1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào - Một số bài học kinh nghiệm từ Việt Nam

84 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 773,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Luận văn có mục đích nghiên cứu những vấn đề khái quát về LDN của Lào và Việt Nam, làm rõ những quy định trong LDN của Lào và Việt Nam để

Trang 1

ANOUSITH VOLALATH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO – MỘT SỐ

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN NGỌC DŨNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS – TS Trần Ngọc Dũng

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực, chính xác và khách quan

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Anousith Volalath

Trang 3

TS Trần Ngọc Dũng – người đã vun đáp ý tưởng và tiếp sức cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn Tôi cảm ơn thầy không chỉ vì những kiến thức hữu ích thầy đã truyền đạt mà còn bởi thầy đã để lại trong trái tim tôi hình ảnh cao đẹp về một nhà nghiên cứu khoa học chân chính

Tôi không quên dành lời cảm ơn thân thương nhất đến những người thân trong gia đình tôi

Tôi mốn cảm ơn những đồng nghiệp nơi tôi công tác và bạn bè tôi – những người đã ủng hộ, giúp đỡ tôi về mặt tinh thần cũng như chia sẻ những khó khăn trong những năm tháng học tập, nghiên cứu

Và trên hết, tôi xin dành lời cảm ơn thiêng liêng nhất đến cha mẹ và vợ con tôi - những người đã sinh thành ra tôi, nuôi dưỡng và luôn bên tôi khi tôi hạnh phúc cũng như khi tôi khó khăn, khi tôi vui cũng như lúc tôi buồn

Tôi xin dành thành quả mà tôi đạt được từ những nghiên cứu khoa học của mình kính tặng cha mẹ và vợ con tôi với lòng biết ơn sâu sắc nhất!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở LÀO SỰ THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP 4

1.1 Cơ cấu của pháp luật về doanh nghiệp ở chdcnd lào 4

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về doanh nghiệp của lào 4

1.3 Cơ sở của việc tham khảo kinh nghiệm của việt nam trong việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở lào 5

1.3.1 Lào và Việt nam có cùng điều kiện địa lý, tự nhiên, có Đảng Cộng sản lãnh đạo và nhà nước công nông quản lý 5

1.3.2 Hai nước có những điều kiện về kinh tế - xã hội, xuất phát điểm giống nhau 6

1.3.3 Hai nước đều có chính sách phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa 6

1.3.4 Pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam có nhiều tiến bộ và khá tương thích với pháp luật về doanh nghiệp của nhiều nước trên thế giới 7

1.4 Mục đích của việc tham khảo kinh nghiệm của việt nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp của lào 8

1.5 Tác dụng của việc tham khảo kinh nghiệm của việt nam trong việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp của lào 8

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở LÀO – SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 9

2.1 Các quy định về các loại hình doanh nghiệp ở lào 9

2.1.1 Doanh nghiệp tư nhân 9

2.1.2 Công ty hợp danh 11

2.1.3 Công ty TNHH 13

2.1.4 Công ty cổ phần 16

2.1.5 Doanh nghiệp nhà nước 17

2.1.6 Doanh nghiệp liên doanh 19

Trang 5

2.2.2 Các nghĩa vụ của các doanh nghiệp Lào 24

2.3 Các quy định về cơ cấu tổ chức, quản lý của các doanh nghiệp ở lào 26

2.3.1 Cơ cấu tổ chức, quản lý của doanh nghiệp tư nhân 26

2.3.2 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty hợp danh 27

2.3.3 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty TNHH 27

2.3.4 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty cổ phần 29

2.3.5 Cơ cấu tổ chức, quản lý của doanh nghiệp nhà nước 31

2.3.6 Cơ cấu tổ chức, quản lý trong doanh nghiệp liên doanh 33

2.4 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong các doanh nghiệp của lào 35

2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân 35

2.4.2 Quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong công ty hợp danh 37

2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH 39

2.4.4 Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần 42

2.4.5 Doanh nghiệp nhà nước 50

2.4.6 Doanh nghiệp liên doanh 52

2.5 Các quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp ở lào 53

2.5.1 Thành lập doanh nghiệp 53

2.5.2 Tổ chức lại doanh nghiệp 56

2.5.3 Giải thể doanh nghiệp 60

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở LÀO TRÊN CƠ SỞ THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM 64

3.1 Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp của CHDCND Lào trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam 64

3.1.1 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp phải tiếp tục thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng NDCM Lào về doanh nghiệp 64

3.1.2 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Lào phải căn cứ vào những đặc điểm của nền kinh tế của Lào 64

3.1.3 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp của Lào cần phải phù hợp với đặc điểm văn hóa kinh doanh của người Lào 65

3.1.4 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cần được đặt trong giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật kinh tế của Lào 65

3.1.5 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp phải đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Lào 66

Trang 6

kinh nghiệm của Việt Nam 67

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp theo hướng sửa đổi và bổ sung các chính sách, quy định hiện hành và ban hành các văn bản pháp luật mới cần thiết 67

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp theo hướng nhất thể hóa các đạo luật về doanh nghiệp ở Lào 68

3.2.3 Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp theo hướng bảo đảm và phát huy quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng của các doanh nghiệp 68

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp theo hướng bảo đảm và phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp 69

3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Lào trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam 69

3.3.1 Hoàn thiện những quy định về thủ tục đăng ký kinh doanh 69

3.3.2 Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ở Lào 71

3.3.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý nội bộ doanh nghiệp 72

3.3.4 Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong các doanh nghiệp của Lào 73

3.3.5 Hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

ASEAN Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á CHDCND Lào Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào CHXHCN Việt Nam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

CNĐKKD Chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

Đảng NDCM Lào Đảng Nhân dân Cách mạng Lào

LDNNN Luật Doanh nghiệp nhà nước

(Tổ chức Thương mại thế giới)

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Luật Doanh nghiệp (LDN) là đạo luật quan trọng hàng đầu, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt động, tổ chức lại và giải thể của các loại hình doanh nghiệp (DN) Để phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới thành công, Nhà nước Lào đã chú trọng xây dựng và hoàn thiện LDN cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước và tình hình thế giới

So sánh pháp luật về doanh nghiệp (DN) là để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định pháp luật hiện hành về các loại hình DN của Lào và các nước khác; chỉ rõ các ưu điểm, thành công và những nhược điểm, bất cập trong các quy định của pháp luật về DN ở Lào; đồng thời tham khảo các quy định tương ứng của các nước khác để áp dụng có chọn lọc vào việc hoàn thiện pháp luật về DN của Lào

Để tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới, Lào cần tiếp nhận những thành tựu, tinh hoa của hệ thống pháp luật nhân loại thông qua việc tiếp thu có chọn lọc để giúp Lào có được một hệ thống pháp luật về DN hoàn chỉnh, đồng bộ, tiên tiến, tương thích với pháp luật quốc tế

Trong quá trình phát triển của mình, Lào rất coi trọng việc mở rộng, tăng cường hợp tác toàn diện, lâu dài với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam,

vì Lào và Việt Nam có cùng đặc điểm kinh tế-xã hội, có cùng nền tảng chính trị,

tư tưởng, cùng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việc nghiên cứu pháp luật về DN của Việt Nam là cần thiết và có nhiều thuận lợi để Lào có thể tham khảo, tiếp thu những kinh nghiệm bổ ích từ Việt Nam, giúp cho Lào hoàn thiện pháp luật về DN của mình, tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tổ chức, quản lý doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả ở

Lào Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào – Một số bài học kinh nghiệm từ Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Lào, hoạt động nghiên cứu so sánh pháp luật về DN của Lào với pháp luật về DN của nước khác chưa có nhiều Ở Việt Nam, đã có một số công trình

nghiên cứu liên quan đến pháp luật về DN của Lào như “Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH ở nước CHDCND Lào” luận văn thạc sỹ Luật học của Phu Khăm

Lê Nin (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2003), “Xây dựng và hoàn thiện LDN trong điều kiện đổi mới hiện nay của CHDCND Lào” luận án Tiến sỹ Luật học

của Chăm Bup Pha li Văn (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội - 2001) Những công trình này chỉ nghiên cứu LDN (2001) của Lào, khi chưa có LDN (2005)

Trang 9

Còn nghiên cứu pháp luật DN của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh thì có

công trình “Luật Doanh nghiệp 2005 của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh”

luận văn thạc sỹ của Beelee Yearseng (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2011);

“Pháp luật về công ty TNHH của Lào so sánh với pháp luật Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” luận văn thạc sỹ của Sounthone Thamavong (Trường Đại học

Luật Hà Nội - 2008) Cho đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật về DN ở CHDCND Lào trên cơ sở tham khảo các kinh nghiệm từ Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Luận văn có mục đích nghiên cứu những vấn đề khái quát về LDN của Lào và Việt Nam, làm rõ những quy định trong LDN của Lào và Việt Nam để tạo ra một cái nhìn khái quát về các loại hình doanh nghiệp hai nước dưới góc độ

so sánh, nêu các quy định pháp luật hiện hành về các loại hình doanh nghiệp của Lào, chỉ rõ những ưu điểm, thành công và những nhược điểm, bất cập của các quy định đó; so sánh các quy định của Lào với các quy định tương ứng của pháp luật Việt Nam Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện LDN của Lào trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam

Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả đặt ra các nhiêm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích sự phát triển của pháp luật về DN ở Lào Tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam nhằm hoàn thiện pháp luật về DN: cơ cấu của pháp luật về

DN ở Lào; quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về DN của Lào; cơ

sở, mục đích, tác dụng của việc tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về DN ở Lào

- Phân tích, so sánh bản chất pháp lý của các loại hình DN được quy định trong LDN (2005) của Lào và LDN (2014) của Việt Nam

- Phân tích, so sánh, chỉ rõ những ưu điểm, thành công và những nhược điểm, bất cập của các quy định của pháp luật hai nước về quyền và nghĩa vụ; cơ cấu tổ chức, quản lý của các DN; quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong các DN; tổ chức lại, giải thể, phá sản DN

- Đề ra các nguyên tắc, phương hướng và yêu cầu hoàn thiện LDN Lào;

đề xuất các giải pháp hoàn thiện LDN Lào từ những kinh nghiệm của Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa

Trang 10

Luận văn đặt các vấn đề nghiên cứu trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở kinh tế và pháp luật, đồng thời căn cứ vào các quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về phát triển các loại hình DN

5 Đối tƣợng của việc nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên của đề tài là những quy định trong LDN của hai nước

và thực tiễn áp dụng LDN Do tính phức tạp của đề tài nên luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản của LDN (2005) Lào trong tương quan so sánh với LDN (2014) của Việt Nam để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa pháp luật DN hai nước

6 Những đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất, luận văn đã làm rõ bản chất pháp lý của từng loại hình DN

theo LDN của hai nước, phân tích những yếu tố ảnh hưởng tích cực tới LDN của Lào, đặc biệt là sự ảnh hưởng từ pháp luật về DN của Việt Nam

Thứ hai, luận văn đã chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong

các quy định của LDN ở Lào và ở Việt Nam, lý giải nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và khác biệt đó và nêu bật những ưu điểm, hạn chế trong các quy định của LDN hai nước Luận văn chỉ ra những vướng mắc mà các nhà kinh doanh gặp phải khi áp dụng các quy định của LDN Lào, những hạn chế trong LDN (2005) của Lào so với LDN (2014) của Việt Nam

Thứ ba, trên cơ sở học tập kinh nghiệm của Việt Nam, luận văn đã mạnh

dạn đề xuất một số kiến nghị về phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện LDN (2005) của Lào

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương

Trang 11

CHƯƠNG 1

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở LÀO SỰ THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM NHẰM HOÀN

THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

1.1 CƠ CẤU CỦA PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở CHDCND LÀO

Về mặt phương pháp luận, cơ cấu, nội dung, hình thức và số lượng văn bản pháp luật về DN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có hình thức pháp lý của DN Các loại hình DN được pháp luật quy định là biểu hiện cụ thể quan điểm của Nhà nước về đảm bảo quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh

Với tiêu chí xác định hình thức pháp lý DN là phương thức đầu tư vốn

và tính chất liên kết của các nhà đầu tư, các loại hình DN, không phụ thuộc vào tính chất và thành phần chủ sở hữu, đều được quy về một trong các hình thức pháp lý cơ bản là: DN tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh và công ty hỗn hợp Pháp luật về DN của Lào hiện nay có cơ cấu bao gồm các bộ phận cấu thành cơ bản là:

- Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân;

- Pháp luật về công ty cổ phần;

- Pháp luật về công ty TNHH

- Pháp luật về công ty hợp danh;

- Pháp luật về công ty Nhà nước;

1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CỦA LÀO

Đại hội của Đảng NDCM Lào lần thứ IV (1986) là dấu mốc quan trọng,

là bước ngoặt đối với sự phát triển kinh tế xã hội Lào Từ đây, nền kinh tế Lào chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN

Trang 12

Lào đã từng bước kiện toàn hệ thống pháp luật, xây dựng khung pháp lý làm tiền

đề cho sự phát triển kinh tế Trải qua chặng đường 30 đổi mới, mở cửa, kinh tế Lào gặt hái được nhiều thành quả: nền kinh tế đất nước chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, Lào từ một nước nhập khẩu lương thực đã tự cung cấp được nhu cầu cho bản thân và có xuất khẩu; cơ cấu nền kinh

tế có bước chuyển đổi từ thuần nông sang công – nông nghiệp – dịch vụ Tuy nhiên, Lào vẫn là một nước kém phát triển, nền kinh tế chưa tự cân đối, nhập khẩu hàng hóa nhiều hơn xuất khẩu, xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp thô; tài nguyên thiên khá đa dạng nhưng chưa biết tận dụng tiềm năng để khai thác; việc tăng trưởng kinh tế chưa thật ổn định…

Pháp luật là cơ sở quan trọng phản ánh trình độ kinh tế, thể hiện mức độ

mở cửa hợp tác của đất nước LDN đầu tiên của Lào được Quốc hội thông qua năm 2000 Sau 4 năm áp dụng, LDN (2001) đã có nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầu thực tế, dẫn tới những khó khăn cho quá trình thành lập, hoạt động của DN Chính điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu hội nhập thế giới và chủ trương, đường lối đẩy mạnh công cuộc đổi mới của Đảng đã tác động thúc đẩy sự ra đời của LDN (2005)

1.3 CƠ SỞ CỦA VIỆC THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở LÀO

Theo tác giả, việc Lào cần tham khảo hinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về DN của Việt Nam dự trên cơ sở sau:

1.3.1 Lào và Việt nam có cùng điều kiện địa lý, tự nhiên, có Đảng Cộng sản lãnh đạo và nhà nước công nông quản lý

Lào và Việt Nam cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, và nhiều nét tương đồng về phong tục, tập quán và văn hóa- xã hội Từ năm 1986 đến nay, nhân dân hai nước cùng xây dựng

và phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đã gặt hái được nhiều thành công

Việt Nam và Lào hiện nay là một số ít các nước theo chế độ XHCN Các Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định việc kiên trì lãnh đạo đất nước theo con đường XHCN và tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng đất nước

Do chỉ một đảng lãnh đạo đất nước, sự thăng trầm của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào vai trò lãnh đạo và các chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước đưa ra

Trang 13

Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ VIII (2006) đề ra mục tiêu đến năm

2020 xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh

1.3.2 Hai nước có những điều kiện về kinh tế - xã hội, xuất phát điểm giống nhau

Việt Nam và Lào là hai quốc gia có nền kinh tế đang phát triển Việt Nam phấn đầu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp hóa, Lào cũng phải thoát khỏi tình trạng kém phát triển và có nhân tố cơ bản để tiến vào công nghiệp hóa hiện đại hóa Như vậy, cả hai nước đều là những nền kinh tế đang chuyển đổi, từng bước xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần Việt Nam và Lào mới gia nhập nền kinh tế thị trường nên phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình

tự do hóa đầu tư và thương mại cũng như sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước phát triển

1.3.3 Hai nước đều có chính sách phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Năm 1986, tại Đại hội lần thứ IV Đảng NDCM Lào đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế của Lào chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung sang cơ chế quản lý kinh tế thị trường nhiều thành phần, công nhận sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế Để thực hiện đường lối đổi mới cũng như tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho các thành phần kinh tế tồn tại và phát triển, Nhà nước CHDCND Lào đã ban hành nhiều VBPL nhằm khuyến khích, phát triển kinh

tế, phát huy nội lực, thu hẹp dần khoảng cách giữa Lào với các nước trong khu vực

và trên thế giới như LDN, LĐT…

Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đối với nền kinh tế của Việt Nam, hiện nay có 5 thành phần kinh tế bao gồm kinh

tế Nhà nước, kinh tập thể (nòng cốt là kinh tế hợp tác xã), kinh tế tư nhân, kinh tế

tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, giữ vai trò định hướng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để tạo môi

Trang 14

trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng, Nhà nước Việt Nam cũng ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật như luật Công ty, Luật DNNN, LDN, LĐT…

Như vậy, Lào và Việt Nam đều bắt đầu công cuộc đổi mới từ năm 1986

và ban hành các chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường

là một quá trình phức tạp lâu dài mà trong đó pháp luật đóng vai trò quan trọng,

là công cụ đắc lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.3.4 Pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam có nhiều tiến bộ và khá tương thích với pháp luật về doanh nghiệp của nhiều nước trên thế giới

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đang được hiện thực hóa trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước và các thiết chế

30 năm kể từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đã có bước đổi mới và chuyển biến đáng kể cả

về số lượng và chất lượng Hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Công tác thi hành pháp luật được quan tâm và chú trọng hơn, công tác phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý được triển khai khá đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với nhiều hình thức phong phú, thiết thực Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành của cuộc sống qua đó đã khắc phục được nhiều sở hở, khiếm khuyết của các VBPL và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Lào nhận được rất nhiều sự trợ giúp từ Việt Nam Lào

có thể thực hiện việc hoàn thiện pháp luật dựa trên những bài học kinh nghiệm, thực tiễn từ Việt Nam Có thể nói rằng hệ thống pháp luật (nói chung), pháp luật về

DN (nói riêng) của Việt Nam khá hoàn thiện, đầy đủ, tiến bộ và khá tương thích với pháp luật về DN của nhiều nước trên thế giới là bài học kinh nghiệm cho Lào hoàn thiện pháp luật về DN

Trang 15

1.4 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CỦA LÀO

Nhà nước Việt Nam đã ban hành hệ thống pháp luật điều chỉnh về các loại hình DN thể hiện việc thừa nhận sự tồn tại và phát triển của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các loại hình DN

Sự ra đời và ngày càng hoàn thiện của các quy phạm pháp luật về DN giúp cho các loại hình DN có cơ hội cũng như yên tâm tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao Pháp luật quy định trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các loại hình DN cũng như quy định quyền và nghĩa vụ của các DN khi tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như hạn chế tình trạng tùy tiện, vô trách nhiệm của các DN

Việc học tập kinh nghiệm của Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ

thống pháp luật về DN s giúp cho pháp luật về DN của Lào được ngày càng

hoàn thiện, ngày càng tương thích với pháp luật về DN của các nước trong khu vực và trên thế giới Điều đó làm cho các DN của Lào được tổ chức và hoạt động

có hiệu quả hơn, làm cho Nhà nước Lào quản lý các DN có hiệu quả hơn

1.5 TÁC DỤNG CỦA VIỆC THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CỦA LÀO

Nhận thức được vị trí, tầm trọng của việc hoàn thiện pháp luật DN tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho các nhà đầu tư đầu tư vào Lào, trong những năm gần đây, Lào luôn tích cực học tập kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam,

để hoàn thiện pháp luật DN của Lào

Việc tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về

DN của Lào có những tác dụng lớn như: tiết kiệm được thời gian và công sức; áp dụng được những kinh nghiệm đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn; làm cho pháp luật về DN của Lào tương thích với pháp luật của các nước khác trong khu vực và trên thế giới, tạo ra môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi giữa Lào và các nước trên thế giới; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các DN của Lào được tổ chức, hoạt động kinh tế có hiệu quả, có đóng góp ngày càng lớn hơn vào công cuộc xây dựng

và phát triển đất nước Lào

Trang 16

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở LÀO – SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

2.1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP Ở LÀO

DN ở Lào được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau: DN tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần Mỗi loại hình DN có những đặc trưng, những hạn chế hoặc lợi thế riêng Sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín DN, thói quen tiêu dùng, khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập DN; tổ chức quản lý DN

Khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập DN thì điều quan trong là các chủ thể đó phải biết đánh giá những ưu và nhược điểm của từng loại hình DN để lựa chọn được một loại hình DN phù hợp là rất quan trọng, điều đó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nhìn chung các DN này

đều là “các tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Ngoài các đặc điểm trên, các DN này còn có những

đặc điểm riêng giúp ta phân biệt các loại hình DN này với nhau

2.1.1 Doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 152 LDN Lào thì “DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và

tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN, DN tư nhân không được phát hành chứng khoán, mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DN

tư nhân”

Điều 183 LDN 2014 Việt Nam cũng quy định tương tự như trên “DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN, DN tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DN tư nhân”

Qua quy định trong pháp luật DN hai nước ta có thể thấy cách nhìn nhận

DN tư nhân của hai nước là giống nhau và đều có các điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ Đây có thể nói là

đặc điểm nổi bật để phân biệt DN tư nhân với các loại hình khác như công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên DN tư nhân được xếp nhóm các DN một chủ sở hữu Các DN một chủ bao gồm: công ty nhà nước, công ty TNHH một thành viên và DN tư nhân Tuy nhiên, ngay trong nhóm các

DN một chủ, DN tư nhân cũng mang những nét khác biệt, đó là loại hình DN

Trang 17

này chỉ do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu Trong DN tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như ở các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của DN chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất Chủ DN tư nhân bỏ toàn

bộ số vốn ra thành lập DN, tự quyết định việc quản lý DN, thu toàn bộ lợi nhuận

có được nếu có Nguồn vốn để DN thành lập, hoạt động đó là của một mình chủ

DN với các loại hình khác, cụ thể:

Một là, về quan hệ sở hữu vốn trong DN Nguồn vốn ban đầu của DN tư

nhân xuất phát chủ yếu từ tài sản của một cá nhân (gọi là vốn đầu tư của chủ DN

tư nhân) tài sản đưa vào kinh doanh đó là tài sản của DN tư nhân Chủ DN tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư Hầu như không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của DN tư nhân và phần tài sản còn lại thuộc sở hữu của chủ DN

Hai là, quan hệ quản lý DN tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì

vậy cá nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của DN Chủ DN tư nhân là người đại diện theo pháp luật của DN tư nhân, không phải chia sẻ quyền quản lý DN với bất cứ đối tượng nào khác, có quyền định đoạt đối với tài sản DN cũng như có toàn quyền quyết định việc tổ chức quản lý doanh nghiệp để DN hoạt động có hiệu quả nhất Chủ DN tư nhân có thể

tự mình quản lý DN hoặc thuê người khác quản lý DN

Ba là, về phân phối lợi nhuận Toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động

kinh doanh của DN s thuộc về một mình chủ sở hữu DN, sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Nhà nước và các bên thứ ba

Chủ DN có toàn quyền quyết định mọi vấn đề của DN bao gồm cả quản

lý, phân chia lợi nhuận Đây là ưu điểm lớn nhất của DN tư nhân so với các loại hình khác, chủ nghiệp không phải chia sẻ quyền lực với bất kỳ chủ thể nào khác Nhược điểm của DN tư nhân là duy nhất một cá nhân gánh chịu những rủi ro xảy

ra với DN mà không thể yêu cầu người khác gánh đỡ những rủi ro này

Thứ hai, chủ DN tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước những khoản nợ

phát sinh trong quá trình hoạt động

Chủ DN tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của DN mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trong trường hợp phần vốn đầu tư đã đăng ký không đủ để trang trải các khoản nợ của DN tư nhân Một DN tư nhân không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và lâm vào tình trạng phá sản thì tất cả những tài sản thuộc sở hữu của chủ DN tư nhân đều nằm trong diện tài sản phá sản của DN chứ không như các loại hình DN khác thì nhà

Trang 18

đầu tư chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đăng ký với cơ quan đăng

ký kinh doanh

Thứ ba, DN tư nhân không có tư cách pháp nhân Theo Điều 79 BLDS

(2005) của Lào thì chủ thể có tư cách pháp nhân khi chủ thể đó có tài sản riêng

rõ ràng và tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó

Điều 84 BLDS (2005) của Việt Nam quy định các điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân Theo LDN (2014) của Việt Nam, DN tư nhân là loại hình DN duy nhất không có tư cách pháp nhân DN tư nhân không

có sự độc lập về tài sản Tiêu chuẩn để xét tính độc lập về tài sản của một DN là tài sản của DN đó phải độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ DN DN tư nhân không thỏa mãn tiêu chuẩn quan trọng này, vì thế nó không thỏa mãn một trong các điều kiện cơ bản để có được tư cách pháp nhân

Việc không có tư cách pháp nhân là điểm đặc trưng của DN tư nhân LDN (2005) của Lào và LDN (2014) của Việt Nam đều quy định DN tư nhân không có tư cách pháp nhân

2.1.2 Công ty hợp danh

Ở Lào, công ty hợp danh là một loại hình của công ty đối nhân, trong đó các thành viên cùng tiến hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Do tính chất liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên các thành viên phải thật sự hiểu biết nhau, tin

tưởng nhau “sống chết có nhau”

Vấn đề trách nhiệm, các thành viên phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm vô hạn, điều đó được thể hiện ở các đặc trưng sau:

Các thành viên chịu trách nhiệm một cách trực tiếp cơ bản, vì chủ nợ có quyền đòi bất kỳ ai với toàn bộ số tiền nợ Trách nhiệm này không thể bị giới hạn đối với bất kỳ thành viên nào

Trong công ty hợp danh không có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản công

ty và tài sản cá nhân Sự chuyển dịch quyền sở hữu đối với khối tài sản chung sang tài sản riêng rất đơn giản và khó kiểm soát Một thành viên chưa được hưởng chút lợi nhuận nào cũng vẫn phải chịu trách nhiệm Khả năng rủi ro và nguy hiểm đối với từng thành viên rất lớn Nếu công ty thua lỗ, họ rất dễ khánh kiệt gia sản Tuy nhiên, lợi thế của công ty là khả năng dễ dàng được ngân hàng cho vay vốn hoặc hoãn nợ, bởi tính chịu trách nhiệm vô hạn đã là sự bảo đảm rồi

Do tính an toàn pháp lý đối với công chúng cao nên công ty hợp danh chịu ít quy định pháp lý ràng buộc, pháp luật dành quyền rộng rãi cho các thành

Trang 19

viên thỏa thuận, quy định ràng buộc duy nhất là tính chịu trách nhiệm vô hạn Về

tổ chức, công ty hợp danh rất đơn giản Các thành viên có quyền thỏa thuận trong hợp đồng về việc tổ chức, điều hành, đại diện của công ty Công ty hợp danh được tổ chức dưới một hãng chung Hãng này thường mang tên một thành viên hoặc tất cả thành viên Hầu hết pháp luật các nước đều quy định công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân Vấn đề góp vốn, luật không quy định vốn tối thiểu các bên có quyền thỏa thuận các hình thức góp vốn (bằng tiền, hiện vật,

các bản quyền…) thậm chí “góp vốn” chỉ là uy tín kinh doanh của cá nhân

Trong công ty hợp danh, việc thay đổi thành viên là rất khó khăn, chỉ cần một thành viên chết, xin ra khỏi công ty là lí do quan trọng để giải thể

Công ty hợp danh là một loại công ty kinh doanh, thuộc loại hình công

ty đối nhân, trong đó các thành viên đều liên đới chịu trách nhiệm Theo quan điểm truyền thống, trong công ty hợp danh chỉ có các thành viên hợp danh Nhưng Điều 142 LDN của Lào, Điều 172 LDN (2014) của Việt Nam đều quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân Điều này mang lại những thuận lợi cho quá trình tham gia thị trường của công ty

- Có hai loại công ty hợp danh: công ty hợp danh thường và hợp danh hữu hạn:

- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công

ty, ngoài ra còn có thành viên góp vốn;

- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp đã cam kết;

Như vậy, theo quan điểm của các nhà làm luật Lào thì công ty hợp danh gồm hai loại: hợp danh thường và hợp danh hữu hạn

Công ty hợp danh thường bao gồm ít nhất hai thành viên hợp danh Các thành viên này chịu trách nhiệm vô hạn với các rủi ro của công ty Nếu tài sản của công ty không đủ trang trải cho số nợ của công ty thì các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty, trách nhiệm này là vô hạn và liên đới, tức là chủ nợ có thể đòi nợ bất cứ thành viên nào có đủ khả năng Đặc điểm trách nhiệm vô hạn này tạo ra sự an tâm cho các đối tác khi tiến hành làm ăn với công ty hợp danh Tuy nhiên, do pháp luật quy định trong công ty tồn tai ít nhất hai thành viên hợp danh, do đó dù chịu trách nhiệm vô hạn mọi gánh nặng đều được san sẻ giữa các thành viên hợp danh, các thành viên

trong công ty vốn là những người quen biết, s “ngồi cùng hội cùng thuyền”

[11,tr16]

Trang 20

Công ty hợp danh hữu hạn là công ty hợp danh mà trong đó không chỉ có các thành viên hợp danh mà còn có các thành viên góp vốn Thành viên góp vốn chỉ phải chịu TNHH trong số vốn góp đó Xuất phát từ việc tồn tại loại thành viên này mà người ta đặt tên cho công ty là hợp danh hữu hạn, mục đích là phân biệt nó với công ty hợp danh thường, để từ đó giúp những thành viên chỉ chịu TNHH Thực tế loại công ty này trên thế giới thường gọi là công ty hợp vốn đơn giản Việc thừa nhận công ty hợp danh hữu hạn là một sự mở rộng của pháp luật Lào để thu hút các chủ thể góp vốn vào công ty, tăng khả năng tài chính của công ty Một mặt, các thành viên hợp danh vẫn giữ nguyên quyền quản lý, điều hành công ty, mặt khác họ lại có thành viên góp vốn chia sẻ gánh nặng tài chính,

có nguồn vốn để sử dụng vào kinh doanh và giải quyết các rủi ro

Pháp luật Việt Nam quy định về công ty hợp danh tại Điều 172 LDN (2014) Công ty hợp danh ở Việt Nam có thể có thành viên góp vốn Pháp luật Việt Nam không kể tên hai loại công ty hợp danh giống LDN Lào Việc tồn tại hay không tồn tại thành viên góp vốn cũng không làm thay đổi tên chung của công ty Như vậy, s tồn tại một loại công ty hợp danh chỉ đơn thuần gồm các thành viên hợp danh và một loại công ty bao gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Tuy nhiên, pháp luật hai nước đều ghi nhận đặc điểm trách nhiệm của hai loại thành viên là khác nhau Nếu như thành viên hợp danh phải chịu tất cả những trách nhiệm gắn với hoạt động của công ty thì ngược lại họ cũng được pháp luật trao cho rất nhiều quyền lợi, cụ thể đó là quyền quản lý công ty, nhân danh công ty tham gia các hoạt động kinh doanh, quyền quyết định các vấn đề làm ăn của công ty; trong khi đó thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số tài sản đã cam kết góp và hưởng lợi nhuận theo phần vốn góp đó,vì vậy thành viên hợp danh không được quyền quản lý, điều hành, hay nhân danh công ty

2.1.3 Công ty TNHH

Ở Lào, công ty TNHH là loại hình công ty đối vốn, trong đó, các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn mà

họ đã góp vào công ty Công ty TNHH có những đặc trưng sau: Công ty TNHH

là một pháp nhân độc lập, địa vị pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty Thành viên công ty không nhiều và thường là những người quen biết nhau Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập, công ty phải bảo toàn vốn ban đầu Phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu, và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài Trong quá trình hoạt động, không được phép công khai huy động vốn trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu)

Trang 21

Việc tổ chức, điều hành ở công ty TNHH đơn giản so với công ty cổ phần Về mặt pháp lý, công ty TNHH thường chịu sự điều chỉnh bắt buộc ít hơn công ty cổ phần Công ty TNHH là loại công ty trung gian giữa công ty đối nhân

và công ty đối vốn, nó vừa kết hợp được những ưu điểm về chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty cổ phần (công ty đối vốn) và ưu điểm các thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân Nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành lập và quản lý của công ty cổ phần và nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân

Theo LDN của Lào và Việt Nam thì công ty TNHH được chia làm hai hai loại: công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên

2.1.3.1 Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Điều 34 LDN của Lào quy định về công ty TNHH hai thành viên trở lên như sau:

- Công ty có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh;

- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng không quá năm mươi;

- Thành viên công ty chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào trong công ty;

Qua quy định trên của LDN Lào, ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của công ty TNHH hai thành viên trở lên:

Thứ nhất, công ty là một loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có

tài sản riêng và tài sản của công ty hoàn toàn tách biệt với tài sản của thành viên

Thứ hai, công ty có tối thiểu hai thành viên và tối đa là năm mươi thành

viên Việc quy định tối thiểu này nhằm để phân biệt với công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần; còn quy định tối đa để giới hạn mức thành viên công ty không quá đông, nếu muốn đông hơn, công ty phải chuyển sang hoạt động theo loại hình công ty cổ phần

Thứ ba, công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số

vốn góp vào trong công ty Có nghĩa là dù khoản nợ của công ty là bao nhiêu thì công ty cũng chỉ phải gánh chịu trên cơ sở tài sản của công ty, thành viên chịu trách nhiệm trong số vốn đã cam kết góp mà thôi

Thứ tư, công ty không được phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn mà chỉ được phát hành trái phiếu

Thứ năm, vốn góp của các thành viên không được thể hiện dưới hình

thức cổ phần nên việc chuyển nhượng gặp khó khăn hơn việc chuyển nhượng

Trang 22

vốn ở công ty cổ phần Chỉ khi những thành viên trong công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày chào bán thì mới được chuyển nhượng cho người khác không phải là thành viên

Đối với Việt Nam, công ty TNHH là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình

Theo Điều 47 LDN (2014), công ty TNHH có những đặc điểm sau: là

DN có không quá 50 thành viên trong suốt quá trình hoạt động Công ty TNHH

là một pháp nhân, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Như vậy, trong công ty TNHH có sự phân tách tài sản: tài sản của công ty và tài sản của thành viên Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật

Như vậy, theo Điều 47 LDN (2014) của Việt Nam cũng quy định tương

tự như LDN Lào Công ty TNHH hai thành viên trở lên của Việt Nam cũng mang những đặc điểm chung như đã phân tích ở trên, trong cách nhìn về loại hình công ty này, quy định trong pháp luật hai nước rất giống nhau

Từ những đặc điểm trên cho thấy công ty TNHH thể hiện sự kết hợp của

cả loại hình công ty đối nhân và đối vốn Xuất phát từ trách nhiệm hữu hạn nên khi thành lập công ty người ta chủ yếu quan tâm đến số vốn góp của mỗi thành viên chứ không quan tâm đến nhân thân người đó nhiều lắm, nhưng khi công ty

đã đi vào hoạt động thì việc kết nạp thành viên qua chuyển nhượng vốn phải được chấp thuận của các thành viên khác bằng cách từ chối mua lại vốn góp của thành viên chuyển nhượng Như vậy, công ty đã thể thể là loại hình công ty

“đóng” chứ không có tính chất “mở” như công ty cổ phần

2.1.3.2 Công ty TNHH một thành viên

Theo Điều 55 LDN của Lào thì công ty TNHH một thành viên là:

“1 Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

2 Công ty có thể do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu;

3 Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản công ty trong phạm vi số vốn điều lệ công ty”

Trang 23

Đối với Việt Nam, trong quá trình phát triển, pháp luật công ty đã có những quan niệm mới về công ty đó là thừa nhận mô hình công ty TNHH một thành viên Thực tiễn kinh doanh ở Việt Nam, các DNNN, DN của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội về bản chất cũng được tổ chức và hoạt động giống như công ty TNHH một thành viên (một chủ sở hữu) LDN (2014) quy định cá nhân cũng có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên

Theo đó công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty) Chủ sở hữu công

ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ

Theo quy định tại Điều 73, công ty TNHH một thành viên có một số đặc

điểm sau: do một thành viên là tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu; Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn; Việc chuyển nhượng phần vốn góp của chủ sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật; Công ty TNHH có tư cách pháp nhân; Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu

Như vậy, theo Điều 73 LDN (2014) của Việt Nam cũng quy định tương

tự như LDN của Lào LDN (2005) của Lào và LDN (2014) của Việt Nam đều thừa nhận cá nhân có thể được phép làm chủ công ty, nhưng phải đáp ứng điều kiện tách biệt rõ tài sản của cá nhân với tài sản của công ty Như vậy, thông qua cách quy định của LDN Lào và Việt Nam thì công ty TNHH một thành viên và

DN tư nhân đều do một cá nhân làm chủ sở hữu

2.1.4 Công ty cổ phần

Theo Điều 74 LDN của Lào, công ty cổ phần là DN như sau:

“Có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy chứng nhân đăng ký kinh doanh; vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu giới hạn là ba

và không hạn chế tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

Công ty có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Trong các loại doanh nghiệp, có thể nói công ty cổ phần là loại hình được phép huy động vốn đa dạng nhất”

LDN Việt Nam cũng có những quy định tương tự tại Điều 110 LDN (2014) của Việt Nam Công ty cổ phần là DN, trong đó:

Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

Trang 24

Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

Như vậy, công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu

cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu

Qua những quy định của pháp luật hai nước ta có thể thấy rằng công ty

cổ phần được nhìn nhận khá giống nhau Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ bằng chính tài sản của mình Công

ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn điển hình và số vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, đây là đặc điểm chỉ có duy nhất ở công ty cổ phần Mặt khác, công ty được phép phát hành rất nhiều chứng khoán, nhờ đó mà công ty có khả năng huy động vốn lớn, do vậy mà công ty có thể kinh doanh ở những lĩnh vực đòi hỏi vốn cao, hay lĩnh vực có độ rủi ro lớn Vì nếu cần vốn, công ty s huy động được vốn dưới nhiều hình thức chỉ trong một thời gian ngắn; nếu có nhiều rủi ro thì rủi ro s được chia sẻ cho nhiều thành viên Vì vậy, đây là một loại hình công ty được ưu chuộng ở cả hai nước

2.1.5 Doanh nghiệp nhà nước

Đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, Lào thì vai trò của DNNN càng được thể hiện rõ nét DNNN ở Lào được quy định trong LDN (2005), theo đó DNNN là những cơ sở sản xuất kinh doanh do Nhà nước sở hữu toàn bộ hay một phần vốn góp trong DN Điều 169 quy định

“DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức dưới dạng công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH” Điều 191 quy định: “DNNN là một đơn vị kinh doanh của Nhà nước được thành lập và đầu tư hoặc liên doanh với các thành phần kinh tế khác, với số vốn của Nhà nước trên 50% trở lên Nguồn vốn của DNNN được lấy

từ sự đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp cổ phần, tiền vay ngân hàng hoặc thiết chế tài chính ở trong và ngoài nước trên cơ sở chấp nhận quyền, nghĩa vụ và lợi ích chính đáng của hai bên đã ghi trong các điều lệ của LDN”

Trang 25

Trước đây, DNNN ở Lào là DN do Nhà nước sở hữu toàn bộ số vốn góp, thì LDN (2005) quy định đó là những DNNN sở hữu từ 50% số vốn góp trở lên Qua quy định của pháp luật Lào, DNNN ở Lào có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, về sở hữu DNNN là DN do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn

điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối Đó là những DN do nhà nước đầu tư toàn bộ số vốn để thành lập hoặc những DN mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ Điểm nổi bật của DNNN là vốn thuộc sở hữu Nhà nước hoặc cơ bản thuộc về Nhà nước

Thứ hai, quyền quyết định, chi phối với doanh nghiệp Nhà nước thông

qua đại diện của mình, có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp như điều lệ doanh nghiệp, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh, việc tổ chức quản lý các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp

Thứ ba, tư cách pháp lý, trách nhiệm tài sản của DN DN có tư cách

pháp nhân, thực hiện hoạch toán độc lập, lấy thu bù chi DN có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn) DNNN độc lập về kinh tế và có tư cách pháp lý độc lập

Thứ tư, hình thức tồn tại DNNN có thể được tổ chức dưới nhiều hình

thức khác nhau, có thể là công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên

Khác với pháp luật Lào, pháp luật Việt Nam quy định về DNNN tại

chương IV LDN (2014) “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ”

Như vậy theo quy định của pháp luật DN Việt Nam, DNNN có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về sở hữu: DNNN là DN do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều

lệ Đó là những DN do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ để thành lập

Thứ hai, về quyền quyết định đối với DN DNNN là DN do Nhà nước sở

hữu 100% vốn điều lệ nên Nhà nước có toàn quyền định đoạt đối với DN hoặc quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, đối với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, đối với việc tổ chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của DN

Thứ ba, hình thức tồn tại: DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty

TNHH nhà nước một thành viên, DN do Nhà nước nắm giữ dưới 100% vốn điều lệ được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần

Trang 26

Thứ tư, tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản: DNNN là tổ chức kinh tế

có tư cách pháp nhân, thực hiện hoạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi và phải đảm bảo có lãi để tồn tại và phát triển DNNN có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN (trách nhiệm hữu hạn)

Sở dĩ có việc khác nhau trong việc ghi nhận DNNN ở hai nước là do một số lý do sau:

Thứ nhất, theo pháp luật Việt Nam thì DNNN cần tổ chức, hoạt động theo

khung pháp lý chung, không phân biệt chủ sở hữu Pháp luật Lào cũng thấy rằng DNNN là một loại hình cần được trực tiếp quy định trong LDN DNNN có bản chất

là loại hình công ty có sự góp vốn của Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư

Thứ hai, thực tế phát triển DNNN cho thấy DNNN Việt Nam đã phát

huy được vai trò tích cực, đi đầu xây dựng trong những lĩnh vực then chốt, góp phần giúp Nhà nước điều tiết thị trường Ghi nhận vai trò tích cực ấy, pháp luật Việt Nam quy định trong văn bản luật riêng là LDNN (2003) Nhưng để tạo một sân chơi bình đẳng cho các loại hình DN, hiện nay các công ty nhà nước đều phải chuyển đổi để hoạt động theo LDN (2014) mà không được quy định trong một đạo luật riêng

2.1.6 Doanh nghiệp liên doanh

Theo Điều 224 LDN của Lào quy định công ty hỗn hợp (công ty liên doanh) được thành lập và quản lý dưới các hình thức công ty được quy định trong Luật này

Công ty hỗn hợp bao gồm cổ đông nhà nước và cổ đông của loại hình doanh nghiệp khác, có thể là trong nước hoặc nước ngoài, trong đó mỗi bên nắm giữ 50% cổ phần

Như vậy, công ty liên doanh là công ty có sự liên kết của DN có vốn Nhà nước với tổ chức, cá nhân khác trong nước hoặc với tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước ngoài Điều này có nghĩa là, chủ sở hữu công ty có thể bao gồm một bên có quốc tịch Lào với một bên là DN có vốn Nhà nước hoặc giữa một bên là DN có vốn Nhà nước với một bên nước ngoài, khi các bên có nhu cầu liên kết với nhau để để tiến hành sản xuất, kinh doanh tại Lào DN liên doanh được tổ chức hoạt động dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần

LDN Việt Nam lại quy định khác về DN liên doanh tại LĐT 2005 và

Nghị định số 108/2006/NĐ–CP hướng dẫn thi hành LĐT Doanh nghiệp liên doanh được hiểu là doanh nghiệp có sự liên kết giữa (các) bên Việt Nam với một hay nhiều bên nước ngoài Như vậy, cũng giống như pháp luật Lào, pháp luật

Trang 27

Việt Nam cũng quy định công ty liên doanh là sự liên kết nhưng đối với Việt Nam, điều kiện đầu tiên để nhận biết DN liên doanh là yếu tố chủ thể luôn tồn tại với tư cách một bên là phía có quốc tịch Việt Nam, còn bên kia là chủ thể không

có quốc tịch Việt Nam, việc Nhà nước có tham gia liên doanh hay không không làm ảnh hưởng đến bản chất của doanh nghiệp liên doanh [11,tr14]

Như vậy, quan niệm DN liên doanh của Việt Nam và Lào bản chất cũng

là sự liên kết nhưng sự liên kết về mặt chủ thể lại có sự khác nhau Nếu như Việt Nam quan niệm hai bên chủ thể trong DN liên doanh có quốc tịch khác nhau thì LDN Lào lại cho rằng DN liên doanh có thể tồn tại giữa hai chủ thể có cùng quốc tịch, cụ thể: một bên là DN có vốn Nhà nước với một bên là tổ chức, cá nhân Lào Nếu như Việt Nam không bắt buộc có sự tham gia của DN có vốn Nhà nước thì LDN Lào bắt buộc mọi trường hợp phải có sự xuất hiện của DN có vốn Nhà nước với tư cách là một bên trong liên doanh

Như vậy, quan điểm DN liên doanh của Lào gần giống như DNNN của Việt Nam Tuy nhiên, Lào yêu cầu phần vốn góp đối với mỗi bên chiếm tỷ lệ bắt buộc là 50% DN liên doanh không được quy định riêng trong LDN của Việt Nam vì về bản chất nó được tổ chức theo một trong các loại hình các DN được quy định trongDNL (2014) Thực tế DN liên doanh của Lào cũng hoạt động theo các loại hình DN cụ thể là công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần nhưng nhà làm luật Lào vẫn quy định DN liên doanh ở một chương riêng trong LDN (2005), tiếp tục quy định lại tại LĐT, dẫn tới việc quy định một vấn đề quá nhiều lần mà không cần thiết dẫn đến sự chồng chéo giữa các quy định

Theo quan điểm của tác giả, trong vấn đề này, quy định của pháp luật Việt Nam đã thể hiện sự hợp lý hơn Trong quá trình hoàn thiện, pháp luật của Lào cần học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam để quy định hợp lý hơn, tránh sự chồng chéo giữa các quy định; vì công ty liên doanh được thành lập và quản lý dưới các hình thức công ty đã được quy định trong LDN của Lào

2.2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở LÀO

2.2.1 Các quyền của các doanh nghiệp Lào

Theo quy định tại đoạn 1 Điều 2 Luật Doanh nghiệp (2005) của Lào:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh của một người hoặc pháp nhân có tên riêng, có vốn, tài sản, có hệ thống quản lý, có trụ sở, và được đăng ký phù hợp với Luật Doanh nghiệp Doanh nghiệp còn được gọi là “Đơn vị kinh doanh”

Các quy định pháp lý về DN có ý nghĩa rất quan trọng Đó là sự thể hiện

cơ chế dân chủ trong lĩnh vực kinh tế của quá trình đổi mới quản lý các DN ở

Trang 28

Lào Tuy vậy, trong Luật Kinh doanh cũng như trong LDN của Lào không có những điều khoản quy định một cách có hệ thống về việc DN có những quyền gì Chỉ có thể thông qua việc nghiên cứu toàn bộ các điều khoản của Luật Kinh doanh cũng như LDN của Lào mới có thể xác định được DN có những quyền gì Qua nghiên cứu, có thể thấy DN ở Lào có các quyền sau đây:

- Quyền được Nhà nước bảo hộ cho việc thành lập, tổ chức và hoạt động của mình

Các DN là những chủ thể sống động, có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Công dân thành lập DN đã sử dụng quyền tự do lập hội và quyền có việc làm của công dân vốn được quy định trong Hiến pháp Các DN, bên cạnh việc tổ chức và hoạt động vì lợi ích của mình, còn tạo ra nhiều việc làm

và thu nhập cho người lao động, cũng như đóng góp nhiều về vật chất, tài chính vào ngân sách Nhà nước Do đó, các DN có quyền được Nhà nước bảo hộ cho việc thành lập, tổ chức và hoạt động của mình Điều 2 Luật Kinh doanh quy

định: “Nhà kinh doanh trong nước và nước ngoài đầu tư hoạt động kinh doanh trong các ngành: sản xuất, vận tải, xây dựng, thương nghiệp và dịch vụ khác được bảo hộ quyền và lợi ích theo pháp luật của nước Cộng hòa DCND Lào”

Điều 3 LDN (2005) quy định về quyền thành lập DN: “Công dân Lào, những người thường trú, người không quốc tịch đang sinh sống, cư trú tại nước CHDCND Lào và những người sống bên ngoài Tổ quốc đều có quyền tiến hành hoặc tham gia hoạt động kinh doanh phù hợp với luật pháp của nước CHDCND Lào” Điều 9 LDN quy định về các loại DN: Tại CHDCND Lào, có bốn loại DN: DN tư nhân, DNNN, DN hợp doanh và DN tập thể

DN tư nhân có thể thành lập và tiến hành kinh doanh theo những hình thức và kiểu loại DN được quy định trong Điều 10 và Điều 11 của LDN

DNNN và DN hợp doanh được thành lập và tiến hành kinh doanh dựa trên những nguyên tắc của công ty chủ đạo Các DNNN được gọi là “Công ty quốc doanh” và các DN hợp doanh được gọi là “Công ty hợp doanh (liên doanh)”

- Quyền được Nhà nước bảo vệ tài sản, tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của doanh nghiệp

Các DN chỉ có thể được thành lập và hoạt động trên cơ sở tư liệu sản

xuất và tiền vốn được bảo vệ và sử dụng một cách có hiệu quả nhất Điều 14 trong Hiến pháp của Lào quy định: “Nhà nước bảo vệ và phát huy các hình thức

sở hữu của Nhà nước, tập thể, cá thể, sở hữu tư nhân của tư sản trong nước và

sở hữu của ngoại kiều đầu tư ở CHDCND Lào” Điều 15 Hiến pháp cũng quy định: “Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu (quyền quản lý, quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng) và quyền thừa kế tài sản của các tổ chức và cá nhân”

Trang 29

Các quy định trên của Hiến pháp còn được cụ thể hóa hơn nữa trong

Điều 6 Luật Kinh doanh: “Vốn, tài sản, kể cả quyền và lợi ích hợp pháp của các

DN (trong đó có công ty TNHH) được bảo hộ bằng pháp luật”

- Doanh nghiệp có quyền bình đẳng trước pháp luật với các thành phần kinh tế khác

Một trong những điểm khác nhau căn bản giữa nền kinh tế theo cơ chế

kế hoạch hóa tập trung và nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường là trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Các DNNN thường được ưu tiên, ưu đãi nhiều mặt, còn các DN tư nhân phải chịu nhiều sự chèn ép, bị gây khó khăn cho sự tồn tại và hạn chế sự phát triển của các DN này

Còn trong nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế có sự tăng thêm

về số lượng; các DN thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau có quyền bình đẳng với nhau Đây là tiền đề cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, là điều kiện cho sự phát triển cuả các loại hình doanh nghiệp và cho việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp trước những sự vi phạm từ bất kỳ đối tượng nào Điều 14 của Hiến pháp đã quy định rõ quyền bình đẳng

của các thành phần kinh tế như sau: “Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế cạnh tranh và hợp tác với nhau nhằm phát triển sản xuất và kinh doanh Tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”

Điều 4 LDN quy định quyền bình đẳng trong hoạt động kinh doanh: “Tất cả mọi thành phần kinh tế, không kể nước ngoài hay trong nước, đều được coi ngang nhau và cùng bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động kinh doanh, nhằm mục đích thúc đẩy lực lượng sản xuất và mở rộng sản xuất, kinh doanh và dịch vụ”

Theo Điều 7, LDN (2014) của Việt Nam, DN có những quyền sau đây:

1 Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích

2 Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn

3 Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng

4 Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu

5 Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh

6 Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh

Trang 30

7 Tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ

8 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp

9 Từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định

10 Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

11 Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

12 Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Điều 5 LDN (2014) của Việt Nam còn quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với DN và chủ sở hữu DN, cụ thể:

1 Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật này; bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh

2 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

3 Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính

Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố trưng mua hoặc trưng dụng Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp

Như vậy, LDN Việt Nam đã quy hẳn một điều riêng về các quyền của

DN và pháp luật Việt Nam đã quy định các quyền cụ thể, rõ ràng và đầy đủ hơn các quyền mà LDN Lào đã quy định Pháp luật Lào mới dừng lại ở việc quy định quyền được Nhà nước bảo hộ cho việc thành lập, tổ chức và hoạt động của DN; quyền được Nhà nước bảo vệ tài sản, tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của DN; quyền bình đẳng trước pháp luật của các DN Còn rất nhiều quyền mà pháp luật

DN Lào chưa quy định thiếu cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các

DN Lào Chính vì vậy, khi hoàn thiện về các quyền của DN, Lào nên học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam và cần bổ sung một số quyền mà LDN hiện hành của Lào chưa quy định

Trang 31

LDN (2014) của Việt Nam đã bỏ những điều khoản về đăng ký kinh doanh Luật quy định những điều khoản về thành lập DN với thủ tục rút gọn và đơn giản Thực tế hiện nay, mục tiêu quản lý Nhà nước không đạt được trong việc quy định về đăng ký kinh doanh Có không ít DN, để tránh việc kinh doanh

ra ngoài những ngành nghề đã đăng ký - đã "lo xa" bằng cách đăng ký "khống"

Thế nhưng, mỗi khi phát sinh các hoạt động kinh doanh trong điều kiện thị trường luôn thay đổi, các DN lại phải một lần đăng ký ngành nghề kinh doanh Thủ tục đăng ký có thể khiến các cơ hội vụt qua Trong khi đó, pháp luật đã có những quy định về các ngành nghề cấm kinh doanh Số ngành nghề này, chắc chắn ít hơn rất nhiều so với số ngành nghề được phép kinh doanh Với nguyên tắc, người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, các DN có quyền kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm Chính vì vậy, theo quy định của LDN (2014), giấy CNĐKDN chỉ còn 4 nội dung, bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong Giấy CNĐKDN; bỏ việc xác định vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề v.v Điều này đã hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp, làm cho DN trở thành công cụ kinh doanh thực sự an toàn, đa công năng và rẻ hơn v.v

Như vậy, các DN thay đổi, thêm bớt ngành, nghề kinh doanh không cần phải làm lại giấy đăng ký DN mà chỉ thông báo thay đổi, theo quy định tại Điểm

a, Khoản 1 Điều 32 LDN (2014) Việc đăng ký ngành nghề kinh doanh ở Luật

mới chỉ mang tính “thông báo” giữa DN và cơ quan chức năng khi có sự thay

đổi – và công khai trên cổng thông tin quốc gia Việc đăng ký ngành nghề kinh

doanh không còn phức tạp như trước, nhưng không có nghĩa là được “thả nổi”

2.2.2 Các nghĩa vụ của các doanh nghiệp Lào

Cũng giống như các quy định về quyền của các DN, pháp luật của Lào hầu như chưa có một điều khoản trong một văn bản nào đề cập một cách có hệ thống đến các nghĩa vụ của các DN Lào Chỉ có thông qua việc nghiên cứu nội dung Hiến pháp, LDN và Luật Kinh doanh và một số văn bản pháp luật khác của Lào mới có thể nhận thức rõ các DN ở Lào có những nghĩa vụ gì Theo quy định của pháp luật Lào thì các DN ở Lào có những nghĩa vu sau:

Trang 32

- Sau khi đăng ký kinh doanh, phải đăng ký thuế với Sở Tài chính cấp tỉnh

Thuế là nguồn thu vô cùng quan trọng của một quốc gia; đó là nguồn tài chính trang trải cho các hoạt động của bộ máy hành chính, quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế…của đất nước Không có nguồn thu thuế thì không một Nhà nước nào có thể tồn tại và phát triển được Việc đóng thuế vừa là nghĩa vụ, vừa là

quyền lợi của các nhà kinh doanh Điều 18 Luật Kinh doanh của Lào: “sau khi đăng ký kinh doanh, DN phải đăng ký thuế với Sở Tài chính của tỉnh”

Trong quá trình hoạt động, các DN phải nộp thuế theo các quy định của pháp luật thuế Vi phạm nghĩa vụ nộp thuế là vi phạm pháp luật của Nhà nước Các

DN còn phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật, như: đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở văn hóa, y tế, giáo dục tại địa phương

nơi DN đóng trụ sở, đặt văn phòng đại diện hoặc có cơ sở sản xuất kinh doanh

- Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

DN là những cơ sở sản xuất, kinh doanh có liên quan chặt ch với môi trường và tài nguyên thiên nhiên Những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển bền vững của DN Do đó, các DN có nghĩa vụ bảo vệ môi

trường và tài nguyên thiên nhiên Điều 18 của Hiến pháp quy định rõ: “Mọi tổ chức và công dân phải bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: đất đai, rừng cây, muông thú, nguồn nước và không khí ”

- Phải có quỹ dự trữ

Quỹ là sự tập trung và sử dụng có mục đích một khoản tài chính nhất

định Điều 24 Luật Kinh doanh quy định: “Công ty TNHH, công ty TNHH một chủ và công ty cổ phần phải có quỹ dự trữ theo điều lệ trích từ 5% đến 10% từ lợi nhuận Điều lệ công ty có thể lập các loại quỹ khác”

Quỹ dự trữ bắt buộc được lập ra nhằm tăng cường nguồn tài chính dự trữ của doanh nghiệp DN không được phép sử dụng quỹ này để chia cho các thành viên DN Quỹ dự trữ bắt buộc dùng để bù vào phần lỗ của DN khi không còn một khoản dự trữ nào khác Việc lập quỹ dự trữ là nghĩa vụ của DN Nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích cho những người có quan hệ với

DN nhất là khi DN làm ăn thua lỗ

Điều 5 LDN (2005) của Lào quy định về nghĩa vụ của DN: “Các DN có nghĩa vụ hoạt động kinh doanh đúng với các lĩnh vực ngành nghề đã đăng ký và phù hợp với các chế độ sổ sách kế toán của DN, thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của người lao động, bảo vệ môi trường và tôn trọng các luật lệ và quy định của nước CHDCND Lào”

Trang 33

Điều 8, LDN (2014) của Việt Nam đã quy định các nghĩa vụ của DN Các nghĩa vụ này khá đầy đủ và cụ thể Ở Việt Nam, các DN có các nghĩa vụ sau:

1 Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện

2 Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán

3 Đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

4 Bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm

5 Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố

6 Thực hiện chế độ thống kê theo quy định của pháp luật về thống kê; định kỳ báo cáo đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo mẫu quy định; khi phát hiện các thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó

7 Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh

8 Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Cũng giống như các quy định về quyền của các DN, LDN Việt Nam cũng đã dành hẳn một điều riêng để quy định về các nghĩa vụ Khi hoàn thiện LDN, Lào cũng nên tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam

2.3 CÁC QUY ĐỊNH VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở LÀO

2.3.1 Cơ cấu tổ chức, quản lý của doanh nghiệp tƣ nhân

DN tư nhân chỉ do một cá nhân sở hữu, là người quyết định mọi hoạt động công ty Cá nhân có thể trực tiếp quản lý DN hoặc thuê người khác quản lý Tuy nhiên, nếu thuê người khác thì chủ DN tư nhân vẫn là người chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động của công ty Giới hạn trách nhiệm giữa chủ DN và người được thuê được phân chia thông qua hợp đồng thuê quản lý DN Có thể

Trang 34

nói trong mô hình DN tư nhân, chủ DN là chủ thực sự, mọi vấn đề đều do chủ

DN định đoạt không phải thông qua ý kiến bất kỳ chủ thể nào, cũng nhờ đó mà mọi vấn đề của DN đều được xem xét và giải quyết nhanh chóng

2.3.2 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty hợp danh

Trong công ty hợp danh, tương ứng với trách nhiệm vô hạn mà thành viên phải gánh vác thì thành viên hợp danh là người quản lý công ty, nhân danh công ty tham gia các hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, thành viên hợp danh cũng phải chịu một số hạn chế như không được là thành viên hợp danh của công

ty khác, không được làm chủ DN tư nhân; không được nhân danh cá nhân hoặc người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành nghề với công ty; không được quyền chuyển nhượng một phần hay toàn bộ vốn góp cho người khác nếu không được các thành viên còn lại đồng ý Trong quá trình hoạt động, công ty có quyền tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn Việc tiếp nhận phải được Hội đồng thành viên chấp nhận, Hội đồng thành viên bao gồm mọi thành viên Thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp của mình, nhưng thành viên này không được quyền tham gia quản lý công

ty, không được nhân danh công ty hoạt động Nhìn chung, pháp luật Việt Nam

và Lào quy định tương tự nhau về chế độ quản lý loại hình này, chỉ có điều pháp luật Lào ghi nhận rõ hai loại hợp danh thường và hữu hạn nên các quy định sắp xếp rõ ràng cho mỗi loại công ty hợp danh

Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch công ty đồng thời làm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty Việc tiến hành họp Hội đồng thành viên do chủ tịch Hội đồng triệu tập hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh Trường hợp Chủ tịch Hội đồng không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên thì thành viên có quyền triệu tập Cuộc họp phải ghi vào sổ biên bản của công ty Nếu điều lệ công ty không quy định khác thì những vấn đề quan trọng phải được ít nhất ¾ số thành viên thông qua (Điều 146 LDN Lào và Điều

177 LDN 2014 Việt Nam)

2.3.3 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty TNHH

Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên phụ thuộc vào số lượng thành viên của công ty Pháp luật hai nước đều quy định tương đồng, đối với công ty TNHH có từ hai đến 11 thành viên đều phải có: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, giám đốc (tổng giám đốc), kiểm soát viên Khi công ty có trên 11 thành viên thì công ty phải có Ban kiểm soát

Trang 35

* Hội đồng thành viên

Đây là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các thành viên công ty, nếu thành viên là tổ chức thì tổ chức phải chỉ định đại diện của mình vào Hội đồng Hội đồng thành viên không làm việc thường xuyên

mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp (hoặc lấy ý kiến bằng văn bản) và ra quyết định Mỗi năm, Hội đồng họp ít nhất một lần và có thể được triệu tập bất cứ lúc nào theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thành viên sở hữu trên 25% vốn điều lệ công ty Hội đồng thành viên xem xét và đưa ra những quyết định trọng yếu đối với công ty như vấn đề phương hướng phát triển, cơ cấu tổ chức…(Điều 38 LDN Lào và Điều 56 LDN 2014 của Việt Nam)

* Chủ tịch Hội đồng thành viên

Do Hội đồng thành viên bầu ra, Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiểm giám đốc, tổng giám đốc công ty; và là người đại diện theo pháp luật cho công ty, nêu điều lệ công ty quy định như vây

* Giám đốc (Tổng giám đốc)

Giám đốc là người điều hành hoạt động của công ty, được Hội đồng thành viên bổ nhiệm, và chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Thông thường, giám đốc công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên

* Ban kiểm soát

Ban kiểm soát là cơ quan thay mặt các thành viên công ty kiểm soát các hoạt động công ty, bảo đảm công ty hoạt động minh bạch, đúng đắn Với công ty

có từ 11 thành viên trở lên bắt buộc phải có ban kiểm soát, quyền và nghĩa vụ ban kiểm soát do điều lệ công ty quy định

Công ty TNHH một thành viên là tổ chức, chủ sở hữu công ty bổ nhiệm hoặc một số người đại diện theo ủy quyền với nhiệm kỳ không quá 5 năm, chủ

sở hữu có quyền thay thế người ủy quyền bất cứ lúc nào Nếu có hai người được

ủy quyền thì cơ cấu công ty gồm: Hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc và kiểm soát viên Hội đồng thành viên gồm tất cả những người đại diện theo ủy quyền Nếu chỉ có một người đại diện theo ủy quyền thì cơ cấu tổ chức bao gồm: Chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc và kiểm soát viên Điều lệ công ty s quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty Người đại

Trang 36

diện phải thường trú tại Việt Nam, nếu vắng mặt quá 30 ngày thì phai ủy quyền cho chủ thể khác

Với công ty TNHH một thành viên là cá nhân, cơ cấu tổ chức bao gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc (tổng giám đốc) Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty; Chủ tịch hoặc Giám đốc (tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại điều lệ công ty Chủ tịch công ty có thể kiểm nhiệm hoặc thuê người khác làm Giám đốc (tổng giám đốc) [28,tr11]

2.3.4 Cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty cổ phần

Công ty cổ phần thường có rất nhiều thành viên tham gia, việc tổ chức quản

lý công ty khá phức tạp, do đó yêu cầu đặt ra là cơ chế quản lý công ty phải chặt

ch Theo Điều 88 LDN của Lào và Điều 134 LDN (2014) của Việt Nam, cơ cấu thông thường của công ty cổ phần s gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị

và Giám đốc công ty Nếu công ty có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần thì phải thành lập Ban kiểm soát

* Đại hội đồng cổ đông

Cơ quan này được quy định tại Điều 91 LDN Lào và Điều 135 LDN

2014 của Việt Nam Đây là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công

ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết Cổ đông có thể trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người khác dự họp đại hội đồng Đại hội đồng chỉ làm việc trong thời gian họp, ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp hoặc ý kiến bằng văn bản Đại hội đồng có quyền quyết định những vẫn đề quan trọng như: loại cổ phần, tổng số cổ phần được bán, việc bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh…Đại hội đồng cổ đông họp ít nhất mỗi năm một lần, được triệu tập bởi Hội đồng quản trị, chủ tịch Hội đồng quản trị, chủ tọa cuộc họp đại hội đồng cổ đông

* Hội đồng quản trị(HĐQT)

HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định và thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của công ty, trừ những vấn đề thuộc Đại hội đồng cổ đông HĐQT gồm từ 3 đến 11 thành viên, chủ tịch HĐQT do Đại hội cổ đông hoặc HĐQT bầu ra tùy theo quy định trong điều lệ công ty Nếu HĐQT được giao quyền bầu chủ tịch, thì chủ tịch được bầu là một người trong số thành viên trong HĐQT Chủ tịch HĐQT có thể kiêm giám đốc (tổng giám đốc), trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác HĐQT chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều

lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho công ty (Điều 99 LDN Lào và Điều 149 LDN 2014 của Việt Nam)

Trang 37

* Giám đốc (tổng giám đốc) công ty

Giám đốc (tổng giám đốc) công ty là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ được giao Giám đốc (tổng giám đốc) do HĐQT bổ nhiệm và có thể

là thành viên hoặc không là thành viên HĐQT Nếu điều lệ không quy định khác thì giám đốc (tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật cho công ty

* Ban kiểm soát

Công ty có trên 11 cổ đông phải có Ban kiểm soát LDN 2014 của Việt Nam còn quy định trường hợp cổ đông công ty là tổ chức sở hữu trên 50% tổng

số cổ phần, thì công ty cũng phải lập Ban kiểm soát (Điều 163 LDN 2014 của Việt Nam) Ban kiểm soát có từ 3 đến 5 thành viên, các thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú tại Việt Nam Ban kiểm soát thay mặt các cổ đông kiểm soát hoạt động của công ty, chủ yếu là vấn đề tài chính, vì vậy phải có ít nhất một kiểm soát viên có trình độ chuyên môn về kế toán Một thành viên trong Ban kiểm soát được bầu làm trưởng ban Để đảm bảo tính độc lập, khách quan trong hoạt động của Ban kiểm soát, LDN Lào và Việt Nam đều quy định một số đối tượng sau không được tham gia vào Ban kiểm soát: Thành viên HĐQT, người có liên quan đến thành viên HĐQT, Giám đốc, kế toán trưởng; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phát tù hoặc bị tòa án tước quyền hành nghề vi phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép và các tội khác mà pháp luật quy định [13,tr12,32,tr98]

Trong công ty cổ phần, số cổ đông sở hữu từ 1% tổng số cổ phần trở lên

là khá lớn, nhưng theo pháp luật Lào, họ không có biện pháp nào để kiểm soát hoạt động, thông tin của công ty; chỉ trong một số vấn đề quan trọng họ phải bầu dồn phiếu để bảo vệ quyền lợi của mình Pháp luật Việt Nam quy định linh hoạt hơn, góp phần nâng cao quyền lợi cho số cổ đông này, đồng thời tăng cường công tác giám sát người quản lý công ty bằng cách quy định: nhóm cổ đông sở hữu 1% cổ phần phổ thông trong 6 tháng liên tiếp được quyền khởi kiện người quản lý khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của họ [28,tr36]

Theo LDN (2014) cấu trúc mô hình quản lý công ty cổ phần gồm: Đại hội đồng cổ đông, HĐQT (thành viên, thành viên độc lập), Giám đốc (Tổng giám đốc)

Nhìn chung, vấn đề tổ chức quản lý DN tư nhân, công ty hợp danh, công

ty TNHH, công ty cổ phần trong LDN Lào và Việt Nam có những quy dịnh khá tương đồng nhau Tuy nhiên, nếu LDN của Việt Nam chỉ ghi nhận 4 loại hình

Trang 38

công ty, thì LDN Lào còn quy định thêm hai loại hình nữa là công ty nhà nước

và DN liên doanh

2.3.5 Cơ cấu tổ chức, quản lý của doanh nghiệp nhà nước

DNNN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như công ty TNHH, công ty cổ phần, là những loại hình DN đã được LDN Lào và Việt Nam quy định Trước ngày 1/7/2006, DNNN ở Việt Nam được tổ chức và quản lý theo LDNNN (2003) Từ ngày 1/7/2006 đến 1/7/2010, DNNN phải chuyển đổi sang loại hình công ty TNHH hoặc công ty cổ phần để hoạt động theo LDN (2005) [31,tr199] LDN (2014) của Việt Nam dành hẳn một chương quy định về

tổ chức và hoạt động của DNNN Công ty nhà nước Lào được quy định trong LDN (2005) và đến nay vẫn được tổ chức, quản lý theo các quy định này Mặc

dù được quy định ở những văn bản khác nhau, nhưng nhìn chung việc quy định

về tổ chức, quản lý trong DNNN là giống nhau

* Công ty nhà nước không có Hội đồng quản trị

Cơ cấu quản lý gồm giám đốc, các phó giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy

giúp việc Loại hình này thường được áp dụng với các loại công ty có mô hình nhỏ

- Giám đốc

Theo quy định trong LDN của Lào, Giám đốc là người đại diện theo pháp luật công ty, người điều hành cao nhất công ty và phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của công ty Giám đốc được thuê trên cơ sở hợp đồng thuê hoặc được người ký quyết định thành lập công ty bổ nhiệm Hiện nay, giám đốc công ty không nhất thiết phải là người nhà nước nữa mà có thể là bất kỳ người nào, kể cả là người nước ngoài có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật (có năng lực kinh doanh, tổ chức quản lý, trình độ đại học, chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh doanh chính của công ty, có từ 3 năm kinh nghiệm tham gia quản lý điều hành DN thuộc ngành nghề kinh doanh của công ty, sức khỏe phẩm chất tốt, thường trú ở nước mà mình quản lý; không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ) Giám đốc được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng theo thời hạn không quá 5 năm Việt Nam còn cho phép giám đốc được bổ nhiệm lại hoặc ký hợp đồng tiếp Như vậy, giám đốc s phát huy khả năng và có thời gian cống hiến cho công ty hơn, có nhiều kinh nghiệm quản lý công ty hơn Giám đốc chịu trách nhiệm trước người bổ nhiệm hoặc người ký hợp đồng thuê và trước pháp luật về các hành vi của mình Giám đốc có thể bị miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn, được trả tiền lương thưởng…pháp luật Việt Nam còn quy định chặt ch hơn để gắn trách nhiệm giám đốc với công ty: mức lương và tiền lương tương ứng với hiệu quả làm việc của công ty, tiền lương được tạm ứng hàng tháng, quyết toán hàng năm, tiền thưởng hàng năm được tính dựa vào

Trang 39

kết quả kinh doanh năm của công ty và chỉ được trả một lần, phần còn lại được chi trả sau khi kết thúc nhiệm kỳ [31tr174] Giám đốc trong công ty không có HĐQT có quyền tự quyết cao trong việc quản lý điều hành công ty vì không bị ràng buộc bởi những quyết định của HĐQT, nhưng cũng vì thế mà trách nhiệm của giám đốc nặng nề hơn rất nhiều Nếu để công ty lỗ, để mất vốn nhà nước, quyết định dự án đầu tư không hiệu quả, không thu hồi được vốn, không trả được tiền lương, quyền lợi cho người lao động, xảy ra các vi phạm về kế toán quản lý vốn, để công ty lỗ hai năm liên tiếp thì giám đốc s không được thưởng, không được nâng lương, bị hạ lương và bồi thường thiệt hại cho nhà nước theo quy định [16tr34,24tr15]

- Phó giám đốc và kế toán trưởng

Các phó giám đốc chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được giám đốc phân công và ủy quyền Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán cuả công ty, giúp giám đốc giám sát tình tài chính, kế toán, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được phân công ủy quyền

* Công ty nhà nước có Hội đồng quản trị

Mô hình này thường được áp dụng đối với các tổng công ty nhà nước và công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn Cơ cấu bộ máy quản lý gồm: HĐQT, ban kiểm soát, tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và

bộ máy giúp việc Về cơ bản, mô hình công ty nhà nước có HĐQT của Lào cũng được quy định tương tự như mô hình trong LDNNN (2003) của Việt Nam

- Hội đồng quản trị

Là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước để quyết định mọi vấn

đề liên quan đến việc đưa ra mục tiêu và thực hiện các mục tiêu vì quyền lợi của công ty HĐQT gồm Chủ tịch hội đồng và các thành viên HĐQT, bao gồm thành viên chuyên trách và không chuyên trách Riêng Chủ tịch HĐQT và Trưởng Ban kiểm soát bắt buộc phải là thành viên chuyên trách Tổng giám đốc không bắt buộc phải là thành viên HĐQT Số lượng thành viên HĐQT không quá 7 người đều do người ký quyết định thành lập quyết định, bổ nhiệm, miễn nhiệm

HĐQT làm việc theo chế độ tập thể Mọi vấn đề được xem xét đều quyết định theo đa số, hội đồng họp ít nhất mỗi quý một lần quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, những vấn đề không cần thảo luận thì lấy

ý kiến bằng văn bản HĐQT có thể họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc hoặc trên 50% số thành viên HĐQT yêu cầu để giải quyết các vấn đề cấp bách của công ty

Trang 40

Các cuộc họp hoặc lấy ý kiến thành viên HĐQT chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dư Nghị quyết chỉ có hiệu lực khi có trên 50% tổng số thành viên biểu quyết tán thành, trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định theo ý kiến của bên có phiếu của Chủ tịch HĐQT Để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các bộ phận khác, HĐQT thành lập Ban kiểm soát gồm Trưởng ban là thành viên Hội đồng quản trị và các thành viên khác do Hội đồng quản trị quyết định, trong đó có một đại diện của công đoàn công ty Thành viên Ban kiểm soát phải đủ điều kiện đạo đức, chuyên môn, vô tư khách quan

Về cơ bản, mô hình công ty nhà nước có HĐQT của Lào tương tự như mô hình của Việt Nam quy định trong LDNNN (2003)

- Tổng giám đốc

Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, do vậy, có một vai trò đặc biệt quan trọng Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty, người chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động công ty, điều hành công ty theo mục tiêu kế hoạch, phù hợp với nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị Tổng giám đốc có thể là người do Nhà nước cử ra, được

bổ nhiệm từ Hội đồng quản trị để quản lý công ty hoặc không phải người của Nhà nước mà được thuê về làm việc Trong cả hai trường hợp đều phải được sự chấp thuận cuả người quyết định thành lập công ty Trong quản lý điều hành, Tổng giám đốc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, nếu phát hiện vấn đề không có lợi cho công ty thì Tổng giám đốc báo cáo để Hội đồng quản trị xem xét điều chỉnh lại quyết định Nếu Hội đồng quản trị không điều chỉnh lại, Tổng giám đốc vẫn thực hiện theo quyết định nhưng có quyền bảo lưu ý kiến và kiến nghị lên người ký quyết định thành lập công ty Tuy nhiên, trên thực tế việc quy định như thế này chỉ có giá trị khi tổng giám đốc

là thành viên hội đồng quản trị nếu tổng giám đốc được đi thuê thì rất khó để họ được quyền bảo lưu ý kiến

Qua quy định của pháp luật hai nước về vấn đề quản lý nội bộ ta có thể thấy cơ cấu tổ chức DN ở hai nước là tương tự nhau Cơ cấu tổ chức DN tư nhân

là đơn giản nhất, tổ chức quản lý của công ty cổ phần là chặt ch nhất, có sự phân công chức năng giữa các cơ quan và xây dựng theo cơ chế giám sát giữa các cơ quan này

2.3.6 Cơ cấu tổ chức, quản lý trong doanh nghiệp liên doanh

DN liên doanh Lào được tổ chức quản lý theo loại hình DN nào thì cơ cấu tổ chức s tuân theo loại hình DN đó Tuy nhiên, điều kiện là Tổng giám đốc hoặc phó Tổng giám đốc thứ nhất phải là người mang quốc tịch Lào nếu liên

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w