1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

214 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật tố tụng hình sự, đề tài nghiên cứu đề ra những kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung một số điều của BL

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Những vấn đề chung về hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc

tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

8

2 Thực trạng thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của

công dân trong tố tụng hình sự và nguyên nhân về pháp luật của thực trạng này

21

3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc

tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

2 Pháp luật quốc tế về quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự 70

3 Các quyền cơ bản hiến định của công dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự 84

4 Một số tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và

pháp luật tố tụng hình sự

97

5 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm

quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân trước pháp luật

113

6 Hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm

về thân thể của công dân

126

7 Bảo đảm quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

tài sản của công dân trong tố tụng hình sự

144

8 Hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm quyền không bị coi là có tội và phải

chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp

10 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm

quyền khiếu nại, tố cáo của công dân

186

Trang 4

NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Chủ nhiệm đề tài: TS Phan Thị Thanh Mai - Phó Chủ nhiệm Khoa Pháp luật

hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 5 và chuyên đề 10)

Thư ký đề tài: Ths Nguyễn Hải Ninh - Giảng viên Bộ môn Luật tố tụng hình sự,

Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 7)

Những người tham gia thực hiện:

1 TS Bùi Kiên Điện - Phó Chủ nhiệm Khoa Pháp luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 9)

2 Ths Mai Thanh Hiếu - Phó Bộ môn Luật tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 8)

3 TS Tô Văn Hòa - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu pháp luật về bộ máy nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 3)

4 PGS TS Nguyễn Thị Hồi - Trưởng Bộ môn Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 4)

5 Ths Chu Mạnh Hùng - Phó Bộ môn Công pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 2)

6 TS Vũ Gia Lâm - Trưởng Bộ môn Luật tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 6)

7 TS Đỗ Thị Phượng - Giảng viên Bộ môn Luật tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên đề 1)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là giá trị chung của các dân tộc, là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại Mỗi dân tộc, bằng hình thức này hay hình thức khác, trong thời kỳ lịch sử này hay thời kỳ lịch sử khác, đều có những đóng góp vào giá trị đó Hiện nay, quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia coi trọng

và xem đó như một thành tựu của nền văn minh và là thước đo của sự tiến bộ xã hội Vì vậy, nghiên cứu về quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xây dựng các cơ chế để đảm bảo quyền con người là đòi hỏi thiết yếu của các ngành khoa học, trong đó có khoa học luật, đặc biệt là khoa học luật tố tụng hình sự, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra

Quyền con người ngoài tính phổ cập còn mang tính cá biệt về dân tộc, khu vực, bối cảnh, chính trị, lịch sử, văn hóa và tôn giáo Vì vậy, hiện nay trên thế giới còn nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người Ở Việt Nam, quan điểm, nhận thức về quyền con người và đảm bảo quyền con người có sự chuyển biến theo từng thời kỳ lịch sử Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm thay đổi nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người Quan điểm về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hoá dân tộc và xem xét, chọn lọc những tiêu chuẩn về quyền con người được

thế giới thừa nhận rộng rãi Chỉ thị 12- CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban bí thư Trung ương Đảng về “Vấn đề quyền con người và quan điểm của Đảng ta” đã chỉ rõ

“Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, từng bước thể chế hoá nội dung các quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta và với tiêu chuẩn

tiến bộ về quyền con người đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi” Điều 50 Hiến pháp

năm 1992 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) cũng quy định “tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của

Trang 6

công dân” là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy vẫn còn tình trạng có lúc, có nơi quyền cơ bản của công dân còn chưa thực sự được tôn trọng và đảm bảo thực hiện Có nhiều nguyên nhân chủ quan

và khách quan dẫn đến tình trạng này, trong đó có nguyên nhân một số quy định của BLTTHS còn bất cập, chưa tạo được cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, hợp lý để đảm bảo quyền cơ bản của công dân, đòi hỏi phải được hoàn thiện hơn Những nghiên cứu hoàn thiện BLTTHS nhằm đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự dù đã có nhưng còn chưa toàn diện hoặc chưa sâu, đòi hỏi cần

có sự nghiên cứu sâu rộng hơn nữa

Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh hơn công cuộc cải cách tư pháp,

Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các nghị quyết trên

đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng, đồng thời tăng cường hơn nữa việc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Về lĩnh vực lập pháp, Nghị quyết

48 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 đã xác định mục tiêu “xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm, đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”

Qua những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu đề tài Hoàn

thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là vấn đề khoa học có tính chất cấp

thiết cả về lý luận và thực tiễn

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu

Những nghiên cứu về quyền con người và quyền công dân trong tố tụng hình

sự đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở các cấp độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau Những nghiên cứu chung về quyền con người và quyền công dân có thể kể đến các tác phẩm như “Quyền con người - quan điểm và chính sách của Đảng ta”, Trần Minh Tơn, Tạp chí Cộng sản, 5/2007; “Quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Chế Đình Quang, Tạp chí Cộng sản, 9/2003; “Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

và “Bàn về quyền con người, quyền công dân”, GS.TS Trần Ngọc Đường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; “Quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Văn Động, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005;

“Cải cách tư pháp với việc bảo đảm sự tôn trọng và bảo vệ quyền công dân”, PGS.TS Phạm Hữu Nghị, Nhà nước và pháp luật, 9/2004; “Hiến pháp Việt Nam về quyền con người, quyền công dân”, GS.TS Nguyễn Văn Hảo, Luật học, 2/1999 Trong các tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu quan điểm của Đảng và tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân; nghiên cứu về khái niệm về quyền con người, quyền công dân; phân tích, đánh giá những quy định của Hiến pháp Việt Nam về quyền con người, quyền công dân; nghiên cứu các cơ chế đảm bảo quyền con người, quyền công dân, trong đó có cơ chế đảm bảo bằng pháp luật Cuốn sách “Quyền con người, tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009 do GS.TS

Võ Khánh Vinh chủ biên đã nghiên cứu các hướng tiếp cận nghiên cứu quyền con người của các ngành khoa học xã hội có đối tượng nghiên cứu chính hoặc có một số vấn đề liên quan đến quyền con người trong đó có ngành khoa học luật

Việc nghiên cứu trực tiếp về vấn đề quyền con người, quyền công dân trong

tố tụng hình sự có thể kể đến một số tác phẩm như “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự”, TS Trần Quang Tiệp, Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; “Quyền con người trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003”, tác giả Lê Quang Đạo, Tạp chí Kiểm sát, 8/2004; “Mấy ý kiến về bảo vệ quyền con

Trang 8

người trong tố tụng hình sự nước ta”, PGS.TS Phạm Hồng Hải, Nhà nước và pháp luật, 3/2003 Trong đó, các tác giả chủ yếu phân tích, đánh giá tổng quát về việc bảo

vệ quyền con người được thể hiện trong các quy định của BLTTHS năm 2003 Những nghiên cứu khác về quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự như “Tòa án nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ quyền của con người, quyền công dân”,

TS Đặng Quang Phương, Nhà nước và pháp luật, 9/2004; “Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo”, Hoàng Hùng Hải, Nhà nước và pháp luật, 2/2003… chỉ nghiên cứu từng nội dung hẹp, cụ thể của việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự Có những nghiên cứu chuyên sâu

về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự như đề tài cấp Đại học quốc gia Hà Nội, “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự”, năm 2004 do GS TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Trí; TS Trịnh Quốc Toản chủ trì; hội thảo khoa học “Thực tiễn đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình

sự Việt Nam” tổ chức tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp bộ do TS Nguyễn Thái Phúc chủ nhiệm đề tài; luận án tiến sĩ “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự”, TS Nguyễn Quang Hiền bảo vệ cấp nhà nước năm 2008 Phạm vi nghiên cứu của các công trình này rộng hơn so với phạm vi đề tài chúng tôi nghiên cứu, tuy nhiên cũng có những vấn

đề các tác giả chưa đề cập hoặc cũng còn có những quan điểm, những ý kiến cần tranh luận thêm Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu sâu, toàn diện về việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS nhằm đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quyền con người, về vấn đề cải cách tư pháp và về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu

Chúng tôi chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với nội dung nghiên cứu đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,

Trang 9

phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn khi nghiên cứu đề tài này

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật tố tụng hình sự, đề tài nghiên cứu đề ra những kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS nhằm đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những bất cập trong các quy định

của BLTTHS liên quan đến quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự, đề ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS

- Về nguồn pháp luật: Đề tài tập trung nghiên cứu nhóm nguyên tắc tôn trọng

và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân và các quy định khác có liên quan trong BLTTHS năm 2003; nghiên cứu quy định của Hiến pháp Việt Nam về quyền cơ bản của công dân và một số công ước quốc tế quan trọng về quyền con người

- Về không gian, thời gian: Thực tiễn thi hành một số quy định của BLTTHS được nghiên cứu trên phạm vi cả nước trong thời gian từ khi áp dụng BLTTHS đến nay Tuy nhiên, do đề tài tập trung vào nội dung hoàn thiện pháp luật nên phần nghiên cứu về thực tiễn chủ yếu chỉ để làm rõ, chứng minh cho những lập luận về hoàn thiện một số điều luật cụ thể của BLTTHS, vì vậy đây không phải là một nội dung được nghiên cứu một cách toàn diện mà chỉ phản ánh một vài khía cạnh của việc đảm bảo quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự (đề tài sử dụng báo cáo công các ngành Tòa án, Viện kiểm sát; số liệu thống kê của TANDTC, VKSNDTC và những thông tin về thực tiễn tố tụng trong các báo cáo công tác ngành Tòa án, Viện kiểm sát và các nguồn thông tin khác)

6 Nội dung nghiên cứu

- Nhận thức khái niệm quyền công dân và quyền con người làm cơ sở cho việc nhận thức đúng nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, do đề tài tập trung nghiên cứu hoàn thiện luật tố tụng hình sự

Trang 10

nên chúng tôi không đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền công dân mà chỉ nhận thức một cách đại cương về vấn đề này

- Nghiên cứu những quy định của các Điều ước quốc tế phổ cập về quyền con người mà đa số các quốc gia trong đó có Việt Nam gia nhập và cam kết thực hiện Việc nghiên cứu này giúp cho việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS có

sự định hướng nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế

- Nghiên cứu các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam nhằm đảm bảo cho việc định hướng để đảm bảo sự thống nhất giữa luật tố tụng hình sự với Hiến pháp

- Nghiên cứu về nội dung của nguyên tắc ‘tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” trong tố tụng hình sự và ý nghĩa của nguyên tắc trong việc xây dựng và thi hành pháp luật tố tụng hình sự, định hướng cho các kiến nghị sửa đổi,

bổ sung các quy định của BLTTHS

- Nghiên cứu về các tiêu chí cơ bản hoàn thiện BLTTHS dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, định hướng cho việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định của BLTTHS

- Nghiên cứu các quy định của BLTTHS, xác định những bất cập, vướng mắc của các quy định này dẫn đến việc chưa thực sự bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện BLTTHS theo hướng đảm bảo tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân, đồng thời đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm

7 Cơ cấu đề tài

Mở đầu

Tổng thuật kết quả nghiên cứu

1 Những vấn đề chung về hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

2 Thực trạng thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự và nguyên nhân về pháp luật của thực trạng

3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

Trang 11

Các chuyên đề

1 Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân - Nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

2 Pháp luật quốc tế về quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

3 Các quyền cơ bản hiến định của công dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự

4 Một số tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và pháp luật tố tụng hình sự

5 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân trước pháp luật

6 Hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về

thân thể của công dân

7 Bảo đảm quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân trong tố tụng hình sự

8 Hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật

9 Bồi thường thiệt hại vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan trong

Trang 12

TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOÀN THIỆN BLTTHS NHẰM BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

1.1 Một số nhận thức cơ bản về quyền con người và quyền công dân

Quyền con người là đặc tính tự nhiên vốn có, xuất hiện cùng với sự hình thành của con người và xã hội loài người Tuy nhiên quyền con người chỉ được đề cập tới khi xã hội phân chia thành giai cấp Xã hội cộng sản nguyên thuỷ với đặc trưng là không có sự phân biệt đối xử vì vậy tất cả các thành viên trong xã hội đều bình đẳng Đặc trưng này phản ánh yếu tố tự nhiên vốn có của con người đó là sự bình đẳng giữa người với người Khi xã hội phân chia thành giai cấp, con người được đưa về những vị trí khác nhau trong xã hội: chủ nô và nô lệ; thống trị và bị trị…dù rằng đều là con người Điều này đã phá vỡ bản chất tự nhiên vốn có của con người đó là sự bình đẳng và quyền con người bắt đầu được nhắc đến như một đòi hỏi tất yếu khách quan Thời kỳ chiếm hữu nô lệ và thời kỳ phong kiến, mặc dù con người bị trà đạp một cách thô bạo nhưng quyền con người mới chỉ được đề cập đến trong triết học, chính trị hoặc tôn giáo Khi cách mạng tư sản nổ ra ở châu Âu và nhà nước tư sản thành lập thì lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại quyền con người

đã được ghi nhận trong pháp luật của các nhà nước tư sản Tuyên ngôn của Hợp Chủng quốc Hoa kỳ năm 1776 khẳng định “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy

có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn nhân quyền

và dân quyền của Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 cũng khẳng định “tất cả mọi người đều bình đẳng và luôn luôn bình đẳng về quyền lợi”

Xét ở phương diện nhân văn việc ghi nhận những giá trị của quyền con người trong pháp luật là đóng góp cho tiến trình phát triển của nhân loại và cùng với lịch sử, quyền con người dần dần được ghi nhận và trở thành một nội dung quan trọng của pháp luật quốc tế cũng như luật quốc gia Tóm lại, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi nhận

và bảo vệ trong pháp luật quốc tế và quốc gia

Quyền con người có những tính chất sau:

Trang 13

- Tính phổ biến: Quyền con người đó là những gì bẩm sinh, vốn có của con người được áp dụng bình đẳng cho mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không

có sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do gì

- Tính không thể chuyển nhượng: Quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả cơ quan và viên chức nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biệt (ví dụ, người có tội bị tước tự do)

- Tính không thể phân chia: Các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, không có quyền nào có giá trị hơn quyền nào Việc hạn chế hay tước bỏ bất

kỳ quyền nào cũ đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Trong bối cảnh cụ thể, đối tượng cụ thể sự ưu tiên đối với những quyền

bị đe dọa vi phạm sẽ nhiều hơn quyền khác

- Tính liên hệ và phụ thuộc: Quyền con người liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau Việc bảo đảm hay vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đảm bảo các quyền khác.1

Xét trên phương diện khoa học pháp lý, căn cứ vào bản chất và đặc điểm, quyền con người được chia thành hai nhóm: quyền dân sự - chính trị; quyền kinh tế

- xã hội và văn hóa Xét về mặt lịch sử quyền dân sự - chính trị là những nhân tố đầu tiên tạo nên nội dung quyền con người Vì vậy, lịch sử của quyền dân sự - chính trị gắn liền với lịch sử phát triển của quyền con người Quyền dân sự - chính trị liên quan mật thiết đến tự do cá nhân, bao gồm:

- Quyền dân sự: quyền tự do đi lại và cư trú, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, quyền thừa kế, sở hữu…Đây là những quyền đặc biệt quan trọng bởi nó gắn chặt với mỗi cá nhân không thể bị tước đoạt trong bất kỳ trường hợp nào

- Quyền chính trị: gồm các quyền đảm bảo quá trình tham gia và quản lý nhà nước, xã hội như quyền bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp v.v…

Căn cứ vào tính chất, nội dung của các quyền dân sự chính trị được nhìn nhận từ hai góc độ khác nhau đó là quyền tuyệt đối và quyền tương đối2 Quyền

1

Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên,

Giáo trình Lý luận và phát triển về quyền con người NXB Chính trị quốc gia, 2009, tr 46 – 48

Trang 14

tuyệt đối là những quyền có mối quan hệ mật thiết đến tình trạng cuộc sống cá nhân, đến nhân phẩm, thể chất con người mà không có những quyền này thì cuộc sống và tính mạng cá nhân khó có thể đảm bảo như quyền không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, nhục hình, quyền được bào chữa Vì vậy, nhà nước và các

cơ quan công quyền phải thi hành mà không kèm theo một điều kiện ràng buộc nào Quyền tương đối là những quyền mà việc thực thi cần thiết phải xem xét mối tương quan giữa những quyền đó trong việc đảm bảo tính hiệu quả của những quyền khác như quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo Vấn đề đặt ra là mức độ thực hiện nó như thế nào để thực sự đảm bảo quyền này nhưng không gây nên những tác động ngược chiều ảnh hưởng đến những quyền tự do khác Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi nhận

và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và quốc tế

Quyền công dân là các quyền con người được ghi nhận trong luật quốc gia, gắn liền với tư cách công dân (là người có quốc tịch của quốc gia đó) Khái niệm quyền cơ bản của công dân bắt nguồn từ khái niệm mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và công dân Bất

kỳ nhà nước nào muốn tồn tại và được công nhận đều phải xác lập chủ quyền của mình đối với một phạm vi dân cư và lãnh thổ nhất định Đối với một nhà nước hiện đại, khi xác định chủ quyền đối với phạm vi dân cư có nghĩa là xác định mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước

đó với người dân của mình Khi chủ quyền của nhà nước đối với người dân được xác lập thì cũng đồng thời xác lập mối quan hệ công dân Vì vậy người ta thường nói, quan hệ công dân chính là cơ sở pháp lý để hình thành mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và công dân Ở Việt Nam, nội dung của mối quan hệ này chính là việc nhà nước bảo đảm cho người công dân của mình được hưởng những quyền tối thiểu gì và người công dân phải thực hiện những nghĩa vụ tối thiểu gì đối với nhà nước Nói một cách khác, khi một người

đã trở thành công dân Việt Nam thì người công dân đó được Nhà nước Việt Nam cam kết bảo đảm có được những quyền tối thiểu nhất định, đó là những quyền cơ bản của công dân, và nhà nước Việt Nam cam kết về điều này bằng việc ghi nhận những quyền cơ bản của công dân Việt Nam trong Hiến pháp, đạo luật cơ bản của mình

2

Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, NXB Chính trị Quốc

gia, Hà Nội 1997, tr 28

Trang 15

Trong mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước Việt Nam và người công dân Việt Nam, quyền cơ bản của công dân tương ứng với nghĩa vụ của nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm cho những quyền đó được thực thi trên thực tế Điều này cũng có nghĩa là tất cả các

cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước, trong phạm vi chức năng của mình, có nghĩa vụ

và trách nhiệm bảo đảm cho những quyền đó được thực thi Mỗi khi một quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong hiến pháp thì tất cả các cơ quan nhà nước đều phải bảo đảm cho quyền đó được thực thi, không loại trừ bất kỳ một cơ quan nào Cơ quan lập pháp

có trách nhiệm ban hành luật để cụ thể hóa và tạo khung pháp lý thi hành quyền cơ bản đó;

cơ quan hành pháp có nghĩa vụ tôn trọng, không được vi phạm quyền đó; cơ quan tư pháp

có nghĩa vụ tôn trọng, không được vi phạm và bảo vệ những quyền đó khi chúng bị vi phạm Chính vì đặc điểm này mà tổng thể các quyền cơ bản (và cả nghĩa vụ cơ bản) của công dân tạo thành địa vị pháp lý của người công dân đối với nhà nước Qua tổng thể các quyền cơ bản của công dân, người ta có thể đánh giá được một nhà nước coi trọng địa vị pháp lý của người dân của mình đến mức độ nào

1.2 Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 BLTTHS)

1.2.1 Nội dung của nguyên tắc:

Điều 4 BLTTHS quy định: “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”

Theo quy định này, chủ thể có trách nhiệm phải “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” là những người tiến hành tố tụng Đó là những người đại diện cho nhà nước, có trách nhiệm giải quyết vụ án hình sự Cụ thể đó là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng

Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm Trách nhiệm này thể hiện ở

Trang 16

những nội dung sau:

- Phải có thái độ đánh giá cao và xác định ý thức không được xâm phạm đến các quyền cơ bản của công dân Để có được sự tôn trọng này, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có nhận thức đúng đắn về vấn đề quyền con người, quyền công dân, chống lại tư duy nặng về buộc tội, có định kiến với bị can, bị cáo Việc nhận thức đúng đắn là cơ sở cho việc hành động đúng, quyền cơ bản của công dân trong tố tụng có được bảo vệ hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc những người tiến hành tố tụng có thực sự tôn trọng các quyền

cơ bản của công dân hay không

- Phải có trách nhiệm chống lại mọi sự xâm phạm trái pháp luật các quyền cơ bản của công dân Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng có quyền tiến hành những hoạt động tố tụng và ra những quyết định tố tụng có tính chất bắt buộc đối với cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có liên quan Trong các hoạt động

và quyết định đó, có những hoạt động, quyết định sẽ động chạm đến các quyền tự do cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận đặc biệt là các quyết định về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng Tuy nhiên đấy là những quyền năng bắt buộc phải có của những người tiến hành tố tụng để các chủ thể này thực hiện được nhiệm vụ của mình, để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, ngăn chặn và xử lý hành vi có dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm Điều đó không có nghĩa, những người tiến hành tố tụng được phép lạm dụng quyền năng của mình mà khi thực hiện các quyền năng này họ phải có trách nhiệm trong việc tôn trọng các quyền cơ bản của công dân BLTTHS đã qui định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những qui định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình Nếu có hành vi phạm pháp luật, tùy mức độ vi phạm mà những người tiến hành tố tụng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm bồi thường hoặc bồi hoàn

Chủ thể được “tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân” đó là công dân Họ

có thể là người tham gia tố tụng hoặc những người khác có quyền cơ bản bị ảnh hưởng bởi hành vi tố tụng hoặc quyết định tố tụng Đó có thể là bị can, bị cáo, người bị tạm giữ,

Trang 17

nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cũng có thể là người làm chứng, người tố giác tội phạm, người chứng kiến hoặc là người bị thiệt hại vật chất do hoạt động tố tụng gây ra

Những quyền được tôn trọng và bảo vệ theo quy định tại Điều 4 BLTTHS đó là các quyền cơ bản của công dân Đó là các quyền tối thiểu nhất định mà người công dân được Nhà nước Việt Nam cam kết bằng việc ghi nhận trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện Đó là các quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín; quyền được bồi thường những thiệt hại do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền gây ra; quyền khiếu nại, tố cáo v.v

Nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” được quy định tại Điều 4 BLTTHS với nội dung như trên mang tính khái quát cao Nhiều nội dung cụ thể của nguyên tắc này được quy định thành các nguyên tắc khác trong BLTTHS Đó là các nguyên tắc: bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật (Điều 5); bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6); bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân (Điều 7); bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở,

an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8); không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9); bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (Điều 30); bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự…3

1.2.2 Ý nghĩa của nguyên tắc

- Ý nghĩa chính trị: Việc quy định “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công

dân” là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và áp dụng nguyên tắc này

3

Có nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Chúng tôi cho rằng do quyền công dân cũng giống như quyền con người luôn có tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau Việc bảo đảm hay vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đảm bảo hay vi phạm các quyền khác Vì vậy, quyền cơ bản nào của công dân cũng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các hoạt động và quyết định tố tụng Việc xác định những quyền nào là quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự là tùy thuộc vào cách tiếp cận và quan điểm của của từng tác giả Trong phạm vi đề tài, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu vấn đề này mà lựa chọn nghiên cứu một số quyền cơ bản của công dân được quy định trong Chương 5 Hiến pháp đồng thời được quy định trong BLTTHS

Trang 18

trong thực tiễn tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị Nguyên tắc này thể hiện quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước ta về vấn đề quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng Trong Chỉ thị 12/TW của Ban bí thư ngày 12/7/1992 Đảng đã chỉ đạo “Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, từng bước thể chế hóa nội dung các quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta và với tiêu chuẩn tiến bộ về quyền con người đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi” Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN đòi hỏi phải tiến hành cải cách tư pháp và vấn đề đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự được Đảng ta đặc biệt quan tâm Mục tiêu của cải cách tư pháp được Đảng xác định là “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”.4

Việc quy định và áp dụng nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải đảm bảo tôn trọng pháp luật, tạo được ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước, chống lại sự tùy tiện của những người có quyền Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân Việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền Một trong những dấu hiệu nổi bật của Nhà nước pháp quyền là tính hợp hiến và vấn đề tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước nhằm tạo sự đồng bộ, hiệu quả của quá trình sử dụng quyền lực nhà nước.5 Nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” đã thể hiện rõ nét và đáp ứng các nội dung của nhà nước pháp quyền Quan

hệ giữa những người tiến hành tố tụng với công dân trong tố tụng hình sự thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước với công dân Nhà nước trao quyền cho những người tiến hành tố

Trang 19

tụng thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Những người này có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp

và BLTTHS Việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền công dân phải tuân thủ pháp luật

và không được lạm quyền

- Ý nghĩa xã hội: Việc quy định và áp dụng nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” đảm bảo việc thực hiện công bằng, dân chủ trong tố tụng tố tụng hình sự, qua đó đảm bảo công bằng trong xã hội Việc quy định những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự còn đảm bảo lòng tin của người dân vào cơ quan tiến hành tố tụng, vào pháp luật và nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội

- Ý nghĩa pháp lý: Nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” là căn cứ pháp lý để từ đó quy định các nguyên tắc cụ thể bảo đảm các quyền cơ bản của công dân Nguyên tắc này cũng là định hướng cơ bản, quan trọng cho việc xây dựng các quy định khác trong BLTTHS và định hướng cho việc áp dụng pháp luật tố tụng hình

sự Nguyên tắc này là căn cứ pháp lý để công dân được hưởng các quyền cơ bản trong tố tụng hình sự đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xác định trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

1.3 Sự cần thiết và yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

1.3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

BLTTHS năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa 11 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 (BLTTHS năm 2003) BLTTHS năm 2003 đã thể hiện bước tiến bộ quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật, tạo khuôn khổ pháp luật ngày càng hoàn chỉnh trong lĩnh vực tố tụng hình sự Bộ luật này

đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,

Trang 20

bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật

tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân

Hiện nay, công cuộc cải cách tư pháp đang được Đảng và nhà nước ta tích cực thực thiện và là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Trong thời gian qua, Đảng ta đã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết này chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự đòi hỏi phải được nghiên cứu và thể chế hóa thành những quy định trong BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vụ án hình sự Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng xác định rõ: nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ; việc phải tiến hành xây dựng hoàn thiện pháp luật Việt Nam là đòi hỏi cấp bách BLTTHS năm 2003 cũng có những hạn chế chung như trên và có những hạn chế riêng khác, đặc biệt

là còn nhiều hạn chế trong việc tạo cơ chế pháp lý thực hiện các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Vì vậy rất cần hoàn thiện BLTTHS để đáp ứng những yêu cầu cải cách tư pháp và những đòi hỏi của thực tiễn tố tụng Mặt khác, trong thời gian qua, nhiều văn bản pháp luật mới được ban hành với những nội dung liên quan đến tố tụng hình

sự như Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009; Luật Thi hành án năm 2010; Luật Đặc xá năm 2007; Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 v.v, đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung BLTTHS để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và nhằm thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ của tố tụng hình sự, trong đó

có nhiệm vụ quan trọng là bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân trong

tố tụng hình sự

1.3.2 Yêu cầu của việc hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng

và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân

Việc hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân phải đảm bảo yêu cầu về tính khoa học và phải “thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về xây dựng

Trang 21

nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”6

Việc hoàn thiện BLTTHS phải đáp ứng được ngày càng tốt hơn yêu cầu của những tiêu chí mà một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đòi hỏi Đó là phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng xác định rõ mục tiêu “xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân”

Tính toàn diện của hệ thống pháp luật : Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở khả năng bao quát đời sống xã hội của nó, bảo đảm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật đều có pháp luật để điều chỉnh Đối với BLTTHS, tính toàn diện được thể hiện ở chỗ nội dung phải có đầy đủ các chế định pháp luật và các quy phạm pháp luật cần thiết để điều chỉnh các quan

hệ xã hội trong những lĩnh vực giải quyết vụ án hình sự

Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật: Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật

thể hiện ở chỗ các quy định của pháp luật phải thống nhất với nhau, không mâu thuẫn, trùng lặp chồng chéo hoặc loại bỏ lẫn nhau Điều đó thể hiện ở sự phù hợp giữa các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác với Hiến pháp, ở sự thống nhất giữa các quy định trong các đạo luật với nhau, giữa các quy định trong các văn bản quy phạm của các cấp cơ quan nhà nước và giữa các quy định trong văn bản quy phạm của các cơ quan trong cùng một cấp Ở Việt Nam, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tính đồng bộ của pháp luật đòi hỏi hỏi các quy định trong BLTTHS phải thống nhất, không mâu thuẫn với các quy định của Hiến pháp và các đạo luật hiện hành khác, đặc biệt là với Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự; Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ; các quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật phải thống nhất, không mâu thuẫn với quy định trong luật; các quy

6

Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

Trang 22

định trong bản thân luật và trong mỗi văn bản hướng dẫn thi hành cũng phải thống nhất và không mâu thuẫn với nhau

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật: Tính phù hợp của hệ thống pháp luật

thể hiện ở sự phù hợp, sự tương thích giữa các quy định của pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế xã hội, chế độ chính trị, trình độ của nền dân chủ, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống, đặc điểm, tâm lý dân tộc, lẽ phải, lẽ công bằng, trình độ dân chí, sự cần thiết, thông lệ hay tập quán và điều ước quốc tế… Xác định được tầm quan trọng của tính phù hợp trong hệ thống pháp luật, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải “xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và thi hành pháp luật, kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật” Nếu các quy định của pháp luật phản ánh đúng các quy luật và trình độ phát triển kinh tế, xã hội, thể hiện được ý chí, nguyện vọng và yêu cầu của đại đa số dân cư thì nó có đủ điều kiện để trở thành hiện thực và sẽ được đa số nhân dân tự giác thực hiện, nhờ

đó, hệ thống pháp luật có tính khả thi cao và sẽ có hiệu quả cao Trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, việc hoàn thiện BLTTHS phải phù hợp với quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp mà trọng tâm là “cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp”.7 Để bảo đảm sự phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự, BLTTHS cần phải có những sửa đổi bổ sung phù hợp để đáp ứng được yêu cầu này

7

Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Trang 23

Tính minh bạch của hệ thống pháp luật: Tính minh bạch của hệ thống pháp

luật thể hiện ở chỗ các quy định của pháp luật nhất quán, công khai, dễ dàng tìm được, có thể tin cậy được và có thể dự đoán trước được

Tính nhất quán của pháp luật thể hiện qua việc các quy định của pháp luật thống nhất với nhau, không trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc loại bỏ lẫn nhau; ngôn ngữ biểu đạt là ngôn ngữ phổ thông, từ ngữ rõ ràng, bảo đảm có thể hiểu theo một nghĩa nhằm giúp cho pháp luật được hiểu và được thực hiện một cách thống nhất, tránh những từ ngữ mập mờ, khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều nghĩa

Tính công khai của pháp luật đòi hỏi việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật phải được tiến hành công khai, tạo điều kiện cho mọi lực lượng xã hội bảo

vệ và cân bằng lợi ích của mình Trong quá trình xây dựng pháp luật phải tạo điều kiện cho mọi người dân được biết và được tham gia một cách rộng rãi vào quá trình thảo luận dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng để họ có điều kiện tìm hiểu và hiểu được các quy định, các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật đối với họ và cách xử sự cụ thể khi họ tham gia vào một quan hệ pháp luật nào đó Sau khi được ban hành, pháp luật phải được công bố công khai bằng nhiều hình thức để bất kỳ ai muốn biết đều có thể tìm được, có thể dễ dàng truy cập

Tính có thể tin cậy được và dự đoán trước được đòi hỏi các quy định của pháp luật phải đáng tin cậy, phải là đại lượng tượng trưng cho công bằng, lẽ phải và

sự hợp lý Việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật không gây ra sự ngạc nhiên và sự bất ngờ cho đối tượng được áp dụng Việc sửa đổi, bổ sung pháp luật phải được thông báo công khai trước một thời hạn hợp lý để người dân có thời gian chuẩn bị Thời điểm phát sinh hiệu lực của những quy định pháp luật mới được ban hành cũng phải là khoảng thời gian hợp lý để các đối tượng chịu sự tác động của văn bản

có đủ thời gian chuẩn bị cho việc thực thi pháp luật

Tính ổn định và minh bạch của hệ thống pháp luật sẽ giúp cho các chủ thể dễ dàng tìm được và có thể hiểu đúng yêu cầu của các quy định pháp luật liên quan đến mỗi hành vi cụ thể của mình, có thể dự đoán trước được hậu quả pháp lý của hành

vi đó, những kết quả tốt đẹp có thể được nhận, những hậu quả bất lợi có thể phải gánh chịu, phản ứng có thể có của nhà nước, của xã hội đối với hành vi đó… Từ đó

Trang 24

gíúp cho các chủ thể có đủ điều kiện để tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi lựa chọn và thực hiện một hành vi nào đó Xã hội càng phát triển, càng dân chủ, văn minh thì đòi hỏi của xã hội đối với tính ổn định và minh bạch của pháp luật càng cao, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay Tính ổn định và minh bạch của hệ thống pháp luật có liên quan mật thiết và tương quan tỉ lệ thuận với tính đồng bộ và tính phù hợp, khả thi của nó Một hệ thống pháp luật hay thay đổi, thiếu nhất quán, mức độ phù hợp với thực tế cuộc sống thấp, không rõ ràng và thiếu công khai thì tất yếu sẽ thiếu tính khả thi và sẽ có hiệu quả thấp Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005

về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Ban chấp hành Trung ương đã xác định quan điểm chỉ đạo

là phải “dự tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành của pháp luật” Tuy nhiên, tính ổn định của pháp luật cũng chỉ là ổn định tương đối, bởi vì, khi một quy định của pháp luật đã thực sự không còn phù hợp với thực tế cuộc sống thì cần phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế kịp thời để đảm bảo tính phù hợp và khả thi của pháp luật

Về kỹ thuật lập pháp: Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là hệ thống pháp

luật được xây dựng ở trình độ kỹ thuật lập pháp cao Kỹ thuật lập pháp là tổng thể các phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hóa pháp luật, chứa đựng các nguyên tắc, các quy tắc khoa học nhằm đảm bảo cho pháp luật có đủ khả năng điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội Toàn bộ quá trình lập pháp được thực hiện bởi một hệ thống các phương pháp mang tính công nghệ

Đó là các phương pháp phát hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật, điều tra khảo cứu, xác định các mục tiêu, các nguyên tắc đến việc chọn hình thức thể hiện, sử dụng ngôn ngữ pháp lý, xây dựng các quy phạm, các dự thảo văn bản, kiểm nghiệm, giám định văn bản trên thực tế…

Trình độ kỹ thuật lập pháp cao thể hiện ở việc xác định đúng nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các nguyên tắc xây dựng pháp luật được xác định là tối ưu, cơ cấu

hệ thống pháp luật được xác định chính xác, ngôn ngữ biểu đạt cô đọng, logic, chặt chẽ… Trình độ, kỹ thuật lập pháp của nhà lập pháp cao không chỉ giúp họ đủ khả năng nhận thức đúng các yêu cầu, đòi hỏi của các quan hệ xã hội thực tại mà xây

Trang 25

dựng nên các quy phạm pháp luật phù hợp để điều chỉnh chúng một cách có hiệu quả, mà còn có thể dự đoán được xu hướng phát triển tất yếu của chúng trong tương lai để kịp thời điều chỉnh Nhờ thế, có thể đảm bảo tốt tính đồng bộ, phù hợp và ổn định của hệ thống pháp luật

Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, có thể khẳng định kỹ thuật lập pháp được thể hiện trong BLTTHS năm 2003 cao hơn nhiều so với BLTTHS năm 1988, điều đó thể hiện qua việc bố trí, sắp xếp các chương, các điều, qua nội dung và hình thức của từng điều luật Tuy nhiên, để nâng cao mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, kỹ thuật lập pháp phải tiếp tục được cải tiến vì trong thực tế, kỹ thuật lập pháp thể hiện trong BLTTHS hiện hành vẫn còn một số điểm hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện

2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN

CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ NGUYÊN NHÂN VỀ PHÁP LUẬT CỦA THỰC TRẠNG NÀY

2.1 Thực trạng thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp có một số đổi mới Việc tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đề cao vai trò của luật sư trong tố tụng được thực hiện bước đầu có kết quả Việc thực hiện các thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng truy tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội phạm Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp một mặt đảm bảo đấu tranh phòng chống tội phạm cương quyết, triệt để; mặt khác ngày càng bảo đảm tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình

sự Thực tế cho thấy, các kiểm sát viên khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện việc tranh tụng dân chủ với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; đưa ra những lý lẽ có căn cứ và trả lời hết những vấn đề

Trang 26

mà người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác đặt ra tại phiên toà Về phía người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã đưa ra nhiều cơ

sở chứng cứ và các căn cứ pháp luật để chứng minh bị cáo không phạm tội như VKSđã truy tố hoặc bị cáo phạm tội danh khác có khung hình phạt nhẹ hơn, hoặc đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, các đặc điểm về nhân thân để đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt hoặc đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trả lại hồ sơ cho VKS yêu cầu điều tra bổ sung Về phía Hội đồng xét xử đã thể hiện sự tôn trọng các bên khi tham gia tranh tụng và chỉ đưa ra ý kiến khi thấy

sự đối đáp không đi vào trọng tâm của vụ án Tuy nhiên, phải thừa nhận thực tế

là việc cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ, công tác điều tra, giam giữ, truy

tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn đọng, án bị hủy, bị cải sửa còn nhiều, ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự Những hạn chế đó đã dẫn đến những vi phạm và hạn chế các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

- Việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân còn hạn chế, nhất là đối với người làm chứng và người tố giác tội phạm

Trên thực tế có nhiều các trường hợp người tố giác tội phạm, người bị hại bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe nhất là các vụ án liên quan đến chống tham nhũng, tố cáo tiêu cực, những vụ án hình sự liên quan đến các tổ chức phạm tội có tính chất hoạt động kiểu “xã hội đen” Việc xâm phạm không chỉ với họ mà trong nhiều trường hợp cả với người thân của họ Hiện tượng này dẫn đến hậu quả công dân không dám tham gia vào quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, “người ngay sợ kẻ gian” trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Thực tế nêu trên cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện tốt trách nhiệm bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân

- Còn có những sai phạm trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân

+ Sai phạm trong thực hiện biện pháp bắt người: Thực tế, vẫn còn xảy ra nhiều trường hợp bắt giam không cần thiết làm ảnh hưởng tới quyền lợi của công

Trang 27

dân Nhiều trường hợp VKS không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam của Cơ quan điều tra (theo thống kê của VKS nhân dân tối cao, số lượng người mà Cơ quan điều tra

ra lệnh bắt tạm giam nhưng VKS không phê chuẩn trong những năm gần đây mặc

dù có chiều hướng thuyên giảm nhưng trung bình hàng năm vẫn là hàng trăm người,

ví dụ: năm 2005 là 394 người; năm 2006 là 350 người; năm 2007 là 329 người; năm 2008 là 298 người; năm 2009 là 178 người)8

Biểu 2.1 Tình hình bắt bị can, bị cáo không được VKS phê chuẩn

0 100 200 300 400

2005 2006 2007 2008 2009

số người viện kiể m sát không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam

- Sai phạm trong thực hiện biện pháp tạm giữ: Còn nhiều trưòng hợp tạm giữ đối với cả người không thực hiện hành vi phạm tội Theo thống kê của VKSNDTC, trong số người bị tạm giữ theo tố tụng hình sự, có một số người không khởi tố được

về hình sự Năm 2005 số người bị tạm giữ là 47.845 người, đã giải quyết 47.242 người, trong đó khởi tố hình sự 44.913 người; năm 2006 số người bị tạm giữ là 53.234 người,

đã giải quyết 52.676 người, trong đó khởi tố hình sự 50.224 người; năm 2007 số người bị tạm giữ là 53.331 người, đã giải quyết 52.590 người, trong đó khởi tố hình sự 50.368 người; năm 2008 số người bị tạm giữ là 62.888 người, đã giải quyết 61.206 người, trong

đó khởi tố hình sự 59.368 người; năm 2009 số người bị tạm giữ là 59.496 người, đã giải quyết 58.868 người, trong đó khởi tố hình sự 54.247 người

Bảng 2.1 Tình hình người bị tạm giữ nhưng không bị khởi tố hình sự

Năm Số người bị tạm giữ

(1)

Số người không bị khởi tố (2)

Tỉ lệ (2)/(1)

Trang 28

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

- Sai phạm trong thực hiện biện pháp tạm giam: Nhiều trường hợp Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam không đúng Theo thống kê của VKSNDTC, hàng năm số lượng bị can bị Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam không đúng mà VKS không phê chuẩn lệnh tạm giam còn nhiều: năm 2005 là 327 người; năm 2006 là 329 người; năm 2007 là 341 người; năm 2008 là 334 người; năm 2009 là 190 người.9

Biểu 2.2 Tình hình cơ quan điều tra tạm giam không đúng pháp luật

Ngoài những trường hợp việc tạm giam sai đưọc VKS phát hiện khắc phục như đã nêu trên, nhiều người không phạm tội bị tạm giam mà không được phát hiện

và đình chỉ từ giai đoạn điều tra nhưng khi xét xử, Toà án ra bản án tuyên vô tội, miễn hình phạt, hình phạt không phải là phạt tù hay phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc thời hạn tạm giam bằng hoặc dài hơn thời hạn hình phạt có thể áp dụng đối với họ…

9

Phụ lục báo cáo tổng kết công tác hàng năm của ngành kiểm sát nhân dân, số liệu các năm 2005,

2006,2007,2008,2009, VKSNDTC

Trang 29

Ngoài việc vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân trong trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam sai, còn có những vi phạm những quyền cơ bản khác của công dân trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Thực tế hiện nay các vi phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của đối tượng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên thực tế xảy ra phổ biến, có những vụ việc để lại hậu quả rất nghiêm trọng Việc bảo đảm tính mạng, sức khỏe của đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ không được thực hiện tốt nên có nhiều trường hợp dẫn đến tử vong, có trường hợp hiện vẫn chưa làm rõ trách nhiệm thuộc về ai Có vụ việc đã khởi tố hình sự về hành vi “thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” với hậu quả thực tế là người bị tạm giữ chết Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can với người có trách nhiệm Có trường hợp bị can chết trong nhà tạm giam mặc dù trước đó gia đình đã có yêu cầu cho tại ngoại vì lý

do sức khỏe của bị can (trường hợp có khả năng không xảy ra hậu quả chết người nếu chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn khác không phải tạm giam) Những trường hợp cụ thể nêu trên sẽ có thể không xảy ra nếu cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm túc và làm việc có trách nhiệm hơn nhằm bảo hộ tính mạng, sức khoẻ của người tham gia tố tụng

- Còn có những sai phạm trong việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác

Báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát các năm 2008, 2009 ghi nhận có vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra như dùng nhục hình, bức cung (tổng kết này được rút ra trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ án về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp)10

Hàng năm, hàng ngàn bị can được đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra, đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tối Trong số những trường hợp bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án có trường hợp do những nguyên nhân khách quan như bị can chết trong quá trình điều tra, truy tố, do người bị hại rút yêu cầu khởi tố hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can Ngoài ra, còn có nhiều trường hợp

10

Báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát năm 2008 số 133/BC-VKSTC ngày 24/12/2008

và Báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát năm 2009 số 123/BC-VKSTC ngày 31/12/2009

Trang 30

đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự kiện phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm; hết thời hạn không chứng minh được hành vi phạm tội của bị can Những căn cứ này thể hiện những sai lầm chủ quan của người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền cơ bản của công dân, nhất là đối với các bị can bị tạm giam

Năm 2005 trong số 83.621 bị can Cơ quan điều tra kết thúc điều tra có 1.718

bị can được đình chỉ điều tra; năm 2006 trong số 96.386 bị can Cơ quan điều tra kết thúc điều tra có 1.821 bị can được đình chỉ điều tra; năm 2007 trong số 98.987 bị can Cơ quan điều tra kết thúc điều tra có 1.840 bị can được đình chỉ điều tra; năm

2008 trong số 112.011 bị can Cơ quan điều tra kết thúc điều tra có 1.844 bị can được đình chỉ điều tra; năm 2009 trong số 106.720 bị can Cơ quan điều tra kết thúc điều tra có 3.452 bị can được đình chỉ điều tra.11

Bảng 2.2 Tình hình bị can được đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra

kết thúc điều tra

Số bị can được đình chỉ điều tra

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Năm 2005 trong số 82.544 bị can VKS đã giải quyết trong giai đoạn truy tố

có 1.119 bị can được đình chỉ vụ án; năm 2006 trong số 93.858 bị can VKS đã giải quyết trong giai đoạn truy tố có 1.226 bị can được đình chỉ vụ án; năm 2007 trong số

11

VKSNDTC, Phụ lục báo cáo tổng kết công tác hàng năm của ngành kiểm sát nhân dân, số liệu các năm

2005, 2006, 2007, 2008, 2009

Trang 31

97.656 bị can VKS đã giải quyết trong giai đoạn truy tố có 1.190 bị can được đình chỉ vụ án; năm 2008 trong số 104.312 bị can VKS đã giải quyết trong giai đoạn truy tố có 1.000

bị can được đình chỉ vụ án; năm 2009 trong số 103.520 bị can VKS đã giải quyết trong giai đoạn truy tố có 1904 bị can được đình chỉ vụ án)12

Bảng 2.3 Tình hình bị can được đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố

VKS giải quyết xong

Số bị can được đình chỉ vụ án

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Trong những sai lầm của cơ quan tiến hành tố tụng làm ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân thì nghiêm trọng nhất là những trường hợp buộc tội sai, làm oan người vô tội Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 2005 cơ quan điều tra đình chỉ vì không có tội 88 bị can, Viện kiểm sát đình chỉ vì không có tội 50 bị can; năm 2006, cơ quan điều tra đình chỉ vì không có tội

77 bị can, Viện kiểm sát đình chỉ vì không có tội 79 bị can; năm 2007, cơ quan điều tra đình chỉ vì không có tội 95 bị can, Viện kiểm sát đình chỉ vì không có tội 50 bị can; năm 2008 cơ quan điều tra đình chỉ vì không có tội 176 bị can, Viện kiểm sát đình chỉ vì không có tội 43 bị can; năm 2009 cơ quan điều tra đình chỉ vì không có tội 67 bị can, Viện kiểm sát đình chỉ vì không có tội 37 bị can Theo số liệu thống

kê của TANDTC, năm 2006, có 34 bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội; năm 2007, có 162 bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội; năm 2008,

12

VKSNDTC, Phụ lục báo cáo tổng kết công tác hàng năm của ngành kiểm sát nhân dân, số liệu các năm

2005, 2006, 2007, 2008, 2009

Trang 32

có 56 bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội; năm 2009, có 44 bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội

Bảng 2.4 Tình hình bị can, bị cáo được xác định không có tội

Năm CQĐT đình chỉ điều tra

vì không có tội

VKS đình chỉ vụ án

vì không có tội

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội

(Số liệu thống kê của VKSNDTC và TANDTC năm 2005 - 2009)

Những số liệu này đã thể hiện một phần sai lầm của cơ quan điều tra, VKS trong các giai đoạn điều tra, truy tố Trong các giai đoạn này, những bị can được đình chỉ điều tra vì không phạm tội, những bị cáo này được Tòa án tuyên không phạm tội đã phải tham gia tố tụng, phải chấp hành các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế tố tụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự còn hạn chế

Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự còn nhiều hạn chế Năm 2005, theo báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát nhân dân của VKSNDTC, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của VKS các cấp vẫn còn một

số tồn tại, yếu kém Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKS các cấp còn chậm, nhất là những đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của VKS các cấp chưa cao Một số vụ việc giải quyết không chính xác, dẫn đến công dân phải khiếu nại nhiều lần, thời gian giải quyết kéo dài.13 Cho đến năm 2009, công tác kiểm tra, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp chưa có sự chuyển biến căn bản, chất lượng giải quyết một số trường hợp chưa cao Nhiều VKS nhất là cấp huyện không tiến hành

13

VKSNDTC, Báo cáo tổng kết công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2005

Trang 33

kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp.14 Ở Tòa án, số lượng đơn

đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của công dân chưa được xem xét, giải quyết kịp thời còn khá nhiều Việc trả lời cho đương sự trong một số trường hợp chưa cụ thể, thiếu thuyết phục, dẫn tới đương sự tiếp tục khiếu nại, làm cho việc giải quyết kéo dài, thậm chí trở thành bức xúc nổi cộm.15 Việc giải quyết đơn yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm của TANDTC chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu do số lượng đơn ngày càng tăng và khả năng giải quyết có hạn.16 Hiện tại việc giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm ở Tòa án và VKS tồn đọng nhiều Năm 2005, toàn ngành Kiểm sát nhân dân tiếp nhận 58943 đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 15562

vụ, đã giải quyết 11207 vụ Năm 2006, tiếp nhận 18239 đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 12123 vụ, đã giải quyết 9142 vụ Năm 2007, tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 11752 vụ, đã giải quyết

9214 vụ Năm 2008, tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với

11387 vụ, đã giải quyết 8353 vụ Năm 2009, tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 12562 vụ; đã giải quyết 8189 vụ.17

Bảng 2.5 Tình hình VKS giải quyết khiếu nại đề nghị

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Biểu 2.3 Tình hình VKS giải quyết khiếu nại đề nghị

Trang 34

đốc thẩm, tái thẩm đã giải quyết

số chưa giải quyết

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Năm 2005, toàn ngành Tòa án tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm với 9149 vụ; đã giải quyết 7041 vụ Năm 2006, tiếp nhận đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm với 10900 vụ, đã giải quyết 8098 vụ Năm

2007, tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 12535 vụ,

đã giải quyết 9096 vụ Năm 2008, tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 11938 vụ, đã giải quyết 6386 vụ Năm 2009, tiếp nhận đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với 11960 vụ; đã giải quyết 4712 vụ.18

Bảng 2.6 Tình hình Tòa án giải quyết khiếu nại đề nghị

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Biểu 2.4 Tình hình Tòa án giải quyết khiếu nại đề nghị

Trang 35

số đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đã giải quyết

số chưa giải quyết

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Việc giải quyết bồi thường oan còn chậm, hạn chế việc khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan

Vấn đề bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trong tố tụng hình sự đã được thực hiện khá nghiêm túc và đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ Cùng với đó, việc xử lí nghiêm khắc những người có trách nhiệm gây ra tình trạng không nên có trên cũng được xử lí nghiêm khắc Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít những hạn chế cần được khắc phục kịp thời mà chủ yếu là thái độ chưa thực sự cầu thị của cơ quan tiến hành tố tụng, việc giải quyết còn chưa thực sự thỏa mãn yêu cầu của người bị oan, dẫn đến việc giải quyết chưa dứt điểm hoặc còn chưa giải quyết được Theo báo cáo của Viện kiểm sát, năm 2005 VKS tiếp nhận 95 đơn yêu cầu bồi thường, công khai xin lỗi 26 người, bồi thường xong cho 45 người, thương lượng không thành 7 người, còn lại tiếp tục thương lượng với 32 người; năm

2006 tiếp nhận 62 đơn yêu cầu bồi thường, bồi thường xong cho 31 người, còn lại tiếp tục thương lượng; năm 2007, tiếp nhận 66 đơn, bồi thường xong cho 35 người, tiếp tục thương lượng 31; năm 2008 bồi thường xong cho 17 người, tiếp tục thương lượng với 14 người; năm 2009 tiếp nhận 30 đơn yêu cầu bồi thường, bồi thường xong cho 18 người, thương lượng không thành 7 người, tiếp tục thương lượng với 32 người

Trang 36

Bảng 2.7 Tình hình VKS giải quyết bồi thường oan

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Biểu 2.5 Tình hình VKS giải quyết bồi thường oan

s ố vụ bồi thường xong

s ố vụ còn lại

(Số liệu thống kê của VKSNDTC năm 2005 – 2009)

Theo báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân từ năm 2006 đến năm

2009, kết quả giải quyết bồi thường cho người bị oan như sau: năm 2006 tiếp nhận 27 đơn yêu cầu bồi thường, bồi thường xong cho 21 người, còn lại tiếp tục thương lượng; năm 2007, tiếp nhận 15 đơn, bồi thường xong cho 10 người, tiếp tục thương lượng với 5 người; năm 2008 tiếp nhận 9 đơn yêu cầu bồi thường, bồi thường xong cho 6 người, tiếp tục thương lượng với 3 người

Bảng 2.8 Tình hình Tòa án giải quyết bồi thường oan

Trang 37

(Số liệu thống kê của TANDTC năm 2006 – 2008)

Biểu 2.6 Tình hình Tòa án giải quyết bồi thường oan

số vụ bồi thường xong

số vụ còn lại

(Số liệu thống kê của TANDTC năm 2006 – 2008)

2.2 Nguyên nhân về pháp luật của thực trạng thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự

Các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự được quy định trong BLTTHS về việc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân là đảm bảo về mặt pháp luật để những người tham gia tố tụng thực hiện quyền công dân của mình Đồng thời những quy định này cũng là căn cứ pháp lý xác định trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các quyền cơ bản của công dân vẫn chưa được bảo đảm triệt để (thể hiện trong phần thực trạng 2.1) Thực trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau như nguyên nhân về pháp luật, về cơ cấu tổ chức, do con người…Trong phần này sẽ chỉ tập trung xem xét các nguyên nhân về pháp luật

Khi đánh giá tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật cần căn cứ vào các tiêu chí đánh giá về tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính ổn định và minh

Trang 38

bạch Trên cơ sở của các tiêu chí cùng với việc nghiên cứu hệ thống các quy phạm pháp luật áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, gắn với việc bảo vệ quyền cơ bản của công dân có thể nhận thấy những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật Những hạn chế đó có thể do quy phạm pháp luật thiếu tính đồng bộ, không phù hợp hoặc có thể không bảo đảm yếu tố ổn định hay minh bạch và là một trong những nguyên nhân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến xuất hiện hoặc tồn tại thực trạng quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự không được bảo đảm thực hiện Những quy phạm pháp luật chưa hợp lý không chỉ là những quy định cụ thể về một hoạt động tố tụng mà nhiều khi nằm ngay trong các quy định có tính định hướng (các quy định về nguyên tắc)

- Một số hạn chế trong quy định của BLTTHS về phần nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

Những quy định của BLTTHS hiện nay về quyền hạn của Toà án có nhiều quyền hạn thuộc chức năng buộc tội, vì vậy dễ dẫn đến việc vi phạm bản chất của suy đoán vô tội (ví dụ, Điều 10 BLTTHS xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng (trong đó có Tòa án), Điều 13 BLTTHS quy định Tòa án có trách nhiệm phát hiện tội phạm) vì vậy quyền được coi là vô tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của công dân trong trường hợp này không được bảo đảm như luật định Ngoài ra một số nguyên tắc khác chưa quy định đầy đủ dẫn đến việc chưa thực sự bảo đảm quyền được bảo hộ

về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của các chủ thể tham gia tố tụng như người làm chứng, người bị hại Ví dụ Điều 18 BLTTHS chưa quy định hết các trường hợp đặc biệt cần được xử kín…Chỉ có trên cơ sở bổ sung, hoàn thiện các quy định tại phần nguyên tắc mới có thể tiếp tục hoàn thiện các quy định trong các chế định cụ thể khác của BLTTHS

- Một số hạn chế trong quy định của BLTTHS về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hình sự

Các quy phạm có tính chất tuỳ nghi hiện nay khi quy định về quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là một trong những

Trang 39

nguyên nhân về pháp luật dẫn đến hậu quả xâm phạm quyền cơ bản của người tham gia tố tụng Việc có thực hiện một hoạt động tố tụng hay không nhiều khi không xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ việc thực hiện để bảo vệ quyền công dân mà xuất phát đơn thuần từ ý chí chủ quan của người

áp dụng Ví dụ như Điều 35 (nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên) không quy định trách nhiệm phải thông báo cho người bào chữa biết về việc hỏi cung bị can trong khi Điều 58 (quyền và nghĩa vụ của người bào chữa) quy định người bào chữa có quyền “đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can”

Để đảm bảo cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trách nhiệm pháp luật quy định, bảo đảm quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng vừa đáp ứng yêu cầu giải quyết khách quan vụ án hình sự vừa bảo đảm được các quyền cơ bản của công dân nên hạn chế các quy phạm có tính chất tuỳ nghi trong quy định về nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Hiện nay, quy phạm pháp luật tố tụng hình sự mới chủ yếu dừng lại ở việc quy định có tính chất nguyên tắc một số nội dung như quyền chứng minh nhưng không phải nghĩa vụ của bị can, bị cáo hoặc nguyên tắc bảo hộ các quyền về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản…một số nguyên tắc chưa cụ thể hoá thành những quyền cơ bản của các chủ thể được bảo vệ hoặc chưa đầy đủ nên cần phải cụ thể hoá hoặc bổ sung thêm những quy định này trong quy định về phần quyền của các chủ thể Khi được quy định là quyền của các chủ thể sẽ hình thành nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và như vậy các nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo đảm quyền cơ bản của công dân mới có khả năng bảo đảm thực hiện trên thực tế

- Một số hạn chế trong quy định của BLTTHS về các biện pháp ngăn chặn (là các biện pháp đụng chạm trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp) còn chưa đầy đủ căn cứ áp dụng, hoặc trong quy định mới

Trang 40

chỉ dừng lại ở yêu cầu phục vụ cho quá trình tố tụng mà chưa đồng thời hướng tới việc bảo vệ đối tượng bị áp dụng hay người thân của họ

Việc chưa quy định đầy đủ các căn cứ áp dụng là nguyên nhân dẫn đến có những cách hiểu khác nhau về việc quyết định áp dụng một biện pháp ngăn chặn cụ thể hoặc tiếp theo sau một biện pháp ngăn chặn khác Có trường hợp do luật không quy định các căn cứ cụ thể nên có biện pháp ngăn chặn hầu như không được áp dụng trên thực tế trong khi nếu áp dụng thay cho các biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn sẽ mang lại cả lợi ích kinh tế cho xã hội vừa bảo đảm được cao nhất các quyền cơ bản của công dân mà pháp luật bảo vệ Trong khi những biện pháp này trên thực tế được áp dụng khá phổ biến tại các quốc gia khác

- Một số hạn chế trong quy định của BLTTHS về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Quy định của BLTTHS về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có những điểm còn thiếu tính đồng bộ, không thống nhất với quy định của ngành luật khác gây ảnh hưởng tới quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ Chính các quy định không thống nhất như vậy đã dẫn đến việc các đối tượng nhận hậu quả pháp lý khác nhau mặc dù căn cứ để giải quyết nếu trong quy định của ngành luật khác đòi hỏi phải có cách thức giải quyết khác nhau Nhiều quy định về thẩm quyền (cả về hình thức và nội dung) chưa phân định rõ ràng các chức năng buộc tội, xét xử và gỡ tội trong tố tụng Một số từ ngữ chưa được giải thích rõ ràng, một số biện pháp điều tra quy định chưa chặt chẽ về thủ tục…Những hạn chế này trong quy định của pháp luật ảnh hưởng nhiều tới việc bảo đảm công bằng, dân chủ trong tố tụng, ảnh hưởng tới các quyền cơ bản ghi nhận trong nguyên tắc đã ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng

- Một số hạn chế trong quy định của BLTTHS về thủ tục đặc biệt trong tố tụng chưa thực sự bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của bị can, bị cáo Có quy định chưa thật sự bảo vệ được người mà theo quy định của pháp luật cần được xác định là vô tội, vì vậy không những nguyên bình đẳng trước pháp luật không được bảo đảm mà nguyên tắc suy đoán vô tội cũng bị vi phạm

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w