1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI TRƯỜNG ĐH KINH TẾ VÀ QTKD ĐHTN

78 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 3,41 MB
File đính kèm do luong su hai long SV ve chat luong DV.rar (3 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, chất lượng đang được quan tâm nhiều trên thế giới. Mọi người bàn luận về chất lượng trong mọi lĩnh vực của xã hội: trong các ngành công nghiệp, quản trị kinh doanh, dịch vụ...và trong lĩnh vực giáo dục. Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong giáo dục đào tạo nói chung và trong các trường đại học nói riêng. Việc nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo đại học nào, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các đơn vị đào tạo. Khi giáo dục đại học là một loại hình dịch vụ điều này đồng nghĩa các cơ sở giáo dục đại học là đơn vị cung cấp dịch vụ. Đối tượng khách hàng chủ yếu của các cơ sở giáo dục đại học là người học, cụ thể ở đây chính là sinh viên. Có thể nói sinh viên đóng nhiều vai trò trong dịch vụ đào tạo đại học, đây là khách hàng quan trọng vì tham gia trực tiếp vào toàn bộ quá trình dịch vụ và cũng là sản phẩm của giáo dục đào tạo. Trong quản lý chất lượng hiện đại, triết lý hướng đến khách hàng đang đóng vai trò chủ đạo. Một trong những yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của các đơn vị kinh doanh nói chung và các đơn vị trong lĩnh vực giáo dục nói riêng là sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ sản phẩm mà đơn vị cung ứng. Chất lượng phải được đánh giá bởi chính những khách hàng đang sử dụng chứ không phải bởi các đơn vị. Như vậy, trong lĩnh vực giáo dục việc đánh giá chất lượng dịch vụ qua ý kiến của khách hàng, trong đó khách hàng trọng tâm người học (sinh viên) đang trở lên hết sức cần thiết. Qua đó, các đơn vị đào tạo nói chung và các trường đại học nói riêng có các nhìn nhận khách quan về những gì mình đã cung cấp, những gì mình kỳ vọng thay vì chỉ quan tâm đến đầu tư cơ sở vật chất, trình độ đầu vào đầu ra và kết quả học tập của sinh viên và các yếu tố khác trong quá trình đào tạo.

Trang 1

đề tài

Hiện nay, chất lượng đang được quan tâm nhiều trên thế giới Mọi người bàn luận về chất lượng trong mọi lĩnh vực của xã hội: trong các ngành công nghiệp, quản trị kinh doanh, dịch vụ và trong lĩnh vực giáo dục Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong giáo dục đào tạo nói chung và trong các trường đại học nói riêng Việc nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo đại học nào, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các đơn vị đào tạo

Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu và xu thế toàn cầu hóa giáo dục đại học cũng không nằm ngoài qui luật đó Toàn cầu hóa giáo dục đại học là đặc điểm nổi bật của tiến trình phát triển giáo dục đại học thế kỉ XXI Tất cả các nền đại học không phân biệt là nền đại học của nước phát triển đang phát triển đều nằm trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do giáo dục

ngày càng lành mạnh và gia tăng theo chiều hướng thu hút của các nước giàu đối với các nước nghèo, của các nước phát triển đối với các nước đang phát triển Trước bối cảnh trên cần xây dựng một nền dịch vụ giáo dục đại học Việt Nam bản lĩnh, truyền thống chủ động hội nhập với khu vực và thế giới

Khi giáo dục đại học là một loại hình dịch vụ điều này đồng nghĩa các cơ

sở giáo dục đại học là đơn vị cung cấp dịch vụ Đối tượng khách hàng chủ yếu của các cơ sở giáo dục đại học là người học, cụ thể ở đây chính là sinh viên Có thể nói sinh viên đóng nhiều vai trò trong dịch vụ đào tạo đại học, đây là khách hàng quan trọng vì tham gia trực tiếp vào toàn bộ quá trình dịch

vụ và cũng là sản phẩm của giáo dục đào tạo

Trang 2

Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục đại học nước ta không ngừng phát triển cả về qui mô và chất lượng Trong hệ thống đại học công lập có: Đại học quốc gia, đại học vùng, trường đại học trọng điểm, đại học đa ngành, chuyên ngành, đại học mở, đại học cộng đồng Trong mạng lưới đại học ngoài công lập có đại học bán công và dân lập Nhiều trường đại học đang được hiện đại hóa từ cơ sở vật chất kĩ thuật đến đội ngũ cán bộ, giáo viên, nội dung chương trình đào tạo,v.v Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, giáo dục đại học nước ta đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và việc nâng cao chất lượng đào tạo

Thách thức gay gắt nhất đối với giáo dục hiện nay là giữa yêu cầu phát triển quy mô và các điều kiện đảm bảo chất lượng Thực tế cho thấy, do điều kiện kinh tế còn khó khăn, ngân sách hàng năm đầu tư cho giáo dục nói chung

và giáo dục đại học nói riêng còn thấp; không đủ trang trải cho những yêu cầu tối cần thiết về các điều kiện đảm bảo như: trường sở, thư viện, phòng thí nghiệm, nhà xưởng thực hành Bên cạnh đó, yêu cầu nhanh chóng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập giáo dục nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như việc đổi mới chương trình nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy đang đòi hỏi có những nỗ lực và quyết tâm cao

Trong quản lý chất lượng hiện đại, triết lý hướng đến khách hàng đang đóng vai trò chủ đạo Một trong những yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của các đơn vị kinh doanh nói chung và các đơn vị trong lĩnh vực giáo dục nói riêng là sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ - sản phẩm mà đơn vị cung ứng Chất lượng phải được đánh giá bởi chính những khách hàng đang sử dụng chứ không phải bởi các đơn vị Như vậy, trong lĩnh vực giáo dục việc đánh giá chất lượng dịch vụ qua ý kiến của khách hàng, trong đó khách hàng trọng tâm - người học (sinh viên) đang trở lên hết sức

Trang 3

cần thiết Qua đó, các đơn vị đào tạo nói chung và các trường đại học nói riêng có các nhìn nhận khách quan về những gì mình đã cung cấp, những gì mình kỳ vọng thay vì chỉ quan tâm đến đầu tư cơ sở vật chất, trình độ đầu vào

- đầu ra và kết quả học tập của sinh viên và các yếu tố khác trong quá trình đào tạo

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn của chất lượng giáo dục

nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng, tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá sự

hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trong giai đoạn xã hội hóa giáo dục, mở cửa và hội nhập, đào tạo đại học được gọi như là một dịch vụ và các đơn vị đào tạo là nhà cung cấp dịch

vụ Trong dịch vụ này, nổi bật vai trò của sinh viên như là một khách hàng sử

viên về dịch vụ của Nhà trường Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho nhà trường

học

- Đo lường chất lượng đào tạo thông qua sử dụng thang đo SERVQUAL

- Đo lường sự tác động của các yếu tố chất lượng đào tạo đến sự hài lòng của sinh viên

- Đo lường sự phân bố khác biệt của các yếu tố chất lượng đào tạo và đo lường sự hài lòng của sinh viên theo các yếu tố nhân khẩu học

Trang 4

đề tài

- -

sinh viên

-

4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Căn cứ vào giới hạn về không gian và thời gian: nghiên cứu này tập trung nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên

Giới hạn về khách thể trong khảo sát nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào sinh viên hệ đại học chính qui năm thứ 2, thứ 3 và năm thứ 4 đang họ

- Phương pháp điều tra khảo sát: nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 bước chính: nghiên cứu sơ bộ/nghiên cứu thử và nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu sơ bộ thực hiện thông qua phương pháp định tính Kỹ thuật

thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này và nó được dùng

để khám phá bổ sung mô hình

Nghiên cứu chính thức thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu

định lượng, dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn sinh viên (phiếu điều tra) Mục đích nghiên cứu này là vừa để sàng lọc các biến quan sát, vừa để xác định thành phần cũng như giá trị và

độ tin cậy của thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết

Trang 5

Việc kiểm định thang đo cùng với cả lý thuyết đề ra bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA; phân tích tương quan, hồi qui.v.v dựa trên kết quả xử lý số liệu thống kê qua phần mềm SPSS version 13.0 và Microsoft Office Excel 2007

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu nghiên cứu các văn bản, tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong giáo dục đại học nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng

- Phương pháp thống kê toán học: Thu thập và sử lý số liệu trong quá trình nghiên cứu thông qua công cụ phân tích là phần mềm Microsoft Office

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

Yếu tố nào trong quá trình đào tạo khiến sinh viên hài lòng hơn các yếu

tố khác?

Nhóm giả thuyết về quan hệ giữa các thành phần chất lượng của hoạt động đào tạo đối với sự hài lòng:

H1: Cơ sở vật chất quan hệ dương với sự hài lòng

H2: Khả năng thực hiện cam kết quan hệ dương với sự hài lòng H3: Sự nhiệt tình của cán bộ và giảng viên quan hệ dương với sự hài lòng

H4: Đội ngũ giảng viên quan hệ dương với sự hài lòng

H5: Sự quan tâm của Nhà trường tới sinh viên quan hệ dương với

sự hài lòng

Trang 6

Nhóm giả thuyết về sự khác biệt trong đánh gía chất lượng đào tạo và sự hài lòng theo các biến nhân khẩu học và đặc trưng cá nhân của sinh viên như: Khoa, Năm học, Học lực, Giới tính

H6: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Khoa

H7: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Năm học

H8: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Học lực

H9: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Giới tính

Giả thuyết H6; H7; H8; H9 gồm có giả thuyết nhánh tương ứng việc kiểm định sự khác biệt của 5 thành phần chất lượng đào tạo:

H10: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Khoa

H11: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Năm học

H12: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Học lực

H13: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Giới tính

7 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh thông qua sự hài lòng của sinh viên

Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đại học hệ chính qui trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Nghiên cứu lựa chọn trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh là nơi nghiên cứu chính thức cho luận văn, đây là nơi mà học viên cao học đang công tác Bên cạnh đó, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh là đơn

vị đào tạo phục vụ chủ yếu cho phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trung

du, miền núi Bắc bộ - một trong những vùng nghèo nhất cả nước nhưng lại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, về chính trị-xã hội,

về kinh tế và môi trường đối với sự phát triển bền vững của đất nước

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Bối cảnh nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Kết luận và Giải pháp

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

(ISO) – ISO 9000:2000 “Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu” [12]

1.

, nguyên n

[17]

: chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc); là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không sai sót);

là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); là sự đáng giá

về đồng tiền (trên khía cạnh đánh giá để đầu tư); là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác)

,v.v [23]

, Glen A.J [16]

a Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”

Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: nguồn lực bằng chất lượng

Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được SV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là sẽ có chất lượng cao Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa

Trang 10

dạng và liên tục trong một thời gian dài trong trường đại học (3 đến 6 năm) Thực tế theo cách đánh giá này quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho SV một chương trình đào tạo hiệu quả

b Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”

Một quan điểm khác về chất lượng GD ĐH cho rằng “đầu ra” của GD

ĐH có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo

“Đầu ra” chính là sản phẩm của GD ĐH được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của SV tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Có 2 vấn đề cơ bản có liên quan đến cách tiếp cận chất lượng GD ĐH này: Thứ nhất, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức Trong thực tế mối liên hệ này có thực cho dù đó không phải là quan hệ nhân quả Một trường có thể tiếp nhận những SV xuất sắc, không có nghĩa là SV của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Thứ hai, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau

c Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”

Quan điểm này cho rằng một trường đại học có tác động tích cực tới SV khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và cá nhân của SV

“Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của

“đầu vào”, kết quả thu được mà trường đại học đã đem lại cho SV được đánh giá là CLGD ĐH Nếu quan điểm về CLDG ĐH như vậy thì khó có thể thiết

kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Thêm vào đó,

Trang 11

các trường trong hệ thống GD ĐH rất đa dạng, không thể dùng một bộ công

cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học Vả lại, cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định cũng sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường đại học

d Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao

Điểm yếu của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường bị chính trị hóa Hơn nữa, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

e Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hóa tổ chức riêng”

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được

“Văn hóa tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình cải tiến liên tục chất lượng Vì vậy, một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hóa tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng

và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp

và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực GD ĐH

Trang 12

g Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”

Quan điểm này về CLGD ĐH xem trọng quá trình bên trong trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lí không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường đại học có thu thập đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lí và hiệu quả không Quan điểm này cho rằng nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể

có được các quyết định chính xác, và chất lượng GD ĐH được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn “đầu vào” và “đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ

Điểm yếu của các đánh giá này là sẽ khó lí giải những trường hợp khi một cơ sở đại học có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể

có những quyết định chưa phải là tối ưu

Tổ chức Đảm bảo chất lượng Giáo dục Đại học quốc tế [5]

Tổ chức Đảm bảo chất lượng GD ĐH quốc tế (INQAHE – International Network of Quality Assurance in Higher Education) đã đưa ra 2 định nghĩa về

: (i) Tuân theo các chuẩn qui định; (ii) Đạt được các mục tiêu đề ra

Theo định nghĩa thứ nhất, cần có Bộ tiêu chí chuẩn cho GD ĐH về tất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó Theo định nghĩa thứ hai, khi không có bộ tiêu chí chuẩn việc thẩm định chất lượng GD ĐH sẽ được dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó Như vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng Bộ tiêu chí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã qui định; hoặc đánh giá mức độ thực

Trang 13

hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, các trường đại học sẽ tự nhận xem đạt mức độ 1 hay mức độ 2 Cần chú ý là các tiêu chí hay các chuẩn phải được lựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm định

a Chất lượng được hiểu theo quan niệm truyền thống

Một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra và hoàn thiện bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền Sản phẩm đó nổi tiếng và tôn vinh thêm cho người sở hữu nó Với khái niệm về chất lượng như vậy khó có thể dùng để đánh giá chất lượng giảng dạy đại học nói riêng và toàn bộ hệ thống giáo dục đào tạo nói chung Chất lượng với nghĩa này có thể tương đồng với chất lượng đào tạo của các trường đại học danh tiếng thế giới như Harvard, Oxford, Cambridge Nếu mỗi trường đại học được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như đã sử dụng cho các trường trên thì đa số các trường đại học còn lại đều là những trường chất lượng kém

b Chất lượng là sự phù hợp giữa các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)

Cách tiếp cận này xuất phát từ thực tế kiểm soát chất lượng trong các ngành sản xuất dịch vụ Trong bối cảnh này tiêu chuẩn được xem như là công

cụ đo lường hoặc bộ thước đo, một phương tiện trung gian để miêu tả đặc tính cần có của một sản phẩm hay dịch vụ Trong GD ĐH cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường đại học muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học và phấn đấu theo các tiêu chuẩn đó Nhược điểm của cách tiếp cận này là không nêu rõ các tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở nào Trong một

số trường hợp tiêu chuẩn trong GD ĐH được hiểu là những thành tựu của SV khi tốt nghiệp là chất lượng trong GD ĐH Tức là được sử dụng để nói đến đầu ra của GD ĐH với ý nghĩa là trình độ, kiến thức, kỹ năng đạt được của

Trang 14

SV sau 4 - 5 năm học tập tại trường

c Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao động được đào tạo)

Trong hai thập kỉ gần đây, người ta không chỉ nói tới việc sản phẩm phải phù hợp với các thông số kĩ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó Vì vậy, khi thiết kế một sản phẩm hay dịch vụ yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có được những đặc tính mà khách hàng mong muốn và với giá cả

mà họ sẽ hài lòng trả

Với GD ĐH, định nghĩa này gây ra một số khó khăn trong việc xác định khái niệm khách hàng Ai là khách hàng trong GD ĐH? SV (người sử dụng các dịch vụ thư viện, ký túc xá, phòng thí nghiệm ), chính phủ, các nhà doanh nghiệp, cán bộ giảng dạy hay phụ huynh Hơn nữa khi xác định SV là khách hàng đầu tiên trong GD ĐH, lại nảy sinh thêm một khó khăn mới là liệu SV có khả năng xác định được nhu cầu đích thực, dài hạn của họ hay không? Liệu các nhà quản lí có phân biệt được đâu là nhu cầu còn đâu là ý thích nhất thời của họ?

d Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường học

Theo cách hiểu này, một trường đại học có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ sứ mạng (mục đích) của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và năng suất nhất Cách tiếp cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu đào tạo của trường mình Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá

hệ thống đảm bảo chất lượng của trường đó có khả năng giúp nhà trường hoàn thành sứ mạng một cách có hiệu quả và năng suất nhất không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có nguồn lực hạn chế, giúp các nhà

Trang 15

quản lí có được cơ chế sử dụng hợp lí, an toàn những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định trước một cách có hiệu quả nhất

1.1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng

Trang 16

ể [27]

T

t

ong :

Trang 18

Dịch vụ kỳ vọng

Dịch vụ cảm nhận

Thông tin đến khách hàng

Dịch vụ chuyển giao

Chuyển đổi cảm nhận thành tiêu chí chất lượng

Nhận thức về kỳ vọng của khách hàng

Hình 1.1 Mô hình chất lƣợng dịch vụ của Parasuraman et al (1988)

Khoảng cách [1] là sai biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về kỳ vọng đó Sự diễn dịch kỳ vọng của khách hàng khi không hiểu thấu đáo các đặc trưng chất lượng dịch vụ, đặc trưng khách hàng tạo ra sự sai biệt này

Khoảng cách [2] được tạo ra khi nhà cung cấp gặp các khó khăn, trở ngại khách quan lẫn chủ quan khi chuyển các kỳ vọng được cảm nhận sang các tiêu chí chất lượng cụ thể và chuyển giao chúng đúng như kỳ vọng Các tiêu chí này trở thành các thông tin tiếp thị đến khách hàng

Khoảng cách [3] hình thành khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng không đúng các tiêu chí đã định Vai trò nhân viên giao dịch trực tiếp rất quan trọng trong tạo ra chất lượng dịch vụ

Khoảng cách [4] là sai biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng nhưng có thể

Trang 19

làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận khi khách hàng không nhận đúng những gì đã cam kết

Khoảng cách [5] hình thành từ sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng kỳ vọng khi khách hàng tiêu thụ dịch vụ Khoảng cách này phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước

Dựa vào mô hình này, Parasuraman và các cộng sự đã giới thiệu thang

đo SERVQUAL gồm 10 thành phần:

(1) Phương tiện hữ

(2) Tin cậ

(3) Đáp ứ

(4) Năng lực phục vụ

(5) Tiếp cậ

Trang 20

(9) An toàn liên quan đ

(10) Thấu hiể

Thang đo này bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên thang đo cho thấy có sự phức tạp trong đo lường, không đạt giá trị phân biệt trong một số trường hợp Do đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra thang đo SERVQUAL với 5 thành phần, gồm có:

( 1 ) Phương tiện hữu hình,

(2) Tin cậy

(3) Đáp ứng

(4) Năng lực phục vụ thể hiện n

(5) Cảm thông

Trang 21

đo đạt độ tin cậy và giá trị tốt với 5 thành phần phân biệt như lý thuyết đưa ra; tất cả các khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của 5 thành phần đều âm và

có ý nghĩa thống kê, điều này có nghĩa là UNITEC còn nhiều việc phải làm để nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo Trong khi chất lượng kỳ vọng của sinh viên trong nước và bản xứ khác nhau không đáng kể, thì chất lượng cảm nhận của sinh viên nước ngoài thấp hơn rất nhiều Do đó, sinh viên nước ngoài có khoảng cách cảm nhận - kỳ vọng lớn hơn, trong đó, khoảng cách đáng kể nhất

là thuộc về các thành phần Cảm thông, Năng lực phục vụ và Khả năng đáp ứng [24]

Cũng sử dụng thang đo SERVQUAL, Chua (2004) đã nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo đại học theo nhiều quan điểm khác nhau: sinh viên, phụ huynh, giảng viên và người sử dụng lao động Kết quả cho thấy trong hầu hết các thành phần của SERVQUAL, sinh viên, phụ huynh và người sử dụng lao động đều kỳ vọng cao hơn những gì họ nhận được Riêng các giảng viên,

sự khác biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng xuất hiện ở hai thành phần Phương tiện hữu hình và Năng lực phục vụ Tuy nhiên, Chua sử dụng cỡ mẫu không lớn lắm, cỡ mẫu của Sinh viên: 35; Phụ huynh: 27; Giảng viên: 10; Người sử dụng lao động: 12 [14]

Ở một nghiên cứu khác cỡ mẫu lớn hơn nhiều (Kích thước mẫu 500) Snipes, R.L & N.Thomson (1999) tìm hiểu các nhân tố tác động đến chất lượng cảm nhận trong đào tạo đại học của sinh viên qua điều tra ý kiến sinh viên 6 trường đại học có qui mô vừa và nhỏ trong 3 bang của Hoa Kỳ Giảng viên các trường cũng được mời tham gia Về thang đo, các nhà nghiên cứu đã hiệu chỉnh SERVQUAL thành hai bộ phận: kỳ vọng và cảm nhận thành một thang duy nhất bằng cách đưa các câu hỏi về chất lượng có được thấp hơn hay cao hơn mong đợi Thang đo này đã được một số nhà nghiên cứu trước đó sử dụng Các biến kiểm soát chủ yếu trong nghiên cứu là các biến nhân khẩu

Trang 22

học: kinh nghiệm học tập, kết quả học tập và cảm nhận của sinh viên về sự đánh giá công bẳng của nhà trường; khối lượng công việc; kinh nghiện của giảng viên [25]

Kết quả phân tích dữ liệu hồi đáp cho thấy từ 5 thành phần lý thuyết của SERVQUAL chỉ còn 3 thành phần đủ tin cậy và có giá trị phân biệt: (1) Cảm thông; (2) Năng lực đáp ứng và Tin cậy; (3) Phương tiện hữu hình (môi trường học tập, làm việc) Sự cảm thông và quan tâm của giảng viên đến sinh viên là yếu tố quan trọng nhất cho đánh giá chất lượng Ngoài ra, các biến kiểm soát sau là có ý nghĩa trong tác động đến chất lượng dịch vụ cảm nhận của sinh viên: (1) Giới tính; (2) năm học tập của sinh viên tại nhà trường; (3) mức công bằng trong đánh giá của giảng viên

Nghiên cứu của Nguyễn Thành Long tại Đại học An Giang sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá chất lượng đào tạo Nguyễn Thành Long đã

sử dụng biến thể của thang đo SERVQUAL là SERVPERF đánh giá chất lượng đào tạo qua đánh giá của sinh viên Đại học An Giang Trong đó hoạt động đào tạo được xem như một dịch vụ dưới đánh giá của khách hàng là sinh viên Kết quả nghiên cứu cho thấy: thang đo SERVPERF vẫn đa hướng nhưng có sự biến thái các thành phần từ đặc trưng dịch vụ sang các thành tố cung ứng dịch vụ; các yếu tố giảng viên, cơ sở vật chất và sự tin cậy vào nhà trường là ba yếu tố quan trọng nhất của chất lượng đào tạo Nghiên cứu của Nguyễn Thành Long có cỡ mẫu từ 250 đến 300 với khoảng 600 hồi đáp hợp

lệ, trong đó, phân bố của mẫu theo năm học: thứ II là 41%, năm thứ III là 41% và năm thứ IV là 18% Các kết quả đạt được của nghiên cứu: Một là, với một dịch vụ phức tạp như đào tạo đại học, khách hàng (sinh viên) được cung ứng gói dịch vụ trong thời gian dài và bởi nhiều đối tượng (bộ phận) khác nhau, hiện tượng đánh giá chất lượng dịch vụ theo đối tượng là có thể xảy ra Hai là, việc đánh giá theo cấu trúc không bác bỏ hay làm giảm ý nghĩa lý

Trang 23

thuyết của chất lượng dịch vụ cũng như của thang đo SERVPERF vì có thể thấy, các biến theo thành phần đặc trưng vẫn hiện diện trong các thành phần đối tượng mới Nghiên cứu đã chỉ ra, giảng viên là thành phần quan trọng nhất tác động đến sự hài lòng của sinh viên Sinh viên cũng có cách nhìn giảng viên khá toàn diện Hai thành phần có tác động đáng kể tiếp theo là cơ

sở vật chất và tự tin cậy vào nhà trường Hạn chế của nghiên cứu: Một là, việc lấy mẫu ngẫu nhiên theo đơn vị lớp ở các khoa có thể làm cho tính đại diện của kết quả không cao Hai là, Đại học An Giang là một trường trẻ, có những đặc trưng hình thành và hoạt động riêng biệt Sinh viên cũng ít có cơ hội tham khảo một trường đại học lân cận Việc mở rộng kết quả nghiên cứu cho các trường đại học khác là không đủ tin cậy Cần có thêm các nghiên cứu có thể khẳng định xu hướng biến thể SERVPERF để tìm ra thang đo chất lượng giáo dục đào tạo đại học phù hợp nhất [8]

Như vậy, việc đo lường và đánh gía chất lượng đào tạo tại các đơn vị đào tạo nói chung và các trường đại học nói riêng còn ít Việc đo lường sự hài

dịch vụ Trong giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng mới được quan tâm trong những năm gần đây nhưng đánh giá còn nhiều bất cập chưa đánh giá đúng với thực tế của từng đơn vị Việc tiến hành nghiên cứu đề tài này đóng góp một phần nhỏ vào công tác đo lường và đảm bảo chất lượng đào tạo; làm

rõ những khái niệm về chất lượng và chất lượng đào tạo; xác định và đánh giá những yếu tố trong chất lượng đào tạo có tác động như thế nào đến sự hài lòng của sinh viên; đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo

1.

1.2.1 Mô hình nghiên cứu

Trang 24

Khả năng thực hiện cam kết

Cơ sở vật chất Sự quan tâm của Nhà trường tới

sinh viên

Đội ngũ giảng viên

Sự nhiệt tình của CB&GV

SỰ HÀI LÒNG

Trong đo lường dịch vụ đào tạo đại học, các nghiên cứu còn chưa nhiều

và chưa quan tâm đáng kể đến khái niệm sự hài lòng của khách hàng Để thực hiện mục tiêu đặt ra, nghiên cứu này sẽ sử dụng thang đo SERVQUAL thông qua năm thành phần chất lượng dịch vụ và được mô hình hóa như sau:

Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu sự hài lòng về chất lượng đào tạo

- Cơ sở vật chất: Sự thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, giảng

đường, thư viện

- Khả năng thực hiện cam kết: Sự phù hợp và chính xác những gì đã

cam kết, hứa hẹn về điều kiện học tập, chính sách trong học tập và chương trình đào tạo của Nhà trường

- Sự nhiệt tình của cán bộ và giảng viên: mức độ sẵn sàng đáp ứng và

phục vụ sinh viên một cách kịp thời

- Đội ngũ giảng viên: Kiến thức, chuyên môn và phong cách của giảng

viên, khả năng làm cho sinh viên tin tưởng

Trang 25

- Sự quan tâm của Nhà trường tới sinh viên: thể hiện sự ân cần, quan

tâm đến sinh viên trong quá trình đào tạo

1.2.2 Các giả thuyết

Nhóm giả thuyết về quan hệ giữa các thành phần chất lượng của hoạt động đào tạo đối với sự hài lòng:

H1: Cơ sở vật chất quan hệ dương với sự hài lòng

H2: Khả năng thực hiện cam kết quan hệ dương với sự hài lòng H3: Sự nhiệt tình của cán bộ và giảng viên quan hệ dương với sự hài lòng

H4: Đội ngũ giảng viên quan hệ dương với sự hài lòng

H5: Sự quan tâm của Nhà trường tới sinh viên quan hệ dương với

sự hài lòng

Nhóm giả thuyết về sự khác biệt trong đánh gía chất lượng đào tạo và sự hài lòng theo các biến nhân khẩu học và đặc trưng cá nhân của sinh viên như: Khoa, Năm học, Học lực, Giới tính

H6: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Khoa

H7: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Năm học

H8: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Học lực

H9: Có sự khác biệt về đánh giá chất lượng theo Giới tính

Giả thuyết H6; H7; H8; H9 gồm có giả thuyết nhánh tương ứng việc kiểm định sự khác biệt của 5 thành phần chất lượng đào tạo:

H10: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Khoa

H11: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Năm học

H12: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Học lực

H13: Có sự khác biệt về mức độ hài lòng theo Giới tính

Trang 26

– Đại học Thái Nguyên

Trang 27

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển Trường Đại học Kinh tế

và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh là một đơn vị thành viên thuộc Đại học Thái Nguyên - một đại học vùng, được Đảng và Chính phủ quy hoạch thành cơ sở đào tạo đại học trọng điểm quốc gia Trường được thành lập ngày 2 tháng 8 năm 2004, trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại các đơn

vị đào tạo ngành kinh tế và quản trị kinh doanh sẵn có trong Đại học Thái Nguyên Trường có nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học và trên đại học, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh

và quản lý cho cả nước và nhất là cho các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ

Qua 5 năm xây dựng và phát triển, Nhà t

, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế Hiện nay, Nhà trường có trên 7000 sinh viên thuộc 9 chuyên ngành đào tạo ở bậc đại học và gần 150 học viên cao học, cùng 11 nghiên cứu sinh Kinh tế Trong số gần 200 giảng viên, trên 60%

đã đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, trên 20% có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh Chất lượng đào tạo của Nhà trường đã đáp ứng được nhu cầu xã hội, bởi việc tích cực đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy, ban hành chuẩn đầu ra và các biện pháp cụ thể để hỗ trợ sinh viên học tập

Trường là một đơn vị có thế mạnh và đã có những thành tích ban đầu đầy ấn tượng trong hợp tác quốc tế Trường đã ký được 21 biên bản thoả thuận về hợp tác với các tổ chức quốc tế và các trường đại học nước ngoài,

Trang 28

đang triển khai 4 dự án quốc tế về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, 01 dự án quốc tế về liên kết đào tạo cử nhân quản trị kinh doanh tại trường, đã tổ chức được 7 hội thảo khoa học quốc tế và đã cử được 20 giảng viên trẻ đi học thạc sĩ, tiến sĩ nước ngoài

Nhà trường coi quốc tế hoá là một con đường cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng đạt chuẩn quốc tế Đào tạo giảng viên về chuyên môn, ngoại ngữ và đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy được coi là hai giải pháp chiến lược quan trọng nhất Nhà trường đang tích cực và chủ động tìm kiếm các nguồn học bổng, các dự án đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, giảng viên, các chương trình liên kết đào tạo quốc tế sử dụng giáo trình quốc tế với sự tham gia giảng dạy của các giảng viên nước ngoài, các dự án nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong bối cảnh hội nhập

2.1.2.1.Thuận lợi

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh là một trường thành viên của Đại học Thái Nguyên - một Đại học vùng, một trong ba đại học lớn nhất cả nước, đã được Đảng và Chính phủ quy hoạch phát triển thành đại học trọng điểm quốc gia nên có nhiều cơ hội và được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ

Là một trường đại học phục vụ chủ yếu cho phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ - một trong những vùng nghèo nhất cả nước nhưng lại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, về chính trị-xã hội, về kinh tế và môi trường đối với sự phát triển bền vững của đất nước, nên Nhà trường sẽ nhận được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, của các Bộ ngành và nhân dân cả nước

Là một thành viên mới của Đại học Thái Nguyên, Nhà trường đang dùng chung các cơ sở hạ tầng của Đại học và luôn nhận được sự chỉ đạo sát

Trang 29

sao và sự quan tâm hỗ trợ của Đại học, nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đơn vị thành viên khác, đặc biệt là Trường Đại học Kỹ Thuật Công nghiệp và Trường Đại học Nông Lâm

Được kế thừa các cơ sở liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và mạng lưới cựu sinh viên kinh tế từ Trường Đại học Nông Lâm và Trường Đại học Kỹ Thuật Công nghiệp

Đội ngũ giảng viên đa số trẻ, năng động, đang rất quyết tâm và tích cực học tập, có thể được đào tạo tốt để sớm trở thành các chuyên gia giỏi

Kế thừa đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm, có trình độ cao làm nòng cốt, trong đó có một số được đào tạo bài bản ở nước ngoài có ngoại ngữ giỏi,

có kiến thức cập nhật, có khả năng hội nhập quốc tế tốt

Đội ngũ lãnh đạo trẻ, năng động, có trách nhiệm và có quyết tâm cao Nhà trường đã được Tỉnh cấp một diện tích rộng 20,6 ha Năm 2009 đã bắt đầu xây dựng để dần hình thành nên một khuôn viên mới to đẹp và hiện đại đáp ứng được yêu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường và

có thể bắt đầu chuyển từng phần về nơi mới trong năm 2010, và chuyển hoàn toàn về khuôn viên mới trong giai đoạn 2011-2013

Trong năm năm đầu (2004-2009), Nhà trường đã bắt đầu ổn định về tổ chức và cán bộ; xây dựng được một hệ thống các văn bản quy định về hoạt động nội bộ; các mặt công tác đã bắt đầu đi vào nề nếp; chất lượng đào tạo được đảm bảo; có những thành công ban đầu nổi bật trong hợp tác quốc tế và đào tạo đội ngũ cán bộ giảng viên theo hướng đạt chuẩn quốc tế, bước đầu xây dựng được uy tín của Nhà trường đối với xã hội, đã tạo ra được một mạng lưới các đơn vị đối tác trong và ngoài nước bao gồm các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, các hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội và các địa phương

Trang 30

2.1.2.2 Khó khăn

Tên tuổi của nhà trường chưa được biết đến một cách thật rộng rãi với

uy tín cao trong và ngoài nước nên chưa trở thành một thương hiệu mạnh

Sau 5 năm thành lập, từ hơn 80 cán bộ viên chức, đến nay, đội ngũ giáo viên trình độ tuy đã lớn mạnh về số lượng với 280 cán bộ viên chức, trong đó

có 200 giảng viên nhưng đội ngũ cán bộ trình độ cao còn mỏng, mới có 4 PGS, 14 tiến sĩ; 95 thạc sĩ Phần lớn giảng viên còn rất trẻ, chưa tích luỹ được nhiều kinh nghiệm

Đội ngũ cán bộ các phòng ban nhìn chung đều còn rất trẻ, phần lớn chưa có nhiều kinh nghiệm và chưa có tính chuyên nghiệp cao trong công tác

Đội ngũ cán bộ quản lý của Trường chưa có nhiều kinh nghiệm, nề nếp quản lý một số mặt chưa được bài bản như ở một số trường đại học tiên tiến

Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, giảng đường và ký túc xá còn phải đi mượn; trang thiết bị phục vụ cho đào tạo, thư viện còn nghèo

Nguồn lực tài chính còn rất hạn hẹp ảnh hưởng đến việc ứng dụng phương pháp dạy và học mới, đến khả năng đầu tư cho đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý và tăng cường cơ sở vật chất

Một bộ phận sinh viên ra trường chưa đáp ứng được ngay yêu cầu của

xã hội, đặc biệt là yêu cầu của các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học và kỹ năng công tác

Chưa tạo ra được nhiều mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả với các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, các địa phương, các bộ ngành hữu quan, các cựu sinh viên và các tổ chức quốc tế

2.1.3 Cơ hội và thách thức trong quá trình xây dựng, phát triển của trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

2.1.3.1 Cơ hội

Trang 31

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển của kinh tế tri thức, làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp đào tạo, đồng thời tạo cơ hội cho Nhà trường dễ dàng tiếp cận được các thành tựu của tri thức nhân loại

Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu của thời đại Đất nước hội nhập ngày càng sâu, rộng vào cộng đồng quốc tế Các chính sách "mở cửa" của nhà nước ngày càng thông thoáng, tạo cơ hội lớn cho nhà trường "đi tắt, đón đầu"

để sớm có các chương trình, giáo trình tiên tiến và sớm đào tạo được các chuyên gia trẻ đẳng cấp quốc tế

Là một trường đại học mới thành lập ở một vùng khó khăn vào loại nhất cả nước, lại là thành viên của một đại học được quy hoạch trọng điểm quốc gia, Nhà trường sẽ được Nhà nước đầu tư và các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế quan tâm giúp đỡ

Chủ trương xã hội hoá giáo dục và tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nhà nước đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo đang mở ra cho Nhà trường nhiều cơ hội mới

Đất nước ta đang chuyển đổi nhanh chóng và toàn diện sang một nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế Nhu cầu đào tạo các cử nhân kinh tế, kinh doanh và quản lý đang bùng nổ để đáp ứng các đòi hỏi của một nền kinh tế chuyển đổi đang tăng trưởng nhanh, tạo ra cho Nhà trường cơ hội tốt để mở rộng nhanh chóng quy mô đào tạo

2.1.3.2 Thách thức

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới có thể làm cho khoảng cách về kinh tế và tri thức khoa học - công nghệ giữa Việt Nam và thế giới ngày càng lớn, dẫn đến nguy cơ nước ta, trong đó có các trường đại học bị tụt hậu ngày càng xa

Trang 32

Quá trình toàn cầu hoá trên thế giới đang dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các nền kinh tế, giữa các trường đại học trong nước với các trường đại học nước ngoài, giữa các trường đại học trong nước với các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam, đòi hỏi Nhà trường phải có chính sách thu hút nhân tài, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập quốc tế và chống chảy máu chất xám

Các khoa học về kinh tế, quản lý và kinh doanh ở nước ta đang ở trong quá trình chuyển đổi, đã thay đổi rất nhanh chóng nhưng vẫn còn tụt hậu rất nhiều so với thế giới Các cơ chế quản lý kinh tế, kinh doanh, quản lý xã hội còn có nhiều bất cập Điều đó đang đòi hỏi các trường đại học kinh tế, kinh doanh và quản lý, trong đó có trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh phải đổi mới nhanh chóng chất lượng đội ngũ và nội dung chương trình, phương pháp đào tạo

Các tỉnh miền núi và trung du Bắc bộ - địa bàn phục vụ chủ yếu của Nhà trường đang là những địa phương chậm phát triển, là những vùng nghèo nhất cả nước với mặt bằng dân trí thấp, chất lượng giáo dục phổ thông yếu Điều đó, đòi hỏi Nhà trường có những bước đi và giải pháp phù hợp với thực

tế của khu vực

2.1.4 Sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu của trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Sứ mạng của Nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học và

trên đại học với chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ

và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và quản lý nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở miền núi và trung

du Bắc bộ

Tầm nhìn của Nhà trường trong giai đoạn mới là:

Trang 33

- Đến năm 2010, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên sẽ được biết đến một cách rộng rãi trong và ngoài nước như một trường đại học trẻ, có uy tín, năng động và chủ động hội nhập, có quyết tâm cao, giàu tiềm năng phát triển, và có một tương lai tươi sáng

- Vào năm 2015, Trường sẽ trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý và kinh doanh có uy tín cao, nhiều mặt ngang tầm với các trường đại học hàng đầu ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

- Vào năm 2025, Trường sẽ trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý và kinh doanh có uy tín cao, nhiều mặt ngang tầm với các trường đại học tiên tiến trong cả nước và trong khu vực ASEAN

Với vị trí là một trường đại học phục vụ chủ yếu cho phát triển kinh tế -

xã hội của các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ, đồng thời giữ một vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, về chính trị-xã hội, về kinh tế và môi trường đối với sự phát triển bền vững của đất nước, nên Nhà trường sẽ nhận được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, của các Bộ ngành và nhân dân cả nước Để đáp ứng được với yêu cầu trong giai đoạn mới Nhà trường đã xây dựng mục tiêu phát triển theo từng giai đoạn từ 2010 đến 2025, cụ thể:

- Đến năm 2010:

Phát triển đội ngũ: Quy mô giảng viên của Nhà trường, sẽ là 220 giảng viên với 60% có trình độ sau đại học, trong đó, có 7 % là tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư; 53% là thạc sĩ; 20% sử dụng tốt 01 ngoại ngữ cho giảng dạy và nghiên cứu

Số chuyên ngành đào tạo: Nhà trường sẽ đào tạo 01 chuyên ngành bậc tiến sĩ; 03 chuyên ngành bậc thạc sĩ và 12 chuyên ngành bậc đại học

Trang 34

Quy mô đào tạo: Quy mô đào tạo của Nhà trường sẽ là: 20 NCS; 200 học viên cao học và 8000 sinh viên đại học

- Đến năm 2015:

Phát triển đội ngũ: Quy mô giảng viên của Nhà trường đến năm 2015 sẽ

là 350 giảng viên; với 70% có trình độ sau đại học; trong đó có 17% tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư ; 53% thạc sĩ; 80% sử dụng tốt 01 ngoại ngữ cho giảng dạy và nghiên cứu

Số chuyên ngành đào tạo: Đến năm 2015, Nhà trường sẽ đào tạo 03 chuyên ngành bậc tiến sĩ; 08 chuyên ngành bậc thạc sĩ và 20 chuyên ngành bậc đại học

Quy mô đào tạo: Đến năm 2015 quy mô đào tạo của Nhà trường sẽ là:

50 nghiên cứu sinh; 300 thạc sĩ và 12000 sinh viên đại học

Chuẩn chất lượng đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp đại học từ năm 2013 đến 2015 phải có:

• Kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp phải đảm bảo chất lượng

và cập nhật quốc tế;

• Ngoại ngữ: Tiếng Anh phải đạt ở trình độ Intermediate, có chứng chỉ quốc tế TOEIC 450 điểm do IIG cấp hoặc chứng chỉ quốc tế tương đương khác

• Tin học: Phải đạt trình độ Intermediate, có chứng chỉ quốc tế do Microsoft IT Academy cấp hoặc chứng chỉ quốc tế tương đương khác

- Mục tiêu đến năm 2020:

Phát triển đội ngũ: Quy mô giảng viên của Nhà trường đến năm 2025

sẽ là 450 giảng viên với 80% có trình độ sau đại học, trong đó có 35% là tiến

sĩ, giáo sư, phó giáo sư; 45% là thạc sĩ; 100% sử dụng tốt 01 ngoại ngữ cho giảng dạy và nghiên cứu

Trang 35

Số lượng chuyên ngành đào tạo: Đến năm 2020, Nhà trường sẽ đào tạo

5 chuyên ngành bậc tiến sĩ; 14 chuyên ngành bậc thạc sĩ và 25 chuyên ngành bậc đại học

Quy mô đào tạo: Đến năm 2020, quy mô đào tạo của Nhà trường sẽ là:

100 NCS; 500 học viên cao học và 14.000 sinh viên đại học

Chuẩn chất lượng đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp đại học từ 2016 - đến

• Tin học: Phải đạt trình độ Upper Intermediate, có chứng chỉ quốc tế

do Microsoft IT Academy cấp hoặc chứng chỉ quốc tế tương đương khác

- Mục tiêu đến 2025:

Phát triển đội ngũ: Quy mô giảng viên của Nhà trường đến năm 2025

sẽ là 600 giảng viên với 90% có trình độ sau đại học , trong đó có 50% là tiến

sĩ, giáo sư, phó giáo sư; 40% là thạc sĩ; 100% giảng viên thành thạo Tiếng Anh

Số lượng chuyên ngành đào tạo: Đến năm 2025 Nhà trường sẽ đào tạo

10 chuyên ngành bậc tiến sĩ; 20 chuyên ngành bậc thạc sĩ và 30 chuyên ngành bậc đại học

Quy mô đào tạo: Đến năm 2025, quy mô đào tạo của Nhà trường sẽ là:

200 nghiên cứu sinh; 600 học viên cao học và 16.000 sinh viên đại học

Chuẩn chất lượng đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp đại học từ 2021- đến

2025 có:

Trang 36

• Kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp phải đảm bảo chất lượng cao và cập nhật quốc tế

• Ngoại ngữ: chứng chỉ quốc tế về tiếng Anh Working Proficiency: TOEIC 550 điểm do IIG cấp hoặc chứng chỉ quốc tế tương đương khác

• Tin học: chứng chỉ quốc tế trình độ Advanced do Microsoft IT Academy cấp hoặc chứng chỉ quốc tế tương đương khác

2.1.5 Chương trình môn học và hoạt động đánh giá tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

2.1.5.1 Chương trình môn học

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh được thành lập trên cơ

sở sát nhập giữa Khoa Kinh tế Nông nghiệp thuộc Trường Đại học Nông Lâm

và Khoa Kinh tế Công nghiệp thuộc Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Sau 5 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường đã có 9 chuyên ngành đào tạo

hệ đại học chính qui, 02 chuyên ngành đào tạo cao học và 01 chuyên ngành đào tạo nghiên cứu sinh Bên cạnh đó, Nhà trường tổ chức nhiều chương trình đào tạo ngắn hạn về kế toán, quản trị kinh doanh và kinh tế

Mục tiêu đào tạo của từng chương trình đào tạo hệ đại học chính qui, cụ thể:

- Kinh tế Đầu tƣ

Đào tạo cán bộ quản lý Đầu tư và Dự án có kiến thức cơ bản về kinh tế

và quản trị kinh doanh, có kiến thức chuyên môn hiện đại về quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô và quản lý dự án đầu tư ở tầm vi mô Biết xây dựng, phân tích, thẩm định, đánh giá và quản lý dự án kinh doanh của doanh nghiệp và các dự

án phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương

- Quản lý Kinh tế

Có kiến thức cơ bản về kinh tế, kiến thức chuyên sâu và kỹ năng về quản lý kinh tế

Trang 37

Am hiểu các quy luật chung và đặc điểm riêng của các lĩnh vực kinh

tế-xã hội sẽ tham gia phục vụ

Có khả năng lập các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội cho các địa phương

Có khả năng phân tích đánh giá các vấn đề kinh tế xã hội, tình hình thực hiện các kế hoạch kinh tế-xã hội, thẩm định tình hình thực thi các chính sách kinh tế-xã hội, các chủ trương phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương

- Quản trị Kinh doanh Tổng hợp

Có kiến thức rộng về kinh tế, kinh doanh và chuyên sâu về ngành quản trị kinh doanh

Biết xây dựng các chiến lược kinh doanh, các kế hoạch kinh doanh, xây dựng các chính sách trong nội bộ doanh nghiệp

Có kiến thức chuyên môn, phương pháp, bản lĩnh trong việc thực hiện các chức năng quản trị, điều hành các mặt hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, hoặc có thể thành lập doanh nghiệp mới

- Quản trị Doanh nghiệp Công nghiệp

Có kiến thức cơ bản về kinh tế và quản trị kinh doanh các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp công nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường

Biết xây dựng các chiến lược kinh doanh, các kế hoạch kinh doanh, xây dựng các chính sách trong nội bộ doanh nghiệp

Có kiến thức chuyên môn, phương pháp, bản lĩnh trong việc thực hiện các chức năng quản trị, điều hành các mặt hoạt động của doanh nghiệp, hoặc

có thể thành lập doanh nghiệp mới

- Marketing

Trang 38

Có kiến thức về kinh tế và kinh doanh, có kiến thức sâu về Marketing

Có khả năng thực hiện các công việc chuyên môn Marketing trong một doanh nghiệp hoặc một tổ chức như:

Tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động nghiên cứu thị trường, nghiên cứu Marketing, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới

Xác lập các mức giá bán sản phẩm và điều hành chiến lược giá, tổ chức

và quản lý mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, tổ chức và quản lý lực lượng bán hàng trực tiếp

Quản lý và thực hiện các hoạt động quảng cáo và khuyến mại sản phẩm Lập chiến lược kinh doanh và chiến lược Marketing.v.v Tư vấn về Marketing cho các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác nhau với tư cách các nhà tư vấn chuyên nghiệp

Trang 39

- Kế toán Doanh nghiệp Công nghiệp

Nắm vững những kiến thức cơ bản về kinh tế và quản trị kinh doanh công nghiệp, về thị trường tài chính và tiền tệ, có kiến thức chuyên sâu về kế toán

Nắm vững các cơ chế quản lý tài chính, có khả năng thích ứng với những thay đổi của chính sách, chế độ kế toán tài chính, có kỹ năng thành thạo về kế toán, biết cách tổ chức công tác kế toán trong một doanh nghiệp; thích ứng với mọi loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghiệp

- Tài chính Doanh nghiệp

Có kiến thức kinh tế và kinh doanh, biết vận dụng tổng hợp những kiến thức kinh tế vào công tác quản lý tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô

Nắm được những nguyên tắc cơ bản về quản lý tài chính doanh nghiệp, biết cách sử dụng tốt nhất các phương pháp quản lý tài chính doanh nghiệp trong mối quan hệ tổng thể của doanh nghiệp với nền kinh tế, biết tiếp cận với thị trường vốn và cách thức vận hành của thị trường này

2.1.5.2 Hoạt động đánh giá chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Đánh giá chất lượng trong hoạt động giáo dục đào tạo là những hoạt động không có gì mới mẻ trong giáo dục đại học tại Hoa Kỳ, châu Âu, và các nước tiên tiến châu Á như Singapore, Malaysia hoặc Thái Lan Ở Việt Nam, đánh giá hoạt động giáo dục đào tạo qua ý kiến SV mới được Bộ Giáo dục & Đào tạo cụ thể hoá bằng văn bản và thực hiện trong các trường đại học từ năm

2008 Tuy nhiên, một số trường như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tự thực hiện từ những năm học 2004 – 2005

Để thực hiện công văn số 1276/BGDĐT/NG ngày 20/02/2008 của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về việc “Hướng dẫn tổ chức lấy ý kiến phản hồi

từ SV về hoạt động giảng dạy của GV” Nhà trường đã triển khai khá tốt [1]

Ngày đăng: 25/03/2018, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w