1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự - Thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La

86 279 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 721,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1.3 Những vướng mắc, hạn chế từ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La Nguyên nhân của những vướng mắc

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Công Bình

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Quàng Hồng Nết

Trang 4

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự

LSĐBS BLTTDS : Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố

tụng dân sự HĐTPTANTC : Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

PLTTGQCVAS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

PLTTGQCVALĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

CUNG CẤP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

8

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự 8 1.1.1 Khái niệm cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự 8 1.1.2 Ý nghĩa của việc cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự 13 1.2 Cơ sở pháp luật quy định cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự 15 1.2.1 Cơ sở lý luận pháp luật quy định cung cấp chứng cứ trong tố

1.3 Sơ lược các quy định của pháp luật Việt Nam về cung cấp

chứng cứ trong tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay

21

Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP

LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CUNG CẤP CHỨNG

CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

28

Trang 6

2.2.1 Nhóm chủ thể cung cấp chứng cứ 33 2.2.2 Nhóm chủ thể có nghĩa vụ tiếp nhận chứng cứ 36 2.2 3 Nhóm chủ thể kiểm sát việc cung cấp và tiếp nhận chứng cứ 39 2.3 Thời gian, thủ tục cung cấp chứng cứ và hậu quả của việc

không cung cấp hoặc cung cấp không đủ chứng cứ

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN

LA VÀ KIẾN NGHỊ

53

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về cung cấp chứng

cứ trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La

53

3.1.1 Tình hình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân

tỉnh Sơn La

53

3.1.2 Tình hình thực hiện cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự tại Tòa

án nhân dân tỉnh Sơn La

56

Trang 7

3.1.3 Những vướng mắc, hạn chế từ thực tiễn thực hiện các quy định

của pháp luật về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự tại

Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La

Nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế trong thực hiện

các quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ tại Tòa án

nhân dân Tỉnh Sơn La

Các quy định của pháp luật còn chưa đầy đủ và chặt chẽ

Nhận thức của đương sự về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện và thực hiện các quy địn của pháp

luật về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự

65

3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cung cấp chứng cứ 66

Trang 8

3.2.1.2 Sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục giao nhận chứng cứ 68 3.1.1.3 Bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ trao đổi chứng cứ giữa

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản được thực hiện suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự kể từ khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động chứng minh có được thực hiện tốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào việc cung cấp chứng cứ của các đương sự và các

cá nhân, tổ chức nắm giữ chứng cứ cũng như sự đánh giá chứng cứ của Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ việc dân sự, do vậy việc cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự (TTDS) là hoạt động tố tụng có vai trò to lớn trong việc giải quyết vụ việc dân sự

Việc cung cấp chứng cứ do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện, trong đó chủ thể chính có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ là các đương sự Với việc Nhà nước ban hành BLTTDS, đặc biệt là LSĐBS BLTTDS các quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ trong TTDS đã ngày càng hoàn thiện góp phần bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng vụ việc dân sự, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy vậy, qua khảo sát thực tiễn xét xử của Tòa án trong những năm gần đây cho thấy các tranh chấp dân sự phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp, trong khi đó các quy định của của BLTTDS và LSĐBSBLTTDS về cung cấp chứng cứ và thực tiễn thực hiện vẫn còn nhiều điểm bất cập Đây là một trong những nguyên nhân làm cho việc giải quyết nhiều vụ việc dân sự bị kéo dài, không đúng pháp luật, hạn chế tới kết quả bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của các đương sự Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ trong TTDS vẫn là cần thiết

Trang 10

Với mong muốn được góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam và nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của các Tòa án,

Học viên đã chọn đề tài “Cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự - Thực

tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La” nghiên cứu làm Luận văn Thạc sĩ

Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, đặc biệt là trong quá trình xây dựng BLTTDS và LSĐBS BLTTDS đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được công bố có đề cập đến vấn đề chứng cứ và chứng minh trong TTDS Trong số các công trình nghiên cứu đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

- Về luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có: Chế định chứng minh trong

TTDS Việt nam, luận án tiến sĩ luật học, Học viên Nguyễn Minh Hằng, bảo vệ

tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007; Chứng cứ và chứng minh trong

TTDS theo quy định của pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Học

viên Lê Thị Giang Yên, bảo vệ tại Khoa Luật trường Đại học Quốc Gia Hà

Nội năm 2007; Tranh tụng trong TTDS Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học,

Học viên Phạm Việt Dũng, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011,

Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS, luận văn

thạc sĩ luật học, Học viên Đinh Quốc Trí, bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc

gia Hà Nội năm 2012; Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong BLTTDS, luận

văn thạc sĩ luật học, Học viên Vũ Văn Đồng, bảo vệ tại Trường Đại học Luật

Hà Nội năm 2012; Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong Tố

tụng dân sự; luận văn thạc sĩ, Học viên Tăng Hoàng My, bảo vệ tại Trường

Đại học Luật Hà Nội năm 2012; Bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng

Trang 11

minh của đương sự trong TTDS, luận văn thạc sĩ luật học, Học viên Nguyễn

Thanh Nga, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Nguyên tắc trách

nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong TTDS, luận văn

thạc sĩ luật học, Học viên Ngũ Thị Như Hoa, bảo vệ tại tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014; Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của

Tòa án cấp sơ thẩm, luận văn thạc sĩ, Học viên Nguyễn Kim Lượng, bảo vệ tại

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 v.v

- Về giáo trình, sách chuyên khảo có: Giáo trình Luật TTDS, Học viện

Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2007; Giáo trình Luật TTDS

Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm

2014; Luật TTDS Việt Nam - Nghiên cứu và so sánh, Học viên Nguyễn Công

Cường, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007, Pháp luật TTDS và thực tiễn xét xử, Học viên Tưởng Duy Lượng, Nhà xuất bản Chính

trị Quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2009 v.v

- Về các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật có: Thời hạn cung

cấp chứng cứ của đương sự, Học viên Bùi Thị Huyền, đăng trên Tạp chí Luật

học số 1/2002; Chế định chứng minh và chứng cứ trong BLTTDS, Học viên Nguyễn Công Bình, đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật 2/2004; Một vài

suy nghĩ về vấn đề chứng cứ được quy định trong BLTTDS, Học viên Tưởng

Duy Lượng, đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20/2004 và số 21/2004;

Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quy định của BLTTDS về chứng

cứ và chứng minh, Học viên Tưởng Duy Lượng, đăng trên Tạp chí Tòa án

nhân dân số 17/2007; Thu thập chứng cứ và chứng minh theo quy định của

luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của BLTTDS, Học viên Tưởng Duy Lượng,

đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 12/2011; Pháp luật TTDS Hoa kỳ và khả năng

ứng dụng vào việc hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam, Học viên Nguyễn

Trang 12

Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí Luật học số 1/2011 v.v

Các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nêu trên bước đầu đã đề cập được một số vấn đề liên quan đến việc cung cấp chứng cứ trong TTDS Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào đề cập một cách trực tiếp, đầy đủ và toàn diện các vấn đề liên quan đến việc cung cấp chứng cứ trong TTDS Tuy vậy, kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nêu trên vẫn là những tài liệu quan trọng để Học viên tham khảo để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về cung cấp chứng

cứ, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam; các quy định của pháp luật TTDS về cung cấp chứng cứ và thực tiễn thực hiện chúng tại Tòa án

Đề tài nghiên cứu làm luận văn của Học viên có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung ở những vấn đề lý luận cơ bản về cung cấp chứng cứ như khái niệm,

ý nghĩa và cơ sở của việc pháp luật quy định cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự; đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong những năm gần đây; nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cung cấp chứng cứ trong TTDS và thực tiễn thực hiện chúng tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La trong những năm gần đây; các giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về cung cấp chứng cứ

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài Luận văn được Học viên thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 13

và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật

Bên cạnh đó, để nghiên cứu đề tài luận văn Học viên cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp Việc

sử dụng những phương pháp này giúp Học viên tiếp cận các đối tượng nghiên cứu một cách khoa học và đảm bảo tính hiệu quả của quá trình nghiên cứu

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài có mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về cung cấp chứng cứ, đánh giá được thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về cung cấp chứng cứ và thực tiễn thực hiện chúng ở Tòa án nhân dân từ

đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân

sự của Tòa án

Để đạt được các mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về cung cấp chứng cứ

trong TTDS như khái niệm, ý nghĩa và cơ sở của việc pháp luật quy định về cung cấp chứng cứ trong TTDS

Thứ hai, phân tích đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật

Việt Nam hiện hành về cung cấp chứng cứ trong TTDS như quy định về nguyên tắc, chủ thể, thời gian, thủ tục v.v cung cấp chứng cứ trong TTDS

Thứ ba, khảo sát thực tiễn áp dụng quy định pháp luật Việt Nam hiện

Trang 14

hành về cung cấp chứng cứ trong TTDS tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La trong những năm gần đây

Thứ tư, tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những

hạn chế, vướng mắc trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cung cấp chứng cứ trong TTDS và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục

6 Điểm mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện về vấn đề cung cấp chứng cứ trong TTDS nên có những điểm mới

sau:

- Xây dựng khái niệm cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự; chỉ rõ ý nghĩa và cơ sở của việc pháp luật quy định cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự;

- Làm rõ những nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự;

- Tìm ra được những điểm bất cập của pháp luật về Việt Nam về cung cấp chứng cứ trong TTDS từ đó đề xuất được những giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật của Việt Nam về cung cấp chứng cứ trong TTDS góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án, đặc biệt là Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La

7 Cơ cấu luận văn

Luận văn gồm: Lời nói đầu, phần nội dung và kết luận Phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cung cấp chứng cứ trong

Trang 16

1.1.1 Khái niệm cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chứng cứ trong TTDS là những gì có thật được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật TTDS Trên thực tế có những tài liệu tuy có tồn tại thật, nhưng không phản ánh đúng bản chất của sự việc đó thì nó không được coi là chứng cứ Chứng cứ là căn

cứ cần thiết cho xác minh các tình tiết, sự kiện, nhận thức các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự để giải quyết vụ việc dân sự Bản chất của chứng minh chính là việc sử dụng chứng cứ Hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ việc dân

sự Theo pháp luật TTDS Nhật bản thì “chứng cứ là một tư liệu thông qua đó

một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu cơ sở thông qua đó Tòa

án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại hay không” [17, tr.9] hay Điều

401 Luật chứng cứ của Mỹ quy định “ chứng cứ là những gì mà hàm chứa

trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém” [17, tr.10]

Ở Việt Nam, thuật ngữ chứng cứ được định nghĩa tại Điều 81 BLTTDS, theo

đó "Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá

nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Toà án dùng làm căn cứ

để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp

Trang 17

hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn

vụ việc dân sự." Theo quy định này chứng cứ là những gì có thật có nghĩa là

những sự vật, hiện tượng đang tồn tại hoặc để lại dấu vết về sự tồn tại của nó, đồng thời sự vật, hiện tượng đó phải tồn tại một cách khách quan không phải

do ý chí chủ quan của con người nghĩa ra, tưởng tượng ra thì mới được coi là

sự thật Những sự vật, hiện tượng được coi là chứng cứ phải do đương sự, các nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục BLTTDS quy định Những sự vật, hiện tượng dù có giá trị chứng minh đến đâu nhưng được giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập không theo trình tự, thủ tục BLTTDS quy định thì cũng không được coi

là chứng cứ Tại Điều 7 BLTTDS quy định: "Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu

rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ." Ngoài ra, tại Điều 79

BLTTDS còn quy định: "1 Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó

Trang 18

4 Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó."

Như vậy, cung cấp chứng cứ là một yêu cầu, một hoạt động TTDS cơ bản của quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Tuy vậy, thế nào là

"cung cấp chứng cứ", thuật ngữ "cung cấp chứng cứ" có tương đồng với thuật

ngữ "giao nộp chứng cứ" hay thuật ngữ "đưa ra chứng cứ" hay không thì đến

nay pháp luật chưa quy định cụ thể Trong những năm gần đây, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam thuật ngữ này cũng

đã bắt đầu được các nhà luật học quan tâm nghiên cứu và định nghĩa Qua đó cho thấy đây là những thuật ngữ có sự tương đồng cùng ý nghĩa nên được quy

định trong BLTTDS như là một Tuy nhiên, thuật ngữ “đưa ra chứng cứ” mới

đề cập đến hoạt động xuất trình chứng cứ nói chung chưa đề cập đến chủ thể

tiếp nhận chứng cứ; thuật ngữ “cung cấp chứng cứ” đề cập cả đến cả chủ thể cung cấp cũng như chủ thể tiếp nhận; còn thuật ngữ “giao nộp chứng cứ”

cũng bao hàm cung cấp chứng cứ nhưng nội dung chủ yếu là thiên về thủ tục giao nhận chứng cứ Ở một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã

được công bố cũng đã có đưa ra định nghĩa về thuật ngữ "cung cấp chứng cứ"

như Từ điển giải thích Thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội

do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 1999, Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2012 v.v Trong đó, phải kể đến định nghĩa trong Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Cung cấp chứng cứ là

hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, VKS các chứng cứ của vụ việc dân sự” [2, tr.158] Theo định nghĩa này thì cung

cấp chứng cứ trước hết là hoạt động tố tụng trong việc đưa ra, đem lại cho

Trang 19

Tòa án, VKS các chứng cứ Vì vậy, cung cấp chứng cứ có mục đích là đem lại cho Tòa án, VKS các chứng cứ Các chủ thể cung cấp chứng cứ ngoài đương

sự còn bao hàm cả các chủ thể khác có đưa ra yêu cầu cho Tòa án giải quyết

vụ việc dân sự và những chủ thể đang lưu giữ, quản lý chứng cứ được Tòa án, VKS yêu cầu Các chủ thể tiếp nhận việc cung cấp chứng cứ là Tòa án và VKS, trong đó chủ yếu là Tòa án

Qua nghiên cứu, Học viên cơ bản đồng tình với định nghĩa nêu trên trong Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội Định nghĩa này có tính khái quát cao vì đưa đến cho ta cái nhìn đúng đắn về một trong những hoạt động tố tụng cơ bản, từ việc chỉ ra được các chủ thể TTDS có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, mục đích của việc cung cấp chứng cứ đến chủ thể có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Theo đó, cung cấp chứng cứ là một trong số các hoạt động chứng minh rất quan trọng bên cạnh hoạt động thu thập chứng cứ, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ của Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Các hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ được hình thành thành một chuỗi, có liên quan chặt chẽ với nhau và kết hợp với nhau trong quá trình Tòa án giải quyết một vụ việc dân sự Trong đó, hoạt động cung cấp chứng cứ là khởi đầu cho hoạt động nghiên cứu chứng cứ, đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ, là tiền đề cho các hoạt động tố tụng khác trong giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Việc cung cấp chứng cứ được tiến hành ngay từ khi khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự Khi khởi kiện, người khởi kiện phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự vẫn có quyền cung cấp chứng cứ cho Tòa án, kể cả tại

phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm "Tuy nhiên, việc

Trang 20

giao nộp sớm chứng cứ cho Tòa án vẫn tốt hơn cả vì Tòa án có Điều kiện thời gian thuận lợi để kiểm tra, đánh giá chúng." [26, tr.25] Trong TTDS, việc

cung cấp chứng cứ vừa là quyền và nghĩa vụ của đương sự: "Các đương sự có

quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp" (Điều 6 BLTTDS) Trong trường hợp

đương sự không cung cấp được chứng cứ hoặc cung cấp không đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả về việc không cung cấp được chứng cứ hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ Nói cách khác để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho mình thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; đương

sự phải tự chịu hậu quả về việc không cung cấp được chứng cứ hoặc không cung cấp đầy đủ chứng cứ Ngoài ra, khi tham gia tố tụng, tùy theo địa vị tố tụng của mình các chủ thể TTDS khác như cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa

án và các chủ thể đang lữu giữ, quản lý chứng cứ liên quan đến đến vụ việc dân sự cũng có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu thấy chưa đủ chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp bổ sung Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong những trường hợp pháp luật quy định Về mục đích của việc cung cấp chứng cứ, định nghĩa nêu trên chỉ rõ là đưa lại cho Tòa

án, VKS các chứng cứ Về chủ thể có nghĩa vụ tiếp nhận chứng cứ, định nghĩa nêu trên đã chỉ rõ là Tòa án và VKS, trong đó nghĩa vụ tiếp nhận chứng

cứ chủ yếu là thuộc về Tòa án Tuy vậy, định nghĩa trên chưa chỉ rõ được bản chất pháp lý của hoạt động cung cấp chứng cứ Hoạt động cung cấp chứng cứ

có mục đích là đem lại cho Tòa án các chứng cứ để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được Tòa án giải quyết nên có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 21

đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Tuy nhiên, để hoạt động này thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả thì không phải ai cũng có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, không phải Tòa án hay VKS có quyền tùy tiện trong việc tiếp nhận hay từ chối việc cung cấp chứng cứ của các chủ thể Vì vậy, hoạt động cung cấp chứng cứ cũng như các hoạt động chứng minh khác đều phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS, trong đó

có cả các quy định về thời hạn, thủ tục cung cấp, tiếp nhận chứng cứ Do đó,

sẽ là toàn diện hơn nếu định nghĩa chỉ rõ được bản chất pháp lý của hoạt động này như phải được tiến hành theo thủ tục, thời hạn do pháp luật TTDS quy định

Từ những phân tích trên, có thể đi đến kết luận: "Cung cấp chứng cứ

trong TTDS là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, VKS các chứng cứ của vụ việc dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định."

1.1.2 Ý nghĩa của cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự

Cung cấp chứng cứ là hoạt động chứng minh cơ bản trong TTDS nhằm đem lại cho Tòa án các chứng cứ Hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có được tốt hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào việc các chứng cứ có được cung cấp đầy đủ hay không Vì vậy, xét trên các mặt cung cấp chứng cứ trong TTDS có các ý nghĩa sau đây:

Thứ nhất, cung cấp chứng cứ bảo đảm cho Tòa án giải quyết nhanh

chóng và đúng đắn vụ việc dân sự

Có thể thấy rằng phải có chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên

Trang 22

cứu, đánh giá chứng cứ Chứng cứ có vai trò làm rõ các tình tiết, sự kiện của

vụ việc dân sự "Chứng cứ được dùng làm căn cứ để Tòa án xác định yêu cầu

hay phản đối yêu cầu của đương sự có đúng không" [26, tr.174] Kết quả của

họat động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ sẽ là nhận thức về vụ việc dân sự Nhận thức này có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các chứng cứ của vụ việc dân sự có đầy đủ hay không Trong TTDS, nghĩa vụ chứng minh chủ yếu thuộc về đương sự nên đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Tòa án chỉ có vai trò hỗ trợ đương sự chứng minh nên trường trường hợp pháp luật quy định thì Tòa án mới trực tiếp thu thập chứng cứ Vì vậy, cung cấp chứng cứ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ việc dân sự của Tòa án Nhờ hoạt động cung cấp chứng cứ của các đương sự và các chủ thể khác trong TTDS mà Tòa án có trong tay các chứng cứ, không phải tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ và xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện

vụ việc dân sự để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự

Thứ hai, cung cấp chứng cứ có ý nghĩa đối với việc bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của đương sự cũng như các hoạt động chứng minh khác

Các hoạt động chứng minh bao gồm: Hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Trong đó, cung cấp chứng cứ là hoạt động

tố tụng có tính chất mở đầu hay tiền đề cho hoạt động nghiên cứu và đánh giá

chứng cứ Theo các nhà nghiên cứu luật học, thì "xét cả dưới góc độ lý luận

và thực tiễn thì chứng minh vẫn là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự." [26, tr.140] Các tình tiết, sự kiện liên quan

đến vụ việc dân sự đều xảy ra trước khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc Vì vậy, chỉ qua các hoạt động chứng minh thì Tòa án mới biết rõ được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được giải quyết Đối với các đương sự, chứng

Trang 23

minh còn là biện pháp rất quan trọng để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của mình trước Tòa án "Trước Toà án, nếu đương sự không chứng minh

được sự tồn tại quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ có thể sẽ không được Toà án bảo vệ Vì trên thực tế, các Toà án cũng

có thể có sai lầm trong việc xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, không làm sáng tỏ được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự [26, tr.140] Điều này, một mặt dẫn đến việc giải quyết vụ việc dân sự không đúng với sự thật, mặt khác không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Do vậy, chứng minh không chỉ có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Toà án được đúng đắn mà còn có ý nghĩa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án Cung cấp chứng cứ là hoạt động chứng minh có tính chất mở đầu hay tiền đề cho các hoạt động chứng minh khác như hoạt động nghiên cứu và hoạt động đánh giá chứng cứ

Vì vậy, bên cạnh ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nêu trên thì cung cấp chứng cứ còn có ý nghĩa đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như các hoạt động chứng minh khác

1.2 CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH CUNG CẤP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.2.1 Cơ sở lý luận pháp luật quy định cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự

Trên thế giới có hai mô hình tố tụng điển hình Thứ nhất là mô hình tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ (common law) Theo mô hình này, các phán quyết của Tòa án dựa trên cơ sở thỏa mãn với sự thật pháp lý mà các bên chứng minh tại phiên tòa Bên nào đưa ra các chứng

cứ có tính thuyết phục cao hơn sẽ thắng kiện Thứ hai là mô hình tố tụng xét hỏi của các nước theo hệ thống luật Châu âu lục địa (continential law) Theo

Trang 24

mô hình này, Tòa án cố gắng xác định sự thật khách quan của vụ việc trên cơ

sở các chứng cứ mà các đương sự cung cấp hoặc Tòa án thu thập Phán quyết của Tòa án sẽ dựa trên niềm tin nội tâm của Thẩm phán về sự thật khách quan của vụ việc Tuy vậy, dù trong mô hình tố tụng nào thì nghĩa vụ chứng minh, trong đó có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ vẫn thuộc về các đương sự và phán quyết của Tòa án một phần vẫn phải dựa trên những chứng cứ mà các đương

sự cung cấp

Theo pháp luật TTDS Việt Nam, chứng cứ được đương sự, cá nhân, cơ quan tổ chức giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Tòa án dùng các chứng cứ làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Mô hình TTDS Việt Nam dường như được xây dựng dựa theo mô hình xét hỏi của hệ thống luật Châu âu lục địa Tuy nhiên, gần đây có

sự thay đổi, tiếp thu nhất định nguyên tắc tranh tụng của mô hình tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ (common law)

Sở dĩ pháp luật các nước và Việt Nam quy định về cung cấp chứng cứ của đương sự trong TTDS trước hết là xuất phát từ cơ sở của lý luận nhận thức Quá trình nhận thức vụ việc dân sự thông qua quá trình chứng minh vụ

việc dân sự "Quá trình chứng minh vụ việc dân sự sẽ và phải đạt tới chân lý

đích thực của vụ việc dân sự Việc vận dụng khái niệm chân lý khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nhận thức các sự vật, hiện tượng trong lĩnh vực giải quyết vụ việc dân sự là cơ sở hình thành quan niệm về chứng minh trong TTDS Việt Nam Theo đó, chân lý khách quan được hiểu là chân

lý của sự kiện, được xác định thông qua việc áp dụng các quy định của pháp luật TTDS về cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đặc biệt là đánh giá chứng cứ

Trang 25

nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự " [26, tr.15] Ngoài ra,

để thực hiện quá trình chứng minh, đánh giá đúng bản chất của vụ việc dân sự thì đòi hỏi Tòa án còn phải khách quan, toàn diện trong việc nghiên cứu, xem xét các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự trong sự vận động, phát triển và trong mối liên hệ hữu cơ với nhau và các sự kiện, tính tiết khác đồng thời phải

có các chứng cứ để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự "Đối với

việc tìm hiểu sự thật của vụ án, đây không chỉ là nghĩa vụ của đương sự mà còn của cả Tòa án Đương sự luôn cố gắng cung cấp chứng cứ để chứng minh những luận điểm mà họ đưa ra là đúng sự thật Ngược lại, Tòa án ngoài việc dựa trên những luận điểm của các bên đương sự thì phải tự tìm hiểu, đánh giá chứng cứ để tìm sự thật của vụ án Chỉ khi đạt đến sự thật của vụ án thì phán quyết của Tòa án mới được chính xác" [3]. Cung cấp chứng cứ là một yêu cầu tất yếu của hoạt động chứng minh nhằm đem lại cho Tòa án các chứng cứ để xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự

Pháp luật quy định về hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự trong TTDS còn dựa trên các quyền cơ bản của con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong các quyền cơ bản của con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân có quyền được bảo đảm quyền bảo vệ trước Tòa án Ở Việt Nam các quyền này trước đây cũng đã được quy định ngay trong Hiến pháp đầu tiên do Nhà nước ta ban hành và hiện nay được quy định tại Chương

II của Hiến pháp năm 2013, bao gồm các Điều từ Điều 14 đến Điều 49 Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật TTDS đã quy định trong TTDS các đương sự có quyền và nghĩa vụ chứng minh, trong đó có việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án và Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho các đương sự được thực hiện quyền này Như vậy, quyền cơ bản của con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là một

Trang 26

trong những cơ sở quan trọng đầu tiên để pháp luật TTDS quy định về việc cung cấp chứng cứ của đương sự trong TTDS

Mặt khác, theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08), Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị

về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49) và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị

quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tiếp tục hoàn thiện

thủ tục TTDS Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo Điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng

cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo Điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó.” BLTTDS thay thế cho PLTTGQCVADS,

PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ là bước phát triển có tính bước ngoặt đối với việc phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam Các đạo luật này đã quy định khá đầy đủ và toàn diện các nguyên tắc cơ bản trong TTDS; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự; trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân

sự tại Tòa án, thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các

cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng Tại Điều 6 BLTTDS quy định về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS, Điều 7 BLTTDS quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền và Chương VII quy định về chứng minh và chứng cứ Đây là chế định có vai trò, vị trí rất

Trang 27

quan trọng, quy định khá cụ thể và toàn diện các vấn đề về hoạt động cung cấp chứng cứ trong TTDS Một trong những biện pháp để hoàn thiện vai trò chứng minh của đương sự là đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự trong hoạt động chứng minh và sự triệt để tuân thủ pháp luật Bình đẳng ở đây nghĩa là không có bất cứ sự phân biệt nào về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự Không ai có bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào dù đó là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng thời, hậu quả pháp lý bất lợi sẽ áp dụng cho tất cả các đương sự không thực hiện hay thực hiện một cách không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình Có làm được như vậy mới giúp đương sự hoàn thành tốt quyền và nghĩa vụ chứng minh Bên cạnh đó, nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi hoạt động phải dựa trên quy định của pháp luật Không chỉ đương sự phải triệt để tuân thủ pháp luật khi thực hiện các hoạt động chứng minh mà đòi hỏi cả từ phía các cơ quan tổ chức có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ đương sự như vậy, hoạt động chứng minh của họ mới diễn ra thuận lợi và suôn sẻ

Ngoài ra, trong đời sống hiện nay mỗi cá nhân, tổ chức mỗi ngày có thể tham gia vào hàng chục giao dịch dân sự với tính chất khác nhau Tuy các bên

có quyền tự quyết định, tự định đoạt theo ý chí của mình, nhưng đòi hỏi cần phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật dân sự khi tham gia giao dịch,

kể cả các quy định về hình thức của giao dịch để phòng khi có tranh chấp tiện cho việc giải quyết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên Việc pháp luật quy định về cung cấp chứng cứ trong TTDS một mặt xuất phát từ quyền lợi của các đương sự mặt khác còn có tác dụng ràng buộc các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật dân sự khi tham gia giao dịch

1.2.2 Cơ sở thực tiễn pháp luật quy định cung cấp chứng cứ trong

Tố tụng dân sự

Trang 28

Như đã biết vật chất sinh ra thì không bao giờ mất đi nó được chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, các sự vật hiện tượng đều có mối liên hệ phổ biến Những vật chất được sinh ra chúng ta có thể cầm được nắm được như các giấy tờ tài liệu, các hiện vật hoặc nó có thể được lưu giữ trong trí nhớ con người Việc tìm hiểu những dấu vết lưu lại trong thế giới vật chất hay trong tư duy có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quan hệ, hành vi đã hình thành

và liên quan đến chúng Muốn tìm ra chân lý khách quan của vụ việc dân sự thì nhiệm vụ của Tòa án là phải làm sáng tỏ những tình tiết, sự kiện liên quan đến sự phát sinh, thay đổi các quan hệ pháp luật giữa các đương sự dựa trên

cơ sở các chứng cứ

Chứng cứ của vụ việc dân sự là những sự kiện, tin tức thực tế liên quan đến vụ việc, tồn tại khách quan và được biểu hiện dưới những hình thức nhất định khác nhau Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án đã cho thấy, các đương sự là người tham gia vào vụ việc dân sự nên họ hiểu rõ sự việc, biết và có Điều kiện thu thập được các chứng cứ để cung cấp cho Tòa

án Khi có tranh chấp và các đương sự hay cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ hay của người khác thì phải đưa ra những chứng cứ chứng minh sự tồn tại của sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự cần giải quyết Khi thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự Tòa án phải làm sáng tỏ các tình tiết,

sự kiện liên quan đến quan hệ pháp luật dân sự cần giải quyết trong vụ việc bằng các chứng cứ Lời khai của các đương sự, người làm chứng, kết luận giám định, các tài liệu, các vật có liên quan được Tòa án sử dụng làm phương tiện chứng minh để xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Do

đó, việc pháp luật quy định về cung cấp chứng cứ cho Tòa án là nhằm bảo đảm giải quyết đúng vụ việc dân sự Tuy nhiên, để bảo đảm quá trình chứng

Trang 29

minh, sử dụng chứng cứ có hiệu quả thì việc cung cấp phải theo một trình tự, thủ tục nhất định Việc pháp luật quy định về trình tự, thủ tục cung cấp chứng

cứ bắt nguồn từ thực tiễn của việc chứng minh làm rõ vụ việc dân sự rất phức tạp, trong mỗi vụ việc có rất nhiều loại chứng cứ, mỗi loại rút ra từ các nguồn khác nhau và có những đặc điểm riêng

1.3 SƠ LƯỢC CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

Năm 1945, sau giành được độc lập Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng

hệ thống cơ quan tư pháp mới với việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án như Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng

01 năm 1946 quy định về cách tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 04 năm

1946 quy định về thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên; Thông tư số 141/HCTP ngày 05 tháng 12 năm 1957 của Bộ tư pháp quy định

về tổ chức và phân công trong nội bộ Tòa án v.v Tuy vậy, các văn bản pháp luật này chưa đề cập đến việc cung cấp chứng cứ của các đương sự mà quy định trách nhiệm thu thập chứng cứ hoàn toàn thuộc về Tòa án Theo Mục 2

Phần II của Thông tư số 141/HCTP thì “2 Ông Chánh án, dưới sự lãnh đạo

của Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ: a) Đối với những vụ dân sự thụ lý, Điều tra lập

hồ sơ, hòa giải hoặc đưa ra Tòa án xét xử.” Đến khi TANDTC ban hành

Thông tư số 06/TATC ngày 25/2/1974 hướng dẫn việc Điều tra trong TTDS thì vấn đề cung cấp chứng cứ của đương sự cũng bắt đầu được pháp luật quy

định Theo quy định tại Mục I của Tiết 1 Thông tư quy định: “Các đương sự

(nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ chứng minh những yêu cầu và bảo

Trang 30

vệ những quyền lợi hợp pháp của mình Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân phải kiểm tra kỹ lưỡng những chứng cứ mà các đương sự đã đề xuất đồng thời chủ động tiến hành mọi biện pháp Điều tra cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.” Đây

là một bước tiến mới thể hiện sự tiến bộ đối với các nhà lập pháp thời kỳ này Song cho đến khi TANDTC ban hành Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm kèm theo Thông tư số 96/NCPL ngày 8 tháng 02 năm 1977 lại tiếp tục khẳng định nhiệm vụ Điều tra thu thập chứng cứ của Tòa án Tại Mục A của

Phần thứ nhất của Thông tư này có quy định: “Khi đương sự khởi tố, Tòa án

nhân dân phải tích cực chủ động việc Điều tra, thu thập chứng cứ, chứ không nên cho rằng đương sự đề xuất chứng cứ đến chừng mực nào thì Tòa án nhân dân chỉ căn cứ vào những chứng cứ đó để xét xử” [6, tr 69] Với quy định

này nghĩa vụ chứng minh lại được quy định đè nặng lên vai Tòa án Đây cũng

là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ kiện dân sự bị hủy, bị cải sửa chiếm một tỷ lệ khá nhiều liên quan đến nghĩa vụ Điều tra, thu thập chứng cứ không đầy đủ của Tòa án

Như vậy, trong giai đoạn này các quy định về chứng minh, cung cấp chứng cứ trong TTDS gắn với chế định Điều tra trong pháp luật TTDS Đó là tổng hợp các quy định của pháp luật TTDS về việc tiến hành thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của Tòa án trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử Trong đó, pháp luật TTDS hầu như không có các quy định cụ thể về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trong TTDS của đương sự và các chủ thể khác

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004

Ngày 29 tháng 11 năm 1989, Quốc hội ban hành PLTTGQCVADS tạo

ra hành lang pháp lý để Tòa án tiến hành giải quyết các vụ án dân sự Lần đầu tiên nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự được chính thức quy định

Trang 31

trong pháp luật Theo quy định trong PLTTGQCVADS thì các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc có yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng ra một quyết định trong quá trình tiến hành TTDS phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó (Điều 3) VKS khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì có nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ, trong PLTTGQCVADS cũng quy định các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các công dân có quyền cung cấp cho Tòa án những tin tức về vụ án (Điều 8) Thời kỳ này việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án được coi là quyền của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội cũng như công dân như vậy ta thấy được rằng việc cung cấp chứng cứ không phải là nghĩa vụ của những người có trách nhiệm thế nên ta thấy việc hợp tác của các cơ quan tổ chức hay cá nhân thời

kỳ này cũng rất khó khăn Với thực trạng quy định như này vẫn đặt nặng trách nhiệm thu thập chứng cứ lên vai Thẩm phán đồng thời khẳng định Điều tra vụ

án dân sự là nhiệm vụ bắt buộc của Tòa án Tòa án gánh thay trách nhiệm chứng minh của đương sự cho thấy có sự mâu thuẫn với nguyên tắc quyền tự định đoạt và nghĩa vụ chứng minh là của đương sự mà chính PLTTGQCVADS nêu ra Tiếp đó, ngày 29 tháng 3 năm 1994 Nhà nước ban hành PLTTGQCVAKT và ngày 11 tháng 04 năm 1996 Nhà nước ban hành PLTTGQCTCLĐ, trong các pháp lệnh này quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự và nghĩa vụ chứng minh của Tòa án cũng được quy định Theo

PLTTGQCVAKT, “đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

để bảo vệ quyền lợi của mình” (Điều 3) Theo PLTTGQCVAKT, “khi cần

thiết, Toà án có thể xác minh, thu thập chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác” (Điều 4) Theo PLTTGQCTCLĐ, “các đương sự

có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 2) Theo PLTTGQCTCLĐ, “khi cần thiết, Toà án tiến hành

Trang 32

xác minh, thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu các bên tranh chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án lao động được chính xác, công bằng Các bên tranh chấp lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải cung cấp đầy đủ

và đúng thời hạn theo yêu cầu của Toà án” (Điều 4) Tuy nhiên,

PLTTGQCVADS và PLTTGQCTCLĐ mới chỉ dừng lại ở việc quy định có tính nguyên tắc mà không quy định cụ thể về quyền , nghĩa vụ và hậu quả của việc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để buộc các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải thực hiện do đó các quy định này chưa

có cơ sở đi vào cuộc sống

Như vậy, trong giai đoạn này các quy định về cung cấp chứng cứ trong

TTDS của pháp luật còn rất sơ sài, nổi bật trên nền các quy định của pháp luật

về chứng minh trong TTDS vẫn là các quy định về Điều tra của Tòa án Pháp luật quy định về chứng minh trong TTDS trong giai đoạn này hầu như chưa

có sự thay đổi mấy so với giai đoạn trước Vì vậy, việc thu thập chứng cứ để xác định các tình tiết của vụ việc chủ yếu vẫn thuộc về Tòa án nên đã gây ra không ít khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ việc để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho đương sự

1.3.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Ngày 15 tháng 6 năm 2004, tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI đã thông qua BLTTDS và BLTTDS có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005 Lần đầu tiên các quy định về chứng minh và chứng cứ được quy định cụ thể trong một văn bản pháp luật TTDS có hiệu lực cao, từ Điều 79 đến Điều 98, Chương VII của BLTTDS Trong đó, vấn đề cung cấp chứng cứ trong TTDS cũng đã được pháp luật quy định cụ thể Tại

Trang 33

Điều 6 BLTTDS quy định “ cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định” Tại Điều 79 quy

định nghĩa vụ chứng minh của đương sự và hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ, trong đó có việc cung cấp chứng

cứ Tại Điều 84 và Điều 94 BLTTDS quy định về thủ tục cung cấp, giao nộp chứng cứ Để hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTDS về chứng minh

và chứng cứ, ngày 17 tháng 9 năm 2005 Hội đồng Thẩm phán TANTC đã ban hành Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về chứng minh và chứng cứ Trong Nghị quyết này có tám phần, trong Phần I đã hướng dẫn về các vấn đề cụ thể như những ai có nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ, thời gian và thủ tục cung cấp chứng cứ, trách nhiệm của Tòa án trong việc giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ của họ và tiếp nhận chứng cứ

Sau một thời gian thực hiện, các quy định của BLTTDS đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, trong đó có cả các quy định về chứng minh và chứng cứ Để khắc phục vấn đề này nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án, ngày 29 tháng 3 năm 2011 kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

khoá XII đã thông qua LSĐBS BLTTDS Trong Luật này có sửa đổi bổ sung

một số Điều của BLTTDS liên quan đến cung cấp chứng cứ như Điều 7, Điều

58, Điều 94 và một số Điều luật khác Để hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTDS về chứng minh và chứng cứ sau khi đã được sửa đổi, bổ sung theo LSĐBSBLTTDS, ngày 03 tháng 12 năm 2012 HĐTPTANTC đã ban hành Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định

về “Chứng minh và chứng cứ” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo

Trang 34

LSĐBSBLTTDS Theo các quy định này, nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ hoàn toàn thuộc về đương sự, Tòa án chỉ tham gia với vai trò hỗ trợ cho đương sự trong trường hợp họ không thể tự mình thu thập chứng cứ

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Cung cấp chứng cứ trong TTDS là việc đưa ra cho Tòa án, VKS các chứng cứ Hoạt động cung cấp chứng cứ trong TTDS rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự Kết quả hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án có nhanh chóng, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào việc cung cấp chứng cứ của các đương

sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cho Tòa án Cơ sở của việc pháp luật quy định về cung cấp chứng cứ trong TTDS là xuất phát từ lý luận nhận thức,

từ quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, từ việc các đương sự là người tham gia vào vụ việc dân sự, có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nên có Điều kiện thu thập, cung cấp cho Tòa án các chứng

và lợi ích hợp pháp của người khác phải cung cấp các chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, nếu không sẽ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi Phương pháp tiếp cận trong việc quy định

về cung cấp chứng cứ trong TTDS của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ

Trang 35

bản đã tiến gần tới sự tương đồng với các quy định về cung cấp chứng cứ của pháp luật TTDS của các nước trên thế giới

Trang 36

Chương 2:

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

BLTTDS hiện hành đã dành Chương II với 21 Điều luật để quy định

về các nguyên tắc của TTDS Các nguyên tắc này được xây dựng trên tính chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như tính chất của TTDS cùng với quá trình đúc rút kinh nghiệm thực tế, xây dựng, áp dụng và hoàn thiện pháp luật tố tụng của Việt Nam trong những năm trước đây Trong các nguyên tắc

đó có nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự quy định tại Điều 6 BLTTDS Điều luật này được quy định như sau:

“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà

án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

2 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.”

Để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ra Tòa án và được Tòa án thụ lý vụ việc dân sự thì người

đó phải chủ động thu thập chứng cứ để giao nộp cho Tòa án chứng minh rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Việc giao nộp chứng cứ chính là quyền và cũng đồng thời là nghĩa vụ của đương sự Các đương sự khác, bị

Trang 37

đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng phải tự thu thập chứng cứ giao nộp cho Tòa án

để chứng minh rằng mình không xâm phạm lợi ích của người khác hoặc ý

kiến của mình về vụ việc đó như thế nào Các đương sự có quyền “ cung cấp

tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu trữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án; đề nghị Tòa

án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá; được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình … ” [18, Điều 17] Đương sự có

thể ghi chép sao chụp được tài liệu để nắm bắt được hồ sơ vụ việc dân sự, các chứng cứ cụ thể các bên đưa ra đây cũng là điểm nổi bật trong LSĐBS BLTTDS tại Khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 hướng dẫn một số quy định trong phần những quy định chung đã được sửa đổi trong LSĐBS BLTTDS như sau:

2 Trên cơ sở đề nghị của đương sự, Tòa án tạo Điều kiện cho họ được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ mà họ có yêu cầu Tuy nhiên, theo quy định về chế độ bảo quản hồ sơ vụ án, về trách nhiệm của cán bộ, công chức của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo quản hồ sơ vụ án, thì Tòa án yêu cầu đương sự thực hiện quyền ghi chép, sao chụp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như sau:

a) Tòa án cung cấp cho đương sự những tài liệu, chứng cứ cần ghi chép, sao chụp theo yêu cầu của họ, để họ thực hiện việc ghi chép, sao chụp bằng máy ảnh hoặc phương tiện kỹ thuật khác của họ Các tài liệu chứng cứ

đó phải liên quan đến vụ án, không liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật

Trang 38

nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư Nếu không cung cấp tài liệu nào theo đề nghị của đương sự thì cần nêu rõ lý do

b) Trong trường hợp đương sự không có máy ảnh hoặc phương tiện kỹ thuật khác để tự mình thực hiện việc sao chụp và nhờ Tòa án sao chụp giúp, thì tuỳ theo các Điều kiện cụ thể, lực lượng cán bộ của Tòa án mà có thể sao chụp giúp được thì đương sự phải trả chi phí sao chụp theo quy định chung Việc sao chụp có thể được thực hiện ngay hoặc có thể trong một thời hạn hợp

lý do Tòa án ấn định

c) Việc ghi chép, sao chụp phải được thực hiện tại trụ sở của Tòa án dưới sự giám sát của cán bộ Tòa án và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư.

Việc các đương sự phải tự mình cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình, đây cũng là một nguyên tắc đặc thù trong TTDS Pháp luật TTDS đặt ra nghĩa vụ chứng minh của đương sự là vì quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không thể tự mình giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có yêu cầu nhà nước can thiệp, hỗ trợ hay không Hơn nữa, các bên đương sự là những người nắm rõ được vụ việc của mình nên những tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình thì họ cũng sẽ giao nộp đúng và đủ chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình Chính

vì vậy, khi các bên đưa tranh chấp ra Tòa án để giải quyết thì Tòa án chỉ đóng vai trò là trọng tài giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật chứ không thể làm thay, chứng minh thay cho các đương sự được

Trang 39

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở hai nội dung chính đó là: Nghĩa vụ đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, và hậu quả pháp lí khi

mà đương sự không thực hiện hoặc thực hiện một cách không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh

Nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự

là một nguyên tắc cơ bản và có tính chỉ đạo xuyên suốt vì xuất phát từ bản chất của TTDS là giải quyết các tranh chấp giữa các bên trên cơ sở pháp luật, mục đích là để bảo vệ các quyền và lợi ích của mọi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Theo đó, không có sự can thiệp của quyền lực nhà nước, các bên hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ tố tụng Đương sự là trung tâm của hoạt động tố tụng, là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đang tranh chấp Quyền và lợi ích của họ sẽ do chính họ quyết định thông qua hoạt động của mình Nhà nước không can thiệp mà chỉ công nhận các quyền lợi khi xét thấy

có căn cứ và hợp pháp thông qua hoạt động chứng minh của đương sự

Ngoài ra, để bảo đảm cho các đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của họ tại Điều 7 BLTTDS còn quy định nguyên tắc trách

nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Theo quy định này: "Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn

của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong

vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ."

Có những tài liệu, chứng cứ do nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác

Trang 40

nhau lưu giữ và quản lí nên nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đó không cung cấp cho Tòa án thì sẽ ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ việc đó, Thẩm phán không thể ra được phán quyết đúng và nếu ra phán quyết sai sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, trách nhiệm cung cấp tài liệu chứng cứ không chỉ là quyền, nghĩa vụ của đương sự, trách nhiệm của Tòa án mà còn là trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đang giữ tài liệu, chứng

cứ Quy định như trên nhằm đảm bảo cho việc hồ sơ vụ án được xây dựng đầy

đủ, toàn diện hơn trước khi Tòa án đưa ra phán quyết giải quyết vụ việc dân

sự Quy định này rất cần thiết để ràng buộc cá nhân, cơ quan phải có trách nhiệm cùng với các đương sự, Tòa án, VKS trong việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự

Chứng cứ có vai trò rất quan trọng trong quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ việc dân sự Tuy nhiên chứng cứ có được thu thập và giao nộp đúng trình tự và thủ tục TTDS hay không cũng là Điều rất quan trọng Vì vậy, thủ tục giao nộp chứng cứ đã được quy định cụ thể các Điều 84 và Điều 94 BLTTDS Theo các quy định này, khi giao nộp chứng cứ phải có biên bản giao nhận, trong biên bản phải ghi rõ các nội dung quy định hoặc theo mẫu có xác nhận của Tòa án nơi giao nhận chứng cứ, chứng cứ được giao nhận phải

có công chứng, chứng thực hợp pháp nếu là bản phô tô, nếu chứng cứ giao nộp bằng tiếng dân tộc thiểu số thì phải được dịch sang tiếng Việt và được công chứng chứng thực hợp pháp

2.2 CHỦ THỂ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỦ THỂ LIÊN QUAN

Cung cấp chứng cứ liên quan đến nhiều chủ thể TTDS khác nhau, ngoài chủ thể cung cấp chứng cứ còn các chủ thể liên quan khác Căn cứ vào địa vị tố tụng và ý nghĩa tham gia tố tụng của họ đối với việc cung cấp chứng

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm