Trường hợp thứ ba,thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai Điều 64 bao gồm: i Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử
Trang 1NOUKHAM HOMPANYA
CHẾ ĐỊNH BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT CỦA VIỆT NAM VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN QUANG TUYẾN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2nhất đến PGS TS Nguyễn Quang Tuyến – người thầy đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin cảm ơn sự chỉ bảo ân cần của các thầy cô trong khoa Pháp luật Kinh tế và toàn thể các thầy cô, bạn bè dưới mái trường Đại học Luật Hà Nội Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã động viên em trong suốt quá trình học tập ở Việt Nam
Hà Nội, ngày 20 tháng 0 6 năm 2015
Tác giả
NOUKHAM HOMPANYA
Trang 3Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NOUKHAM HOMPANYA
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM 7
1.1 Lý luận về thu hồi đất 7
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất 7
1.1.2 Các trường hợp thu hồi đất 10
1.2 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 15
1.2.1 Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 15
1.2.2 Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 18
1.2.3 Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 19
1.2.4 Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 21
1.3 Sơ lược hệ thống pháp luật Việt Nam về thu hồi đất 21
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1993 21
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003 22
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay 24
Chương 2: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 VÀ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA LÀO 28
2.1 Các quy định chung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 28
2.1.1 Phạm vi được bồi thường 28
2.1.2 Đối tượng được bồi thường 28
2.2 Các quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam 29
Trang 52.2.4 Giá đất để tính bồi thường 36 2.2.5 Bồi thường khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân 37 2.2.6 Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của tổ chức 40 2.2.7 Bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn 42 2.2.8 Các quy định về bồi thường về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất 43
2.3 Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo luật Đất đai của CHDCND Lào 46 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA CHDCND LÀO 48 3.1 Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam 48 3.2 Một vài kiến nghị góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 60 3.3 Những gợi mở cho sự hoàn thiện pháp luật Đất đai của CHDCND Lào về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thông qua nghiên cứu tìm hiểu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 62
3.3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng tại Lào và kinh nghiệm từ thực trạng áp dụng tại Việt Nam 62 3.3.2 Những gợi mở cho sự hoàn thiện pháp luật Đất đai của CHDCND Lào 64
3.3.2.1 Kinh nghiệm về xác định các trường hợp áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất 64
Trang 6án đầu tư 65 3.3.2.4 Nghiên cứu, áp dụng cơ chế chia sẻ lợi ích 66 3.3.2.5 Về vấn đề công khai, minh bạch và tham vấn người dân trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 66
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7CHDCND Lào Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào CHXHCN Việt Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có tầm quan trọng đặc biệt trên nhiều phương diện đối với con người Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 2013: “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Điều 53) Tuy nhiên trên thực tế Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất) Người sử dụng đất ổn định lâu dài được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) Dẫu vậy khi cần sử dụng đất cho mục đích quốc phòng, an ninh hoặc sử dụng đất cho mục đích công cộng thì việc thu hồi đất là điều khó tránh khỏi Trong những trường hợp này người bị thu hồi đất được Nhà nước bồi thường cho việc đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề rất khó khăn, phức tạp
và phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội; bởi lẽ, nó trực tiếp “động chạm” đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Nhận thức được tính phức tạp và tầm quan trọng của vấn đề này, pháp luật đất đai nói chung và các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Điều này được minh chứng bởi các Đạo luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 và mới đây nhất là Luật đất đai năm 2013 lần lượt được ban hành Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội Khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014 Đạo luật này không chỉ kế thừa các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Luật đất đai năm
2003 mà còn có những sửa đổi, bổ sung về vấn đề này Để góp phần triển khai thi hành Luật đất đai năm 2013 thì việc tìm hiểu chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Đạo luật này là việc làm cần thiết
Trang 9CHDCND Lào là quốc gia láng giếng với Việt Nam và có mối quan hệ gắn bó keo sơn, thủy chung Giữa hai nước có nhiều điểm tương đồng về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Dựa trên mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, Việt Nam luôn luôn giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm đối với Lào trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); trong đó có sự chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng pháp luật Hiện này, Lào đang trong thời kỳ công nghiệp hóa nhu cầu sử dụng đất để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị và các công trình công cộng là rất lớn Do vậy, việc thu hồi đất là điều khó tránh khỏi Xử lý việc bồi thường cho người bị thu hồi đất cũng là một thách thức không nhỏ
Do vậy, việc tìm hiểu và học tập kinh nghiệm của Việt Nam thông tiếp cận chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật đất đai năm 2013 là rất cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai của nước
CHDCND Lào Với những lý do cơ bản trên đấy, em lựa chọn đề tài “Chế
định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Việt Nam và những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật đất đai của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào”
làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, cũng có một số tác giả nghiên cứu về các vấn
đề khác nhưng có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 như:
Luận văn thạc sĩ: "Vận dụng Lý luận của C.Mác về giá cả ruộng đất vào
định giá đất ở Việt Nam", của Phan Văn Ninh, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, năm 2004;
Luận văn thạc sĩ: "Nguồn lực tài chính từ đất đai trong nền kinh tế nước
ta hiện nay" của Trần Đức Thắng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 2005;
Trang 10Luận văn: "Quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản trên địa
bàn thành phố Hồ chí Minh", của Trần Văn Điển, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2004;
Luận văn: "Giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị
trường bất động sản ở Việt Nam", của Lê Mạnh Dân, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, năm 2004
Khoá luận tốt nghiệp: Lê Xuân Quỳnh, Tìm hiểu các bất cập hiện nay
trong quy định về giá đất áp dụng cho các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất và bồi thường khi thu hồi đất, Đại học Luật Hà Nội năm 2008
Khoá luận tốt nghiệp : Đỗ Thị Ngọc Hương, Pháp luật về bồi thường
thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất, Đại học
Luật Hà Nội năm 2006
Ngoài ra, cũng có một số luận văn khác nghiên cứu về chính sách thu tiền sử dụng dụng đất, lệ phí trước bạ Những vấn đề này có liên quan chặt chẽ đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, việc nghiên cứu chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật đất đai năm 2013 và liên hệ vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở CHDCND Lào nhằm rút ra bài học cho Lào thì đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu đặc biệt là trên góc độ lý luận
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Chế định bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất của Việt Nam và những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật đất đai của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào” là nghiên cứu chế định bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật đất đai năm 2103 của Việt Nam nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm tham khảo bổ ích gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật đất đai của Lào
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất; phân tích khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
- Tìm hiểu cơ sở của việc ra đời chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; quá trình hình thành và phát triển của chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Luật đất đai năm 2013 dựa trên sự so sánh, đối chiếu với Luật đất đai của Lào
để rút ra những bài học kinh nghiệm
- Đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật đất đai của Lào
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đặt trong mối quan hệ so sánh với các quy định này của pháp luật đất đai của Lào
- Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định được đề cập trong Luật Đất đai năm 1993; Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, trong khuôn khỏ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Luật đất đai năm 2013 và các văn
Trang 12bản hướng dẫn thi hành đặt trong mối quan hệ so sánh với các quy định này của pháp luật đất đai Lào
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả
đã dựa vào phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, dựa trên cơ sở chính trị là tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Nhà nước và pháp luật
Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp diễn giải … được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
- Phương pháp so sánh, phương pháp lập luận lô gic, phương pháp đánh giá … được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam và Lào
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp bình luận
… được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013 của Việt Nam và những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật đất đai của CHDCND Lào
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đây, Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, triết lý của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, các đặc điểm của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
Trang 13- Đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam và Lào;
- Đề xuất các kiến nghị góp phần thực thi có hiệu quả và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam và gợi mở những bài học cần thiết đối với Lào
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2013 và pháp luật đất đai Lào
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam và những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp luật đất đai của CHDCND Lào
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1 Lý luận về thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm thu hồi đất
Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua một trong những hình thức là giao đất, cho thuê đất cho tổchức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất) sử dụngổn địnhlâu dài và cho phép họ được chuyển quyền sử dụng đất Khi có nhu cầu
sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước thu hồi đất Thuật ngữ thu hồi đất được giải thích trong các sách báo pháp lý
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thu hồi là việc “thu về lại, lấy lại cái trước đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác” Từ đó, có thể hiểu thu hồi đất thể hiện quyền lực của Nhà nước – người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai - trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai Trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993, đã đề cập vấn
đề thu hồi đất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất như ở Điều 14 Luật Đất đai anwm 1987 và Điều
26 Luật Đất đai năm 1993
Theo Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội xuất bản năm 1999, thu hồi đất được hiểu là: Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng
Trang 15đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất đai hợp pháp bị lấn chiếm Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Giáo trình Luật Đất đai năm 2008 của Trường Đại học Luật Hà Nội
đưa ra định nghĩa thu hồi đất như sau: “Thu hồi đất là một quyết định hành
chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng” Luật Đất đai năm 2003 ra đời,
thuật ngữ thu hồi đất đã được giải thích tại Khoản 5, Điều 4: “Thu hồi đất là
việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”
Mặc dù Luật Đât đai năm 2003 giải thích thế nào là thu hồi đất Tuy nhiên theo chúng tôi, cách giải thích này chưa thật sự chính xác, dễ làm mọi người nhầm lẫn rằng người dử dụng đất bị thu hồi đất chỉ là tổ chức hay Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn Trong khi theo quy định pháp luật, người
sử dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân cộng đồngdân cư, cơ
sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất.Hơn nữa, trên thực tế đây là những chủ thể phổ biến bị thu hồi đất
Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến, các quan điểm của các chuyên gia, nhà khoa học, của các cơ quan quản lý đất đai v.v Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014, tại Khoản 11 Điều 4 đã giải thích rõ hơn về khái niệm
thu hồi đất như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu
lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”
Trang 16Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi
đất như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu
lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai”
Tiếp cận, tìm hiểu về thu hồi đất cho thấy nó có những đặc điểm cơ bản sau::
Thứ nhất, thu hồi đất là một trong những nội dung cơ bản của quản lý
nhà nước về đất đai cùng với việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất v.v Việc thu hồi đất do cơ quan quản lý hành chính nhà nước tiến hành theo một thủ tục, trình tự nhất định Thẩm quyền thu hồi đất được xác định theo thẩm quyền giao đất, cho thuê đất; theo đó, cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất với loại đất đó Thu hồi đất được thực hiện bởi quyết định thu hồi đất của cơ quan nàh nước có thẩm quyền Trong đó xác định rõ chủ thể bị thu hồi, lý do thu hồi, diện tích thu hồi, mục đích thu hồi Đây là căn cứ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất
Thứ hai, phương pháp mệnh lệnh là phương pháp được sử dụng trong
mọi trường hợp thu hồi đất Vì đây là quan hệ giữa một bên là người sử dụng đất với một bên là Nhà nước - tổ chức chính trị- quyền lực đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, giữa hai chủ thể này không có sự bình đẳng về mặt pháp lý Tuy nhiên, bên cạnh phương pháp mệnh lệnh hành chính, Nhà nước còn sử dụng phương pháp đối thoại, vận động, giáo dục, thuyết phục nhằm tạo sự đồng thuận từ phíangười sửdụng đất trong việc chấp hành nghiêm chỉnh quyết định thu hồi đất; đặc biệt là khi thu hồi đất đsử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng
Thứ ba, thu hồi đất là biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thể hiện quyền
sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, đồng thời cũng là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai Vì
Trang 17vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lập lại kỷ cương trong quản lý nhà nước về đất đai
Thứ tư, thu hồi đất gây ra những hậu quả pháp lý cho người sử dụng đất
Họ bị mất quyền sử dụng đất, không có chỗ ở hoặc không có công ăn việc làm; cuộc sống rơi vào hoàncảnh khó khăn v.v Do đó, thu hồi đất được pháp luật quy định rất chặt chẽ và hạn chế Điều này có nghĩa là chỉ trong trường hợp thật cần thiết sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; mục đích công cộng thì Nhà nước mới thu hồi đất Tuy nhiên, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền thu hồi đất mà chỉ có rất ít cơ quan nhà nước được pháp luật quy định mới có thẩm quyền này Việc thu hồi đất phải tuânthủ triệt để các quy định về trình tự, thủ tục và người bị thu hồi đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư v.v
1.1.2 Các trường hợp thu hồi đất
Thu hồi đất chủ yếu phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh,; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng Trong điều kiện kinh tế thị trường thì việc tiếp cận đất đai của các chủ thể kinh doanh được điều tiết bởi quan hệ thị trường Điều này có nghĩa là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế muốn
có đất để xây dựng cơ sở sản xuất - kinh doanh, dịch vụ thông qua việc nhận chuyển nhượng, thuê và nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất chứ Nhà nước không thực hiện thu hồi đất đối với các trường hợp này Theo pháp luật đất đai hiện hành, Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất, thu hồi đấtsử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước Vì vậy, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay là đất đai thuộc sở hữu toàn
Trang 18dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Theo đó, Hiến
pháp năm 2013 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản,
nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản
do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Để thể hiện thái độ tôn
trọng, sự bảo vệ của Nhà nước đối với quyền sử dụng đất của công dân, vừa tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục phòng, chống và xử lý nghiêm minh các trường hợp sai phạm trong thực hiện pháp luật về đất đai, Khoản 2, Điều
54 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”
Đồng thời, tại Khoản 3 Điều 54 của Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay, vẫn cần thiết phải thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội
Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng,
an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Tại Điều 61 Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong các trường hợp sau đây: i) Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc của lực lượng vũ trang; ii) Xây dựng căn cứ quân sự; iii) Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; iv) Xây dựng ga, cảng quân sự; v) Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; vi) Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;
Trang 19vii) Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; viii) Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân; ix) Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; x) Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý
Trường hợp thứ hai, Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì
lợi ích quốc gia, công cộng
Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:
Một là, thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định
chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
Hai là, thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết
định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: i) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); ii) Dự án xây dựng trụ sở
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ
sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; iii) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
Ba là, thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà
phải thu hồi đất bao gồm: i) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh
Trang 20lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương; ii) Dự án xây dựng kết cấu
hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; iii) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; iv) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; v) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ
và khai thác tận thu khoáng sản
Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây: i) Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này; ii) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; iii) Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án
Trường hợp thứ ba,thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64)
bao gồm: i) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; ii) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; iii) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; iv) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho; v) Đất
Trang 21được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm; vi) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất
do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; vii) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành; viii) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn
12 tháng liên tục; ix) Đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục; Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư
mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp
do bất khả kháng
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
Trường hợp thứ tư,thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp
luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Điều 65)
bao gồm: i) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; ii) Người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc
Trang 22không còn nhu cầu sử dụng đất; iii) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; iv) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn; v) Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; vi) Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người
Việc thu hồi đất trường hợp này phải dựa trên các căn cứ sau đây: i) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; ii) Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; iii) Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;iv) Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này; v) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người đối với trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều này
1.2 Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trong đời sống hàng ngày, “ bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những
tổn hại gây ra”;
Trang 23Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ rất sớm Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) quy định Thể lệ tạm
thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho
người có ruộng đất bị trưng dụng” Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày
11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Đặc biệt khi Luật đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất
có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù” Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng
trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và các nghị định hướng dẫn thi hành như Nghị định số 90/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ ban hành quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia lợi ích công cộng; Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 22/04/1998 của Chính Phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng… Tuy nhiên khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật đất đai năm 2001 được
Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và tiếp tục
xuất hiện trong Luật đất đai năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 84/2007NĐ-CP ngày 25/05/2007 của
Trang 24Chính Phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Thuật ngữ bồi thường tiếp tục được sử dụng trong Luật đất đai năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Vậy bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất làgì?
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai năm 2003: “Bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” Tuy nhiên, quy định này chưa
thật sự chặt chẽ và chưa thể hiện được đầy đủ những giá trị thiệt hại mà Nhà nước sẽ thu hồi khi thu hồi đất, đó không chỉ là giá trị quyền sử dụng đất mà cón tính đến giá trị thiệt hại về tài sản trên đất, ngoài ra phải tính đến những thiệt hại vô hình khác, mà Nhà nước phải sử dụng thêm cơ chế hỗ trợ mới bù đắp được một cách trọn vẹn những thiệt hại do thu hồi đất gây ra Luật đất đai năm 2103 ra đời đã sửa đổi bổ giải thích thuật ngữ bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất (hay còn được gọi là bồi thường về đất) như sau: “Bồi thường về
đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”(khoản 12 Điều 3)
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra Trách nhiệm này được quy định trong Luật đất đai;
- Bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra Điều này có nghĩa là bồi thường chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Trang 25- Bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra;
- Căn cứ để xác định bồi thường là diện tích thực tế bị thu hồi; thiệt hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và giá đất cụ t do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất;
- Người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất muốn được bồi thường
về đất phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định;
- Người bị Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất mà còn được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất và được hưởng các chính sách hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất;
1.2.2 Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua các khoản hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định
cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn,
ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần bù đắp thêm của Nhà nước sau khi đã bồi thường cho người bị thu hồi đất và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là do đầu tư của người sử dụng đất mang lại
Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một cách tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, do việc bồi thường chưa thực sự sòng phẳng nên các khoản hỗ trợ chưa thực sự đúng với ý nghĩa mà nó được định
Trang 26nghĩa trong Luật đất đai và trong đa số trường hợp thì nó chỉ là sự bù đắp vào khoảng thiếu hụt do việc bồi thường thiếu sòng phẳng gây ra; bên cạnh đó một số khoản hỗ trợ thực chất là bồi thường như là hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm vì đây chính là những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra
1.2.3 Cơ sở lý luận của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ra đời dựa trên những lý do
chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa
trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ Hiến Pháp năm 1946 đã ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân về tài sản:
“Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều 12)
Quyền này tiếp tục được khẳng định trong bản Hiến pháp năm 1992: “Công
dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở , tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều
58) Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn long trọng tuyên bố: “Tài sản hợp
pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa Trong trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường…”(Điều 23) Kế thừa quan điểm này của Hiến phápnăm 1992,
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập
hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổchức kinh tế khác; 2 Quyền sở hữu
tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ; 3 Trong trường hợp thật cần thiết vìl ý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩncấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường” (Điều 32)
Trang 27Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức
đã được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì toàn bộ tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi của người đang sử dụng đất đều phải được bồi thường theo giá thị trường Đối với trường hợp người sử dụng đất bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, Nhà nước phải thực hiện chính sách tái định cư cho các đối tượng này;
Thứ hai, xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động
thiết lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Nhà nước theo đuổi sứ mạng cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân Đặt trong bối cảnh đó, thì khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì (cho dù là sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng ) mà gây thiệt hai hoặc họ phải di chuyển chỗ ở thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường và thực hiện việc tái định cư nhằm làm cho người sử dụng đất sớm ổn định cuộc sống;
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử
dụng đất (trong đó có lợi ích về nhà ở) là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành
vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra Hơn nữa, trong điều kiện Nhà nước và pháp quyền, mọi chủ thể trong xã hội bao gồm Nhà nước, công dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội…đều bình đẳng với nhau trước pháp luật Nước ta đang từng bước xây dựng một xã hội dân sự văn minh và hiện đại, nơi mà ở đó quyền lợi hợp pháp của mọi thành viên trong xã hội phải được luật pháp tôn trọng và bảo vệ Với cách tiếp cận như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất ở mà làm thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thì Nhà nước không những có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mà còn phải thực hiện tái định cư cho họ
Trang 281.2.4 Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, đảm bảo chia sẽ lợi ích và bù đắp những thiệt hại cho các chủ
thể sử dụng đất, đồng thời nhanh chóng giúp ổn định đời sống, sản xuất, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người bị thu hồi đất
Thứ hai, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng
như tính phức tạp của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các nhà quản lý, của chính quyền địa phương Bên cạnh đó, thông qua thực tiễn thi hành bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất “đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có điều kiện trau dồi năng lực và tích lũy nhiều kinh nghiệm; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường hỗ trợ
và tái định cư giữa cán bộ, các ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả”
Thứ ba, tìm ra lời giải hợp lý cho bài toán “lợi ích ba bên” là Nhà nước -
người bị thu hồi đất - người nhận lại quyền sử dụng đất đã thu hồi trong quá trình thực hiện việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ tư, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã góp phần chuyển đổi cơ
cấu kinh tế chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị thu hồi đất, nhất là đối với người nông dân
1.3 Sơ lược hệ thống pháp luật Việt Nam về thu hồi đất
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1993
Trước năm 1987, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, ở nước
ta pháp luật đất đai chưa phát triển Trong thời kỳ này chỉ có một số văn bản quy phạm pháp luật về đất đai mà tiêu biểu là Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) quy định Thể lệ tạm
thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương II đã đề cập việc “Bồi thường cho
người có ruộng đất bị trưng dụng” Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày
11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về bồi
Trang 29thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố đề cập vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mặc dù được ban hành song chưa đầy đủ, thống nhất;
Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ hai đã thông qua Luật
đất đai; trong đó quy định: “Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của
Nhà nước hoặc của xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khác” (Khoản 5 Điều 49) Tuy nhiên quy định này mới dừng lại ở mức độ
khái quát chưa nêu cụ thể các trường hợp được bồi thường hay không được bồi thường; mức độ bồi thường như thế nào v.v Cụ thể hóa quy định này của Luật đất đai năm 1987, Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp chuyển mục đích từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác Theo đó, người được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước Nhà nước dùng khoản tiền này để khai hoang mở rộng diện tích đất nông nghiệp bù đắp vào số diện tích phải chuyển mục đích
sử dụng đất
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003
Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 14/07/1993 và có hiệu lực từ ngày 15/10/1993, đã quy định rõ hơn về vấn đề
bồi thường; cụ thể: “Người sử dụng đất có quyền được bồi thường thiệt hại về
đất đai bị thu hồi” (Khoản 6 Điều 73); và “Trong trường hợp cần thiết Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu
Trang 30hồi đất được đền bù thiệt hại” (Điều 27); “Trước khi thu hồi phải thông báo cho người đang sử dụng đất biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại” (Điều 28) Tuy nhiên vẫn còn thiếu các
quy định về việc giải quyết vấn đề tái định cư, vấn đề đào tạo chuyển đổi ngành, nghề, tìm kiếm việc làm mới cho người có đất bị thu hồi Cụ thể hóa các quy định này, ngày 17/08/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/CP quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Thực tiễn triển khai thực hiện Nghị định này cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập mà hạn chế lớn nhất là quy định về giá đất bồi thường quá thấp nên người bị thu hồi đất không đồng thuận với phương án bồi thường, phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài Để khắc phục những tồn tại này, ngày 24/04/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ- CP thay thế Nghị định số 90/CP Tiếp
đó, Bộ Tài chính ra Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP Các văn bản này đã có những sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:
- Quy định rõ tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm đền bù thiệt hại ( Điều 2 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP);
- Giá đất để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của Chính phủ nhân với hệ số K nhằm đảm bảo giá đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và không quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường (Điều 8 Nghị Định
số 22/1998/NĐ-CP);
- Ngoài việc được đền bù, người bị thu hồi đất còn được trợ cấp nhằm
ổn định đời sống trong trường hợp phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa điểm sản xuất - kinh doanh; trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, được chuyển đến khu tái định cư nếu họ có nhu cầu… (Điều 25, Điều 28 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP);
Trang 311.3.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Mặc dù các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thường xuyên được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn song, trên thực tế nhiều địa phương xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn thấp hơn nhiều so với giá đất chuyển nhượng trên thị trường Điều này đã gây ra nhiều tranh chấp, khiếu kiện về đất đai phức tạp, kéo dài Để khắc phục những hạn chế này và sửa đổi một số quy định của pháp luật đất đai cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật đất đai 2003 thay thế Luật đất đai năm 1993; trong đó có các quy định sửa đổi, bổ sung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể hóa các quy định này, ngày 03/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-
CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Bộ Tài chính ra Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 hướng thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Các quy định về vấn đề này đã có những sửa đổi, bổ sung đáng chú ý sau đây:
- Quy định rõ các trường hợp người bị Nhà nước thu hồi đất được bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất và các trường hợp người bị thu hồi đât không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất;
- Quy định nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc thu hồi đất; theo
đó: “Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp, 180
ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất phải thông báo cho người sử dụng đất biết lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư”;
- Quy định chính sách tái định cư, theo đó, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất
Trang 32để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ;
- Quy định chính sách hỗ trợ, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới cho người bị thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất …;
Tiếp đó, để xử lý những vấn để mới nảy sinh trong quá trình thu hồi đất, GPMB, ngày 25/05/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Mặc dù thường xuyên được sửa đổi, bổ sung song những quy định trên đây cũng chỉ giải quyết một số vấn đề bức xúc nảy sinh từ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB) khi Nhà nước thu hồi đất Do đây là công việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nếu các quy định được xây dựng không hợp lý và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định về chính trị Nhận thức được vấn đề này, ngày 13/08/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất; phát triển quỹ đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(GCNQSDĐ), sử dụng đất công trình ngầm và gia hạn sử dụng đất Ngày 01/10/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất nhằm xử lý các tình huống mới nảy sinh trong quá trình thu hồi đất, GPMB ;
Trang 33Ngày 29/11/2013, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 Đạo Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014 So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều Theo đó, Luật đất đai đã có những điểm mới quan trọng: đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa(CNH, HĐH) đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân, đặc biệt là vấn đề thu hồi đất, cụ thể:
Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi; Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, luật qui
định: "Nhà nước chỉ thu hồi đất với các dự án đã được Quốc hội quyết định
chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét qua chủ trương thu hồi đất" Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 cũng qui định chế
tài mạnh để xử lý đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng Đó là: "Cho phép chậm tiến độ hơn so với qui định hiện hành 24 tháng và chủ đầu tư phải nộp một khoản tiền tương ứng với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời hạn đó Nếu hết 24 tháng cho phép chậm tiến độ mà vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất" Luật cụ thể các vấn đề bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất ở như nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật
Trang 34Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau: Trường hợp không còn đất
ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền; Trường hợp còn đất
ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất Tổ chức kinh
tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 thì được bồi thường về đất Vấn đề này được cụ thể hóa tại Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Bên cạnh đó, Luật quy định các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; Hỗ trợ khác (Quốc hội giao cho Chính phủ sẽ quy định chi tiết về vấn đề này)
Kể từ ngày Luật đất đai số 45/2013/QH13 có hiệu lực thì Luật đất đai số 13/2003/QH11 và Nghị quyết số 49/2013/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội về kéo dài thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân hết hiệu lực
Trang 35Chương 2 THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 VÀ PHÁP
LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA LÀO
2.1 Các quy định chung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1 Phạm vi được bồi thường
Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người có đất
bị thu hồi được bồi thường theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Phạm vi của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể như sau:
Thứ nhất, bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất mà Nhà
nước thu hồi đất Như vậy, Nhà nước tiến hành thu hồi diện tích đất thực tế bao nhiêu thì sẽ bồi thường toàn bộ bấy nhiêu số diện tích đất đã thu hồi Tùy từng trường hợp cụ thể mà việc bồi thường có thể bằng tiền, nhà ở hoặc bằng đất
Thứ hai, không chỉ bồi thường về đất mà Nhà nước còn bồi thường hoặc hỗ
trợ về tài sản gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi Như vậy, phạm vi bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Bồi thường về đất thực tế bị thu hồi, bồi thường về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi
2.1.2 Đối tượng được bồi thường
Về đối tượng được bồi thường, hỗ trợ (BT, HT) khi Nhà nước(NN) thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013(LĐĐ 2013), bao gồm: Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đang SDĐ bị NN thu hồi đất Người bị thu hồi đất là đối tượng nằm trong quy định được bồi thường sẽ được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, những
Trang 36trường hợp khác chỉ được xem xét hỗ trợ và tái định cư Nhà nước khuyến khích những người có đất, tài sản gắn liền với đất thuộc phạm vi thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế tự nguyện hiến, tặng một phần hoặc toàn bộ dất, tài sản cho Nhà nước
Như vậy, so với Luật đất đai năm 1993(LĐĐ 1993), đối tượng được BT,
HT khi NN thu hồi đất theo LĐĐ 2013 đã được mở rộng hơn, không chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước mà còn bao gồm cả cộng đồng dân cư,
cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị NN thu hồi đất cũng được BT, HT Việc mở rộng đối tượng được BT, HT khi NN thu hồi đất là rất cần thiết nhằm phù hợp với thực tế SDĐ ở nước ta hiện nay; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ là cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài Hơn nữa, việc mở rộng đối tượng được
BT, HT khi NN thu hồi đất còn phù hợp với mục tiêu bảo đảm tính tương thích về pháp luật trong quá trình hội nhập quốc tế; đồng thời xoá dần sự khác biệt về quyền SDĐ giữa người Việt Nam trong nước và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong sử dụng đất; khuyến khích, động viên động viên các chủ thể này đầu tư vào Việt Nam
2.2 Các quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam
2.2.1 Nguyên tắc bồi thường
Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo toàn bộ các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật cũng như hệ thống các ngành luật cụ thể Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 trên thực tế đã không chuyển tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn
đề phức tạp, phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
Trang 37cư tại các địa phương Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 tách các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều
74 và Điều 88) để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào
đó thống nhất thực hiện, cụ thể:
Thứ nhất, nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều
74 Luật Đất đai năm 2013):
Một là, người sử sụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được
bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường
Hai là, việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục
đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
Ba là, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ,
khách quan, công bằng, kịp thời và đúng quy định của pháp luật Thể hiện: nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai: Dân chủ ở đây chính là có sự tham gia của chủ đầu tư và đại diện của những hộ gia đình có đất bị thu hồi trong việc xây dựng, thẩm tra và xét duyệt phương án bồi thường Công bằng là trong cùng một thời điểm, theo yêu cầu tiến độ giải phóng, vị trí đất bị thu hồi như nhau thì được bồi thường như nhau Còn công khai là niêm yết công khai phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB) và các tài liệu khác có liên quan đến việc thu hồi đất tại trụ sở UBND cấp xã, phường thị trấn nơi có đất bị thu hồi và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư của người bị thu hồi đất; chuyển tải những nội dung này trên các phương tiện truyền thanh của địa phương; gửi phương án bồi thường đến từng hộ gia đình bị thu hồi đất để họ
và người có liên quan tham gia đóng góp, phản hồi ý kiến
Trang 38Thứ hai, nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh
doanh khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 88 Luật Đất đai năm 2013) được Luật đất đai năm 2013 quy định bao gồm:
Một là, khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn
liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường
Hai là, khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất - kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại
2.2.2 Điều kiện để được bồi thường
Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, anh ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng sử dụng đất mà Nhà nước thu hồi đất Cụ thể:
Thứ nhất, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê
trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật đất đai năm 20131; người Việt Nam định
cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được
1
Khoản 2 Điều 77 Luật đất đai năm 2013: Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01/7/2014 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích đất được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này
Trang 39cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Thứ hai, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất
mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc
có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Thứ ba, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất
có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Thứ tư, tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê
đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước,
có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp
Thứ năm, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước
cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp
Trang 40Thứ sáu, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp
Có thể thấy rằng, so với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013
đã bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể: Bổ sung trường hợp bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho
cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau); Bổ sung việc bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liều với đất theo quy định của Luật mà chưa được cấp
2.2.3 Các trường hợp thu hồi đất không được bồi thường
Trước đây, theo quy định tại Điều 43 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 7 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trong những trường hợp sau đây Nhà nước thu hồi đất mà không thực hiện việc bồi thường cho người bị thu hồi:
- Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này