Luật này được nghiên cứu, xây dựng một cách công phu, nghiêm túc, trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư công, đồn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ VĂN TOẢN
PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Bảo Ánh
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Văn Toản
Trang 3FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
KTTĐ : Kinh tế trọng điểm
KTXH : Kinh tế - xã hội
MTQG : Mục tiêu quốc gia
NSĐP : Ngân sách địa phương
NSNN : Ngân sách nhà nước
NSTW : Ngân sách trung ương
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance)
PPP : Đối tác công tư (Public - Private Partner)
Trang 4Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP
1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về đầu tư công 15
1.2.2 Mục đích, quan điểm điều chỉnh, nguyên tắc và nội dung
1.2.3 Kinh nghiệm quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 26 2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam
2.1.2 Thực trạng các quy định về lập, thẩm định, quyết định chủ trương
đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công 38 2.1.3 Thực trạng các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt, giao
kế hoạch và việc triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra,
đánh giá, thanh tra kế hoạch đầu tư công 42 2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về đầu tư công từ thực tiễn tỉnh
2.2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và đầu tư công ở tỉnh
2.2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật đầu tư công ở tỉnh Điện Biên 50
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ THỰC
Trang 53.1.1 Đảm bảo sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công, đảm bảo tính
công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của
3.1.2 Tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các loại hình
doanh nghiệp tiếp cận và thực hiện các dự án công 61 3.1.3 Góp phần tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh công cuộc phòng
chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm trong
3.2 Kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về đầu tư công ở Việt Nam nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng 64 3.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác lập, thẩm định, phê duyệt các dự
án sử dụng vốn đầu tư phát triển, chú trọng công tác thẩm
3.2.2 Nâng cao hiệu quả công tác lập, bố trí vốn đầu tư, quản lý và
sử dụng vốn đầu tư hiệu quả tại các dự án 66 3.2.3 Nâng cao năng lực của các chủ thể triển khai, thực hiện các
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư công được hiểu là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH.Đầu tư công gắn liền với quan niệm về công hữu và vai trò của Nhà nước trong phát triển nền kinh tế Thời gian qua, trên địa bàn cả nước, đầu tư công đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH, cung ứng các dịch vụ công; tạo môi trường thúc đẩy phát triển nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của đầu tư công đến phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội Tuy nhiên, đầu tư công đã và đang chiếm
tỷ trọng rất lớn, nhưng sử dụng kém hiệu quả và đã đến lúc cần xem xét lại
Do hệ thống pháp luật quản lý đầu tư công chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, thiếu các chế tài và biện pháp quản lý, giám sát, nên đã phát sinh nhiều tồn tại, hạn chế như: Đầu tư còn dàn trải, phân tán, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém Tình trạng thi công vượt quá vốn kế hoạch được giao, gây nợ đọng xây dựng cơ bản quá mức, gây áp lực lớn đến cân đối NSNN các cấp Việc quản lý đầu tư bị phân tán, chia cắt theo nguồn vốn, thiếu tập trung, thống nhất Nhu cầu vốn của các bộ, ngành, địa phương là khổng lồ so với khả năng cân đối vốn của Nhà nước và của nền kinh tế, trong khi chúng ta chưa có công cụ kiểm soát thật sự hiệu quả Vấn đề quan trọng hàng đầu là cần xây dựng lại quy trình đánh giá sự cần thiết của dự án trước khi phê duyệt, hạn chế tình trạng cho phép, phê duyệt dự án quá dễ dàng, không đánh giá đúng năng lực thực hiện của chủ đầu tư Các quy định hiện hành về thủ tục phê duyệt đều mang tính hình thức, các dự án hầu hết đều có
“hồ sơ đẹp”, thực hiện đúng trình tự, thủ tục, nhưng phần lớn là cơ quan quyết định cấp vốn chính là cơ quan cấp trên của chủ đầu tư, vừa là cơ quan kiểm tra, đánh giá việc thực hiện
Tại một số địa phương, công tác phân bổ và quản lý vốn đầu tư phát triển vẫn còn tình trạng bố trí vốn cho các dự án không đủ điều kiện bố trí vốn, như
Trang 7dự án được phê duyệt sau ngày 31/10 của năm trước năm kế hoạch nhưng vẫn được bố trí vốn hoặc bố trí thừa vốn cho các dự án đầu tư nhưng không điều chuyển cho các dự án có khối lượng hoàn thành Bên cạnh đó, trong việc thực hiện dự án đầu tư cũng có nhiều tồn tại như: Công tác khảo sát, thiết kế, lập
dự án đầu tư, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán - tổng dự toán, công tác triển khai thực hiện đầu tư còn sai sót, chưa phù hợp với quy định Điển hình
là sai về nội dung trong việc xác định quy mô đầu tư không chính xác dẫn đến lập dự án có quy mô lớn hơn nhiều so với nhu cầu sử dụng thực tế chất lượng xây dựng dự án của tư vấn lập dự án, lập báo cáo kinh tế kỹ thuật sơ sài chưa cập nhật đủ thông tin, số liệu về hiện trạng, do đó không phản ánh hết sự cần thiết của việc đầu tư; khâu thẩm tra thiết kế thi công - tổng dự toán chưa chặt chẽ dẫn đến dự án có quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp, phải điều chỉnh
dự án, dự toán hoặc hợp đồng nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả dự án; công tác quản lý giá vật liệu đầu vào của chủ đầu tư còn thiếu chặt chẽ, dẫn tới làm tăng xuất đầu tư của công trình; chủ đầu tư áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu không phù hợp với kế hoạch đấu thầu được phê duyệt, chậm đưa ra những phương án xử lý vướng mắc trong quá trình thi công để tồn đọng kéo dài dẫn đến chậm tiến độ thực hiện hợp đồng, gây khó khăn cho việc kiểm soát chi phí của dự án, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, lãng phí ngân sách
Nhằm tạo lập hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, nâng cao hiệu quả đầu tư công, ngày 18/6/2014,kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Đầu tư công Luật này được nghiên cứu, xây dựng một cách công phu, nghiêm túc, trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư công, đồng thời bổ sung những chế tài mới, như chế định đầy đủ toàn bộ quá trình đầu tư công từ chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công, lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực hiện kế hoạch, theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch đầu tư công Với thực trạng trên, đầu tư công ở Điện Biên không phải là ngoại lệ, bởi vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật, các yếu tố tác động và ảnh hưởng đến cơ chế thực thi pháp luật về đầu tư công, gắn với thực tiễn thi hành
Trang 8ở tỉnh Điện Biên là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả pháp luật về đầu tư công trên địa bàn tỉnh Điện Biên Đây
cũng là lý do mà em lựa chọn đề tài: “Pháp luật về đầu tư công và thực tiễn
thi hành tại tỉnh Điện Biên” để làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về đầu tư công là vấn đề được quan tâm trao đổi ở nhiều diễn đàn, tuy nhiên, dưới giác độ khoa học pháp lý, dường như chưa có công trình nào đề cập nghiên cứu một cách tổng thể Qua khảo sát của tác giả đã có rất nhiều các công trình, bài viết nghiên cứu về đầu tư công dưới giác độ kinh tế
và một số bài viết dưới giác độ luật học thì chỉ mang tính khái quát như:
- Đề tài cấp Bộ (2011) về “Nghiên cứu phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư công ở Việt Nam” do ThS Trần Thị Thu Hương, Phó Trưởng Ban Thể
chế kinh tế thuộc Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương là chủ nhiệm
đã tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng phân cấp quản lý đầu tư công ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, trong đó tìm ra những bất cập và nguyên nhân của những bất cập để từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp định hướng nhằm thúc đẩy công tác đổi mới phân cấp quản lý hiện nay ở Việt Nam Trong quá trình xây dựng khung pháp lý phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư công ở Việt Nam thời gian tới, trước hết cần phải xác định đúng và rõ ràng vai trò của Nhà nước đến đâu trong phát triển KTXH, và chỉ khi xác định được cụ thể vai trò của Nhà nước thì lúc đó Nhà nước mới có thể sử dụng chính sách đầu
tư công một cách hiệu quả Bên cạnh đó, trong điều kiện trình độ phát triển KTXH và năng lực quản lý nhà nước ở các cấp địa phương có sự chênh lệch lớn thì việc đa dạng hóa hình thức phân cấp/phân quyền là điều rất cần thiết
- Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư các công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước do tỉnh Phú Yên quản lý” (thuộc
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Yên) do ThS Huỳnh Xuân Sơn và ThS Nguyễn Khoa Khang là chủ nhiệm đã thực hiện nghiên cứu thực tiễn từ các công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước do tỉnh Phú Yên quản lý…
- Các bài viết như: “Nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam” của
đồng tác giả Nguyễn Đình Tài và Lê Thanh Tú đăng trên Tạp chí Tài chính,
số tháng 04/2010; “Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công - Thực trạng ở
Trang 9Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” của TS Vũ Thành Tự Anh, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright… “Vai trò của pháp luật trong kiểm soát đầu tư
công” của PGS, TS Phạm Duy Nghĩa, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh - Bài
đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 201, tháng 8/2011… Bên cạnh đó còn rất nhiều các bài viết trao đổi, góp ý cho quá trình xây dựng Luật Đầu tư công năm 2014… Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể vấn đề này cả về lý luận, thực tiễn và phướng hướng hoàn thiện dưới góc độ pháp lý để góp phần xây dựng hệ thống pháp luật về đầu tư công một cách toàn diện Do vậy, đây là luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật vấn đề đầu tư công ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận văn này là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lý luận, khái quát và đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam,
mà đặc biệt là việc thực hiện pháp luật về đầu tư công từ thực tiễn tỉnh Điện Biên Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Điện Biên nói riêng Với mục đích nghiên cứu ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn được xác định là:
Một là: Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về đầu tư công, bao
gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò của đầu tư công; khái niệm pháp luật về đầu
tư công; mục đích, quan điểm điều chỉnh và nguyên tắc quản lý đầu tư công, nội dung cơ bản của pháp luật về thực hiện đầu tư công và kinh nghiệm quản
lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới;
Hai là: Khái quát, phân tích và đánh giá về thực trạng quy định pháp luật
cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam nói chung
và tại tỉnh Điện Biên nói riêng, chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân;
Ba là: Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam và tỉnh Điện Biên trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận pháp luật về đầu tư công tại Việt Nam; thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư công, mà đặc biệt là từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Trang 10Để làm rõ hơn thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về đầu tư công, phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn từ giai đoạn 2011 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin; quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó,
để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: Tổng hợp, phân tích,
so sánh, khái quát hóa, điều tra xã hội học trong quá trình nghiên cứu các vấn
đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về pháp luật đầu tư công với những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn sau đây:
Về mặt lý luận, trong bối cảnh Nhà nước cần có những chính sách rõ
ràng về quản lý vốn của Nhà nước vào hoạt động đầu tư, tránh tình trạng sử dụng “tiền chùa” nên không quan tâm đến hiệu quả Đồng thời, Nhà nước cũng có cơ chế giám sát trực tiếp, hiệu quả để hạn chế tham nhũng, lãng phí
và nhân dân phải được tham gia giám sát hoạt động này vì vốn của Nhà nước cũng là từ tiền của dân đóng thuế Bởi vậy, việc nghiên cứu toàn diện các vấn
đề lý luận và thực tiễn pháp luật về đầu tư công nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ và hoàn chỉnh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng vốn đầu tư công, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước; góp phần và tạo điều kiện pháp lý để đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản; tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận và thực hiện các
dự án công là có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa to lớn
Về mặt thực tiễn, Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn thực hiện
pháp luật từ tỉnh Điện Biên, một tỉnh miền núi Tây Bắc với những thuận lợi
và khó khăn riêng có sẽ góp phần đưa ra các bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác khi thực hiện pháp luật về đầu tư công Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực thi pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam
Trang 117 Kết cấu Luận văn
Bên cạnh phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận văn được triển khai với kết cấu ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về đầu tư công Chương 2: Thực trạng pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam và thực tiễn
thực hiện tại tỉnh Điện Biên
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về đầu tư công từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
VỀ ĐẦU TƯ CÔNG
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG
1.1.1 Khái niệm, vai trò của đầu tư công
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư công
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đầu tư của Nhà nước là chủ yếu và lúc đó quản lý kinh tế và thống kê chỉ sử dụng khái niệm "đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước" Đầu tư của khu vực tập thể và nhân dân xây dựng các công trình công cộng hầu như không thống kê được Sang thời kỳ kinh tế thị trường đầu tư công được hiểu là việc đầu tư để tạo năng lực sản xuất, cung ứng hàng hóa công cộng và chi tiêu chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng như xây dựng đường xá, trường học, dịch vụ phòng và chữa bệnh, đảm bảo an ninh, quốc phòng… Bằng nguồn vốn nhà nước, bao gồm: Vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý
Từ những phân tích trên có thể khái quát đầu tư công như sau: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH” [15] Khái niệm này làm rõ các đặc điểm của đầu tư công
đó là, hoạt động đầu tư của Nhà nước; nguồn vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư công là từ Nhà nước; mục tiêu của hoạt động đầu tư công là các chương trình,
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển KTXH, trong đó chủ yếu là hoạt động đầu tư của Nhà nước, nguồn vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư công là từ Nhà nước và theo đuổi các mục tiêu của chính sách công Đối tượng sử dụng nguồn vốn Nhà nước trong đầu tư công cũng rất đa dạng gồm: Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục - đào tạo
và các lĩnh vực khác; các chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của
Trang 13các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; các
dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; các chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ
1.1.1.2 Vai trò của đầu tư công
Đầu tư công có vai trò cung cấp những hàng hóa công nhằm tạo mới nâng cấp, củng cố năng lực hoạt động của nền kinh tế thông qua giá trị gia tăng giá trị các tài sản công, nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, đồng thời thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, vùng và các địa phương Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia vào việc cung cấp các hàng hóa công do khó thu lợi Những hàng hóa công này thường là các công trình hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội như: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện… Vai trò của những hàng hóa công này là vô cùng quan trọng vì nếu không có hệ thống hạ tầng giao thông thì nền kinh tế không vận hành được, không có hệ thống công trình trường học, bệnh viện, nhà văn hóa phục vụ phát triển con người thì yêu cầu phát triển xã hội cũng không được đáp ứng… Hoạt động đầu tư công của nhà nước là nhằm cung cấp những hàng hóa công nên vai trò của hoạt động này đối với phát triển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận được và tác động của việc sản xuất những hàng hóa công không thể đo trực tiếp bằng các chỉ tiêu thông thường như đối với các hàng hóa do doanh nghiệp tư nhân kinh doanh
mà phải thông qua hiệu quả đem lại cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Chính vì thế việc đánh giá kết quả của đầu tư công của một địa phương phải thông qua kết quả phát triển kinh tế - xã hội của chính địa phương đó
Phải khẳng định rằng hoạt động đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều công trình cả tính lý thuyết và thực nghiệm, theo đó đầu tư công thường phục vụ cho việc phát triển kết cấu hạ tầng Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với
Trang 14nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp Kết cấu hạ tầng vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó phải được cung cấp cho người sử dụng, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng đó Ở nhiều quốc gia, một số hoạt động sản xuất là do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Tại các nước phát triển, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng được giới hạn trong một số ngành và tỷ trọng các hoạt động do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện đã giảm đi đáng kể trong ba thập kỷ qua Tuy nhiên ở các nước xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp nhà nước vẫn còn đóng vai trò quan trọng và đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước thường được tính vào đầu tư công, mặc dù tại một số nước tỷ trọng sản lượng của các doanh nghiệp nhà nước đang giảm đi đáng kể
Tại Việt Nam, từ năm 1995 đến nay, tỷ trọng đầu tư công trong tổng vốn đầu tư luôn luôn ở mức trên 39% Do đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nên bất
kỳ sự thay đổi về tốc độ tăng trưởng đầu tư công đều ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của tổng đầu tư Tuy vậy, từ mức đỉnh điểm 59,8% năm 2001, tỷ trọng đầu tư công đã đi theo xu hướng giảm dần cho đến năm 2008 và đứng ở mức 39,9% trong năm 2014, do đó Việt Nam được coi là một trong những nước có tỷ lệ đầu tư/GDP cao nhất trên thế giới và đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư, cao hơn hẳn FDI và đầu tư tư nhân [20]
1.1.2 Đặc điểm của đầu tƣ công
1.1.2.1 Chủ thể bỏ vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư công là Nhà nước
Như đã phân tích ở trên, đầu tư từ khu vực nhà nước ở Việt Nam hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế, từ xây dựng hệ thống giao thông, hạ tầng cơ sở, khai khoáng, chế biến - chế tạo cho đến thông tin - truyền thông, giáo dục - đào tạo Và được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước từ trung ương tới địa phương Thời gian gần đây cơ cấu đầu tư gần như chia đều giữa cấp trung ương và cấp địa phương và đang có xu hướng dịch chuyển chậm từ vai trò đầu tư của cấp trung ương là chủ yếu sang cấp địa
Trang 15phương, theo đó Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan trung ương; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Kiểm toán Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam… Đều là chủ thể của hoạt động đầu tư công, tuy nhiên việc triển khai các hoạt động đầu tư công của những cơ quan này lại được thực hiện trực tiếp bởi một số đơn vị sau:
Chủ đầu tư: Chủ đầu tư trong dự án đầu tư công chính là cơ quan, tổ
chức nhà nước được giao quản lý dự án đầu tư công và để đảm bảo quá trình triển khai hoạt động đầu tư được thực hiện theo đúng quy trình thủ tục trên cơ
sở xác định đúng trách nhiệm của người trực tiếp quản lý và sử dụng vốn, Nhà nước sẽ chỉ định chủ đầu tư của dự án Chủ đầu tư của dự án đầu tư công
sẽ do người có thầm quyền ra quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự
án và trao cho họ một số quyền hạn, nghĩa vụ nhất định thay mặt nhà nước để thực hiện hoạt động đầu tư, như: Tổ chức lập, trình duyệt dự án, sử dụng các nguồn vốn hợp pháp cho dự án; yêu cầu kiến nghị các cơ quan nhà nước liên quan có thẩm quyền cung cấp các thông tin cho các tổ chức tư vấn liên quan đến dự án; tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tuyển chọn tư vấn dự án, lựa chọn nhà thầu, thực hiện các giao dịch, đàm phán ký kết với các bên; tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện dự án, thành lập ban quản lý dự án; kiến nghị các chính sách đề xuất với cơ quan nhà nước để đảm bảo dự án đúng tiến độ, chất lượng và kinh phí đầu tư được duyệt Đồng thời chủ đầu tư chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và độ tin cậy của các thông tin, tài liệu cung cấp cho tư vấn lập dự án đầu tư công; tổ chức thực hiện dự án đảm bảo tiến độ, chất lượng, quản lý và sử dụng hợp lý nguồn vốn đầu tư; kiểm tra báo cáo thường xuyên tình hình thực hiện dự án; thực hiện thanh quyết toán, theo quy định của cơ quan thanh toán; chịu trách nhiệm toàn diện trong dự án khi phát sinh hậu quả do triển khai không đúng theo quyết định đầu tư, gây thất thoát, lãng phí; thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư đối với các dự án đầu tư công có yêu cầu thu hồi vốn theo quy định của pháp luật
Đơn vị nhận quản lý điều hành dự án đầu tư: Quản lý điều hành dự án
đầu tư công được hiểu là việc người có thẩm quyền quyết định đầu tư giao cho tổ chức cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thay chủ đầu
tư thực hiện toàn bộ hoặc một phần công việc của dự án đầu tư công Căn cứ
Trang 16điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư xây dựng công trình quyết định lựa chọn một trong các hình thức quản
lý dự án, theo đó chủ đầu tư tự thành lập ban quản lý dự án để quản lý điều hành, hoặc giao cho một đơn vị trực thuộc có đủ năng lực để quản lý điều hành, hoặc thuê một đơn vị có đủ năng lực theo quy định của pháp luật để thực hiện việc quản lý điều hành dự án đầu tư công trên cơ sở những nội dung
đã được hai bên thỏa thuận Trách nhiệm, quyền hạn của đơn vị nhận quản lý điều hành dự án đầu tư được thực hiện theo hợp đồng được thoả thuận giữa hai bên Đây là vấn đề xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đặt ra, nhất là với chủ đầu tư không có đơn vị có chức năng quản lý thực hiện đầu tư trong cơ cấu bộ máy của cơ quan như các đơn vị sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa… Nhằm tạo điều kiện để các chủ đầu tư không có năng lực quản lý đầu tư, thực hiện quản lý và sử dụng vốn được giao có hiệu quả hơn
Ban quản lý dự án đầu tư công: Ban quản lý dự án là đơn vị do chủ đầu
tư thành lập làm nhiệm vụ quản lý thực hiện dự án trong quá trình đầu tư Quá trình thực hiện dự án đầu tư công, ban quản lý dự án có thẩm quyền thay mặt chủ đầu tư giải quyết các vấn đề phát sinh trong phạm vị quyền hạn trách nhiệm của chủ đầu tư; theo dõi, giám sát quá trình thực hiện đầu tư đảm bảo
an toàn, tiến độ, chất lượng, chi phí cho dự án, kiến nghị chủ đầu tư giải quyết các vấn đề vượt thẩm quyền Đồng thời, ban quản lý dự án có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật; bảo đảm triển khai dự án đạt tiến
độ, chất lượng; báo cáo chủ đầu tư về nghiệm thu, quyết toán; chịu trách nhiệm
về các sai phạm, lãng phí trong quá trình thực hiện quản lý dự án đầu tư công
Nhà thầu: Nhà thầu là nhà tổ chức, cá nhân có đủ năng lực thực hiện
hoạt động đầu tư khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư công Nhà thầu có thể bao gồm nhà thầu chính và nhà thầu phụ
Nhà thầu chính ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư, thực hiện phần việc chính của một loại công việc trong dự án
Nhà thầu phụ là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng
Tổ chức tư vấn: Tổ chức tư vấn là các tổ chức, cá nhân được chủ đầu tư
Trang 17thuê để làm nhiệm vụ thực hiện những phần công việc của dự án trong quá trình thực hiện dự án đầu tư Tổ chức tư vấn đầu tư thực hiện các dịch vụ tư vấn một phần hoặc toàn bộ các hoạt động đầu tư gồm: Khảo sát, thiết kế, lập, thẩm tra, giám sát, kiểm toán, đánh giá dự án đầu tư và các dịch vụ tư vấn khác
1.1.2.2 Mục đích đầu tư công là nhằm tạo mới nâng cấp, củng cố năng lực hoạt động của nền kinh tế thông qua giá trị gia tăng các tài sản công, qua đó nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội dưới hình thức sở hữu toàn dân
Đầu tư công để thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, vùng và các địa phương, thông qua
đó giải quyết được nhiều vấn đề về xã hội, văn hóa, môi trường, phát triển bền vững Cụ thể như các chương trình mục tiêu Quốc gia: Chương trình 134, 135; Chương trình MTQG về nước sạch và vệ sinh môi trường…; các chương trình đầu tư hạ tầng giao thông, xây dựng, kiên cố hóa trường học, trạm y tế, bệnh viện, kênh mương nội đồng, trồng rừng phủ xanh đồi núi trọc
Thực hiện điều tiết nền kinh tế thông qua việc tác động đến thành tố chi tiêu Chính phủ trong tổng cầu của nền kinh tế, cụ thể, gia tăng đầu tư công thông qua tăng chi NSNN, mở rộng tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
1.1.2.3 Các hình thức đầu tư công gồm đầu tư theo các chương trình mục tiêu; đầu tư theo các dự án công; đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)
Hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án sẽ được triển khai bằng ba hình thức đầu tư công, nhằm thực hiện kế hoạch phát triển KTXH đã được phê duyệt, như sau:
Thứ nhất, đầu tư theo các chương trình mục tiêu, là hình thức đầu tư của Nhà nước vào các chương trình nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu trong từng ngành, ở một số vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn cụ thể
Chương tình mục tiêu có thể được phân chia thành nhiều cấp độ bao gồm chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu cấp tỉnh
Chương trình mục tiêu cần đảm bảo các nội dung quan trọng như: Sự cần thiết phải đẩu tư; đánh giá thực trạng ngành, lĩnh vực thuộc mục tiêu và trong phạm vi của chương trình, những vấn đề cấp bách cần giải quyết trong chương trình; mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu cơ bản phải đạt
Trang 18được trong từng khoảng thời gian của chương trình; danh mục các dự án đầu
tư, thứ tự thời gian và thực hiện; ước tính tổng mức kinh phí thực hiện chương trình, phân theo dự án, hạng mục cụ thể, tiến độ, nguồn vốn và kế hoạch giải ngân; kế hoạch, tiến độ tổ chức thực hiện chương trình, dự án; cơ chế chính sách áp dụng và khả năng lồng ghép với các chương trình khác; các vấn đề khoa học công nghệ, môi trường, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho
dự án, chương trình; yếu tố hợp tác quốc tế; đánh giá tổng quan hiệu quả KTXH chung của chương trình và dự án mang lại
Thứ hai, đầu tư theo các dự án công, là hình thức đầu tư của Nhà nước
sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công vào các dự án phục vụ phát triển KTXH Các dự án đầu tư công được triển khai trên nhiều lĩnh vực, như
phát triển kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh
do Nhà nước đầu tư (trừ các khoản đầu tư cho quốc phòng, an ninh, thuộc chi tiêu đặc biệt ngoài cân đối kế hoạch hoặc viện trợ từ nước ngoài); dự án đầu
tư không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật
Thứ ba, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công Với nguồn vốn ngân sách hạn hẹp hiện nay, việc
kêu gọi các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là mô hình hợp tác công tư (PPP) được xem là giải pháp hiệu quả Với mô hình PPP, Nhà nước
sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng
cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân
1.1.2.4 Nguồn vốn đầu tư công
Nguồn vốn đầu tư công được hình thành từ các nguồn vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước; vốn đầu tư nguồn công trái quốc gia; vốn đầu tư nguồn
Trang 19trái phiếu Chính phủ; vốn đầu tư nguồn trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước; khoản vốn vay của chính quyền cấp tỉnh được hoàn trả bằng nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương và thu hồi vốn từ các dự án đầu tư bằng các khoản vốn vay này
Hiện nay, các chương trình, dự án sử dụng nhiều nguồn vốn nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh Nguồn hình thành vốn đầu tư công được lấy từ ngân sách, các khoản thu ngân sách bao gồm các khoản sau:
- Vốn đầu tư nguồn NSNN, bao gồm: vốn đầu tư của NSTW cho Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của NSTW cho địa phương; vốn đầu tư trong cân đối NSĐP
- Vốn đầu tư nguồn công trái quốc gia là khoản vốn do Nhà nước vay trực tiếp của người dân bằng một chứng chỉ có kỳ hạn để đầu tư cho các mục tiêu phát triển của đất nước
- Vốn đầu tư nguồn trái phiếu Chính phủ là khoản vốn trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành để thực hiện một số chương trình, dự án quan trọng trong phạm vi cả nước
- Vốn đầu tư nguồn trái phiếu chính quyền địa phương là khoản vốn trái phiếu có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành hoặc ủy quyền phát hành để đầu tư một số dự án quan trọng của địa phương
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, gồm: vốn viện trợ không hoàn lại, vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là các khoản vốn do Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay để đầu tư các
dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách xã hội
- Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, gồm: + Vốn đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết đến trước thời điểm Luật NSNN sửa đổi năm 2015 có hiệu lực;
+ Khoản phí, lệ phí được để lại đầu tư của Bộ, ngành trung ương và địa phương;
Trang 20+ Tiền lãi dầu khí của nước chủ nhà từ hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí (PSC), lợi nhuận được chia từ liên doanh dầu khí và tiền đọc và sử dụng tài liệu dầu khí;
+ Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lập để lại cho đầu tư;
+ Vốn đầu tư từ nguồn thu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước được thu lại hoặc trích lại để đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng KTXH thuộc nhiệm vụ NSNN của Bộ, ngành trung ương và địa phương;
+ Nguồn thu của tổ chức tài chính, bảo hiểm xã hội được trích lại để đầu
tư dự án kết cấu hạ tầng KTXH của Bộ, ngành trung ương và địa phương; + Nguồn thu từ chuyển mục đích, chuyển quyền sử dụng đất của Bộ, ngành trung ương và địa phương chưa đưa vào cân đối NSNN để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng KTXH
- Khoản vốn vay của chính quyền cấp tỉnh được hoàn trả bằng nguồn vốn cân đối NSĐP và thu hồi vốn từ các dự án đầu tư bằng các khoản vốn vay này, bao gồm:
+ Khoản huy động vốn trong nước của chính quyền cấp tỉnh theo quy định của Luật NSNN, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vay
từ nguồn vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước và huy động từ các nguồn vốn vay trong nước khác để đầu tư kết cấu hạ tầng;
+ Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài do Chính phủ cho vay lại
Việc phân định rõ nguồn vốn đầu tư công sẽ là cơ sở để xác định phạm
vi và đối tượng điều chỉnh của Luật Đầu tư công, đồng thời quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý và sử dụng nguồn vốn này
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ CÔNG
1.2.1 Khái niệm pháp luật đầu tƣ công
Xem xét sự ra đời và phát triển của đầu tư công cho thấy, đầu tư công không chỉ là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH mà còn là trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo động lực chủ chốt
Trang 21cho sự tăng trưởng và phát triển của quốc gia Sự tham gia của nhà nước về đầu tư công ngoài việc thể hiện trách nhiệm xã hội còn nhằm mục đích phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định xã hội Đầu tư công dựng lên nền tảng hạ tầng
cơ sở và xã hội, từ đó hỗ trợ hoạt động của tất cả các thành phần kinh tế Ở mỗi quốc gia, với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chính sách quản lý hình thức đầu tư này cũng có những đặc điểm riêng biệt Theo đó chính sách về đầu tư công chính là thái độ, quan điểm, biện pháp mà nhà thống trị đưa ra để đảm bảo ổn định phát triển KTXH, củng cố địa vị thống trị của mình Để mục tiêu này thành hiện thực và được thực hiện thống nhất, các quốc gia đều ban hành luật để điều chỉnh đầu
tư công và thông qua các đạo luật, hoạt động đầu tư công được thực hiện một cách chính thống, mang tính bắt buộc chung và được đảm bảo thi hành bằng cưỡng chế nhà nước Pháp luật về đầu tư công là phương thức quan trọng nhất
để thực hiện các hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ phát triển KTXH với những quy định, giàng buộc cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan
Từ việc tiếp cận các quan niệm về đầu tư công được trình bày ở trên và
lý luận chung về lịch sử nhà nước và pháp luật có thể đưa ra khái niệm pháp
luật đầu tư công như sau: “Pháp luật đầu tư công được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ KTXH phát sinh trong quá trình đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ phát triển KTXH theo nguyên tắc đầu tư toàn diện và hiệu quả dưới sự đảm bảo của Nhà nước vì mục tiêu ổn định xã hội và phát triển kinh tế” Theo khái niệm này bản chất
của pháp luật đầu tư công được thể hiện với vai trò đảm bảo việc quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, trên cơ sở phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, kế hoạch đầu tư của quốc gia, vùng, ngành, địa phương đã được phê duyệt, thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược phát triển KTXH của quốc gia, ngành, vùng và các địa phương, thông qua đó giải quyết được nhiều vấn đề về xã hội, văn hóa, môi trường, phát triển bền vững Mặt khác các dự án đầu tư công thường được triển khai để đáp ứng nhiều mục tiêu bao gồm các mục tiêu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
Trang 22quốc phòng - an ninh… Trong đó mục tiêu kinh tế được đảm bảo hiệu quả để các mục tiêu còn lại phát huy tác dụng, tạo ra được kết quả đầu tư với hệ thống năng lực phục vụ được cải thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển chung của
xã hội và nền kinh tế, tránh lãng phí, dàn trải Do vậy đầu tư công cần phải được quản lý một cách thống nhất bằng các quy định của pháp luật
1.2.2 Mục đích, quan điểm điều chỉnh, nguyên tắc và nội dung pháp luật đầu tƣ công
1.2.2.1 Mục đích điều chỉnh
Pháp luật Đầu tư công nhằm điều chỉnh các mục tiêu chủ yếu sau:
Một là: Đảm bảo cơ sở pháp lý để quản lý sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của Nhà nước trong đầu tư công phù hợp với chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế nói chung và tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là tái cơ cấu đầu
tư công nói riêng
Hai là: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý sử dụng vốn đầu tư
công (không bao gồm đầu tư của doanh nghiệp nhà nước) đối với quá trình đầu tư, từ khâu quyết định chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, phê duyệt quyết định đầu tư, lựa chọn chương trình đưa vào kế hoạch; chuyển từ kế hoạch đầu tư hàng năm sang kế hoạch đầu tư trung hạn; toàn bộ quy trình triển khai thực hiện kế hoạch đến theo dõi, đánh giá, giám sát kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư
Ba là: Khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán hiện nay, góp phần
nâng cao hiệu quả đầu tư công theo đúng mục tiêu, định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KTXH của đất nước; chống thất thoát, lãng phí; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư
Bốn là: Xác lập những thể chế để giám sát được chi phí và mục đích cần
đạt được của hoạt động đầu tư công; phân quyền rạch ròi giữa lập pháp và hành pháp trong quyết định về đầu tư công
Năm là: Từng bước hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế trong quản lý
đầu tư công; tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hiệu quả cho các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp
1.2.2.2 Quan điểm điều chỉnh
Trang 23Pháp luật đầu tư công điều chỉnh hoạt động đầu tư công trên cơ sở các quan điểm chủ yếu sau:
Một là: Quán triệt và thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng về tái cơ cấu nền kinh tế nói chung và tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công nói riêng Đặc biệt là phải thể chế hóa các quy định về đổi mới, tăng cường quản lý đầu tư công đã nêu trong Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ
Hai là: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư
công trong toàn bộ quá trình đầu tư, từ khâu quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư; lập, triển khai thực hiện, theo dõi và đánh giá thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công
Ba là: Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong tất cả các khâu liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; trong đó quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức,
cơ quan đơn vị liên quan đến việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công
Bốn là: Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng
vốn đầu tư công Các quy định phải rõ ràng, cụ thể, không chồng chéo, trùng lắp, phù hợp với thực tiễn và xu thế chung, đồng thời bảo đảm phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và với thông lệ quốc tế trong quản lý đầu tư công
1.2.2.3 Nguyên tắc quản lý đầu tư công
Việc triển khai hoạt động đầu tư công được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Tuân thủ các quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công Thứ hai: Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển KTXH 05 năm của
đất nước, quy hoạch phát triển KTXH và quy hoạch phát triển ngành
Thứ ba: Đảm bảo thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản
lý nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công
Thứ tư: Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối
với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công
Trang 24Thứ năm: Khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư hoặc đầu tư
theo hình thức đối tác công tư (PPP) vào dự án kết cấu hạ tầng KTXH và cung cấp dịch vụ công
1.2.2.4 Nội dung cơ bản của pháp luật đầu tư công
Hoạt động đầu tư công được hiểu là quá trình lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công; triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá, thanh tra kế hoạch đầu tư công
Pháp luật đầu tư công quy định thống nhất việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công từ khâu xác định chủ trương đầu tư đến theo dõi, đánh giá, thanh tra, kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước của tất cả các cấp, các ngành như:
Một là: Các quy định về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công
Hầu hết các chương trình, dự án đầu tư công đều cần thiết phục vụ cho mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng KTXH Tuy nhiên, tổng nguồn vốn đầu tư công là có hạn, xu thế tỷ trọng vốn đầu tư công ngày càng giảm, nên việc phê duyệt quyết định đầu tư cần được cân nhắc, tính toán chặt chẽ trên cơ sở sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư các chương trình, dự án đó Các tổ chức, cá nhân đề xuất và tổ chức, cá nhân phê duyệt đều phải có trách nhiệm trong việc cân nhắc, tính toán về thời điểm đầu tư, quy mô đầu tư từng chương trình, dự án Trong giai đoạn vừa qua, nhiều chương trình, dự án đã được đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư công khi cân đối vốn không đủ do chủ trương đầu tư phê duyệt ồ ạt; nhiều chương trình, dự án được bố trí đủ vốn khi đưa vào sử dụng không mang lại hiệu quả hoặc hiệu quả rất thấp Ví dụ: như đầu tư xây dựng
dự án đường ven biển miền Trung, khi xây dựng xong, mang lại hiệu quả rất thấp do không có người sử dụng; hoặc để đầu tư xây dựng một số chợ dân sinh, một số trung tâm thương mại tại cửa khẩu… Như báo chí đã nêu, xây dựng xong không có người kinh doanh, mua bán nên đã bị bỏ hoang, gây lãng phí tiền của của Nhà nước Trong thời gian tới, tỷ trọng đầu tư công tiếp tục sụt giảm, nên việc phê duyệt các chương trình, dự án tổng nguồn vốn đầu tư
Trang 25công là có hạn, xu thế tỷ trọng vốn đầu tư công ngày càng giảm, nên việc phê
duyệt quyết định đầu tư cần được cân nhắc, tính toán chặt chẽ
Việc pháp luật đầu tư công quy định rõ về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công sẽ góp phần quan trọng để tăng tính hiệu quả của dự án, ngăn chặn tinh trạng đầu tư kém hiệu quả, dàn trải, phân tán, lãng phí, thất thoát, đồng thời giúp làm rõ trách nhiệm của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong việc quyết định chủ trương đầu tư dự án
Hai là: Các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu
tư ở nhiều dự án, chương trình đầu tư công đã dẫn đến tình trạng phân bổ vốn đầu tư dàn trải, nợ đọng trong đầu tư và kéo dài tiến độ thực hiện gây lãng
phí, thất thoát trong đầu tư, hiệu quả đầu tư thấp hoặc đầu tư không hiệu quả
Việc pháp luật đầu tư công quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và giao
kế hoạch đầu tư công sẽ giúp cho các Bộ, ngành, UBND các cấp và các cơ quan quản lý nhà nước nói chung có cơ sở pháp lý khi lập kế hoạch đầu tư công trung hạn cho từng thời kỳ 5 năm và hàng năm
Ba là: Các quy định việc triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá, thanh tra kế hoạch đầu tư công
Để biết được các kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công thực hiện như thế nào, kết quả đạt được ra sao thì theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công là một công việc rất quan trọng và cần thiết Hiện nay việc theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công chủ yếu thu thập các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, các chương trình, dự án;
Trang 26tổng hợp báo cáo theo định kỳ 6 tháng, hàng năm; hoặc 3-5 năm đối với các chương trình hoặc kế hoạch 5 năm
Việc pháp luật đầu tư công quy định việc triển khai thực hiện và theo dõi, kiểm tra, đánh giá, thanh tra kế hoạch đầu tư công; theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công so với mục tiêu đặt ra ban đầu là rất cần thiết, các chế tài cụ thể liên quan đến việc theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công phải được quy định
1.2.3 Kinh nghiệm quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới
Theo nhận định của nhiều quốc gia trên thế giới, đầu tư công là động lực chủ chốt cho sự tăng trưởng và phát triển của quốc gia Đầu tư công dựng nên nền tảng cơ sở hạ tầng và xã hội, từ đó hỗ trợ hoạt động của tất cả các thành phần kinh tế, theo đó chi tiêu chính phủ gồm: Hoạt động chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ với mục đích tạo ra lợi ích trong tương lai, ví dụ như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc đầu tư nghiên cứu phát triển, được gọi chung là đầu tư công và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư, chi tiêu của
xã hội Hoạt động chi tiêu này được thực hiện thông qua việc tự sản xuất của chính phủ, tài sản hiện có và hàng hóa, dịch vụ đã mua phục vụ cho những nhu cầu trực tiếp; mua sắm chính phủ đối với hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của chính phủ; hoạt động chi tiêu của chính phủ không thực hiện thông qua việc mua hàng hóa, dịch vụ, thay vào đó
là việc chi tiền của chính phủ để thực hiện các chức năng của nhà nước, ví dụ như việc chi trả phúc lợi xã hội Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chính sách quản lý hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Lĩnh vực đầu tư công:
Trên thực tế, ở hầu hết các quốc gia dù ở mức độ phát triển nào đều luôn quan tâm đến quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư của nhà nước một cách hiệu quả nhất, ví dụ như:
Ở Auxtraylia: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường bộ, đường sắt, nhà ở, hệ thống giáo dục); hỗ trợ tài chính cho quỹ hưu trí, người lao động; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ (ví dụ miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian); các dự án đào tạo
Trang 27Ở Áo: Đầu tư cơ sở hạ tầng; hỗ trợ các chương trình đầu tư bằng các biện pháp về thuế; các chương trình làm việc mang tính vùng miền
Ở Canada: Đầu tư vào đường, cầu và giao thông công cộng, hệ thống nước sạch và chăm sóc y tế; đầu tư và nâng cấp nhà ở xã hội, hỗ trợ người mua nhà, giảm thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ các thành phần kinh tế và cộng đồng dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp sản xuất
Ở Nhật Bản: Hàng hóa công cộng không thể được giao dịch thông qua
cơ chế thị trường thì phải được cung cấp bởi khu vực công Đầu tư được thực hiện bởi khu vực công cho các tiện ích như đường xá, cầu cảng… Thì được gọi là đầu tư công [5]
Như vậy, đầu tư công của các nước đều được ưu tiên cho xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, một
số quốc gia có nền kinh tế phát triển đầu tư công còn được triển khai nhằm đảm bảo một số nhiệm vụ phục vụ phúc lợi xã hội và được thực hiện bởi các
cơ quan, tổ chức nhà nước
Thứ hai: Về kế hoạch đầu tư và phát triển:
Tại Trung Quốc, tất cả các dự án đầu tư công ở Trung Quốc đều phải nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt mới được chuẩn bị đầu tư Nhà nước Trung Quốc có Luật riêng về quy hoạch Ủy ban Phát triển và Cải cách Nhà nước Trung Quốc là cơ quan đầu mối tổ chức thẩm định, tổng hợp, lập báo cáo thẩm định về các quy hoạch phát triển, trình Quốc Vụ viện (Chính Phủ) phê duyệt; kiểm tra, tổng hợp kết quả thực hiện các quy hoạch đã được duyệt Các Bộ, ngành, địa phương căn cứ vào các quy hoạch phát triển đã được duyệt để đề xuất, xây dựng kế hoạch đầu tư và danh mục các dự án đầu tư (bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn đầu tư của xã hội) Trung Quốc rất coi trọng khâu chủ trương đầu tư dự án Tất cả các dự án đầu tư công đều phải lập Báo cáo đề xuất dự án (kể cả các dự án đã có trong quy hoạch đã được phê duyệt) Việc điều chỉnh dự án (điều chỉnh mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư dự án, tổng mức đầu tư) nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt phải được sự chấp thuận của cơ quan phê duyệt quy hoạch đó
Trang 28Tại Hàn Quốc, hệ thống ngân sách Hàn Quốc được thực hiện và quản lý tập trung; trong đó, Bộ Chiến lược và Tài chính giữ vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như chuẩn bị và thực hiện các chương trình/dự
án đầu tư công Thông thường, các quyết định liên quan tới ngân sách sẽ được đưa ra sau khi có thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền và cơ quan Bộ có nhu cầu vốn Chính phủ ban hành Khung chi tiêu trung hạn (Medium Term Expenditure Budgeting) Việc phân bổ năm ngân sách bắt đầu bằng việc thảo luận về kế hoạch ngân sách đầu tưu cho 5 năm bao gồm lập kế hoạch, năm ngân sách và ba năm sau
Theo khuyến nghị của World Bank, từ những năm 80 thế kỷ trước, nhiều quốc gia đang phát triển đã xây dựng các kế hoạch đầu tư công (PIP) Ban đầu, kế hoạch đầu tư công được thực hiện ở các quốc gia phụ thuộc vào viện trợ của WB mà ít có ở các quốc gia có thu nhập trung bình Tuy nhiên gần đây, với sự giúp đỡ của WB và EU, kế hoạch đầu tư công đã xuất hiện ở nhiều quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi Tại một số quốc gia đang phát triển, kế hoạch đầu từ công đơn giản là một danh sách kêu gọi tài trợ và đầu tư mà ngân sách quốc gia đó khó có thể đáp ứng Tuy nhiên, kế hoạch đầu
tư công mà WB hướng tới là các chương trình đầu tư công trung hạn Mục tiêu
mà PIP hướng tới là cải thiện hoạt động quản lý kinh tế, đảm bảo rằng các chiến lược kinh tế vĩ mô được chuyển hóa vào các chương trình và dự án cụ thể; cải thiện hoạt động điều phối các nguồn lực đầu tư, bảo đảm cho các lĩnh vực được
ưu tiên đầu tư; tăng cường năng lực của Chính phủ trong hoạt động đàm phán với các nhà đầu tư; hỗ trợ công tác quản lý tài chính công bằng việc cân đối các cam kết và nguồn lực trong những giai đoạn phát triển nhất định; tăng cường năng lực thực thi dự án bằng việc cung cấp khuôn khổ cần thiết cho các hoạt động chuẩn bị dự án, thực hiện dự án, giám sát đầu tư [5]
Hoạt động đầu tư công ở các nước đều được thực hiện bằng nguồn vốn Nhà nước, trên cơ sở kế hoạch đầu tư ngắn hạn và trung hạn đã được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt
Thứ ba: Về tổ chức quản lý dự án và thẩm định dự án:
Tại Trung Quốc, quản lý đầu tư công đợc phân quyền theo 04 cấp ngân sách gồm: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố, cấp huyện và trấn Cấp có
Trang 29thẩm quyền của từng cấp ngân sách có toàn quyền quyết định đầu tư các dự
án sử dụng vốn từ ngân sách của cấp mình Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Việc thẩm định các dự án đầu tư ở tất cả các bước (chủ trương, báo cáo khả thi, thiết kế kỹ thuật và tổng khái toán, thiết kế thi công và tổng dự toán, đấu thầu…) đều qua Hội đồng thẩm định của từng cấp và lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cùng cấp và cấp trên nếu có sử dụng vốn hỗ trợ của ngân sách cấp trên Trung Quốc có phân loại dự án quan trọng quốc gia trên cơ sở các tiêu chí về quy mô tổng mức đầu tư, quy mô tác động KTXH, môi trường của dự án và quy mô sử dụng các nguồn tài nguyên, khoáng sản của quốc gia, ví dụ Quốc Vụ viện Trung Quốc phê duyệt các dự
án đầu tư có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ 1 tỷ nhân dân tệ trở lên (khoảng 2.000 tỷ đồng) và các dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước
và có tổng mức đầu tư từ 5 tỷ nhân dân tệ trở lên (khoảng 10.000 tỷ đồng) [5] Tại Nhật Bản, các cơ quan quản lý và điều hành đầu tư công ngoài Chính phủ và các tập đoàn công cộng, cơ quan chính quyền quận, thành phố còn có
sự thạm gia của các tổ chức hợp tác đầu tư giữa nhà nước và tư nhân
Trong hệ thống quản lý đầu tư công của Hàn Quốc, Trung tâm Quản lý đầu tư hạ tầng công - tư (Public and Private Infrastructure Investment Management Center - PIMAC) thuộc Viên Phát triển Hàn Quốc (Korea Development Institute (KDI) là cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành lập Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi (PFS) đối với các dự án đầu tư công có quy mô lớn và Bộ Chiến lược Tài chính chịu trách nhiệm thẩm định thông qua và quyết định việc loại bỏ hoặc chuyển sang giai đoạn nghiên cứu khả thi các dự
án này, bao gồm: Dự án dùng vốn ngân sách trung ương có tổng mức đầu tư
từ 50 tỷ won (khoảng 50 triệu USD) trở lên, bao gồm dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng và không xây dựng cơ sở hạ tầng như các chương trình đầu tư nghiên cứu phát triển và phúc lợi xã hội; dự án dùng vốn ngân sách của địa phương
và các dự án hợp tác công tư (PPP) có nguồn vốn hỗ trợ của ngân sách trung ương trên 30 tỷ won (khoảng 30 triệu USD) Sau khi Bộ Chiến lược và Tài chính thẩm định, Báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án nêu trên sẽ được trình
ra Quốc hội Hàn Quốc xem xét, quyết định [5]
Trang 30Việc quản lý dự án đầu tư ở các nước được phân cấp cho cả chính quyền địa phương hoặc ủy thác cho một tổ chức để quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật và đều được thẩm định chặt chẽ bởi các cơ quan của chính phủ
từ bước lập chủ trương đầu tư đến phê duyệt dự án đầu tư
Thứ tư: Về điều chỉnh dự án:
Một số nước có hệ thống quản lý đầu tư công tương đối hiệu quả như Chi-lê, Ai-len, Hàn Quốc, Vương quốc Anh đều áp dụng cơ chế cụ thể để xúc tiến rà soát thực hiện dự án nếu có sự thay đổi cơ bản về chi phí, tiến độ và lợi nhuận ước tính của dự án Ví dụ ở Hàn Quốc, các dự án tự động được thẩm định lại nếu chi phí thực tế tăng thêm trên 20%; ở Chi-lê, nếu giá bỏ thầu thấp nhất cao hơn giá dự toán từ 10% trở lên, dự án đó sẽ bị thẩm định lại
Thứ năm: Về giám sát, kiểm tra, đánh giá đầu tư:
Tại mội số nước tiên tiến như Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Chi-lê, len, việc kiểm tra, đánh giá hoàn thành dự án được thực hiện thông qua chính sách hậu kiểm Ở Chi-lê và Hàn Quốc, trên thực tế, quan chức giữ vai trò lớn trong việc kiểm tra tài sản hoàn thành so với kế hoạch dự án Tại Ai-Len và Vương quốc Anh, đánh giá hoàn thành là đánh giá tác động của dự án đầu tư dựa trên kết quả đầu ra Tại bốn quốc gia này, các dự án đầu tư đều phải được kiểm toán Riêng Ai-Len và Vương quốc Anh, cơ chế rà soát đặc biệt được thực hiện nhằm phát hiện những nhân tố mang tính hệ thống ảnh hưởng tới chi phí và chất lượng dự án
Ai-Ở Trung Quốc, việc tổ chức giám sát các dự án đầu tư công được thực hiện thông qua nhiều cấp, nhiều vòng giám sát khác nhau Mục đích giám sát đầu tư của Cơ quan Chính Phủ là đảm bảo đầu tư đúng mục đích, đúng dự án, đúng quy định và có hiệu quả Cơ quan có dự án phải bố trí người thực hiện giám sát dự án thường xuyên theo quy định của pháp luật
Ủy ban Phát triển và Cải cách từng cấp chịu trách nhiệm tổ chức giám sát các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý của cấp mình, có bộ phận giám sát đầu tư riêng Khi cần thiết có thể thành lập tổ đặc nhiệm để thực hiện giám sát trực tiếp tại nơi thực hiện dự án Ủy ban Phát triển và Cải cách thành lập và chủ trì các tổ giám sát đầu tư liên ngành với sự tham gia của các cơ quan tài chính, chống tham nhũng, quản lý chuyên ngành cùng cấp và các cơ quan, địa phương có liên quan [5]
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1 Thực trạng quy định về đầu tư công
2.1.1.1 Các quy định về đầu tư công
Việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật NSNN, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Quản lý và sử dụng tài sản nhà nước, các Nghị định hướng dẫn thi hành các luật nêu trên và các Nghị định khác của Chính phủ Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này chưa có các quy định chi tiết về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công, cụ thể như sau:
- Luật NSNN (Điều 31, Điều 33) đã quy định nhiệm vụ chi ngân sách các cấp bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Tại khoản 3, khoản 4 Điều 37, khoản 2 Điều 64 Luật NSNN quy định nguyên tắc chi đầu
tư phát triển phải căn cứ vào chương trình, dự án đầu tư và phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm và kế hoạch tài chính 5 năm; quy định về việc quyết toán vốn đầu tư Tuy nhiên, Luật NSNN không có quy định về việc xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn; không quy định trình tự thủ tục lập kế hoạch các nguồn vốn khác ngoài vốn NSNN như đã nêu trên, đặc biệt những nguồn vốn có thuộc tính NSNN như: Vốn ODA, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn công trái đều không được quy định Luật NSNN cũng không quy định cách thức lựa chọn, xác định chương trình, dự án đầu tư như thế nào và phân cấp trách nhiệm cho các cấp, ngành trong việc quản lý vốn đầu tư NSNN cho từng chương trình, dự án [3]
- Luật Xây dựng được ban hành và các nghị định hướng dẫn Luật này đã tạo ra cơ sở pháp lý riêng để quản lý hoạt động xây dựng đối với các dự án có các công trình xây dựng Phạm vi điều chỉnh của Luật Xây dựng (Điều 1) quy định về hoạt động xây dựng; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trang 32và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng, bao gồm cả trình tự thủ tục lập, thẩm định và quản lý dự án đầu tư có công trình xây dựng Tuy nhiên, những nội dung này chưa bao gồm hết các loại chương trình đầu tư công, dự
án đầu tư công không có cấu phần xây dựng; không có các quy định về việc thẩm quyền phê duyệt và xác định chủ trương đầu tư các dự án đầu tư xây dựng; thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư công để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, dẫn đến tình trạng phê duyệt dự án đầu
tư công tràn lan, nhưng không cân đối được nguồn vốn, thời gian thi công kéo dài, gây thất thoát, lãng phí, giảm hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Nhà nước
- Luật Đầu tư quy định về việc quản lý hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh bao gồm cả hoạt động đầu tư sử dụng vốn nhà nước cho mục đích kinh doanh Luật Đầu tư quy định khá cụ thể trình tự thủ tục đầu tư đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế bằng các nguồn vốn, kể cả đầu tư kinh doanh bằng vốn nhà nước, tuy nhiên, Luật Đầu
tư chưa có các quy định cụ thể để điều chỉnh việc quản lý và sử dụng vốn đầu
tư công để thực hiện các chương trình, các dự án phục vụ phát triển KTXH
- Luật Đấu thầu quy định về các hoạt động đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp đối với gói thầu thuộc các dự án Luật này chỉ điều chỉnh một khâu trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án đầu tư khi đã được quyết định đầu tư và được bố trí vốn
- Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước cũng có nhiều nội dung lên quan đến quản lý đầu tư và xây dựng như việc quản lý, khai thác các tài sản nhà nước tại các cơ quan; quy định quyền và trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản nhà nước tại các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang
và cơ quan sự nghiệp Tuy nhiên, mỗi luật đề cập đến khía cạnh khác nhau để chế định các hành vi nhằm thực hiện các mục tiêu riêng của từng Luật như tiết kiệm, chống lãng phí, quản lý tài sản nhà nước sau đầu tư,
- Ngoài các luật nêu trên, lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản còn liên quan tới nhiều luật và văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp [3]
Trang 33- Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định hướng dẫn thi hành các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó đáng chú ý là các văn bản hướng dẫn thi hành một số luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, đó là:
+ Các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng, gồm: Nghị định 32/2015/NĐ-CP về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Nghị định 37/2015/NĐ-
CP hướng dẫn về hợp đồng xây dựng; Nghị định 44/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng; Nghị định 46/2015/NĐ-CP
về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng; Nghị định
59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng; Nghị định số 80/2014/NĐ-59/2015/NĐ-CP ngày 06/08/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải; Nghị định 101/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư
+ Ngoài ra còn có nhiều Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề cụ thể liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản như Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản; Nghị định 117/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản; Nghị định 99/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở; Nghị định 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội; Nghị định 101/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư và nhiều thông tư, quyết định của Bộ Xây dựng
+ Các nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, gồm: Nghị định 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định 131/2015/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn về dự án quan trọng quốc gia; Nghị định 84/2015/NĐ-CP của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư; Nghị định 83/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài; Nghị định 77/2015/NĐ-CP của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư;
Trang 34+ Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
- Bên cạnh hệ thống luật và các văn bản hướng dẫn nêu trên, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở nước ta còn được điều chỉnh bởi nhiều nghị định khác, trong đó liên quan trực tiếp là các nghị định sau:
+ Đối với các dự án đầu tư không có xây dựng công trình thì thực hiện theo quy định của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo các Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ sửa đổi bổ sung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP và số 12/2000/NĐ-
CP nêu trên
+ Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 của Chính phủ về quy chế quản lý sử dụng nguồn vốn ODA
+ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 về lập, phê duyệt và quản
lý quy hoạch tổng thể phát triển KTXH và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006
+ Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số quyết định liên quan đến quản lý đầu tư như: Quyết định số 135/2009/QĐ-TTg ngày 04/11/2009 ban hành quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chương trình MTQG (thay thế Quyết định số 42/2002/TTg ngày 19/3/2002); Quyết định số 48/2008/QĐ-TTg ngày 3/4/2008 ban hành hướng dẫn chung lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án sử dụng vốn ODA của nhóm 5 ngân hàng; Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn liên quan đến quản lý các nguồn vốn đầu tư đặc thù như trái phiếu Chính phủ, vốn ODA, thanh, quyết toán vốn đầu tư [3] Nhìn chung, các văn bản luật pháp trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng đã được ban hành kịp thời, bổ sung ngày càng đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, hiệu lực pháp lý cao hơn và phù hợp với thực tế hơn Các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư được ban hành đảm bảo tính công khai, minh bạch
và công bằng, hạn chế dần tính khép kín trong hoạt động đầu tư công; thực tế vận hành của các luật này đã mang lại hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, một phần
Trang 35quan trọng của đầu tư sử dụng vốn đầu tư công bao gồm: Vốn đầu tư từ NSNN, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, tín dụng đầu
tư phát triển của nhà nước và các khoản vốn đầu tư khác có tính chất NSNN (là khoản vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng không đưa vào cân đối NSNN, như: Xổ số kiến thiết, một số hoặc một phần các khoản phí, lệ phí), các khoản vốn vay của NSĐP để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, hiện nay chưa có một đạo luật chung, thống nhất điều chỉnh; các quy định nằm rải rác ở các Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định; nhiều nội dung chưa được Luật hóa nên việc áp dụng thực hiện rất khó khăn Mặt khác, các quy định chưa đầy đủ, hoàn chỉnh nên đã tạo ra những khoảng trống trong pháp luật đầu tư công Các hoạt động đầu tư công vẫn thiếu một hệ thống luật pháp nhất quán điều chỉnh, công tác quản lý đầu tư công, vẫn còn những hạn chế, yếu kém, làm giảm hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế,
xã hội Kết cấu hạ tầng KTXH vẫn còn trong tình trạng quá tải (hệ thống giao thông, điện, bệnh viện…) Thủ tục trong đầu tư xây dựng vẫn còn rườm rà, phức tạp, mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án Hiệu quả đầu tư nói chung còn thấp, tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung; thất thoát và lãng phí vốn đầu tư, nhất là vốn NSNN chưa được khắc phục triệt để Đầu tư thiếu đồng bộ, tiến độ kéo dài, dự án phải điều chỉnh nhiều lần làm tăng tổng mức đầu tư và gây bị động trong khâu cân đối kế hoạch vốn hàng năm Kế hoạch trung hạn trong đầu tư chưa được quan tâm đúng mức, nên hàng năm các bộ ngành và địa phương chưa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch, nhất là kế hoạch sử dụng vốn NSNN
Luật Đầu tư công được ban hành ngày 18/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 đã tạo ra cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất trong quản lý và
sử dụng nguồn vốn đầu tư công nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát, chậm tiến độ, nợ đọng kéo dài, kém hiệu quả và đảm bảo
sự nhất quán trong hệ thống luật pháp, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước
về đầu tư công hiện nay, đã quy định nhiều nội dung đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư công và phù hợp với các thông lệ quốc tế,
cụ thể như sau:
Trang 36Thứ nhất, với việc ban hành Luật Đầu tư công đã tạo ra hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác trong quản lý các nguồn vốn đầu tư công
Như trên đã phân tích quản lý và sử dụng vốn đầu tư công có liên quan đến nhiều luật khác nhau, như: Luật NSNN, Luật Xây dựng, Luật Quản lý nợ công, Luật quản lý sử dụng tài sản nhà nước, Luật Đấu thầu, Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này chưa có các quy định chi tiết về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công Việc triển khai quản lý vốn đầu tư công trong thời gian vừa qua chủ yếu thông qua các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Trong các năm vừa qua, việc triển khai thực hiện Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý vốn đầu tư từ NSNN và trái phiếu Chính phủ, được đánh giá là một cải cách quan trọng, khắc phục một bước các tồn tại, hạn chế trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công, tuy nhiên, đây mới là các giải pháp cấp bách trước mắt, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong quản lý đầu tư công một cách toàn diện, có hệ thống Với việc ban hành Luật Đầu tư công đã tạo ra hệ thống pháp luật đồng bộ để quản lý toàn bộ quá trình đầu tư công, từ chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công, lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực hiện kế hoạch, theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch đầu tư công
Thứ hai, phạm vi điều chỉnh Luật bao quát được việc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư công
Với phạm vi điều chỉnh và các đối tượng phạm vi áp dụng Luật được quy định tại Chương I đã bao quát các nguồn vốn đầu tư công từ NSNN, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu
để lại đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay của NSĐP để đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và tại nước ngoài
Trang 37Thứ ba, đã thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư, là nội dung đổi mới quan trọng nhất của Luật Đầu tư công; đó là điểm khởi đầu quyết định tính đúng đắn, hiệu quả của chương trình, dự án theo đúng các mục tiêu, định hướng, kế hoạch, quy hoạch và chính sách phát triển của Đảng
và Nhà nước; ngăn ngừa sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí và đơn giản trong việc quyết định chủ trương đầu tư, nâng cao trách nhiệm của người ra quyết định chủ trương đầu tư Đồng thời, góp phần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư công
Thực tế quản lý đầu tư công trong thời gian qua cho thấy lãng phí, thất thoát có nhiều nguyên nhân khác nhau, như: Do buông lỏng quản lý, đầu tư dàn trải, tham nhũng, bớt xén trong thi công, Nhưng lãng phí lớn nhất là do chủ trương đầu tư không đúng, không hiệu quả Tình hình trên đã kéo dài trong nhiều năm nhưng chưa có biện pháp khắc phục, mà ngược lại có mặt còn trầm trọng hơn Luật Đầu tư công đã dành trọn một mục trong Chương II
để chế định các nội dung, quy trình, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư, bao gồm: Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; điều kiện và trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với từng chương trình, dự
án quan trọng quốc gia và các chương trình, dự án khác Đây là những quy định mới chưa được chế định trong các quy phạm pháp luật hiện hành; đặc biệt là các nội dung về thẩm quyền và trình tự nghiêm ngặt quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công
Thứ tư, tăng cường và đổi mới công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn, coi đó là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác thẩm định chương trình, dự án đầu tư công
Tình trạng hiện nay, trong nhiều bộ, ngành và địa phương chưa coi trọng công tác thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn hoặc chỉ làm hời hợt, chiếu lệ; quyết định các chương trình, dự án với quy mô lớn gấp nhiều lần khả năng cân đối vốn của cấp mình, cũng như khả năng bổ sung của ngân sách cấp trên Việc quy định về thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn trong Luật Đầu tư công sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình, dự án đầu tư công, bảo đảm bố trí vốn một cách tập trung cho các mục tiêu, dự án ưu tiên cần thiết phải đầu tư, khắc phục tình trạng phê duyệt quá
Trang 38nhiều dự án, dẫn đến bố trí vốn dàn trải, kéo dài thời gian thi công, mà không tính đến việc huy động và cân đối các nguồn vốn như trong thời gian vừa qua
Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác lập kế hoạch đầu tư; chuyển từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển KTXH 5 năm
Đây cũng là một trong những đổi mới quan trọng trong quản lý đầu tư công Luật Đầu tư công đã dành riêng một chương quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công bao quát toàn bộ quy trình từ lập kế hoạch đến thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm theo các nguyên tắc, điều kiện lựa chọn danh mục chương trình, dự
án đầu tư theo từng nguồn vốn cụ thể Trong công tác lập kế hoạch đầu tư công quy định nhiều nội dung mới, có căn cứ khoa học và thực tiễn, như việc lập kế hoạch đầu tư trung hạn sẽ bảo đảm các chương trình, dự án khi được phê duyệt sẽ được bố trí đủ vốn để hoàn thành theo đúng quyết định phê duyệt, khắc phục tình trạng không cân đối được nguồn vốn, bị động, đầu tư cắt khúc ra từng năm hiện nay
Các căn cứ, nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm cho tất cả các nguồn vốn được quy định chặt chẽ, cụ thể bảo đảm việc lập kế hoạch phù hợp với các mục tiêu, định hướng, trong các chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch phát triển KTXH Các nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm cho các chương trình, dự án, cũng như các nguyên tắc lựa chọn danh mục dự án và dự kiến mức vốn bố trí cho từng dự
án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm của từng nguồn vốn bảo đảm việc bố trí vốn cho các chương trình, dự án, khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún Các điều kiện chương trình, dự án đầu tư công được bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm bảo đảm
đủ thời gian cho các chủ trương trình, dự án hoàn thành các thủ tục đầu tư; đồng thời yêu cầu các chủ trương trình, dự án chỉ được bố trí vốn kế hoạch hàng năm khi đã có đầy đủ các thủ tục đầu tư đúng thời gian quy định, khắc phục tình trạng vừa thi công vừa hoàn thiện các thủ tục đầu tư như hiện nay Với việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn sẽ vừa bảo đảm các cân đối kinh tế lớn trong phạm vi cả nước, vừa tạo sự chủ động cho các bộ,
Trang 39ngành, địa phương biết cấp mình, cơ quan mình có bao nhiêu vốn trong kế hoạch
5 năm để có quyết định chủ trương đầu tư đúng đắn, hiệu quả hơn; đặc biệt là tạo
ra sự công khai, minh bạch trong phân bổ nguồn lực của Nhà nước
Thứ sáu, tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công
Luật Đầu tư công đã dành một chương quy định các nội dung về triển khai thực hiện kế hoạch; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công của tất cả các cấp, các ngành Đây cũng là lần đầu tiên công tác theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư và các chương trình, dự án đầu tư công, đặc biệt các quy định về giám sát cộng đồng được quy định trong Luật đáp ứng được yêu cầu quản lý và phù hợp với thông
lệ quốc tế Với các quy định này sẽ bảo đảm kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công được triển khai thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, đồng thời, trong từng khâu thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đều được
tổ chức theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, bảo đảm quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả
Thứ bảy, tiếp tục đổi mới hoàn thiện quy chế phân cấp quản lý đầu tư công phân định quyền hạn đi đôi với trách nhiệm của từng cấp
Trên cơ sở giữ các nguyên tắc về phân cấp quản lý đầu tư công, quyền hạn của các cấp, các ngành như hiện nay, Luật Đầu tư công đã chế định các quyền hạn và trách nhiệm của các cấp trong toàn bộ quá trình đầu tư của các chương trình, dự án từ lập kế hoạch, phê duyệt, đến triển khai theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư công một cách rõ ràng, cụ thể Với các quy định này sẽ xác định rõ được trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong từng khâu của hoạt động đầu tư, yêu cầu từng cá nhân tham gia vào quá trình quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, phê duyệt kế hoạch, triển khai thực hiện phải chịu trách nhiệm vào các quyết định và việc làm của mình
Thứ tám, với những nội dung đổi mới nêu trên, việc triển khai thực hiện Luật Đầu tư công góp phần quan trọng vào việc thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theo hướng nâng cao hiệu quả từ đó tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình
xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững