Từ thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng XHCN của nước CHDCND Lào thời gian qua đã cho thấy: Khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
HÀ NỘI- 2015
Trang 2Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người hướng dẫn khoa học TS Vũ Đặng Hải Yến, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Souknilanh SENGPHACHANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu trong luận văn là khách quan, trung thực Những kết quả, những đánh giá trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Souknilanh SENGPHACHANH
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5Trang
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NƯỚC CHDCND LÀO 5
1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào 5
1.2 Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NƯỚC
2.1 Thực trạng pháp luật, thực thi pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp
Trang 6nhà nước 472.1.2 Thực trạng thực thi pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
2.2 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp luật
về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại nước CHDCND Lào 58
2.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp luật về cổ phần
2.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp luật về cổ phần hóa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Với quyết tâm xây dựng nền hàng hóa nhiều thành phần, định hướng
XHCN có đặc trưng là đa dạng hóa các loại hình sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo được Đại hội lần thứ V Đảng Nhân dân cách mạng Lào năm 1986 đưa ra nền kinh tế- xã hội Lào đã chuyển mình mạnh mẽ Sau hơn 20 năm thực hiện chủ trương này, nền kinh tế Lào đã có nhiều thay đổi vượt bậc, từ một nền kinh tế tập trung, quan liên bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; kinh tế nhà nước giữ vị trí chủ đạo, là công cụ điều tiết và quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô; vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân được khẳng định và không ngừng đóng góp cho sự phát triển kinh tế- xã hội ở nước CHDCND Lào
Từ thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng XHCN của nước CHDCND Lào thời gian qua đã cho thấy: Khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư của Nhà nước, trong khi đó, các DNNN hoạt động trong khu vực kinh tế này lại không mạng lại hiệu quả cao nhưng lại nắm giữ độc quyền nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng, lấn áp vai trò của các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân Thực trạng đó đã đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Chính phủ Lào phải cải tổ, sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước; các DNNN với nhiều biện pháp, cách thức khác nhau, trong đó có cổ phần hóa DNNN
Cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào mới chỉ thực sự bắt đầu được thực hiện vào những năm đầu của thế kỷ XXI nên nó còn khá mới mẽ và chưa
có nhiều dấu ấn rõ nét Sở dĩ có thực trạng này là do pháp luật về cổ phần hóa DNNN chưa thực sự hoàn thiện; thực pháp luật cổ phần hóa DNNN chưa có hiệu quả một phần do thiếu kinh nghiệm dẫn đến lúng túng trong việc thực hiện
Trong khi đó, cổ phần hóa DNNN đã được thực hiện ở các nước TBCN
từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Ở các nước XHCN như Việt Nam, Trung Quốc thì từ những năm cuối 90 của thế kỷ XX và đã chứng tỏ cổ phần hóa
Trang 8DNNN là một trong những phương thức hiệu quả để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước cũng như trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Chính vì vậy, cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào còn khá mới
mẻ, chưa có nhiều hiệu quả trong thực tiễn thi hành, nên nó đã thu hút sự tham gia nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, pháp lý; cũng như các thành phần kinh tế- xã hội khác
Từ thực tiễn cấp thiết trên và vốn kiến thức có được trong quá trình học tập, làm việc, tác giả nhận thấy việc tiếp tục nghiên cứu về pháp luật và thực thi pháp luật cổ phần hóa DNNN có ý nghĩa kinh tế- xã hội và pháp lý rất lớn
đối với nước CHDCND Lào Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào- Thực trạng và giải pháp” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học
tại Trường Đại học Luật Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cưu về cổ phần hóa DNNN ở Lào là một lĩnh vực mà các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới góc độ kinh tế, góc độ chính sách Còn việc nghiên cứu cổ phần hóa DNNN dưới góc độ pháp lý và thực thi pháp luật cổ phần hóa DNNN thì chưa thực sự nhiều Tuy nhiên, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu về cổ phần hóa DNNN ở Lào dưới góc độ lý sau đây:
- Luận văn thạc sĩ luật học: “Những vấn đề pháp lý cơ bản về cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” của
2007 Điểm được của công trình nghiên cứu này là đã tiếp cận cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào dưới góc độ pháp lý nhưng điểm chưa được của công trình nghiên cứu này là chỉ tiếp cận về mặt lý luận pháp lý, chưa chú trọng đến thực tiễn thi hành pháp luật về cổ phần hóa DNNN và được nghiên cứu trong giai đoạn Lào chưa gia nhập WTO
Trang 9- Luận văn thạc sĩ luật học: “Tổ chức quản lý công ty nhà nước theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” của Daochay
2013 Tuy nhiên, có thể thấy công trình nghiên cứu chủ yếu tiếp cận về pháp luật quản lý công ty nhà nước ở nước CHDCND Lào, cổ phần hóa DNNN chỉ
là một nội dung nhỏ trong công trình nghiên cứu đó
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào dưới góc độ pháp lý vẫn còn là một lỗ hổng khoa học lớn, cần các nhà nghiên cứu pháp lý tiếp tục khai thác, nghiên cứu và luận văn này với việc nghiên cứu tổng thể về cả pháp luật và thực thực thi pháp luật về cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào với hy vọng sẽ lấp đầy lỗ hổng khoa học pháp lý đó
3 Mục đích, nhiệm vụ
* Về mục đích: Từ việc tìm hiểu lý luận về DNNN, cổ phần hóa
DNNN, đến tìm hiểu các nội dung và so sánh pháp luật về cổ phần hóa DNNN của pháp luật Lào với pháp luật Việt Nam, đến đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào, tác giả xây dựng một hệ thống các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và thực thi pháp luật về cổ phần hóa DNNN tại nước CHDCND Lào trong thời gian tới Đây chính là mục đích nghiên cứu mà luận văn đặt ra
* Về nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn phải thực
hiện các nhiệm vụ sau: (i) Tìm hiểu lý luận về DNNN, cổ phần hóa DNNN; (ii) tìm ra những nguyên nhân gây ra những hạn chế trong pháp luật và thực thi pháp luật về cổ phần hóa DNNN tại nước CHDCND Lào; (iii) So sánh và xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp luật cổ phần hóa DNNN nước CHDCND Lào
4 Phạm vi nghiên cứu
Do là một lĩnh vực pháp lý có phạm vi nghiên cứu rộng nên phạm vị nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào những quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi pháp luật về cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND
Trang 10Lào trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2014 Ngoài ra, luận văn còn có những nội dung về cổ phần hóa DNNN của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật cổ phần hóa DNNN của nước CHDCND Lào
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khoa học, cũng như kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học với nhau Đó là: Phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác- Lênin để nghiên cứu đề tài có tính tiến trình lịch sử, mối quan hệ qua lại giữa
lý luận và thực tiễn thi hành cổ phần hóa DNNN tại nước CHDCND Lào Bên cạnh đó còn là các phương pháp như: Phương pháp phân tích để phân tích, đánh giá các quy định pháp luật; phương pháp tổng hợp để tổng hợp các kết quả của thực tiễn thi hành pháp luật; phương pháp diễn giải- quy nạp để trình bày các nội dung cụ thể; phương pháp so sánh để so sánh quy định pháp luật
về cổ phần hóa DNNN của Lào với Việt Nam
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn khi được hoàn thành sẽ đóng góp những điểm mới về lý luận pháp lý như sau: (i) Hệ thống hóa các quy định pháp luật về cổ phần hóa DNNN của nước CHDCND Lào; (ii) Thực trạng thi hành pháp luật về cổ phần hóa DNNN tại nước CHDCND Lào giai đoạn 2002-2014; (iii) Hệ thống các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về cổ phần hóa DNNN tại nước CHDCND Lào trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh, phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo Để bảo đảm về kết cấu, tính hợp lý, liên tục của nội dung, luận văn được chia làm 02 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào;
Chương 2 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp
luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại nước CHDCND Lào
Trang 11CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NƯỚC CHDCND LÀO 1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
* Khái niệm DNNN
Trong lĩnh vực kinh tế, Nhà nước tham gia vào lĩnh vực này ở tư cách khác nhau: (i) Tư cách nhà quản lý kinh tế; (ii) Tư cách là nhà đầu tư Ở tư cách nhà quản lý kinh tế, Nhà nước sẽ hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế, tạo dựng môi trường đầu tư, điều tiết các hoạt động kinh tế theo đúng định hướng, chiến lược để bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững Trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau như: Mệnh lệnh, quyết định hành chính; pháp luật… Trong tư cách là nhà đầu tư vào lĩnh vực kinh tế, Nhà nước sử dụng ngân sách để thành lập các DNNN hoặc đầu tư vốn vào cách doanh nghiệp trong khu vực tư nhân để thực hiện các mục tiêu chính trị- xã hội bên cạnh mục tiêu lợi nhuận [8, tr 22-23]
Vậy thì thực chất DNNN là gì? Có thể hiểu DNNN là những cơ sở kinh tế (sản xuất, kinh doanh hàng hóa; cung ứng dịch vụ) do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu một phần đủ để chi phối trong quản lý, điều hành Như vậy, quyền sở hữu là yếu tố quyết định để phân biệt DNNN với các doanh nghiệp khác ở khu vực kinh tế tư nhân Nhưng DNNN không phải là cơ quan hành chính nhà nước, bởi DNNN được thành lập là để kinh doanh vì mục đích lợi nhuận hay vì mục tiêu chính trị- xã hội khác Ngoài ra, quyền chi phối về quản
lý, điều hành của Nhà nước trong DNNN là đặc điểm để phân biệt loại hình doanh nghiệp này với các loại hình doanh nghiệp khác mà Nhà nước chỉ góp một lượng vốn nhỏ không đủ để chi phối, điều hành doanh nghiệp đó
Trang 12Trên thế giới, các nền kinh tế của các quốc gia tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau, vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế cũng rất khác nhau nhưng hầu như tất cả các quốc gia đều thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế nhà nước cũng như loại hình DNNN trong nền kinh tế quốc dân Nếu như ở thời điểm đầu trong quá trình hình thành và phát triển của loại hình DNNN thì các DNNN chủ yếu hoạt động vì các mục tiêu kinh tế- xã hội, hoặc giữ vị trí trung tâm trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô Điều là đặc trưng của loại hình DNNN
ở các nước chậm phát triển, đang phát triển như Việt Nam, Lào… Dần dần, loại hình DNNN chuyển sang hoạt động vì mục đích lợi nhuận, đóng góp cho NSNN nhưng bên cạnh đó DNNN vẫn hoạt động vì những mục tiêu chính trị-
xã hội để bảo đảm chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế- xã hội
Trong một báo cáo của Đại hội đồng Liên hợp quốc được đưa ra vào
năm 1985, đã định nghĩa về DNNN như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là
những doanh nghiệp do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và Nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của doanh nghiệp” Ở định nghĩa này, Liên hợp quốc đã sử dụng hai tiêu chí để định
nghĩa về DNNN đó là: (i) Tiêu chí về sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp đó là sở toàn phần hoặc một phần; (ii) Tiêu chí về sự kiểm soát hay nói cách khác là Nhà nước có vị trí quyết định trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp đó [5, tr 15]
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau trong việc sử dụng các tiêu chí để định nghĩa về DNNN Có quốc gia lựa chọn tiêu chí về mục đích, hình thức; có quốc gia lại lựa chọn tiêu chí về lý do thành lập, cơ cấu tổ chức; có quốc gia lại lựa chọn tiêu chí quyền sở hữu của Nhà nước để định nghĩa về DNNN
Ở nước CHDCND Lào thì định nghĩa về DNNN được quy định tại Điều
191 của Luật doanh nghiệp do Quốc hội Lào ban hành ngày 09 tháng 11 năm
2005 như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị kinh doanh của Nhà
nước được thành lập và đâu tư hoặc liên doanh với các thành phần kinh tế khác, với số vốn của Nhà nước trên 50% trở lên” Như vậy, pháp luật Lào định
Trang 13nghĩa về DNNN bằng việc sử dụng tiêu chí về quyền sở hữu vốn trong DNNN
đó Do vậy, định nghĩa này là chưa phản ánh được một trong những đặc trưng
cơ bản nhất của DNNN là quyền quản lý, điều hành của Nhà nước đối với DNNN đó Tuy nhiên, đây cũng là một sự thay đổi rất lớn và cụ thể so với định nghĩa về DNNN trong Sắc lệnh số 92/SL năm 1954 của Chủ tịch nước Trong Sắc lệnh này, DNNN ở Lào được gọi tên là “Xí nghiệp quốc doanh” và được
định nghĩa: “Xí nghiệp quốc doanh là xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc
gia, do Chính phủ quản lý Sự thay đổi ở đây là định nghĩa về DNNN trong
Luật Doanh nghiệp 2005 đã liệt kê hai hình thức tồn tại của DNNN dựa vào tiêu chí về quyền sở hữu vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp đó: (i) Hình thức Nhà nước sở hữu 100% phần vốn góp trong DNNN; (ii) Hình thức Nhà nước sở hữu từ 50% trở lên phần vốn góp trong DNNN [2, tr 7-8]
Ở Việt Nam, định nghĩa về DNNN được quy định trong Điều 1 Luật số 14/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 về doanh nghiệp nhà nước:
“Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” Tuy nhiên, đến Luật
số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 về doanh nghiệp thì định nghĩa
về DNNN được xây dựng lại một cách đơn giản hơn Tại khoản 8 Điều 4 Luật
này quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ” Sự thay đổi ở đây là DNNN ở Việt Nam là doanh nghiệp
do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ, chứ không còn là doanh nghiệp do mà Nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối Ngoài ra, trong định nghĩa mới này cũng không liệt kê các hình thức tồn tại của DNNN như Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003
Như vậy, so với định nghĩa về DNNN trong Luật Doanh nghiệp 2005 của nước CHDCND Lào thì định nghĩa về DNNN của pháp luật Việt Nam cũng sử dụng tiêu chí về quyền sở hữu của Nhà nước để định nghĩa về DNNN Tuy nhiên, định nghĩa về DNNN theo pháp luật hiện hành của Việt Nam chỉ
Trang 14thừa nhận là DNNN khi Nhà nước năm 100% vốn điều lệ trong doanh nghiệp
đó Trong khi đó, pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào coi DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước năm từ trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó Ngoài ra, định nghĩa về DNNN của cả hai quốc gia đều không đề cập đến các vấn đề về mục đích hoạt động, lý do thành lập, quyền quản lý và điều hành của Nhà nước trong DNNN do hai định nghĩa này chỉ sử dụng tiêu chí về sở hữu vốn của Nhà nước để định nghĩa về DNNN [3, tr 11]
* Đặc điểm của DNNN
Từ định nghĩa về DNNN theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 của nước CHDCND Lào có thể chỉ ra một số đặc điểm của DNNN ở CHDCND Lào như sau:
- Thứ nhất, về hình thức sở hữu DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước
sở hữu toàn bộ hoặc một phần số vốn điều lệ dưới dạng cổ phần hoặc phần vốn chi phối tại các liên doanh với các thành phần kinh tế tư nhân khác Đối với DNNN do Nhà nước thành lập thì Nhà nước sẽ nắm 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó Đối với các liên doanh thì Nhà nước sẽ góp vốn bằng cách mua cổ phần, góp vốn chi phối trên 50% vốn điều lệ để nắm quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp đó Do vậy, đây vẫn được xếp vào loại hình DNNN theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào Đây là đặc điểm nổi bật giúp phân biệt DNNN với các doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành của nước CHDCND Lào hiện nay [2, tr 9]
- Thứ hai, về quyền quyết định, quyền chi phối hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp DNNN theo quy định của Luật Doanh
nghiệp 2005 nước CHDCND Lào có đặc điểm là Nhà nước thông qua các đại diện của mình, có thể là tổ chức hoặc cá nhân do Nhà nước chỉ định làm đại diện sẽ thay mặt Nhà nước trong DNNN đó để nắm quyền quyết định, quyền chi phối hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của DNNN đó Đó là quyền quyết định trong các vấn đề như: Tăng, giảm vốn điều lệ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quan trọng của DNNN; quyền tổ chức quản
Trang 15lý; quyền đưa ra các quyết định liên quan đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNNN [4, tr 10]
- Thứ ba, về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản của DNNN Theo
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 nước CHDCND Lào thì DNNN
có tư cách pháp nhân Tức là, DNNN có thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật DNNN có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình- chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn Ngoài ra, DNNN thực hiện chế độ hoạch toán độc lập, lấy thu bù chi Tất cả những nội dung trên đều thể hiện một đặc điểm là DNNN có tư cách độc lập và độc lập về kinh tế đối với Nhà nước
- Thứ tư, về hình thức tồn tại của DNNN DNNN theo quy định của
Luật Doanh nghiệp 2005 nước CHDCND Lào được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, đó có thể là Công ty nhà nước (hiện tại đã bỏ loại hình này); Công ty cổ phần nhà nước; Công ty TNHH nhà nước một thành viên; Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên
Như vậy, trên đây là bốn đặc điểm nổi bật nhất của DNNN theo quy định của Luật Doanh nghiệp nước CHDCND Lào Trong đó, đặc điểm về hình thức sở hữu là đặc điểm quan trọng nhất giúp phân biệt DNNN với các loại hình doanh nghiệp khác ở khu vực kinh tế tư nhân
* Phân loại DNNN
Việc phân loại DNNN ở các quốc gia được thực hiện dựa trên rất nhiều các tiêu chí khác nhau Nếu xét ở cơ cấu thành phần sở hữu thì có: (i) DNNN một chủ sở hữu- DNNN do Nhà nước làm chủ sở hữu duy nhất; (ii) DNNN đa chủ sở hữu- Loại hình DNNN có nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước là chủ
sở hữu nắm quyền chi phối về quản lý, điều hành dựa trên cơ sở vốn góp của Nhà nước vượt trội hơn các chủ sở hữu khác;…
Ở nước CHDCND Lào, các nhà làm luật thường sử dụng tiêu chí về tính chất của sở hữu, trách nhiệm pháp lý, quy mô, ngành nghề và tính chất sản phẩm để phân loại DNNN Cụ thể như sau:
Trang 16- Thứ nhất, dựa theo tính chất sở hữu Theo tính chất này thì DNNN
được chia làm hai loại là: (i) DNNN đơn chủ, tức là Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất, nắm 100% số vốn điều lệ của DNNN đó; (ii) DNNN đa chủ, tức là Nhà nước sẽ liên doanh với các cá nhân, tổ chức khác để thành lập DNNN nhưng trong đó, vốn góp của Nhà nước là chủ yếu (thường là trên 50% vốn điều lệ) để hình thành nên DNNN đó [5, tr 17]
- Thứ hai, theo tính chất pháp lý của DNNN Theo quy định của Luật
Doanh nghiệp 2005 nước CHDCND Lào thì DNNN tồn tại dưới các hình thức sau: Công ty cổ phần nhà nước, Công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên [5, tr.17]
- Thứ ba, theo quy mô của DNNN Dựa vào các tiêu chí như số vốn điều
lệ, doanh số kinh doanh, số lượng lao động, DNNN được chia thành: DNNN có quy mô lớn, DNNN có quy vừa và DNNN có quy mô nhỏ [5, tr.17]
- Thứ tư, dựa vào ngành nghề và tính chất sản phẩm Dựa vào tiêu chí
này, DNNN được chia thành: DNNN là doanh nghiệp sản xuất hàng hóa; DNNN là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ; DNNN hỗn hợp, tức là vừa sản xuất hàng hóa vừa cung ứng dịch vụ [5, tr.17]
* Các hình thức tổ chức DNNN
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 nước CHDCND Lào thì DNNN tồn tại dưới các hình thức tổ chức như: Công ty cổ phần nhà nước, Công ty TNHH nhà nước một thành viên, Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên
- Công ty cổ phần nhà nước Hiện tại, pháp luật nước CHDCND Lào
hiện hành chưa có định nghĩa về Công ty cổ phần nhà nước Do vậy, dựa theo khái niệm về Công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp 2005 nước CHDCND Lào và đặc điểm của DNNN có thể định nghĩa về Công ty cổ phần nhà nước
như sau: Công ty cổ phần nhà nước là công ty mà cổ đông bao gồm Nhà
nước, các cá nhân, tổ chức khác Trong đó, Nhà nước nắm phần lớn cổ phần của công ty, cũng như nắm quyền quản lý và điều hành công ty [2, tr 16]
Trang 17- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Cũng như Công ty cổ phần
nhà nước thì Công ty TNHH nhà nước một thành viên chưa được định nghĩa Dựa vào quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về Công ty TNHH một thành viên có thể định nghĩa về Công ty ty TNHH nhà nước một thành viên như
sau: Công ty TNHH do Nhà nước nắm toàn bộ vốn điều lệ, tổ chức và hoạt
động theo quy định của Luật doanh nghiệp [2, tr 17]
- Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên Hiện tại vẫn chưa có
định nghĩa về Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trong các văn bản pháp luật hiện hành của CHDCND Lào Do vậy, dựa vào quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 của nước CHDCND Lào về Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể định nghĩa về Công ty TNHH nhà nước hai thành viên như sau:
Công ty TNHH có số lượng từ hai đến không quá năm mươi thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Ngoài Nhà nước, thành viên của công ty là các tổ chức, cá nhân Công ty TNHH nhà nước hai thành viên được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp [2, tr.17]
1.1.1.2 Quá trình hình thành và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
* Quá trình hình thành và vai trò DNNN
Mặc dù, khu vực kinh tế Nhà nước được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận nhưng DNNN là loại hình doanh nghiệp đặc trưng của nền kinh tế các nước XHCN Tuy nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của DNNN không xuất phát từ nền kinh tế của các nước XHCN mà nó là sản phẩm của nền kinh tế các nước TBCN Do vậy, DNNN là loại hình doanh nghiệp tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Tuy nhiên, việc nhìn nhận về vị trí, vai trò của loại hình DNNN ở các quốc gia là hoàn toàn khác nhau Điều đó dẫn đến tỷ trọng của DNNN trong nền kinh tế các quốc gia là hoàn toàn không giống nhau Trong năm 2010, tỷ trọng của DNNN trong tổng sản phẩm quốc nội của các quốc gia như sau: Hoa Kỳ là 1,1%, Trung Quốc là 46%, Vương quốc Anh là 9,3%, Pháp là
Trang 1812,1%, Nhật Bản là 10,7%, Thái Lan là 20,3% Khác với những loại hình doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân, việc phát triển DNNN gần như không phụ thuộc vào các quy luật kinh tế khách quan mà nó phụ thuộc rất lớn vào đường lối chính trị, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể Do đó, không thể lấy tiêu chí về lợi ích kinh tế để làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của DNNN [9, tr 21-22]
Trong quá trình phát triển của khu vực kinh tế nhà nước ở các quốc gia trên thế giới trong thời gian gần đây, thì vị trí và vai trò của DNNN đang dần dần được củng cố Sự củng cố này không đến từ việc gia tăng số lượng DNNN trong nền kinh tế quốc gia mà từ hiệu quả hoạt động của DNNN sau quá trình cổ phần hóa DNNN Do vậy, có thể chia quá trình hình thành và phát triển của DNNN trên bình diện thế giới thành hai giai đoạn như sau: (i) Giai đoạn các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân về cả số lượng và hiệu quả hoạt động; (ii) Giai đoạn các DNNN hoạt động hiệu quả sau quá trình cổ phần hóa DNNN
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc là một sự kiện đánh dấu một bước chuyển mới trong quá trình hình thành và phát triển của DNNN ở nhiều quốc gia trên thế giới Một trong những sự thay đổi đó là các DNNN từ hoạt động không hiệu quả, phục vụ chủ yếu cho Nhà nước chuyển sang hoạt động hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu của xã hội dân sự, bên cạnh đó DNNN vẫn thực hiện các mục tiêu chính trị- xã hội của Nhà nước
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, xu hướng cổ phần hóa, tư nhân hóa DNNN ở các quốc gia diễn ra ngày càng mạnh mẽ, với nội dung chính là tăng cường cơ chế thị trường vào quản lý, điều hành và hoạt động của các DNNN Tuy đây là một xu hướng mang tính khách quan nhưng nó không loại bỏ DNNN ra khỏi đời sống kinh tế- xã hội của quốc gia Ở các nước tư bản phát triển hiện nay, mặc dù tỉ trọng và số lượng các DNNN không còn nhiều nhưng DNNN vẫn tồn tại một cách khách quan trong các loại hình doanh nghiệp, cũng như đóng góp một phần đáng kể cho GDP cũng
Trang 19như thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội của Nhà nước Đối với các quốc gia đang phát triển, thì DNNN lại có một vị trí hết sức quan trọng, bởi lẽ các DNNN vẫn nắm trong tay hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt trong nền kinh tế quốc dân như: Khai thác khoáng sản, năng lượng, nhiên liệu, cơ khí chế tạo… Hoạt động của DNNN trong các lĩnh vực then chốt này không chỉ đóng góp lớn cho GDP quốc gia mà còn là công cụ để Nhà nước quản lý các lĩnh vực kinh tế then chốt này
Đối với các nước XHCN, vai trò của DNNN càng đặc biệt quan trọng khi mà ở các quốc gia này, khu vực kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, vai trò của DNNN rất quan trọng, nó vừa
là trụ cột của nền kinh tế, quyết định sức mạnh chính trị, kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh của các quốc gia này, giải quyết các vấn đề xã hội như: an sinh xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa… Chính vì vậy, khi mà các Nhà nước CHDCND Lào được thành lập cũng là thời điểm các DNNN được thành lập ở nước CHDCND Lào, để đưa khu vực kinh tế nhà nước lên vị trí chủ đạo trong nền kinh tế của nước CHDCND Lào Các DNNN được thành lập và hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt trong nền kinh tế của nước CHDCND Lào [6, tr 20]
Vậy thì sự hình thành của DNNN trong nền kinh tế quốc dân ở các quốc gia trên thế giới đến từ những lý do nào? Một điểm chung cho sự ra đời và phát triển của DNNN ở các quốc gia là đều đến từ những đòi hỏi khách quan trong quá trình thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước Tuy nhiên, sự ra đời và phát triển của DNNN còn xuất phát từ các lý do sau đây:
- Một là, sau chiến tranh nền kinh tế- xã hội của hầu hết các quốc gia
đều bị tàn phá, nguồn lực tư nhân trong xã hội không đủ sức để khôi phục nền kinh tế- xã hội, chỉ có Nhà nước với tiềm lực vốn lớn, chỉ có Nhà nước mới
có chức năng để khôi phục nền kinh tế- xã hội Do vậy, Nhà nước thành lập các DNNN để thực hiện chức năng đó
Trang 20- Hai là, xuất phát từ tư tưởng chính trị của một số quốc gia trên thế giới Ở các quốc gia đa Đảng, khi một Đảng nào đó lên nắm quyền điều hành
đất nước thì luôn có tư tưởng tăng cường vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế Chính điều này đã làm cho DNNN tồn tại và phát triển nhanh
- Ba là, một số các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia sau khi giành
được độc lập đã được thừa hưởng một cơ sở vật chất của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc để lại và các quốc gia này tiến hành quốc hữu hóa để bảo
vệ lợi ích đó cho Nhà nước Hơn nữa, các nước theo mô hình XHCN luôn có
xu hướng tăng cường vai trò của Nhà nước vào nền kinh tế nên các DNNN ở các quốc gia này phát triển rất nhanh
- Bốn là, với tiềm năng vốn lớn được hỗ trợ từ Nhà nước, DNNN có
nhiều lợi thế trong các lĩnh vực, đặc biệt là ứng dụng khoa học- kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh Ở các nước đang phát triển thì việc thành lập các DNNN đôi khi vì mục đích để ứng dụng khoa học- kỹ thuật, công nghệ, điều mà các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân không đủ tiềm lực để thực hiện Đây cũng chính là một trong những lý do khiến DNNN gia tăng một cách nhanh chóng
Như vậy, dù ở bất cứ thời điểm nào thì khu vực kinh tế nhà nước, DNNN vẫn tồn tại và phát triển một cách khách quan trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Bên cạnh việc thực hiện chức năng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, các DNNN đã và đang đóng góp rất nhiều cho việc hoàn thành các mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội của Nhà nước
* Quá trình hình thành và vai trò của DNNN ở nước CHDCND Lào
Như đã biết, DNNN là loại hình doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong các loại hình doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào Sở dĩ DNNN xuất hiện sớm như vậy một phần là do chế độ chính trị, điều kiện kinh tế- xã hội của nước CHDCND Lào chi phối Những năm 1950-1954 có rất nhiều các DNNN được thành lập ở Lào Các DNNN này chủ yếu tập trung hoạt động trong lĩnh
Trang 21vực khai khoáng, lương thực- thực phẩm, cung ứng nguyên liệu- nhiên liệu… Tuy nhiên, trong thời điểm đó, các DNNN của Lào hoạt động theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực mà DNNN đó hoạt động Cũng như thực hiện các chức năng của Nhà nước về kinh tế- xã hội Do vậy, hiệu quả hoạt động của các DNNN ở nước CHDCND Lào trong suốt một thời gian dài không được thể hiện một cách rõ nét Bên cạnh đó, còn làm thất thoát một nguồn lực rất lớn từ NSNN [14, tr 22-23]
Việc phát triển nhanh của các DNNN ở nước CHDCND Lào thời điểm
đó là do đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước Lào khi coi trọng nền kinh tế quốc doanh, ưu tiên nguồn lực cho việc phát triển các DNNN
Khi Đảng, Nhà nước Lào đưa ra và thực hiện chủ trương chuyển nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Đây là cơ hội để cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển Nhưng xuất phát từ vai trò của DNNN đối với nền kinh tế còn đang được coi là kém phát triển nên Đảng, Nhà nước Lào vẫn xác định kinh tế nhà nước, DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Lào Tuy nhiên, nhận thức về kinh tế nhà nước, DNNN của Đảng, Nhà nước Lào đã có sự thay đổi mạnh mẽ về chất Đó là quản lý chặt chẽ và hiệu quả đối với khu vực kinh tế nhà nước, DNNN theo hướng cổ phần hóa, giảm số lượng DNNN, để các DNNN hoạt động hiệu quả hơn DNNN bên cạnh việc thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội của Nhà nước thì DNNN cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN thì Đảng và Nhà nước Lào đã thừa nhận sự tồn tại và phát triển công bằng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân Tuy nhiên, trong quá trình đó, khu vực kinh tế nhà nước cần phải được củng cố và phát
Trang 22triển trong những lĩnh vực then chốt, cần có sự can thiệp sâu của Nhà nước
Có như vậy, khu vực kinh tế nhà nước, DNNN ở nước CHDCND Lào mới tạo điều kiện và cơ hội cho khu vực kinh tế tư nhân ở nước CHDCND Lào phát triển nhanh và bền vững
Trong khu vực kinh tế nhà nước ở Lào như hiện nay, DNNN vẫn được Đảng và Nhà nước Lào xác định là loại hình doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân Do vậy, để tiếp tục phát triển DNNN, chủ trương
của Đảng và Nhà nước Lào là: “Doanh nghiệp nhà nước phải được củng cố,
đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”
Như vậy, DNNN vẫn giữ vai trò là thiết chế cần thiết để Nhà nước Lào điều tiết nền kinh tế vĩ mô, khẳng định vì trí, vai trò và chức năng của Nhà nước Lào trong quản lý trong nền kinh tế thị trường Đây vừa là vai trò, vừa là yêu cầu cho sự phát triển chính trị, kinh tế- xã hội ở nước CHDCND Lào hiện nay Bởi lẽ, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở CHDCND Lào sẽ có những hạn chế, khó khăn của nền kinh tế thị trường, mà muốn khắc phục thì phải có sự tham gia mạnh mẽ và tích cực của Nhà nước
Do đó, DNNN bên cạnh các hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận còn phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế- xã hội Thực tế, trong quá trình tồn tại và phát triển các DNNN ở nước CHDCND Lào đã tạo ra một nền tảng cơ sở hạ tầng quan trọng cho các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế nước CHDCND Lào Các DNNN còn tạo
ra một nguồn vốn lớn giúp Nhà nước bổ sung cho NSNN phục vụ cho các mục tiêu kinh tế- xã hội của Nhà nước Lào Như đã biết, trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chưa vươn lên để chiếm được vai trò nhất định trong nền kinh tế Chính vì thế, đã tạo cho DNNN một sứ mệnh hết sức quan trọng là phát triển
để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo đúng định hướng của Nhà nước cũng
Trang 23như tạo chỗ dựa, tiền để cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển, dựa trên cơ sở
hạ tầng mà các DNNN xây dựng trong quá trình hoạt động của nó
Vậy thì sứ mệnh đó của DNNN ở nước CHDCND Lào là do những yếu
tố nào chi phối? Trong quá trình tồn tại và phát triển DNNN ở nước CHDCND Lào có thể thấy sứ mệnh đó của DNNN được chi phối bởi các yếu
tố sau đây:
- Một là, sau thời gian dài là thuộc địa, kinh tế Lào không phát triển; cơ
sở hạ tầng không những không phát triển mà còn bị tàn phá nặng nề Việc đầu
tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng (đầu tư xây dựng cơ bản) tạo tiền đề cho kinh tế- xã hội phát triển ở nước CHDCND Lào cần một nguồn lực rất lớn mà chỉ Nhà nước mới có thể thực hiện được Chính vì vậy, các DNNN ra đời để thực hiện sứ mệnh xây dựng cơ sở vật chất trong các lĩnh vực kinh tế như: Giao thông vận tải; thông tin- liên lạc; công nghiệp khai khoáng; cung ứng nguyên, nhiên liệu…
- Hai là, để Nhà nước có thể tồn tại và phát triển, Nhà nước luôn luôn
phải tiến hành dựa trữ quốc gia Việc dự trữ quốc gia, đặc biệt về lương thực- thực phẩm; nguyên, nhiên liệu được Nhà nước thực hiện thông qua các DNNN mà không thể chuyển giao nhiệm vụ đó cho các thành phần kinh tế tư nhân vì các thành phần đó không đủ tiềm lực
- Ba là, một trong những nhiệm vụ quan trọng của DNNN ở gần như tất
cả các quốc gia đều phải thực hiện đó là giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, nhiệm vụ này không phát sinh lợi nhuận nên các thành phần kinh tế tư nhân không muốn tham gia vào Do vậy, các DNNN ở nước CHDCND Lào ra đời
để thực hiện nhiệm vụ đó và thể hiện sứ mệnh trong lĩnh vực này
- Bốn là, các DNNN với tiềm vực vốn lớn, nắm giữ những lĩnh vực
kinh tế then chốt cộng với đi đầu trong việc phát triển kinh tế- xã hội ở nước CHDCND Lào và bước đầu thu được những hiệu quả trong kinh doanh là điều kiện để thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế- xã hội ở Lào
Trang 24Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường, nhưng trong nền kinh tế thị trường đó, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết nền kinh tế quốc dân và DNNN là thiết chế quan trọng để Nhà nước quản
lý nền kinh tế quốc dân Đây là một trong những vai trò xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế nhà nước và DNNN ở Lào
Để phát huy được vai trò của mình, DNNN ở nước CHDCND Lào phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Thứ nhất, DNNN có nhiệm vụ nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm
tài nguyên, nguyên, nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất Đóng góp của DNNN là
cơ sở để Nhà nước tích lũy và tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội trong nền kinh tế đóng [13, tr 15]
- Thứ hai, DNNN phải sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn nhà
nước, thu hút vốn và các nguồn lực khác bên ngoài nhằm tạo các ra nguồn lực
để phát triển nền kinh tế- xã hội ở nước CHDCND Lào
- Thứ ba, DNNN phải bảo đảm đời sống cho người lao động, lực lượng
chủ yếu tạo ra của cải vật chất, đóng góp cho sự phát triển của DNNN và NSNN của nước CHDCND Lào
- Thứ tư, DNNN trong quản lý, sản xuất và kinh doanh phải vừa hợp
tác, bổ sung, hỗ trợ nhau, vừa cạnh tranh bình đẳng trên cơ sở pháp luật
- Thứ năm, DNNN trong quá trình sản xuất, kinh doanh phải quan tâm
đến vấn đề bảo vệ môi trường và tích cực đầu tư trang thiết bị để sản xuất giảm thiểu tác động xấu lên môi trường
- Thứ sáu, DNNN phải coi trọng chất lượng sản phẩm, dịch vụ Đây
vừa là cơ sở để bảo đảm sự phát triển của chính DNNN, vừa là cơ sở để tạo dựng uy tín của Nhà nước đối với xã hội
- Thứ bảy, trong quá trình hoạt động DNNN phải chấp hành nghiêm
đường lối, chủ trương, chính và pháp luật của Đảng và Nhà nước
Trang 25Như vậy, cũng như nhiều quốc gia khác, đặc biệt là các nước XHCN, DNNN ở Lào có vai trò rất lớn trong nền kinh tế đóng Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Lào đang xây dựng thì DNNN vẫn giữ được những vai trò đó nhưng phải tiến hành tổ chức, sắp xếp lại DNNN, đặc biệt là
cổ phần hóa thì DNNN ở Lào mới giữ vững và phát huy những vai trò đó
1.1.2 Khái quát về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
* Khái niệm cổ phần hóa DNNN
Có rất nhiều cách gọi khác nhau về cổ phần hóa DNNN như: Cổ phần hóa DNNN; chuyển đổi DNNN sang Công ty cổ phần; tư nhân hóa DNNN…Tuy nhiên, về mặt bản chất thì đây là việc chuyển DNNN dưới hình thức Công ty cổ phần nhà nước, Công ty TNHH nhà nước một thành viên, Công ty TNHH nhà nước hai thành viên sang hình thức công ty công ty nhiều chủ sở hữu thông qua việc chuyển một phần hoặc toàn bộ quyền sở hữu của Nhà nước trong DNNN đó cho nhiều tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức bán cổ phần [9, tr 20]
Ở Việt Nam, khái niệm cổ phần hóa DNNN được gọi với một cái tên pháp lý đầy đủ là chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần được quy định trong Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm
2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công
ty cổ phần Theo đó, cổ phần hóa DNNN được hiểu là một quá trình chuyển
một phần hoặc toàn bộ phần vốn của nhà nước cho cá nhân, tổ chức, đồng thời chia nhỏ phần vốn của công ty thành nhiều phần bằng nhau nhằm thay đổi hình thức sở hữu của công ty từ một chủ sở hữu thành nhiều chủ sở hữu
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN nước CHDCND Lào thì một trong những yêu cầu là phải bảo đảm sự công bằng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế Việc dành quá nhiều lợi thế, ưu tiên cho DNNN là không công bằng với các thành
Trang 26phần kinh tế ngoài quốc doanh Trong khi đó, thời gian qua các DNNN lại hoạt động không thực sự hiệu quả Do vậy, cổ phần hóa DNNN là một trong những yêu cầu cấp bách đối với nước CHDCND Lào hiện nay
Cổ phần hóa DNNN ở CHDCND Lào hiện nay được hiểu theo hai góc
độ như sau:
- Dưới góc độ pháp lý: Cổ phần hóa DNNN được hiểu là một hoạt
động bao gồm các thủ tục có tính trình tự nhằm chuyển đổi DNNN thành Công ty cổ phần hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
- Dưới góc độ kinh tế: Cổ phần hóa DNNN là một hoạt động kinh tế
chuyển DNNN do Nhà nước làm chủ sở hữu sang hình thức Công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu Khi chuyển đổi sang Công ty cổ phần, Nhà nước sẽ không còn là chủ sở hữu của Công ty cổ phần này nữa
Ở nước CHDCND Lào, định nghĩa về cổ phần hóa DNNN cũng được xây dựng tương tự như Việt Nam Cụ thể theo quy định của Nghị định số 45/2002 ngày 09 tháng 05 năm 2002 của Chính phủ về cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, thì: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được hiểu là quá
trình bán một phần hoặc toàn bộ vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước cho các tổ chức, cá nhân ngoài quốc doanh Theo đó, phần vốn định bán sẽ được chia ra làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và tiến hành chào bán ra công chúng [9, tr.20]
Định nghĩa về cổ phần hóa DNNN là một định nghĩa cụ thể hơn của định nghĩa về cổ phần hóa Bởi lẽ, cổ phần hóa có thể được tiến hành ở cả những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, mà cụ thể là việc chuyển từ Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH một thành viên thành Công ty cổ phần
Cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào cũng mang bản chất là một quá trình xã hội hóa DNNN bằng việc bán cổ phần của DNNN cho các tổ chức, cá nhân trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Trang 27Tuy nhiên, thuật ngữ cổ phần hóa DNNN không thể được hiểu đồng nhất với thuật ngữ tư nhân hóa DNNN một cách hoàn toàn Bởi lẽ:
- Tư nhân hóa DNNN có thể được hiểu theo hai nghĩa sau đây:
+ Ở nghĩa rộng: Tư nhân hóa DNNN dưới góc độ kinh tế, đó là việc
giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế của quốc gia; dành
sự điều chỉnh nền kinh tế quốc gia cho cơ chế thị trường và các quy luật của nền kinh tế thị trường
+ Ở nghĩa hẹp: Tư nhân hóa DNNN là quá trình chuyển sở hữu nhà
nước sang sở hữu tư nhân Tức là Nhà nước bán toàn bộ quyền sở hữu của mình trong DNNN cho tư nhân Sau quá trình đó, Nhà nước sẽ không còn là một trong những sở hữu của doanh nghiệp đó
- Sự khác nhau giữa cổ phần hóa DNNN và tư nhân hóa DNNN
+ Trường hợp thứ nhất: Nếu như cổ phần hóa DNNN là việc Nhà nước
bán một phần quyền sở hữu của Nhà nước trong DNNN cho tư nhân Do vậy, sau khi tiến hành cổ phần hóa DNNN, Nhà nước vẫn là một chủ trong số các chủ sở hữu của doanh nghiệp này sau khi hoàn thành cổ phần hóa Sản phẩm của quá trình cổ phần hóa DNNN là một doanh nghiệp với nhiều chủ sở hữu, doanh nghiệp đó vừa thuộc sở hữu Nhà nước, vừa thuộc sở hữu tư nhân Trong khi đó, tư nhân hóa là việc bán toàn bộ quyền sở hữu của Nhà nước trong DNNN cho tư nhân và Nhà nước sẽ không còn là chủ sở hữu của doanh nghiệp đó nữa Do vậy, trong trường hợp này, cổ phần hóa DNNN không thể đồng nhất với tư nhân hóa DNNN
+ Trường hợp thứ hai: Nếu như cổ phần hóa DNNN là việc Nhà nước
bán toàn bộ quyền sở hữu của Nhà nước trong DNNN cho tư nhân Sản phẩm của quá trình này là doanh nghiệp mới se hình thành và thuộc quyền sở hữu tư nhân Do vậy, trong trường hợp này cổ phần hóa DNNN có thể được hiểu đồng nhất với tư nhân hóa DNNN
Như vậy, ở một trường hợp nhất định cổ phần hóa DNNN có thể được hiểu đồng nhất là tư nhân hóa DNNN Do vậy, cổ phần hóa DNNN trong
Trang 28trường hợp này chỉ là một trong những phương thức tư nhân hóa DNNN Bởi
lẽ, tư nhân hóa DNNN có thể được thực hiện thông qua việc: Nhà nước bán DNNN cho một chủ sở hữu tư nhân Sản phẩm của cổ phần hóa DNNN là một Công ty cổ phần, thì sản phẩm của tư nhân hóa DNNN có thể là Công ty
cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên
* Đặc điểm của cổ phần hóa DNNN
Cổ phần hóa DNNN hay chuyển đổi DNNN sang Công ty cổ phần có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, cổ phần hóa DNNN là một quá trình chuyển đổi DNNN
thành Công ty cổ phần thông qua việc bán quyền sở hữu của Nhà nước trong DNNN cho tư nhân, nhưng sản phẩm cuối cùng của quá trình này là một Công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu, trong đó Nhà nước có thể là một trong những chủ sở hữu đó
- Thứ hai, cổ phần hóa DNNN được thực hiện thông qua việc định giá
DNNN, chia nguồn vốn của DNNN thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và tiến hành chào bán rộng rãi ra công chúng Đây là đặc điểm giúp phân biệt cổ phần hóa DNNN với bán DNNN cho tư nhân
- Thứ ba, về bản chất thì cổ phần hóa DNNN là hoạt động nhằm
chuyển quyền sở hữu trong DNNN từ sở hữu một chủ thành sở hữu nhiều chủ Trong đó, thừa nhận các tổ chức, cá nhân ngoài quốc doanh là chủ sở hữu của DNNN sau khi tiến hành cổ phần hóa
Nói tóm lại, cổ phần hóa DNNN là một hoạt động với ý nghĩa là huy động các nguồn lực ở khu vực ngoài quốc doanh cho khu vực kinh tế quốc doanh, cho DNNN để các DNNN hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp vai trò lớn hơn cho nền kinh tế- xã hội của quốc gia, trong đó có nước CHDCND Lào
1.1.2.2 Sự cần thiết của cổ phần hóa DNNN
Dưới góc độ lịch sử, DNNN bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà nền kinh tế của hầu hết các quốc gia bị tàn phá
Trang 29nặng nề sau chiến tranh Ở các nước XHCN, thì DNNN lại càng phát triển mạnh mẽ hơn khi các quốc gia này, trong một thời gian dài luôn coi trọng phát triển khu vực kinh tế nhà nước
Tuy vậy, thực tế tồn tại và phát triển của DNNN ở cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, ở các nước theo chế độ TBCN cũng như ở các nước theo chế độ XHCN thì các DNNN thường hoạt động không hiệu quả, trong khi nguồn NSNN của các quốc gia không chỉ dành riêng cho DNNN Sự hoạt động kém hiệu quả của DNNN ở hầu hết các quốc gia đều xuất phát từ các nguyên nhân sau đây:
- Một là, Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động của DNNN bằng
những mệnh lệnh hành chính, chiến lược phát triển dài hạn Sở dĩ có điều này
là do Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của DNNN, do vậy, các hoạt động của DNNN đều do Nhà nước chi phối, khiến cho DNNN không có tính độc lập, tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Kết quả của cơ chế quản
lý, điều hành DNNN này là DNNN hoàn toàn không có quyền chủ động, lệ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước nên các hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNNN không được vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan [15, tr.10]
- Hai là, DNNN bên cạnh việc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh vì mục đích lợi nhuận thì còn phải thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội do Nhà nước đề ra Đây là hai nhiệm vụ rất lớn mà một mô hình kinh tế không có tính tự chủ, không có sáng tạo như DNNN không thể thực hiện một cách hiệu quả Việc vừa là một tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa là một tổ chức hoạt động với mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội phần nào đã làm khó cho DNNN trong quá trình tồn tại của mình
- Ba là, cơ chế quản lý và sử dụng lao động trong các DNNN cũng là
một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động của DNNN không hiệu quả
Ở các nước XHCN, DNNN hoạt động theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp suốt một thời gian dài Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động trong DNNN Với chế độ lao động và chế độ lương thưởng bao cấp
Trang 30trong DNNN, đã không khuyến khích được người lao động tích cực lao động, sản xuất, nên năng suất lao động trong DNNN thường thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân
- Thứ tư, một trong những nguyên nhân làm cho DNNN ở các nước
XHCN hoạt động kém hiệu quả là do các quốc gia này rất coi trọng khu vực kinh tế nhà nước Từ việc coi trọng này mà số lượng các DNNN gia tăng nhanh, dẫn đến tính cạnh tranh giữa các DNNN gần như không có Điều này
đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của DNNN
Chính những nguyên nhân này đã dẫn đến hệ quả là DNNN làm ăn thua
lỗ và trở thành gánh nặng cho NSNN và nền kinh tế- xã hội ở nhiều quốc gia Nhận thức được những tác hại to lớn từ hoạt động của DNNN thì vào những năm 70 của thế kỷ XX một làn sóng tư nhân hóa, cổ phần hóa DNNN đã hình thành ở rất nhiều nước Làn sóng này hình thành đầu tiên và vận hành một cách hiệu quả ở các nước tư bản phát triển như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Nhật Bản Đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX làn sóng cổ phần hóa DNNN bắt đầu được manh nha thực hiện ở các nước XHCN Với những kết quả bước đầu về cổ phần hóa DNNN ở cả các nước TBCN và ở cả các nước XHCN đã chứng minh cổ phần hóa DNNN là một hoạt động thực sự rất cần thiết
Sau một thời gian dài hoạt động hiệu quả, đặc biệt là hiệu quả trong thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước Lào thì vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, các DNNN ở nước CHDCND Lào bắt đầu gặp phải những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh
và bộc lộ những hạn chế, bất cập ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào Chính điều này, đã làm thay đổi nhận thức của Đảng, Nhà nước Lào về khu vực kinh tế nhà nước, cũng như DNNN Một trong những thay đổi, đó là phải gấp rút xây dựng chương trình, kế hoạch, chiến lược cổ phần hóa DNNN, chứ không phải là loại bỏ DNNN ra khỏi đời sống kinh tế của nước CHDCND Lào
Trang 31Rút kinh nghiệm từ quá trình cải cách kinh tế, đặc biệt là cải tổ DNNN
ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tỏ ra không hiệu quả và là một trong những nguyên nhân dẫn đến chế độ chính trị XHCN đã sụp đổ ở các quốc gia này Đường lối, chủ trương cải cách nền kinh tế- xã hội (đổi mới đất nước) nói chung và cổ phần DNNN nói riêng của Đảng và Nhà nước Lào sẽ được tiến thành theo trình tự, cải cách từng phần để cải cách toàn bộ Riêng đối với
cổ phần hóa DNNN, Đảng và Nhà nước Lào chủ trương tiến hành hoạt động này từng bước Ở giai đoạn đầu, sẽ tiến hành cổ phần hóa những DNNN hoạt động kém hiệu quả, gây thất thoát lớn cho NSNN hoặc là những DNNN hoạt động trong những lĩnh vực không còn là then chốt nhưng lại đang hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước Cổ phần hóa DNNN vẫn phải bảo đảm mục tiêu ổn định về chính trị, tăng trưởng về kinh tế, ổn định về xã hội, cải thiện đời sống nhân dân mà vẫn giữ được vai trò không thể thiếu của DNNN đối với nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào
Bên cạnh đó, việc chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước CHDCND Lào, tức là thừa nhận nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp được đối xử công bằng như nhau Việc chuyển đổi chế độ kinh tế này là cơ sở để khu vực kinh tế tư nhân, cũng như các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế này cơ hội phát triển Thực trạng này đã đòi hỏi Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào nền kinh tế bằng việc sở hữu quá nhiều DNNN trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt Để thực hiện điều này, Nhà nước Lào phải chuyển đổi một số DNNN sang khu vực kinh tế tư nhân, hoạt động theo cơ chế thị trường và giữ lại một số DNNN hoạt động hiệu quả, hoạt động trong lĩnh vực kinh tế mà cần phải có sự tham gia của Nhà nước
Trong thời gian qua, có một số lĩnh vực kinh tế ở nước CHDCND Lào
mà sự tham gia của DNNN là không thực sự cần thiết như bưu chính- viễn thông; bán lẻ, lương thực- thực phẩm… Do đó, Đảng và Nhà nước Lào phải sắp xếp lại những DNNN hoạt động trong các lĩnh vực này bằng các phương
Trang 32thức khác nhau như: Giao lại cho các Bộ, ngành quản lý theo cơ chế thị trường; bán cho cá nhân, tổ chức thuộc khu vực kinh tế tư nhân; cho thuê lại DNNN hoặc cổ phần hóa DNNN…
Trong những phương thức này, thì phương thức cổ phần hóa DNNN tỏ
ra là phương thức tối ưu nhất vì nó vẫn bảo đảm lợi ích kinh tế của Nhà nước, lại vừa bảo đảm lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân mua lại cổ phần của DNNN được tiến hành cổ phần hóa
Tính cấp thiết của cổ phần hóa DNNN tại nước CHDCND Lào còn được thể hiện thông qua những lợi ích mà hoạt động này mang lại cho nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào Cụ thể:
- Thứ nhất, sản phẩm của cuối cùng của hoạt động cổ phần hóa DNNN
là hình thành Công ty cổ phần- một loại hình doanh nghiệp hiện đại, hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường Thông qua Công ty cổ phần, nguồn lực trong xã hội sẽ được huy động để phát triển lĩnh vực kinh tế mà nó tham gia sản xuất, kinh doanh, đóng góp nhiều hơn cho đời sống xã hội nước CHDCND Lào
- Thứ hai, cổ phần hóa DNNN sẽ thay đổi tỷ trọng giữa khu vực kinh tế
nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân Đây thực sự là một cơ hội để các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân có điều kiện tham gia và phát triển trong nhiều lĩnh vực kinh tế ở nước CHDCND Lào Bên cạnh đó, cổ phần hóa DNNN sẽ đưa Nhà nước Lào trở lại với chức năng vốn có trong nền kinh tế là điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng chính sách, pháp luật
- Thứ ba, với điều kiện thực tại của nền kinh tế nước CHDCND Lào, là
nền kinh tế nhỏ, không có những tổ chức, cá nhân có tiềm lực lớn về vốn thì việc lựa chọn phương thức cổ phần hóa DNNN, bằng cách chia nhỏ nguồn vốn điều lệ của DNNN thành những cổ phần bằng nhau sẽ thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa DNNN, mang lại hiệu quả kinh tế cho cả Nhà nước và các tổ chức, cá nhân ngoài quốc doanh
Trang 33- Thứ tư, cổ phần hóa DNNN có bản chất là bán nguồn vốn thuộc sở
hữu Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân, trong đó có người lao động của các DNNN Thông qua hoạt động này, người lao động có cơ hội làm chủ doanh nghiệp mà mình làm việc Từ việc làm chủ đó, người lao động sẽ tích cực làm việc và thông qua đó hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được cải thiện
- Thứ năm, cổ phần hóa DNNN ở CHDCND Lào, bên cạnh việc giảm
dần những thất thoát, gánh nặng cho NSNN do DNNN hoạt động không hiệu quả thì cổ phần hóa DNNN thu hồi lại nguồn vốn mà Nhà nước Lào đã đầu tư vào lĩnh vực kinh tế trọng điểm, góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế quốc dân Tạo lập sự tin tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài khi nước CHDCND Lào đang tích cực mở cửa nền kinh tế quốc dân, chào đón các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước CHDCND Lào
Như vậy, xuất phát từ thực trạng hoạt động của DNNN ở nước CHDCND Lào thời gian qua là kém hiệu quả, cũng như những lợi ích mà cổ phần hóa DNNN mang lại cho DNNN, cho khu vực kinh tế nhà nước, cho nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào, đã cho thấy cổ phần hóa DNNN là thực
sự cần thiết đối với nước CHDCND Lào hiện nay
1.2 Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào
1.2.1 Mục tiêu và nguyên tắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.2.1.1 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Mục tiêu cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào được ghi nhận tại Điều 1 Nghị định số 54/CP ngày 15 tháng 07 năm 2002 của Chính phủ về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 102/CP ngày 11 tháng 10 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một
số quy định của Nghị định số 54/CP ngày 15 tháng 07 năm 2002 về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, với những nội dung chính sau:
Trang 34- Thứ nhất, cơ cấu lại những DNNN mà Nhà nước nhận thấy không cần nắm giữ một phần hoặc không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, việc cơ cấu lại
DNNN cũng nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước trong DNNN, tạo cơ hội thuận lợi cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư vốn vào các lĩnh vực mà trước đây chỉ có DNNN mới được hoạt động, nhưng hiệu quả kinh doanh thấp, không đáp ứng được mong muốn của Đảng, Nhà nước Lào
- Thứ hai, cổ phần hóa DNNN nhằm mục tiêu đa dạng hóa các hình thức sở hữu bằng việc huy động nguồn vốn đầu tư trong xã hội vào các lĩnh vực kinh tế Trước đây, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp thì chỉ bao gồm
sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước CHDCND Lào đang xây dựng là đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế Do vậy, việc cổ phần hóa DNNN là một trong những cách thức nhằm đa dạng hóa các hình thức sở hữu bằng việc huy động nguồn vốn đầu tư trong xã hội đầu tư vào những lĩnh vực kinh tế mà Nhà nước Lào đang nắm giữa quyền sản xuất, kinh doanh
- Thứ ba, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp nơi mình làm việc DNNN ở nước CHDCND Lào là loại hình doanh nghiệp
thuộc sở hữu nhà nước, hay nói cách khác, DNNN thuộc sở hữu toàn dân Việc DNNN không thuộc sở hữu của bất kỳ người lao động nào, nên lợi nhuận hay thua lỗ đều thuộc về Nhà nước Do vậy, người lao động thường không có ý thức quan tâm đến hiệu quả hoạt động của DNNN, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của DNNN, dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ kéo dài của hầu hết các DNNN tại nước CHDCND Lào Việc cổ phần hóa DNNN tại CHDCND Lào, nhằm đạt một trong những mục tiêu quan trọng, đó là tạo điều kiện cho người lao động mua cổ phần và thực sự trở thành những người chủ DNNN Khi thực sự trở thành người chủ của DNNN, người lao động sẽ có ý thức cao hơn trong công
Trang 35việc, đồng nghĩa với đó là doanh nghiệp sẽ hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp tích cực cho nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào [9, tr.30]
Trong sự so sánh với với mục tiêu cổ phần hóa DNNN của Việt Nam quy định trong khoản 1 Điều 1 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18 tháng 7 năm 2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, thì về cơ bản mục tiêu cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào giống với mục tiêu cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam Nhưng cũng có một số khác biệt sau đây:
(i) Một trong những mục tiêu quan trọng trong cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam là nhằm thu hút nhà đầu tư nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính cho DNNN, thì đây không phải là một mục tiêu của cổ phần hóa DNNN
ở nước CHDCND Lào Điều này cũng là dễ hiểu, khi nước CHDCND Lào mới ở giai đoạn đầu tiên của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mới trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm
2013, nên các lĩnh vực mà DNNN đang hoạt động chưa được phép mở cửa hoặc mở cửa rất hạn chế để thu hút nhà đầu tư nước ngoài
(ii) Hơn nữa, cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam nhấn mạnh đến mục tiêu đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của DNNN, thì cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào chỉ đơn thuần là nhằm mục đích đổi mới phương thức quản lý, chưa chú trọng đến đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của DNNN,của nền kinh
tế nước CHDCND Lào [9, tr.31]
Như vậy, về cơ bản thì cổ phần hóa DNNN ở CHDCND Lào đã có được những mục tiêu cụ thể, nhưng cũng còn rất nhiều thiếu sót, đặc biệt là thiếu sót khi chưa thể hiện được ý nghĩa của hoạt động cổ phần hóa DNNN đối với nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào, là nhằm thay đổi bộ mặt nền kinh tế đang được coi là chậm phát triển và một trong những nguyên nhân của
sự chậm phát triển kinh tế- xã hội này là do hầu hết các DNNN ở nước CHDCND Lào đang hoạt động không hiệu quả
Trang 361.2.1.2 Nguyên tắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Là một hoạt động vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, cổ phần hóa DNNN phải được tiến hành theo những nguyên tắc mới có thể mang lại hiệu quả như mong muốn Từ quá trình nghiên cứu, học tập kinh nghiệm
về cổ phần hóa DNNN của một số quốc gia như: Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản… pháp luật về cổ phần hóa DNNN của nước CHDCND Lào
đã xây dựng các nguyên tắc sau đây làm định hướng chỉ đạo cho hoạt động cổ phần hóa DNNN
* Nguyên tắc thứ nhất: Việc lựa chọn DNNN để cổ phần hóa phải dựa trên kế hoạch tổng thể về đổi mới nền kinh tế và chiến lược sắp xếp lại DNNN Nguyên tắc này đòi hỏi, khi lựa chọn DNNN để cổ phần hóa trong
từng giai đoạn phải cân nhắc, DNNN nào cần giữ 100% vốn nhà nước (tức là không tiến hành cổ phần hóa DNNN), đó là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh- quốc phòng; lĩnh vực nguyên, nhiên liệu;… Những DNNN
mà Nhà nước chỉ nắm giữ một phần vốn Những DNNN nào Nhà nước không cần nắm giữ phần vốn Việc thực hiện cổ phần hóa ở các DNNN phải dựa trên
kế hoạch tổng thể về phát triển nền kinh tế- xã hội của nước CHDCND Lào, tức là phải dựa trên cơ sở phát triển của lĩnh vực kinh tế- xã hội đó, theo hướng nó thuộc sở hữu nhà nước hay sở hữu tư nhân được Đảng và Nhà nước Lào vạch ra trong từng thời điểm cụ thể
* Nguyên tắc thứ hai: Cổ phần hóa DNNN là xu thế phát triển tất yếu của khu vực kinh tế nhà nước tại nước CHDCND Lào Cổ phần hóa DNNN là
sự phát triển tất yếu của nền kinh tế- xã hội nước CHDCND Lào, khi chuyển
từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng XHCN, với nhiều hình thức sở hữu Xu thế này là xu thế khách quan, nó đòi hỏi Nhà nước Lào phải có những chính sách, pháp luật cụ thể, cần thiết để quy định về mục tiêu, chương trình, kế hoạch thực hiện cổ phần hóa DNNN Các công việc này phải được thực như một tất yếu khách quan
mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Nhà nước, DNNN hay nhân dân
Trang 37* Nguyên tắc thứ ba: Cổ phần hóa DNNN phải dựa trên các tiêu chí về tài sản, kết quả hoạt động kinh doanh của từng DNNN cụ thể Để đạt được
hiệu quả các trong cổ phần hóa DNNN ở nước CHDCND Lào thì cổ phần hóa DNNN phải được tiến hành dựa trên các tiêu chí về tài sản, kết quả kinh doanh, số lượng lao động trong doanh nghiệp đó,…
* Nguyên tắc thứ tư: Cổ phần hóa DNNN phải xác định rõ nguồn vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp tránh tình trạng không thống kê hết các loại tài sản, vốn hiện có của DNNN, làm thiệt hại cho Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa DNNN Tài sản và nguồn vốn thuộc sở hữu nhà nước trong
DNNN là rất lớn và rất đa dạng, do đó trong quá trình cổ phần hóa phải xác định, thống kê, định giá các tài sản từ tài sản hữu hình và tài sản vô hình, bao gồm nhà xưởng, máy móc, thiết bị, thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, cũng như các khoản nợ, các quỹ phúc lợi, quỹ lương,… Có như vậy thì cổ phần hóa DNNN mới thực sự phát huy được hiệu quả
* Nguyên tắc thứ năm: Phương án cổ phần hóa DNNN, đặc biệt là phương thức bán cổ phần phải được thực hiện một cách công khai, minh bạch, thủ tục, trình tự đơn giản, gọn nhẹ Nguyên tắc này đòi hỏi, khi thực
hiện phương án cổ phần hóa DNNN phải công khai các nội dung để đảm bảo tính đại chúng của hoạt động cổ phần hóa DNNN Ngoài ra, phải bảo đảm thủ tục, trình tự cổ phần hóa DNNN đơn giản, gọn nhẹ để giảm gánh nặng chi phí cho Nhà nước khi tiến hành hoạt động này
* Nguyên tắc thứ sáu: Cổ phần hóa DNNN phải đảm bảo thu hồi nguồn vốn của Nhà nước nhưng vẫn bảo đảm thúc đẩy lĩnh vực kinh tế đó phát triển sau khi cổ phần hóa Khi tiến hành cổ phần hóa DNNN, Nhà nước phải chấp
nhận những phí tổn cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra là thoái vốn Nhà nước trong các DNNN mà vẫn bảo đảm lĩnh vực kinh tế đó vẫn sẽ phát triển sau khi khu vực kinh tế tư nhân tham gia vào lĩnh vực kinh tế đó
Trong sự so sánh với các nguyên tắc về cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam thì về tổng thể các nguyên tắc cổ phần hóa DNNN ở CHDCND Lào có
Trang 38những điểm tương đồng với các nguyên tắc cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam Tuy nhiên, các nguyên tắc này được xây dựng ở mức độ chi tiết không cần thiết nên rất khó hiểu, khó thực hiện Các nguyên tắc cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam được xây dựng rất đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện khi được quy định trong khoản 2 và khoản 3 Điều 1 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, bao gồm: (i) Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp (ii) Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán Sự chi tiết hóa nhưng lại thiếu sót như trên về các nguyên tắc cổ phần hóa DNNN
ở CHDCND Lào hiện nay là do nhận thức về vị trí, vai trò của cổ phần hóa DNNN vẫn chưa thực sự đầy đủ, thống nhất
1.2.2 Đối tượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa DNNN là một hoạt động hết sức phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động nhỏ, nhiều đối tượng và nhiều công việc phải giải quyết Để đạt được hiệu quả thì trước khi tiến hành cổ phần hóa DNNN, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định một cách rõ ràng đối tượng của cổ phần hóa DNNN
Theo Quyết định số 790/BTC ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính nước CHDCND Lào về các doanh nghiệp nhà nước sẽ tiến hành
cổ phần hóa và Quyết định số 135/BTC ngày 20 tháng 11 năm 2011 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Quyết định 790/BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì
cổ phần hóa DNNN ở Lào bao gồm các nhóm đối tượng sau:
- Nhóm thứ nhất: Các doanh nghiệp quan trọng, cần được Nhà nước duy trì hoặc tổ chức lại và tiếp tục đầu tư để nâng cao hiệu quả và mở rộng quy mô, lĩnh vực hoạt động Nhóm này bao gồm các DNNN mà Nhà nước cần
tiếp tục duy trì 100% vốn nhà nước thì không thuộc đối tượng của cổ phần hóa DNNN và Nhà nước vẫn sẽ nắm giữa 100% vốn để bảo đảm tính “độc quyền” trong DNNN đó, lĩnh vực kinh tế đó, để thực hiện những mục tiêu,