1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và sự tương thích của pháp luật Việt Nam

90 203 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 627,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮTCông ước Berne Berne Conventionfor the Protection of Literary and Artistic Works Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học – nghệ thuật Công ước bảo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ QUANG PHÚC

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM VÀ SỰ TƯƠNG THÍCH

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Quốc Tế

Mã số: 60380108

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Thái Mai

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Nguyễn Thái Mai Luận văn có tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác, có dẫn nguồn cụ thể Các số liệu trích dẫn trong Luận văn hoàn toàn chính xác, trung thực và có chỉ rõ nguồn

Luận văn là công trình do tôi tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp và hoàn thiện, không sao chép Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác

Người cam đoan

Vũ Quang Phúc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thái Mai – Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này Cảm ơn các thầy, các cô khoa Pháp luật Quốc tế, khoa Sau Đại học đã cung cấp nhiều kiến thức chuyên ngành và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó, tôi cũng rất cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của chị Đặng Quỳnh Hoa – Trưởng phòng Thanh tra văn hóa, Thanh tra Bộ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; anh Quản Tuấn An – Trưởng phòng quản lý quyền tác giả, quyền liên quan, Cục Quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cung cấp cho tôi những thông tin, tài liệu, các số liệu tổng hợp, các vụ việc cụ thể về

vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và vi phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm, động viên tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Công ước

Berne

Berne Conventionfor the Protection of Literary and Artistic Works

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học – nghệ thuật

Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức

Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ

(Geneva 1971)

Hiệp định

TRIPs

Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights

Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền

sở hữu trí tuệHiệp ước

WPPT

WIPO Performances and Phonograms Treaty, 1996

Hiệp ước của WIPO về biểu diễn

và sản xuất bản ghi âm (1996)

RIAV Recording Industry Association

of Vietnam

Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt

Nam

TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định đối tác thương mại

xuyên Thái Bình Dương

WIPO Wolrd Intellectal Property

Organization Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM VÀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.1 Quyền liên quan và đặc điểm của quyền liên quan 5

1.1.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 9

1.1.2.1 “Ghi âm” 9

1.1.2.2 Nhà sản xuất bản ghi âm 10

1.2 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 11

1.2.1 Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 11

1.2.2 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm với tác giả và các chủ thể quyền liên quan khác 14

1.3 Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 15

1.3.1 Điều ước quốc tế đa phương 15

1.3.2 Điều ước quốc tế song phương 20

1.4 Pháp luật quốc gia 22

Tiểu Kết Chương 1 25

CHƯƠNG 2 26

BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM THEO QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG TIÊU BIỂU 26

2.1 Nguyên tắc bảo hộ 26

2.1.1 Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment) 26

2.1.2 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most Favored Nations) 28

2.1.3 Một số nguyên tắc khác 29

Trang 6

2.2 Tiêu chuẩn bảo hộ, căn cứ xác lập và thời hạn bảo hộ 31

2.2.1 Tiêu chuẩn bảo hộ 31

2.2.2 Căn cứ xác lập quyền 33

2.2.3 Thời hạn bảo hộ 34

2.3 Quyền và nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm 35

2.3.1 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 35

2.3.2 Nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm 40

2.4 Hành vi xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 41

2.5 Thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 43

2.5.1 Biện pháp dân sự, hành chính 43

2.5.2 Biện pháp tạm thời 46

2.5.3 Biện pháp hình sự 48

2.5.4 Biện pháp kiểm soát biên giới 48

Tiểu Kết Chương 2 52

CHƯƠNG 3 53

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM TẠI VIỆT NAM 53

3.1 Thực trạng pháp luật 53

3.1.1 Khái quát quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 53

3.1.2 Đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm đối với điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam là thành viên 56

3.2 Thực tiễn bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 61

3.2.1 Những thành tựu đạt được 61

3.2.2 Các tồn tại 64

3.3 Thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 66

Trang 7

3.3.1 Thuận lợi 66

3.3.2 Khó khăn 68

3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam 72

3.4.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 72

3.4.2 Tăng cường bộ máy thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 74

3.4.3 Nâng cao chất lượng của mạng lưới thông tin Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật 75

3.4.4 Xúc tiến thành lập và nâng cao năng lực của các tổ chức bảo hộ tập thể 76

3.4.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 76

Tiểu Kết Chương 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, vấn đề bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam đã bắt đầu được quan tâm và đạt được những thành tựu, tiến bộ nhất định, đem lại nhiều quyền lợi cho tác giả Tác giả ngày nay đã được công chúng biết đến nhiều hơn và thu được nhiều lợi ích về tinh thần cũng như vật chất từ các tác phẩm của họ, từ đó tạo ra động lực để các tác giả tiếp tục hoạt động sáng tạo ra các tác phẩm chất lượng, phục vụ công chúng Tuy nhiên, bên cạnh những tác phẩm mà công chúng có thể tự tiếp nhận, hưởng thụ, có một bộ phận tác phẩm chỉ có thể được truyền tải đến công chúng thông qua một đội ngũ trung gian, đó là những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát thanh, truyền hình Quyền của nhóm chủ thể này hiện nay đang bị xâm phạm nghiêm trọng đặc biệt là quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một trong các đối tượng bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ Quyền này rất dễ bị xâm phạm khi các nhà sản xuất bản ghi âm công bố, phát hành sản phẩm của mình ra công chúng Bản ghi âm có thể sao chép, sử dụng vào mục đích thương mại mà không xin phép v.v…Việc thực thi bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, việc nghiên cứu có hiệu quả quy định pháp luật về việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là cần thiết để những nhà sản xuất bản ghi âm, những người thực thi pháp luật hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình

Mặt khác, nếu những quy định của pháp luật chặt chẽ, bảo vệ tốt quyền lợi của nhà sản xuất bản ghi âm thì họ sẽ yên tâm sáng tạo, đầu tư trí tuệ, công sức cũng như tiền bạc để tạo ra những sản phẩm phục vụ công chúng, mang lại giá trị tinh thần to lớn Điều này cũng góp phần vào công cuộc xây dựng một nền kinh tế trí thức, đậm đà bản sắc dân tộc và “thực hiện chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ” theo văn kiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X

Ngoài quy định của pháp luật quốc gia, hội nhập quốc tế và khu vực cũng đòi hỏi chúng ta nghiên cứu kỹ lưỡng về các vấn đề sở hữu trí tuệ nói chung

Trang 9

cũng như vấn đề bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng dựa trên các ĐƯQT song phương, đa phương đặc biệt là các ĐƯQT mà Việt Nam đã là thành viên Những nguyên tắc chung cơ bản trong luật quốc tế phải được luật pháp các quốc gia tuân thủ và có quy định chi tiết hơn với những hướng dẫn cụ thể để thực thi việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Mặt khác, chúng

ta cũng cần đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam so với những ĐƯQT để đưa ra những biện pháp, những hướng phù hợp cải thiện pháp luật cho ngày một đầy đủ và chặt chẽ hơn Chính vì những lý do đó, tôi đã chọn

nghiên cứu đề tài “Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và sự tương thích của pháp luật Việt Nam”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một lĩnh vực của quyền liên quan Khác với quyền tác giả là đối tượng của rất nhiều công trình nghiên cứu, quyền liên quan và cụ thể là quyền của nhà sản xuất bản ghi âm hiện không có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh

vực này là: Luận văn thạc sĩ luật học Quyền tác giả đối với loại hình tác phẩm nghe nhìn theo Pháp luật Việt Nam và Cộng Hoà Pháp của tác giả Trần Lan Hương; Luận văn thạc sĩ Bảo hộ quyền liên quan theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam của Trịnh Văn Tú; Khóa luận tốt nghiệp Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình – pháp luật, thực trạng và giải pháp của tác giả Vũ Thị Thơm; Một số quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số

9/2006, NXB Viện Nhà nước và Pháp luật Các công trình này thường phân tích các quy định luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hoặc chỉ so sánh quy định về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm của Việt Nam với một nước cụ thể khác

Để có một góc nhìn tổng thể, đánh giá khái quát vấn đề bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Tác giả sẽ phân tích các Điều ước quốc tế tiêu biểu về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm cũng như so sánh luật quyền tác giả của một số nước với luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam để làm nổi bật rõ sự tương thích của pháp luật Việt Nam trong bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Trang 10

đồng thời chỉ rõ những thuận lợi và khó khăn và giải pháp bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam.

3 Mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là nhằm làm nổi bật tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trước thực trạng vi phạm quyền nghiêm trọng đang diễn ra, đồng thời chỉ ra được sự thiếu sót, hạn chế của pháp luật về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam

b Phạm vi nghiên cứu

Đây là một đề tài không chỉ nghiên cứu lý luận mà đòi hỏi phải có các nghiên cứu đánh giá thực tiễn để từ đó khái quát thành lý luận Lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ rất rộng, vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của luận văn không thể đi sâu tìm hiểu được hết các khía cạnh mà chỉ tập trung giải quyết triệt để các vấn đề về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Bảo hộ được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả việc xác lập quyền và thực thi quyền Luận văn chú ý đi sâu vào việc so sánh các quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Công ước Rome 1961, Công ước Geneva 1971, Hiệp định TRIPs, Hiệp ước WPPT với các quy định trong pháp luật Việt Nam về vấn

đề bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Bên cạnh đó, tác giả sẽ phân tích thực trạng bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam, chỉ ra những khó khăn, hạn chế và đề xuất phương hướng cải cách pháp luật

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ trong đó có vấn đề bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành được sử dụng bao gồm phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, tổng hợp, đặc biệt là phương pháp

so sánh đã được sử dụng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Trang 11

5 Những điểm mới của đề tài

“Pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và sự tương thích của pháp luật Việt Nam” là đề tài có nhiều điểm mới và khác biệt

với các đề tài đã được nghiên cứu trước đây Ngoài việc phân tích quy định của các điều ước quốc tế đa phương tiêu biểu, đề tài sẽ đi sâu vào tìm hiểu sự tương thích của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Mặt khác, luận văn sẽ phân tích pháp luật một số quốc gia có nền bảo hộ sở hữu trí tuệ phát triển bậc nhất trên thế giới như Mỹ, Nhật, Thụy Điển về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm để so sánh với pháp luật Việt Nam Ngoài ra, luận văn cũng cập nhật những số liệu thống kê chi tiết và tương đối đầy đủ về tình hình vi phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và bảo hộ quyền

của nhà sản xuất bản ghi âm

Chương 2: Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm theo quy định của

một số điều ước quốc tế đa phương tiêu biểu

Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của nhà

sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM VÀ BẢO

HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Quyền liên quan và đặc điểm của quyền liên quan

1.1.1.1 Quyền liên quan

Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) còn được gọi là quyền kề cận, là một quyền liên quan mật thiết đến quyền tác giả Tác giả sáng tạo ra tác phẩm và tác giả là người độc quyền công bố, sử dụng, khai thác tác phẩm cũng như trình diễn tác phẩm nhưng để tác phẩm đến gần hơn với công chúng, được công chúng biết đến nhiều hơn, yêu thích hơn thì không thể không kể đến những đóng góp rất lớn từ phía những chủ thể trung gian có năng lực chuyên nghiệp khác trợ giúp Đó chính là những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, các tổ chức phát sóng

Một ví dụ điển hình trong thời gian qua là bài hát Chiếc khăn Piêu của

nhạc sĩ Doãn Nho đã đạt giải bài hát của năm 2012 mang về giải thưởng trị giá 1,3 tỉ đồng1 Nhạc phẩm mang đậm âm hưởng của miền núi phía bắc này trước đây đã được nhiều ca sĩ tên tuổi thể hiện nhưng không thu hút được sự chú ý, chỉ đến khi ca sĩ Tùng Dương thể hiện ca khúc với bản hòa âm, phối khí mới của nhà sản xuất âm nhạc Nguyên Lê thì mới được dư luận đặc biệt quan tâm và yêu thích Có thể nói rằng thành công của tác phẩm được xây dựng từ rất nhiều yếu

tố và một cách công bằng thì những tổ chức, cá nhân như người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, nhà tổ chức phát sóng xứng đáng được hưởng những quyền lợi liên quan đến tác phẩm mà họ đã đổ mồ hôi, công sức thực hiện

Chưa có một định nghĩa đầy đủ nào về quyền liên quan trong các Công ước quốc tế về quyền tác giả,và quyền liên quan (ví dụ, Công ước Berne 1886 - Công ước đa phương đầu tiên về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật; Công

1 2409973.html

Trang 13

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/nhac/lang-nhac/tung-duong-khoc-khi-chiec-khan-pieu-doat-bai-hat-cua-nam-ước Rome 1961 (Công http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/nhac/lang-nhac/tung-duong-khoc-khi-chiec-khan-pieu-doat-bai-hat-cua-nam-ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng) Nội dung chủ yếu của các ĐƯQT này là quy định về quy mô bảo hộ quốc tế đối với quyền tác giả, quyền liên quan nói chung cùng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng

Đối với luật quyền tác giả của các quốc gia có nền tảng pháp luật tiên tiến trên thế giới, quyền liên quan cũng chưa có một định nghĩa chính thức mà chủ yếu pháp luật của các nước sẽ liệt kê các quyền thuộc về quyền liên quan Ví dụ:Theo Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học nghệ thuật Thụy Điển2, tại Chương 5: Quyền liên quan đến quyền tác giả gồm các điều luật từ Điều 45 đến

Điều 49 đã liệt kê các chủ thể của quyền liên quan cùng các quyền của họ (bao

gồm quyền của các nghệ sĩ biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; tổ chức phát thanh và truyền hình; nhà sản xuất Catalouge; người chụp ảnh)

Luật Quyền tác giả Nhật Bản3, trong Phần 4: Quyền liên quan đến quyền tác giả đã dành 5 trên tổng số 8 Chương, với 12 Điều (từ Điều 89 đến Điều 100)

để nói về chủ thể và quyền của các chủ thể của quyền liên quan Điều 89 nói về quy định chung, từ Điều 90 trở đi cũng liệt kê các chủ thể của quyền liên quan như là người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm, người phát sóng, người truyền đạt hữu tuyến cùng các quyền của họ

Giống như các quốc gia khác, Luật SHTT Việt Nam cũng không định nghĩa trực tiếp về quyền liên quan mà chỉ đưa ra khái niệm mang tính liệt kê quy

định tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2009 (Luật SHTT)

“Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”.

Như vậy, quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các sản phẩm do lao động sáng tạo của họ tạo ra trong việc chuyển tải tác phẩm thuộc quyền tác giả đến công chúng Các quyền liên quan được bảo hộ gồm: Quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn, quyền của tổ chức, cá nhân là chủ sở

2 Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật Thuỵ Điển (Luật số 729 ngày 30/12/1960, sửa đổi, bổ

sung ngày 1/4/2000)

3 Phần 4, Luật Quyền tác giả Nhật Bản (sửa đổi bổ sung tháng 12/2013)

Trang 14

hữu cuộc biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đối với bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng của họ.

Các quyền của những chủ thể này gọi là quyền liên quan (hay quyền kề cận), bởi lẽ các quyền đó nảy sinh và có liên quan trực tiếp đến quyền tác giả Việc thực hiện các quyền này thường gắn với việc thực hiện bản quyền cũng do luật bản quyền điều chỉnh Cho nên, bên cạnh quy định sự bảo hộ tác giả, người

sở hữu quyền tác giả, luật pháp còn quy định việc bảo vệ quyền lợi cho những người hỗ trợ khác, những người giúp phổ biến các tác phẩm Việc bảo hộ tốt quyền lợi của họ tức là đã gián tiếp bảo hộ quyền của tác giả

Qua những phân tích ở trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về quyền liên

quan như sau: “Quyền liên quan là tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận

bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản của người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, nhà tổ chức phát sóng đối với các sản phẩm do lao động sáng tạo của họ tạo ra trong việc chuyển tải tác phẩm thuộc quyền tác giả đến công chúng”.

1.1.1.2 Đặc điểm của quyền liên quan

Tên gọi quyền liên quan đến quyền tác giả đã phẩn nào cho thấy rằng, quyền liên quan và quyền tác giả có sự gần gũi nhất định, thể hiện ở một số đặc điểm chung phân biệt chúng với nhóm quyền sở hữu công nghiệp Đó là tính chất sáng tạo, tính nguyên gốc của đối tượng được bảo hộ, tính tự động của cơ chế xác lập sự bảo hộ… Tuy nhiên, là một lĩnh vực cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ, quyền liên quan có các đặc trưng riêng của nó như sau:

 Thứ nhất, hoạt động của các chủ thể quyền liên quan chính là những

hành vi sử dụng tác phẩm đã có: Đúng như tên gọi của nó, quyền liên quan có

mối liên hệ mật thiết với quyền tác giả mà biểu hiện dễ nhận thấy nhất là việc tác phẩm đã được tác giả sáng tạo chính là cơ sở để các chủ thể quyền liên tiến hành các hoạt động nghề nghiệp của mình mà từ đó phát sinh các quyền này Hoạt động sử dụng những tác phẩm đã có của các chủ thể quyền liên quan là một dạng hoạt động sử dụng đặc thù, không thể tìm thấy ở các chủ thể khác

Trang 15

cũng sử dụng tác phẩm Tính đặc thù thể hiện ở mục đích, tính chất, kết quả…của hành vi sử dụng

 Thứ hai, đối tượng quyền liên quan được bảo hộ khi có tính nguyên gốc

Tính chất này của đối tượng quyền liên quan được xem xét trên hai phương diện chủ yếu, đó là: xác định dựa trên cơ sở lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của chủ thể và xác định theo các đối tượng của quyền liên quan được tạo ra lần đầu tiên Tính nguyên gốc của quyền liên quan cho phép xác định đâu là quyền liên quan được pháp luật bảo hộ, và khi nào xảy ra sự xâm phạm quyền liên quan Khi tính nguyên gốc được thỏa mãn, ta có thể xác định được đối tượng được bảo

hộ bởi quyền liên quan, chủ thể của quyền liên quan và ngược lại, việc không đảm bảo tính nguyên gốc đó là căn cứ để nhận định đã có hành vi xâm phạm đến quyền liên quan

 Thứ ba, quyền liên quan chỉ được bảo hộ trong thời hạn nhất định, kể cả

các quyền nhân thân: Đối với quyền liên quan, sự bảo hộ trên phạm vi quốc tế

cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ hầu hết các quốc gia đều giới hạn thời gian bảo hộ ở mức độ nhất định, thường là 50 năm kể từ khi các đối tượng (cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng) được định hình hoặc công bố.Thời hạn bảo hộ này được xác định ngay cả đối với quyền nhân thân của người biểu diễn – khác với quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn

 Thứ tư, quyền liên quan được bảo hộ trên nguyên tắc không làm phương

hại đến quyền tác giả: Hình thành sau khi quyền tác giả đã được bảo hộ một

cách phổ biến và rộng rãi, lại mang bản chất gắn bó mật thiết với quyền tác giả,

do vậy việc bảo hộ quyền liên quan bao giờ cũng được xem xét trong mối quan

hệ với quyền tác giả và thể hiện nguyên tắc không gây bất kỳ sự phương hại nào

có thể đối với quyền này (theo Điều 1, Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản

ghi âm).

Từ tìm hiểu các đặc điểm ở trên có thể thấy, quyền liên quan được hình thành dựa trên việc sử dụng tác phẩm gốc Các chủ thể của quyền liên quan có thể gọi là những người sử dụng tác phẩm một cách đặc biệt, mỗi chủ thể này có thể

sử dụng một cách khác nhau tuy nhiên họ phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền

Trang 16

nhân thân và quyền tài sản của tác giả Vì vốn dĩ các quyền nhân thân và quyền

tài sản mà họ có được sau đó đều bắt nguồn từ tác phẩm – tài sản gốc của tác giả

Việc công nhận và bảo hộ quyền liên quan không được làm ảnh hưởng đến quyền tác giả đối với tác phẩm Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đi sâu vào nghiên cứu quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, một quyền liên quan của quyền tác giả

1.1.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

1.1.2.1 “Ghi âm”

Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam “Ghi âm là ghi lại tín hiệu âm thanh

trên các vật liệu chuyên dùng để phát lại Kỹ thuật ghi âm bắt đầu từ phương pháp cơ khí (đĩa có rãnh) đến các vật liệu từ tính và hiện nay đã số hoá cả trên

bộ nhớ máy vi tính”4

Theo Luật Quyền tác giả Mỹ “Bản ghi âm là các tác phẩm có được nhờ

việc ghi âm một loạt các âm thanh âm nhạc, lời hát, và các âm thanh khác nhưng không bao gồm các âm thanh được ghi kèm theo các tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác không phân biệt bản chất của vật liệu như là đĩa, băng hoặc các dạng bản ghi khác mà trên đó chúng được thể hiện” 5

Theo Luật Quyền tác giả Nhật Bản “Bản ghi âm là vật thể trên đó âm

thanh được định hình như đĩa, băng thu âm, hoặc các dạng bản ghi khác (không bao gồm các âm thanh được ghi kèm theo các tác phẩm có mục đích sử dụng chủ yếu là hình ảnh)” 6

Công ước Geneva đã quy định: “Bản ghi âm là bất kỳ bản định hình 7 các

âm thanh biểu diễn hay các âm thanh khác 8 dành riêng cho cơ quan thính giác”.

Theo quy định của Điều 2.2 Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi

âm (WIPO Performances and Phonograms Treaty – WPPT), thì bản ghi âm chỉ

là bản định hình thuần tuý về âm thanh, không bao gồm âm thanh ghi trong bản

4 Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2002.

5 Điều 101 Chương 1 Luật Bản quyền Mỹ (12/2011)

6 Điều 2, Chương 1, Phần 1, Luật Quyền tác giả Nhật Bản (sửa đổi bổ sung tháng 12/2013)

7 Định hình là sự biểu hiện các âm thanh, hoặc sự tái hiện lại biểu hiện này, từ đó các âm thanh có thể được cảm nhận được sao chép hoặc được truyền qua một thiết bị nào đó (Điều 2.3 HƯ WPPT)

8 Âm thanh khác là các âm thanh không có xuất xứ từ các buổi biểu diễn nghệ thuật Ví dụ như các âm thanh của

tự nhiên như tiếng gió, tiếng nước chảy, tiếng chim hót…

Trang 17

định hình nghe nhìn Nói rõ hơn, bản ghi âm chỉ nhằm vào định âm một bản nhạc, có thể cùng với lời đã được tác giả phổ nhạc, mà không bao gồm việc ghi

âm những tác phẩm văn học và càng không bao gồm việc ghi hình (video) những tác phẩm điện ảnh hay truyền hình

Như vậy, bản ghi âm là các bản lưu giữ âm thanh, là biểu hiện sự tái hiện các âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác dưới dạng vật chất nhất định mà không bao gồm việc ghi âm những tác phẩm văn học cũng như không bao gồm việc ghi hình nhằm giúp con người có thể nhận biết được những âm thanh đó và có thể sao chép hoặc truyền đạt những âm thanh này

Đối với âm nhạc, bản ghi âm là phương tiện ưa dùng nhất để truyền đạt tác phẩm tới công chúng, có tác dụng phục vụ cho tác phẩm âm nhạc9 Bản ghi

âm được thực hiện thông qua hoạt động thu âm (phonorecords) là hoạt động cố định âm thanh ngoài phần nhạc đệm Thiết bị thu âm có thể là băng, đĩa CD, chíp máy tính có chứa âm thanh và những thiết bị tương tự

Các bản ghi âm có thể chỉ ghi riêng phần nhạc, riêng phần lời hoặc cả phần nhạc và phần lời Để được phép ghi âm, người muốn ghi âm phải được sự cho phép của cả chủ sở hữu quyền tác giả đối với một tác phẩm phần nhạc cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần lời bài hát Một số quốc gia còn quy định, người ghi âm cũng phải được phép của các nghệ sỹ trình bày phần nhạc và hát phần lời

1.1.2.2 Nhà sản xuất bản ghi âm

Theo Khoản 3 Điều 16 Luật SHTT của Việt Nam: “Tổ chức, cá nhân

định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau đây gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình)”

Theo Luật Quyền tác giả Nhật Bản: “Nhà sản xuất bản ghi âm 10 là người đầu tiên định hình âm thanh trên bản ghi âm”.

9 Tác phẩm âm nhạc (musical work) là một nhóm các tác phẩm có thể có bản quyền được diễn tả bằng hình thức

âm thanh Một bài hát của một nhà viết nhạc được bảo hộ bởi bản quyền tác phẩm âm nhạc nhưng việc thu thanh bài hát đó thì được bảo hộ bởi bản quyền thu thanh

10 Điều 2, Chương 1, Phần 1, Luật Quyền tác giả Nhật Bản (sửa đổi bổ sung tháng 12/2013)

Trang 18

Theo Công ước Geneva và Công ước Rome đều thống nhất định nghĩa:

"Nhà sản xuất bản ghi âm"11 là một cá nhân hoặc pháp nhân đầu tiên định hình

âm thanh của buổi biểu diễn hoặc của các âm thanh khác

Qua các khái niệm trên, có thể thấy quy định của pháp luật Việt Nam có

sự khác biệt với quy định của Luật Quyền tác giả Nhật Bản và các Công ước quốc tế Trong khi cả Luật Quyền tác giả Nhật Bản và các Công ước quốc tế đều đưa ra những định nghĩa riêng về nhà sản xuất bản ghi âm thì Luật SHTT Việt Nam đã gộp hai khái niệm nhà sản xuất bản ghi âm và nhà sản xuất bản ghi hình

để đưa ra chung một điều luật do sự tương đồng về tính chất giữa hai chủ thể này Khái niệm "nhà sản xuất bản ghi hình" không xuất hiện trong Luật Quyền tác giả của Nhật Bản, Mỹ hay CƯ Rome, CƯ Geneva Một căn cứ để Luật SHTT quy định như vậy có thể do tại Việt Nam – quốc gia đang phát triển trong lĩnh vực giải trí, nhà sản xuất bản ghi âm, cũng thường là nhà sản xuất bản ghi hình như các nhà sản xuất: Hồ Gươm audio, Bến Thành audio, Phương Nam Film,… Tuy nhiên hiện nay lĩnh vực ghi âm, ghi hình rất phát triển và phát sinh thêm nhiều dạng chủ thể mới như ca sĩ tự sản xuất bản ghi âm, phòng thu âm tư nhân,… vì vậy, chúng ta nên sửa đổi điều luật này thành hai khái niệm riêng biệt

để rõ ràng, dễ hiểu và dễ vận dụng

Như vậy, Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một lĩnh vực của quyền

liên quan, đó là quyền của cá nhân và tổ chức đối với bản ghi âm, định hình lần đầu tiên âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn, hoặc các âm thanh, hình ảnh khác dưới dạng vật chất nhất định.

1.2 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là những cách thức, biện pháp đựơc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo ra hành lang pháp

lý để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhà sản xuất bản ghi âm cũng như những chủ thể có liên quan, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào

1.2.1 Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

11 Khoản (c), Điều 3, CƯ Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (1961)

Trang 19

Vấn đề bảo hộ quyền đối với nhóm chủ thể của “quyền liên quan ngày càng trở nên khó khăn với sự phát triển chóng mặt của mạng internet và công nghệ số Có một thực tế là các hành vi xâm phạm quyền liên quan đến quyền tác giả diễn ra ngày càng phổ biến và đa dạng trong đời sống xã hội Ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam đang phát triển theo hướng tích cực, hiện đại nhưng

sự văn minh trong thụ hưởng những tác phẩm văn học nghệ thuật, trong việc tôn trọng quyền liên quan của quyền tác giả thì chưa theo kịp tốc độ phát triển ấy Việc sử dụng ngang nhiên, chiếm dụng trắng trợn các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ (theo Điều 17 Luật SHTT) khiến nhiều tác giả, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, các giọng ca mới gây tiếng vang, các đài truyền hình đã có tâm

lý e ngại và lo lắng khi bỏ tiền của và công sức để đầu tư vào một sản phẩm mới Sự mạo hiểm để tạo ra những sản phẩm chất lượng với số vốn bỏ ra nhiều trăm triệu, thậm chí là nhiều tỉ đồng có thể chẳng thu lại được gì vì ngay sau khi phát hành sản phẩm của họ đã bị sao chép, ăn cắp, có mặt ở khắp ngóc ngách trên internet Nghiêm trọng hơn cả, trong thời gian gần đây phải kể đến những vi phạm trong lĩnh vực băng đĩa nhạc, các bản ghi âm bài hát trên mạng internet liên quan tới quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Để tạo ra những bản ghi âm, người sản xuất phải đầu tư công sức để tổ chức việc ghi âm, phải bỏ ra một lượng tài chính không nhỏ để thực hiện công việc này Nhà sản xuất tuy không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nhưng lại có sự sáng tạo trong việc thể hiện tác phẩm Vì vậy, bảo hộ những nhà sản xuất chân chính, những người đã thực sự phải bỏ công sức, tiền bạc ra trước các đối thủ cạnh tranh, chống các hành vi xâm phạm thành quả của người khác bằng việc sao chép bất hợp pháp băng, đĩa ghi âm là thực sự cần thiết

Song song với sự phát triển không ngừng của công nghệ, cùng với việc ngày càng nhiều số lượng nhà sản xuất bản ghi âm cũng như các bản ghi âm với

số lượng khổng lồ trên toàn cầu thì cũng tồn tại cơ chế bảo hộ quyền của những nhà sản xuất bản ghi âm đó Đó là nhu cầu tất nhiên, bởi nếu không có cơ chế bảo hộ quyền cho họ thì những sản phẩm của họ sẽ dễ dàng bị xâm phạm đồng nghĩa với việc quyền của họ cũng bị xâm phạm

Trang 20

Vai trò của việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là rất lớn, có thể kể đến những vai trò chính như:

Thứ nhất, bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là việc trực tiếp tạo

ra các hành lang pháp lý ngăn chặn mọi sự xâm hại quyền lợi chính đáng của nhà sản xuất bản ghi âm, từ đó không những thực hiện được công tác ngăn ngừa

mà còn giúp lấy lại công bằng cho nhà sản xuất bản ghi âm khi phát hiện ra các hành vi xâm hại quyền của họ Nó là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ những thành quả sáng tạo của con người

Thứ hai, một cơ chế bảo hộ chặt chẽ sẽ là động lực thúc đẩy khả năng

sáng tạo, sản xuất của những nhà sản xuất bản ghi âm Họ sẽ an tâm đầu tư trí

óc, công sức và cả tiền bạc để tiến hành sản xuất ra những bản ghi âm có chất lượng, điều này gián tiếp mang lại lợi ích phi vật chất cho công chúng, những người được thưởng thức sản phẩm của các nhà sản xuất bản ghi âm Hay nói một cách khác, nó giúp các nhà sản xuất bản ghi âm có khả năng thu hồi một cách có hiệu quả những chi phí đã bỏ ra để đầu tư cho việc sáng tạo tác phẩm, giúp họ có thể tiếp tục tái đầu tư để tạo ra những tác phẩm mới có chất lượng hơn

Thứ ba, bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là việc gián tiếp bảo

vệ quyền tác giả Như đã giải thích ở trên, xem xét quyền tác giả nên trên một diện rộng, tức là xem xét cả quyền liên quan đến quyền tác giả, mà quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một loại quyền liên quan, việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tác động rất lớn đến việc bảo hộ quyền tác giả Trên thực tế, một hành vi xâm hại quyền của nhà sản xuất bản ghi âm thì nó cũng có thể xâm hại cả quyền tác giả, việc bảo hộ quyền cho nhà sản xuất bản ghi âm sẽ song song với việc bảo hộ quyền tác giả

Cuối cùng, bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng, cũng như

bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả nói chung là một xu thế đã đang và sẽ được tiến hành một cách chặt chẽ, cụ thể và đầy đủ Nó sẽ tác động đến ý thức của mỗi người khi sử dụng cũng như kinh doanh hay bất cứ hành vi nào liên

Trang 21

quan đến bản ghi âm Họ sẽ trân trọng hơn những sản phẩm của nhà sản xuất bản ghi âm, hạn chế tối đa những hành vi xâm phạm quyền.

Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm đóng vai trò rất quan trọng, song nó sẽ phát huy tác dụng nếu có một cơ chế thực thi tốt và ý thức pháp luật của mỗi cá nhân được nâng cao Nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế đặc biệt là các ngành công nghiệp giải trí, tạo nên sự cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu tài sản trí tuệ với nhu cầu của xã hội

1.2.2 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm với tác giả và các chủ thể quyền liên quan khác

Nhà sản xuất bản ghi âm có mối quan hệ chặt chẽ với tác giả và chủ thể của các quyền liên quan khác Nhà sản xuất bản ghi âm sử dụng tác phẩm của tác giả để tạo ra các bản ghi âm, băng, đĩa CD nhạc Tác phẩm mà nhà sản xuất bản ghi âm sử dụng có thể là các tác phẩm gốc, có thể là chương trình biểu diễn Nếu là chương trình biểu diễn thì bản ghi âm chỉ được tạo ra sau khi tác phẩm của tác giả được thể hiện bởi người biểu diễn và được nhà sản xuất bản ghi âm thu giữ lại Khi các vật phẩm băng, đĩa CD, bản ghi âm được tạo ra thì họ lại chính là tác giả của những tác phẩm mới Tiếp theo, bản ghi âm hoặc đĩa CD lại được sử dụng để phát sóng các chương trình Khi đó nhà sản xuất bản ghi âm lại trở thành người có tác phẩm được sử dụng chuyển hóa thành tín hiệu vệ tinh, chương trình được phát sóng, phổ biến

Trang 22

Nhà sản xuất bản ghi âm vừa là người sử dụng, vừa là tác giả Họ là trung gian, là cầu nối giữa tác giả và công chúng, giúp tác giả phổ biến tác phẩm, nhưng chính họ lại cần một tổ chức khác giúp truyền bá, phổ biến các tác phẩm của mình Như vậy, các chủ thể quyền liên quan và tác giả có mối quan hệ nhân quả, phải có tác phẩm mới có chương trình biểu diễn, có chương trình biểu diễn mới có bản ghi âm, ghi hình,… Các chủ thể này liên quan mật thiết với nhau, tương hỗ nhau Bảo hộ hiệu quả quyền lợi của chủ thể này tức là đã gián tiếp bảo hộ quyền của chủ thể khác.

1.3 Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

1.3.1 Điều ước quốc tế đa phương

Với thời đại toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau vì lợi ích của tất cả các bên và vì sự phát triển chung của toàn xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng hội nhập đó, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) Môi trường pháp lý chặt chẽ, bảo vệ tốt về quyền SHTT nói chung và quyền liên quan của quyền tác giả nói riêng sẽ là một điểm mạnh để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Muốn làm được như vậy, không thể chỉ tự mỗi quốc gia thực thi các điều luật trong nước mà còn cần sự chung tay, phối hợp trên phạm vi quốc tế Hiện nay Việt Nam đã tham gia một

Trang 23

số ĐƯQT về bảo hộ quyền SHTT, bên cạnh đó vẫn còn một số ĐƯQT chúng ta chưa trực tiếp tham gia Dưới đây là một số ĐƯQT quan trọng có liên quan đến bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, cụ thể như sau :

- Công ước Rome: Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi

âm và tổ chức phát sóng được kí kết ngày 26-10-1961 tại Rome, vì vậy còn được gọi là Công ước Rome Công ước để mở cho tất cả quốc gia thành viên của Công ước Berne hoặc Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC) Công ước Rome

được coi là “Công ước tiên phong” trong lĩnh vực bảo hộ quyền liên quan, bởi lẽ

nó xuất hiện vào thời điểm có rất ít quốc gia ban hành các nguyên tắc về bảo hộ những nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng, trong khi Công ước Berne – Công ước nền tảng về bảo vệ bản quyền lại chưa có những quy định cụ thể về các quyền này Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập Công ước Rome phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc Các nước tham gia có thể đưa ra bảo lưu về việc áp dụng một số quy định cụ thể tại Công ước Công ước gồm 34 điều với các quy định bảo đảm sự bảo hộ tại các quốc gia thành viên, đối với các cuộc biểu diễn của người biểu diễn, các bản ghi

âm của các nhà sản xuất bản ghi âm các các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng

Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của họ Theo Công ước Rome bản ghi âm là bất kì sự định hình các âm thanh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh khác dành riêng cho cơ quan thính giác Khi các bản ghi âm được công bố nhằm mục đích thương mại thì việc sử dụng (như là phát sóng hoặc truyền đạt tới công chúng bằng bất kì hình thức nào, tại nhà hàng, khách sạn, v.v…), phải trả thù lao tương xứng cho những người biểu diễn, hoặc cho những nhà sản xuất bản ghi âm

Thời hạn bảo hộ phải kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 20 năm, tính từ khi kết thúc năm bản ghi âm, cuộc biểu diễn được định hình (trường hợp cuộc biểu diễn không được định hình thì tính từ khi nó được tiến hành), chương trình phát sóng được thực hiện

Trang 24

Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là các tổ chức đồng quản lí Công ước Các tổ chức đồng quản lí chỉ định Ban thư

ký Một ủy ban liên Chính phủ được thành lập gồm đại diện của 12 quốc gia kí kết, có nhiệm vụ xem xét và giải quyết các vấn đề liên quan đến Công ước

Công ước Rome không quy định về việc tạo ra một Liên hiệp và tài

chính riêng Hiện tại có 92 quốc gia là thành viên của công ước này Công ước Rome có hiệu lực tại Việt Nam ngày 1-3-2007.

- Công ước Geneva: Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại

việc sao chép không được phép các bản ghi âm của họ, Công ước được làm tại Geneva ngày 29-10-1971, vì vậy còn được gọi là Công ước Geneva Công ước để

mở cho bất kì quốc gia thành viên nào của Liên hợp quốc, hoặc thành viên của bất

kì tổ chức nào thuộc hệ thống các tổ chức của Liên hợp quốc Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc gia nhập phải được gửi tới Tổng thư ký Liên hợp quốc Ngoài phần mở đầu, Công ước có 14 điều quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên,

về việc bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của các quốc gia thành viên khác, chống lại việc làm bản sao và việc nhập khẩu các bản sao nhằm mục đích phân phối công cộng, việc phân phối các bản sao tới công chúng không được

sự đồng ý của nhà sản xuất Thuật ngữ “Bản ghi âm” được hiểu theo nghĩa là bản định hình (ghi) dành riêng cho cơ quan thính giác, không phụ thuộc vào hình thức của chúng Việc bảo hộ có thể được quy định thành đối tượng điều chỉnh của Luật Quyền tác giả, quyền liên quan, Luật Cạnh tranh không lành mạnh và Luật Hình

sự Thời hạn bảo hộ kéo dài ít nhất 20 năm, kể từ khi định hình hoặc công bố lần đầu tiên bản ghi âm

Văn phòng quốc tế của WIPO được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng thư

ký của Công ước Công ước không có quy định việc lập Liên hiệp, cơ quan điều

hành và ngân sách Đến nay, Công ước có 78 quốc gia thành viên Công ước Geneva có hiệu lực tại Việt Nam ngày 6-7-2005.

- Hiệp định TRIPS ( Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights) là Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền sở

Trang 25

hữu trí tuệ là kết quả của việc kí kết các thỏa thuận theo Vòng đàm phán Uruguay, trong khuôn khổ Thỏa thuận chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) ngày 15-12-1993 TRIPs là một hiệp định đa phương, nằm trong hệ thống các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới

Hiệp định TRIPs ngoài phần mở đầu gồm 7 phần với 73 điều, là một hiệp định tổng thể nhất về sở hữu trí tuệ, bao hàm các chế độ đặc biệt về sở hữu trí tuệ bao gồm cả quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Một phần nội dung của Hiệp định TRIPs dựa vào các quy định thực chất của các công ước do WIPO quản lí, chủ yếu là Công ước Berne, Công ước Paris, Công ước Rome và Hiệp ước Washington về thiết kế bố trí mạng tích hợp Ngoài ra hiệp định TRIPs đã

bổ sung một số lượng lớn các nghĩa vụ chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ trong các Công ước, Hiệp ước trước đây về SHTT Sự khác biệt của Hiệp định TRIPs so với các ĐƯQT khác (Công ước Berne, Công ước Rome,…) là Hiệp định TRIPs chỉ quy định về “khía cạnh thương mại” của quyền SHTT mà không đề cập tới quyền tinh thần của tác giả Đóng góp lớn nhất của TRIPs là đã đưa Nguyên tắc bảo hộ Tối huệ quốc vào lĩnh vực SHTT và quy định hệ thống các biện pháp thực thi quyền SHTT (áp dụng cho cả việc thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm)

Việc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thi hành TRIPs Về các thỏa thuận chuyển tiếp, Hiệp định cho phép các thành viên

có một khoảng thời gian chuyển đổi thích hợp, nhằm đảm bảo việc thực thi đầy

đủ các nghĩa vụ Theo đó, thời hạn đối với các nước phát triển là 1 năm, các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 11 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (01-01-1995) Hiệp định cũng còn có những điều khoản

hỗ trợ kĩ thuật và tài chính, ưu tiên dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển Về thể chế, Hiệp định có các điều khoản về việc thành lập cơ quan quản lí là Hội đồng của Hiệp định gọi là Hội đồng TRIPs Hội đồng kiểm soát các hoạt động của TRIPs, đặc biệt là việc tuân thủ các nghĩa vụ Ngoài ra, Hội đồng TRIPs còn có nhiệm vụ lập ra các thỏa thuận tương ứng về hợp tác với các

cơ quan của WIPO, tổ chức các Hội nghị đánh giá việc thực hiện các nghĩa vụ

Trang 26

theo Hiệp định của các quốc gia thành viên Hiệp định TRIPs có hiệu lực tại Việt Nam vào thời điểm Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới ngày 7 tháng 11 năm 2006.

- Hiệp ước WPPT của WIPO về biểu diễn và chương trình ghi âm

(WIPO Performances and Phonograms Treaty, 1996) Với việc quyền tác

giả nói chung và quyền liên quan nói riêng ngày càng bị đe dọa bởi Internet và

sự phát triển vượt bậc của Internet cần phải có các quy định mới để bảo hộ, một điều ước quốc tế mới được ký kết trong khuôn khổ củaWTO đã ra đời Hiệp ước WPPT, được kí kết ngày 20-12-1996 tại trụ sở của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), có hiệu lực từ 20-5-2002 Các văn kiện gia nhập Hiệp ước phải được gửi tới Tổng Giám đốc của WIPO Hiệp ước WPPT, gồm có phần

mở đầu và 33 điều Hiệp ước đề cập đến quyền của người biểu diễn gồm diễn viên, ca sĩ, nhạc công và nhà sản xuất bản ghi âm gồm tổ chức, cá nhân khởi xướng và thực hiện việc định hình các âm thanh Các đối tượng này được bảo

hộ trong Hiệp ước WPPT bởi vì hầu hết của người biểu diễn theo Hiệp ước đều

là các quyền có liên quan đến việc định hình biểu diễn, kể cả khi chỉ là các biểu diễn âm nhạc thuần túy

Theo quy định của Hiệp ước Nhà sản xuất bản ghi âm có các quyền kinh

tế độc quyền, gồm: quyền làm bản sao; quyền phân phối; quyền cho thuê; quyền cung ứng Quyền làm bản sao là quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc sao chép gián tiếp bản ghi âm dưới bất kì phương thức hoặc hình thức nào Quyền phân phối là quyền cho phép cung cấp công cộng bản gốc hoặc bản sao của bản ghi âm, thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu khác Quyền cho thuê là quyền cho thuê thương mại công cộng bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm Quyền cung cấp là quyền cho phép cung ứng công cộng bản ghi âm bằng phương tiện phát sóng truyền cáp hoặc theo cách thức mà công chúng có thể truy cập tại bất kì địa điểm, thời gian do họ lựa chọn Quyền này bao hàm cả việc cung cấp qua mạng Internet Hiệp ước đòi hỏi các nước thành viên áp dụng nguyên tắc “đãi ngộ công dân” Hiệp ước còn quy định người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, cùng được hưởng quyền nhận một khoản thù lao thỏa đáng

Trang 27

từ việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm đã được sản xuất nhằm mục đích thương mại khi phát sóng hoặc truyền thông công cộng Thời hạn bảo hộ ít nhất là 50 năm Việc hưởng và thực thi các quyền không phải tuân theo bất kì một thể thức nào Hiệp ước ràng buộc các quốc gia thành viên về việc quy định các biện pháp pháp lí thực thi chống lại việc phá hủy, dỡ bỏ hoặc sửa đổi thông tin quản lí quyền và các biện pháp công nghệ khác do người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm sử dụng để thực thi các quyền Hiệp ước ràng buộc các quốc gia thành viên về việc thông qua các biện pháp cần thiết, để bảo đảm áp dụng Hiệp ước, phù hợp với hệ thống quản lí của quốc gia mình Đặc biệt các quốc gia thành viên phải bảo đảm các thủ tục cưỡng chế theo luật pháp quốc gia, để cho phép hành động có hiệu quả chống lại mọi hành vi xâm phạm các quyền được quy định trong Hiệp ước Hiệp ước WPPT có mối quan hệ với Công ước Rome

Cụ thể WPPT đã kế thừa một số quy định của Công ước Rome Hiệp ước này

cũng tuyên bố rằng “không quy định nào trong Hiệp ước này làm tổn hại đến

những nghĩa vụ hiện tại mà các bên ký kết đã có với nhau theo Công ước quốc

tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tô chức phát sóng ký tại ROME” 12 Đến nay Hiệp ước có 68 nước thành viên Tại thời điểm này Việt Nam chưa nộp đơn tham gia Hiệp ước WPPT

1.3.2 Điều ước quốc tế song phương

Ngoài việc tham gia các điều ước quốc tế đa phương liên quan đến quyền của nhà sản xuất bản ghi âm như các công ước, hiệp ước đã nêu ở trên, các quốc gia còn tham gia các điều ước quốc tế song phương nhằm tăng sự bảo hộ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyền liên quan, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng Khi các điều ước quốc tế đa phương còn chưa được phổ biến, công nhận và tham gia rộng rãi thì điều ước quốc tế song phương là một công cụ rất hữu hiệu bảo vệ cho quyền của nhà sản xuất bản ghi âm của quốc gia này trên lãnh thổ quốc gia kia Việc ký kết các ĐƯQT song phương rất được coi trọng vì các ĐƯQT song phương có những quy định chặt chẽ, rõ ràng hơn, thuận lợi hơn cho mỗi bên tham gia trong việc bảo hộ quyền của các nhà sản

12 Điều 1.3 Hiệp ước WPPT 1996

Trang 28

xuất bản ghi âm nước mình đồng thời thể hiện sự hợp tác giữa hai quốc gia Việt Nam cũng kí kết hiệp định song phương với một số quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Các hiệp định này đều được kí trước khi Việt Nam tham gia Công ước Rome, Công ước Geneva, Hiệp định TRIPs Tiêu biểu là các điều ước quốc

tế sau:

- Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam và Liên bang Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: Hiệp định kí kết ngày 7-7-1999, có hiệu lực từ ngày 8-6-

2000 Hiệp định đã khẳng định lại tầm quan trọng đặc biệt của sở hữu trí tuệ trong ngoại thương và quan hệ đầu tư giữa hai nước, đồng thời mong muốn bảo

hộ một cách hiệu quả và thoả đáng đối với quyền sở hữu trí tuệ, nhằm giảm bớt sai lệch trong thương mại và các cản trở đối với hoạt động thương mại và bảo đảm rằng các biện pháp và các thủ tục thực thi quyền sở hữu trí tuệ không gây trở ngại cho hoạt động thương mại hợp pháp Việc kí kết hiệp định ghi nhận những nỗ lực của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mong muốn của Liên bang Thụy Sĩ trong việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Ngoài phần mở đầu, Hiệp định có 9 điều là các quy định mang tính nguyên tắc Kèm theo Hiệp định có một phụ lục trong việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ giữa hai quốc gia danh mục các điều ước quốc tế Việt Nam cam kết tham gia, một phụ lục về chương trình hợp tác đặc biệt Phía Việt Nam nhận được sự

hỗ trợ kĩ thuật từ phía Liên bang Thụy Sỹ các đối tượng được bảo hộ theo Hiệp định này gồm quyền tác giả và quyền liên quan, kể cả chương trình máy tính và

cơ sở dữ liệu; nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lí, bố trí mạch tích hợp, giống cây và thông tin không được công bố Hiệp định được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực của Hiệp định TRIPs về mức độ bảo hộ, chế độ bảo hộ và ràng buộc các bên nghĩa vụ tham gia vào một số điều ước quốc tế

- Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì (BTA): Hiệp định thương

mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì, được đàm phán và kí kết ngày 13-7-2000 đã được quốc hội hai nước thông qua

và có hiệu lực thi hành ngày 10-12-2001 Hiệp định điều chỉnh các quan hệ

Trang 29

thương mại giữa hai nước, tại Chương 2 có 18 điều cam kết về sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền liên quan của quyền tác giả Tại Khoản 6 Điều 4 của hiệp định có quy định về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm như sau:

“Mỗi Bên dành cho người có quyền đối với bản ghi âm quyền cho phép hoặc cấm:

A trực tiếp hoặc gián tiếp sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm;

B nhập khẩu vào lãnh thổ của Bên đó bản sao của bản ghi âm;

C phân phối công khai lần đầu bản gốc hoặc bản sao của bản ghi âm dưới hình thứ bán, cho thuê hoặc các hình thức khác; và

D cho thuê, mượn bản gốc hoặc bản sao của bản ghi âm nhằm đạt lợi ích thương mại.

Mỗi Bên quy định rằng việc đa bản gốc hoặc bản sao một bản ghi âm ra thị trường với sự đồng ý của người có quyền không làm chấm dứt quyền cho thuê của người có quyền.”

Theo Hiệp định này, Việt Nam phải thực thi đầy đủ các nghĩa vụ về quyền tác giả và các quyền liên quan trong thời hạn chuyển tiếp là 18 tháng Việt Nam cam kết tham gia Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật (1971) trong thời hạn 24 tháng, Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép, công ước về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền quan vệ tinh (Công ước Brussel, 1974) trong vòng

30 tháng, kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Về các quyền được bảo hộ theo Hiệp định bao gồm tối thiểu các quyền độc quyền sao chép, phân phối, trưng bày, phổ biến công cộng với những hạn chế và ngoài lệ theo tiêu chuẩn của Điều 9 (1) Công ước Berne Về thực thi, hiệp định quy định nghĩa vụ áp dụng các biện pháp thực thi tại biên giới, dân sự và hình sự, bao gồm các hình phạt và ngăn chặn theo các chuẩn mực của Hiệp định TRIPs Các nghĩa vụ này được thực hiện theo quy định và luật pháp quốc gia

1.4 Pháp luật quốc gia

Năm 1986 với Nghị định 142/HĐBT, lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản riêng biệt về quyền tác giả đã được ban hành với những quy định cơ bản,

Trang 30

ban đầu với sự giúp đỡ của hãng "Bảo hộ quyền tác giả của Liên Xô"(VAB) Trước yêu cầu của sự phát triển, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh số 38 về Quyền tác giả vào tháng 10-1994 Đây là văn bản pháp luật trong nước đầu tiên có những quy định về các chủ thể của quyền liên quan của quyền tác giả Theo Điều 32, Chương 4: Quyền của người biểu diễn, tổ chức sản xuất hàng băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát

thanh truyền hình, Lệnh 38-L/CTN quy định như sau: “Tổ chức sản xuất băng

âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình có quyền cho hoặc không cho người khác nhân bản, phát hành sản phẩm của mình và hưởng lợi khi sản phẩm được sử dụng Thời hạn bảo hộ các quyền quy định tại Điều này là 50 năm, kể từ ngày băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình được phổ biến lần đầu tiên”.

Trên nền tảng cơ sở đó, kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự 2005, trong đó đã dành Mục 2, Chương 34, Phần 6 quy định các nội dung về quyền liên quan của quyền tác giả Để thúc đẩy các bước phát triển mới trong hoạt động bảo hộ tại quốc gia và hội nhập quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ vào tháng 11/2005 Với 222 điều, Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh các quan hệ sáng tạo, bảo hộ tài sản trí tuệ của ba đối tượng gồm quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Nhằm khắc phục kịp thời một số hạn chế, cản trở thực thi tại quốc gia và hội nhập quốc tế, năm 2009, Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung Đây chính là công

cụ cơ bản nhất của Việt Nam để bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Ngoài ra có thể kể đến các luật khác như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản Văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Quảng cáo cũng có một số điều khoản quy định về quyền tác giả, quyền liên quan nhằm tăng cường quản lí ở các lĩnh vực đặc biệt quan trọng này Luật Hải quan

đã có quy định các biện pháp bảo hộ tại biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Có thể khẳng định rằng hoạt động lập pháp, lập quy về quyền tác giả, quyền liên quan đã có bước phát triển vượt bậc, tạo lập được hành lang pháp lí

Trang 31

an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo phát triển, đồng thời bảo hộ thành quả lao động sáng tạo đã kết tinh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật

và khoa học Luật pháp đó đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng, và công chúng hưởng thụ; bảo vệ lợi ích quốc gia trong hội nhập; thể hiện tính thống nhất, minh bạch và khả thi Về cơ bản hệ thống pháp luật Việt Nam đã phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam và hội nhập quốc

tế có bước phát triển mới

Trang 32

Tiểu Kết Chương 1

Qua các nội dung phân tích khái quát về quyền liên quan của quyền tác giả nói chung và quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng ta nhận thấy rằng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một trong những đối tượng được pháp luật Việt Nam quan tâm bảo vệ Ngoài việc quy định những điều luật về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trong các luật quốc nội như Luật Sở hữu trí tuệ, Việt Nam còn chủ động và tích cực tham gia, điều ước quốc tế đa phương, song phương Việc sớm kí kết và gia nhập các điều ước quốc tế giúp cho Việt Nam nhanh chóng bắt kịp xu hướng lập pháp hiện đại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, làm tiền đề để pháp luật Việt Nam có sự tương thích với luật pháp quốc tế và luật pháp của các quốc gia tiên tiến trên thế giới

Trang 33

CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM THEO QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG TIÊU BIỂU

Việt Nam đã chủ động tham gia vào hầu hết các Công ước, Hiệp ước đa phương liên quan đến việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Xuất phát

từ nhu cầu bảo vệ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Việt Nam trên phạm vi toàn cầu cũng như để cải cách pháp luật theo hướng hiện đại và tương thích cao với luật pháp quốc tế thì việc nghiên cứu các quy định của các ĐƯQT đa phương tiểu biểu là vấn đề cần thiết

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đi sâu vào phân tích các nội dung sau:

1) Các nguyên tắc bảo hộ

2) Tiêu chuẩn bảo hộ, căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ

3) Quyền và nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm

4) Hành vi vi phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

5) Thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

2.1 Nguyên tắc bảo hộ

2.1.1 Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment)

Nguyên tắc đối xử quốc gia là một nguyên tắc nền tảng trong hầu hết các điều ước quốc tế và trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng không ngoại lệ Theo Khoản 1 Điều 2 Công ước Rome đã đưa ra định nghĩa về đối xử quốc gia như

sau: “đối xử quốc gia được hiểu là sự đối xử theo luật quốc gia của nước thành

viên nơi có yêu cầu bảo hộ dành cho:

a) những người biểu diễn là công dân của nước đó, đối với các buổi biểu diễn được thực hiện, phát sóng hoặc định hình lần đầu trên lãnh thổ nước đó;

b) những nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của nước đó, đối với các bản ghi

âm được định hình lần đầu hay công bố lần đầu trên lãnh thổ nước đó;

c) tổ chức phát sóng có trụ sở tại lãnh thổ nước đó, đối với các buổi phát sóng được truyền từ các đài phát đặt tại lãnh thổ nước đó.”

Trang 34

Như vậy, có thể hiểu đơn giản rằng, nguyên tắc đối xử quốc gia quy định những quốc gia ký kết Công ước sẽ dành cho công dân của các quốc gia ký kết Công ước khác, sự đối xử mà quốc gia đó dành cho chính công dân của nước mình Quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia được đặt ra không chỉ nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được bảo hộ mà còn bảo đảm rằng họ không

bị phân biệt đối xử theo bất kì cách nào liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng

Không chỉ trong Công ước Rome, Theo Điều 4, Chương 1, Hiệp ước

WPPT cũng đưa ra quy định về đối xử quốc gia:“(1) Mỗi Bên ký kết sẽ dành

cho công dân của Các Bên ký kết khác, như đã định nghĩa ở Điều 3(2), sự đối

xử mà Bên đó dành cho chính công dân của nước mình đối với các quyền độc quyền được quy định cụ thể trong Hiệp ước này…”

Hiệp định TRIPs cũng ghi nhận nguyên tắc tương tự tại Khoản 1 Điều 3

nội dung như sau: “mỗi Thành viên phải dành cho các công dân của Thành

viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử của Thành viên

đó đối với công dân của mình trong bảo hộ sở hữu trí tuệ…” Hiệp định TRIPs

sử dụng cụm từ “không kém thuận lợi hơn” mang tính mở cho luật quốc gia

thành viên Khi đó các thành viên tham gia Hiệp định TRIPs có thể dành cho công dân của quốc gia thành viên khác sự đối xử ngang bằng hoặc ưu đãi hơn

so với sự đối sử dành cho công dân của họ

Nguyên tắc National Treatment (NT) có thể nói là một nguyên tắc “mềm” trong các điều ước quốc tế đa phương vì nó tránh được sự va chạm trực tiếp giữa quyền và lợi ích của các quốc gia khác nhau Khi nguyên tắc này được thừa nhận thì công dân của các quốc gia tham gia các Công ước quốc tế sẽ nhận được sự đối xử công bằng từ các quốc gia thành viên Công ước khác Với nguyên tắc đối xử quốc gia sẽ không có sự phân biệt giữa công dân quốc gia sở tại với công dân quốc gia khác về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Liên quan đến nguyên tắc đối xử quốc gia, cả Công ước Rome và Hiệp

ước WPPT đều đặt ra những ngoại lệ nhất định Công ước yêu cầu “đối xử quốc

gia phải tuỳ thuộc vào sự bảo hộ được cấp cụ thể và các hạn chế quy định cụ thể

Trang 35

trong Công ước này (Điều 2.2 Công ước Rome) Có nghĩa là ngoại trừ những

quyền đã được Công ước đảm bảo tạo nên sự bảo hộ tối thiểu, trong phạm vi các giới hạn bảo lưu và ngoại lệ được Công ước thừa nhận, nhà sản xuất bản ghi âm cũng như những chủ thể của quyền liên quan khác sẽ được hưởng tại những quốc gia thành viên của Công ước những quyền giống như các quyền mà các quốc gia đó trao cho công dân của họ

Với Hiệp ước WPPT, các thành viên có thể dựa vào để miễn trừ nghĩa vụ đối xử quốc gia khi bên ký kết cố tình đưa ra tuyên bố rằng sẽ chỉ áp dụng quyền được hưởng thù lao từ việc phát sóng và truyền đạt ra công chúng nhằm mục đích thương mại của nhà sản xuất bản ghi âm trong một số trường hợp nhất định, hoặc tuyên bố rằng nước mình sẽ khống chế việc áp dụng các quy định đó theo một số cách khác hoặc có thể áp dụng tất cả các quy định này

2.1.2 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most Favored Nations)

Điều 4 Hiệp định TRIPs quy định : “Đối với bất kỳ một sự thuận lợi, ưu

đãi, đặc quyền hoặc miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước nào khác cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác” Nếu như nguyên tắc National Treatment (NT)

đề cập tới sự bình đẳng trong đối xử giữa công dân của quốc gia mình với công dân của các thành viên khác thì nguyên tắc Most Favored Nations (MFN) lại quy định sự bình đẳng trong đối xử của một quốc gia đối với công dân của các thành viên khác nhau Công dân của các nước thành viên phải được hưởng sự đối xử thuận lợi nhất mà một nước thành viên có thể dành cho công dân một nước thứ ba khác trong hiện tại cũng như trong tương lai

Nguyên tắc này tạo nên một sân chơi bình đẳng cho các quốc gia, ngăn cấm sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia thành viên Nguyên tắc này, là một nhân tố mới trong khuôn khổ SHTT quốc tế, từ trước tới nay chưa được quy định trong phạm vi quyền SHTT ở cấp độ đa phương Tuy nhiên, nguyên tắc này trên thực tế lại được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế, được xem là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất và là nguyên tắc nền tảng của WTO

Trang 36

Cũng giống như nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc này, cũng

có một số ngoại lệ Những ngoại lệ và miễn trừ này được quy định cụ thể tại Điều 4 Hiệp định TRIPs Một quốc gia khi dành sự ưu đãi, miễn trừ cho quốc gia thành viên này sẽ không buộc phải trao những đặc quyền này cho các thành viên khác khi:

a) Phát sinh từ các thoả thuận quốc tế về trợ giúp tư pháp hoặc thực thi luật

có tính chất chung chứ không giới hạn cụ thể cho bảo hộ SHTT;

b) Được cấp theo các quy định của Công ước Berne hay Công ước Rome, cho phép dành sự đối xử không theo sự đối xử công dân mà theo sự đối xử do một nước khác dành cho;

c) Liên quan đến các quyền không được quy định theo Thỏa thuận này của những người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình;

d) Phát sinh từ những thỏa thuận quốc tế liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ

đã có hiệu lực trước khi có Thỏa thuận WTO có hiệu lực, với điều kiện là các thỏa thuận đó được thông báo cho Hội đồng TRIPs và không tạo nên sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc không chính đáng đối với công dân của các Thành viên khác

Nguyên tắc bảo hộ tối thiểu chính là việc các ĐƯQT đưa ra những giới

hạn thấp nhất trong một khía cạnh, một yếu tố liên quan đến bảo hộ SHTT và quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Ví dụ như Điều 14 Công ước Rome quy

định về thời hạn bảo hộ tối thiểu như sau: “Thời gian bảo hộ được hưởng theo

Công ước này phải kéo dài ít nhất cho đến khi hết thời hạn là 20 năm kể từ cuối năm: a) Thực hiện định hình bản ghi âm đối với các bản ghi âm và đối với các

Trang 37

tiết mục biểu diễn trong bản ghi âm đó.” Như vậy khi tham gia Công ước Rome

thì thời hạn bảo hộ đối với các bản ghi âm ít nhất là 20 năm Các Thành viên tham gia buộc phải tuân thủ “mức sàn” chung này Họ chỉ có thể quy định thời hạn bảo hộ lớn hơn hoặc bằng 20 năm chứ không được áp dụng bất kỳ mức bảo

hộ nào thấp hơn Trong thực tế, nhu cầu bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng được coi trọng nên “mức sàn” của bảo hộ tối thiểu cũng ngày một nâng cao Khi Công ước Rome ra đời năm 1961 đưa ra thời hạn bảo hộ 20 năm như trên thì đến Hiệp ướcWPPT năm 1996 đã quy định tại Điều 17 về thời hạn bảo hộ bản ghi âm ít nhất là 50 năm

Nguyên tắc về sự cân bằng lợi ích của nhà sản xuất bản ghi âm và lợi ích của xã hội, của nhà nước được ghi nhận ngay ở phần mở đầu của Hiệp

ướcWPPT: “Công nhận nhu cầu duy trì sự cân bằng giữa các quyền của người

biểu dễn, nhà sản xuất bản ghi âm và lợi ích của đông đảo công chúng, đặc biệt

là giáo dục, nghiên cứu và thu thập thông tin”.

Chắc chắn rằng khi đẩy mạnh việc bảo hộ quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng thì quyền lợi của cộng đồng sẽ bị ảnh hưởng Vì thế cả Công ước Rome, Geneva và Hiệp ước WPPT, cùng quy định pháp luật quốc gia có thể quy định những hạn chế về bảo hộ những nhà sản xuất bản ghi âm tương tự như đã quy định trong pháp luật quốc gia mình đối với việc bảo hộ các tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ thuật Bằng việc quy định những ngoại lệ, các Công ước đã phần nào hạn chế quyền của các nhà sản xuất bản ghi âm cũng như quyền của các chủ thể có quyền khác, tạo điều kiện phổ biến các giá trị nghệ thuật, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền SHTT bởi những người nắm quyền và ngăn chặn các hành vi cản trở hoạt động thương mại bất hợp lý Có nghĩa là các bên ký kết chỉ quy định các hạn chế hoặc ngoại lệ đối với các quyền được quy định trong các Công ước, Hiệp ước trong một số trường hợp đặc biệt sao cho không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường bản ghi âm và không làm phương hại bất hợp lý đến lợi ích chính đáng của nhà sản xuất bản ghi âm Điều 7 Hiệp định TRIPs cũng

đã khẳng định nội dung này: “Việc bảo hộ và thực thi các quyền Sở hữu trí tuệ

Trang 38

phải góp phần vào thúc đẩy cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội, lợi ích kinh tế và tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ” tạo sự cân bằng giữa lợi ích của những chủ thể có quyền và lợi ích

của cộng đồng

Trên đây là những nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trong lĩnh vực SHTT Những nguyên tắc này mang tính định hướng, giảm bớt sự lệch lạc và trở ngại trong hoạt động thương mại quốc

tế, thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu quả và toàn diện quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng và SHTT nói chung

2.2 Tiêu chuẩn bảo hộ, căn cứ xác lập và thời hạn bảo hộ

2.2.1 Tiêu chuẩn bảo hộ

Nhà sản xuất bản ghi âm muốn được bảo hộ bản ghi âm của mình thì phải đáp ứng những tiêu chí nhất định Để được hưởng chế độ đối xử quốc gia của các nước thành viên khác, nhà sản xuất của các bên ký kết phải đáp ứng các tiêu

chuẩn về bảo hộ theo các ĐƯQT Điều 5.1 Công ước Rome quy định: “mỗi

nước thành viên phải dành sự đối xử quốc gia cho nhà sản xuất bản ghi âm nếu một trong các điều kiện sau được đáp ứng:

a) Nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của một nước thành viên khác

(tiêu chuẩn quốc tịch);

b) Việc định hình âm lần đầu được thực hiện tại một nước thành viên khác

(tiêu chí về định hình);

c) Bản ghi âm được công bố lần đầu tại một nước thành viên khác (tiêu

chuẩn nơi công bố)”

Như vậy, nguyên tắc đối xử quốc gia sẽ được trao cho nhà sản xuất bản ghi âm nếu nhà sản xuất là công dân của một quốc gia thành viên khác, hoặc bản định hình âm đầu tiên được thực hiện tại một nước thành viên khác, bản ghi âm lần đầu tiên được công bố hay đồng thời được công bố tại một quốc gia thành viên khác Ngoài những trường hợp này, tất cả các bản ghi âm được tạo ra bởi

Trang 39

các nhà sản xuất không đáp ứng một trong ba tiêu chí trên sẽ không nhận được

sự bảo hộ theo ĐƯQT

Tiêu chuẩn bảo hộ trên cũng đã được Hiệp ước WPPT kế thừa tại Điều 3 Theo đó, các bên ký kết sẽ dành sự bảo hộ được quy định theo Hiệp ước này cho những nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các bên ký kết khác, những người đủ tiêu chuẩn bảo hộ được Công ước ROME quy định

Đối với Công ước Geneva thì các quốc gia ký kết sẽ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các quốc gia ký kết khác chống lại việc làm bản sao

mà không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm đó (tức là bảo hộ theo tiêu chuẩn quốc tịch) quy định tại Điều 2 của Công ước Tuy nhiên tại Khoản 4,

Điều 7 Công ước có quy định:“bất kỳ quốc gia ký kết nào mà vào ngày

29/10/1971, chỉ dành sự bảo hộ đối với nhà sản xuất bản ghi âm trên cơ sở ghi

âm lần đầu có thể thông qua một thông báo nộp tới Tổng thư ký của WIPO tuyên bố là quốc gia đó áp dụng tiêu chuẩn nơi ghi âm lần đầu này thay vì áp dụng tiêu chuẩn quốc tịch của nhà sản xuất bản ghi âm” Với quy định này,

Công ước Geneva đưa ra thêm lựa chọn bảo hộ ngoài tiêu chuẩn ban đầu là quốc tịch Theo đó các quốc gia có thể trao sự bảo hộ chỉ dựa trên cơ sở nơi ghi âm lần đầu bằng cách gửi một thông báo tới Tổng thư ký của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới Việc quy định khả năng được thay thế tiêu chuẩn bảo hộ thể hiện tính linh hoạt của Công ước Geneva, dễ dàng hơn cho các quốc gia lựa chọn tham gia Công ước

Tuy vậy có thể thấy rằng Công ước Rome vẫn đưa ra nhiều tiêu chuẩn lựa chọn mở rộng khả năng được bảo hộ của các bản ghi âm hơn nhiều so với Công ước Geneva Ngoài ra, Công ước Rome còn cho phép bảo lưu những tiêu chuẩn lựa chọn Theo Điều 5.3 và Điều 17 Công ước Rome, bằng việc gửi thông báo đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, mọi quốc gia thành viên bất kỳ lúc nào cũng

có thể tuyên bố rằng Nước mình sẽ không áp dụng tiêu chuẩn nơi công bố hoặc nơi định hình âm Bất kỳ quốc gia nào vào ngày 26/10/1961 chỉ dành sự bảo hộ đối với nhà sản xuất bản ghi âm trên cơ sở tiêu chuẩn về nơi định hình, có thể loại trừ cả hai tiêu chuẩn về Quốc tịch và nơi công bố Ngoại lệ này giúp cho

Trang 40

việc thực thi Công ước Rome có thể thích ứng với các điều kiện bảo hộ đã tồn tại trước đó trong pháp luật các quốc gia thành viên khác

2.2.2 Căn cứ xác lập quyền

Căn cứ xác lập quyền là một đặc điểm khác biệt của quyền tác giả và quyền liên quan đối với nhiều đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ như quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu hay quyền đối với giống cây trồng Quyền liên quan, quyền tác giả

cụ thể là quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng đều phát sinh ngay khi tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình,… được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định Đây là một sự bảo hộ đương nhiên mà tác giả, nhà sản xuất bản ghi âm không phải lệ thuộc vào bất kỳ hình thức nào như đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự Các ĐƯQT đã ghi nhận căn cứ xác lập quyền này Theo

Điều 20 Hiệp ước WPPT quy định: “Việc hưởng và thực hiện các quyền được

quy định trong Hiệp ước này sẽ không yêu cầu bất kỳ thủ tục hình thức nào”

Tuy nhiên Điều 5 Công ước Geneva, Điều 11 Công ước Rome lại quy định một số hạn chế về thủ tục Cụ thể là nếu một quốc gia yêu cầu tuân thủ những thủ tục như là điều kiện để được bảo hộ các quyền liên quan đối với bản ghi âm thì những thủ tục này cần được xem như đã hoàn thành nếu tất cả các bản sao trên thị trường của bản ghi âm đã công bố hoặc các bao bì của chúng gắn một thông báo có chứa dấu hiệu chữ P cùng với năm công bố đầu tiên Nếu các bản sao hay bao bì của chúng không xác định rõ nhà sản xuất hoặc bên được li-xăng thì thông báo cũng phải chứa tên chủ sở hữu của nhà sản xuất và nếu các bản sao hay bao bì của chúng không xác định những người biểu diễn chính thì thông báo cũng sẽ phải chứa tên của người sở hữu các quyền của những người biểu diễn đó

Những yêu cầu về thủ tục hình thức nếu một quốc gia đặt ra theo nội dung của Điều 5 Công ước Geneva, Điều 11 Công ước Rome không phải là căn cứ để xác lập quyền Mà quyền của nhà sản xuất bản ghi âm vẫn mặc nhiên hình thành khi bản ghi được định hình trên một dạng vật chất nhất định Các thủ tục hình

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w