Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu giúp cá nhân, tổ chức kinh doanh bảo vệ cho sản phẩm, dịch vụ của chính mình, bảo vệ và phát triển hoạt động của doanh nghiệp, điều này có ý nghĩa hết sức quan t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ QUANG THỊNH
ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU CỦA CÁ NHÂN,
TỔ CHỨC VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60380108
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thái Mai
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Nguyễn Thái Mai Luận văn có tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác, có dẫn nguồn cụ thể Các số liệu trích dẫn trong Luận văn hoàn toàn chính xác, trung thực và có chỉ rõ nguồn
Luận văn là công trình do tôi tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp và hoàn thiện, không sao chép Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Người cam đoan
Vũ Quang Thịnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thái Mai – Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này Cảm ơn các thầy, các cô Khoa Pháp luật Quốc tế đã nhiệt tình giảng dạy trong suốt thời gian diễn ra khóa cao học, cung cấp nhiều kiến thức chuyên ngành và giải thích những vướng mắc Tôi cũng xin cám ơn Khoa Sau đại học đã tổ chức và quản lý Khóa cao học 21 rất chu đáo, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể học tập và hoàn thành luận văn
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CTM Community Trade
CTMR Community Trade
Mark Regulation Nguyên tắc nhãn hiệu Cộng đồng
Hiệp định
TRIPs
Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền sở hữu trí
tuệ
OHIM
The Office for Harmonization in the Internal Market
Cơ quan hài hòa hóa thị trường nội địa
USPTO
United States Patent and Trademark Office
Cơ quan Sáng chế và nhãn hiệu Mỹ
WIPO
World Intellectual Property Organization
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU 6
1.1 Khái quát chung về nhãn hiệu 6
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu 6
1.1.2 Sự khác nhau giữa nhãn hiệu và các đối tượng Sở hữu công nghiệp khác 9
1.1.3 Phân loại nhãn hiệu 11
1.2 Bảo hộ nhãn hiệu 15
1.2.1 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu 15
1.2.2 Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ 16
1.2.3 Lợi ích của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu 18
1.2.4 Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH, THỦ TỤC CÁ NHÂN, TỔ CHỨC VIỆT NAM ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẠI NƯỚC NGOÀI 24
2.1 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài 24
2.1.1 Đăng ký trực tiếp 24
2.1.2 Đăng ký qua Internet 28
Trang 62.2 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài theo quy định của các
điều ước quốc tế đa phương 28
2.2.1 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của Công ước Paris 28
2.2.2 Đăng ký bảo hộ theo Hệ thống đăng ký quốc tế Madrid 31
2.3 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu khu vực 43
2.3.1 Khái quát về nhãn hiệu Cộng đồng CTM 43
2.3.2 Một số đặc điểm của Hệ thống đăng ký nhãn hiệu Cộng đồng CTM 44
2.3.3 Điều kiện đăng ký theo thể thức nhãn hiệu Cộng đồng CTM 46
2.3.4 Nộp đơn, xét nghiệm đơn, phản đối đơn 47
2.3.5 Thời hạn bảo hộ và gia hạn hiệu lực 49
2.4 So sánh thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam và ở nước ngoài 49
2.4.1 Điểm tương đồng 49
2.4.2 Điểm khác biệt 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI VÀ GIẢI PHÁP 53
3.1 Thực trạng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài của các cá nhân, tổ chức Việt Nam 53
3.1.1 Thành tựu đã đạt được 53
3.1.2 Những hạn chế 57
3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế 61
Trang 73.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước
ngoài của cá nhân, tổ chức Việt Nam 65
3.2.1 Về phía cá nhân, tổ chức Việt Nam 65
3.2.2 Về phía Nhà nước 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, đánh dấu một cột mốc đáng nhớ trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Điều này vừa mở ra cho các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế của Việt Nam rất nhiều cơ hội to lớn nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức Để có thể đứng vững trong thị trường quốc tế với
sự cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp Việt Nam phải luôn chủ động tìm ra lợi thế cạnh tranh, nắm bắt những cơ hội và những phương thức bảo vệ chỗ đứng của chính mình Một trong những phương thức quan trọng là vấn đề bảo
hộ sở hữu trí tuệ mà trong đó, nhãn hiệu hàng hóa là yếu tố chủ chốt và hết sức quan trọng
Có thể nói, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và thương mại, các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ cũng ngày càng phát triển như vũ bão, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến vị thế cạnh tranh của các chủ sở hữu, mà trong đó “nhãn hiệu” là một trong những tài sản hết sức có giá trị, là vũ khí trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, gay gắt với các đối thủ Vì vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu luôn là mối quan tâm hàng đầu ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
mà Việt Nam không là một ngoại lệ
Đối với các nước phát triển, tri thức và kinh nghiệm trong việc khai thác
và bảo hộ sở hữu trí tuệ đã phát triển đến một trình độ rất cao với bề dày lịch
sử hàng trăm năm Trong khi đó, vấn đề này ở Việt Nam còn khá là mới mẻ, mặc dù những năm gần đây, bảo hộ nhãn hiệu ở trong nước không còn là câu chuyện xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại thị trường nước ngoài lại chưa được các doanh nghiệp Việt Nam thực sự quan tâm Nguyên nhân là do nhận thức còn nhiều hạn chế từ chính cá nhân, tổ chức trong nước, họ hầu như chưa có đầy đủ kiến thức cũng như hiểu
Trang 9biết các quy định của pháp luật về nhãn hiệu và bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài Do đó, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của các
cá nhân, tổ chức Việt Nam tại thị trường nước ngoài đang đứng trước thách thức rất lớn Không ít cá nhân, tổ chức kinh doanh xuất khẩu ngơ ngác khi bị chiếm đoạt nhãn hiệu hay trước hiện tượng hàng giả, hàng nhái tràn lan trên thị trường thế giới Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã phải chịu những bài học đắt giá cho việc xem nhẹ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài
Trước thực trạng trên, vấn đề đặt ra hiện nay là cá nhân, tổ chức Việt Nam phải ngay lập tức chuẩn bị những bước đi cụ thể, trang bị đầy đủ kiến thức về việc bảo hộ nhãn hiệu cũng như sở hữu trí tuệ, nhằm chuẩn bị cho việc cạnh tranh lâu dài, bền vững trên thị trường quốc tế Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu giúp cá nhân, tổ chức kinh doanh bảo vệ cho sản phẩm, dịch vụ của chính mình, bảo vệ và phát triển hoạt động của doanh nghiệp, điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như thiết lập các mối quan hệ ngoại thương của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định vị thế và thay đổi cách nhìn của các quốc gia trên thế giới đối với Việt Nam
Trước tình hình đó, tác giả chọn đề tài: “Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của
cá nhân, tổ chức Việt Nam ra nước ngoài – thực trạng và giải pháp” làm đề
tài luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành Luật quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền sở hữu công nghiệp nói chung và pháp luật về nhãn hiệu nói riêng xuất hiện và phát triển khá muộn tại Việt Nam Hệ thống những quy định chung về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp xuất hiện trong BLDS 1995 và Nghị định số 63/CP năm 1996, như là những nền tảng pháp lý đầu tiên của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực mới mẻ này Trải qua quá trình phát triển, đến cuối năm 2005, Việt Nam đã ban hành một văn bản
Trang 10pháp luật duy nhất và thống nhất điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ Từ đó đến nay, các học giả, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình quan trọng trong lĩnh vực này Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về các quy định về nhãn hiệu hay đăng ký bảo hộ nhãn hiệu vẫn còn khá
ít Một số công trình tiêu biểu như: Luận văn thạc sỹ luật học: “Đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Thu Hằng; “Cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ Nhãn hiệu hàng hóa ở
Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Thu Hằng; “So sánh pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam và pháp luật một số nước công nghiệp phát triển” của tác giả Vũ Thị Phương Lan Khóa luận tốt nghiệp: “Bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của Hiệp định TRIPs và pháp luật Việt Nam” của
tác giả Lương Thị Thanh Lan, “vấn đề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh
nghiệp Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Tạ Thị Thu Nga Bài viết khoa
học, sách chuyên ngành luật: “dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về
nhãn hiệu-một giải pháp cho vấn đề xung đột quyền bảo hộ” của tác giả
Vương Thanh Thúy, “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” của tác giả
Phạm Văn Tuyết Các công trình trên thường tập trung phân tích sâu vào pháp luật Việt Nam hay đi sâu vào một Điều ước quốc tế, một quốc gia cụ thể
để so sánh, phân tích pháp luật về nhãn hiệu
Tác giả mong muốn nghiên cứu và phân tích các quy trình thủ tục đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài, để hiểu được các thủ tục, nêu bật lên những thuận lợi và khó khăn của các quy trình này Bên cạnh đó, tác giả tìm hiểu thực trạng cụ thể về việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài của các
cá nhân, tổ chức Việt Nam, chỉ ra các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp hiệu quả để giúp cải thiện khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thành công, cũng như hạn chế các tranh chấp về nhãn hiệu trên thị trường quốc tế
Trang 113 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu về khái niệm nhãn hiệu cũng như tìm hiểu các quy trình, thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và quy trình thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại một số thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp Việt Nam như Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ, cũng như đưa ra nhận xét và
so sánh thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam và ở nước ngoài Bên cạnh đó, luận văn phân tích và đánh giá thực trạng việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài của các cá nhân, tổ chức Việt Nam, từ đó phân tích nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu ra nước ngoài của cá nhân, tổ chức Việt Nam
4 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về nhãn hiệu và tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam Đồng thời phân tích điều kiện, cách thức, trình tự, thủ tục để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế và một số quốc gia là thị trường xuất khẩu trọng điểm của doanh nghiệp Việt Nam Nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về vấn đề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài giúp cho doanh nghiệp Việt Nam thay đổi nhận thức, và kịp thời có những chiến lược xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu của mình tại thị trường nước ngoài Ngoài ra, Luận văn còn đưa ra thực trạng nhằm tìm ra giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc mà các doanh nghiệp gặp phải từ chính những vụ việc thực tiễn mà một số doanh nghiệp Việt Nam đã trải qua
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chỉ nghĩa Mác – Lê nin, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm khách
Trang 12quan, toàn diện và phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để tìm ra những ưu điểm và nhược điểm của các cách thức tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài hiện nay, qua đó có thể giúp doanh nghiệp có thể chọn cách thức tiến hành đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài đem lại hiệu quả cao nhất.
6 Điểm mới của Luận văn
Luận văn tìm hiểu, phân tích và đánh giá các thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Việt Nam tại nước ngoài theo các quy định của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Hệ thống Madrid về bảo hộ nhãn hiệu, của nhãn hiệu Cộng đồng CTM và một số các quy định về nhãn hiệu của pháp luật Mỹ, Nhật, Thái Lan…
Luận văn tìm hiểu thực trạng, tổng hợp số liệu mới nhất về tình hình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Việt Nam theo Hệ thống Madrid và tại các thị trường xuất khẩu quan trọng như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản; đưa ra một số nguyên nhân cho việc đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài của các cá nhân, tổ chức Việt Nam còn rất hạn chế; và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về nhãn hiệu và đăng ký bảo hộ nhãn hiệuChương 2: Quy trình, thủ tục cá nhân, tổ chức Việt Nam đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài
Chương 3: Thực trạng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của cá nhân, tổ chức Việt Nam ra nước ngoài và giải pháp
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ ĐĂNG KÝ
BẢO HỘ NHÃN HIỆU 1.1 Khái quát chung về nhãn hiệu
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Trên thực tế có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “nhãn hiệu” và mỗi
quốc gia lại có khái niệm riêng, nhưng xét về bản chất thì không có sự khác biệt lớn giữa các khái niệm đó Ở quốc gia nào thì nhãn hiệu cũng là yếu tố đầu tiên mà doanh nghiệp cần phải có khi chuẩn bị đưa sản phẩm mới ra thị trường, và việc đăng ký nhãn hiệu là thủ tục cần thiết nhằm xác lập quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu Tuy nhiên vẫn cần có những quy định thống nhất về nhãn hiệu trên phạm vi toàn cầu để hạn chế những xung đột xảy ra trong hoạt động kinh doanh trên thế giới
Luật Mẫu của Tổ chức Sở hữu trí sở hữu trí tuệ thế giới( WIPO) năm
1967 dành cho các nước phát triển (gọi tắt là Luật Mẫu) thì nhãn hiệu được
hiểu như sau: “Dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của
doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp đó Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên Nhãn hiệu chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm”
Kế thừa nội dung của Luật Mẫu, Tổ chức thương mại thế giới đã ban hành Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền
Trang 14SHTT Theo đó, khoản 1 Điều 15 Mục 2 Hiệp định này quy định: “bất kỳ một
dấu hiệu, hoặc sự kết hợp nào của những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của những doanh nghiệp khác Những dấu hiệu đó (có thể là những ký tự đặc biệt như tên người, chữ cái, chữ số, yếu tố hình và sự kết hợp màu sắc cũng như sự kết hợp bất kỳ của những dấu hiệu đó) có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu” Có thể nhận thấy, quy định của Hiệp định TRIPs đã phần nào
khái quát hơn đối với khái niệm nhãn hiệu, không chỉ đơn thuần là sự liệt kê từng dấu hiệu cấu tạo nên nhãn hiệu Vì vậy, cần nhận thức nhãn hiệu là bất
kỳ sự kết hợp nào của những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hay dịch vụ của một doanh nghiệp khác Dấu hiệu có thể là chữ số, chữ cái, tên người, yếu tố hình và sự kết hợp màu sắc
Trên thế giới, xuất phát từ sự chênh lệch trình độ phát triển hay mức độ
đa dạng của nền kinh tế hàng hóa, các nước có những quy định khác nhau về nhãn hiệu Mỹ là quốc gia đầu tiên công nhận việc đăng ký nhãn hiệu với các dấu hiệu đặc biệt có thể nhận biết bằng các giác quan khác như thính giác (dấu hiệu âm thanh), khứu giác hoặc vị giác (dấu hiệu mùi vị) Cụ thể, tiếng sư tử gầm của hãng phim MGM, hay mùi thơm của hoa mới nở của nước hoa Plumeria dùng cho chỉ may và thêu ren vào năm 19901 Tuy nhiên, việc đăng
ký những dấu hiệu này không phải là phổ biến và chủ yếu chúng được dùng để phân biệt trong lĩnh vực dịch vụ như những bản nhạc hiệu hoặc hệ thống tín hiệu của một chương trình phát thanh, truyền hình; mùi vị đặc biệt của một loại thuốc dành cho trẻ em; ánh sáng đặc biệt của một số chương trình giải trí
1 Nguyễn Thị Quế Anh, Phân loại nhãn hiệu hàng hoá theo hình thức của nhãn hiệu;
cua-nhan-hieu-60.html
Trang 15http://dangky-nhanhieu.com/news-detail/hieu-biet-chung-ve-nhan-hieu/phan-loai-nhan-hieu-theo-hinh-thuc-Khác với Mỹ, tại một số quốc gia chỉ có các yếu tố như tên gọi, hình ảnh
ba chiều hay màu sắc mới được công nhận là nhãn hiệu Cụ thể, theo Luật nhãn hiệu hàng hóa Trademark ACT B.E.2534 của Thái Lan quy định, nhãn
hiệu được hiểu là “những hình ảnh, tên, từ ngữ, chữ cái, chữ ký hoặc sự kết
hợp các màu sắc, hình dáng vật thể hoặc bất cứ sự kết hợp nào của những yếu tố trên 2 ”.
Tại Nhật Bản, pháp luật chưa công nhận cho đăng kỹ nhãn hiệu âm
thanh và mùi "nhãn hiệu có thể là chữ cái, chữ số, dấu hiệu, hình không gian
ba chiều, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng, hoặc sự kết hợp của chúng với mầu sắc, được sử dụng cho hàng hóa và dịch vụ, thỏa mãn một trong hai điều kiện: thứ nhất đối với nhãn hiệu gắn lên hàng hóa nó phải được sử dụng đối với hàng hóa mà một người sản xuất, xác nhận, hay đem vào lưu thông; hoặc thứ hai đối với nhãn hiệu dịch vụ nó được sử dụng đối với dịch vụ mà một người cung cấp hay xác nhận trong quá trình thương mại”.3
Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT) là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã được ban hành từ trước tại Bộ Luật Dân sự (BLDS) 1995 và các thông tư, nghị định điều chỉnh về vấn đề này Theo đó,
nhãn hiệu được hiểu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các
tổ chức, cá nhân khác nhau” (Khoản 16 Điều 4) So với BLDS 1995, điều luật
này đã khắc phục được những hạn chế trong khái niệm nhãn hiệu Theo đó,
thuật ngữ “nhãn hiệu” đã được sử dụng thay cho thuật ngữ “nhãn hiệu hàng
hóa”, nhằm tránh sự hiểu lầm nhãn hiệu chỉ dùng cho hàng hóa mà không sử
dụng cho dịch vụ như BLDS 1995 quy định Không chỉ vậy, việc bỏ đi cụm từ
“cùng loại” cũng là một ưu điểm của Luật SHTT 2005 Rõ ràng, với cách tiếp
2 Article 7, Part 1, Chapter 1, Trademark Act B.E.2534 (2000)
Điều 2, Luật Nhãn hiệu Nhật BảnTrademark Act năm 1959, sửa đổi lần cuối năm 2008.
Trang 16cận trên, khái niệm nhãn hiệu của pháp luật Việt Nam nhìn chung đã tiếp thu kinh nghiệm của các nước Điều này cho thấy các nhà làm luật đã nhận thức rõ ràng yêu cầu khách quan của việc tương thích hóa, hài hóa hóa pháp luật phục
vụ cho công cuộc hội nhập với thế giới
1.1.2 Sự khác nhau giữa nhãn hiệu và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác
1.1.2.1 Tên thương mại
Tên thương mại và nhãn hiệu là 2 đối tượng của sở hữu công nghiệp dễ gây nhầm lẫn nhất Luật SHTT 2005 có quy định tại khoản 21 Điều 4 như
sau: “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân, cá nhân dùng trong
hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.”
Như vậy, tên thương mại giống với nhãn hiệu ở chỗ chúng thực hiện chức năng phân biệt Tuy nhiên chức năng của tên thương mại là nhằm phân biệt, cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác Việc phân biệt chủ thể kinh doanh chỉ được đặt ra khi trong cùng một lĩnh vực, khu vực kinh doanh có nhiều chủ thể kinh doanh hoạt động Còn nhãn hiệu lại là dấu hiệu để phân biệt các sản phẩm, dịch vụ
Một doanh nghiệp có thể sở hữu và sử dụng nhiều nhãn hiệu khác nhau
để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ của của doanh nghiệp khác Ví dụ: Công ty Samsung có các nhãn hiệu điện thoại như: Galaxy Note 3, Galaxy S6, A3,… Trong khi đó, tên thương mại phải bao gồm các từ ngữ, chữ số phát âm được và một doanh nghiệp chỉ có một tên thương mại Ví dụ: Ngân hàng Công thương Việt Nam - VIETNAM BANK FOR INDUSTRY AND TRADE (VIETINBANK)
Một sự khác biệt nữa là bản thân tên thương mại có thể tự động được bảo hộ (nếu đáp ứng các tiêu chí đã được quy định) mà không cần làm thủ tục đăng ký (khoản 3 Điều 6 Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và
Trang 17hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp), còn nhãn hiệu thì bắt buộc phải trải qua thủ tục nộp đơn đăng ký (trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng) và thẩm định Mặt khác nhãn hiệu có thể được chuyển giao quyền sử dụng thông qua Hợp đồng li-xăng, còn tên thương mại chỉ được chuyển giao khi thực hiện việc chuyển giao cả cơ sở sản xuất kinh doanh
1.1.2.2 Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý được định nghĩa tại khoản 22 Điều 4 Luật SHTT 2005:
“Chỉ dẫn địa là dấu hiệu để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”.
Về điều kiện bảo hộ, điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ là dấu hiệu
nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh… và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ khác.Còn điều kiện để được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý theo Điều 79 Luật SHTT 2005 là:
“1 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
2 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.”
Về chủ sở hữu, chủ sở hữu của nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân Còn chủ sở
hữu của chỉ dẫn địa lý là Nhà nước, Nhà nước trao quyền cho ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cho các hiệp hội
Về thời hạn, thời hạn của nhãn hiệu là 10 năm và được gia hạn nhiều lần
liên tiếp mỗi lần 10 năm (khoản 6 Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ).Thời hạn của chỉ dẫn địa lý là không xác định thời hạn, được sử dụng đến khi không còn đáp ứng được các điều kiện bảo hộ
Trang 18Về chức năng Nhãn hiệu
nhằm mục đích phân biệt những hàng hóa, dịch vụ Còn chỉ dẫn địa
lý để chỉ ra những nguồn gốc xuất
xứ của hàng hóa
(Logo chỉ dẫn địa lý “Phan Thiết” dùng cho sản phẩm nước mắm)
1.1.3 Phân loại nhãn hiệu
Nhãn hiệu trên thực tế bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân loại dựa trên những đặc điểm tính chất đi kèm với nó Tại Việt Nam, nhãn hiệu được phân loại như sau:
1.1.3.1 Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ
Người tiêu dùng thường gặp khó khăn khi đi vào trung tâm mua sắm, họ phải tiếp xúc với quá nhiều loại nhãn hiệu mà không biết những nhãn hiệu đó
là sản phẩm nào, là hàng hóa hay là dịch vụ Do đó, nhu cầu tất là phải phân biệt hai loại nhãn hiệu: nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Sự khác biệt
rõ ràng nhất là: nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu phân biệt được gắn liền lên sản phẩm là hàng hóa; còn nhãn hiệu dịch vụ là những dấu hiệu phân biệt dành cho các sản phẩm dịch vụ (“dịch vụ” có thể hiểu là các sản phẩm phi vật chất do cá nhân hay tổ chức thực hiện tạo ra kết quả nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người) Ngoại trừ điểm khác biệt nêu trên thì về bản chất nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ có sự đồng nhất với nhau Bởi vì, nhãn hiệu dịch vụ mang đầy đủ chức năng biểu hiện nguồn gốc và phân biệt đối với dịch
vụ tương tự chức năng của nhãn hiệu hàng hóa
Tuy nhiên, trong Hiệp định TRIPs lại không có sự tách biệt giữa Nhãn hiệu hàng hóa và Nhãn hiệu dịch vụ từ khái niệm đến các khía cạnh điều chỉnh khác Như vậy, đối với định nghĩa về Nhãn hiệu Hiệp định TRIPs mặc
Trang 19nhiên công nhận đó là dấu hiệu có khả năng phân biệt đối với cả hàng hóa và dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác
Dưới đây là hình ảnh nhãn hiệu hàng hóa: Poca (sản phẩm đồ ăn) và nhãn hiệu dịch vụ: truyền hình vệ tinh K+
1.1.3.2 Nhãn hiệu tập thể
Theo khoản 17, Điều 4, Luật SHTT 2005: “nhãn hiệu tập thể là nhãn
hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”.
Điểm khác biệt đặc trưng so với nhãn hiệu thông thường, đó là nhãn hiệu tập thể chỉ được cấp cho các tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp và phải là tổ chức tập thể của các tổ chức,
cá nhân tiến hành sản xuất kinh doanh Tại Việt Nam hiện nay, nhà nước đã bảo hộ rất nhiều đặc sản địa phương của các làng nghề thành nhãn hiệu tập thể, ví dụ: Chè Tân Cương, Vải thiều Thanh Hà, Gốm Bát Tràng,… Hay Hiệp hội thuốc lá Việt Nam là tổ chức tập thể của các nhà máy, công ty thuốc lá như : Nhà máy thuốc là Sài Gòn, Công ty thuốc lá Thăng Long v.v… Hiệp hội thuốc lá Việt Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể Vinataba, các nhà máy thuốc lá là thành viên của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam
Trang 20đều có quyền sử dụng nhãn hiệu Vinataba cho sản phẩm thuốc lá do mình sản xuất4
1.1.3.3 Nhãn hiệu chứng nhận
Theo khoản 18, Điều 4 Luật SHTT 2005: “nhãn hiệu chứng nhận là
nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.”
Nhãn hiệu loại này không như các loại nhãn hiệu khác, vì nó có tính chất chứng nhận cho các đặc tính của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, nên đối tượng được cấp nhãn hiệu này phải đáp ứng yêu cầu khắt khe hơn nhiều Nhãn hiệu chứng nhận chỉ được cấp cho các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa mà không phải là người trực tiếp tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó Sau khi kiểm định chất lượng hàng hóa, dịch vụ nếu thấy rằng hàng hóa, dịch vụ đó đáp ứng tiêu chuẩn thì chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép cá nhân, tổ chức có hàng hóa, dịch vụ được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ của mình Ví dụ: “CE” là nhãn hiệu chứng nhận hàng hóa đạt tiêu chuẩn Châu Âu, “Hàng Việt Nam chất lượng cao” là nhãn hiệu chứng nhận hàng hóa có chất lượng cao,.v.v…5
4 Trang 248, TS Phạm Văn Tuyết, Ths LS Lê Kim Giang, Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2008
5 Trang 249, TS Phạm Văn Tuyết, Ths LS Lê Kim Giang, Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2008
Trang 211.1.3.4 Nhãn hiệu liên kết
Theo khoản 19, Điều 4 Luật SHTT 2005: “nhãn hiệu liên kết là các
nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.”
Với định nghĩa này, có thể hiểu nhãn hiệu liên kết không phải là một loại nhãn hiệu cụ thể mà chỉ là “sự liên kết giữa các nhãn hiệu” của cùng một chủ thể được dùng cho các sản phẩm, dịch vụ của chính chủ thể đó nếu sản phẩm
là cùng loại hoặc tương tự hoặc có liên quan với nhau Nhãn hiệu liên kết cho người tiêu dùng biết rằng sản phẩm mang nhãn hiệu mới là sản phẩm tương tự hoặc có liên quan với sản phẩm, dịch vụ mà họ đã dùng trước đó
Ví dụ : Nhãn hiệu Coca Cola tại Việt Nam là nhãn hiệu của một loại nước giải khát và cũng là nhãn hiệu liên kết với các nhãn hiệu đồ uống cùng công ty này sản xuất như: nước cam Fanta, nước chanh Sprite, nước hoa quả Minute Maid Người tiêu dùng khi sử dụng các loại đồ uống này có thể biết được chúng cũng là sản phẩm của hãng Coca Cola Và những nhãn hiệu này cũng thể hiện được những tính chất của nhãn hiệu liên kết, khi sử dụng cho các sản phẩm cùng là nước giải khát, được sản xuất và cung cấp bởi cùng một công ty là Coca Cola
1.1.3.5 Nhãn hiệu nổi tiếng
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng như các ĐƯQT đều xác định rằng một nhãn hiệu chỉ được coi là nổi tiếng nếu nhãn hiệu đó được biết đến rộng rãi và sự nổi tiếng chỉ được công nhận trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia nhất định Ví dụ: hãng đồng hồ nổi tiếng thế giới là Tag Heuer được nhiều người biết đến tại Mỹ và Thụy sỹ, nên được coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại các quốc gia này Tuy nhiên, tại Việt nam, Tag Heuer chưa có đại lý chính thức
và cũng không được nhiều người tiêu dùng biết tới nên chưa được coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam
Trang 22Các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điều 75 Luật SHTT 2005 như: số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu
đã được lưu hành; số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu, …
Vấn đề xác lập quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại điểm
a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT 2005 và khoản 2, Điều 6 của Nghị định 103/CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, theo những quy định này thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cở sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy định tại Điều 75 của Luật SHTT mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký
(Hình ảnh một số nhãn hiệu nổi tiếng)
1.2 Bảo hộ nhãn hiệu
1.2.1 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu
Theo từ điển Tiếng Việt6: “Bảo hộ là bảo vệ, chở che, bênh vực không
để tổn thất, thiệt hại” Vì vậy, “bảo hộ nhãn hiệu” hiểu đơn giản là việc dùng
các biện pháp, cách thức để bảo vệ cho nhãn hiệu khỏi sự xâm phạm hoặc sử dụng trái phép
Trong lĩnh vực SHTT, bảo hộ đối với nhãn hiệu thực chất là bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đó là việc nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật xác lập và duy trì quyền của chủ sở hữu đối với nhãn
6 Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2000.
Trang 23hiệu cũng như áp dụng các biện pháp, các chế tài để ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền của chủ nhãn hiệu.
Để một nhãn hiệu được pháp luật bảo hộ thì chủ sở hữu nhãn hiệu đó phải bắt buộc thực hiện những thủ tục pháp lý về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung, đối với nhãn hiệu nói riêng hướng đến bảo hộ nội dung đối tượng sáng tạo, chống lại việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp mà không được chủ sở hữu cho phép, với mục đích bù đắp chi phí cho chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và đảm bảo cho họ quyền sử dụng trong một thời gian
1.2.2 Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ
Điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ đã được nêu tại khoản 1 Điều 15
Hiệp định TRIPs “Các thành viên có thể quy định như là điều kiện được đăng
ký rằng các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” Ngoài điều kiện về mặt
hình thức của nhãn hiệu, Hiệp định TRIPs quy định dấu hiệu đó phải có khả
năng phân biệt: “Bất kỳ một dấu hiệu, tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng
phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp khác đều có thể được đăng
ký làm nhãn hiệu; trong trường hợp các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt thông qua việc sử dụng”
Từ những quy định chung như trên, pháp luật ở những nước khác nhau cũng có những quy định khác nhau khi xác định điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và truyền thống của mỗi quốc gia Riêng đối với Việt Nam, pháp luật SHTT cũng đã đưa ra những điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại Điều 72 Luật SHTT 2005:
“Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
Trang 241 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2 Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”
Bên cạnh đó, Điều 73 Luật SHTT 2005 còn quy định các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu, bao gồm:
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc
kỳ, quốc huy của các nước;
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng,
cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu
đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ”
Mặc dù quy định khác nhau, nhưng về cơ bản điều kiện để một dấu hiệu có khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cần phải đảm bảo yêu cầu về hình thức và khả năng phân biệt của dấu hiệu đó
Trang 251.2.3 Sự cần thiết của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
Trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa, các cá nhân, tổ chức kinh doanh Việt Nam đang hướng tới việc phát triển kinh doanh cả ở trong và ngoài nước Muốn đạt được mục tiêu này, các cá nhân, tổ chức kinh doanh phải thực hiện việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu bởi vì:
Đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho chủ sở hữu nhãn hiệuQuyền sở hữu đối với nhãn hiệu sẽ phát sinh khi chủ thể đăng ký bảo hộ thành công đối với nhãn hiệu đó Đăng ký thành công là khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Đây cũng chính là cơ sở pháp lý để cho phép chủ sở hữu được độc quyền sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ nhằm mục đích kinh doanh Từ đó, chủ sở hữu có quyền khai thác thương mại nhãn hiệu bằng cách gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch,… Bên cạnh đó, chủ sở hữu
có thể chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sử dụng (li xăng) để thu về lợi ích cho mình
Góp phần nâng cao giá trị hàng hóa/dịch vụ
Khi nhãn hiệu được bảo hộ, hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu sẽ tạo được sự tin cậy, tăng sự bảo đảm cho người tiêu dùng Vì vậy, người tiêu dùng có thể tin tưởng sử dụng sản phẩm/dịch vụ lâu dài, hay trả giá cao hơn
để sử dụng sản phẩm/dịch vụ đó Uy tín của nhãn hiệu cũng được nâng cao lên rất nhiều
Có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút các đối tác kinh doanh
Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cũng tạo cho cá nhân, tổ chức kinh doanh hình ảnh chuyên nghiệp trong công việc, tạo sự tin tưởng cho các đối tác trong và ngoài nước để từ đó, họ có thể đưa ra các quyết định hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, ký hợp đồng hợp tác kinh doanh,… Đặc biệt là khi làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài, những người luôn quan tâm đến khía
Trang 26cạnh pháp lý và tính chuyên nghiệp trong công việc thì việc chủ sở hữu đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu phải là yêu cầu bắt buộc
Loại trừ rủi ro và tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường nước ngoài
Khi nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ tại thị trường nước ngoài, đồng nghĩa với việc địa vị pháp lý của chủ sở đối với hữu nhãn hiệu sẽ được pháp luật quốc gia sở tại bảo hộ Điều này là cơ sở để chủ sở hữu có thể yên tâm đầu tư, phát triển nhãn hiệu của mình tại thị trường đó, tránh được những rủi
ro đến từ tranh chấp nhãn hiệu, cũng như được tạo điều kiện thuận lợi để chống lại các hành vi làm hàng giả, hàng nhái sản phẩm mang nhãn hiệu của mình
1.2.4 Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu
Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại thị trường nước ngoài là vô cùng cần thiết và quan trọng, đem lại những lợi ích to lớn đến các cá nhân và tổ chức hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, không phải đơn giản là các cá nhân, tổ chức
có nhãn hiệu cần đăng ký là nhãn hiệu đó được bảo hộ; mà việc bảo hộ nhãn hiệu trước hết phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
1.2.4.1 Nguyên tắc lãnh thổ
Nguyên tắc lãnh thổ là nguyên tắc đặc trưng trong bảo hộ nhãn hiệu của
pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế Nguyên tắc này nói đến phạm vi pháp lý của việc bảo hộ, cụ thể là: nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ ở quốc gia nào, thì nó chỉ có hiệu lực tại quốc gia đó Ví dụ như: nhãn hiệu chả
cá “Anh Vũ” được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, không có nghĩa là chả cá
“Anh Vũ” cũng được bảo hộ tại Mỹ hay Pháp Muốn được bảo hộ tại quốc gia nào, chủ sở hữu nhãn hiệu phải đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu tại quốc gia đó theo quy định pháp luật hiện hành
Trang 27Tuy nhiên, nguyên tắc lãnh thổ cũng có những trường hợp ngoại lệ, đó là một nhãn hiệu đăng ký ở một quốc gia, nhưng lại được bảo hộ ở một nhóm các quốc gia Chẳng hạn như trong liên minh Benelux của Bỉ, Hà Lan và Luc-xem-bua, nhãn hiệu đăng ký bảo hộ tại một trong ba nước này, sẽ được bảo
hộ tại cả hai nước còn lại trong liên minh Hay đối với nhãn hiệu của Cộng đồng chung Châu Âu sẽ có hiệu lực cho tất cả các quốc gia thuộc Cộng đồng chung Châu Âu mặc dù chỉ cần đăng ký tại một quốc gia trong đó Ngoại lệ này xuất phát từ những thỏa thuận chung của các quốc gia cùng tham gia vào một tổ chức hay liên minh
1.2.4.2 Nguyên tắc sử dụng đầu tiên
Nguyên tắc sử dụng đầu tiên (first-to-use) được sử dụng trong trường
hợp có hai hay nhiều đơn đăng ký cùng một nhãn hiệu, hoặc khi xảy ra tranh chấp trong việc đăng ký một nhãn hiệu nào đó, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thẩm tra thời điểm sử dụng nhãn hiệu của các bên liên quan Và bên chứng minh được việc họ là người sử dụng nhãn hiệu đó đầu tiên sẽ được cấp đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu
Nguyên tắc này đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp trong khi pháp luật các quốc gia và quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu mới được ban hành và còn nhiều vấn đề tranh cãi
Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định bên nào sử dụng nhãn hiệu đầu tiên, thời điểm bắt đầu sử dụng, hay tại thời điểm đó có nhãn hiệu nào giống hoặc tương tự hay không, hành vi sử dụng nhãn hiệu có mang tính thương mại hay không là rất khó khăn, phức tạp Do đó các cơ quan đăng ký khi thực hiện nguyên tắc này trên thực tế gặp rất nhiều vướng mắc
1.2.4.3 Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first-to-file) là việc chấp nhận cho đăng ký bảo hộ một nhãn hiệu sẽ dựa trên thời điểm nộp đơn hợp lệ xin đăng
Trang 28ký bảo hộ nhãn hiệu Trường hợp có tranh chấp về việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thì người nộp đơn hợp lệ trước sẽ là người có quyền đăng ký nhãn hiệu
đó Ngoại lệ của nguyên tắc này đó là trường hợp hợp được hưởng quyền ưu tiên nộp đơn theo các cam kết quốc tề về Sở hữu công nghiệp và Nhãn hiệu
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên khắc phục được những nhược điểm của nguyên tắc sử dụng đầu tiên khi xác định được thời điểm rõ ràng và tạo ra cơ
sở pháp lý cụ thể, chắc chắn để xác định được bên được hưởng quyền bảo hộ nhãn hiệu Nguyên tắc này cũng làm giảm đi khó khăn của cơ quan đăng ký khi không phải xác định một loạt các thông tin liên quan đến thời điểm sử dụng nhãn hiệu đầu tiên Do đó, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được hầu hết các quốc gia sử dụng trong pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu
Pháp luật của một số quốc gia quy định về nguyên tắc này như sau:
- Việt Nam: theo Điều 90 Luật SHTT 2005 quy định:
“2 Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất ”.“3 Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký…cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thỏa thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp bằng bảo hộ”.
- Nhật Bản: pháp luật nước này cũng áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, và yêu cầu các bên tự thỏa thuận trong trường hợp ngày nộp đơn đầu tiên của các bên trùng nhau Tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản quy định: “cơ quan đăng ký sẽ yêu cầu về vấn đề này và buộc các bên báo cáo về đàm phán giữa
Trang 29họ trong thời gian nhất định, nếu không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận được nhưng không báo cáo đúng thời hạn thì cơ quan cấp đăng ký sẽ tiền hành bốc thăm để chọn ra một bên”7.
- Mỹ: Đạo luật Tố tụng và Thủ tục hành chính Liên bang quy định bất cứ đơn xin đăng ký nào được nộp giống với một hay nhiều nhãn hiệu khác đang xin đăng ký mà có thể gây nhầm lẫn hoặc lừa dối công chúng thì nhãn hiệu được nộp với ngày nộp đơn hợp lệ sớm nhất sẽ được chấp nhận Trong Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946 và trong thực tiễn áp dụng pháp luật nước này, nguyên tắc sử dụng đầu tiên cũng được ghi nhận rất rõ ràng song song với nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, bởi vậy, trong một số trường hợp tranh chấp, người sử dụng nhãn hiệu đầu tiên sẽ có được lợi thế
- Đối với EU: nguyên tắc nộp đơn đầu tiên thể hiện ở Điều 8 Quy định 20/49 của Hội đồng Châu Âu về các cơ sở “mềm” để từ chối một đơn đăng ký nhãn hiệu Theo quy định này, một đơn đăng ký sẽ bị từ chối nếu có ý kiến phản đối và qua xét nghiệm thấy rằng nhãn hiệu đó giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký trước và các hàng hóa dịch vụ nó xin đăng ký cùng loại với hàng hóa, dịch vụ đã được đăng ký bảo hộ trước đó
Như vậy nguyên tắc này sẽ được áp dụng với hai điều kiện: “phải có ý kiến
phản đối về việc nhãn hiệu đã có đơn đăng ký trước (thường thì việc phản đối được đưa ra trong thủ tục phản đối sau khi công bố đơn), và có sự trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đăng ký trước đó”8
Như vậy, có thể thấy nguyên tắc nộp đơn đầu tiên là nguyên tắc quan trọng và được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu
7 Cục SHTT Nhật Bản, Giới thiệu pháp luật Nhãn hiệu, Trung tâm Châu Á – Thái Bình Dương (JIII), trang 25,26
8 Vũ Thị Phương Lan, So sánh pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam và pháp luật một số nước công nghiệp phát triển, Luận văn thạc sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, 2002, trang 46.
Trang 30TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua những nội dung đã trình bày ở trên, tác giả mong muốn tạo được cái nhìn tương đối đầy đủ về nhãn hiệu Nhãn hiệu đặc trưng bởi khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ và được cấu thành bởi nhiều loại dấu hiệu khác nhau như: dấu hiệu về chữ, dấu hiệu về hình, dấu hiệu về màu sắc, dấu hiệu kết hợp,… Nhãn hiệu cũng được phân loại rõ ràng như: nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận,… Từ đó, tác giả phân tích và tìm hiểu khái niệm bảo hộ nhãn hiệu, các điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ và những ý nghĩa của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ra nước ngoài Thông qua những nội dung đã phân tích ở trên, ta cũng thấy được những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu cũng khá chi tiết và mang tính phù hợp rất cao với pháp luật quốc tế
Trang 31CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH, THỦ TỤC CÁ NHÂN, TỔ CHỨC VIỆT NAM ĐĂNG KÝ BẢO HỘ
NHÃN HIỆU TẠI NƯỚC NGOÀI
Hiện nay cá nhân, tổ chức Việt Nam đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài có thể thực hiện theo một trong các quy trình sau:
Quy trình, thủ tục do pháp luật nước ngoài quy định
Quy trình, thủ tục theo các ĐƯQT đa phương về đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu mà Việt Nam là thành viên
Quy trình thủ tục đăng ký nhãn hiệu khu vực
2.1 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài
Về nguyên tắc, cá nhân, tổ chức Việt Nam, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại quốc gia nào thì phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó Phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, truyền thống lập pháp, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định cụ thể về quy trình thủ thủ tục đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng Các quy định về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Mỹ dưới đây là ví dụ để minh họa
Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Mỹ căn cứ theo các quy định của pháp luật Mỹ thông qua hai hình thức là: đăng ký trực tiếp và đăng ký qua Internet
2.1.1 Đăng ký trực tiếp
Thủ tục đăng ký trực tiếp nhãn hiệu tại Mỹ được quy định cụ thể tại Luật nhãn Mỹ9 từ Điều1051 đến Điều 1072 Bao gồm những nội dung chủ yếu sau
2.1.1.1 Các căn cứ tiến hành nộp đơn
Cá nhân, tổ chức Việt Nam là chủ sở hữu thực sự nhãn hiệu hàng hoá
và muốn sử dụng nhãn hiệu đó tại Mỹ đều có quyền đăng ký nhãn hiệu tại
9 Luật Nhãn hiệu Mỹ: Lanham (Trademark) Act năm 1946.
Trang 32Mỹ Cá nhân, tổ chức có thể dựa vào một trong các căn cứ sau để tiến hành nộp đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ:
Nhãn hiệu đã được sử dụng trong thương mại tại Mỹ (use in commerce)
Có ý định sử dụng nhãn hiệu trong thương mại tại Mỹ (intend to use)
Nhãn hiệu đã được nộp đơn đăng ký tại một nước là thành viên của công ước Paris hoặc của Hiệp ước nhãn hiệu hàng hóa mà Mỹ công nhận
Nhãn hiệu đã được đăng ký tại Việt Nam
Với các căn cứ trên, ta cần phải lưu ý "sử dụng thương mại" là cách sử dụng nhãn hiệu được chấp nhận với điều kiện:
- Đối với hàng hoá: nhãn hiệu phải được gắn trên hàng hoá, bao bì hoặc được thể hiện liên quan đến hàng hoá và hàng hoá phải được bán hoặc vận chuyển ở Mỹ
- Đối với dịch vụ: nhãn hiệu phải được sử dụng hoặc thể hiện trong quá trình bán hoặc quảng cáo dịch vụ trong thương mại tại Mỹ
Đạo luật Lanham của Mỹ hướng đến việc bảo hộ cho các nhãn hiệu được sử dụng trên thực tế Do đó, dù trong trường hợp đã bắt đầu sử dụng nhãn hiệu hay
có ý định sử dụng nhãn hiệu thì người nộp đơn đều phải nộp những cam kết về việc đã sử dụng hoặc sẽ sử dụng nhãn hiệu đó thật sự trong thương mại Và với một đơn đăng ký, dù là theo loại căn cứ nào nêu trên, cũng chỉ được nộp cho một nhãn hiệu hoặc nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó Những nhãn hiệu được đăng ký tại Mỹ là: nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận
Trang 33sau: chỉ dẫn tên, địa chỉ cư trú, quốc tịch và chữ ký của người nộp đơn; nơi thành lập và loại hình công ty; danh mục hàng hóa, dịch vụ (phân loại theo Bảng phân loại quốc tế Nice); mẫu hình vẽ nhãn hiệu Đối với nhãn hiệu đã được sử dụng, đơn đăng ký phải ghi rõ ngày và nơi sử dụng đầu tiên (trên toàn thế giới), ngày sử dụng đầu tiên tại Mỹ; cách thức sử dụng của nhãn hiệu (như vừa nêu ở trên) Bên cạnh đó, người nộp đơn sẽ phải gửi kèm một bản xác minh, trong đó xác nhận rằng người nộp đơn có đủ năng lực và điều kiện trở thành chủ sở hữu của nhãn hiệu hàng hoá được nộp đơn đăng ký.
Chỉ định người đại diện: chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có thể tự mình nộp đơn tại USPTO Tuy nhiên, nếu người chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá không cư trú tại Mỹ thì phải chỉ định một người đại diện có cư trú tại Mỹ
để tiến hành nộp đơn và các thủ tục khác có liên quan
2.1.1.3 Xét nghiệm đơn
Sau khi nhận đơn, USPTO sẽ kiểm tra các tài liệu trong danh mục đã ghi trong tờ khai, đánh dấu xác nhận ngày đơn đến, ghi nhận những sai khác giữa danh mục tài liệu ghi trong tờ khai và số liệu thực có trong đơn
USPTO sẽ không tiếp nhận đơn nếu đơn nhãn hiệu có một trong các thiếu sót sau:
- Đơn thiếu một trong các tài liệu bắt buộc gồm: đơn và bản xác minh cùng các chứng từ pháp lý chứng minh cho các sự kiện nêu trong bản xác minh
- Loại Giấy chứng nhận yêu cầu được cấp không phù hợp với nhãn hiệu hàng hoá được nêu trong đơn
- Đơn không có chữ ký và (hoặc) bị tẩy xoá, sửa chữa nghiêm trọng
Trong trường hợp đơn hợp lệ, USPTO sẽ tiến hành xét nghiệm đơn Việc xét nghiệm đơn được tiến hành theo một trong hai loại quy trình thủ tục,
đó là quy trình thủ tục chính thức và quy trình thủ tục bổ sung Đối với mỗi
Trang 34loại quy trình thủ tục này, đơn đều được xét nghiệm đồng thời hai tiêu chí là hình thức và nội dung.
Xét nghiệm viên sẽ tiến hành kiểm tra nội dung, hình thức của đơn và ra quy định xem người nộp đơn có đáp ứng đủ các yêu cầu không Nếu đơn không được tiếp nhận, xét nghiệm viên có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn đồng thời nêu rõ lý do Chủ đơn có 6 tháng kể từ khi nhận được thông báo, để sửa đổi bổ sung theo đúng yêu cầu Nếu sau thời hạn này
mà chủ đơn không trả lời, đơn đăng ký sẽ tự động bị huỷ bỏ Nếu chủ đăng ký sửa đổi lại đơn theo đúng yêu cầu của xét nghiệm viên đúng thời hạn, xét nghiệm viên sẽ cho phép đơn đăng ký được công bố trên Công báo chính thức của USPTO
2.1.1.5 Cấp Giấy chứng nhận
Hết thời hạn công bố đơn, nếu không có bên thứ ba nào phản đối, USPTO
sẽ tiến hành cấp giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Sau khi được đăng ký, nhãn hiệu được công bố công khai, và mọi doanh nghiệp khác được coi như phải biết đã tồn tại nhãn hiệu này, đồng nghĩa với việc không thể viện dẫn lý do không biết để biện bạch cho những vi phạm của mình sau thời điểm đó
Trang 352.1.2 Đăng ký qua Internet
Các cá nhân, tổ chức Việt Nam cũng có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ở
Mỹ thông qua Internet bằng cách truy cập vào trang web: www.uspto.gov và thực hiện theo các chỉ dẫn Đây là trang web của UPSTO, cho phép các doanh nghiệp trên thế giới đăng ký nhãn hiệu sản phẩm tại thị trường Mỹ Tuy nhiên, chủ sở hữu nhãn hiệu cũng cần phải chỉ định một người đại diện có địa chỉ xác định tại Mỹ để nhận Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (hoặc các thông báo khác) do USPTO gửi tới Việc thanh toán phí đăng ký nhãn hiệu phải được thực hiện trực tuyến qua thẻ ngân hàng ngay tại thời điểm nộp đơn Cần lưu ý là lệ phí nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đã thanh toán cho USPTO sẽ không được hoàn trả
Các chủ sở hữu nhãn hiệu sau khi đăng ký sẽ nhận được những lợi thế rất lớn như:
Ngầm thông báo cho công chúng rằng bạn là chủ sở hữu nhãn hiệu;
Độc quyền sử dụng nhãn hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ đã đăng ký;
Có khả năng khởi kiện liên quan đến nhãn hiệu ở Toà án Liên bang;
Có khả năng đăng ký với Hải quan Mỹ để ngăn chặn hàng nước ngoài
vi phạm nhãn hiệu nhập khẩu vào Mỹ
2.2 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế đa phương
2.2.1 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của Công ước Paris
2.2.1.1 Khái quát về Công ước Paris
Trong pháp luật quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu, Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Công ước Paris) được coi là một trong những Điều ước ra đời sớm nhất, quan trọng nhất và có sức ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới Công ước Paris được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris, và được sửa
Trang 36đổi gần nhất vào năm 1979 Theo thống kê của WIPO, tính đến tháng 9 năm
2014, Công ước Paris đã có 176 thành viên trên toàn thế giới
Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp theo Công ước Paris bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Các quy định của Công ước Paris đề cập đến 4 vấn đề lớn:
Nguyên tắc đối xử quốc gia
Quyền ưu tiên
Một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà các nước thành viên phải tuân thủ
Các quy định về hành chính phục vụ cho việc thi hành Công ước
Đối với các cá nhân, tổ chức Việt Nam muốn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình tại các nước thành viên theo Công ước Paris thì cần đặc biệt chú ý
đến hai vấn đề đó là: Nguyên tắc đối xử quốc gia và Quyền ưu tiên vì đây là
hai vấn đề liên quan mật thiết đến việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có thành công hay không và là nguyên tắc cơ bản để giải quyết khi có tranh chấp trong việc bảo hộ nhãn hiệu
2.2.1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment)
Theo Điều 2, Điều 3 của Công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo
hộ sở hữu công nghiệp, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viên khác sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình Chế độ đối xử quốc gia tương đương cũng phải được dành cho công dân của những nước không phải là thành viên của Công ước Paris nếu
họ cư trú tại một nước thành viên hoặc nếu họ có cơ sở kinh doanh tại một nước thành viên Mục đích của những quy định về chế độ đối xử quốc gia là nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được bảo hộ và không bị phân
Trang 37biệt đối xử theo bất kỳ cách nào liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Liên quan đến chế độ đối xử quốc gia, Công ước cũng đặt ra những ngoại lệ nhất định Các quy định của luật pháp quốc gia liên quan đến thủ tục xét xử và thủ tục hành chính, thẩm quyền xét xử, việc lựa chọn địa chỉ giao dịch hoặc chỉ định đại diện được bảo lưu.
2.2.1.3 Quyền ưu tiên khi nộp đơn
Quyền ưu tiên nộp đơn được quy định tại khoản A(1) và khoản C(1) Điều 4 của Công ước Paris Theo quy định này, căn cứ vào đơn hợp lệ đầu tiên đã nộp tại một trong số các nước thành viên của Công ước Paris, trong thời hạn 6 tháng đối với nhãn hiệu, người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo
hộ tại bất kì nước thành viên nào khác và các đơn nộp sau sẽ được coi như là nộp cùng thời điểm với đơn nộp đầu tiên Như vậy, quyền ưu tiên ở đây được thể hiện là: các đơn nộp sau tại cùng nước thành viên của đơn đầu tiên sẽ được ưu tiên nếu trong khoảng thời gian 6 tháng nói trên có những đơn xin bảo hộ cho nhãn hiệu đó từ những cá nhân, tổ chức khác Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian ưu tiên nói trên, nếu có xảy ra bất cứ sự kiện nào chẳng hạn như việc bán các sản phẩm mang nhãn hiệu, thì các đơn nộp sau dựa trên cơ
sở đơn nộp đầu tiên cũng sẽ không bị ảnh hưởng Vì tại một số quốc gia như
Mỹ, pháp luật quốc gia coi trọng nguyên tắc sử dụng đầu tiên, nên quy định
về sự ưu tiên này mang đến sự bảo vệ rất tốt cho các nhãn hiệu đã được nộp đơn từ trước (ở quốc gia thành viên khác) mà chưa được sử dụng tại quốc gia đang chuẩn bị nộp đơn
Như vậy, một trong những lợi ích thiết thực nhất của quy định này là khi người nộp đơn muốn đạt được sự bảo hộ ở một số nước, họ không buộc phải nộp đồng thời tất cả các đơn tại nước xuất xứ và các nước khác mà có đến 6
để quyết định xem nên nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở những nước nào và tiến hành thủ tục nộp đơn ở các nước được chọn lựa
Trang 38Hơn nữa, việc rút hoặc từ chối đơn đầu tiên không làm mất khả năng được hưởng quyền ưu tiên của người nộp đơn Người nộp đơn có thể yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từ nhiều đơn cũng như có thể yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từ một phần của một đơn nộp trước
Ngoài nguyên tắc đối xử quốc gia và quyền ưu tiên khi nộp đơn, cá nhân, tổ chức đăng ký nhãn hiệu của mình theo Công ước Paris còn có được thuận lợi khác, đó là sự độc lập của nhãn hiệu khi đăng ký Bởi vì Công ước Paris không quy định các điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu mà dành việc này cho luật quốc gia của các nước thành viên Một khi nhãn hiệu được đăng ký tại một nước thành viên, đăng ký đó sẽ độc lập với đăng ký có thể có tại bất cứ nước thành viên nào khác, kể cả nước xuất xứ Do đó, nếu đăng ký nhãn hiệu bị mất hiệu lực tại một nước thành viên thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu đó tại các nước thành viên khác10.Tuy nhiên, không phải nhãn hiệu nào đã đăng ký được ở một nước thành viên cũng chắc chắn được đăng ký ở nước thành viên khác Đăng ký có thể bị
từ chối trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như nhãn hiệu có khả năng xâm phạm quyền đã đăng ký của các bên thứ ba, nhãn hiệu không có khả năng phân biệt, nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng hoặc nhãn hiệu có khả năng lừa dối công chúng
2.2.2 Đăng ký bảo hộ theo hệ thống đăng ký quốc tế Madrid
2.2.2.1 Khái quát về hệ thống đăng ký quốc tế Madrid
Hệ thống đăng ký quốc tế Madrid là hệ thống quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá nhiều tại các nước trên thế giới Cơ
sở pháp lý của nó là: Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (sau đây gọi là Thỏa ước) được ký kết năm 1891 được sửa đổi lần gần đây nhất vào
10 Công ước Paris về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp, văn kiện sửa đổi, bổ sung tại Stockholm
1976, Điều 6.
Trang 39năm 1979 và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid (sau đây gọi là Nghị định thư), được thông qua năm 1989 và được sửa đổi gần đây nhất vào năm 2007 Quy chế chung thi hành Thoả ước và Nghị định thư (sau đây gọi là Quy chế chung) cũng có hiệu lực từ ngày 1/4/1996 Việt Nam trở thành thành viên của Thỏa ước Madrid vào ngày 8/3/1949 và cũng là thành viên của Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid ngày 11/7/2006 Hệ thống này được quản lý bởi Văn phòng quốc tế của WIPO - Cơ quan lưu giữ Đăng bạ quốc tế
và xuất bản Công báo của WIPO về Nhãn hiệu quốc tế
Tính đến tháng 1/2015, hệ thống Madrid về đăng ký nhãn hiệu có đến
95 quốc gia thành viên, trong đó 54 quốc gia vừa là thành viên của Thỏa ước
và Nghị định thư, 40 quốc gia khác chỉ là thành viên của Nghị định thư, và 1 quốc gia là Algeria tham gia Thỏa ước mà không tham gia Nghị định thư11 Bất
cứ quốc gia nào tham gia Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp đều có thể tham gia vào Thỏa ước hay Nghị định thư hoặc cả hai điều ước đó
Hệ thống Madrid mang lại khả năng bảo hộ nhãn hiệu tại một số hoặc toàn bộ các nước tham gia Liên minh Madrid Tuy nhiên, mặc dù được coi là
“đăng ký quốc tế” nhưng hệ thống Madrid không tạo nên một đơn đăng ký duy nhất cho tất cả các nước thành viên mà chỉ là một đơn duy nhất cho phép thực hiện đăng ký riêng tại các nước thành viên
Tại thời điểm ra đời, Thỏa ước Madrid mang lại rất nhiều lợi ích cho các
cá nhân tổ chức tại các quốc gia thành viên như: cho phép đăng ký nhãn hiệu
ở nhiều nước (các nước thành viên của Liên minh Madrid) mà chỉ cần nộp một đơn duy nhất vào một cơ quan duy nhất (cơ quan đăng ký nhãn hiệu của nước xuất xứ) bằng một ngôn ngữ duy nhất là tiếng Pháp, lệ phí cũng chỉ nộp một lần, bằng một loại tiền, sổ đăng ký do vậy cũng chỉ sử dụng một số… Nhưng bên cạnh đó Thỏa ước cũng có những điểm bất lợi, thứ nhất, đăng ký
11 http://www.wipo.int/madrid/en/members/
Trang 40quốc tế theo Thỏa ước phải dựa trên văn bằng bảo hộ nhãn hiệu đã được cấp tại nước xuất xứ Trong trường hợp nhãn hiệu mới chỉ nộp đơn đăng ký quốc gia thì việc nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu dựa trên đơn đăng ký đó sẽ không được chấp nhận theo Thỏa ước Thứ hai, trong Liên minh Madrid không có một số nước lớn trong lĩnh vực nhãn hiệu hàng hoá - chẳng hạn như Nhật Bản, Anh và Mỹ Điều này làm cho các cá nhân và tổ chức ở các quốc gia thành viên Thỏa ước gặp khó khăn khi đưa nhãn hiệu của mình vào các thị trường lớn này
Vì những lí do kể trên, Nghị định thư đã được thông qua năm 1989 và có hiệu lực từ ngày 1/12/1995 để bổ sung những hạn chế của Thỏa ước Nghị định thư đưa ra cơ chế mới cho phép các đăng ký quốc tế dựa trên các đơn quốc gia thay vì các đăng ký quốc gia, làm cho điều kiện đăng ký trở nên dễ dàng hơn, và tiết kiệm thời gian hơn Ngoài việc bảo đảm các ưu điểm của Thỏa ước được giữ lại, Nghị định thư còn tăng thêm thời hạn cho việc từ chối bảo hộ, tính linh hoạt khi chuyển đổi một đơn đăng ký quốc tế thành đơn quốc gia và một số quy định thuận lợi khác Bên cạnh đó WIPO cũng nỗ lực vận động hành lang để đưa hầu hết các quốc gia thành viên của Thỏa ước cũng như các quốc gia châu Âu và các nền kinh tế lớn tham gia vào Nghị định thư Hai phát triển đáng kể nhất của Hệ thống Madrid trong giai đoạn gần đây đó
là sự gia nhập của Mỹ vào năm 2003 và Liên minh châu Âu vào năm 2004 Chính điều này đã làm nên tính “quốc tế” thật sự cho Hệ thống Madrid, khi trở thành nơi hội tụ của các nền kinh tế lớn trên thế giới
2.2.2.2 Một số điểm khác biệt đặc trưng của Nghị định thư so với Thỏa ước:
Sự lựa chọn dành cho người nộp đơn: cho phép các đăng ký quốc tế dựa trên các đơn quốc gia chứ không chỉ dựa trên các đăng ký quốc gia như Thỏa ước;