngoài thì pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật của nước nơi có bất động sản (lex rei sitae)
Đối với Liên Bang Thụy Sĩ: Thụy Sĩ có hẳn một đạo luật riêng do Nghị viện Liên bang ban hành ngày 18/12/1987 về Tư pháp quốc tế (có hiệu lực từ ngày 01/01/1989), điều chỉnh một cách tổng thể các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Về quan hệ tài sản
có yếu tố nước ngoài, Luật của Thụy Sĩ quy định như sau: vấn đề sở hữu tài sản (là bất động sản hay động sản) có trên lãnh thổ Thụy Sĩ, nguyên tắc chung là xác định theo luật Thụy Sĩ, nơi có tài sản đó [18, tr 59] Điều 99 Luật Tư pháp quốc tế của Liên bang Thụy
Sĩ quy định đối với bất động sản rằng quyền lợi về bất động sản phải tuân theo pháp luật của nơi tài sản này tồn tại Còn động sản, Điều 100 Luật này cũng quy định pháp luật áp dụng đối với động sản là pháp luật nơi có tài sản này
Đối với Vương Quốc Bỉ: giống như Thụy Sĩ, Bỉ cũng xây dựng một Bộ luật về Tư pháp quốc tế (ban hành ngày 01/10/2004) Về quyền tài sản, pháp luật của Bỉ quy định: đối với vật quyền được xác định theo luật của nước nơi có tài sản (lex rei sitae) [74]
Đối với Québec (Canada): trong quy chế đối vật, lex rei sitae (luật nơi có vật) là
hệ thuộc cơ bản được áp dụng để xác định các quyền đối vật [19, tr 28]
Chỉ có một số ít hệ thống pháp luật (Áo, Tây Ban Nha, Achentina, Braxin và Ai Cập) giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu bằng cách chia tài sản thành hai loại
là động sản và bất động sản Đối với động sản thì áp dụng luật nhân thân của người có tài sản, với bất động sản thì áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản [1, tr 143]
Quy định của BLDS 2005 Việt Nam
Việt Nam cũng ghi nhận nguyên tắc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) trong điều chỉnh các quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài Theo khoản 1 Điều 766 BLDS
2005: “Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó” Như vậy,
không phụ thuộc đối tượng của quan hệ sở hữu là động sản hay bất động sản, quyền sở hữu
và các quyền tài sản khác sẽ do luật nơi có tài sản điều chỉnh Xét về mặt lý luận, Điều 766 BLDS 2005 điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài bằng phương pháp xung đột,
lấy hệ thuộc “luật nơi có vật” làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt,… quyền sở hữu tài
sản, cũng như nội dung quyền sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài
Trong trường hợp tài sản là đối tượng của quyền sở hữu ở Việt Nam thì việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đó phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam Như vậy, pháp luật Việt Nam sẽ quyết định vấn đề tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể có quyền
sở hữu đối với loại tài sản nào trên lãnh thổ Việt Nam, quyết định cơ sở phát sinh, thay đổi,
Trang 29chấm dứt quyền sở hữu cũng như nội dung và phạm vi thực hiện quyền sở hữu của họ đối với tài sản đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam Trong trường hợp tài sản là đối tượng của quyền sở hữu tồn tại ở nước ngoài, pháp luật và thực tiễn của Việt Nam cũng thừa nhận quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng như tổ chức, cá nhân Việt Nam nếu quyền đó hình thành trên cơ sở pháp luật nước ngoài nơi có tài sản đó Khi tài sản đó được đưa vào Việt Nam một cách hợp pháp thì Việt Nam vẫn thừa nhận quyền sở hữu của các chủ tài sản đó Tuy nhiên, về nội dung, phạm vi của quyền sở hữu trong trường hợp này, phải do pháp luật Việt Nam quy định (pháp luật của nước nơi tài sản đang tồn tại)
2.1.2 Vấn đề phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản
Khi giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu đối với tài sản sẽ nảy sinh vấn đề
định danh tài sản là động sản hay bất động sản, hai khái niệm “động sản” và “bất động sản”
không phải được hiểu một cách thống nhất trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới Cùng một tài sản đối với quốc gia này được cho là động sản nhưng quốc gia khác lại cho là bất động sản Vì thế dẫn đến phát sinh xung đột pháp luật về vấn đề này Việc định danh tài
sản chính là tiền đề cho việc giải quyết xung đột về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
Quy định của pháp luật nước ngoài
Pháp luật của đa số các nước đều ghi nhận luật nơi có tài sản là hệ thuộc để giải
quyết vấn đề này Ví dụ như Điều 3078 BLDS Canada quy định việc xác định tài sản là động sản hoặc bất động sản phải theo pháp luật nước nơi có tài sản Riêng ở Cộng hòa Pháp thì việc xác định một quan hệ tài sản là quan hệ động sản hay quan hệ bất động sản phải theo pháp luật nước Pháp, tức là luật tòa án sẽ áp dụng để giải quyết vấn đề định
danh tài sản [13, tr 199]
Quy định của BLDS 2005
Nguyên tắc luật nơi có tài sản cũng được Việt Nam áp dụng giải quyết vấn đề định
danh tài sản Theo khoản 3 Điều 766 BLDS 2005 thì “việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản” Đây là điểm khác biệt với BLDS của Việt Nam Cộng hòa 1972: theo Điều 6 của bộ luật này thì “ Luật Việt Nam có thẩm quyền để phân định tài sản có tách động sản và bất động sản” Đối với pháp luật Việt Nam khái niệm “động sản” và “bất động sản” được quy định tại Điều 174
BLDS 2005 Theo đó, bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các
tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định Còn động sản
“là những tài sản không phải là bất động sản”
2.1.3 Một số trường hợp ngoại lệ
Nguyên tắc luật nơi có tài sản là nguyên tắc chủ yếu được áp dụng trong giải quyết xung đột pháp luật từ quyền sở hữu tài sản, nhưng cũng có những ngoại lệ Trong nhiều trường hợp, không thể áp dụng nguyên tắc này do không xác định được tài sản thực tế đang
ở lãnh thổ quốc gia nào Mặt khác, nguyên tắc này cũng chỉ áp dụng được đối với các tài
Trang 30sản hữu hình mà không thể áp dụng đối với các tài sản vô hình (tài sản thuộc sở hữu trí tuệ) Những trường hợp ngoại lệ không áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản như sau:
Thứ nhất, đối với tài sản đang trên đường vận chuyển
Đây là các động sản được vận chuyển qua lãnh thổ nhiều nước, ta không thể xác định được tài sản đang ở lãnh thổ nước nào, hoặc tài sản nằm ở một nước không có liên hệ
gì với các bên trong quan hệ sở hữu (hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, chuyển cảng, ) khi xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu phát sinh giữa các bên trong quan hệ sở hữu Việc áp dụng pháp luật của nước nào để xác định quyền sở hữu đối với tài sản đang trên đường vận chuyển, trước hết tùy thuộc vào ý chí của mỗi quốc gia, phù hợp với lợi ích của mình
Quy định của Pháp luật nước ngoài
Về vấn đề này các quốc gia thường quy định rất khác nhau phụ thuộc vào ý chí chủ quan của quốc gia mình Trên thực tế nhiều quốc gia, các bên thường thỏa thuận chọn pháp luật nước nơi tài sản được chuyển đi (legi loci expenditions); pháp luật nơi tài sản được chuyển đến (legi loci destinationis); pháp luật nơi mà phương tiện vận tải mang quốc tịch, nơi có trụ sở của tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (legi fori), nơi hiện đang có tài sản (legi reisitae), pháp luật của nước do các bên lựa chọn (legi voluntatis), để điều chỉnh vấn đề này [1, tr 145] Ví dụ:
Đối với Canada: Điều 3097 BLDS Canada quy định trong trường hợp tài sản trên đường vận chuyển, thì quyền đối vật được xác định theo hệ thuộc nơi tài sản được chuyển đến [19, tr 28]
Đối với Vương Quốc Bỉ: Bộ luật về Tư pháp quốc tế (ban hành ngày 01/10/2004) quy định: đối với tài sản đang trên đường vận chuyển được xác định theo luật của nước nơi tài sản sẽ được chuyển đến [74]
Đối với Liên Bang Thụy Sĩ: Theo Điều 101 Bộ Luật Tư pháp quốc tế Thụy Sĩ thì đối với tài sản đang trên đường vận chuyển sẽ được điều chỉnh bởi luật của quốc gia nơi tài sản được chuyển đến
Quy định của BLDS 2005
Theo khoản 2 Điều 766 của BLDS 2005 thì: “Quyền sở hữu đối với động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, nếu không có thoả thuận khác” Như vậy pháp luật Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật
của nước nơi tài sản được chuyển đến hoặc hệ thuộc luật do các bên thoả thuận lựa chọn
để xác định quyền sở hữu đối với tài sản trên đường vận chuyển (quá cảnh), trên cơ sở ưu tiên áp dụng trước hệ thuộc luật do các bên thoả thuận, đây là một quy định khá đặc thù của pháp luật Việt Nam thể hiện sự tôn trọng ý chí của các bên trong quan hệ Nếu không
có thỏa thuận thì sẽ áp dụng pháp luật nước nơi động sản được chuyển đến, điểm này cũng phù hợp với pháp luật nhiều quốc gia, lý do để chọn hệ thuộc luật nơi có động sản được chuyển đến là do tính đến thời điểm này và trong thời gian sau nữa Việt Nam vẫn là một nước có tỷ lệ nhập khẩu cao hơn xuất khẩu, vì thế nếu quy định lựa chọn luật nước
Trang 31người bán để áp dụng sẽ gây nhiều bất lợi cho cá nhân, cơ quan tổ chức trong nước
Thứ hai, đối với các trường hợp liên quan đến máy bay, tàu biển
Không giống như những tài sản thông thường, máy bay và tàu biển không thể áp dụng pháp luật nước nơi có phương tiện vận tải để điều chỉnh quy chế pháp lý của loại tài sản này do chúng là loại tài sản đặc thù, thường xuyên di chuyển trong không gian rộng,
ở nhiều quốc gia
Quy định của Pháp luật nước ngoài
Đối với các quan hệ sở hữu và các quan hệ tài sản trong lĩnh vực hàng không dân dụng và hàng hải quốc tế, Tư pháp quốc tế các nước thường quy định áp dụng các hệ thuộc luật quốc kỳ (lex banderae), hoặc hệ thuộc luật nơi đăng ký quốc tịch (lex libri) để điều chỉnh Ví dụ: đối với Vương quốc Bỉ, Bộ luật về Tư pháp quốc tế quy định, riêng đối với tài sản là máy bay, tàu thủy được xác định theo luật của nước nơi tài sản được đăng
ký Điều 10 Luật hàng không dân dụng của Ba Lan năm 1962 quy định: “Các quyền sở hữu đối với tàu bay cũng như đối với các tài sản trên tàu bay được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi tàu bay đăng ký” – hệ thuộc luật nơi đăng ký quốc tịch Điều 7 Bộ luật hàng hải Ba Lan ghi nhận: “Quyền sở hữu đối với tài sản toàn tàu biển sẽ do pháp luật của nước mà tàu mang cờ” – hệ thuộc luật quốc kỳ [1, tr 147]
Quy định của BLDS 2005
Theo khoản 4 Điều 776 BLDS 2005 Việt Nam thì “việc xác định quyền sở hữu đối với tàu bay dân dụng và tàu biển tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Điều này cũng được quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật hàng không dân dụng Việt
Nam năm 2006: “Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng để xác định các quyền đối với tàu bay”
Điều 3 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 quy định rằng “trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển” thì pháp luật được chọn để áp dụng là “luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch”
Như vậy, đối với các tài sản là máy bay dân dụng và tàu biển tại Việt Nam, hệ thuộc luật nơi có tài sản không được áp dụng mà Việt Nam áp dụng các hệ thuộc luật quốc kỳ (lex banderae), hoặc hệ thuộc luật nơi đăng ký quốc tịch (lex libri) để điều chỉnh
Ngoài ra, hệ thuộc luật nơi có tài sản cũng không được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát sinh trong một số lĩnh vực như:
Các quan hệ về tài sản của pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó bị giải thể, phá sản bởi quy chế pháp lý của pháp nhân do Luật quốc tịch của pháp nhân quy định chứ không phải là pháp luật nơi có tài sản Theo Tư pháp quốc tế Việt Nam thì pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (không có hiện diện
Trang 32thương mại), nếu phá sản thì tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân sẽ giải quyết theo pháp luật quốc tịch (luật nơi cấp phép thành lập pháp nhân), không áp dụng luật nơi có tài sản
Các quan hệ về tài sản liên quan đến các tài sản của quốc gia đang tồn tại ở nước ngoài: khi tham gia quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài, Nhà nước là một chủ thể đặc biệt
có quyền miễn trừ tư pháp Không có một cơ quan nào có thẩm quyền xét xử một Nhà nước nếu không được sự đồng ý của quốc gia đó Vì vậy, quy chế pháp lý của tài sản quốc gia sẽ
do chính pháp luật quốc gia đó quy định dù nằm ở đâu chứ không áp dụng luật nơi có tài sản
Các quan hệ về sở hữu đối với các đối tượng của quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài: trong Tư pháp quốc tế, động sản được chia làm hai dạng khác là vật hữu hình (tangible things) và vật vô hình (intangible things) Đối với loại động sản hữu hình (vật nhìn thấy được), việc áp dụng nguyên tắc nơi có tài sản không gặp khó khăn, song việc áp dụng nguyên tắc đó đối với động sản thuộc loại vô hình thì rõ ràng là không thể được (không nhìn thấy tài sản thì không thể biết nó ở đâu) [34, tr 20-26], đây cũng là một tài sản đặc thù do lao động, sáng tạo trí tuệ của con người tạo ra, nó mang tính lãnh thổ nên quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên lãnh thổ quốc gia nào thì bảo hộ theo pháp luật của quốc gia đó, không đương nhiên bảo hộ ở nước ngoài nếu quốc gia đó không kí kết các điều ước quốc tế về vấn đề này
Các quan hệ liên quan tới tài sản là đối tượng của đạo luật về quốc hữu hoá cũng không áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản mà được điều chỉnh theo quy chế do chính quốc gia chủ sở hữu tài sản đó quyết định trừ trường hợp tài sản đó được sử dụng với mục đích kinh doanh
2.1.4 Nhận xét chung
Từ việc xem xét pháp luật một số quốc gia trên thế giới quy định về vấn đề quan hệ
sở hữu có yếu tố nước ngoài và tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam nêu trên có thể rút ra nhận xét rằng: các nội dung điều chỉnh tại Điều 766 về quyền sở hữu tài sản cũng tương đối đầy đủ, đồng thời với việc ghi nhận nguyên tắc luật nơi có tài sản, là nguyên tắc chung để giải quyết xung đột pháp luật từ quyền sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài là hợp
lý, phù hợp với Tư pháp quốc tế của phần lớn các nước trên thế giới Tuy nhiên, có thể thấy, theo tác giả quy định này vẫn còn một số nội dung cần phải hoàn thiện thêm như sau:
Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của Điều 766 còn hẹp, chưa phù hợp: một trong
những điểm mới của Dự thảo BLDS sửa đổi để lấy ý kiến đóng góp của các cấp, ngành
và toàn dân là có thể bao quát, dự báo được sự đa dạng, phong phú về quyền tài sản và cũng là để bảo đảm đúng tính chất pháp lý của quyền tài sản trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN Cụ thể, tên gọi và nội dung Phần thứ hai của BLDS hiện hành là “tài sản và quyền sở hữu” đã được đổi tên gọi mới thành “vật quyền” Vật quyền được hiểu là
quyền của một chủ thể đối với một tài sản, cho phép chủ thể trực tiếp thực hiện các quyền năng được pháp luật thừa nhận đối với một tài sản [73] Trong các loại vật quyền thì quyền sở hữu là loại vật quyền chính Những loại vật quyền khác là sự độc lập hoá theo
Trang 33mục đích của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu Như vậy, để phù hợp với những điều chỉnh tại các chương trước của BLDS sửa đổi và phù hợp với quy định của pháp luật thế giới, Điều 766 không nên chỉ quy định quyền sở hữu tài sản - một loại vật quyền Trong khi đó, còn nhiều loại vật quyền có yếu tố nước ngoài khác cũng rất cần được điều chỉnh
Thứ hai, phần thứ bảy BLDS 2005 đã không có một quy định riêng về định danh
tài sản để áp dụng chung cho tất cả các quan hệ có liên quan như pháp luật quốc tế mà xem xét quy định tại khoản 3 Điều 766 về định danh tài sản (phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản) chỉ có ý nghĩa áp dụng để giải quyết vấn đề quyền sở hữu tài sản tại Điều 766 trong khi Điều 767 cũng đề cập tới vấn đề thừa kế đối với động sản và bất động sản Khi giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kế có yếu tố nước ngoài theo Điều 767, các chủ thể áp dụng phải gượng ép áp dụng khoản 3 Điều 766 để định danh tài sản cho quan hệ thừa kế Với quy định không bao quát như vậy, vô tình tạo ra sự thiếu sót, và khiên cưỡng trong quá trình áp dụng luật
Thứ ba, về quy định quyền sở hữu tài sản (hữu hình) có yếu tố nước ngoài trong
BLDS 2005 còn những quan hệ chưa có quy định pháp luật điều chỉnh Cụ thể như Điều 766 chưa có quy định về việc xác định luật điều chỉnh quan hệ đòi lại tài sản của chủ sở hữu gốc đối với tài sản bị di chuyển vào lãnh thổ nước khác mà không theo ý chí của chủ sở hữu gốc trong khi đây lại là một quan hệ xảy ra nhiều tranh chấp trên thực tế, ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ này và rất khó xác định nên cần có một quy định để giải quyết Thực tế Tư pháp quốc tế nhiều nước đã quy định về vấn đề này Ví dụ: Điều 92
Bộ luật Tư pháp quốc tế Vương Quốc Bỉ 2004 quy định: “Việc đòi lại một tài sản bị đánh cắp, theo sự lựa chọn của chủ sở hữu gốc, được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi có tài sản vào thời điểm tài sản bị mất hoặc pháp luật của nước nơi có tài sản vào thời điểm đòi lại tài sản” Pháp luật Cộng hòa Pháp cũng đã đưa ra giải pháp rõ ràng cho trường hợp này như
sau: một là, nội dung các quyền đối với tài sản sẽ được xác định theo pháp luật nơi tài sản đang tồn tại; hai là, phương thức xác lập quyền đối với tài sản được xác định theo pháp luật nơi đã thực hiện hành vi xác lập quyền đó Thực tiễn Tư pháp quốc tế ở Anh cho thấy, tòa án Anh cũng thường áp dụng nguyên tắc lex situs cho trường hợp này, cụ thể hơn là luật của nước nơi tài sản tồn tại vào thời điểm hành vi chuyển giao tài sản bị cáo giác [26]
Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng khoản 2 Điều 766 BLDS 2005 chưa nêu hết các trường hợp ngoại lệ không áp dụng luật nơi có vật và chưa chuẩn xác như: đối với hàng hóa đang trên đường vận chuyển quốc tế (ví dụ ở biển cả) thì nếu áp dụng hệ thuộc luật nơi có vật cũng không áp dụng được vì biển cả không phải của quốc gia nên không có pháp luật về quyền sở hữu Còn có các trường hợp khác như: đối tượng của quyền sở hữu
là tài sản vô hình; quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở thừa kế, thanh lý tài sản của pháp nhân cũng chưa được quy định cụ thể [34, tr 20-26]
Trang 342.2 Quy định của BLDS năm 2005 về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là những quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm
vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia khi các quốc gia tiến hành giao lưu và hợp tác quốc tế Việc giải quyết các vụ việc về thừa kế có yếu tố nước ngoài là một vấn
đề khá phức tạp, vì tính chất của loại vụ việc này không chỉ mang tính chất nhân thân, mà
có cả tính chất tài sản Trong khi, về các vấn đề này pháp luật các nước lại có quan điểm, giải pháp rất khác nhau, điều đó đã tạo ra hiện tượng xung đột pháp luật
2.2.1 Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Quy định của pháp luật nước ngoài
Hiện nay để giải quyết vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài trong trường hợp không có di chúc có hai quan niệm phổ biến được áp dụng đó là:
Thứ nhất, áp dụng nhiều luật điều chỉnh quan hệ thừa kế trên cơ sở phân biệt thừa
kế động sản và bất động sản Cách giải quyết này được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật chung (common law) như Anh, Mỹ, Achentina, Đan Mạch,…và một số nước khác (Pháp, Thụy Sĩ ) Theo đó, đối với thừa kế bất động sản hệ thuộc thường được sử dụng là hệ thuộc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) còn thừa kế động sản sẽ theo nguyên tắc mobilia sequuntur personam (động sản đi theo người), luật áp dụng thường là luật nơi thường trú hoặc luật quốc tịch của người để lại di sản [11, tr 26] Có thể kể đến một số quy định ở các quốc gia như sau:
Đối với Cộng hòa Pháp: theo khoản 2 Điều 3 BLDS Pháp 1804 về quan hệ thừa kế đối với bất động sản sẽ do pháp luật của nước nơi có tài sản đó điều chỉnh, còn thừa kế đối với động sản thì tuân theo quy tắc mobilia sequuntur personam (động sản đi theo người) hoặc do luật nơi cư trú cuối cùng của người chết điều chỉnh [18, tr 45]
Đối với Liên Bang Thụy Sĩ: việc giải quyết thừa kế theo hai trường hợp: nếu người chết có nơi cư trú cuối cùng tại Thụy Sĩ thì căn cứ theo Luật Thụy Sĩ (Điều 90 Bộ Luật Tư pháp quốc tế Thụy Sĩ 1987), như vậy đối với bất động sản sẽ áp dụng pháp luật nơi có bất động sản đó, còn động sản thì theo luật nơi cư trú cuối cùng của người chết [18, tr 45-53]
Đối với Québec (Canada): về quan hệ thừa kế, đối với động sản thì áp dụng pháp luật nơi cư trú cuối cùng của người chết; đối với bất động sản thì áp dụng pháp luật nơi
có bất động sản đó [19, tr 28]
Thứ hai, áp dụng một luật thống nhất điều chỉnh quan hệ thừa kế, không phân biệt
thừa kế động sản và bất động sản Theo đó, để đảm bảo tính thống nhất của khối di sản, việc thừa kế sẽ được áp dụng theo pháp luật của một nước duy nhất, không phân biệt di sản thừa kế đó là bất động sản hay động sản
Công ước La Hay ngày 01/08/1989 về Luật áp dụng đối với thừa kế di sản của người chết sử dụng giải pháp này như sau: tại Điều 3 Công ước quy định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ thừa kế:
- Luật của nước nơi người để lại di sản thường trú trước khi chết nếu người để
Trang 35lại di sản đồng thời có quốc tịch của nước nơi thường trú hoặc đã thường trú tại nước đó trong thời hạn 5 năm liên tục trước khi chết
- Luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế, nếu quan hệ thừa kế có mối quan hệ gắn bó với pháp luật của nước mà đương sự mang quốc tịch
Điều 5 Công ước quy định người để lại di sản được lựa chọn pháp luật của một trong hai nước để điều chỉnh quan hệ thừa kế bao gồm luật nước nơi người đó mang quốc tịch hoặc nước nơi người đó thường trú vào thời điểm lập di chúc hoặc thời điểm chết
Cách giải quyết này cũng được áp dụng chủ yếu ở một số nước Tây Âu như Đức,
Ý, Bồ Đào Nha,…và một số nước khác như Nhật Bản, Ai Cập,…Theo đó các nước này không phân chia di sản thừa kế là động sản hay bất động sản mà thống nhất giải quyết theo nguyên tắc luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế, cụ thể là luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế Ở một số quốc gia Đông Âu như Anbani, Hungari…việc áp dụng này còn kèm theo vấn đề bảo lưu đối với thừa kế đất đai nằm trên lãnh thổ quốc gia thì phải tuân theo luật của quốc gia đó [11, tr 27] Ví dụ:
Cộng hòa Liên Bang Đức: pháp luật Đức áp dụng thống nhất nguyên tắc luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế (lex nationalis) để điều chỉnh quan hệ thừa kế, không phân biệt tài sản thừa kế là động sản hay bất động sản [19, tr 25] Theo đó, việc thừa kế theo pháp luật được điều chỉnh bởi luật của nước mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm chết Tuy nhiên, đối với bất động sản nằm trên lãnh thổ Đức, người để lại di sản phải căn cứ vào pháp luật Đức để định đoạt (theo nguyên tắc luật nơi có vật)
Đối với Nhật Bản: Điều 36 Đạo luật về nguyên tắc chung về áp dụng pháp luật
năm 1898 sửa đổi bổ sung năm 2006 quy định: “Thừa kế được điều chỉnh theo luật quốc tịch của người để lại di sản”
Đối với Ba Lan: Luật Tư pháp quốc tế của Ba Lan 2011 quy định tại Điều 64
khoản 2: “Đối với vấn đề thừa kế, luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch vào thời điểm chết sẽ được áp dụng”
Quy định của BLDS 2005
Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên đã ghi nhận các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ
thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Điều 767 (thừa kế theo pháp luật) Theo đó, về nguyên tắc chung, pháp luật Việt Nam sử dụng hệ thuộc luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế trước khi chết để điều chỉnh vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài đối với cả
di sản là động sản và bất động sản tại khoản 1 Điều 767 BLDS 2005 quy định: "Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết" Với giải pháp này chúng ta tôn trọng bản chất nhân thân của quan hệ
thừa kế Về quyền thừa kế bất động sản thì theo khoản 2 Điều 767 BLDS 2005 quy định:
“Quyền thừa kế bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”
Cần lưu ý rằng, quyền thừa kế gồm quyền để lại di sản thừa kế và quyền nhận thừa kế Trong trường hợp di sản thừa kế là bất động sản thì việc người có quyền nhận thừa kế có
Trang 36được nhận hay không còn phụ thuộc vào pháp luật nước nơi có bất động sản
Ví dụ: năm 1975, anh N.V.A sang sống cùng gia đình tại Pháp và sau đó nhập quốc tịch Pháp Với sự mở cửa, anh N.V.A về Việt Nam cư trú từ năm 1995 Do tai nạn, anh N.V.A qua đời tại Việt Nam năm 2001 và để lại di sản bao gồm: một ngôi nhà ở ngoại ô Pháp (di sản P); một căn hộ cùng một số động sản tại Hà Nội (di sản V và v); một
số động sản quý tại một ngân hàng Thụy Sĩ (di sản t) và một số động sản gửi chị gái đang làm ăn tại Đức (di sản d) Do không tự thỏa thuận được với nhau, con anh N.V.A, quốc tịch Pháp và em trai anh N.V.A quốc tịch Việt Nam yêu cầu Tòa án đứng ra giải quyết vấn đề thừa kế [12, tr 40] Áp dụng quy định trên ta thấy vấn đề thừa kế ở ví dụ này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi có tài sản, cụ thể là di sản P được điều chỉnh bởi pháp luật Pháp, di sản t được điều chỉnh bởi pháp luật Thụy Sĩ, di sản d được điều chỉnh bởi pháp luật Đức và di sản V, v được điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam
Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài, thì việc xác định pháp luật áp dụng về thừa kế theo pháp luật
tuân theo quy định tại khoản 2 Điều 760 của BLDS: “P háp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân”, Điều
5 và khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị định 138/2006 ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
2.2.2 Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Quy định của pháp luật nước ngoài
Hiện nay, Tư pháp quốc tế các nước xây dựng các nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh vấn đề hiệu lực di chúc trên ba phương diện: hiệu lực về hình thức, hiệu lực về nội dung và năng lực chủ thể lập di chúc
Với hình thức di chúc, pháp luật các quốc gia trên thế giới đều có những quy định rất khác nhau về hiệu lực hình thức của di chúc, tuy nhiên đều coi hành vi lập di chúc là một hành vi pháp lý nên đều sử dụng hệ thuộc luật nước nơi lập di chúc để điều chỉnh Hành vi pháp lý này đương nhiên phải phù hợp với luật nước nơi thực hiện hành vi mới được thừa nhận có hiệu lực Hơn nữa, di chúc được gọi là văn bản có giá trị pháp lý do cá nhân lập nên hiệu lực của nó cũng phải tuân thủ theo đúng hình thức mà pháp luật nơi lập
ra nó quy định Đây chính là cơ sở để xác định nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật
về hình thức di chúc, theo đó hệ thuộc luật nơi lập di chúc được Tư pháp quốc tế hầu hết các nước áp dụng Ngoài ra, Tư pháp quốc tế trên thế giới còn quy định nhiều hệ thuộc khác để điều chỉnh một phạm vi hình thức của di chúc
Tại Điều 1 Công ước La Hay ngày 05/10/1961 về xung đột pháp luật liên quan đến hình thức định đoạt tài sản bằng di chúc quy định điều kiện về hình thức để di chúc được
Trang 37công nhận hiệu lực Và Điều 31 Công ước cũng đã sử dụng tới bốn hệ thuộc để điều chỉnh tính hợp pháp của hình thức di chúc Theo đó, hình thức di chúc chỉ cần thoả mãn một trong bốn hệ thuộc: luật nơi lập di chúc, luật quốc tịch của người lập di chúc vào thời điểm lập di chúc hoặc vào lúc người đó chết, luật nơi cư trú của người lập di chúc vào thời điểm lập di chúc hoặc vào lúc người đó chết, luật nơi có bất động sản nếu là di chúc về thừa kế bất động sản Đây là quy định khá mở, đưa ra nhiều lựa chọn cho các quốc gia để thừa nhận hiệu lực của di chúc Như vậy, nếu di chúc không có hiệu lực về hình thức theo quy định của quốc gia này thì sẽ có thể được công nhận hiệu lực ở những nước còn lại Điều này thể hiện sự tôn trọng ý chí của người lập di chúc và hạn chế việc hủy di chúc theo ý chí của Nhà nước
Về nội dung di chúc, pháp luật các nước chủ yếu dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do
ý chí của người lập, cũng như quyền tự định đoạt đối với tài sản cá nhân Tuy nhiên pháp luật các nước cũng hạn chế với trường hợp trái với đạo đức xã hội, bảo lưu trật tự công cộng
Về năng lực chủ thể lập di chúc: pháp luật các nước có những quy định khác nhau nhưng chủ yếu dựa trên quy chế nhân thân của pháp luật từng nước Theo một số quốc gia Anh, Mỹ thì năng lực hành vi lập di chúc cũng như hình thức di chúc đối với di sản thừa kế là bất động sản đều do luật nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thừa kế điều chỉnh (lex domocilli) [11, tr 27-28]
Theo Đức và một số nước Tây Âu khác thì năng lực lập, hủy bỏ di chúc theo nguyên tắc lex domocilli còn hình thức di chúc dựa theo quy định của Công ước La Hay
1961, tức là có nhiều hệ thuộc giải quyết [11, tr 27-28]
Theo một số nước Đông Âu thì về nguyên tắc quan hệ thừa kế theo di chúc chịu sự chi phối của chế định pháp luật về thừa kế nói chung, song tính hợp pháp của di chúc lại xác định theo luật của nước mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm lập di chúc [11, tr 27-28]
Cụ thể điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật một số nước có những quy định sau :
Đối với Liên Bang Thụy Sĩ: về quan hệ thừa kế theo di chúc, Luật Tư pháp quốc tế Thụy Sĩ 1987 quy định rằng, người nước ngoài có thể để lại di chúc chọn luật mà người đó mang quốc tịch để giải quyết theo đó sẽ xác định pháp luật áp dụng theo sự lựa chọn của người để lại di chúc, nếu người đó định đoạt tài sản thừa kế theo pháp luật nước mình (là nơi người đó có quốc tịch) Tuy nhiên, theo Điều 90, nếu người đó là người không quốc tịch hoặc có quốc tịch Thụy Sĩ, thì sự lựa chọn ấy không có giá trị [18, tr 45-48]
Đối với Québec (Canada): về vấn đề thừa kế theo di chúc, nguyên tắc chung là áp dụng pháp luật nơi người để lại di chúc đã lựa chọn Theo quy định tại Điều 3098 BLDS Canada, thì pháp luật lựa chọn để phân chia tài sản theo di chúc phải là pháp luật nơi người lập di chúc có quốc tịch hoặc nơi cư trú hoặc nơi người ấy là chủ sở hữu đối với bất động sản (chỉ đối với bất động sản đó mà thôi)
Về hình thức của di chúc (chứng thư pháp luật), theo Điều 3109, nguyên tắc chung
Trang 38là áp dụng pháp luật nơi lập di chúc Tuy nhiên, hình thức của di chúc cũng được coi là hợp pháp, nếu di chúc được lập theo pháp luật nơi mà hình thức được áp dụng cho nội dung của di chúc hoặc nơi để lại di sản hoặc nơi cư trú của người lập di chúc Ngoài ra, di chúc được coi là hợp pháp nếu nó được lập theo pháp luật nơi cư trú hoặc nơi có quốc tịch của người lập di chúc Nếu di chúc lập ở ngoài lãnh thổ Québec, thì cũng được coi là hợp pháp nếu đối tượng của di chúc là tài sản đang có tại Québec [19, tr 28]
Cộng hòa Liên Bang Đức: về việc bảo đảm tính hợp pháp của sự định đoạt (bằng di chúc) sau khi chết: hình thức của sự định đoạt cuối cùng sẽ được coi là hợp lệ theo quy định của một trong các hệ thống pháp luật sau: luật của nước mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm định đoạt cuối cùng hoặc vào thời điểm chết; luật của nước nơi người để lại di sản thường trú vào thời điểm định đoạt cuối cùng hoặc vào thời điểm chết; luật của nước nơi người để lại di sản đưa ra sự định đoạt cuối cùng (lập di chúc); luật của nước nơi bất động sản tồn tại, nếu di chúc liên quan đến bất động sản đó Riêng về năng lực lập và hủy bỏ di chúc, nếu đã được công nhận có giá trị pháp lý theo Luật Đức, thì không bị ảnh hưởng ngay
cả việc người đó có hay không có quốc tịch Đức sau này Các quy định trên đây cũng được
áp dụng tương tự để xác định về tính hợp pháp của việc huỷ bỏ sự định đoạt [18, tr 59]
Đối với Ý: theo Luật về Tư pháp quốc tế Ý năm 1995 (Điều 48) thì về hình thức
di chúc có giá trị pháp lý nếu phù hợp với pháp luật của nước nơi di chúc được xác lập, của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết hay nước nơi người để lại di sản có nơi cư trú hay thường trú [11, tr 27-28]
Quy định của BLDS 2005
Pháp luật Việt Nam đã ghi nhận các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài tại Điều 768 (thừa kế theo di chúc) BLDS 2005, trong đó quy định hai vấn
đề chính: năng lực lập di chúc, thay đổi, hủy bỏ di chúc và hình thức của di chúc
Xác định tư cách chủ thể lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc: BLDS 2005 quy
định áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của người lập di chúc để giải quyết vấn đề này Pháp luật được áp dụng chính là pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân Cụ thể
Khoản 1 Điều 768 BLDS 2005 quy định: “Năng lực lập di chúc, hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật mà người lập di chúc là công dân” Việc quy định như vậy xuất phát từ
chỗ năng lực chủ thể của một cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, vì vậy việc lập di chúc là quyền của mọi cá nhân để định đoạt tài sản của mình cũng sẽ được xác định theo pháp luật đó
Di chúc sẽ bị coi là vô hiệu nếu người lập di chúc không đủ năng lực chủ thể Điều
đó có nghĩa là người lập di chúc phải có khả năng, có quyền lập di chúc theo quy định của pháp luật và có khả năng thực hiện quyền đó (có năng lực pháp luật và năng lực hành vi lập
di chúc) Ví dụ: người lập di chúc phải là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, thành niên, không bị hạn chế năng lực hành vi; lập di chúc không bị cưỡng ép, nhầm lẫn…(Điều 647 BLDS) Ngoài ra, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không
Trang 39bị lừa dối, (khoản 1 Điều 652 BLDS) Trường hợp người lập di chúc có hai hay nhiều quốc tịch thì việc lựa chọn pháp luật áp dụng cũng được giải quyết như trong mọi trường hợp cá nhân là người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài (Điều 760 BLDS)
Hình thức của di chúc: Pháp luật Việt Nam cũng sử dụng hệ thuộc luật nơi lập di chúc Tại khoản 2 Điều 768 BLDS 2005 quy định: “Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc” Di chúc của người Việt Nam lập ở nước ngoài được
công nhận là hợp thức tại Việt Nam nếu tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam
Đối với việc thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam đang đi trên tàu biển, máy bay kể cả khi phương tiện đó đã ra ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam sẽ căn cứ theo Điều 660 BLDS Như vậy theo BLDS 2005 thì việc xác định hình thức của di chúc chỉ xác định theo pháp luật của nước nơi lập di chúc Đối với công dân Việt Nam lập di chúc
ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài sẽ được coi là hợp pháp nếu pháp luật nước ngoài được áp dụng để lập di chúc không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (khoản 3 Điều 759 BLDS 2005) Theo Điều 663 BLDS 2005, pháp luật Việt Nam còn cho phép vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung
Ngoài ra, có thể bàn thêm về việc xác định luật áp dụng khi giải quyết tranh chấp
về nội dung di chúc:
Nội dung di chúc là toàn bộ các vấn đề nằm trong di chúc, thể hiện ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản Về việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung di chúc BLDS 2005 dựa trên nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập, cũng như quyền tự định đoạt đối với tài sản cá nhân Tuy nhiên, BLDS 2005 cũng đưa ra hạn chế đối với nội dung di chúc Một di chúc được coi là hợp pháp khi nó đáp ứng được yêu cầu: nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định pháp luật (điểm b, khoản 1, Điều 652 BLDS 2005) Lưu ý: pháp luật Việt Nam không cho phép cá nhân là người nước ngoài được thừa kế tài sản là đất đai tại Việt Nam,
do đó nếu nội dung di chúc liên quan đến vấn đề này sẽ bị cho là trái pháp luật
Pháp luật nước ta hiện nay không có quy phạm xung đột riêng xác định luật áp dụng giải quyết vấn đề nội dung trong di chúc Tuy nhiên, có thể vận dụng quy định tại Điều
767, BLDS về thừa kế theo pháp luật để xác định luật áp dụng cho các vấn đề đó
2.2.3 Di sản không có người thừa kế
Về vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài, việc xác định pháp luật điều chỉnh di sản không có người thừa kế khá phức tạp bởi nó có thể liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau và thông thường tất cả các quốc gia đều nhận di sản không có người thừa kế thuộc
về mình hoặc không quốc gia nào nhận di sản thừa kế Vấn đề đặt ra là xác định quốc gia nào được quyền tiếp nhận di sản không có người thừa kế?
Quy định của Pháp luật nước ngoài
Theo quy định tại Điều 16 Công ước La Hay 1989 quy định giải quyết trường hợp
Trang 40xung đột đối với di sản không có người thừa kế thì một nước được quyền tiếp nhận di sản không người thừa kế nằm trên lãnh thổ của nước khác theo quy định của luật điều chỉnh thừa kế, với điều kiện không có sự phản đối của nước nơi có di sản
Ở một số quốc gia như Nga, Hungari, Tây Ban Nha, Ý…thì quy định quyền tiếp nhận di sản này là Nhà nước, với tư cách là người thừa kế Ở một số nước khác như Anh,
Mỹ, …thì quy định rằng Nhà nước hưởng số di sản này như tài sản vô chủ trên cơ sở thực thi quyền chiếm hữu các tài sản vô chủ đó [11, tr 42] Như vậy, đối với các quốc gia áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch để giải quyết thì số di sản này sẽ được chuyển giao cho Nhà nước mà người để lại di sản mang quốc tịch Đối với các quốc gia áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú của người để lại di sản thừa kế để giải quyết thì nếu luật nước đó quy định rằng, Nhà nước hưởng số di sản với tư cách là người thừa kế thì số di sản đó được chuyển giao cho Nhà nước nơi người đó cư trú vào lúc người đó chết Nhưng nếu quy định rằng, nhà nước hưởng số di sản này trên cơ sở thực thi quyền chiếm hữu tài sản vô chủ thì số di sản trên phải chuyển giao cho Nhà nước nơi hiện có di sản
Quy định của BLDS 2005
Để giải quyết vấn đề này BLDS 2005 xác định quyền sở hữu của Nhà nước đối với
di sản không có người thừa kế tại các khoản 3, 4 Điều 767 BLDS 2005 Theo đó, pháp luật Việt Nam dựa vào việc sử dụng kết hợp hệ thuộc luật nơi có bất động sản và luật quốc tịch của người để lại di sản Khoản 3, 4 Điều 767 BLDS 2005 quy định: di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó, còn di sản không có người thừa kế là động sản thì thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết Như vậy, trong các trường hợp trên, nếu công dân Việt Nam chết trên lãnh thổ của một nước hữu quan mà di sản do công dân Việt Nam để lại không còn người thừa kế thì sẽ giải quyết như sau: các di sản là động sản chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam, các di sản là bất động sản chuyển giao cho Nhà nước nơi có bất động sản
2.2.4 Nhận xét chung
Với việc đưa những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Điều 767 và 768 BLDS 2005 đã phần nào phù hợp với những quy định của các Điều ước quốc tế và Tư pháp quốc tế các nước Nhưng khi xem xét cụ thể các quy định của điều luật, theo tác giả vẫn còn một số vấn đề tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục như sau:
Về vấn đề thừa kế theo di chúc được quy định tại Điều 768 BLDS 2005 cũng có một số nội dung cần xem xét như sau:
Thứ nhất, quy định tại khoản 1 Điều 768 chưa thực sự phù hợp với quy định của
Điều 762 BLDS 2005 Cụ thể là năng lực chủ thể trong quan hệ thừa kế theo di chúc là một phần của năng lực chủ thể trong lĩnh vực dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định
tại Điều 761 và 762 BLDS 2005 nhưng khoản 1 Điều 768 lại chỉ sử dụng cụm từ “năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc” Theo điều luật thì áp dụng hệ thuộc luật
quốc tịch để giải quyết xung đột về năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc