Từ quy định của Luật HN&GĐ có thể đưa ra căn cứ để xác định việc kết hôn trái pháp luật bao gồm: - Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn; - Kết hôn trái pháp luật do vi phạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ LAN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Lan người
đã định hướng về mặt khoa học, luôn tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá
trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy chúng em trong suốt thời gian qua
Đồng thời, em cũng xin được cảm ơn cha mẹ, người thân và các bạn học viên đã luôn ở bên, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu
Mặc đù đã cố gắng nghiên cứu hoàn thành Luận văn này nhưng Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô giáo để Luận văn thêm hoàn thiện
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Học viên
Phạm Thu Thảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong các công trình khác
Tác giả luận văn
Phạm Thu Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1.2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
9
1.2.3 Chủ thể có quyền yêu cầu xử lý đối với trường hợp kết hôn trái pháp
luật
15
1.2.4 Hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật 18
1.3 PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP
2.1.1 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn 26 2.1.2 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện 28 2.1.3 Kết hôn khi một hoặc cả hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự 31
Trang 62.2 ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
HN&GĐ là hiện tượng xã hội luôn được các nhà triết học, xã hội học, luật học nghiên cứu, là một hình thái đặc biệt của quan hệ con người, nó không những phản ánh chế độ xã hội mà còn thể hiện sự tiến bộ, văn minh của
xã hội đó Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào nhỏ nhất của
xã hội trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước
và xã hội
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình mà Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dành sự quan tâm to lớn đối với vấn đề HN&GĐ nói chung cũng như vấn đề kết hôn trái pháp luật nói riêng Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, hiện tượng kết hôn trái pháp luật đang diễn ra khá phổ biến và phức tạp đồng thời có xu hướng ngày càng gia tăng Có nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan dẫn đến hiện tượng kết hôn trái pháp luật như: Do ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu, do ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, trình độ dân trí thấp, việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở nhiều địa phương còn yếu kém… Việc kết hôn trái pháp luật không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể mà còn ảnh hưởng đến đạo đức và trật tự xã hội
Ngay từ Luật HN&GĐ năm 1959 Nhà nước ta đã quy định về kết hôn trái pháp luật, theo thời gian quy định này tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện trong Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên, hiện tượng kết hôn trái pháp luật vẫn không ngừng gia tăng và ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp hơn Do đó để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đời sống Luật HN&GĐ năm 2014 đã ra đời, với nhiều quy định mới về kết hôn trái pháp luật Với những quy định mới trong Luật HN&GĐ năm 2014 đòi hỏi cần phải
có sự tỉm hiểu và nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện Xuất phát từ những lý do trên cả về mặt lý luận và thực tiễn, chúng tôi đã quyết định chọn
đề tài: “Kết hôn trái pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận
văn tốt nghiệp cao học Với mong muốn làm sáng tỏ hơn chế định kết hôn trái pháp luật để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kết hôn trái pháp luật là một chế định pháp lý cơ bản và có ý nghĩa quan trọng do đó, trong thời gian qua ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm của một số tác giả, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này tuy
Trang 8nhiên ở những cấp độ và khía cạnh khác nhau, có thể kể đến một số công trình như:
- Nhóm giáo trình, sách bình luận: “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” năm 2006 của tác giả Đinh Mai Phương; “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” năm 2002 của tác giả Nguyễn Ngọc Điện; “Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình” năm 2008…
Các tài liệu trên hầu hết mới chỉ đưa ra phân tích, bình luận các quy định về kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000 ở mức độ khái quát, sơ lược có tính định hướng cho sinh viên tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi
- Nhóm luận văn, đề tài khoa học: “Hủy việc kết hôn trái pháp luật –
Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật” Khóa luận tốt nghiệp cuả Đinh Thị Thảo năm 2011; “Hủy kết hôn trái pháp luật” Khóa luận tốt nghiệp của
Hà Hương Giang năm 2012; “Về việc kết hôn trái pháp luật” của Thải Công
Khanh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2000; “Bàn về việc hủy kết hôn trái pháp luật” của Thái Công Khanh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số
4/2007; “Bất cập của quy định hủy kết hôn trái pháp luật” của tác giả Huyền
Trang đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề sửa đổi, bổ sung
Luật HN&GĐ năm 2000/2013; “Thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc Tòa án nào?” của tác giả Nguyễn Thị Hương đăng
trên tạp chí Tòa án nhân dân số 20/2009
Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến một
số khía cạnh của vấn đề kết hôn trái pháp luật như: Hủy kết hôn trái pháp luật, thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật…mà chưa đi vào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện vấn đề kết hôn trái pháp luật
Có thể thấy mỗi công trình nghiên cứu là sự nhìn nhận và giải quyết vấn đề kết hôn trái pháp luật ở các góc độ khác nhau mà chưa đi vào nghiên cứu một cách bao quát và toàn diện vấn đề Như vậy, trong khoa học pháp lý ở nước ta từ trước đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về lý luận cũng như thực tiễn các quy định về kết hôn trái pháp luật theo Luật HN&GĐ năm 2014 Với công trình của mình, chúng tôi sẽ tiếp cận vấn đề một cách tổng quan về lý luận cũng như thực tiễn của việc kết hôn trái pháp luật theo Luật HN&GĐ năm 2014 Do đó, công trình sẽ không phải là sự lặp lại của bất kỳ công trình nào trước đó
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại trong sự kết hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề kết hôn trái pháp luật Việc
Trang 9nghiên cứu không chỉ giới hạn trong Luật HN&GĐ năm 2014 mà còn được đề cập tới một số văn bản pháp luật khác có quy định về vấn đề này, cũng như pháp luật của một số nước trên thế giới để luận văn có chiều sâu hơn Tuy nhiên, chúng tôi không nghiên cứu những quy định của pháp luật về kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về HN&GĐ
Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các
phương pháp như sau:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu một cách có lô-gic để làm sáng tỏ vấn
5 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn nhằm làm sáng tỏ:
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật và ý nghĩa của vấn đề này dưới góc độ xã hội và pháp lý;
- Những vấn đề lý luận liên quan đến kết hôn trái pháp luật;
- Những quy định pháp luật hiện hành về kết hôn trái pháp luật;
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về kết hôn trái pháp luật;
- Nghiên cứu và đưa ra một vài ý kiến giúp cho việc hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả điều chỉnh, đảm bảo sự ổn định của gia đình
và xã hội
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trang 10Luận văn là công trình nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, luận văn
đã trình bày được các điểm mới sau:
- Xây dựng khái niệm về kết hôn, hủy kết hôn trái pháp luật;
- Khái quát, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về kết hôn trái pháp luật;
- Đánh giá khách quan các quy định hiện hành liên quan đến vấn đề kết hôn trái pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định này;
- Làm sáng tỏ những vướng mắc, cản trở làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về kết hôn trái pháp luật;
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về kết hôn trái pháp luật
- Chương 2: Kết hôn trái pháp luật theo pháp luật Việt Nam hiện hành
- Chương 3: Thực tiễn giải quyết việc kết hôn trái pháp luật và một số giải pháp
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 1.1 KHÁI NIỆM VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
1.1.1 Khái niệm kết hôn
Xét về mặt thuật ngữ, “kết hôn” theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý được hiểu là “chính thức lấy nhau thành vợ thành chồng” [25] Hay trong từ điển Luật học có đưa ra khái niệm“Kết hôn là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà thành vợ chồng, được pháp luật công nhận” [23]
Xét về phương diện pháp luật kết hôn được hiểu là một sự kiện pháp lý
làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng Khi xã hội loài
người mới xuất hiện, khi chưa có bất kỳ một quy tắc hay quy định pháp luật nào con người đã chung sống với nhau và sinh con đẻ cái Như vậy, dễ dàng nhận thấy quyền kết hôn là một quyền tự nhiên của con người Trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội và sự hình thành của Nhà nước, pháp luật ra đời để điều chỉnh các quan hệ xã hội đó Lúc này kết hôn không còn là một quyền tự do, mang tính bản năng của con người
mà trở thành quan hệ xã hội mang tính lợi ích của giai cấp thống trị Trong xã hội phong kiến hôn nhân không đơn thuần là sự kết hợp giữa hai bên nam, nữ
mà hôn nhân là sự kết giao giữa hai dòng họ Sự quyết định của cha mẹ là yếu
tố bắt buộc trong quan hệ hôn nhân, hai bên nam, nữ không có quyền tự do quyết định Do đó, nam nữ thời kỳ này kết hôn chủ yếu không xuất phát từ tình yêu mà bị lệ thuộc vào gia đình, dòng họ
Trong hệ thống pháp luật trước năm 1945 chưa có văn bản chính thức nào đề cập đến khái niệm kết hôn Đến Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 cũng chưa xây dựng khái niệm này, mà kết hôn chỉ được giải thích trong phần giải nghĩa một số danh từ của Luật HN&GĐ năm 1986
như sau: “Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng theo quy định của pháp luật Việc kết hôn phải tuân theo các Điều 5,6,7 và 8 của Luật Hôn nhân
và gia đình” Đến Luật HN&GĐ năm 2000 khái niệm này chính thức được định nghĩa tại Khoản 2, Điều 8, theo đó: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Luật HN&GĐ năm 2014 khi xây dựng khái niệm kết hôn đã có sự
thay đổi Cụ thể, theo quy định tại Khoản 5, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
thì kết hôn được hiểu là: “Việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.” Việc bổ
Trang 12sung thêm cụm từ “với nhau” trong Luật HN&GĐ năm 2014 đã cho thấy rõ
quan điểm của Nhà nước ta về kết hôn đó là kết hôn phải là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ chứ không thể là sự kết hợp giữa hai người cùng giới tính Sự sửa đổi, bổ sung này là hoàn toàn cần thiết và phù hợp, bởi
lẽ hiện nay hiện tượng “hôn nhân đồng tính” đang có xu hướng gia tăng Do
đó, việc thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước thừa nhận hay không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính là vô cùng cần thiết
Pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta quy định việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp hai người kết hôn cùng là công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn là UBND cấp cơ sở nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ Trong trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài mà việc kết hôn tiến hành ở Việt Nam thì UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam đăng ký kết hôn Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau
ở nước ngoài Khi yêu cầu đăng ký kết hôn hai bên nam nữ phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và giấy tờ cần thiết khác Trong trường hợp có lý do chính đáng, một trong hai bên kết hôn không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi cho cơ quan đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt và phải có xác nhận của UBND cấp cơ sở nơi người vắng mặt cư trú
Để việc kết hôn được phù hợp với các quy định của pháp luật, cơ quan đăng ký kết hôn sau khi nhận hồ sơ đăng ký kết hôn của hai bên kết hôn phải tiến hành điều tra, xác minh về những vấn đề mà các bên nam nữ đã khai Nếu những điều mà các bên nam nữ khai là đúng sự thật và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tiến hành đăng ký kết hôn cho họ theo đúng nghi thức do pháp luật quy định Khi việc đăng ký kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn và ghi vào số kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân Điều đó có nghĩa là các bên nam, nữ sẽ
phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo luật đinh
Qua những phân tích trên, chúng tôi cũng xin mạnh dạn đưa ra khái
niệm về kết hôn như sau: “Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan
hệ vợ chồng giữa nam và nữ với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”
Trang 131.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật
Trước hết cần khẳng định rằng, kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp lý được pháp luật quy định và điều chỉnh bởi Luật HN&GĐ Tuy nhiên, đứng trên góc độ lý luận, để tìm hiểu những quan niệm sâu xa của vấn đề này thì cần đặt nó trong sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của mỗi thời kỳ Bởi trong một xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị Thông qua Nhà nước, bằng pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào các quan hệ HN&GĐ làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó Trong xã hội phong kiến, khi mà pháp luật là ý chí của một bộ phận rất nhỏ trong xã hội - tầng lớp quan lại, vua chúa, họ mặc nhiên đề ra những quy định điều chỉnh những quan hệ về HN&GĐ mà theo họ là phù hợp và đương nhiên cũng sẽ trở thành những nguyên tắc chung của toàn xã hội Ở thời kỳ đó, hôn nhân trái pháp luật được quan niệm là những cuộc hôn nhân không tuân thủ các điều
kiện kết hôn như: Không "môn đăng hộ đối", những quan hệ hôn nhân không
được sự đồng ý của cha mẹ, họ hàng… Những quy định này thể hiện rất rõ trong Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long Tương tự như vậy, đối với các nước tư bản, chính điều kiện sống, yếu tố về xã hội, con người, kinh tế cũng
đã quyết định đến quan niệm của xã hội, theo đó, pháp luật điều chỉnh cũng có những xu hướng phù hợp Về vấn đề kết hôn, có thể nói pháp luật của một số nước thuộc hệ thống Tư bản chủ nghĩa có những cách nhìn nhận rất khác với pháp luật của Việt Nam Do đó, những căn cứ để xác định kết hôn hợp pháp
và kết hôn trái pháp luật cũng có những khác biệt, như do các điều kiện về kinh tế, khí hậu, sinh học… khiến con người phát triển nhanh hơn, sự trưởng thành về thể lực cũng như trí lực sẽ khác với người Việt Nam, dẫn đến việc quy định về tuổi kết hôn cũng sẽ khác Hay việc kết hôn đồng giới hiện nay đã được thừa nhận tại một số quốc gia là kết hôn hợp pháp
Theo quy định tại Khoản 6, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì kết hôn
trái pháp luật được hiểu là: “Việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này” Như vậy, chỉ khi nam, nữ đã tiến hành
đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đồng thời một hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì việc kết hôn mới bị coi là trái pháp luật Trong trường hợp nam nữ vi phạm điều kiện kết hôn nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì trường hợp này sẽ không bị coi là kết hôn trái pháp luật
Trang 14Từ quy định của Luật HN&GĐ có thể đưa ra căn cứ để xác định việc kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn;
- Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện;
- Kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng;
- Kết hôn với người mất NLHVDS hoặc kết hôn khi đang mất NLHVDS;
- Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có
họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc;
- Kết hôn giữa những người cùng giới tính
Bên cạnh đó, cần thiết phải phân biệt trường hợp kết hôn trái pháp luật với trường hợp chung sống như vợ chồng Theo quy định tại Khoản 7, Điều 3
Luật HN&GĐ năm 2014 chung sống như vợ chồng được hiểu là việc “nam,
nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”
Chung sống như vợ chồng bao gồm hai trường hợp: Trường hợp chung sống như vợ chồng không trái pháp luật và trường hợp chung sống như vợ chồng trái pháp luật
- Chung sống như vợ chồng không trái pháp luật là trường hợp nam, nữ không đăng ký kết hôn sống chung như vợ chồng nhưng không vi phạm điều cấm được quy định tại Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 Chẳng hạn như: Trường hợp hai người cùng giới tính chung sống với nhau hay trường hợp người mất NLHVDS chung sống với một người bình thường… Trong trường hợp này khi các bên chung sống như vợ chồng sẽ không bị coi là trái pháp luật nhưng nếu kết hôn sẽ thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật
- Chung sống như vợ chồng trái pháp luật là trường hợp nam, nữ không đăng ký kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng đồng thời vi phạm điều cấm được quy định tại Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014, bao gồm:
+ Người chưa đủ tuổi kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng hay còn gọi là trường hợp tảo hôn;
+ Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người không có vợ, có chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng;
+ Chung sống như vợ chồng giữa người người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu,
Trang 15mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
Từ những phân tích trên, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với khái niệm kết hôn trái pháp luật được xây dựng trong Luật HN&GĐ năm 2014
1.1.3 Khái niệm hủy kết hôn trái pháp luật
Sự tồn tại của những quan hệ hôn nhân trái pháp luật không những không đem lại quyền và lợi ích cho các cá nhân, cho xã hội mà nó còn xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích đó Vì vậy cần thiết phải có những chế tài đối với những cá nhân đã cố tình xác lập quan hệ hôn nhân trái pháp luật Luật HN&GĐ Việt Nam bên cạnh việc quy định căn cứ để xác định kết hôn trái pháp luật đã quy định thêm biện pháp hủy kết hôn trái pháp luật nhằm bảo đảm trật tự xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý “hủy” có nghĩa là
“phá bỏ, làm cho không còn tồn tại hoặc không còn giá trị” [24] Từ đó, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “Hủy kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật HN&GĐ”
Hủy kết hôn trái pháp luật có một số đặc điểm sau:
- Thứ nhất, hủy việc kết hôn trái pháp luật thể hiện thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật HN&GĐ
- Thứ hai, hủy kết hôn trái pháp luật là chế tài đối với cá nhân có hành
vi vi phạm pháp luật
- Thứ ba, hủy kết hôn trái pháp luật là một chế tài mang tính chất mềm dẻo và linh hoạt Bởi lẽ, không phải bất mọi hành vi kết hôn trái pháp luật đều
bị Tòa án ra quyết định hủy
1.2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
Từ thời phong kiến cho đến nay Nhà nước ta đã trải qua bốn thời kỳ: Thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ Việt Nam dưới chế độ Cộng hòa, thời kỳ Việt Nam dưới chế độ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tương ứng với mỗi thời kỳ Nhà nước lại ban hành những văn bản pháp luật khác nhau để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ Trong thời kỳ phong kiến, các quy phạm pháp luật HN&GĐ được quy định chủ yếu trong hai Bộ luật: Bộ Luật Hồng Đức và Bộ Luật Gia Long Thời kỳ Pháp thuộc để thực hiện chính
Trang 16sách “chia để trị”, thực dân Pháp đã chia nước ta thành ba miền và ở mỗi
miền ban hành, áp dụng theo từng Bộ dân luật, cụ thể:
- Ở Bắc kỳ áp dụng những quy định theo Bộ dân luật ban hành năm 1931;
- Ở Trung kỳ áp dụng những quy định theo Bộ dân luật năm 1936;
- Ở Nam kỳ áp dụng Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ 1883
Dưới chế độ Việt Nam cộng hòa đế quốc Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã cho ban hành ba văn bản pháp luật áp dụng trong các quan hệ HN&GĐ, bao gồm:
- Luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm (Luật số 59);
1 Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng (Sắc luật số 15/64);
- Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 của chính quyền ngụy Sài Gòn (Bộ Dân luật năm 1972)
Năm 1945 với sự ra đời của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hệ thống pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước ta đã có nhiều sự thay đổi Theo đó, cùng với thời gian Nhà nước đã ban hành bốn văn bản luật chuyên ngành để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ, bao gồm: Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm
2014
Trong tất cả các văn bản pháp luật từ thời kỳ phong kiến cho đến nay vấn đề kết hôn trái pháp luật đều được đề cập bao gồm những nội dung sẽ
được chúng tôi trình bày dưới đây
1.2.1 Quan niệm về kết hôn trái pháp luật
Trong thời kỳ phong kiến pháp luật không yêu cầu các bên phải tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn khi kết hôn Đồng thời quan điểm về kết hôn trong thời kỳ này mang nhiều điểm gần gũi với thực tiễn đời sống và đề cao phong tục tập quán Theo pháp luật thời kỳ này thì về nguyên tắc, giấy chứng nhận kết hôn được coi là một văn bằng pháp lý đặc biệt quan trọng làm gắn bó
vợ chồng trong các quyền và nghĩa vụ nhất định Nếu việc ký kết văn bằng đó
đã phạm các điều cấm của pháp luật thì sẽ không có giá trị pháp lý Vì vậy, khi xác lập quan hệ hôn nhân, nếu các bên vi phạm các điều kiện về cấm kết hôn thì dù có giấy chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp thì hôn nhân đó cũng bị coi là trái pháp luật và bị tiêu hủy Như vậy, trong pháp luật phong kiến kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật khi các bên vi phạm các trường hợp cấm
Trang 17kết hôn trong luật định mà không bắt buộc các bên phải tiến hành đăng ký kết hôn với nhau
Đến thời kỳ Pháp thuộc việc kết hôn bắt buộc phải khai với hương hộ thì mới được coi là hợp pháp Khi kết hôn nếu các bên không khai với hương
hộ thì việc kết hôn ấy sẽ đương nhiên bị vô hiệu Trong thời kỳ này việc kết hôn sẽ bị coi là vô hiệu nếu vi phạm các điều kiện kết hôn Pháp luật thời kỳ
Pháp thuộc đã sử dụng thuật ngữ hôn thú “vô hiệu” để nói về việc kết hôn trái
pháp luật mà không dùng thuật ngữ kết hôn trái pháp luật như pháp luật hiện hành Như vậy, so với pháp luật thời kỳ phong kiến, pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã quy định chặt chẽ hơn về thủ tục kết hôn
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa pháp luật quy định việc kết hôn phải được khai với viên chức hộ tịch và phải đăng ký vào số hôn thú Cũng giống như pháp luật thời kỳ Pháp thuộc pháp luật dưới chế độ Việt Nam cộng hòa đã
sử dụng thuật ngữ “vô hiệu” để nói về kết hôn trái pháp luật, theo đó kết hôn
sẽ bị coi là vô hiệu nếu vi phạm các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định
Năm 1945 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức ra đời Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, thực dân Pháp âm mưu trở lại xâm lược nước ta lần nữa, toàn quốc đang tiến hành cuộc kháng chiến Do đặc điểm của cách mạng Việt Nam, quan hệ sản xuất phong kiến vẫn tồn tại và việc xóa bỏ nó cũng như chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu không
hề dễ dàng Vì thế nước ta vẫn chưa ban hành đạo luật cụ thể nào trong việc quy định vấn đề HN&GĐ ở Việt Nam, mà chỉ áp dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc Do đó vấn đề hôn nhân cũng như kết hôn trái pháp luật không có nhiều điểm mới Năm 1950 Nhà nước ta ban hành sắc lệnh số 97/SL và sắc lệnh số 159/SL để điều chỉnh về quan hệ hôn nhân gia đình, tuy nhiên cả hai sắc lệnh này đều không đề cập đến vấn đề kết hôn trái pháp luật Năm 1959 lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành đạo luật chuyên ngành về HN&GĐ, nhằm đáp ứng sự nghiệp giải phóng phụ nữ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Trong Luật HN&GĐ năm 1959 không đưa ra khái niệm kết hôn trái pháp luật, tuy nhiên có thể hiểu kết hôn trái pháp luật là việc vi phạm các điều kiện về độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện cũng như các trường hợp cấm kết hôn Năm 1986 với sự ra đời của Luật HN&GĐ lần đầu tiên khái niệm kết hôn trái pháp luật được đưa vào trong luật Theo đó, Điều 9 Luật HN&GĐ
năm 1986 quy định: “ Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.” Như vậy, trong Luật HN&GĐ năm 1986 kết hôn
trái pháp luật được hiểu là việc kết hôn vi phạm các quy định tại các Điều
Trang 185,6,7 của Luật mà không quy định việc kết hôn đó phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đến Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014 đều xác định kết hôn trái pháp luật phải là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định
Như vậy, có thể thấy theo thời gian thì quan niệm về kết hôn trái pháp luật đã có sự thay đổi Nếu như trong pháp luật phong kiến kết hôn trái pháp luật được hiểu là việc kết hôn vi phạm các trường hợp cấm của pháp luật, thì đến nay kết hôn trái pháp luật phải là việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng thời vi phạm các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định Điều này cho thấy các quy định của pháp luật ngày càng chặt chẽ hơn về mặt hình thức, từ đó đòi hỏi mỗi người dân phải nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
1.2.2 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật
Ngay từ pháp luật phong kiến các trường hợp kết hôn trái pháp luật đã được quy định một cách cụ thể và chi tiết Theo đó, pháp luật phong kiến quy định các trường hợp kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng;
- Kết hôn khi cha mẹ bị giam cầm tù tội;
- Kết hôn giữa những người thân thích
Riêng Bộ luật Hồng Đức còn quy định thêm một số trường hợp kết hôn trái pháp luật khác như:
- Quan lại lấy con hát làm vợ ( Điều 323);
- Học trò lấy vợ của thầy học đã chết, anh, em lấy vợ của em, anh đã chết ( Điều 324);
- Quan lại ở biên trấn kết thông gia với tù trưởng vùng đó ( Điều 33);
- Quan ty lấy con gái trong hạt mình ( Điều 316)
Như vậy, có thể thấy trong thời kỳ phong kiến việc quy định các trường hợp kết hôn trái pháp luật chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng như lợi ích của Nhà nước phong kiến mà chưa tính đến yếu tố khoa học
Đến thời kỳ Pháp thuộc quy định về các trường hợp kết hôn trái pháp luật đã có sự thay đổi, theo đó kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn;
Trang 19- Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện của những người kết hôn;
- Kết hôn trái pháp luật do thiếu sự đồng ý của cha mẹ;
- Việc kết hôn vi phạm các điều cấm
Ngoài ra hôn nhân còn được coi là vô hiệu khi vi phạm một trong các trường hợp kết hôn không khai với bộ lại ( Điều 82 Dân luật Bắc kỳ) hoặc trong trường hợp người đàn bà trước đã có giá thú làm chính thất hoặc thứ thất
mà chưa tiêu hôn ( Điều 84 Bộ Dân luật Bắc kỳ)
Ba bộ Dân luật thời kỳ Pháp thuộc đã chia hôn nhân vô hiệu ra làm hai loại: Vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối Vô hiệu tương đối chỉ do một số người nhất định mà luật quy định mới có quyền yêu cầu tiêu hủy hôn nhân đó,
sự vô hiệu đó có thể mất đi do một sự kiện nào đó xuất hiện Vô hiệu tuyệt đối thì bất cứ người nào cũng có quyền yêu cầu tiêu hủy và sự vô hiệu ấy không bị mất đi do một thời hiệu hoặc một sự kiện nào
Có thể thấy so với pháp luật thời kỳ phong kiến pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã phần nào mang tính tiến bộ hơn, cụ thể: Đã quy định hôn nhân cần có
sự tự nguyện của hai bên bên nam, nữ Tuy sự tự nguyện trong thời kỳ này còn mang tính hình thức, bởi bên cạnh sự tự nguyện của hai bên nam, nữ thì vẫn cần cả sự đồng ý của cha mẹ, nhưng điều này đã cho thấy sự thay đổi trong quan điểm về hôn nhân, hôn nhân lúc này không chỉ là mối quan hệ giữa hai dòng họ mà hôn nhân còn là mối quan hệ giữa hai bên nam, nữ Do đó bên cạnh sự đồng ý của cha mẹ thì sự tự nguyện của hai bên nam, nữ cũng được quy định là một trong những điều kiện cần thiết khi kết hôn
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Kết hôn mà không có sự ưng thuận của vợ hay chồng hay của hai người;
- Kết hôn mà không có sự ưng thuận của cha mẹ, hay những người có quyền ưng thuận trong việc kết hôn;
- Hai bên nam, nữ chưa đủ tuổi mà đã kết hôn, trừ phi được miễn tuổi;
- Hai bên kết hôn là bà con do huyết tộc hay do hôn nhân vào hàng luật cấm
Ngoài các trường hợp kết hôn trái pháp luật trên, theo Luật số 1- 59 thì trường hợp người kết hôn bị bất lực vĩnh viễn và đã có trước khi lập hôn thú hay trường hợp người đàn bà tái hôn trước mười tháng sau khi có án tuyên bố
vô hiệu cuộc hôn nhân trước hoặc người quả phụ tái giá trước mười tháng từ
Trang 20ngày người chồng mệnh một cũng sẽ bị coi là trái pháp luật Sắc luật số 15/64
và Bộ Dân luật năm 1972 đã bổ sung thêm trường hợp kết hôn trái pháp luật
do hôn lễ đã được cử hành không công khai hay do một viên hộ lại không có thẩm quyền với điều kiện là sự cử hành trái luật ấy có tính cách gian lận
Năm 1959 dưới sự lãnh đạo của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành đạo luật chuyên ngành về HN&GĐ Theo đó, kết hôn trái pháp luật bao gồm những trường hợp sau:
- Kết hôn do vi phạm độ tuổi kết hôn;
- Kết hôn do vi phạm sự tự nguyện;
- Kết hôn với người đang có vợ, có chồng;
- Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi;
- Kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán;
- Kết hôn mà một trong hai bên kết hôn là người: bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi
Với Luật HN&GĐ năm 1959 lần đầu tiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xác lập, xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thê tồn tại trong xã hội
cũ Tuy nhiên, theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác thì trường hợp này không bị coi là kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 1959 đã quy định điều kiện về sức khỏe của người kết hôn
là một trong những điều kiện kết hôn đòi hỏi các bên phải tuân thủ, nếu vi phạm thì việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật
Sau một thời gian áp dụng Luật HN&GĐ năm 1959, đời sống xã hội đã
có nhiều biến đổi, đòi hỏi sự thay đổi trong các quy định của pháp luật, do đó Nhà nước ta đã cho ban hành Luật HN&GĐ năm 1986 Trong đó xác định các trường hợp kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn;
- Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện;
- Kết hôn với những người đang có vợ, có chồng;
- Một trong các bên kết hôn đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình; đang mắc bệnh hoa liễu;
Trang 21- Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời;
- Kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi
Như vậy, so với quy định trước đây, Luật HN&GĐ năm 1986 đã bổ sung thêm trường hợp kết hôn trái pháp luật giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi Ngày 02/12/1993 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh HN&GĐ giữa công dân Việt nam với người nước ngoài trong đó quy định cấm người nhiễm HIV kết hôn Do đó, trường hợp người nước ngoài nhiễm HIV kết hôn với công dân Việt Nam sẽ thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 1986 được Nhà nước ta ban hành trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã tác động không nhỏ đến các quan hệ hôn nhân gia đình Bên cạnh đó, sau 10 năm áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 đã cho thấy những hạn chế, vướng mắc và thiếu sót Trước tình hình đó, Nhà nước đã thay đổi toàn diện các luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân Năm 1992 Nhà nước ta đã ban hành bản Hiến pháp mới, làm cơ sở để xây dựng Luật HN&GĐ năm 2000 Bên cạnh việc kế thừa điểm tiến bộ về các trường hợp kết hôn trái pháp luật của Luật HN&GĐ trước đây, Luật HN&GĐ năm 2000 đã bổ sung một số quy định mới về các trường hợp kết hôn trái pháp luật như: Việc kết hôn của người
bị hủi không còn bị coi là trái pháp luật; bổ sung trường hợp kết hôn trái pháp luật giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu,
mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính Sau hơn 10 năm kể từ khi áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 đến nay đời sống thực tiễn đã phát sinh nhiều vấn đề
xã hội phức tạp cần sự điều chỉnh của pháp luật, tuy nhiên những vấn đề này lại chưa được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 Xuất phát từ thực tiễn này mà Luật HN&GĐ năm 2014 đã ra đời Trong Luật HN&GĐ năm 2014 bên cạnh những điểm đã được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung thêm trường hợp kết hôn trái pháp luật do giả
tạo Điều này góp phần khắc phục được “lỗ hổng” còn tồn tại trong Luật
HN&GĐ năm 2000 từ đó tạo cơ sở pháp lý để xử lý những trường hợp vi phạm do kết hôn giả tạo xảy ra trên thực tế
1.2.3 Chủ thể có quyền yêu cầu xử lý đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật
Trang 22Pháp luật thời kỳ phong kiến mới chỉ đưa ra quy định về các trường hợp cấm kết hôn mà chưa quy định cụ thể, rõ ràng về chủ thể có quyền yêu cầu xử lý đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật Tại Điều 309 Bộ luật Hồng Đức quy định đối với trường hợp người chồng lấy nàng hầu lên làm vợ thì người vợ có quyền thưa quan để xử phạt Hay trường hợp cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy mà con lại trái lời cha mẹ thì cha mẹ có quyền thưa quan
Đến thời kỳ Pháp thuộc pháp luật đã quy định cụ thể về người có quyền yêu cầu xin tiêu hôn bao gồm:
- Người có quan thiết đều có quyền được xin tiêu hôn Quan địa phương sở tại cũng có thể tự mình xét mà đòi tiêu hôn;
- Người bị lầm lẫn hay bị cưỡng bức;
- Người nào có tư cách ưng thuận việc giá thú mà các bên khi kết hôn không hỏi xem người ấy có bằng lòng hay không
Dưới chế độ Việt Nam cộng hòa chủ thể có quyền yêu cầu xin tiêu hôn cũng được quy định một cách cụ thể Theo đó bao gồm những chủ thể sau:
- Người vợ hay người chồng đã bị lầm lẫn hay cưỡng bách
Trong trường hợp này Bộ Dân luật năm 1972 quy định chỉ người vợ hay người chồng bị lầm lẫn hay cưỡng bách mới có quyền xin tiêu hôn Trái lại trong Luật số 1-59 và Sắc Luật số 15/64 còn quy định thêm trường hợp người vợ hay chồng bị lầm lẫn hoặc bị cưỡng bách, nếu người ấy còn vị thành niên, những người có quyền ưng thuận cho kết hôn có thể khởi tố xin tiêu hôn Ngoài ra Luật số 1-59 còn quy định trong trường hợp các đương sự còn vị thành niên mà những người có quyền ưng thuận cho kết hôn không chịu khởi
tố, đương sự có thể đặc biệt xin phép tòa để khởi tố
- Cha, mẹ hay những người có quyền ưng thuận trong việc kết hôn có thể xin tiêu hủy hôn nhân nếu không có sự ưng thuận của họ trong việc kết hôn
Tuy nhiên, những người này không thể khởi tố nếu đã thừa nhận hôn thú một cách công nhiên hay mặc nhiên, hoặc biết việc lập hôn thú mà để yên một năm không khiếu nại hoặc nếu người đàn bà đã thụ thai hay có con Trong Luật số 1-59 và Bộ Dân luật năm 1972 còn quy định thêm trường hợp cha, mẹ hay những người có quyền ưng thuận trong việc kết hôn không thể khởi tố nếu người phối ngẫu còn vị thành niên khi kết lập hôn thú đã đến tuổi trưởng thành
- Cả hai vợ chồng, công tố viên và mọi người có quyền lợi đều có thể khởi tố xin tiêu hôn trong trường hợp:
Trang 23+ Trai gái chưa đến tuổi luật định mà đã kết hôn, trừ phi được miễn tuổi hợp lệ;
+ Hai người là bà con huyết tộc hoặc kết hôn vào hàng luật cấm
Ngoài hai trường hợp trên Luật số 15/64 và Bộ Dân luật năm 1972 còn quy định cả hai vợ chồng cũng như công tố viên và mọi người có quyền lợi đều có thể khởi tố xin tiêu hôn trong trường hợp: Khi lập hôn thú, một trong hai người còn bị ràng buộc bởi một hôn thú khác chưa đoạn tiêu; hôn lễ cử hành không công khai hay do một viên hộ lại không có thẩm quyền,với điều kiện sự cử hành hôn lễ trái phép có tính cách gian lận Riêng Bộ Dân luật năm
1972 quy định trường hợp hôn thú kết lập mà không có sự ưng thuận của vợ hay chồng hoặc của hai người thì cả hai vợ chồng, cũng như công tố viên và mọi người có quyền lợi đều có thể khởi tố xin tiêu hôn
Bên cạnh những chủ thể có quyền yêu cầu xin tiêu hôn trên, đối với trường hợp người đàn bà tái hôn trước mười tháng sau khi có án tuyên bố vô hiệu cuộc hôn nhân trước, hoặc người quả phụ tái giá trước mười tháng từ ngày người chồng mệnh một được quy định trong Luật số 1-59 thì người chồng hoặc nếu không còn người chồng; các con của cuộc hôn nhân trước hoặc nếu không có con, người tộc trưởng của người chồng mệnh một có thể khởi tố xin tiêu hôn
Tuy nhiên, đến Luật HN&GĐ năm 1959 mới chỉ đưa ra các trường hợp kết hôn trái pháp luật mà không quy định về người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
Khắc phục khiếm khuyết của Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986 đã bổ sung quy định về chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Tại Điều 9 Luật HN&GĐ năm 1986 quy định các cá nhân, tổ chức sau có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật:
- Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật;
- Vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác;
- Viện kiếm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam
Đến Luật HN&GĐ năm 2000 thì quy định về chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đã có sự thay đổi Cụ thể, theo Điều 15, Luật HN&GĐ năm 2000 thì người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn;
Trang 24- Viện kiểm sát;
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện Kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này: Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn; Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ;
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật
Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986 thì các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đã được thu hẹp Theo đó, Đoán thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam không còn quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2000 lại quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật
Với Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật một lần nữa lại được sửa đổi Theo đó, những chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn;
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì
có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật
Có thể thấy điểm khác biệt cơ bản của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 về chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đó là đã
bỏ quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của Viện kiểm sát
1.2.4 Hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật
Theo pháp luật thời kỳ phong kiến nếu việc kết hôn phạm vào một trong các điều cấm thì hôn nhân đó sẽ bị coi là vô hiệu và về nguyên tắc hôn
Trang 25nhân đó có thể bị tiêu hủy Sự tiêu hủy hôn nhân trái pháp luật trong cổ luật có
sự khác biệt so với việc tiêu hủy hôn nhân trong pháp luật hiện hành Tiêu hủy hôn nhân trong cổ luật không có hiệu lực trở về trước mà chỉ có hiệu lực trong tương lai Có nghĩa là hôn nhân vẫn có hiệu lực trong quá khứ Trước khi bị tiêu hủy thì hôn nhân đó vẫn được coi là có giá trị pháp lý, các bên tham gia quan hệ hôn nhân đó vẫn là vợ chồng, họ chỉ bị chia lìa hay ly dị kể từ khi hôn nhân bị tuyên bố tiêu hủy mà thôi Như vậy, có thể thấy trường hợp tiêu hôn trong cổ luật hoàn toàn giống với trường hợp ly hôn trong pháp luật hiện hành
Thông qua các quy định trong các Bộ luật Hồng Đức và Gia Long có thể kết luận rằng không phải trong tất cả các trường hợp hôn nhân vô hiệu đều
bị xử lý mà pháp luật quy định chỉ những trường hợp vi phạm nghiêm trọng các điều kiện về cấm kết hôn thì mới tiêu hủy hôn nhân Hậu quả của việc tiêu hủy hôn nhân là buộc các bên phải ly dị đồng thời có thể phải chịu thêm các hình phạt nhất định tùy theo từng trường hợp cụ thể
Trong thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật quy định hôn nhân vô hiệu sẽ bị Tòa án tiêu hủy Tuy nhiên, hậu quả của việc tiêu hủy có sự quy định khác nhau trong ba bộ Dân luật thời kỳ này Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ đã dựa trên nguyên tắc giảm bớt những hậu quả quá nặng nề đối với
vợ chồng, đối với các con nên đã tìm ra những biện pháp nhằm giảm bớt những quy định quá nghiêm ngặt, như quy định khi hôn nhân bị tiêu hủy thì việc tiêu hủy đó chỉ có hiệu lực trong tương lai, có nghĩa là trước khi bị tiêu hủy hôn nhân, giữa các bên vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng, con sinh ra vẫn là con trong giá thú, các bên chỉ phải chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ khi hôn nhân bị tiêu hủy mà thôi Nói cách khác về hậu quả pháp lý, trường hợp tiêu hủy hôn nhân cũng giống như trường hợp ly hôn Giải pháp trên đây được thừa nhận trong Điều 89 của bộ Dân luật Bắc kỳ Điều 89 bộ Dân luật Bắc kỳ
quy định: “Phàm có giá thú mà sinh con, dẫu sau có sự tiêu hôn, không cứ vì duyên cớ gì, những đứa con ấy vẫn là con chính thức Thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ của cha mẹ, những đứa con ấy thì cũng theo cùng một lệ định như khi ly hôn Việc thanh toán các tài sản của vợ chồng đã tiêu hôn thì cũng làm theo như khi ly hôn”
Trong Tập Dân luật giản yếu Nam kỳ lại có quy định rằng, khi hôn nhân bị tiêu hủy thì nó không còn hiệu lực gì không những trong tương lai mà còn trong quá khứ Đối với hai vợ chồng thì kể từ ngày họ kết hôn cho đến khi hôn nhân bị tiêu hủy họ không phải là vợ chồng của nhau, có nghĩa là hai bên chưa hề xác lập quan hệ vợ chồng Vì vậy, nếu họ có tài sản chung thì tài sản
Trang 26đó được thanh toán như trong trường hợp hai người góp sức làm ra Đối với các con bị bị coi như con ngoại hôn tức là con ngoài giá thú Như vậy, Tập Dân luật giản yếu Nam kỳ đã quy định những hậu quả hết sức nặng nề đối với việc tiêu hủy hôn nhân So với Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ thì Tập Dân luật giản yếu Nam kỳ đã nghiêm ngặt hơn rất nhiều Tuy nhiên, tựu trung lại chế độ HN&GĐ do thực dân - phong kiến quy định trong các bộ luật vẫn duy trì những nét cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình của thời kỳ phong kiến trước đó
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa hậu quả pháp lý khi kết hôn trái pháp luật được quy định như sau: Theo Luật số 1-59 khi hôn nhân bị tiêu hủy con sinh ra trong thời kỳ này sẽ được coi như con ngoại hôn, sự thanh toán tài sản của vợ chồng làm như vợ chồng không hề bao giờ có kết hôn với nhau Tuy nhiên, hôn thú bị tuyên vô hiệu vẫn có hiệu lực về dân sự đối với con và đối với người vợ hay người chồng hoặc cả hai nếu họ ngay tình Đến Sắc luật số 15/64 đã có sự thay đổi khi giải quyết vấn đề con cái theo đó con cái nếu có vẫn được coi là con chính thức, nhưng trong Sắc luật số 15/64 lại không hề nói đến việc giải quyết tài sản trong trường hợp tiêu hôn Trái lại, trong Bộ Dân luật năm 1972 quy định sự thanh toán tài sản sau khi tiêu hôn sẽ làm như trong trường hợp ly hôn, các con nếu có vẫn được coi là con chính thức đồng thời sự tiêu hủy không có hiệu lực hồi tố đối với vợ chồng cũng như đối với người đệ tam
Ngoài chế tài tiêu hôn trong trường hợp kết hôn trái pháp luật, Luật số 1-59 và Sắc luật số 15/64 còn quy định về hình phạt Tại Điều 34 Luật số 1-59
quy định: “Người vợ hay chồng bị kết án về tội song hôn, không thể đảm nhiệm một công vụ có quyền lực hoặc một ủy nhiệm công cử” hay Điều 38 quy định: “Nếu hôn thú bị tuyên bố vô hiệu vì lỗi người vợ hay người chồng
đã có gian ý thì người ấy có thể bị phạt giam từ 3 tháng cho đến 1 năm Ngoài
ra còn có thể bị phạt tiền từ 1 ngàn ( 1000) cho đến một trăm ngàn (100.000) Tòa án cũng có thể cấp cho người vợ hay người chồng bị thiệt hại một số tiền bồi thường” Điều 35 Sắc luật số 15/64 quy định hình phạt trong trường hợp
khi lập hôn thú một trong hai đương sự còn ở tình trạng hôn nhân trước chưa đoạn tiêu thì người phạm pháp có thể bị truy tố về tội song hôn
Đến Luật HN&GĐ năm 1959 tuy có quy định cụ thể về điều kiện kết hôn cũng như các trường hợp cấm kết hôn, nhưng lại không quy định biện pháp chế tài đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật Do đó, việc giải quyết hậu quả pháp lý cũng không được đề cập
Trang 27Nhằm khắc phục khiếm khuyết của Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014 đã
bổ sung quy định về chế tài hủy kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật Theo đó, đối với quan hệ nhân thân khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì các bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ vợ chồng Đối với quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn Điều này cho thấy thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật, theo đó buộc các bên phải chấm dứt quan hệ vợ chồng Bên cạnh đó còn thể hiện quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho đứa trẻ được phát triển bình thường
Riêng việc giải quyết đối với quan hệ tài sản trong trường hợp kết hôn trái pháp luật lại được quy định khác nhau Cụ thể, tại Điều 9 Luật HN&GĐ năm 1986 quy định về nguyên tắc khi hôn nhân bị hủy thì tài sản sẽ được giải quyết theo nguyên tắc: Tài sản thuộc sở hữu của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên, quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được
bảo vệ Đến Luật HN&GĐ năm 2000 tại khoản 3, Điều 17 quy định: “Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó, tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên, ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con” Luật HN&GĐ năm 2014 lại quy định trong trường hợp hủy kết hôn trái
pháp luật quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan Việc giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con, công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập
Có thể thấy theo thời gian thì quy định về giải quyết tài sản trong trường hợp kết hôn trái pháp luật ngày càng được hoàn thiện Nếu như Trong Luật HN&GĐ năm 2000 đưa ra nguyên tắc chia tài sản chung theo thỏa thuận của các bên, nếu các bên không thỏa thuận được sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời ưu tiên bảo vệ quyền lợi ích của con thì trong Luật HN&GĐ năm
1986 nguyên tắc này không hề được quy định, theo đó pháp luật sẽ ấn định một nguyên tắc chung về giải quyết tài sản mà không cho phép các bên được
Trang 28thỏa thuận về nội dung này Điều này cho thấy tính mềm dẻo của Luật HN&GĐ năm 2000 so với Luật HN&GĐ năm 1986 Chúng tôi nhận thấy điều này là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ bản chất của quan hệ tài sản là một giao lưu dân sự, do đó việc đề cao nguyên tắc tự do thỏa thuận về quan hệ tài sản trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật là vô cùng cần thiết Đến Luật HN&GĐ năm 2014 nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên càng được đề cao hơn nữa, điều này được thể hiện qua việc pháp luật đã trao cho các bên quyền thỏa thuận về toàn bộ tài sản chứ không chỉ là việc thỏa thuận về chia tài sản chung như Luật HN&GĐ năm 2000 Đồng thời với Luật HN&GĐ năm 2014 lần đầu tiên công việc nội trợ cũng như các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi là lao động có thu nhập Điều này góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền cho người phụ nữ trong gia đình
1.3 PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
1.3.1 Pháp luật Thái Lan về kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật là một nội dụng quan trọng trong pháp luật HN&GĐ, do đó pháp luật của các quốc gia đều có quy định về vấn đề này Vấn đề kết hôn trái pháp luật trong pháp luật Thái Lan được quy định khá cụ thể và mang nhiều điểm tiến bộ Theo đó, kết hôn trái pháp luật được hiểu là trường hợp kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định, bao gồm:
- Kết hôn giữa những người chưa đủ 17 tuổi, trừ trường hợp có lý do chính đáng cho phép họ kết hôn trước tuổi 17;
- Việc kết hôn được thực hiện giữa người mất trí, hoặc bị tuyên bố là không có năng lực hành vi;
- Việc kết hôn được thực hiện giữa người đàn ông và người đàn bà có quan hệ huyết thống trực hệ, quan hệ họ hàng trên dưới, hoặc anh em, chị em cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ ( cùng mẹ khác cha) Quan hệ nói trên phải đúng với quan hệ huyết thống không xét đến tính hợp pháp của nó;
- Kết hôn giữa bố mẹ nuôi với con nuôi;
- Kết hôn giữa những người đang có vợ có chồng;
- Người đàn bà có chồng đã chết hoặc đã chấm dứt hôn nhân tuy nhiên việc chấm dứt cuộc hôn nhân đó dưới 310 ngày nay lại kết hôn với một người khác Trừ trường hợp: có con sinh ra trong thời kỳ này; hai người đã ly dị nay lại kết hôn lại có giấy chứng nhận do một bác sỹ có trình độ và là một chuyên
Trang 29gia y tế hợp pháp cấp, xác nhận là người đàn bà đó không có thai; có một quyết định của Tòa án cho phép người đàn bà kết hôn
Bên cạnh việc quy định các trường hợp kết hôn trái pháp luật, BLDS và thương mại Thái Lan cũng quy chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật Theo
đó hôn nhân sẽ bị coi là vô hiệu trong những trường hợp sau: Kết hôn giưã người mất trí, hoặc bị tuyên là không có năng lực hành vi; kết hôn giữa người
có quan huyết thống trực hệ, quan hệ họ hàng trên dưới, hoặc anh em, chị em cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ ( cùng mẹ khác cha); người đang có vợ hoặc có chồng mà lại kết hôn với người khác; người đàn ông và người đàn bà không đồng ý nhận nhau làm vợ làm chồng trước viên chức đăng ký; cuộc hôn nhân được tiến hành vì một sự nhầm lẫn về nhận diện của người vợ hoặc chồng; khi việc kết hôn được tiến hành có sự lừa dối hay cưỡng ép đến mức
mà nếu không có sự lừa dối đó thì không có cuộc hôn nhân này; trong trường hợp người vị thành niên kết hôn mà không có sự đồng ý của cha, mẹ…hay những người được pháp luật quy định
Về chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật bao gồm:
- Vợ chồng, bố mẹ hoặc con cái của người mất trí, hoặc bị tuyên là không có năng lực hành vi; người có quan hệ huyết thống trực hệ, quan hệ họ hàng trên dưới hoặc anh em, chị em cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ ( cùng mẹ khác cha); người không đồng ý nhận nhau làm vợ chồng trước viên chức đăng ký có thể yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật Nếu không có người nào trong số người nói trên thì bất cứ người nào quan tâm cũng có thể yêu cầu Ủy viên công tố đề nghị Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;
- Bất cứ người quan tâm có thể viện lý lẽ hoặc đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác;
- Người có quyền đồng ý trong trường hợp kết hôn giữa người vị thành niên; - Người vợ hoặc chồng là người đã nhầm lẫn về nhận diện người kia hoặc bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép
Về hậu quả pháp lý khi hủy kết hôn trái pháp luật: Khi hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu sẽ không dẫn đến thiết lập quan hệ tài sản giữa vợ và chồng Tài sản mà bất cứ bên nào chiếm dụng hoặc có được trước hoặc sau hôn nhân, cũng như những hoa lợi của tài sản đó vẫn là tài sản riêng Tài sản chung sẽ được chia đều, trừ khi Tòa án cho rằng cần phải quyết định theo cách khác, có
Trang 30tính đến nghĩa vụ trong gia đình và thu nhập của cả hai bên cũng như tình hình sinh sống của họ, kể cả những hoàn cảnh khác
Trong trường hợp cuộc hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu thì vợ chồng có thể thảo luận về bên nào sẽ thực thi quyền của cha mẹ đối với con cái, hoặc bên nào phải chịu trách nhiệm về số tiền đóng góp để nuôi dưỡng đứa trẻ Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định
Đồng thời khi hôn nhân bị tuyên bố vô hiệu sẽ không làm phương hại đến quyền mà người thứ ba có thiện chí có được, trước khi ghi việc vô hiệu vào số đăng ký kết hôn
Ngoài ra, BLDS và thương mại Thái Lan cũng có quy định về thời hiệu yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Theo đó, thời hiệu sẽ là 90 ngày đối với trường hợp xin hủy hôn nhân do có sự nhầm lẫn về nhận diện của vợ hoặc chồng Trường hợp kết hôn do có lừa dối thì thời hiệu sẽ là 90 ngày kể từ ngày người vợ biết được hoặc phải biết được việc lừa dối đó hoặc sau khi hết hạn một năm kể từ ngày kết hôn Nếu kết hôn có sự cưỡng ép thì thời hiệu sẽ là một năm kể từ ngày người vợ hoặc chồng không còn phải chịu sự cưỡng ép đó nữa Khi cuộc hôn nhân bị vô hiệu vì đã tiến hành không có sự đồng ý của những người có quyền thì quyền xin hủy cuộc hôn nhân bị chấm dứt khi cặp
vợ chồng đã đủ 20 tuổi hay khi người đàn bà đã có mang
1.3.2.Pháp luật Cộng hòa Pháp về kết hôn trái pháp luật
Trong BLDS Pháp vấn đề kết hôn trái pháp luật đã được quy định một cách khá cụ thể và chặt chẽ Theo đó, các trường hợp sau sẽ bị coi là kết hôn trái pháp luật:
- Nam chưa tròn mười tám tuổi, nữ chưa tròn mười lăm tuổi;
- Kết hôn không có sự tự nguyện;
- Kết hôn khi chưa chấm dứt hôn nhân trước đó;
- Người chưa thành niên kết hôn mà không có sự đồng ý của cha, mẹ;
- Kết hôn giữa anh em, chị em chính thức hoặc ngoài giá thú;
- Kết hôn giữa chú, bác trai và cháu gái; giữa cô, bác gái và cháu trai dù quan hệ họ hàng là chính thức hoặc ngoài giá thú
Trong trường hợp kết hôn trái pháp luật thì việc kết hôn này sẽ bị hủy Theo BLDS Pháp người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn bao gồm: Cả hai
vợ chồng hay người vợ, người chồng không tự nguyện kết hôn; người có quyền đồng ý cho người chưa thành niên kết hôn hoặc bên kết hôn cần có sự đồng ý; vợ chồng, những người có quyền lợi liên quan hoặc Viện công tố có
Trang 31quyền yêu cầu hủy nếu việc kết hôn vi phạm về độ tuổi, sự tự nguyện, kết hôn khi chưa chấm dứt hôn nhân trước đó, kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống
về trực hệ hay bàng hệ; giữa chú, bác trai, bác gái, giữa cô, bác gái và cháu trai dù quan hệ họ hàng là chính thức hay ngoài giá thú
Về thời hiệu yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật:
- Trong trường hợp kết hôn do vi phạm sự tự nguyện thì yêu cầu hủy hôn nhân sẽ không được thụ lý nếu vợ chồng đã chung sống với nhau liên tục trong sáu tháng kể từ khi người làm đơn đã hoàn toàn tự do hoặc đã chấp nhận sự nhầm lẫn;
- Vợ chồng và những họ hàng cần xin ý kiến đồng ý về việc kết hôn không
có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn nếu việc kết hôn đã được những người này chấp thuận công khai hoặc chấp thuận ngầm hoặc nếu sau một năm kể từ khi biết việc kết hôn mà không yêu cầu Người vợ hoặc người chồng cũng không được yêu cầu nếu sau một năm kể từ khi đến tuổi đủ khả năng tự nguyện kết hôn mà không có khiếu kiện về việc kết hôn;
- Trong trường hợp hai người chưa đến tuổi kết hôn hoặc giữa một người đã
đủ tuổi kết hôn với một người chưa đến tuổi kết hôn theo luật định không thể bị hủy nếu hết thời hạn sáu tháng, kể từ ngày người vợ, người chồng hoặc cả hai vợ chồng
đã đủ tuổi kết hôn hay trường hợp người vợ chưa đủ tuổi kết hôn nhưng đã có thai sáu tháng trước khi đủ tuổi kết hôn
Như vậy, qua tìm hiểu quy định về kết hôn trái pháp luật trong pháp luật Thái Lan và Cộng hòa Pháp dễ dàng nhận thấy nhiều quy định có điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam như: Đều quy định trường hợp kết hôn do vi phạm độ tuổi, sự tự nguyện hay người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, người có quan
hệ huyết thống, có họ hàng gần với nhau… là kết hôn trái pháp luật, đồng thời đều
áp dụng chế tài hủy kết hôn trái pháp luật đối với những trường hợp này Bên cạnh
đó, cũng có những điểm mang tính khác biệt để phù hợp với phong tục tập quán của từng quốc gia Qua nghiên cứu pháp luật của Thái Lan và Pháp chúng tôi nhận thấy pháp luật Thái Lan có quy định cho người chưa đủ tuổi kết hôn trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật Pháp có quy định người chưa thành niên kết hôn cần sự đồng
ý của cha mẹ mới được phép kết hôn Chúng tôi cho rằng pháp luật Việt Nam cũng nên quy định ngoại lệ này trong luật, cho phép nam, nữ sinh sống ở các tỉnh miền núi
là đồng bào dân tộc thiểu số được kết hôn trước tuổi và trong trường hợp này việc kết hôn cần phải có sự đồng ý của cha, mẹ Thiết nghĩ, nếu áp dụng quy định này trong thực tiễn sẽ có tác dụng tích cực trong việc giảm thiểu tình trạng tảo hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay
Trang 32Chương 2 KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN HÀNH 2.1 CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
2.1.1 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn
Độ tuổi là một trong số những điều kiện kết hôn được quy định tại Điều
9 Luật HN&GĐ năm 2014 với nội dung như sau: "Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên"
Độ tuổi kết hôn được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở xã hội Trước hết, về cơ sở khoa học nam, nữ xác lập quan hệ hôn nhân để thực hiện chức năng cơ bản của gia đình là sinh đẻ để duy trì nòi giống Các nhà nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng phải đạt đến độ tuổi này thì việc nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân và sinh con mới đảm bảo được sức khỏe cho nam và
nữ cũng như con cái Bởi vì, đến độ tuổi này nam và nữ mới phát triển toàn diện về tâm - sinh lý Một số nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản đã kết luận: Các bà mẹ sinh con trước tuổi 18 thường hay gặp các vấn đề về sức khỏe Những đứa con của các cặp hôn nhân xác lập quan hệ trước tuổi luật định hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, sức đề kháng yếu, tỷ lệ tử vong sau sinh cao Chính vì lẽ đó, việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu dựa trên cơ sở khoa học sẽ góp phần duy trì nòi giống, đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và trí tuệ cho thế hệ đời sau Ngoài cơ sở khoa học quy định điều kiện
độ tuổi kết hôn còn được xem xét dựa trên các khía cạnh như: phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, truyền thống tâm lý của người Việt Nam về vấn đề kết hôn Do ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, với truyền thống coi trọng gia đình, người Việt Nam hình thành thói quen lấy vợ, lấy chồng sớm theo quan niệm
“nữ thập tam, nam thập lục” Từ đó phong tục này ảnh hưởng đáng kể đến
đời sống hôn nhân của người Việt Nam Hiện nay, các vùng nông thôn Việt
Nam vẫn còn ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tâm lý này Vì vậy, nạn “tảo hôn” vẫn
tồn tại ở nhiều nơi, nhất là ở nông thôn và miền núi Chính vì thế, quy định độ tuổi như hiện nay còn là sự hài hòa giữa cơ sở khoa học với cơ sở xã hội, đảm bảo điều kiện kết hôn về độ tuổi mang tính thực thi
So với Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về độ tuổi kết hôn đã có sự thay đổi Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên thì được kết hôn Tức là nam bước sang
Trang 33tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười tám Tuy nhiên, đến Luật HN&GĐ năm 2014 độ tuổi kết hôn đã thay đổi theo hướng nâng độ tuổi kết hôn đối với nam và nữ Theo đó, nam từ đủ hai mươi tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi được phép kết hôn
Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về độ tuổi kết hôn là trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độ tuổi còn được gọi là tảo hôn Cụ thể, nam kết hôn khi chưa đủ hai mươi tuổi, nữ kết hôn khi chưa đủ mười tám tuổi Để xác định một người đã đủ tuổi kết hôn hay chưa cần phải căn cứ vào giấy khai sinh của người đó Tuy nhiên, xác định như thế nào được coi là đủ tuổi kết hôn là một vấn đề cần được quy định rõ trong Luật HN&GĐ để tránh áp dụng một cách tùy tiện pháp luật
Ví dụ: Nguyễn Thị A sinh ngày 11/10/1996 đã đăng ký kết hôn với anh Trần Văn T sinh năm 1990 vào ngày 10/10/2014 Trong trường hợp này Nguyễn Thị A có bị coi là kết hôn trái pháp luật do chưa đủ tuổi kết hôn hay không? Thời điểm xác định Nguyễn Thị A đủ tuổi kết hôn là ngày 10/10/2014 hay phải đến ngày 11/10/2014?
Trên thực tế việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi không những gây ra hậu quả đối với bản thân, gia đình người kết hôn mà còn gây hậu quả đối với xã hội
Đối với bản thân và gia đình người kết hôn tảo hôn có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ, do bộ máy sinh dục vẫn chưa hoàn thiện Mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi vị thành niên khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện chưa đủ sức khoẻ để nuôi dưỡng bào thai
sẽ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển bình thường của thai nhi Mặt khác, ở độ tuổi này người vị thành niên đang trong quá trình rèn luyện tư duy nhận thức
và học hành Việc kết hôn quá sớm sẽ cuốn họ vào vòng xoay lo toan gia đình
điều này đã khiến nhiều gia đình “trẻ con” gặp khó khăn trong cuộc sống, dễ
xảy ra mâu thuẫn và tan vỡ hạnh phúc gia đình Cơ hội học tập cũng như công việc bị giảm sút từ đó làm gia tăng tỷ lệ đói nghèo
Đối với xã hội: Tảo hôn sẽ góp phần vào sự gia tăng dân số, chất lượng dân số thấp, đời sống dân sinh ảnh hưởng nghiêm trọng, mức sinh hoạt thu nhập thấp Kéo theo đó là những tệ nạn xã hội gây bất ổn đến an ninh trật tự Đất nước có dân số đông gây rất nhiều trở ngại, áp lực xã hội gia tăng, công ăn việc làm thiếu thốn, các cơ sở giáo dục không thể đáp ứng, kinh tế đất nước chậm phát triển
Trang 34Do đó, việc quy định trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều kiện độ tuổi kết hôn là hoàn toàn cần thiết
2.1.2 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện
Hôn nhân trong thời đại ngày nay được hình thành dựa trên tình cảm lứa đôi, hai bên nam nữ yêu thương lẫn nhau và muốn gắn kết bên nhau trọn đời để tiến tới hôn nhân Tự nguyện trong kết hôn được hiểu là việc nam và nữ được tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí mong muốn trở thành
vợ chồng của nhau Kết hôn được hiểu là quyền chứ không phải nghĩa vụ, do
đó, về nguyên tắc không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Đây là điều kiện hết sức quan trọng được hầu hết các nước phát triển, văn minh trên thế giới ghi nhận để đảm bảo giá trị đích thực của hôn nhân Không thể duy trì hôn nhân bền vững khi không có sự tự nguyện và cuộc sống gia đình chỉ thực sự có hạnh phúc khi được xây dựng trên cơ sở sự hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam nữ Chính vì vậy, cho nên nguyên tắc kết hôn tự nguyện là nguyên tắc được đặt lên hàng đầu, được pháp luật Việt Nam về HN&GĐ đặc biệt coi trọng và bảo vệ Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“ … Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện,
tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.” Điều 39 BLDS năm 2005 cũng quy định: “Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn” Hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ đồng thời là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của Luật HN&GĐ, nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân phụ thuộc vào gia đình của chế độ phong kiến và xây dựng chế độ hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa
Tại điểm b, khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” Như vậy, tự nguyện trong kết
hôn là một trong các điều kiện quyết định tính hợp pháp của hôn nhân Việc kết hôn vi phạm sự tự nguyện thì việc kết hôn đó bị coi là trái pháp luật
Vậy đâu là căn cứ để xác định một cuộc hôn nhân là trái pháp luật do
vi phạm sự tự nguyện? Theo quy định của pháp luật thì một cuộc hôn nhân sẽ được coi là trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện khi có hành vi cưỡng ép, lừa dối kết hôn
- Hành vi cưỡng ép kết hôn
Theo quy định tại Khoản 9, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 cưỡng ép
kết hôn được hiểu là: “Việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ”
Trang 35Như vậy, hành vi cưỡng ép kết hôn thể hiện là sự tác động có chủ ý của một hoặc nhiều người nhằm buộc người bị cưỡng ép phải kết hôn theo yêu cầu của họ Người cưỡng ép có thể tác động lên người bị cưỡng ép về thể chất hoặc về tinh thần, đe dọa sẽ xâm hại đến thân thể, tài sản, danh dự, uy tín…hoặc thực tế đã xâm hại đến thân thể, tài sản, danh dự, uy tín…của người
bị cưỡng ép
Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định trường hợp kết hôn trái pháp luật
do bị cưỡng ép kết hôn là không hề dễ dàng Bởi lẽ, có phải tất cả hành vi cưỡng ép đều bị coi là vi phạm sự nguyện? Theo chúng tôi, chỉ những hành vi cưỡng ép có tính chất nghiêm trọng thì mới bị coi là làm cản trở yếu tố tự
nguyện trong việc kết hôn “Hành vi thực sự có tính chất cưỡng ép, như đã dùng bạo lực về vật chất hoặc tinh thần, mạnh mẽ đến mức làm tê liệt ý chí của đương sự, làm mất hẳn sự tự nguyện của họ khi kết hôn” [13] Đối với
những trường hợp hành vi cưỡng ép chỉ ở mức độ tác động đến tư tưởng của
người kết hôn, mà chưa đặt người đó vào tình trạng “buộc phải kết hôn”, thì
việc kết hôn vẫn được coi là có sự tự nguyện Trong thực tế có những trường hợp người có hành vi cưỡng ép lợi dụng mối quan hệ thân thuộc của mình với người bị cưỡng ép tác động lên chính mình Ví dụ: Cha, mẹ đe dọa nếu con không kết hôn với người mà cha mẹ đã định thì cha, mẹ sẽ tự tử Hậu quả của hành vi cưỡng ép kết hôn là nam, nữ không muốn kết hôn nhưng buộc phải đồng ý kết hôn
Ngoài ra còn một số trường hợp mà vì những lý do nhất định, người nam, nữ đã đồng ý kết hôn trái với ý chí thực của họ Đó là trường hợp kết hôn
do có sự thuyết phục hoặc do tình cảm kính yêu cha mẹ Đối với các trường hợp này, việc kết hôn của họ có được coi là thiếu sự tự nguyện của các bên hay không?
Có quan điểm cho rằng, nếu một người mà lúc trước không mong muốn kết hôn với một người nào đó nhưng sau đó được thuyết phục nên đã đồng ý kết hôn thì cũng coi là bị cưỡng ép kết hôn Theo chúng tôi, một người được thuyết phục mà đồng ý kết hôn thì không coi là thiếu sự tự nguyện khi kết hôn, bởi lẽ trong quá trình người đó được thuyết phục họ cũng đã có thời gian để tự suy xét việc kết hôn của họ, nếu họ thấy rằng nên tiến hành kết hôn thì rõ ràng
đã do chính họ quyết định Hơn nữa, trong việc thuyết phục một người không
có nghĩa là họ đã bị cưỡng ép kết hôn nên không thể coi việc kết hôn của họ là trái pháp luật Đối với những trường hợp một người vì lòng kính yêu cha mẹ nên đã nghe lời khuyên và sự sắp đặt của cha mẹ trong việc kết hôn mà không
Trang 36xuất phát từ mục đích vụ lợi của cha mẹ thì cũng không thể coi là có sự cưỡng
ép kết hôn
- Hành vi lừa dối kết hôn
Trong Luật HN&GĐ năm 2014 không đưa ra giải thích thế nào là lừa
dối kết hôn Theo chúng tôi lừa dối kết hôn là trường hợp “Một người dùng lời nói hay thủ đoạn khác làm cho người nam hoặc người nữ bị lầm tưởng nên
đã đồng ý kết hôn” Trong trường hợp này, ý chí và biểu hiện ý chí của người
kết hôn vẫn thống nhất nhau nhưng là sự thống nhất giả tạo Người kết hôn đã
có sai lầm trong nhận thức về người mình sẽ kết hôn và tính chất của việc kết hôn do bị tác động bởi hành vi lừa dối, dẫn đến có suy nghĩ sai về việc kết hôn của mình Hậu quả của hành vi lừa dối là đặt người nam hoặc người nữ hoặc
cả hai bên vào tình trạng lầm tưởng nên mới mong muốn và đồng ý kết hôn Như vậy, chủ thể thực hiện hành vi lừa dối phải là một trong hai bên kết hôn
Cụ thể là người nam lừa dối người nữ để người nữ đồng ý kết hôn với người nam hoặc ngược lại
Trên thực tế hành vi lừa dối có những biểu hiện rất đa dạng nhưng không phải tất cả các trường hợp việc lừa dối đều làm mất đi sự tự nguyện trong việc kết hôn Phần đông các nhà khoa học đều cho rằng: Chỉ có những hành vi lừa dối có tính chất nghiêm trọng mới bị coi là đã làm cho việc kết hôn mất đi yếu tố tự nguyện Bàn về sự tự nguyện trong việc kết hôn, tác giả
Ngô Thị Hường có viết: “Đối với những trường hợp cũng có sự lừa dối nhưng
là nói sai về tuổi tác, về nghề nghiệp, về gia đình…thì chỉ coi là sự nhầm lẫn…Nếu vì sự nhầm lẫn đó mà dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng thì theo yêu cầu của họ, Tòa án chỉ có thể xử theo thủ tục ly hôn chứ không thể xử hủy hôn nhân trái pháp luật” [15] Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có
những tiêu chí chính thức đế phân biệt hành vi lừa dối có tính chất nghiêm trọng Trong thực tiễn, nhiều trường hợp việc chứng minh rằng đã xác lập quan hệ hôn nhân có dấu hiệu vi phạm sự tự nguyện do lừa dối là một vấn đề không hề đơn giản Bởi lẽ, chỉ hai bên kết hôn mới hiểu chính xác được họ có
bị lừa dối hay không Do đó, bên bị lừa dối trên thực tế mà muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân thường xin ly hôn hơn là xin hủy kết hôn trái pháp luật Thiết nghĩ, kết hôn là một quyền nhân thân của con người, tuy rằng nó có liên quan đến một số quyền tài sản nhưng bản chất vẫn là được xây dựng trên nền tảng quan hệ nhân thân mà có Do đó, khi xác định việc kết hôn có sự lừa dối hay không lừa dối cần phải dựa trên các quan hệ nhân thân liên quan đến con
Trang 37người mà đánh giá, không thể mang giá trị vật chất làm thước đo giá trị hôn nhân
Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, pháp luật không thừa nhận quyền đại diện trong kết hôn, trong lễ đăng ký kết hôn bắt buộc cả hai bên có mặt tại cơ quan đăng ký Thông thường lễ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau tại Việt Nam được tiến hành tại UBND cấp xã
2.1.3 Kết hôn khi một hoặc cả hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự
Tại điểm c, Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định:
“Không bị mất năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện kết hôn
mà các bên nam, nữ phải tuân theo Do đó, trường hợp một hoặc cả hai bên nam, nữ bị mất NLHVDS kết hôn sẽ bị coi là kết hôn trái pháp luật
Theo quy định tại Điều 22 BLDS năm 2005 thì mất NLHVDS được
hiểu là: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định Khi không còn căn cứ tuyên
bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người
đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự” Như vậy, căn cứ để xác
định một người bị mất NLHVDS là khi có quyết định của Tòa án tuyên người
đó mất NLHVDS theo quy định của BLDS Do đó, trường hợp một người tuy mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác khác dẫn tới không nhận thức, điều khiển được hành vi nhưng do không (hoặc chưa) có quyết định của Tòa án thì vẫn được xác định là có NLHVDS và không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn
Khi kết hôn nam, nữ phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định giữa vợ và chồng; giữa cha mẹ và con Tuy nhiên, những người bị mất NLHVDS không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nên cũng không thể nhận thức được trách nhiệm của mình khi kết hôn, điều này sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của vợ, chồng cũng như các con của họ Mặt khác, những người mất NLHVDS không thể thể hiện ý chí của mình một cách đúng đắn, do đó không thể đánh giá được sự tự nguyện của họ khi kết hôn Bên cạnh đó, bệnh tâm thần là một trong những loại bệnh có khả năng di truyền, để đảm bảo cho con cái được sinh ra khỏe mạnh, đảm bảo chất lượng nòi giống
thì việc quy định “không mất năng lực hành vi dân sự” là điều kiện kết hôn là
vô cùng cần thiết
Trang 38Trên thực tế, không phải lúc nào người mắc bệnh tâm thần, hoặc các
bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình cũng
bị Tòa án tuyên bố mất NLHVDS Nhiều vụ việc Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm điểm c, khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 nhưng bản thân đương
sự, gia đình đương sự đã phản đối và UBND nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũng đã không đồng tình với quyết định của Tòa án vì cho rằng, việc đăng ký kết hôn trong trường hợp này là đúng luật Như vậy, vấn đề là ở chỗ nếu không có quyết định của Tòa án tuyên một người mất NLHVDS thì làm sao biết người đó mất NLHVDS hay không? Bởi lẽ, NLHVDS không phải là cái có thể dễ dàng nhìn thấy bên ngoài Thực tế cũng cho thấy không có trường nào hợp cha, mẹ của người bị bệnh tâm thần lại yêu cầu Tòa án tuyên
bố con mình bị mất NLHVDS để không được quyền kết hôn Do đó, có thể thấy đây chính là điểm bất cập của quy định hiện hành
Thay vì quy định người mất NLHVDS không được kết hôn như quy định của Luật hiện hành, một số ý kiến cho rằng nên quy định định trong luật
cụ thể hơn là cấm kết hôn đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức được hành vi của mình Bởi lẽ, những người này cho rằng trong khi quy định cấm như luật hiện hành đang thiếu tính khả thi thì ngược lại, quy định nói trên sẽ dễ dàng thực hiện hơn Cán bộ hộ tịch chỉ cần căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài nếu thấy có nghi ngờ người kết hôn là không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi, sẽ yêu cầu người kết hôn phải xuất trình giấy chứng nhận sức khỏe
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, nếu quy định cán bộ hộ tịch chỉ căn cứ vào biểu hiện bên ngoài của người đến đăng ký kết hôn thì rất có thể làm khó cho cán bộ hộ tịch bởi lẽ thời gian đến đăng ký kết hôn là rất ngắn, trong khi các biểu hiện về tâm thần thì không dễ phát hiện Ngược lại, cán bộ
hộ tịch có thể dùng chính quy định này để "khó dễ" cho người dân, trong khi
luật lại chưa có cơ chế buộc xuất trình giấy khám sức khỏe trước khi kết hôn
Bên cạnh đó cũng có ý kiến đề nghị để khắc phục bất cập nêu trên, Luật cần quy định việc kiểm tra sức khỏe và có giấy chứng nhận sức khỏe của cơ quan y tế có thẩm quyền trước khi kết hôn là điều kiện bắt buộc khi đăng ký kết hôn
Tuy nhiên, Bộ Tư pháp cho rằng "Việc đòi hỏi giấy chứng nhận sức khỏe sẽ gây phiền hà, tốn kém cho người dân khi họ đi đăng ký kết hôn, nhất
là ở những vùg sâu, vùng xa mà việc đi lại đến cơ sở y tế có thẩm quyền rất
Trang 39khó khăn.Trong xu hướng cải cách thủ tục hành chính hiện nay, chúng ta lại càng không thể đặt ra yêu cầu về giấy chứng nhận sức khỏe" Vì thế, việc giao
"trọng trách" nhận diện người tâm thần cho cán bộ tư pháp, chính quyền địa
phương là hết sức nặng nề và phải có những quy định chặt chẽ mới có thể thực hiện được [1]
Xuất phát từ thực tiễn này chúng tôi nhận thấy nếu tiếp tục quy định không cho người mất NLHVDS kết hôn thì cần quy định rõ và chi tiết hơn đối với trường hợp có dấu hiệu bị mất NLHVDS, chính quyền địa phương cũng cần phải có trách nhiệm kiểm tra, xem xét trước khi cho đăng ký kết hôn Do
đó, Luật HN&GĐ năm 2014 cần quy định ngoài Tòa án có thẩm quyền tuyên
bố một người bị mất NLHVDS, một số cơ quan khác ở địa phương biết rõ tình trạng của người kết hôn để công nhận hoặc căn cứ vào bệnh án, tình hình thực
tế để quyết định một người bị mất NLHVDS hay không
Như vậy, có thể thấy quy định cấm người mất NLHVDS kết hôn là một quy định hết sức cần thiết, phù hợp với quy luật tự nhiên của quan hệ hôn nhân đồng thời góp phần đảm bảo hạnh phúc thực sự của gia đình
2.1.4 Kết hôn do vi phạm điều cấm
2.1.4.1 Kết hôn giả tạo
Theo quy định tại Khoản 11, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình” Bên cạnh đó Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy định không
thuộc trường hợp kết hôn giả tạo là một điều kiện kết hôn đòi hỏi các bên khi kết hôn phải tuân thủ Do đó, trường hợp kết hôn do giả tạo sẽ bị coi là kết hôn trái pháp luật
Để xác định việc kết hôn trái pháp luật do kết hôn giả tạo cần phải căn
cứ vào mục đích của việc kết hôn Theo đó, nếu các bên kết hôn với nhau để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình thì đều
bị coi là kết hôn trái pháp luật Như vậy, về bản chất trong trường hợp kết hôn giả tạo nam nữ hoàn toàn tự nguyện kết hôn với nhau mà không có sự cưỡng
ép hay lừa dối
Ví dụ: Vào năm 2003 bà Bùi Thu Thảo muốn đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan, nhưng do tuổi của bà lớn nên không làm thủ tục xuất khẩu lao động được, bà đã được người quen ở thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu làm thủ tục kết hôn giả với ông Lin Kai Ming Khi hai bên gặp nhau thì bà có thỏa