1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm đối với xây dựng pháp luật Lào

81 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 741,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Vũ Hồng Vân 2006, “Về mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp huyện trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của BLTTDS”, Tạp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG

HÀ NỘI- 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Quý Trọng, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

SAISAVAD SAYASOMBATH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu trong luận văn là khách quan, trung thực Những kết quả, những đánh giá trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

SAISAVAD SAYASOMBATH

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân

TAND : Tòa án nhân dân

TCTM : Tranh chấp thương mại TTDS : Tố tụng dân sự

Trang 5

Trang

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp thương mại và yêu cầu của

1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại 6 1.1.2 Đặc điểm và phân loại tranh chấp thương mại 8 1.1.3 Giải quyết tranh chấp thương mại và ý nghĩa của việc giải quyết

1.1.4 Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại 12

1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại 14

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH

2.1 Quy định về nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp thương mại

2.1.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự 26 2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật 28

Trang 6

thập chứng cứ 29 2.1.4 Nguyên tắc hoà giải 30 2.1.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời 32 2.1.6 Nguyên tắc xét xử công khai 32

2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Toà kinh tế trong việc giải quyết tranh

2.2.1 Chức năng của Toà kinh tế 34 2.2.2 Nhiệm vụ của Toà kinh tế 35

2.3 Quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp

2.3.1 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ 36 2.3.2 Thẩm quyền theo cấp Tòa án 37 2.3.3 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn 40 2.3.4 Thẩm quyền theo vụ việc 40

2.4 Quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng trong giải quyết tranh

2.4.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh tế 41

2.4.3 Xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án kinh tế và xem xét vụ việc kinh tế theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm 46 2.4.4 Một số quy định khác 50

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG

3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án tại Việt Nam 53

Trang 7

3.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp

3.2.1 Vai trò của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án đối với hoạt động kinh doanh thương mại tại nước CHDCND Lào 58 3.2.2 Thực trạng các quy định pháp luật nước CHDCND Lào về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án còn nhiều hạn chế 60

3.3 Bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật cho nước CHDCND Lào rút ra từ cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại

3.3.1 Về phương diện lập pháp 63 3.3.2 Về cơ cấu tổ chức và nhân sự Tòa án 66 3.3.3 Về tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong nhân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra ngày càng sâu sắc mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Các quan

hệ kinh tế quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến

sự phát triển của các quốc gia trên thế giới

Trong bối cảnh đó, nền kinh tế của nước CHDCND Lào đang trên đà phát triển và nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới Tuy nhiên, kinh tế Lào vốn đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn và yếu kém rất nhiều Trong những năm trở lại đây, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Lào đã có những chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa, khuyến khích nền kinh tế trong nước phát triển đồng thời thúc đẩy mạnh quá trình hợp tác kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới Đứng trước một nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những cơ hội mà kinh tế Lào có được để phát triển thì Lào cũng gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc trong công cuộc hội nhập ấy Kinh tế phát triển, đa dạng hóa các ngành nghề, các doanh nghiệp trong nước được thành lập ngày một nhiều, quan hệ quốc tế mở rộng, đòi hỏi Lào phải có một hành lang pháp lý vững chắc, bao quát, nhằm điều tiết nền kinh tế, đặc biệt là các quy định về giải quyết tranh chấp kinh tế

Thực tế trong những năm qua, khi sự giao lưu hợp tác kinh tế giữa các nước ngày một nhiều thì các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh là tất yếu khách quan.Song khi có tranh chấp phát sinh, các bên trong tranh chấp thường lúng túng trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nào cho phù hợp

Để giải quyết những tranh chấp này một cách hiệu quả, đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những quy định và cơ quan thực thi hiệu quả

Việt Nam là quốc gia có mối quan hệ lịch sử gắn bó tốt đẹp với Lào, là nước láng giềng có sự tương đồng về nhiều mặt như chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội,… Vì vậy trong quan hệ hợp tác quốc tế Lào luôn chú trọng hợp tác đồng thời học hỏi kinh nghiệm trong xây dựng và phát triển đất nước của Việt

Trang 9

Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, quá trình hoàn thiện pháp luật của Việt Nam luôn là những kinh nghiệm quý đối với CHDCND Lào

Từ nhiều năm nay, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật kinh tế nói riêng của Việt Nam đang ngày một hoàn thiện hơn, không chỉ đáp ứng được nhu cầu quản lý trong nước mà còn phù hợp với pháp luật quốc tế Trong lĩnh vực giải quyết TCTM, pháp luật Việt Nam cũng thể hiện sự hoàn thiện với pháp luật quốc tế trong các phương thức giải quyết TCTM Một trong những phương thức đạt được hiệu quả cao và nhiều doanh nghiệp lựa chọn khi có tranh chấp xảy ra đó là: giải quyết TCTM bằng Tòa án Việc giải quyết TCTM bằng Tòa án có nhiều nội dung pháp lý phức tạp, mà việc nghiên cứu pháp luật về phương thức giải quyết TCTQT nói chung và phương thức giải quyết TCTM bằng Tòa án nói riêng là điều hết sức cần thiết đối với những sinh viên chuyên ngành luật kinh tế, bên cạnh đó từ việc nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam, sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật Lào

Với cơ sở khoa học và thực tiễn như trên tác giả đã lựa chọn đề tài:

“Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm đối với xây dựng pháp luật Lào”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về TCTM và giải quyết TCTM bằng Tòa án là vấn đề đã được quy định từ lâu trong pháp luật Việt Nam Tuy nhiên việc giải quyết TCTM bằng Tòa án từ trước luôn được nhìn nhận dưới góc độ luật Dân sự cho tính chất của nền kinh tế và sự hội nhập kinh tế thị trường chưa thực sự sâu sắc Do đó việc nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Tòa án theo pháp luật Việt Nam mới được nghiên cứu ở một số các công trình khoa

học như: Nguyễn Thị Kim Vinh (2002), “Pháp luật giải quyết tranh chấp

kinh tế bằng con đường Tòa án ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện

nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Đào Văn Hội (2003), “Giải quyết tranh

chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ

Trang 10

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Vũ Hồng Vân (2006), “Về mở rộng

thẩm quyền của Tòa án cấp huyện trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của BLTTDS”, Tạp chí Kiểm sát; “Về điều kiện khởi kiện tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân”, Tạp chí Tòa án nhân dân, năm 2008; Phạm Thị Ban (2012), “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân – thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại

học Luật Hà Nội; Trần Anh Sáng (2012), “Giải quyết tranh chấp thương mại

bằng Tòa án và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An”, Luận văn Thạc sĩ Luật học

Trường Đại học Luật Hà Nội,…

Khi nghiên cứu về vấn đề giải quyết TCTM bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Lào hay so sánh với pháp Luật Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật Lào thì chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nổi bật, mới chỉ có một khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội, năm 2006 của

sinh viên Chănsúc Sihakhot với đề tài “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp

thương mại của Tòa án theo pháp luật Việt Nam và Lào”

Việc nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố này cho thấy, với những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án của Việt Nam mà chưa có công trình nào đi sâu phân tích so sánh để đưa ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng pháp luật của Lào Chính vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam để đưa ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Lào

là một đòi hỏi cấp bách và thiết thực

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

+ Cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án + Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án

Trang 11

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu tập trung vào tìm hiểu, phân tích các quy định của Luật thương mại 2005 , Bộ Luật dân sự 2005, Luật

Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, Luật Trọng tài thương mại 2010 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định về cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án

Từ việc tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam, tác giả có

so sánh với một số quy định của pháp luật Lào trong cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án, từ những đánh giá so sánh tác giả đề xuất bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng pháp luật Lào

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được viết trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác- Lênin về Nhà nước và pháp luật, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp

so sánh, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử… Trong đó phương pháp chủ yếu là so sánh, phân tích tổng hợp

5 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là: Làm rõ cơ chế pháp lý trong giải quyết TCTM bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam, làm rõ và đánh giá những ưu điểm, khó khăn trong cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa

án Từ đó, luận văn đi sâu nghiên cứu phương hướng và bài học kinh nghiệm trong thời gian tới để hoàn thiện pháp luật Lào trong giải quyết TCTM, tạo hành lang pháp lý vững chắc, thúc đẩy kinh doanh trong nước và hợp tác kinh

tế quốc tế

6 Những đóng góp mới của luận văn

Về vấn đề lý luận: Luận văn đã nghiên cứu một cách khái quát về

TCTM, cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án

Về vấn đề luật thực định: Luận văn đã nghiên cứu một cách tổng quan,

phân tích một cách hệ thông các khía cạnh pháp lý trong cơ chế giai quyết

Trang 12

TCTM bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam,…để rút ra bài học kinh nghiệm cho CHDCND Lào

Về vấn đề thực tiễn: Luận văn có nghiên cứu những ưu điểm, hạn chế trong

cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam; luận văn cũng chỉ ra những bất cập trong pháp luật Lào khi quy định về cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Lào trên cơ sở học hỏi những điểm tiến bộ của pháp luật Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Luận văn cơ cấu gồm: Lời nói đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Trong dó, phần nội dung của luận văn kết cấu 3 chương, gồm:

Chương 1 Những vấn đề chung về tranh chấp thương mại và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án

Chương 2 Quy định của pháp luật Việt Nam về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án

Chương 3 Một số đánh giá và bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật nước CHDCND Lào

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp thương mại và yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là những thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới Khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam trong những năm gần đây cùng với sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc trong cơ chế kinh doanh kế hoạch hoá đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lí của người Việt Nam

Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh nhau đang ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh những hợp đồng hợp

tác, những giao kết “thuận buồm xuôi gió” vẫn còn tồn tại khá nhiều những

mâu thuẫn, bất đồng thậm chí vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Từ đó gây ra những thiệt hại cho các bên và cho cả nền kinh tế thị

trường Chính vì vậy, thuật ngữ “tranh chấp thương mại” hay “tranh chấp

kinh doanh” đã là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các

nước trên thế giới và mới được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở Việt Nam trong mấy năm gần đây.Vậy TCTM là gì?

Dưới góc độ kinh tế, tranh chấp kinh doanh, thương mại là sự mâu thuẫn hay xung đột về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Như vậy tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Dù tồn tại dưới hình thức nào và bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì đặc trưng chung của tranh chấp kinh doanh, thương

Trang 14

mại là luôn gắn với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các cá nhân, đơn vị kinh doanh Về bản chất mỗi tranh chấp xét đến cùng đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào quan hệ kinh tế đó

Tiếp đó, đến năm 2004, BLTTDS năm 2004 tại khoản 1 Điều 29 quy định rõ những tranh chấp về kinh doanh thương mại là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Những tranh chấp

đó bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại kí,

kí gửi, thuê, cho thuê, thuê mua…và các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định

Dưới góc độ luật học, tranh chấp kinh doanh, thương mại được hiểu khác nhau qua từng thời kỳ bằng việc các quy định giải thích khái niệm này ở mỗi văn bản trong các giai đoạn khác nhau có sự khác nhau

Ngay từ năm 1994, hệ thống pháp luật Việt Nam về thương mại cũng

đã đưa ra một số khái niệm khác nhau để biểu đạt loại tranh chấp này Tuy không xây dựng được một khái niệm chuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng cũng đã liệt kê được các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án kinh tế và Trọng tài kinh tế

Khái niệm TCTM lần đầu tiên được đề cập trong Luật Thương mại năm 1997; theo văn bản này thì TCTM là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại (Điều 238 Luật Thương mại năm 1997) Quan niệm về TCTM và hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấp không được coi là TCTM mặc dù xét về bản chất hoàn toàn có thể coi là các TCTM trong hoàn cảnh lúc đó [3] Điều này đã tạo ra những xung đột pháp luật giữa luật quốc gia và luật quốc tế

Pháp lệnh Trọng tài thương mại được ban hành ngày 25/2/2003 tuy không

đưa ra định nghĩa về TCTM nhưng thông qua khái niệm về “hoạt động thương

mại” đã tạo được sự tương đồng trong quan niệm về “thương mại” và “tranh

Trang 15

chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật

và thông lệ quốc tế Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, hoạt động thương mại

là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lí thương mại…(Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003)

Luật Thương mại 2005 không có quy định về tranh chấp kinh doanh, thương mại mà chỉ đưa ra định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại là:

“hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng

dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 Điều 3) và tại Điều 4 khoản 2 có quy định “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,

từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Vậy tranh chấp kinh doanh, thương mại được hiểu

là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong các quan hệ được đề cập đến tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 và khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005

Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau và cũng chưa có một quy định chính thức nào đưa ra khái niệm TCTM là gì? Xong từ những quy định giải thích nội hàm khái niệm trong các quy định pháp luật liên quan nhìn chung có thể hiểu: TCTM là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về lợi ích, quyền

và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại Các TCTM chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân với nhau; ngoài ra trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của TCTM như: tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau

1.1.2 Đặc điểm và phân loại tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại có những đặc điểm cơ bản như sau:

Một là, về nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại: Nội dung

của các tranh chấp kinh doanh thương mại chủ yếu là mâu thuẫn về lợi ích

Trang 16

kinh tế Bởi mục đích cơ bản mà các chủ thể mong muốn đạt tới khi tham gia hoạt động kinh doanh thương mại là lợi nhuận hoặc đối tượng đầu tư Do vậy, trong quá trình thực hiện xung đột về lợi ích kinh tế là nội dung cơ bản của mọi tranh chấp kinh doanh thương mại [3]

Hai là,về chủ thể của TCTM: Các quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương

mại phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân Bởi chủ thể của các quan hệ kinh doanh thương mại hầu hết là các thương nhân, trong quan hệ kinh doanh, thương mại này quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn tương xứng với nhau trên cơ sở thoả thuận, bình đẳng với mục đích tối đa là lợi ích kinh tế, vì vậy khi thỏa thuận kinh tế bị đe dọa thì có thể sẽ xảy ra những tranh chấp giữa các chủ thể đó [3] Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ thể của TCTM có thể là giữa thương nhân với cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân

Ba là, TCTM thường gắn liền với tài sản có giá trị lớn Khác với tranh

chấp trong dân sự, tranh chấp trong thương mại thường có giá trị rất lớn, mức

độ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh rất lớn, thậm chí có thể tác động tới hoạt động của cả hệ thống kinh doanh của nền kinh tế Do đó, việc giải quyết thỏa đáng, nhanh gọn, hiệu quả, kịp thời là yêu cầu hết sức cần thiết [4; tr10-12]

Tranh chấp thương mại phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại

do đó về tính chất và hình thức tranh chấp phụ thuộc vào sự đa dạng của chính hoạt động kinh doanh thương mại Việc phân loại TCTM được dựa trên các tiêu chí như sau:

Thứ nhất, theo nội dung tranh chấp (lĩnh vực phát sinh tranh chấp)

Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS, TCTM bao gồm:

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hóa; cung cấp dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kĩ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nổi địa; vận chuyển

Trang 17

hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

Thứ hai, theo tính chất quốc tế Theo tính chất quốc tế, TCTM bao gồm

những tranh chấp sau:

- Tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, là tranh chấp có một trong các dấu hiệu pháp lý sau: Một trong các bên tranh chấp có quốc tịch khác nhau, hoặc có nơi cư trú, hoặc có trụ sở đặt ở các nước khác nhau; Tài sản là đối tượng của quan hệ tranh chấp tồn tại ở nước ngoài; Sự kiện pháp lý phát sinh quan hệ tranh chấp xảy ra ở nước ngoài

- Tranh chấp thương mại không có yếu tố nước ngoài là loại tranh chấp không có dấu hiệu pháp lý kể trên

Thứ ba, theo giá trị tranh chấp Theo giá trị tranh chấp, TCTM bao gồm

2 loại: TCTM giá trị lớn, TCTM giá trị nhỏ Tuy nhiên, việc phân loại TCTM theo tiêu chí giá trị tranh chấp chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi hiện nay chưa có điều luật cụ thể quy định giá trị tranh chấp bao nhiêu được coi là tranh chấp

có giá trị lớn, bao nhiêu là giá trị nhỏ

Việc phân loại TCTM nhằm giúp cho việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng để giải quyết một cách chính xác, nhanh chóng và ít tốn kém nhất

1.1.3 Giải quyết tranh chấp thương mại và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh và vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tự thân

Trang 18

trong nền kinh tế Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, duy trì

trật tự kinh tế cần phải có một cơ chế giải quyết tốt nhất “Giải quyết tranh

chấp kinh tế, thương mại” được hiểu là việc lựa chọn các hình thức, các

phương pháp thích hợp nhằm giải tỏa các bất đồng mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có tranh chấp; tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được [13; tr.12-14]

Tranh chấp thương mại có thể giải quyết bằng một trong hai phương thức, phương thức mang tính tài phán hoặc không mang tính tài phán Tài phán là quyền của các cơ quan hành chính và tư pháp của quốc gia thực hiện giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật theo thẩm quyền của họ Theo nghĩa thông thường, quyền tài phán là quyền xử lý, xét xử đối với các hành vi vi phạm Trong giải quyết TCTM, hình thức này bao gồm trọng tài thương mại và toà án.Các hình thức không mang tính tài phán bao gồm hoà giải và thương lượng.Khác với các hình thức mang tính tài phán, các hình thức này đề cao sự tự nguyện, tinh thần thiện chí của các bên Quyết định trong hoà giải và thương lượng không mang tính bắt buộc thi hành Các bên có thể tự do áp dụng hoặc khước từ Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận hay sự nhất trí thì họ có thể tiếp tục lựa chọn phương thức giải quyết mang tính tài phán [27]

Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại Cùng với

sự phát triển của kinh tế, tính đa đạng và phức tạp trong quan hệ thương mại làm cho TCTM cũng trở nên phức tạp về nội dung, gay gắt về mức độ tranh chấp và phong phú hơn nhiều về chủng loại xuất phát từ lợi nhuận của các bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế, việc giải quyết tranh chấp là hết sức quan trọng và cần thiết, thể hiện qua một số điểm sau:

Thứ nhất, đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng kịp thời,

chính xác, nghiêm minh, đúng pháp luật Giải quyết tốt tranh chấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Muốn có một nền kinh tế phát triển thì các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kinh tế thương mại nói riêng phải

Trang 19

được điều chỉnh bằng pháp luật, phải đảm bảo bằng pháp luật Việc đầu tiên

là hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra bằng cách đặt ra các chế định và chế

tài tạo thành một “sân chơi” lành mạnh và công bằng Khi tranh chấp xảy ra

phải có các thủ tục, biện pháp để giải quyết nếu không giải quyết kịp thời thì hậu quả sẽ dây dưa kéo dài và thiệt hại rất lớn Điều đó không những làm thiệt hại kìm hãm phát triển nền kinh tế mà còn gây nên một khiếm điểm lớn của môi trường kinh doanh các chủ thể sau tranh chấp có thể quay lưng lại với nhau đố kị và không tin tưởng lẫn nhau Một tâm lí yên tâm làm ăn kinh tế, mạnh dạn đầu tư sẽ góp phần cải thiện nền kinh tế

Thứ hai, việc giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực

kì quan trọng trong việc quản lí xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, vừa góp phần tạo môi trường pháp lí có kỷ cương Trong sản xuất kinh doanh tạo niềm tin, thực hiện công bằng và bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Thứ ba, đảm bảo các cho các phán quyết của Toà án được thực thi một

cách nghiêm chỉnh đúng pháp luật Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự gián đoạn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tranh chấp

1.1.4 Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại

Ở đâu có hoạt động kinh doanh thương mại thì ở đó có khả năng phát sinh tranh chấp Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh, vì vậy giải quyết các tranh chấp phát sinh được coi là tự thân của các quan hệ kinh tế Ở góc độ khái quát chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng

về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được

Thực tế cho thấy, dù có là tranh chấp gì đi chăng nữa thì vì sự công bằng và hiệu quả kinh tế mà cần thiết phải có một cơ chế để giải quyết tranh chấp Có nhiều cách thức khác nhau để giải quyết tranh chấp tùy thuộc vào

Trang 20

phong tục tập quán, truyền thống, trình độ phát triển kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia trên thế giới có các chế chế giải quyết tranh chấp trong kinh doanh rất khác nhau Tuy nhiên, dù các phương thức giải quyết tranh chấp có khác nhau nhưng tựu chung lại, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo được những yêu cầu nhất định, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường

Cùng với sự phát triển của kinh tế, tính đa dạng và phức tạp trong quan hệ thương mại làm cho TCTM cũng trở lên phức tạp về nội dung, gay gắt về mức độ tranh chấp và phong phú hơn nhiều về chủng loại xuất phát từ lợi nhuận của các bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế, việc giải quyết tranh chấp là hết sức quan trong và cần thiết Giải quyết tranh chấp kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, việc giải quyết nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế,

cản trở các hoạt động kinh doanh, loại trừ những rủi ro từ tác động của thị trường Giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả các tranh chấp cho phép hạn chế đến mức tối thiểu sự gián đoạn của sản xuất kinh doanh cũng như đặt

ở mức chi phí thấp nhất Song, quan trọng đó là phải bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào kinh tế, thương mại Tính hiệu quả được xét ở hai góc độ hiệu quả chuyên môn và hiệu quả kinh tế Muốn vậy trong khi tiến hành một hình thức giải quyết tranh chấp nào cũng phải tuân thủ các nguyên tắc giải quyết nhất định

Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp giúp khôi phục và duy trì các quan

hệ hợp tác tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh Trong hợp tác kinh doanh, không doanh nghiệp nào mong muốn xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp

Do đó, khi xảy ra tranh chấp, các bên đều mong muốn giải quyết thỏa đáng và tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác đó Bởi việc tìm được một đối tác hợp lý, thỏa thuận, ký kết hợp đồng và đi đến thực hiện là cả một quá trình dài và tốn kém

Do đó, yêu cầu khi giải quyết tranh chấp nhanh gọn, đảm bảo khôi phục và duy trì được quan hệ hợp tác giữa các bên là yêu cầu quan trọng, thể hiện sự tiến bộ và cần thiết của cơ chế giải quyết tranh chấp

Trang 21

Thứ ba, Việc giải quyết tranh chấp phải giữ được bí mật kinh doanh, uy

tín của các bên trên thương trường Điều quan trọng trong giải quyết TCTM đó

là phải bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào kinh tế thương mại Việc bảo đảm giữ được bí mật kinh doanh cũng như uy tín của các bên trên thương trường khi giải quyết tranh chấp là một trong những lợi ích chính đáng mà doanh nghiệp cần được bảo vệ Không thể chỉ

vì một tranh chấp khi mang ra giải quyết lại làm ảnh hưởng đến bí mật và uy tín của doanh nghiệp, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về sau

Thứ tư, Việc giải quyết tranh chấp phải có chi phí hợp lý về thời gian,

cơ hội và chi phí về tiền bạc Mỗi bên đều có quyền cân nhắc, so sánh những cái được và những chi phí phải bỏ ra để giải quyết tranh chấp, lợi ích kinh tế

và sự ổn định quan hệ kinh doanh để từ đó lựa chọn phương thức và đưa ra yêu cầu giải quyết tranh chấp [29]

Thực tế cho thấy, các phương thức giải quyết tranh chấp hiện nay mới chỉ đáp ứng được một hoặc một số yêu cầu đặt ra trên đây Do đó, tùy thuộc vào sự cân nhắc của các bên trong tranh chấp mà họ sẽ lựa chọn cho mình phương thức giải quyết phù hợp nhất, hạn chê tối đa những rủi ro có thể xảy

ra cho doanh nghiệp của mình

1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

1.2.1 Thương lượng

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào Phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng được thực hiện bởi cơ chế tự các bên thỏa thuận để tìm kiếm giải pháp trên tinh thần tự nguyện.Trong quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp Do đó, bên tranh chấp cũng phải tự nguyện thi hành phương án thương lượng đã lựa chọn

Trang 22

mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng

Giải quyết TCTM bằng thương lượng không bắt buộc phải tuân theo một thủ tục pháp lý nào, do đó quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra đơn giản, nhanh chóng gọn nhẹ cả về mặt thời gian và tiền bạc Với cơ chế giải quyết nội bộ, nên uy tín cũng như bí mật kinh doanh được bảo đảm tối đa và mức độ phương hại đến mối quan hệ hợp tác giữa các bên cũng thấp

Bên cạnh những ưu điểm, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng cũng có những hạn chế nhất định: Việc giải quyết tranh chấp có thể gặp khó khăn nếu các bên không có sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn các quy định của pháp luật hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu thiện chí trong quá trình thương lượng thi khả năng thành công của cuộc thương lượng là rất thấp Phương án thỏa thuận mà các bên đạt được không mang tính cưỡng chế thi hành với các bên Nếu một bên không tự nguyện thi hành thì kết quả thương lượng cũng không đạt được trên thực tế.Trong nhiều trường hợp, một bên thiếu thiện chí thường lợi dụng thương lượng

để trì hoãn thời gian, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vục của mình, nhất là trong các trường hợp thời hiệu khởi kiện không còn nhiều [2; tr.5]

1.2.2 Hòa giải

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ

ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh Hòa giải khác với phương thức thương lượng ở sự có mặt của bên thứ ba (hòa giải viên) và cũng khác với phương thức trọng tài ở chỗ, hòa giải viên không có quyền xét xử và ra phán quyết như trọng tài viên Vai trò của hòa giải viên trong quá trình hòa giải chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan đều có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích

và nhu cầu của họ Tùy thuộc nội dung, tính chất của vụ tranh chấp và sự thỏa thuận của các bên, số lượng hòa giải viên có thể là một hoặc nhiều

Trang 23

Phương pháp hòa giải có những ưu điểm của phương pháp thương lượng Bên cạnh đó, hòa giải còn một ưu điểm quan trọng, cũng là sự khác biệt so với thương lượng, đó là sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải, sự hỗ trợ của bên thứ ba trung gian hòa giải với uy tín và kiến thức sâu pháp luật sâu rộng của mình sẽ giúp các bên tranh chấp dễ dàng tìm được tiếng nói chung, dễ dàng đạt được thỏa thuận hơn Ngoài ra, kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến bởi người thứ ba nên mức độ tôn trọng và tự nguyện tuân thủ các cam kết, thỏa thuận đã đạt được của các bên trong quá trình hòa giải cũng cao hơn so với phương thức thương lượng

Phương pháp hòa giải có những hạn chế như phương pháp thương lượng

Và ngoài ra, phương pháp này còn có thêm những hạn chế như chi phí cho quá trình giải quyết tranh chấp qua trung gian hòa giải tốn kém hơn thương lượng, vì các bên phải trả một khoản phí dịch vụ cho bên thứ ba làm trung gian Ngoài ra, trong quá trình hòa giải, các bên phải trao đổi, cung cấp thông tin cho bên thứ ba

vê hoạt động kinh doanh có liên quan nên uy tín cũng như bí mật kinh doanh của mỗi bên dễ bị ảnh hưởng hơn phương thức thương lượng [2;tr.7]

1.2.3 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các TCTM Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên Phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết, các bên phải có thỏa thuận trọng tài Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá giống với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải Cả hai phương thức này đều

có sự xuất hiện của người thứ ba Tuy nhiên, trong hình thức hòa giải, vai trò của người thứ ba chỉ mang tính hỗ trợ, giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau Còn trong phương thức Trọng tài, sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa

ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên

Trang 24

Giải quyết các TCTM bằng con đường Trọng tài có nhiều ưu điểm: Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng; các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài; khả năng chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp, qua đó có điều kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng nhanh chóng, chính xác; nguyên tắc trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết

lộ các bí mật kinh doanh, giữ được uy tín của các bên trên thương trường; trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước nên rất phù hợp

để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài

Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng có thể có một

số hạn chế nhất định: Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước nên có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp như xác minh, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…[1;tr.6-10]

1.2.4 Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án

Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ

và bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước

Nếu như việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mang đặc điểm tôn trọng quyền thỏa thuận hay ý chí của các bên tham gia để đưa ra phán quyết thì đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa

ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Nhờ đó, việc giải quyết TCTM thông qua Tòa án còn trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các chủ thể kinh doanh

Thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Hơn nữa, nguyên tắc xét xử công khai tại Tòa

án không phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh và tâm lý của giới doanh nghiệp (có thể làm sút giảm uy tín của các bên trên thương trường; lộ các

Trang 25

bí mật kinh doanh…) Ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo khiếu nại nên thời gian kéo dài [3]

1.3 Khái quát về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án

1.3.1 Khái niệm và lịch sử hình thành

Chế định Toà kinh tế là một khái niệm mới xuất hiện trong hệ thống tư pháp Việt Nam kể từ năm 1994 Trước đó để giải quyết các tranh chấp kinh tế

pháp luật Việt Nam có một hệ thống thiết chế riêng là “trọng tài kinh tế” Khó

có thể biết chính xác phương thức Trọng tài xuất hiện từ khi nào nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức tiền thân của việc hình thành các Toà án sau này Toà Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hoà giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Quá trình sơ khai về Trọng tài trong luật mua bán hàng hoá cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hoà của mình mà không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hoá, nghĩa là trải rộng trên hầu hết lục địa châu Âu

Trong hệ thống pháp luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về Trọng tài phải kể đến là Luật Trọng tài năm 1697 nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610) Tuy nhiên các quy định sơ khai

về Trọng tài trong hệ thống luật common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phuc trong Luật năm 1697

Trong Hiệp ước Jay năm 1794 Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn

đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết

ở trọng tài Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm và được coi là kết thúc thành công Từ đầu thế kỷ XX các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt

Trang 26

đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở Toà án vốn được cho là kém hiệu quả hơn

Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài cũng phát triển dẫn tới việc hình thành những

tổ chức Trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế

Ở Việt Nam Tọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá vào

những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là “trọng tài kinh tế”

Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản ánh sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, vừa mang chức năng quản lý và chức năng giải quyết tranh chấp; do đó Trọng tài kinh tế kinh tế ở Việt Nam thời đó không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa Theo đó Điều 1 Nghị định số 116/CP năm 1994 của

Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế quy định: “Trọng tài

kinh tế là tổ chức xã hội- nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp

về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu” Chính sách đổi mới đã dẫn đến sự phát triển của kinh tế thị trường, xây

dựng nhà nước pháp quyền khiến cho các quy định về Trọng tài kinh tế không còn phù hợp với nền kinh tế đổi mới của đất nước dẫn tới việc chấm dứt sự tồn tại của một số chế định đặc trưng cho kế hoạch hoá, trong đó có hợp đồng kinh

tế và Trọng tài kinh tế Có thể thấy quy định về hợp đồng kinh tế không còn phù hợp nên tất yếu dẫn tới cơ quan quản lý hợp đồng kinh tế là Trọng tài kinh tế cũng bị xoá bỏ Năm 1994 Toà kinh tế được thành lập và trở thành cơ quan xét

xử các tranh chấp kinh doanh thương mại từ đó cho tới nay [9; tr 30-35]

Tranh chấp kinh doanh, thương mại là một hệ quả tất yếu của quá trình vận động các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động kinh doanh, thương mại Khi tranh chấp xảy ra, các bên cần có cơ chế giải quyết tranh

Trang 27

chấp để mở đường cho sự hợp tác và phát triển Toà án là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp như thế

“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp

luật không cấm” (Điều 33 Hiến pháp năm 2013) Đó là quyền tự do trong việc

lựa chọn hình thức tổ chức kinh tế, lựa chọn ngành nghề, quy mô và phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh Tuỳ vào điều kiện kinh doanh cũng như mong muốn khác nhau của các chủ thể,

họ sẽ lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất với mình Hiện nay theo quy định của pháp luật thì các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại gồm: Thương lượng, hoà giải, giải quyết bằng Trọng tài hoặc bằng Toà án (Điều 317 Luật Thương mại năm 2005)

Ở Việt Nam hiện nay các tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng con đường Toà án chiếm tỷ lệ lớn Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực của Nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà án về vấn đề tranh chấp sẽ có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên

Ở Việt Nam tranh chấp kinh doanh, thương mại chủ yếu thuộc thẩm quyền xét

xử của Toà kinh tế- Toà chuyên trách trong hệ thống Toà án nhân dân

Như vậy, giải quyết TCTM bằng Tòa án là phương thức giải quyết

tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ, và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

1.3.2 Đặc điểm cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án

Giải quyết TCTM bằng Tòa án là một trong số những cách thức được pháp luật ghi nhận khi các bên có tranh chấp xảy ra trong hoạt động kinh doanh, thương mại Khác với cơ chế giải quyết hai bên là thương lượng, có sự tham gia của bên thứ ba giống như hòa giải và Trọng tài, song giải quyết

Trang 28

TCTM bằng Tòa án lại có những đặc điểm riêng mà từ đó các tranh chấp khó, phức tạp, có giá trị tài sản lớn các bên trong tranh chấp vẫn ưu tiên lựa chọn

Thứ nhất, về chủ thể thực hiện Chủ thể thực hiện việc giải quyết tranh

chấp bằng Tòa án là Tòa án Tòa án là một thiết chế của Nhà nước, trong hoạt động của mình Tòa án được Nhà nước giao cho những quyền năng nhất định mà các chủ thể trong hòa giải, trọng tài không có Vì là cơ quan tài phán của Nhà nước nên Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp có tính kỹ năng nghề nghiệp cao, trong hoạt động xét xử, Tòa án được nhân danh Nhà nước vì vậy hoạt động xét xử của Tòa án luôn phải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác

Thứ hai, về cách thức thực hiện Việc giải quyết TCTM bằng Tòa án được

thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật tố tụng Với quá trình tố tụng chặt chẽ qua nhiều giai đoạn và cấp xét xử dưới sự giám sát của

cơ quan Nhà nước nên việc thực hiện đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng trong xét xử Tuy nhiên, do thực hiện dưới một quy trình, cách thức nghiêm ngặt bởi các quy chế pháp luật nên việc thực hiện thiếu tính linh hoạt, thời gian thực hiện kéo dài gây mệt mỏi cho các bên tham gia vụ việc Bên cạnh

đó, do là cơ quan Nhà nước nên việc xét xử của Tòa án luôn mang tính công khai, điều này một mặt mang lại hiệu quả giáo dục, răn đe đối với các hành vi vi phạm pháp luật, mặt khác cũng mang lại hệ quả xấu đối với doanh nghiệp khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ, việc tham gia tố tụng tại Tòa án theo tâm lý cũng gây ảnh hưởng xấu đối với danh tiếng của doanh nghiệp

Thứ ba, về kết quả của việc giải quyết tranh chấp Kết quả của cơ chế giải

quyết tranh chấp bằng Tòa án được thể hiện qua bản án- phán quyết của Tòa án Bản án của Tòa án có hiệu lực bắt buộc các bên tuân thủ và nó được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Trong các cơ chế giải quyết TCTM thì kết quả của quá trình giải quyết TCTM bằng Tòa án có hiệu lực cuối cùng và cao nhất cũng là cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên hiệu quả nhất trong các cơ chế giải quyết TCTM hiện nay [27]

Trang 29

Mỗi phương thức giải quyết TCTM lại có những đặc điểm riêng, đặc điểm đó hoặc tạo ra những ưu điểm hoặc mang lại những hạn chế trong quá trình giải quyết tranh chấp, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cũng vậy, bên cạnh những ưu điểm dễ nhận thấy thì cơ chế giải quyết bằng Tòa án cũng có những hạn chế nhất định Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cơ chế giải quyết TCTM bằng Tòa án tại Việt Nam là cách thức giải quyết đóng vai trò quan trọng nhất và là phương thức được hầu hết các chủ thể lựa chọn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình

1.3.3 Bản chất của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án

Xét về mặt kinh tế: Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng

Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết giải quyết việc tranh chấp Thực tế, đây là hình thức giải quyết tranh chấp theo cơ chế ba bên mà ở đó, Tòa án thực hiện chức năng như một Trọng tài có địa vị độc lập với các bên để phân xử một cách khách quan, theo pháp luật Việc các bên lựa chọn Tòa án là cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp xuất phát từ sự tự nguyện của các bên và việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cũng mất chi phí

Xét về khía cạnh pháp luật: Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,… Đây chính là thủ tục tố tụng Tòa án Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc ban hành những đạo luật về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố tụng để Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh Như vậy, giải quyết tranh chấp bằng Tòa án về bản chất là thực hiện thủ tục tố tụng Tòa án

Trang 30

chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Thực tiễn pháp luật tố tụng của các nước cho thấy, tố tụng Tòa án đều có chung một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, giải quyết TCTM được thực hiện trên nền tảng thủ tục

TTDS Thực tế, ở hầu hết các nước trên thế giới, thủ tục tố tụng Tòa án áp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanh được dựa trên nền tảng thủ tục TTDS cùng với một số quy định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như: Về hội đồng xét xử, về thời gian của các trình tự tố tụng,… Do vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp trong kinh doanh mà chỉ có quy định về giải quyết tranh trong quy định của pháp luật về TTDS Ví dụ : Ở Cộng hoà Liên bang Đức, Luật tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại được quy định thống nhất trong BLTTDS; ở Pháp, Anh và Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều được áp dụng theo thủ tục TTDS

Thứ hai, tố tụng Tòa án là thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh,

thương mại của Tòa án- một cơ quan Nhà nước, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật Tòa án trong giải quyết TCTM là người đứng ra phân xử giữa bên khởi kiện và bên bị kiện để ra phán quyết về vụ án khác với Tòa án trong tố tụng hình sự, vừa thực hiện chức năng xét xử, vừa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa

Thứ ba, phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành Tòa án là nơi có

điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật Qua phân tích nội dung các đề xuất của các bên tham gia tố tụng về áp dụng pháp luật, Tòa án lựa chọn cho mình phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải quyết đúng đắn vụ án và thủ tục giải quyết của Tòa án rất chặt chẽ, rất phức tạp, không thể thay đổi được Phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Thứ tư, trong tố tụng Tòa án, các phiên tòa xét xử thường được tổ chức

công khai, bản án được công bố rộng rãi Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét

xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp

Trang 31

của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

Thứ năm, việc giải quyết TCTM bằng Tòa án- cơ quan quyền lực Nhà

nước, còn mang bản chất giáo dục, bảo vệ pháp luật mà Nhà nước đặt vào cơ chế giải quyết này Trong hoạt động xét xử, phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật Thông qua thủ tục tại phiên tòa, việc điều tra công khai, việc tranh luận và đặc biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình, Tòa án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa nâng cao hiểu biết pháp luật, củng

cố lòng tin vào pháp luật để từ đó không chỉ tự nguyện tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật v.v…[26]

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ các yêu cầu đạt ra tại Chương 1 của Luận văn, sau khi nghiên cứu

và trình bày, tác giả Luận văn rút ra một số kết luận sau:

Một là, TCTM là hiện tượng kinh tế xã hội tất yếu trong đời sống kinh

tế thị trường Việc giải quyết TCTM là nhu cầu tất yếu và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ với các bên tham gia tranh chấp mà còn có ý nghĩa trong việc tạo lập môi trường kinh doanh tự do, an toàn, ổn định của mỗi quốc gia

Hai là, bằng các cơ chế đặc thù, pháp luật xây dưng và quy định các

phương thức giải quyết TCTM phù hợp với đời sống kinh tế của quốc gia mình cũng như thông lệ quốc tế Mỗi phương thức đều có những ưu, nhược điểm riêng xong phái đáp ứng được các yêu cầu chung của việc giải quyết tranh chấp

Ba là, giải quyết TCTM bằng Tòa án là một trong số những phương

thức giải quyết TCTM được pháp luật Việt Nam quy định với những đặc điểm và cơ chế đặc thù, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh ổn định,

an toàn Giải quyết TCTM bằng Tòa án được khá nhiều các doanh nghiệp lựa chọn khi xảy ra tranh chấp nhằm giải quyết triệt để cũng như có cơ chế bảo đảm thực hiện nghiêm túc

Trang 32

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN 2.1 Quy định về nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án

Toà án là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ máy nhà nước; là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước và nền công lý của chế độ, chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Do đó quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Toà án nhân dân cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc, thủ tục do luật pháp quy định để đảm bảo hiệu quả xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, đảm bảo vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý xã hội

Xuất phát từ yêu cầu quản lý kinh tế bằng pháp luật của nhà nước ta, Toà kinh tế ra đời thực hiện chức năng xét xử các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại Cũng như TAND nói chung, Toà kinh tế cũng áp dụng và tuân theo các nguyên tắc đã được pháp luật quy định trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Với mục đích giải quyết các tranh chấp nhanh chóng, có hiệu quả và hợp pháp, tạo điều kiện cho các bên tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, hoạt động của Toà kinh tế cần dựa trên nguyên tắc, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Tất cả các hoạt động trong quá trình tố tụng như khởi kiện, xét xử,

ra quyết định hay bản án…phải được thực hiện theo đúng các nguyên tắc đã được quy định Nếu có sự vi phạm các nguyên tắc này trong quá trình thực hiện giải quyết các tranh chấp thì đều bị coi là bất hợp pháp và phải loại bỏ

Là một bộ phận của TAND, Toà kinh tế phải tuân thủ theo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Toà án nói chung được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 Bên cạnh đó, với tư cách là một Toà chuyên trách độc lập trong hệ thống TAND, Toà kinh

tế cũng phải tuân thủ những nguyên tắc riêng khi tiến hành giải quyết các

Trang 33

tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình Một trong các nguyên tắc chung được quy định cụ thể tại Điều 103 Hiến pháp năm 2013

“1 Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn

2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm

3 Toà án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mĩ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Toà

án nhân dân có thể xét xử kín

4 Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn

5 Nguyên tắ tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

6 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm

7 Quyền được bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm”

Trên cơ sở các nguyên tắc chung này, thủ tục giải quyết các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại được xây dựng với những đặc thù riêng của mình Các nguyên tắc riêng mà Toà kinh tế phải tuân thủ trong hoạt động giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại đó là: Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ; nguyên tắc hoà giải; nguyên tắc giải quyết vụ việc nhanh chóng, kịp thời; nguyên tắc xét xử công khai

2.1.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự

Trong pháp luật TTDS quyền tự định đoạt của đương sự biểu hiện ở khả năng khi tham gia tố tụng các đương sự được tự do định đoạt các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các hành vi xâm hại Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 5 BLTTDS năm

Trang 34

2004 Theo đó các đương sự có quyền quyết định khởi kiện, yêu cầu Toà án

có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc cơ bản nhất trong tố tụng vụ án kinh doanh, thương mại Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể Quyền

tự do kinh doanh không có nghĩa là các cá nhân, tổ chức khi tham gia kinh doanh có thể làm bất cứ điều gì cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của mình

mà khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh các bên đều phải tuân theo những quy tắc theo quy định của pháp luật Với nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình tố tụng, pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp, tạo ra sự chủ động của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp

Các chủ thể khi tham gia vào mỗi quan hệ kinh doanh, thương mại với các đối tác của mình, không ai mong muốn tranh chấp xảy ra, gây thiệt hại cho lợi ích kinh tế của các bên Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, khi xảy ra tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp một cách thấu tình đạt lí nhưng vẫn đảm

bảo uy tín kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến quan hệ “bạn hàng” là điều

mà các bên đều mong muốn Chính vì vậy trong nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, quyền khởi kiện có thể coi là quan trọng nhất Bởi lẽ theo quy định thì Toà án chỉ thụ lý, giải quyết các tranh chấp này nếu có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của các đương sự; nếu đương sự không khởi kiện ra Toà án thì Toà án không có thẩm quyền giải quyết Trên thực tế khi phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thì các bên sẽ cố gắng tự giải quyết

do tiết kiệm được thời gian, chi phí, đặc biệt không làm ảnh hưởng đến quan hệ

Trang 35

làm ăn cũng như uy tín của các bên Việc nhờ đến cơ quan pháp luật là sự lựa chọn cuối cùng nếu các bên không thống nhất được với nhau [10; tr.35-37]

2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật Việt Nam Điều 16 Hiến pháp năm 2013 khẳng

định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối

xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội” Điều 33 Hiến

pháp năm 2013 cũng quy định cụ thể: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh

trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”

Các chủ thể khi tham gia quan hệ sản xuất kinh doanh đều được pháp luật thừa nhận quyền bình đẳng Bình đẳng trong kinh doanh nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, từ việc lựa chọn ngành nghề, địa điểm kinh doanh, lựa chọn hình thức kinh doanh cho đến việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh đều bình đẳng theo quy định của pháp luật Quyền bình đẳng không chỉ thể hiện khi các bên tham gia vào quan hệ kinh doanh mà còn thể hiện khi họ tham gia vào quan hệ tố tụng tại Toà án Toà

án có trách nhiệm tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của mình trong quá trình tố tụng (Điều 8 BLTTDS năm 2004)

Có thể nói nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật có ý nghĩa quan trọng;

nó không chỉ thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi có tranh chấp xảy ra thì trước Toà

án sẽ không phân biệt các bên thuộc loại hình doanh nghiệp nào, thuộc thành phần kinh tế gì, các bên đều có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật

tố tụng Với nguyên tắc này các tổ chức, cá nhân sẽ yên tâm và mạnh dạn hơn trong đầu tư, sản xuất kinh doanh; từ đó khuyến khích, tạo động lực thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, góp phần không nhỏ tạo sự tăng trưởng kinh tế xã hội [17; tr.25]

Trang 36

2.1.3 Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu nhập chứng cứ

Chứng minh và chứng cứ là yếu tố cốt lõi của pháp luật tố tụng Mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ Về bản chất chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những có thật được cơ quan thu thập, kiểm tra và đánh giá theo các quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn các vụ án tranh chấp

Nếu trong tố tụng hình sự, khi có tội phạm xảy ra việc thu thập chứng

cứ thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra hoặc của các cơ quan, đơn vị khác

có liên quan theo quy định của pháp luật thì trong TTDS nói chung và trong

tố tụng kinh doanh thương mại nói riêng thì khi cần khởi kiện ra Toà án để giải quyết tranh chấp, các đương sự phải tự mình thu thập và cung cấp chứng

cứ, chuyển giao chứng cứ, tài liệu cho Toà án

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ pháp lý và hợp pháp (Điều 6 BLTTDS năm 2004) Ngoài ra các cá nhân, tổ chức khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khác thì cũng có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự Quyền và nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ của đương sự được pháp luật quy định cụ thể và rõ ràng trong Bộ luật Dân sự 2004 tại các Điều 58, 79, 80 và Điều 81 Trong trường hợp đương sự không cung cấp được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì đương sự phải chịu hậu quả về việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy

đủ Cụ thể, khi giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại, Toà án chủ yếu chỉ căn cứ vào những chứng cứ mà đương sự đưa ra; Toà án sẽ nghe các bên trình bày và xác minh chứng cứ; các bên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà

họ cho là đúng và cần thiết Nếu các chứng cứ cung cấp chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác thì Toà án sẽ yêu cầu đương sự thu thập thêm chứng cứ hoặc xác minh

sự chính xác đó Toà án không nhất thiết phải thu thập thêm chứng cứ mà chỉ

Trang 37

tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ khi thấy cần thiết để làm rõ thêm yêu cầu của các bên, bảo đảm giải quyết tranh chấp được chính xác Như vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra tranh chấp, các đương sự cần tự mình thu thập đầy đủ các chứng cứ để xác nhận và chứng minh cho yêu cầu của mình, phản đối yêu cầu của người khác là có căn cứ hợp pháp

Việc chứng minh và cung cấp đầy đủ chứng cứ của các đương sự góp phần giúp cho hoạt động giải quyết tranh chấp của Toà án được nhanh chóng và chính xác Tuy nhiên trong các vụ án kinh doanh, thương mại thì các đương sự là những người tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chính vì thế vấn đề

“thời gian” là một vấn đề lớn của họ Do đó khi tham gia vào một vụ tranh chấp

liệu các đương sự có thời gian thu thập đầy đủ các chứng cứ hay không là một điều đáng quan tâm Việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và đúng đắn không chỉ là điều cấp thiết với các đương sự mà còn đối với cả các cơ quan chức năng bởi việc thu nhập chứng cứ có thể mất nhiều thời gian, chi phí của các đương sự; đó là chưa kể đến việc có những chứng cứ mà đương sự không thể tự mình thu thập được hoặc áp dụng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả Trong những trường hợp như vậy đương sự phải làm đơn yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ, trong đơn phải ghi rõ vấn đề cần chứng minh, chứng cứ cần thu thập, lý do không thu thập được chứng cứ, tên cơ quan,

tổ chức lưu giữ chứng cứ đó [19]

Nguyên tắc này tạo cơ sở giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ tranh chấp đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của các đương sự trong hoạt động TTDS, cụ thể là trong hoạt động tố tụng kinh doanh, thương mại, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia trong việc bảo vệ lợi ích của chính mình trước các hành vi xâm hại

2.1.4 Nguyên tắc hoà giải

Trong hoạt động thương mại ngày nay, vấn đề xảy ra tranh chấp là điều không mong muốn của các cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh Việc khởi kiện ra Toà án do không giải quyết được mâu thuẫn, xung đột sẽ không đem

Trang 38

lại sự thuận lợi cho quá trình kinh doanh của các bên, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế Tranh chấp gây ra sự căng thẳng, mất đoàn kết, làm giảm uy tín của các chủ thể trong môi trường kinh doanh Chính vì vậy nguyên tắc hoà giải theo quy định của pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật tố tụng xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự và trách nhiệm của Toà án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, giúp các bên giải quyết mâu thuẫn một cách ổn thoả, góp phần hạn chế thiệt hại không đáng có do hậu quả của các tranh chấp gây ra

Hoà giải là sự thoả thuận của các đương sự trong việc giải quyết vụ án Việc các đương sự thoả thuận giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng luôn được Nhà nước khuyến khích bởi vì khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án thì không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, nhanh chóng và tiết kiệm Nhà nước trong trường hợp này sẽ không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó [13]

Do đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại là phản ánh về vấn

đề lợi ích kinh tế của chủ thể kinh doanh nên hoà giải là biện pháp được ưu tiên áp dụng trước khi các bên tranh chấp phải nhờ tới cơ quan có thẩm quyền tài phán Đây là nguyên tắc được xây dựng trước tiên do yêu cầu của chính đơn vị kinh doanh Theo nguyên tắc này khi có tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra trước hết các bên tự tiến hành hoà giải với nhau Khi không hoà giải được các bên mới yêu cầu cơ quan toà án can thiệp; tuy nhiên khi đã yêu cầu cơ quan toà án can thiệp, các đương sự vẫn có thể tiến hành hoà giải dưới

sự hướng dẫn, công nhận của Toà án; chỉ khi hoà giải không thành, Toà án mới đưa vụ việc ra xét xử Tại phiên toà, thẩm phán cũng tạo điều kiện cho các bên tranh chấp được hoà giải với nhau (Điều 10 BLTTDS năm 2004) Khi hoà giải, Toà án phải tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của đương sự, không được dũng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực bắt buộc các bên phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình Ngoài ra trong BLTTDS năm 2004 cũng

Trang 39

quy định những vụ án dân sự không được hoà giải và những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Điều 181, Điều 182 BLTTDS năm 2004)

2.1.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời

Xuất phát từ nhu cầu kinh doanh, việc giải quyết tranh chấp không những phải đảm bảo đúng pháp luật mà còn phải nhanh chóng, dứt điểm, tránh kéo dài Hoạt động kinh doanh, thương mại là một quá trình diễn ra liên tục với mục đích sinh lời của người tham gia kinh doanh Đối với các chủ thể kinh doanh dường như yếu tố thời gian có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công việc của họ, sự năng động và linh hoạt của môi trường kinh doanh không cho phép họ lãng phí thời gian Nhưng khi những tranh chấp ngoài ý muốn phát sinh thì việc bỏ thời gian để giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích của mình là điều đương nhiên Do đó việc giải quyết các vụ án một cách đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời

là mối quan tâm của hầu hết những người tham gia kinh doanh, đặc biệt là các đương sự trong tranh chấp kinh doanh, thương mại

Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời được thể hiện trong một số quy định của pháp luật Chẳng hạn, trong tố tụng kinh doanh, thương mại quy định thời gian tố tụng ngắn hơn so với các TTDS khác; các quy định rút ngắn thời hiệu, thời hạn; trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án không cần thực hiện việc chứng minh và thu thập chứng cứ, hạn chế việc giao vụ án cho toà án cấp dưới xét xử lại; hạn chế thấp nhất việc quay vòng vụ án đê xét

xử lại nhiều lần…Việc quy định như vậy nhằm rút ngắn thời gian cho việc giải quyết các tranh chấp, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể, phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh [13;tr.19]

2.1.6 Nguyên tắc xét xử công khai

Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc dân chủ của hoạt động

xét xử Điều 103 Hiến pháp 2013 khẳng định “Toà án nhân dân xét xử công

khai” Trong xã hội dân chủ, công khai được coi là tư tưởng xuyên suốt trong

quá trình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước Tuy nhiên không phải vụ án nào đưa xét xử công khai cũng đem lại những tác động tích cực, đặc biệt là trong

Trang 40

hoạt động sản xuất, kinh doanh Theo đó Điều 15 BLTTDS quy định: “Trong

trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, giữ gìn bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự” Trong kinh doanh, thương mại, bí mật kinh

doanh có thể là những phát minh, sáng chế…có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể Những bí mật kinh doanh của doanh nghiệp là những điều không thể tiết lộ, không thể chia sẻ cho các doanh nghiệp khác biết nếu không sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp, thậm chí bị phá sản Do đó các tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Toà án xét xử kín để cho các bí mật kinh doanh được bảo đảm

Ngoài ra nguyên tắc này còn tạo điều kiện cho nhân dân có thể giám sát hoạt động của Toà án, cơ quan điều tra Điều này sẽ khiến cho các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng nâng cao vai trò và trách nhiệm của mình; đồng thời mang ý nghĩa giáo dục mọi công dân trong việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật

2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Toà kinh tế trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Toà kinh tế là một toà chuyên trách của TAND, được thành lập theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân ngày 28/12/1993 Toà kinh tế được tổ chức ở hai cấp: ở Trung ương, Toà kinh tế được thành lập trong TAND tối cao; ở địa phương, Toà kinh tế chỉ được tổ chức ở cấp tỉnh Đến Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 với 04 cấp Tòa án là Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thì Tòa kinh tế được tổ chức trong Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tương đương

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm