Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/TW đã chỉ rõ: “…Nâng ca
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TIẾN SƠN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giảng dạy và công tác tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Tiến Sơn, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lý Bích Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu, ví dụ trong luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lý Bích Hường
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài 4
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Kết quả nghiên cứu của đề tài 6
7 Cơ cấu của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ 7
1.1 Cơ sở lý luận về tranh luận tại phiên tòa hình sự 7
1.1.1 Khái niệm tranh luận tại phiên tòa hình sự 7
1.1.2 Các nguyên tắc đảm bảo tranh luận tại phiên tòa 19
1.1.3 Chủ thể tranh luận tại phiên tòa 23
1.2 Thực trạng tranh luận tại phiên tòa hình sự 31
1.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 31
1.2.2 Những tồn tại, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân 33
Tiểu kết Chương 1 44
Chương 2 HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA 455
Trang 62.1 Chủ trương, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp liên quan
đến đổi mới trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa 455
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh luận tại phiên tòa 47
2.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về các nguyên tắc bảo đảm tranh luận tại phiên tòa 487
2.2.2 Sửa đổi, bổ sung các quy định chung của BLTTHS có liên quan đến tranh luận tại phiên tòa 53
2.2.3 Sửa đổi, bổ sung các quy định tại Chương XXI của BLTTHS về tranh luận tại phiên tòa 57
2.3 Một số giải pháp, kiến nghị khác 61
2.3.1 Nâng cao phẩm chất, trình độ của Thẩm phán, Kiểm sát viên và những người khác tham gia tranh luận tại phiên tòa 61
2.3.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức các cơ quan tư pháp 64
Tiểu kết Chương 2 66
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tranh luận tại phiên tòa là biểu hiện tập trung cao độ nhất của tranh tụng dân chủ, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa Tranh luận có vai trò vô cùng quan trọng trong tố tụng hình sự nói chung và quá trình xét xử vụ
án nói riêng Tranh tụng tại phiên tòa là một thủ tục bắt buộc, là phần trọng tâm của toàn bộ quá trình xét xử vụ án hình sự Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa giữa bên buộc tội và bên bào chữa, Hội đồng xét xử có thể xác định đúng, đầy đủ các tình tiết khách quan, làm cơ sở để ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trước năm 2002, hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự chủ yếu tập trung vào việc đọc cáo trạng, trình bày lời luận tội Việc tranh luận cũng như đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác còn chưa được chú trọng, còn mang tính hình thức
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị (sau đây gọi tắt là
Nghị quyết số 08-NQ/TW) đã chỉ rõ: “…Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác …Việc phán quyết của Tòa
án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định…”
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 “Về chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
Trang 82020” của Bộ Chính trị (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 48-NQ/TW) đã xác
định: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp.” là một nhiệm vụ quan trọng của chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW)
tiếp tục xác định một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp ở nước ta là “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”
Để kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và khắc phục những tồn tại, yếu kém trong hoạt động tranh luận, thúc đẩy các bên tranh luận tích cực, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (sau đây viết tắt là BLTTHS) đã quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa trong Chương XXI (từ Điều 217 - 221) Qua đó, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên toà của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã có những chuyển biến rõ nét
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự những năm gần đây cho thấy nhìn chung chất luợng, hiệu quả xét xử nói chung và hoạt động tranh luận tại các phiên toà hình sự nói riêng chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta giai đoạn hiện nay Có rất nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến thực trạng này, như: quy định của BLTTHS hiện hành về trình tự, thủ tục tranh luận và về chức năng, hoạt động của các chủ thể
Trang 9còn nhiều bất cập và chưa phù hợp; trình độ, kỹ năng của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư còn nhiều hạn chế, tinh thần trách nhiệm chưa cao…
Vấn đề tranh luận tại phiên tòa hình sự đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở phạm vi và mức độ khác nhau, như: Về kỹ năng và văn hóa khi tranh luận; địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận; thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm…
Để tiếp tục góp phần nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và đầy đủ hơn
về tranh luận tại phiên tòa và đề ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
tranh luận tại phiên tòa một cách cụ thể hơn, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh luận tại phiên tòa” để làm luận
văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tranh luận tại phiên tòa là hoạt động biểu hiện rõ nét nhất quá trình tranh tụng dân chủ, công bằng Vì vậy, những công trình nghiên cứu về tranh tụng không thể không đề cập tới tranh luận tại phiên tòa Trong những năm gần đây, vấn đề tranh tụng nói chung và tranh luận tại phiên tòa hình sự nói riêng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý và cán bộ thực tiễn quan tâm nghiên cứu ở
nhiều góc độ và phạm vi khác nhau như: Nguyễn Đức Mai (1996), “Vấn đề tranh tụng trong Tố tụng hình sự”, Luận văn thạc sĩ luật học; Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Dương Thanh Biểu (2008), Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Hải Ninh (2003), “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, Luận văn thạc sĩ luật học; Bùi Thị Hà (2010), “Tranh tụng tại phiên tòa theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học; Đặng Thị
Giao (2011), “Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự”, Luận văn thạc sĩ luật
học; TS Nguyễn Đức Mai (2011) “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm - cơ sở
Trang 10lý luận và thực tiễn”, Đề tài khoa học cấp cơ sở Tòa án nhân dân tối cao;…
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về các vấn đề có liên quan đến tranh luận tại phiên tòa hình sự như: TS Nguyễn
Đức Mai (2009), “Đặc điểm mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao,(23-24); ThS Hồ Đức Anh (2007) , “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 về phạm vi tranh luận và chủ thể tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (20); ThS Nguyễn Hữu Hậu (2006), “Cần nhận thức đúng đắn về tranh tụng và tranh luận để nâng cao kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại các phiên tòa hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (8); ThS Phạm Quang Định (2009), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (2); LS Lê Đức Tiết (2005), “Kỹ năng và văn hóa tranh luận tại phiên tòa”,Tạp chí Kiểm sát, (12); TS Đinh Xuân Nam (2006), “Một số vấn đề
về văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên tại phiên tòa”, Tạp chí Kiểm sát, (8);…
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Đề tài có mục đích nghiên cứu những vấn lý luận, thực tiễn về tranh luận tại phiên tòa hình sự, chức năng và vai trò của các chủ thể trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, thực trạng tranh luận cũng như những bất cập của các quy định pháp luật hiện hành để từ đó làm cơ sở kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTHS liên quan đến tranh luận tại phiên tòa Đồng thời đề xuất một số giải pháp khác nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa hình sự, đưa ra khái niệm tranh luận tại phiên tòa, các nguyên tắc của tố tụng hình sự
Trang 11chi phối hoạt động tranh luận tại phiên tòa, chức năng và vai trò của các chủ thể cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiên tòa
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan tranh luận tại phiên tòa; đánh giá thực trạng hoạt động tranh luận tại các phiên tòa hình
sự và chỉ ra những tồn tại trong thực tiễn tranh luận tại phiên tòa và những bất cập, vướng mắc trong quy định của BLTTHS
- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến tranh luận tại phiên tòa và đề xuất những giải pháp khác nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa hình sự
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ:
- Các quan điểm lý luận về tranh luận tại phiên tòa hình sự;
- Quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa hình sự;
- Thực trạng hoạt động tranh luận tại các phiên tòa những năm gần đây
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong nội dung của luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở một số vấn đề sau: Khái niệm tranh luận tại phiên tòa hình sự; các nguyên tắc của tố tụng hình sự chi phối hoạt động tranh luận tại phiên tòa, chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận, thực tiễn tranh luận tại các phiên tòa, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về tranh luận tại phiên tòa trong 03 năm (năm 2011, năm 2012, năm 2013) trên địa bàn toàn quốc Trên cơ sở đó kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTHS về tranh luận tại phiên tòa và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên toà hình sự Mặt khác, để luận văn có tính chuyên sâu, tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trang 12Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà nước
ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp trong thời kỳ mới Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp thống kê
6 Kết quả nghiên cứu của đề tài
- Đưa ra khái niệm tranh luận tại phiên tòa hình sự; phân tích làm rõ cơ chế chi phối của các nguyên tắc tố tụng hình sự đối với hoạt động tranh luận tại phiên tòa; phân tích làm rõ hoạt động, chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận tại phiên tòa
- Thực trạng tranh luận và những vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa hình sự
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS về tranh luận tại phiên tòa và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa hình sự
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận, thực tiễn về tranh luận tại phiên tòa hình sự Chương 2 Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh
luận tại phiên tòa
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ TRANH LUẬN
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ
1.1 Cơ sở lý luận về tranh luận tại phiên tòa hình sự
1.1.1 Khái niệm tranh luận tại phiên tòa hình sự
BLTTHS không đưa ra định nghĩa về tranh luận Theo Đại Từ điển
tiếng Việt thì “tranh luận” là bàn cãi để tìm ra lẽ phải [4, tr.135] Xuất phát từ
nghĩa gốc của từ “tranh luận” trong tiếng Việt, Từ điển Luật học đã đưa ra định nghĩa về tranh luận với tư cách là một thủ tục tố tụng Theo đó, tranh luận tại phiên tòa là “hoạt động của những người tham gia tố tụng (các bên) tại phiên tòa trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án”[5, tr.807] Tuy nhiên có thể thấy, định nghĩa này có một số hạn chế, đó là: “tranh luận” không chỉ là hoạt động của những người tham gia tố tụng mà còn là hoạt động của Kiểm sát viên Như vậy, định nghĩa đã nêu một cách không đầy đủ các chủ thể của hoạt động tranh luận Hơn nữa, định nghĩa này cũng chưa thể hiện được mục đích và vai trò của tranh luận đối với quá trình giải quyết vụ án Một số quan điểm khác cho rằng: “Trình tự tranh luận tại phiên tòa hình sự có thể được hiểu là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành hoạt động tố tụng ở phần tranh luận tại phiên tòa, trong đó các chủ thể của bên buộc tội và của bên bào chữa phát biểu ý kiến, phân tích các chứng cứ được đưa ra xem xét và trình bày kết luận của mình về vụ án.” [11, tr.8] Cách định nghĩa này được đưa ra dựa trên định nghĩa về “thủ tục tố tụng” trong Từ điển luật học Theo
đó, thủ tục tố tụng là “cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một
vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lý hoặc khởi tố theo quy định
Trang 14của pháp luật” [5, tr.729] Tuy nhiên, với cách định nghĩa này, tác giả đã dùng chính thuật ngữ “phần tranh luận” để định nghĩa cho khái niệm “trình tự tranh luận” Và cũng giống như định nghĩa trong Từ điển Luật học, cách định nghĩa này cũng chưa thể hiện được mục đích và vai trò của hoạt động tranh luận
Như vậy, từ các nghĩa nêu trên, theo quan điểm của tôi thì “tranh luận tại phiên tòa hình sự là một trình tự tố tụng bắt buộc tại phiên tòa mà chủ thể của bên buộc tội (Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ) và bên bào chữa (Bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ) dựa trên cơ sở các chứng cứ được kiểm tra công khai tại phiên tòa đưa ra các quan điểm, lập luận, của mình về các tình tiết và hướng giải quyết các vấn đề của vụ án dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, để đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên đối lập, làm cơ sở cho Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết về
vụ án” Đây là một hoạt động được tiến hành theo một trình tự, nghi thức nhất
định do pháp luật quy định và chỉ kết thúc khi sự thật khách quan của vụ án được xác định Nói cách khác tranh luận không chỉ là “được thua” mà cái quan trọng
là thông qua đó để làm rõ sự thật, làm rõ các tình tiết của vụ án [6, tr.258]
Tóm lại, tranh luận tại phiên tòa có những đặc điểm sau:
Một là, mục tiêu của tranh luận tại phiên tòa là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý Sự thật khách quan này bao gồm sự thật như nó đã diễn ra trên thực tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý trên cơ sở pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
Hai là, chủ thể của tranh luận tại phiên tòa bao gồm các bên tranh luận (bên buộc tội và bên bào chữa) và Hội đồng xét xử (Chủ tọa phiên tòa) Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết
Trang 15vụ án Hoạt động tranh luận tại phiên tòa diễn ra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa Chủ tọa phiên tòa có quyền điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh luận cho phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu thực tiễn của vụ án
Ba là, đối tượng của hoạt động tranh luận tại phiên tòa là các quan điểm, luận cứ và luận chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án
Bốn là, phương thức tranh luận tại phiên tòa là các bên tranh tụng sử dụng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ mới cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa, các quy định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượng tranh luận Đồng thời sử dụng các kỹ năng tranh luận khác nhau
để khẳng định quan điểm của mình, bác bỏ hoặc thừa nhận quan điểm của những người tiến hành, tham gia tố tụng khác và thuyết phục Hội đồng xét xử chấp nhận những yêu cầu, đề nghị của mình
Năm là, hình thức tranh luận: các bên trong quá trình tranh luận có thể sử dụng các hình thức tranh luận như hỏi - đáp, phát biểu ý kiến, luận tội, đối đáp
1.1.1.1 Phân biệt tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa
Mặc dù trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, khái niệm “tranh tụng” đã được sử dụng ngày càng phổ biến trong khoa học pháp lý Nhưng, văn bản pháp lý đầu tiên của nước ta đề cập tới thuật ngữ “tranh tụng” là Hiến pháp năm 2013 Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm
2013 quy định: “5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Như
vậy, Hiến pháp 2013 đã ghi nhận “tranh tụng” là một nguyên tắc của tố tụng hình sự nhưng “tranh tụng” có thể được nhìn nhận với tính cách là là hoạt động của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Vậy, tranh luận và tranh tụng khác nhau như thế nào? Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, thì
"tranh tụng" có thể hiểu như là một nguyên tắc, mô hình, còn "tranh luận" là một hình thức thể hiện nguyên tắc, mô hình đó
Trang 16Các văn bản pháp luật của nước ta chưa quy định cụ thể về khái niệm
“tranh tụng” Vì vậy, trong khoa học luật tố tụng hình sự có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau Từ điển Luật học đưa ra khái niệm như sau: “Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội
và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo
vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia,
dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài” [5,
tr.807-808] Như vậy, có thể thấy, quá trình tranh tụng diễn ra kể từ khi xuất hiện
sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng đối với một người (kể từ thời điểm người đó bị bắt hoặc bị tạm giữ hoặc bị khởi tố bị can) Kể từ thời điểm đó, người bị buộc tội đã có quyền bào chữa, có quyền đưa ra quan điểm, chứng cứ phản bác lại sự buộc tội đối với mình Do đó, tranh tụng đã xuất hiện từ giai đoạn này Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 chỉ ghi nhận đảm bảo tranh tụng trong xét xử và trong phạm vi đề tài này đề cập đến tranh luận tại phiên tòa Vì thế, đối với tranh tụng, tác giả cũng chỉ đề cập đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa diễn ra trong suốt quá trình xét xử vụ án tại phiên tòa hình sự bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên toà và kết thúc sau khi công bố phán quyết của Toà án [18, tr.12]
Như vậy, có thể khẳng định rằng “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa hình sự là các khái niệm không đồng nhất Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau như TS Nguyễn Thái Phúc đã khẳng định: “Thủ tục tranh luận thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng Tranh luận
có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng” [14, tr.10] Khái niệm “tranh tụng tại phiên tòa” có nội hàm rộng hơn bao gồm không chỉ phần
Trang 17tranh luận mà cả các phần khác (thủ tục phiên toà, xét hỏi, nghị án và tuyên án) của quá trình xét xử vụ án hình sự còn “tranh luận tại phiên toà” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng và là sự thể hiện một cách tập trung, rõ nét nhất của quá trình tranh tụng [12, tr.15-16] Để phân biệt tranh luận và tranh tụng tại phiên tòa cần phải dựa vào các tiêu chí: phạm vi, chủ thể, nội dung
Về phạm vi, tranh tụng tại phiên tòa hình sự được bắt đầu từ thời điểm
khai mạc phiên tòa và kết thúc sau khi Hội đồng xét xử công bố phán quyết về
vụ án Còn tranh luận tại phiên tòa hình sự được bắt đầu bằng lời luận tội hoặc phát biểu của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án và kết thúc trước khi
bị cáo nói lời sau cùng Như vậy, về mặt thời gian, tranh tụng tại phiên tòa có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với tranh luận tại phiên tòa
Về chủ thể, tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự bao
gồm tất cả các chủ thể tham gia phiên toà: Hội đồng xét xử; các chủ thể của bên buộc tội (Kiểm sát viên, bị hại, nguyên đơn dân sự,…); bên bào chữa (bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự,…); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)
So với các chủ thể tham gia tranh tụng, phạm vi các chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa hình sự hẹp hơn: chỉ bao gồm các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa dưới sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà Hội thẩm và những người tham gia tố tụng khác không tham gia vào quá trình này
Về nội dung, tranh tụng tại phiên tòa hình sự bao gồm tất cả các vấn đề
khác nhau cần giải quyết trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án từ khi khai mạc cho đến khi kết thúc phiên toà như: đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới, thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch, xem xét giải quyết việc hoãn phiên tòa; Hội đồng xét xử và các bên
Trang 18tham gia vào quá trình điều tra công khai (xét hỏi) nhằm kiểm tra xác minh các chứng cứ và các tình tiết về vụ án dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên toà ở phần xét hỏi; các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý vật chứng,…) đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hay bác
bỏ khi ra phán quyết về vụ án ở phần tranh luận; các thành viên Hội đồng xét xử thảo luận về từng vấn đề cần giải quyết trong vụ án, chấp nhận hay bác bỏ đề nghị cụ thể của các bên và ra phán quyết về vụ án theo quyết định đa số ở phần nghị án
So với tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa hình sự có nội dung hẹp hơn rất nhiều và chỉ bao gồm các vấn đề mà các bên tranh luận, đối đáp với nhau
ở phần tranh luận: quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ
án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự,
về xử lý vật chứng,…) mà các bên đưa ra đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hay bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án
1.1.1.2 Mục đích, vai trò, phạm vi của tranh luận tại phiên tòa hình sự
Tố tụng hình sự Việt Nam theo mô hình tố tụng thẩm vấn và kết hợp những hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng Mục đích xuyên suốt của tố tụng hình sự nước ta là tìm ra sự thật, tìm đến chân lý khách quan của sự việc Mục đích này chi phối mọi trình tự, thủ tục, cũng như thẩm quyền của các chủ thể trong tố tụng hình sự Vì vậy, mục đích của tranh luận tại phiên tòa hình sự cũng không phải là ngoại lệ, nó cũng nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án
Tranh luận tại phiên tòa hình sự là phần trọng tâm và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ quá trình xét xử vụ án “Đây được coi là giai đoạn
“đấu lý” quan trọng nhất” [6, tr.260] Thật vậy, trong phần tranh luận tại
Trang 19phiên tòa hình sự, dưới sự giám sát, chủ trì, điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, các bên buộc tội và bào chữa chính thức đưa ra các chứng cứ, quan điểm, lập luận của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án Qua đó, sự thật khách quan của vụ án được bộc lộ, các tình tiết trong vụ án được làm sáng tỏ Khi
đó, Hội đồng xét xử có thể xác định được đầy đủ và toàn diện các tình tiết khách quan của vụ án, làm cơ sở để đưa ra phán quyết về vụ án một cách đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và đương sự
Tóm lại, tranh luận tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa rất to lớn đối với quá trình xét xử vụ án hình sự nói riêng và quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
- Phần tranh luận tại phiên tòa là thủ tục tố tụng thể hiện rõ nét nhất tính tranh tụng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của các Cơ quan tiến hành tố tụng
- Việc đối đáp của các bên buộc tội và bào chữa làm tăng tính khách quan, dân chủ, minh bạch và làm cho phiên tòa trở nên sôi động hơn, góp phần tích cực giúp Hội đồng xét xử ít phụ thuộc vào hồ sơ vụ án để đưa ra phán quyết, xóa bỏ tình trạng xét xử theo kiểu “án tại hồ sơ”, “án bỏ túi”, hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm
- Tranh luận tại phiên tòa được thực hiện một cách nghiêm túc, công bằng sẽ góp phần nâng cao uy tín của Hội đồng xét xử, Tòa án, củng cố niềm tin của nhân dân vào pháp luật, vào tính công khai, minh bạch và dân chủ của
tố tụng hình sự nói riêng và chế độ chính trị nói chung
1.1.1.3 Phạm vi tranh luận tại phiên tòa
Phạm vi tranh luận tại phiên tòa không chỉ được giới hạn bởi không gian, thời gian mà còn được giới hạn cả về nội dung
Về không gian, hoạt động tranh luận của các bên buộc tội và bào chữa
Trang 20chỉ được diễn ra tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Về thời gian, tranh luận tại phiên tòa được bắt đầu ngay sau khi Chủ tọa
phiên tòa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi, chuyển sang phần tranh luận và Kiểm sát viên trình bày lời luận tội (đối với phiên tòa hình sự sơ thẩm) hoặc trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án (đối với phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) và kết thúc khi những người tham gia tranh luận không còn thêm ý kiến gì khác, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần tranh luận Cũng có ý kiến cho rằng tranh luận tại phiên tòa có thời điểm bắt đầu sớm hơn so với luật thực định, ngay từ khi xét hỏi đã có tranh luận Nhưng tôi không đồng tình với quan điểm trên đây Bởi lẽ, trong phần xét hỏi tại phiên tòa, mặc dù đã có sự hỏi, đáp giữa các bên nhưng hoạt động này chỉ mang tính chất một chiều (Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên hỏi, những người tham gia tố tụng trả lời) Bị cáo, người bị hại, người bào chữa mới chỉ dừng lại ở việc trả lời những câu hỏi của Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên một cách thụ động Họ cũng đã phần nào thể hiện tính chủ động bằng việc họ có thể đưa ra những ý kiến, các tài liệu phản bác nội dung của bản cáo trạng mà Kiểm sát viên trình bày và về những nội dung, tình tiết khác của vụ án, nhưng Kiểm sát viên lại không buộc phải đối đáp lại Trong trường hợp này, Kiểm sát viên sẽ xem xét, đưa ra ý kiến của mình về đồng tình hay phản bác những ý kiến trên và đưa vào bản luận tội Do vậy, quá trình Xét hỏi tại phiên tòa đã không tồn tại sự tương tác hai chiều giữa những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên nên đó không thể được coi là tranh luận tại phiên tòa
Về nội dung, tùy thuộc vào tính chất của phiên tòa (sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm) mà nội dung tranh luận ở từng phiên tòa này có sự khác biệt Tuy nhiên, chúng đều bao gồm toàn bộ các quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các bên buộc tội và bào chữa đưa ra tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hoặc bác khi đưa
Trang 21ra phán quyết về vụ án
Tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, nội dung luận tội của Kiểm sát viên là
cơ sở để xác định giới hạn xét xử vụ án tại phiên tòa (kể cả trong trường hợp Kiểm sát viên thay đổi nội dung buộc tội so với quyết định truy tố theo hướng có lợi cho bị cáo) Vì vậy, nội dung tranh luận của các bên buộc tội
và bào chữa chủ yếu tập trung vào các nội dung luận tội của Kiểm sát viên
và thường xoay quanh các vần đề cần chứng minh trong vụ án được quy định tại Điều 63 BLTTHS
Tại phiên tòa phúc thẩm hình sự: Theo quy định tại Điều 241 BLTTHS về
Phạm vi xét xử phúc thẩm thì: “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.” Do đó nội dung tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm cũng
không nằm ngoài nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu có kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án thì nội dung tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm cũng tương
tự nội dung tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm Nếu chỉ có kháng cáo, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm thì nội dung tranh luận chỉ tập trung vào các vấn đề có liên quan đến phần bản án bị kháng cáo, kháng nghị trừ những trường hợp mà Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy cần thiết phải xem xét các phần bản án khác Tuy nhiên, trên thực tế, đối với Kiểm sát viên tranh luận tại phiên toà phúc thẩm rất
đa dạng, có trường hợp phải bảo vệ cáo trạng, có trường hợp thì bảo vệ quyết định kháng nghị hoặc quan điểm về đường lối xử lý
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Đây là các thủ tục đặc biệt để xét lại các bản án chứ không phải một cấp xét xử BLTTHS không quy định
về phạm vi tái thẩm Khoản 2 Điều 284 quy định về phạm vi giám đốc thẩm:
“Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung kháng nghị” Như vậy, nội dung tranh luận tại các phiên tòa
giám đốc thẩm không chỉ xoay quanh nội dung của kháng nghị và phát biểu
của Kiểm sát viên về quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án
Trang 221.1.1.4 Trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa
Tùy thuộc vào tính chất phiên tòa (sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm) mà pháp luật quy định khác nhau về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa
- Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm: Trình tự tranh luận tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm hình sự được quy định tại Điều 217, 218, 219 và 247
BLTTHS Để bắt đầu phần tranh luận, Điều 217 BLTTHS quy định: “Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội ”
Luận tội có nghĩa là “xem xét, cân nhắc để định tội”[6, tr.1059] Trình bày luận tội là hoạt động của Kiểm sát viên để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa Vì vậy, BLTTHS quy định Kiểm sát viên trình bày lời luận tội chứ không phải đọc bản luận tội Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là cơ sở để các bên tiến hành tranh luận Xét về tiến trình tố tụng thì luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên tòa là hành vi pháp
lý của Kiểm sát viên mà pháp luật quy định để thực hiện chức năng buộc tội Xét về mục đích thì luận tội là luận cứ, quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên trình bày nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác quan của vụ án, góp phần giúp Hội đồng xét xử đánh giá và giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, bản luận tội không chỉ bao gồm các luận cứ, quan điểm buộc tội bị cáo mà còn đề cập đến những nội dung gỡ tội cho bị cáo, nhằm bảo vệ sự đúng đắn của cáo trạng Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung quyết định truy tố (cáo trạng) hoặc kết luận về tội nhẹ hơn và đề xuất với Hội đồng xét
xử về hướng giải quyết các vấn đề cụ thể trong vụ án Như vậy, phụ thuộc vào diễn biến phiên tòa tại phần xét hỏi, lời luận tội của Kiểm sát viên sẽ thực hiện theo một trong ba tình huống sau: giữ nguyên, thay đổi nội dung buộc tội (rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn) hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố [8, tr.23]
Trang 23Sau đó, bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo không có người bào chữa thì tự mình trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người bào chữa trình bày lời bào chữa, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa Tiếp theo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của
họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong trường hợp có người bảo vệ quyền lợi cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa cho phép người bảo vệ quyền lợi của họ phát biểu trước và sau đó phát biểu bổ sung ý kiến Trong khi trình bày lời bào chữa và phát biểu ý kiến, bị cáo và những người tham gia tố tụng trên đây đều có quyền đưa ra quan điểm của mình về lời luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình
Do sơ thẩm và phúc thẩm là hai cấp xét xử nên trình tự, thủ tục tranh luận tại các phiên tòa này về cơ bản là tương đồng, được nối tiếp với phần Xét
hỏi Điều 247 BLTTHS quy định: “Phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng khi tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án” Vì vậy, nếu như tại phiên tòa sơ
thẩm thì phần tranh luận được bắt đầu bằng việc Kiểm sát viên trình bày lời luận tội thì tại phiên tòa phúc thẩm nó lại được bắt đầu bằng việc Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì đối đáp là “trả lời lại” [5, tr.547], do
đó, “đối đáp” theo quy định tại Điều 218 BLTTHS được hiểu là việc đưa ra
“các quan điểm, luận cứ của Kiểm sát viên trong việc trả lời đối với các ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người tham gia tố tụng về luận tội, là sự trả lời đáp lại ý kiến giữa những người tham gia tranh luận”[8, tr.9]
Trang 24Vì vậy, đó chính là quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên phải đáp tất cả ý kiến của những người tham gia tranh luận, đồng thời phải đưa ra những lập luận của mình để phản bác ý kiến không có căn cứ của bị cáo và những người tham gia tố tụng Nếu Kiểm sát viên chưa tranh luận, đối đáp hết tất cả các ý kiến thì Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu Kiểm sát viên đối đáp
Nếu qua tranh luận mà Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xem xét thêm chứng cứ thì quay trở lại phần Xét hỏi Sau khi xét hỏi, việc tranh luận lại được tiếp tục tiến hành nhưng Chủ tọa phiên tòa có thể lưu ý đối với những người tham gia tranh luận để thu hẹp phạm vi tranh luận trong những vấn đề mới phát sinh sau khi xét hỏi để tránh kéo dài thời gian không cần thiết Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận và chỉ khi những người tham gia tranh luận không còn ý kiến gì khác mới tuyên bố kết thúc phần tranh luận và cho phép bị cáo nói lời sau cùng Tức là, việc bị cáo nói lời sau cùng không thuộc phần tranh luận tại phiên tòa, phần tranh luận tại phiên tòa đã kết thúc từ ngay trước đó
- Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Trình tự tranh luận tại các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định tại các Điều 282 và 297
BLTTHS Điều 282 BLTTHS quy định: “ 2 Tại phiên tòa, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án
Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này dược trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu Trong trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử.” Điều 297 BLTTHS quy định: “Những quy định tại các Điều 280, 281, 282 và 283 của
Bộ luật này cũng được áp dụng đối với việc tái thẩm” Như vậy, trình tự tranh
Trang 25luận tại các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định ngược lại so với phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm Tại các phiên tòa này, sự có mặt của những người tham gia tố tụng (người bị kết án, người bào chữa và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) không phải là bắt buộc mà chỉ khi xét thấy cần thiết thì Tòa án mới triệu tập họ đến phiên tòa và nếu đã triệu tập thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu Trong trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập mà không đến thì Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn tiến hành phiên tòa Do đó, có thể nói, tranh luận không phải là một thủ tục bắt buộc có trong mọi phiên giám đốc thẩm, tái thẩm Bởi lẽ, trong trường hợp người bị kết án, người bào chữa (các chủ thể thuộc bên bào chữa) không được triệu tập hoặc triệu tập nhưng không đến thì chức năng bào chữa
đã không thể thực hiện Vì vậy, cũng không có tranh luận ở các phiên tòa này Điều này là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử và tính chất của giám đốc thẩm, tái thẩm
1.1.2 Các nguyên tắc đảm bảo tranh luận tại phiên tòa
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định tại khoản 5 Điều 103:
“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, Nghị quyết 37/2012/QH13
ngày 23/11/2012 và Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013, Quốc hội
yêu cầu phải: “Tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại tòa”
BLTTHS đã quy định các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Là một hoạt động tố tụng, tranh luận tại phiên tòa cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc này Như đã phân tích ở trên, tranh luận tại phiên tòa là một phần của hoạt động tranh tụng Vì vậy, toàn bộ các nguyên tắc có liên quan đến việc đảm bảo cho hoạt động tranh tụng thì đều chi phối đến tranh luận tại phiên tòa Đó là các nguyên tắc sau: Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 BLTTHS);
Trang 26Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 BLTTHS); Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19 BLTTHS)
* Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà
án đã có hiệu lực pháp luật được ghi nhận tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm
2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Điều đó cũng đã được ghi nhận tại Điều 9 BLTTHS năm 2003 Theo đó, nguyên tắc này có nội dung: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Đối với tranh luận tại
phiên tòa, nguyên tắc này đặc biệt có ý nghĩa này tác động trực tiếp đến sự khách quan, vô tư của Hội đồng xét xử trong quá trình giám sát, điều khiển và theo dõi diễn biến tranh luận tại phiên tòa giữa bên buộc tội và bên bào chữa Hội đồng xét xử không được phép định kiến về việc bị cáo có tội, phải luôn coi bị cáo là người không có tội cho đến khi có bản án kết tội bị cáo của Tòa
án có hiệu lực pháp luật
* Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Điều 10 BLTTHS quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa
án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng
cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.” Nguyên tắc này còn xác định:
“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng
Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”
Nguyên tắc này chi phối việc tranh luận tại phiên tòa Quá trình tranh luận tại
Trang 27phiên tòa là quá trình Kiểm sát viên trực tiếp đưa ra những lý lẽ, lập luận để bảo vệ cáo trạng hoặc quyết định truy tố để chứng minh tội phạm và người phạm tội Kiểm sát viên có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, thông qua tranh luận, Kiểm sát viên làm rõ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với bị cáo Bị cáo
và người bào chữa có quyền đưa ra những lập luận, lý lẽ để bác bỏ cáo buộc của Kiểm sát viên, nhưng đó không phải là nghĩa vụ Vì vậy có thể nói, tranh luận tại phiên tòa chính là một phần của hoạt động chứng minh tại phiên tòa
* Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo
Tại phiên tòa thì nguyên tắc này cho phép bảo đảm quyền bào chữa của
bị cáo Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là một bộ phận của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định tại Điều 11 BLTTHS, là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được ghi nhận tại Điều 132 Hiến pháp 1992 và mới đây nhất là tại khoản 4
Điều 31 Hiến pháp 2013: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra,
truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”
Theo nguyên tắc này bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa – người bào chữa (luật sư, bào chữa viên nhân dân người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên hoặc người đã thành niên nhưng có nhược điểm về thể chất, tinh thần) Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa Bởi vì nếu đã bị coi là có tội ngay từ khi chưa xét xử thì việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ còn là hình thức Sự tham gia của người bào chữa, đặc biệt là các Luật sư vào
cả quá trình tố tụng nói chung và vào hoạt động tranh luận tại phiên tòa nói riêng tạo ra sự cân bằng, đối trọng giữa bên buộc tội và bên bào chữa Hơn nữa, nó còn là yếu tố rất quan trọng giúp bị cáo bảo vệ các quyền và lợi ích
Trang 28hợp pháp của mình; tin tưởng vào phán quyết của Tòa án; tự tin hơn khi tranh luận, tránh tình trạng bị cáo bị lấn át, áp chế, dẫn đến tự ti, mất tinh thần Có thể nói rằng nguyên tắc này “có ý nghĩa quan trọng không chỉ để bảo vệ lợi ích của bị can, bị cáo mà còn để nâng cao uy tín của việc xét xử, để tạo sự tin tưởng đối với việc xét xử của Tòa án” [17, tr.15]
* Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992 và mới đây
là tại khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 Nội dung cơ bản của nguyên tắc này theo quy định tại Điều 19 BLTTHS là sự xác lập sự bình đẳng giữa các bên buộc tội và bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Họ bình đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ để chứng minh sự thật vụ án và trong việc đưa ra các yêu cầu, đề nghị đối với Tòa án Hội đồng xét xử có nhiệm vụ lắng nghe ý kiến của các bên, xem xét, đánh giá chứng cứ do các bên đưa ra, giải quyết các yêu cầu, đề nghị chính đáng của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật “Đặc biệt, trong thủ tục tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải tại điều kiện cho các bên tham gia tranh tụng đưa chứng cứ, yêu cầu giúp Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.” [11, tr.32] Như vậy, nguyên tắc này đòi hỏi, trong xét xử và đặc biệt là trong tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải là trọng tài công minh giữa bên buộc tội và bào chữa Đối với việc đưa ra chứng cứ, Hội đồng xét xử phải có thái độ không phân biệt tư cách tham gia tố tụng của người đưa ra chứng cứ (là Kiểm sát viên, người bị hại hay bị cáo, người bào chữa ) Đối với việc đánh giá chứng cứ Hội đồng xét xử phải có thái độ khách quan, vô tư, phải đánh giá toàn diện, đầy đủ các chứng cứ mà các bên đưa ra để có phán quyết phù hợp nhất Thực hiện nguyên tắc này đã góp phần khắc phục tính hình thức, thiếu dân chủ, thiếu bình đẳng giữa các bên buộc tội
Trang 29và bào chữa trong quá trình tranh luận tại phiên tòa
Ngoài bốn nguyên tắc phân tích trên đây còn một số nguyên tắc khác cũng chi phối ở một mức độ nhất định đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa
Ví dụ, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
1.1.3 Chủ thể tranh luận tại phiên tòa
Bất cứ mô hình tố tụng hình sự nào trên thế giới đều có ba chức năng
cơ bản đó là buộc tội, bào chữa và xét xử Ở nước ta hiện nay, căn cứ vào các chức năng tố tụng có thể phân chia những người tham dự phiên tòa thành bốn nhóm chủ thể sau: các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội; các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa; các chủ thể thực hiện chức năng xét xử; các chủ thể tham gia tố tụng khác bao gồm: người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Các chủ thể tham gia tố tụng khác là những chủ thể không thực hiện một trong ba chức năng cơ bản của tố tụng đã nêu ở trên Tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa chỉ gồm:
- Các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, gọi là bên buộc tội (Kiểm sát viên, Người bị hại, Nguyên đơn dân sự; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và Người đại diện hợp pháp của họ)
- Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa, gọi là bên bào chữa (Bị cáo, Người bào chữa, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và Người đại diện hợp pháp của họ)
- Các chủ thể thực hiện chức năng xét xử (Hội đồng xét xử, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm)
Ba nhóm chủ thể này thực hiện tương ứng các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử Trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa được thực hiện một cách đầy đủ chức năng buộc tội
và bào chữa Còn chức năng xét xử thì được cấu thành bởi hai phần đó là làm
Trang 30trọng tài giữa các bên tranh tụng và đưa ra phán quyết về vụ án thì trong phần tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử mới chỉ thực hiện được một phần (làm trọng tài giữa các bên tranh tụng) Phần còn lại của chức năng xét xử (ra phán quyết về vụ án) được Hội đồng xét xử thực hiện khi nghị án
1.1.3.1 Bên buộc tội
Như đã phân tích trên đây, các chủ thể thuộc bên buộc tội bao gồm: Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trong các chủ thể này, Kiểm sát viên là chủ thể chính trong việc thực hiện chức năng buộc tội Tranh luận cũng được coi là “giai đoạn làm việc vất vả nhất của Kiểm sát viên tại phiên tòa” [6, tr.263] Kiểm sát viên thay mặt nhà nước thực hành quyền công tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa Có thể nói, việc tranh luận và đối đáp ý kiến của những người tham gia tố tụng không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của Kiểm sát viên
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, sau khi nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên phải chuẩn bị dự thảo bản luận tội trước phiên tòa Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi đọc quyết định truy tố (cáo trạng) và tham gia xét hỏi thì Kiểm sát viên phải chỉnh sửa lại bản luận tội cho phù hợp với diễn biến tại phiên tòa
Ví dụ, vụ án Nguyễn Đức Hà và Phạm Văn Khanh phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy (Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm (tỉnh Hưng Yên) xét
xử tháng 02/2015), quá trình điều tra và truy tố, Nguyễn Đức Hà và Phạm Văn Khanh đều không nhận tội và có thái độ bất hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, trong bản luận tội, Kiểm sát viên đã dự thảo như sau:
“Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, trước những bằng chứng không thể chối cãi được nhưng các bị cáo đã không thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình thể hiện sự quanh co, chối tội và thái độ không ăn
Trang 31năn, hối cải Nhưng những lời khai của các bị cáo là không phù hợp với các chứng cứ và các tình tiết khách quan của vụ án và còn nhiều mẫu thuẫn mà các
bị cáo không giải thích được Do đó, hoàn toàn có đủ căn cứ để khẳng định ”
Tuy nhiên diễn biến tại phiên tòa, các bị cáo này lại thành khẩn khai nhận hành
vi phạm tội của mình và phù hợp lời khai những người làm chứng, người liên quan và các chứng cứ khác Vì vậy, Kiểm sát viên đã chỉnh sửa lại bản luận tội
như sau: “Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo chưa thành khẩn khai báo nhưng tại phiên tòa hôm nay, trước những bằng chứng không thể chối cãi, các
bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình Đồng thời, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác Do vậy, có căn cứ khẳng định ” [21, tr.275-277]
Trong khi tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên không chỉ phải trình bày luận tội mà còn phải đưa ra những chứng cứ, lập luận để bác bỏ những ý kiến không có căn cứ của những người tham gia tranh luận khác Để thực hiện việc đối đáp tại phiên tòa được tốt, Kiểm sát viên phải chuẩn bị kế hoạch đối đáp một cách cẩn thận, chu đáo Kế hoạch đối đáp phải dự liệu được tương đối chính xác các tình huống xảy ra tại phiên tòa về các ý kiến của bên bào chữa đối với bản luận tội để đối đáp từng vấn đề rõ ràng, chặt chẽ, thuyết phục, khách quan, tránh suy diễn, mất bình tĩnh hoặc sử dụng ngôn ngữ không phù hợp Muốn vậy, Kiểm sát viên không những phải nắm chắc hồ sơ, chứng cứ mà còn phải quan tâm đến
dư luận về vụ án Có như vậy Kiểm sát viên mới có thể bình tĩnh xử lý các tình huống tại phiên tòa một cách chủ động Một điều cần chú ý: “Khi tranh luận ý
kiến của Kiểm sát viên phải là ý kiến cuối cùng” [6, tr.280]
Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, Điều 40 Quy chế thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự quy định: “Trước khi tham gia phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên phải viết bản dự thảo quan
Trang 32điểm của Viện kiểm sát về tính hợp pháp, tính có căn cứ của kháng cáo, kháng nghị; phân tích làm sáng tỏ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với những vi phạm pháp luật của bản án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo đã được phát hiện qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án
Đề xuất quan điểm giải quyết đối với bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo đúng quy định của pháp luật.” Tại phiên tòa, Kiểm sát viên
phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án Tranh luận tại phiên toà phúc thẩm rất đa dạng, có trường hợp phải bảo vệ cáo trạng, có trường hợp thì bảo vệ quyết định kháng nghị hoặc quan điểm về đường lối xử
lý Hầu hết các vụ án phúc thẩm có kháng cáo, kháng nghị, Kiểm sát viên đã được nghiên cứu hồ sơ, đề xuất Lãnh đạo Viện kiểm sát duyệt quan điểm Song tại phiên toà nếu có tình tiết mới làm thay đổi quan điểm giải quyết vụ
án, mà không có điều kiện báo cáo lại, thì Kiểm sát viên quyết định cho phù hợp với thực tế khách quan của vụ án và phải chịu trách nhiệm về quyết định
đó, sau phiên toà phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện kiểm sát
Ở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm khi phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên tập trung phân tích về tính hợp pháp và có căn cứ của bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật nhưng
bị kháng nghị Qua đây có thể thấy, Kiểm sát viên đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình tranh luận tại các phiên tòa
Đối với hoạt động tranh luận của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện hợp pháp của họ và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ: Theo quy định của BLTTHS thì hoạt động tranh tụng của người bị hại
và nguyên đơn dân sự là đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 51, Điều 52 và Điều 217); trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình, đáp lại ý kiến của
Trang 33người khác (Điều 218) Người bị hại có quyền trình bày lời buộc tội trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 51 BLTTHS) Trong trường hợp người bị hại, nguyên đơn dân sự là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thầm thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền trình bày ý kiến Thực tiễn cho thấy do hạn chế hiểu biết pháp luật và không có kỹ năng, kinh nghiệm nên việc tranh luận, đối đáp của các chủ thể này tại phiên tòa có nhiều hạn chế, trừ trường hợp người bảo vệ quyền lợi của họ là Luật sư
1.1.3.2 Bên bào chữa
Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa tại phiên tòa hình sự gồm có: bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ So với các chủ thể khác thuộc bên bào chữa, thì bị can, bị cáo luôn là chủ thể giữ vị trí trung tâm và cũng là chủ thể có địa vị pháp lý bất lợi nhất Vì vậy, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể này, pháp luật đã dành cho bị can, bị cáo rất nhiều quyền trong quá trình tố tụng hình sự nói chung và
ở tại phiên tòa hình sự nói riêng Theo quy định tại Điều 11 BLTTHS, thì bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa theo quy định của pháp luật Trường hợp bị cáo bị truy
tố về tội có khung hình phạt tử hình; bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc cơ quan tiến hành
tố tụng phải yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho bị can, bị cáo (khoản 2 Điều 57 BLTTHS)
Trong phần tranh luận tại phiên tòa hình sự bị cáo có quyền trình bày lời bào chữa Nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo
và bị cáo có quyền bào chữa bổ sung Thực tiễn cho thấy khả năng tự bào chữa
Trang 34của bị cáo tại phiên tòa có nhiều hạn chế do đa số họ là người dân bình thường, khả năng nhận thức xã hội cũng như hiểu biết pháp luật còn hạn chế, điều kiện kinh tế khó khăn, tâm lý căng thẳng… Vì vậy, sự giúp đỡ của người có trình độ chuyên môn và nắm vững pháp luật là một bảo đảm quan trọng để bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa của mình tại phiên tòa hình sự nói chung và ở phần tranh luận nói riêng
Người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của bị cáo; Bào chữa viên nhân dân (khoản 1 Điều 56 BLTTHS) Người bào chữa có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 BLTTHS Vai trò của người bào chữa đặc biệt là Luật sư trong tố tụng hình sự nói chung và tại phiên tòa nói riêng rất quan trọng, đặc biệt là ở phần tranh luận Tại đây người bào chữa chứng minh về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa Khi tranh luận với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác, người bào chữa đưa ra
lý lẽ phân tích, đánh giá tính hợp pháp và độ tin cậy của các chứng cứ, tài liệu
đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa để làm cơ sở cho các lập luận của mình và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của mình về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, về tội danh, điều, khoản của Bộ luật hình sự và hình phạt áp dụng…, bác bỏ quan điểm của Kiểm sát viên và của các chủ thể khác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ
án Trường hợp bị cáo có nhiều người bào chữa thì một người trong số họ trình bày lời bào chữa và những người khác bào chữa bổ sung Để tranh luận tốt tại phiên tòa, cũng giống như Kiểm sát viên, người bào chữa đặc biệt là Luật sư phải chuẩn bị bài bào chữa Bài bào chữa là văn bản viết trong đó nêu quan điểm của người bào chữa về vụ án, về hoạt động tố tụng mà các cơ quan
và người tiến hành tố tụng đã tiến hành, về quan điểm truy tố của Viện kiểm
Trang 35sát đối với thân chủ là bị cáo trong vụ án, về tội danh, về khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời đưa ra những căn cứ để bác bỏ toàn bộ việc truy tố của Viện kiểm sát, hoặc để thay đổi sang tội danh khác có trách nhiệm hình sự và hình phạt nhẹ hơn, để bị cáo không phải chịu tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Bài bào chữa có thể được viết hoàn chỉnh hoặc có thể viết theo dạng dàn ý Căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Người bào chữa phải chỉnh sửa bài bào chữa cho phù hợp Người bào chữa tại phiên tòa phải trình lời bào chữa chứ không phải đọc nguyên văn bài bào chữa sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội Ngoài ra, sự tham gia của người bào chữa, đặc biệt là Luật sư tại phiên tòa còn bảo đảm tính dân chủ, sự bình đẳng giữa các bên tranh tụng cũng như để mọi hành vi tố tụng được thực hiện tuân thủ theo quy định của pháp luật
Ngoài bị cáo, người bào chữa, các chủ thể khác thuộc bên bào chữa (bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ) cũng có quyền tranh luận với Kiểm sát viên và các chủ thể khác
về các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình Tuy nhiên vai trò của họ trong việc thực hiện chức năng bào chữa nói chung và tranh luận tại phiên tòa hình sự nói riêng rất hạn chế, trừ trường hợp người bảo vệ quyền lợi của họ là Luật sư
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm việc tranh luận giữa Kiểm sát viên và người bào chữa rất hạn chế vì người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chỉ được triệu tập tham gia phiên tòa trong rất ít trường hợp Trường hợp có mặt thì người bào chữa được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu (khoản 2 Điều 282)
1.1.3.3 Hội đồng xét xử
Chức năng xét xử chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là Tòa án Trên thế giới hiện nay tồn tại ba kiểu mô hình tố tụng, đó là: mô hình tố tụng tranh
Trang 36tụng, mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng pha trộn Tùy thuộc mô hình tố tụng mà vai trò của Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử được các quốc gia xác định không giống nhau Tại Việt Nam, mô hình tố tụng hiện nay vẫn mang nặng tính thẩm vấn, tuy nhiên, chúng ta đã đan xen những yếu tố hợp lý của tranh tụng vào tố tụng hình sự Về vai trò của Hội đồng xét
xử tại phiên tòa hình sự, Tòa án nhân dân tối cao đã kết luận tại Công văn số
290 ngày 05/11/2002 như sau: “ Chủ tọa phiên tòa chỉ hỏi có tính chất nêu vấn đề, còn lại những câu hỏi có tính chất buộc tội hay gỡ tội dành cho Kiểm sát viên và người bào chữa Hội đồng xét xử không được khẳng định hay phủ định bất cứ vấn đề nào mà Kiểm sát viên hay người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nêu ra Các bên tranh luận có quyền đưa ra yêu cầu và
đề nghị bên kia giải thích vấn đề chưa rõ ”
Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng trao chức năng xét xử cho chủ thể duy nhất là Tòa án và chức năng này được thực hiện thông qua hoạt động của Hội đồng xét xử Trong số các thành viên của Hội đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm thì chỉ có Chủ tọa phiên tòa mới tham gia vào quá trình tranh luận Vai trò của Chủ tọa phiên tòa thực sự là người trọng tài điều khiển để hướng hoạt động tranh luận, đối đáp của các bên (đưa ra chứng cứ, quan điểm, lập luận và đề nghị của mình) tập trung vào các vấn đề cần giải quyết trong vụ án Chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ điều khiển quá trình tranh luận, đối đáp theo đúng trình tự pháp luật quy định và theo dõi chặt chẽ quá trình này để kịp thời yêu cầu Kiểm sát viên, người bào chữa,… đáp lại ý kiến của các chủ thể khác, nếu nó chưa được đề cập hoặc đề cập nhưng chưa đầy đủ khi tranh luận Ngoài ra, Chủ tọa phiên tòa còn phải ghi chép đầy đủ nội dung ý kiến của các chủ thể tham gia tranh luận, không được hạn chế thời gian tranh luận của các bên nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến việc giải quyết vụ án
Các thành viên khác của Hội đồng xét xử không tham gia vào quá
Trang 37trình này; không được thể hiện quan điểm của mình về bất cứ vấn đề gì thuộc các nội dung cần giải quyết trong vụ án mà chỉ có nhiệm vụ theo dõi, ghi chép ý kiến của các bên về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án; phát hiện và đề xuất kịp thời với Chủ tọa phiên tòa những vấn đề các bên bỏ sót không tranh luận, đối đáp
1.2 Thực trạng tranh luận tại phiên tòa hình sự
Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số liệu án xét xử sơ thẩm ở cấp huyện và cấp tỉnh; án xét xử phúc thẩm ở cấp tỉnh và 03 viện phúc thẩm trong thời điểm 3 năm từ 2011 đến 2013 trên toàn quốc
Số liệu án xét xử sơ thẩm ở cấp tỉnh và cấp huyện trên toàn quốc trong
ba năm (2011-2013) (Xem Bảng 1.1 và Biểu đồ 1.1) cho thấy tỷ lệ số vụ, Tòa
án đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát chiếm tỷ lệ cao (khoảng 94% - 95%) Tuy nhiên số vụ có luật sư tham gia ít nên có thể nhận định rằng việc tham gia tranh luận của Kiểm sát viên không nhiều
Số liệu án xét xử phúc thẩm ở cấp tỉnh trên toàn quốc trong ba năm (2011-2013) (Xem Bảng 1.2 và Biểu đồ 1.2) Nhìn chung số vụ xét xử quan điểm của Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận đạt tỷ lệ cao Số vụ
án xét xử có Luật sư bào chữa trung bình mỗi năm chiếm xấp xỉ 21% tăng nhiều hơn ở năm 2013
Số liệu án xét xử phúc thẩm ở 03 Viện phúc thẩm trong 03 năm 2013) (Xem bảng 1.3 và Biểu đồ 1.3), có thể thấy rằng, các vụ án xét xử phúc thẩm có Luật sư tham gia trên tổng số các vụ án xét xử ở 03 Viện phúc thẩm chiếm tỷ lệ tương đối cao và có xu hướng tăng qua các năm, thể hiện qua Biểu đồ 1.3
(2011-1.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân
Các Kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm chắc nội dung
vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết
Trang 38tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc trách nhiệm dân sự trong vụ án; đã xây dựng dự thảo luận tội một cách chu đáo và dự kiến được những vấn đề phát sinh tại tòa, để xây dựng phương
án tranh luận, đối đáp Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã chủ động tham gia xét hỏi bị cáo, người bị hại, người làm chứng để kiểm tra các chứng cứ đã được xác lập trong quá trình điều tra Kiểm sát viên đã tập trung theo dõi ghi chép diễn biến tại phiên tòa để chỉnh sửa nội dung dự thảo luận tội, bài phát biểu cho phù hợp, hạn chế tình trạng nội dung luận tội, bài phát biểu rập khuôn như cáo trạng Việc đối đáp, tranh luận của kiểm sát viên được nâng lên rõ rệt, Kiểm sát viên đã chủ động tích cực hơn trong việc lập luận, đáp lại ý kiến của những người tham gia tố tụng, tranh luận vào từng nội dung cụ thể, có căn
cứ và tính thuyết phục cao Phân tích số liệu ở trên đây cũng cho thấy, số vụ
án Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát chiếm tỷ lệ rất cao trên tổng số các vụ án xét xử
Kiểm sát viên đã chú trọng để thể hiện tốt hơn, phong thái ứng xử có văn hóa, khi tham dự phiên tòa; có thái độ tranh luận khách quan, dân chủ tôn trọng ý kiến của người tham gia tố tụng, quá trình tranh luận Kiểm sát viên đã chú ý kết hợp các nội dung tuyên truyền giáo dục pháp luật
Đội ngũ Luật sư của nước ta không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến năm 2013 thì trên
cả nước có 62 Đoàn luật sư với hơn 6.250 Luật sư và hơn 3.000 người tập sự hành nghề luật sư đang hoạt động trong 2.750 tổ chức hành nghề luật sư Số lượng luật sư tham gia bào chữa trong các phiên tòa ngày càng cao ở các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm
Thực tiễn xét xử cho thấy nhìn chung các Luật sư đều đã nhận thức đúng vị trí, vai trò của mình tại phiên tòa, đã đưa ra được các lập luận thuyết phục để bảo
vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ Đại đa số các Luật sư đều có tinh thần trách
Trang 39nhiệm cao, đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng hành nghề ngày càng được chú trọng
Tại phần lớn các phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện tốt vai trò điều khiển quá trình tranh luận theo đúng trình tự, thủ tục luật định, đảm bảo
sự bình đẳng, dân chủ giữa các bên và sự khách quan, vô tư của quá trình giải quyết vụ án Các thành viên khác của Hội đồng xét xử đã có sự chú ý theo dõi, ghi chép ý kiến tranh luận của các bên, nhất là những ý kiến còn mâu thuẫn của Luật sư, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác Điều
đó đã giúp các bên buộc tội và bào chữa cảm thấy được Hội đồng xét xử tôn trọng và ghi nhận ý kiến của họ, giúp cho họ thoải mái, tự tin hơn khi tranh luận Do đó, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa nói chung và chất lượng tranh luận nói riêng từng bước được nâng cao, góp phần khắc phục biểu hiện hình thức, định kiến đối với bị cáo
1.2.2 Những tồn tại, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân
1.2.2.1 Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn tranh luận tại phiên tòa
* Đối với các chủ thể thuộc bên buộc tội
- Một số Kiểm sát viên không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án hoặc chỉ đọc bản
án sơ thẩm, kháng cáo, kháng nghị nên không phát hiện được những mâu thuẫn giữa các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, những vi phạm thủ tục tố tụng, bỏ sót nội dung nêu trong kháng cáo, kháng nghị, chuẩn bị không tốt dự thảo luận tội, kế hoạch tham gia xét hỏi, không dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa
và hướng xử lý nên bị động, lúng túng trong tranh luận, đối đáp
- Một số Kiểm sát viên chưa tích cực, chủ động tham gia vào việc xét hỏi; quá phụ thuộc vào cáo trạng và hồ sơ vụ án; không chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp lại ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; không chú ý theo dõi, ghi chép ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng Vì vậy, khi tranh luận, Kiểm sát viên chỉ phát biểu qua loa, tránh những vấn đề mà những người tham gia có quan điểm khác với
Trang 40Kiểm sát viên hoặc phát biểu chung chung “giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố”; các quan điểm và đề xuất của Kiểm sát viên không phù hợp
với các tình tiết khách quan của vụ án, thiếu căn cứ, không có sức thuyết phục nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận
- Trình độ chuyên môn và kỹ năng tranh tụng của một số không ít Kiểm sát viên còn hạn chế; không nắm chắc hoặc không cập nhật kịp thời, đầy đủ các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án nên khi tranh luận viện dẫn không chính xác thậm chí viện dẫn sai các quy định pháp luật cần áp dụng
hoặc chỉ đề xuất hướng chung chung “đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật”
- Ngoài Kiểm sát viên thì người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của họ cũng tham gia vào quá trình tranh luận Tuy nhiên, đa số trường hợp các chủ thể này rất hạn chế về hiểu biết pháp luật
và không có kỹ năng tranh luận trừ trường hợp người bảo vệ quyền lợi của đương sự là Luật sư Vì vậy, vai trò của họ trong tranh luận tại phiên tòa chỉ mang tính chất bổ sung, thứ yếu còn hoạt động tranh luận, đối đáp với các chủ thể của bên bào chữa chủ yếu do Kiểm sát viên thực hiện
* Đối với các chủ thể thuộc bên bào chữa
- Từ những số liệu đã nêu trong các bảng 1.1, 1.2, 1.3 (phần phụ lục) đã cho thấy, tỷ lệ các vụ án đã xét xử có Luật sư tham gia bào chữa có xu hướng tăng nhưng vẫn còn rất thấp, trong đó còn bao gồm nhiều trường hợp bắt buộc
cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Luật sư bào chữa theo quy định của pháp luật và tập trung chủ yếu ở các vụ án xét xử phúc thẩm tại 03 Viện phúc thẩm Như đã nêu trên, tính đến năm 2013 chỉ có khoảng 6.250 Luật sư hành nghề Tức là bình quân 1 Luật sư phải phục vụ hơn 14.000 dân; trong khi tỷ lệ này tại một số nước trong khu vực Châu Á như: Singapore là 1/1.000, Thái