Tính cấp thiết của đề tài Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VACHANG
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA NƯỚC CỘNG
HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỂN THỊ THỦY
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Các số liệu, trích dẫn tài liệu tham khảo trong luận văn đảm bảo trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn là của tác giả và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vachang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Nguyễn Thị Thủy, người đã giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt quá trình làm luận văn của mình
Xin gửi cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức thiết thực trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập ở Việt Nam
Hà Nội, ngày 5 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Vachang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 6
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục của luận văn ………7
CHƯƠNG 1 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG 8
1.1 Khái niệm về công chứng 8
1.1.1 Quan niệm về công chứng 8
1.1.2 Đặc điểm của công chứng 11
1.1.3 Vai trò của công chứng trong quản lý hành chính nhà nước 14
1.2 Điều chỉnh pháp luật về hoạt động công chứng 17
1.2.1 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về công chứng 17
1.2.2 Định nghĩa pháp luật về công chứng 21
1.2.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật về công chứng 22
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG NƯỚCCHDCND LÀO 24
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở nước CHDCND Lào 24
2.2 Thực trạng pháp luật về công chứng nước CHDCND Lào 27
2.2.1 Chủ thể thực hiện công chứng 27
2.2.2 Nội dung hoạt động công chứng 29
2.2.3 Thủ tục thực hiện công chứng 33
2.2.4 Giá trị công chứng 35
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về công chứng của nước CHDCND Lào 36
Trang 52.3.1 Về công chứng viên 36
2.3.2 Nội dung và phạm vi công chứng 41
2.2.3 Thủ tục công chứng 47
2.2.4 Một số nhận xét, đánh giá 48
CHƯƠNG 3 53
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA CHDCND LÀO 53
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về công chứng 53
3.1.1 Xuất phát từ nhu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 53
3.1.2 Khắc phục những yếu kém, bất cập trong hoạt động công chứng của Lào 54
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng 55
3.2.1 Thống nhất chỉ đạo từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực công chứng 55
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động công chứng 57
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ Công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hoá 59
3.2.4 Xây dựng bộ Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng 62
3.2.5 Thành lập Hiệp hội công chứng 65
3.2.6 Xây dựng cơ sở dữ liệu cho Hiệp hội Công chứng 66
3.2.6 Xây dựng kho lưu hồ sơ công chứng chung 68
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng
cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội;
có tác dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, đồng thời góp phần vào việc duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội
Việc tăng cường công tác công chứng trong tình hình hiện nay là yêu cầu bức xúc của quản lý kinh tế, quản lý xã hội, hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị
và trật tự an toàn xã hội Để phát huy hiệu quả của hoạt động công chứng, tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật và giúp đỡ pháp lý cho công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, năm 1992 Nhà nước Lào đã ban hành Luật Công chứng, điều đó chứng tỏ tổ chức và hoạt động công chứng là một lĩnh vực không những được xã hội chú ý mà còn được Nhà nước luôn quan tâm
để hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Lào
Nền kinh tế thị trường, trình độ xã hội hóa ngày càng cao, các quan hệ dân
sự, kinh tế, thương mại ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi tổ chức và hoạt động công chứng cần phải đáp ứng kịp thời những nội dung của quá trình đổi mới mà Đảng và Nhà nước Lào đề ra là "cải cách nền hành chính nhà nước là trung tâm của việc xây dựng hoàn thiện nhà nước trong những năm trước mắt" Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan bổ tạo tư pháp, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, khuyến khích
và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu lợi ích của
Trang 7nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng
Hoạt động công chứng ở Lào trong những năm vừa qua, chừng mực nào đó
đã đóng góp một phần tích cực vào việc lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Song, tình hình hiện nay đang đặt
ra cho tổ chức và hoạt động công chứng nhiều vấn đề cần phải được giải quyết bằng việc tổ chức lại hệ thống công chứng theo hướng thực hiện dịch vụ cộng với sự giám sát của cộng đồng, kiện toàn bộ máy và tinh giảm biên chế một cách cơ bản Chuyên môn hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp nói chung và công chúng nói riêng nhằm giải quyết kịp thời, khách quan, chính xác các việc công chứng mà nhân dân và tổ chức yêu cầu Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết
trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về công chứng của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thể chế công chứng là nội dung quan trọng và cần thiết trong đời sống kinh tế và xã hội của tất cả các nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Ở Lào, thể chế này còn rất mới, mặc dù thời phong kiến đã có cơ quan quản lý văn khế, nhưng những năm sau đó Lào không triển khai, đến nay mới bắt đầu thiết lập lại, do đó việc nghiên cứu về công chứng có thể nói là đang ở giai đoạn bắt đầu, còn thiếu nhiều cả lý luận và thực tiễn
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về công chứng Các tác giả chủ yếu nghiên cứu nhiều nội dung khác nhau, một số công trình nghiên cứu một cách khái quát hoặc mang tính chất giới thiệu pháp luật về công chứng, cụ
thể là: Nguyễn Văn Yểu - Dương Đình Thành "Những điều cần biết về công chứng nhà nước'' (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992); Đề tài khoa
Trang 8học "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam" (Mã số 92-98-224 của Bộ Tư pháp, 1993); Giới thiệu vài nét về xây dựng và hoàn thiện công chứng nhà nước ở Thành phố Hà Nội (Thông tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 1995); "Công chứng nhà nước và những vấn đề đặt ra hiện nay" của TS Trần Thất (Thông tin khoa học pháp lý,
Bộ Tư pháp, 1995); "Công chứng nhà nước Thành phố Hà Nội những vấn đề cần quan tâm" của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước,
số 11, tháng 6 năm 1995; "Tình hình công chứng hiện nay và những vấn đề đặt ra" của tác giả Trần Kiên, đăng trên Tạp chí Pháp luật, số chuyên đề tháng 7 năm 1995; "Công chứng nhà nước công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức" của tác giả Dương Đình Thành, đăng trên Tạp chí Pháp luật, số chuyên đề tháng 7 năm 1995; "Một số vấn đề công chứng các giao dịch về tài sản ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp", Luận văn Thạc
sĩ Luật học của tác giả Đỗ Xuân Hòa, hoàn thành năm 1998; "Một số vấn đề về công chứng nhà nước của TS Nguyễn Ngọc Hiến'' (tài liệu nghiệp vụ về công chứng - Bộ Tư pháp phát hành tháng 10/1996); "Tập bài giảng công chứng, luật
sư, giám định tư pháp, hộ tịch" của Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; "Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay", (Luận án
Tiến sĩ Luật học của Đặng Văn Khanh, Hà Nội 2000)
Trên đây là các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, nơi mà tác giả đang học tập, các đề tài nghiên cứu nói trên đã có những giải quyết nhất định về các lĩnh vực công chứng ở Việt Nam trong những năm trước đây, các nội dung nghiên cứu cập nhật khá đầy đủ và đảm bảo tính hệ thống về tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam trong những năm vừa qua Còn ở Lào do nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế, pháp luật về công chứng Lào vừa thiếu, vừa không ổn định, nhận thức chung về công chứng không được thống nhất Đến
Trang 9nay cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu hoàn thiện về vấn đề pháp luật
về công chứng Do vậy đề tài của tác giả là vấn đề cấp thiết góp phần vào hoàn thiện pháp luật về công chứng tại Lào
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trước yêu cầu của cuộc cải cách tư pháp nói chung và cải cách hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các hoạt động kinh tế, thương mại dân
sự, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử của Tòa án Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề pháp luật về công chứng nhà nước, để từ đó góp phần giải quyết các vướng mắc về tổ chức và hoạt động công chứng ở Lào hiện nay
- Nhiệm vụ:
Về mặt lý luận: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khái niệm công
chứng trong quá trình lịch sử lập pháp hành chính - nhà nước Lào
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật về tổ
chức và hoạt động công chứng được áp dụng trong thực tiễn hoạt động của các phòng công chứng cũng như hoạt động của các cơ quan khác có thẩm quyền thực hiện công chứng, đồng thời trên cơ sở những vướng mắc, thiếu sót mà thực tiễn hoạt động công chứng đặt ra để phân tích về mặt lý luận và đề xuất những giải pháp nhằm kiện toàn lại tổ chức công chứng ở Lào
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu về khái niệm công chứng ở Lào hiện nay; nghiên cứu
về tổ chức công chứng, hoạt động công chứng ở Lào
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 10Luận văn nghiên cứu việc tổ chức và hoạt động công chứng ở Lào gồm các vấn đề về khái niệm công chứng, việc tổ chức các cơ quan thực hiện công chứng
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng NDCM Lào về Nhà nước
và pháp luật Trên cơ sở phương pháp luật duy vật biện chứng và quan điểm lịch sử để khẳng định vị trí vai trò chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động công chứng
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đặc biệt chú ý sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, sử dụng phương pháp điều tra, phân tích thực tiễn tổ chức và hoạt động của các Phòng công chứng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công chứng và pháp luật về công chứng nước CHDCND Lào
Chương 2: Thực trạng pháp luật về công chứng nước CHDCND Lào
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về công chứng của nước CHDCND Lào
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CÔNG CHỨNG 1.1 Khái niệm về công chứng
1.1.1 Quan niệm về công chứng
Lịch sử hoạt động công chứng, chứng thực, làm chứng gắn liền với sự phát triển của xã hội Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng (Công chứng viên) và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt
rõ ràng Ở thời kỳ cổ đại, người ta đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền thống (giao kết miệng) Lịch sử hình thành và phát triển nhà nước cũng cho thấy, đã có thời kỳ chưa có khái niệm công chứng Một số tác giả nghiên cứu
về công chứng cho rằng, có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng thư và công chứng thư Các tác giả đã đưa ra các khái niệm "công" và "tư" để phân biệt giữa những cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện hành vì công chứng hoặc Nhà nước trực
tiếp thực hiện các việc công chứng Điều này được lý giải như sau:
- Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân Lào tồn tại
một truyền thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những người có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyết vụ việc tranh chấp Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là
"tư chứng thư" Đây là một dạng chứng nhận của bất kỳ một cá nhân nào, thực hiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn mà họ
Trang 12được giao, nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyên khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu Loại hình này xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay Ở Lào, các thể thức giấy
tờ, khế ước như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng đất… đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉ vào văn tự Đây là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý, hạn chế tranh chấp kiện tụng Ngày nay, Bộ luật Dân sự của nước ta vẫn quy định trong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực… Nếu một bên cho rằng bên kia không trung thực, thì phải có chứng cứ (chứng cứ ở đây bao hàm cả những chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cung cấp 1
Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản ảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ cho Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua bán nhà… Đây là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh nghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động
Có thể nói, tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đa dạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến như một nhu cầu tất yếu cho xã hội
- Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt
động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích công, do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là công
1
QLNN về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra, ThS.Đặng Văn Tường, QLNN Học viện hành chính Số168 tháng 1/2010, tr 47 - 50
Trang 13chứng Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vì công chứng được nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng các hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà nước ủy quyền (công chứng tự do)
Hiện tại có những quan điểm cho rằng, công chứng có nghĩa là lấy công quyền mà làm chứng (Attestation), sự chứng nhận của nhà nước ở đây mang tính quyền lực công Quan điểm khác cho rằng, bản thân thuật ngữ công chứng đã mang ý nghĩa là sự làm chứng công khai, có dấu ấn của công quyền, công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm thực hiện một công vụ (Thuật ngữ công vụ ở đây được hiểu là không hoàn toàn lệ thuộc vào những quy định của pháp luật về nền hành chính công) Công chứng là một hoạt động hành chính công, lấy lẽ công để làm chứng, là sự nhận thức, xác thực hoặc xác nhận một sự kiện, một hiện tượng đúng là như thế 2
Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, hoạt động công chứng thể hiện vai trò của quần chúng (công chúng, dân chúng), hoạt động phục vụ lợi ích công cộng, thể hiện tính công khai do nhà nước cho phép và thừa nhận Hoạt động công chứng không phải là hoạt động thực thi công quyền, không
phải lấy quyền công, lẽ công mà mà đơn giản chỉ là chứng nhận như quan
điểm vừa nêu trên, tác giả tán thành với quan điểm này
Công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đã hình thành ở Lào khá sớm, nhưng mãi đến năm 1992, thuật ngữ “công chứng” mới bắt đầu được sử dụng một cách rộng rãi và cho đến nay, vẫn được sử dụng, cụ thể
2
Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn : Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Quang Minh; Hà Nội, 2009
Trang 14tại Điều 1 Luật Công chứng Lào quy định: “Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”
- Luật Công chứng năm 2006 của Việt Nam quy định: “Công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”
Có thể nhận thấy, những khái niệm về công chứng gắn liền với những thay đổi của xã hội ở Lào cũng như ở Việt Nam nhưng đều thể hiện quan điểm của nhà nước về công chứng cũng như trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng xét về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn không thay đổi
Từ các quy định pháp luật trên đây, có thể hiểu: Công chứng là việc Công chứng viên, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc quy định của pháp luật, chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các văn bản hợp đồng, giao dịch nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
1.1.2 Đặc điểm của công chứng
Thứ nhất, công chứng là hành vi do Công chứng viên thực hiện Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi do người đại diện của cơ quan hành chính công quyền thực hiện
Trang 15Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch sau khi được chứng nhận có giá trị pháp lý như một văn bản của cơ quan công quyền
Công chứng viên Phòng Công chứng là công chức, viên chức nhà nước được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chứng viênVăn phòng công chứng không phải là công chức, viên chức nhà nước, lương và các khoản thu nhập khác được trích từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và nguồn thu hợp pháp khác từ hợp đồng công chứng
Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là chứng nhận các hợp đồng
và lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật
Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt động công chứng để phân biệt với các hoạt động mang tính chất hành chính khác của các cơ quan công quyền Việc lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng và chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật chính là việc tạo nên các văn bản công chứng
Lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng là việc Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình giúp người yêu cầu công chứng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình được thỏa thuận bằng văn bản, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hoặc tư vấn, góp ý để người yêu cầu công chứng thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của mình một cách rõ ràng, chính xác trong các văn bản họ tự lập nhằm đảm bảo tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch họ tự lập Nói cách khác, hành vi của Công chứng viên nhằm xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng hoặc các giao dịch
Trang 16Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch là vô
cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ Trong pháp luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được Công chứng viên xác nhận Tính xác thực này được Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: Sự tự nguyện của các bên khi ký kết hợp đồng) và do đó, nếu không có Công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được
Chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật là việc
Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình xác nhận tính hợp
pháp của hợp đồng, giao dịch Đây là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng nội dung (công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức (công chứng hệ Anglosason) Trong công chứng hệ Latine thì các hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới được Công chứng viên xác nhận, những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng Đặc điểm này của công chứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp trong hợp đồng, giao dịch của công chứng
Nội hàm của khái niệm công chứng là tạo lập nên một loại chứng cứ viết, có giá trị pháp lý cao, vì các hợp đồng, giấy tờ này được chứng nhận tính xác thực của nó do những người có thẩm quyền công chứng, chứng nhận nên nó mang dấu ấn của công quyền và trở thành “công chứng thư” Về ngoại diên của khái niệm công chứng bao hàm các loại giấy tờ, hợp đồng mà
Trang 17theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng, hoặc cá nhân tổ chức
tự nguyện công chứng để những giấy tờ này trở thành một chứng cứ pháp lý
Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thực hiện
Văn bản công chứng do Công chứng viên lập theo trình tự, thể thức bắt buộc, ghi lại chính xác thời gian, không gian, ý chí, nguyện vọng cũng như năng lực chủ thể của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch Văn bản công chứng trước hết nhằm tạo lập giá trị thực hiện giữa các bên tham gia giao dịch, hợp đồng bằng việc ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên,
là căn cứ pháp lý không thể bác bỏ buộc các bên phải thực hiện đúng các cam kết đã xác lập, đồng thời có giá trị pháp lý cả với bên thứ ba
Thứ tư, Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với tổ chức và hoạt động công chứng
Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công Công chứng là một biện pháp phòng ngừa tranh chấp, giúp công dân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng pháp luật Hoạt động công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hợp đồng tư
pháp nhưng hoàn toàn khác với hoạt động của các cơ quan tư pháp
1.1.3 Vai trò của công chứng trong quản lý hành chính nhà nước
Công chứng có tầm ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến đời sống, xã hội
và phát triển kinh tế Bởi trong cuộc sống đời thường cũng như trong dân sự, kinh tế, thương mại diễn ra nếu không suôn sẻ thì các đương sự tìm kiếm chứng cứ, hoặc là để bênh vực cho lý lẽ của mình hoặc là bác bỏ lập luận của đối phương
Để phòng ngừa các tranh chấp, bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại mà đương sự tham gia, họ cần đến chứng
cứ công chứng- loại chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có công chứng hoặc chỉ trình bày bằng miệng
Trang 18Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi sử xự theo đúng pháp luật
Do đó, xét trên bình diện công dân thì văn bản công chứng là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra
sự ổn định của quan hệ giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương Mặt khác, về phương diện Nhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một bằng chứng xác thực, kịp thời không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp có ý kiến của người thứ ba và được quá trình tố tụng cho là không đúng
Về giá trị pháp lý, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng có thoả thuận khác Văn bản công chứng
có giá trị chứng cứ ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu
Trong phát triển kinh tế, các văn bản pháp lý được công chứng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức tiện lợi trong giao dịch hơn Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia giao dịch phải xác nhận tính xác thực của hợp đồng, cũng như địa vị, trách nhiệm pháp lý trong tham gia giao dịch Vì vậy, việc bắt buộc công chứng các loại hợp đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế sẽ tránh được nhiều rắc rối, kiện cáo phát sinh
Ở Lào, công chứng và chứng thực là hai hoạt động có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Xét về bản chất, công chứng và chứng thực có khái niệm không giống nhau Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn không ít người lầm tưởng rằng công chứng và chứng thực là một Bởi vì chúng được xếp vào nhóm chứng
Trang 19nhận tính xác thực, hợp pháp của văn bản, hợp đồng Tuy nhiên giữa công chứng và chứng thực vẫn có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:
Về khái niệm
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Lào sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại mà theo quy định pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
Chứng thực là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính
để chứng thực bản sao là đúng với bản chính
Về thẩm quyền
Công chứng do cơ quan bổ trợ tư pháp thực hiện Phòng công chứng do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng Văn phòng công chứng do 2 công chứng viên hợp danh trở lên thành lập theo loại hình tổ chức của công ty hợp danh, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác
Chứng thực chủ yếu do cơ quan nhà nước thực hiện: Phòng Tư pháp; UBND xã, phường; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Lào ở nước ngoài; công chứng viên Tùy từng loại giấy tờ mà thực hiện chứng thực ở các cơ quan khác nhau
Về bản chất
Công chứng bảo đảm nội dung của một hợp đồng, một giao dịch, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó và
Trang 20qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu rủi ro Công chứng mang tính pháp lý cao hơn
Chứng nhận sự việc, không đề cập đến nội dung, chủ yếu chú trọng về mặt hình thức
Về giá trị pháp lý
Công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là
vô hiệu Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch
Chứng thực: Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch
1.2 Điều chỉnh pháp luật về hoạt động công chứng
1.2.1 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về công chứng
Thứ nhất, điều chỉnh pháp luật về công chứng nhằm đảm bảo sự ổn định
và phát triển của các Văn phòng công chứng
Trang 21Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công chứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao Không giống như
sự phát triển của các mô hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng cần có sự điều tiết, phân bổ và kiểm soát trong một quy hoạch, nhất là sau khi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa Chính vì vậy, rất cần thiết có quy hoạch phát triển các mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng, cũng như thực hiện quản lý nhà nước (QLNN) về công chứng để bảo đảm các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và phân bố một cách hợp lý, khoa học, đáp ứng các yêu cầu công chứng của nhân dân một cách đầy
đủ và thuận tiện
Mục tiêu của xã hội hóa công chứng là phát triển rộng mạng lưới công chứng, xóa bỏ việc kiêm nhiệm chức năng công chứng của các cơ quan hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công Cải cách xã hội gắn liền với cải cách hoạt động tư pháp là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu Nếu nhà nước buông lỏng quản lý, hậu quả sẽ là vô cùng nghiêm trọng Thực tế đã chứng minh, do Lào chưa có đựợc một hệ thống pháp luật trải rộng và thống nhất trong việc áp dụng, chưa có một ngân hàng hồ sơ lưu trữ tốt nên đã có rất nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động của công chứng Điều đó thêm một lần nữa khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của VPCC trong sự nghiệp phát triển
ổn định kinh tế xã hội tại Lào hiện nay
Thứ hai, điều chỉnh pháp luật về công chứng nhằm đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp cũng như hiệu lực của văn bản công chứng
Với vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực (sự có thực, hợp pháp của các hợp đồng giao dịch) công chứng có vai trò tích cực trong việc phòng ngừa các tranh chấp hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra Vì thế, văn bản công chứng có ý nghĩa là chứng cứ trước tòa, là căn cứ pháp lý hợp pháp để xác lập quyền sở hữu cho các bên có quyền liên quan (ví dụ văn bản công chứng
Trang 22hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là căn cứ
để cơ quan đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất cho các chủ thể ) Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tư vấn: Công chứng viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng về các thủ tục pháp lý trong hoạt động công chứng (khác với luật sư) ; Hoạt động công chứng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (thu phí công chứng )
Có thể nói công chứng có mặt hầu hết trên các lĩnh vực, và gắn liền với đời sống của một cá nhân, một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, đến mọi hoạt động của một xã hội để đảm bảo cho mọi giao dịch xã hội được phát triển
an toàn, bền vững Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập
và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi ích kinh
tế xuất phát từ các sử dụng quyền sở hữu đó thông qua công chứng
Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro tranh chấp xảy ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bản công chứng để giải quyết các vụ việc tranh chấp Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và Công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những giao dịch, hợp đồng mà mình chứng nhận,
vì thế, nó có hiệu lực thi hành đối với các bên
Thứ ba, điều chỉnh pháp luật về công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động của Văn phòng công chứng đúng phạm vi quy định của pháp luật, không trái pháp luật và đaọ đức xã hội
Công chứng là hoạt động được nhà nước ủy quyền để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch Vì thế, việc xác định phạm vi, ranh giới các việc công chứng, nói cách khác là xác định thẩm quyền củaVăn phòng công chứng được làm những việc gì có ý nghĩa rất quan trọng
Trang 23đối với nhà nước trong quản lý đối vớiVăn phòng công chứng, nhằm phòng ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh vực này
Việc xác định phạm vi công chứng ở các nước không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nước và do nhà nước lựa chọn, nhưng
thông thường có 2 cách: Cách thứ nhất, nhà nước liệt kê các việc công chứng: được áp dụng ở các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây; cách thứ hai, nhà nước
xác định phạm vi (khung pháp lý), sau đó các văn bản pháp luật sẽ quy định những việc bắt buộc phải công chứng (Anh, Pháp, Đức)
Ở Lào, thực tiễn hoạt động công chứng ngày càng phát triển Một mặt,
do sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, thương mại ngày càng phong phú, đa dạng; mặt khác, do nhận thức pháp luật của người dân về quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ dân sự ngày càng cao, đã chứng minh một chân lý rằng, trong bất kỳ lĩnh vực nào, để đạt được thành công, yếu tố đầu tiên là phải xác định được mục đích của công việc
đó cần hay không cần phải làm cái gì Trong lĩnh vực hoạt động công chứng, việc xác định phạm vi công chứng mở rộng hay thu hẹp sẽ tùy thuộc vào nhu cầu quản lý nhà nước ở từng giai đoạn cụ thể
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển rất năng động của cơ chế thị trường và sự hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của công chứng ngày càng trở nên quan trọng, giúp nhà nước quản lý tốt các hoạt động giao dịch Việc xác định mục đích và nội dung hợp đồng khi công chứng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội là giới hạn phạm vi hoạt động củaVăn phòng công chứng Nhà nước sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý rất nặng nề đối với các chủ thể thực hiện hành vi công chứng, đòi hỏi Công chứng viên vừa phải có nghiệp
vụ chuyên môn cao, vừa phải có đạo đức nghề nghiệp trong sáng mới có thể đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
Trang 24Công chứng viên của VPCC đều do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật Công chứng viên trong tác nghiệp chuyên môn không chịu trách nhiệm trước cơ quản lý hay trước Trưởng phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Công chứng viên có sự độc lập khi tác nghiệp, vì thế ở khía cạnh này, Công chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp trên Pháp luật không cho phép các cơ quan quản lý, trưởng VPCC áp đặt mệnh lệnh hành chính hay can thiệp thiếu căn cứ pháp luật vào tác nghiệp chuyên môn Để đảm bảo việc các Công chứng viên làm đúng theo quy định của pháp luật, VPCC phải đảm bảo bằng việc mua bảo hiểm, tuy nhiên bảo hiểm như thế nào, và đền bù như thế nào khi các Công chứng viên thực hiện công chứng sai quy định của pháp luật thì gần như trong các văn bản QLNN đều chưa tiên liệu được vấn đề này Điều này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho sự QLNN với các VPCC, buộc nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu Quy định chi tiết hơn, các luật quy định phải đồng nhất tránh tình trạng làm thế nào cũng đúng Hậu quả cuối cùng chỉ là những bên tham gia các giao dịch không được đảm bảo sẽ phải hứng chịu
1.2.2 Định nghĩa pháp luật về công chứng
Hoạt động công chứng gắn liền với sự phát triển của xã hội Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng (công chứng viên) và người lập văn tự thuê, chưa được phân biệt rõ ràng Ở thời kỳ cổ đại người ta đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền thống (giao kết miệng)
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các hoạt động giao dịch và yêu cầu chứng nhận các việc công chứng khác ngày một nhiều, để đáp ứng được yêu cầu nói trên việc giao cho các
cơ quan đại diện ngoại giao của Lào ở nước ngoài thực hiện công chứng và Ủy
Trang 25ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện các việc chứng thực là cần thiết Mặt khác, như một tiền lệ ở nước Lào từ năm 1975 đến nay các việc công chứng, chứng thực đều do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện là chủ yếu Bên cạnh những ưu thế thuận lợi nói trên là những bất cập cần phải được giải quyết là phân định cụ thể các việc công chứng và các việc chứng thực Nội hàm của khái niệm công chứng và chứng thực là sự khác nhau của các loại việc về công chứng và chứng thực chứ không phải chỉ phân định về thẩm quyền thực hiện cùng một loại công việc Không thể tách bạch một cách thuần túy là cùng một việc nếu phòng công chứng hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Lào ở nước ngoài thực hiện thì gọi là công chứng, nếu cũng việc ấy mà do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì gọi là chứng thực
Như vậy, công chứng và chứng thực là hai khái niệm khác nhau cả về phương diện tổ chức, phạm vi hoạt động, chủ thể thực hiện hành vi công chứng, chứng thực Để cho hoạt động công chứng được thực hiện có hiệu quả và bảo đảm được sự quản lý của nhà nước thì nhà nước ban hành nhiều quy phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của công chứng Như vậy, pháp luật về công chứng bao gồm một hệ thống các văn bản pháp luật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều luật quy định cụ thể hóa các nội dung của công chứng, định hình các quy tắc xử sự của các bên tham gia quan hệ công chứng Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm pháp luật về
công chứng như sau: Pháp luật về công chứng là một hệ thống các quy tắc xử
sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động công chứng
1.2.3 Nội dung điều chỉnh pháp luật về công chứng
Các quy định về chủ thể thực hiện công chứng: Là các tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động công chứng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về
Trang 26công chứng Quy định về chủ thể là một quy định quan trọng, nó quyết định phạm vi quản lý của nhà nước đối với một lĩnh vực này
Các quy định về thủ tục công chứng: Là các quy định chung về công
chứng và thủ tục công chứng bao gồm thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn, công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo, phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản, thời hạn công chứng, địa điểm công chứng, chữ viết trong văn bản công chứng, lời chứng của công chứng viên…
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG NƯỚC
CHDCND LÀO 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở nước CHDCND Lào
Từ khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời cho đến nay, nhà nước Lào đã thực hiện chức năng quản lý toàn bộ xã hội trong phạm vi toàn quốc
Cơ sở cho sự phân chia thành các giai đoạn là đánh giá sự phát triển của các quan hệ hợp đồng và sự hoàn thiện của pháp luật về hợp đồng tại Lào được phân chia thành các giai đoạn sau:
* Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990
Sau khi cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân kết thúc (1975), Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo đất nước đi theo con đường
xã hội chủ nghĩa Đảng nhân Dân cách Mạng Lào lãnh đạo mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động của đất nước Nhà nước Lào thể chế hóa, cụ thể hóa các đường lối, chính sách của Đảng Ngày 1/2/ 1975 Nhà nước CHDCND Lào đã
tổ chức kỳ họp lớn nhất của Quốc hội tại Thủ đô Viêng Chăn Kỳ họp đã nêu nhiều vấn đề cần được giải quyết và bổ sung, với kế hoạch sáng tạo để phát triển đường lối chính trị, kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước, về việc cải thiện đời sống của nhân dân trong nước cũng như ngoài nước, làm thế nào để nâng cao cuộc sống ngày càng tốt lên, để thoát khỏi khỏi sự nghèo nàn và lạc hậu
và nhanh chóng đạt được mục tiêu “dân giàu nước mạnh”
Vào thời gian đó, đất nước mới vừa được giải phóng, các chương trình công tác, cách thức quản lý đất nước chủ yếu được điều hành theo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ cũng như lệnh mệnh trực tiếp của Chủ tịch
Trang 28nước Nhà nước Lào chưa ban hành các văn bản pháp luật để áp dụng vào việc điều chỉnh các mối quan hệ hàng ngày Để điều hành đất nước cũng chưa có hiến pháp và văn bản pháp luật, chỉ có Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ và mệnh lệnh của Chủ tịch nước Các cơ sở kinh tế vẫn còn yếu kém, cuộc sống của người dân phần lớn là dựa vào thiên nhiên Công nghệ sản xuất, kinh doanh còn lạc hậu; kinh tế thị trường và thương mại chưa phát triển, chưa được mở rộng ra nước ngoài Cho nên, việc phát triển kinh tế đất nước gặp rất nhiều vấn đề khó khăn
Như vậy, có thể thấy trong thời kì này vấn đề công chứng chưa được chú trọng, chưa có được vị trí tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra
* Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Sang tới năm 1990 và 1991, đánh dấu sự ra đời của Hiến pháp (1991)
và Luật Công chứng năm 1992 và Hiến pháp sửa đổi năm 2003
Từ giữa những năm 1980, Đảng và Nhà nước Lào đã nhận ra sự sai lầm, nóng vội, duy ý chí trong việc đề ra và thực hiện những phương hướng xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1986) đã
mở ra một giai đoạn đổi mới quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Theo phương hướng này, nền kinh tế Lào trong những năm vừa qua đã thực hiện một cuộc chuyển đổi sâu sắc, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và đã thu được những kết quả rất quan trọng Nền kinh tế thị trường đã tạo ra những quan hệ mới trong lĩnh vực phát triển và quản lý nền kinh tế, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển rất sôi động
Để khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu cùng tồn tại và phát triển Chính trong môi trường kinh tế, xã hội đó nhu cầu giao lưu dân sự, thương mại của công
Trang 29dân và tổ chức phát triển mạnh mẽ, nó đòi hỏi phải có thể chế phù hợp phục vụ cho cơ chế kinh tế đó Về lĩnh vực công chứng được đặt ra trước tình hình và nhiệm vụ mới: Cần phải có một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù chứ không để cho Ủy ban nhân dân kiêm nhiệm các công việc về công chứng như trước đây được nữa Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, ngày 30/12/1992 Chủ tịch nước đã ban hành Luật Công chứng quy định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Lào quy định cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động công chứng ở Lào và đến nay vẫn còn hiệu lực
Đây được xem như là một bản văn tuyên bố về tổ chức và hoạt động công chứng Lào, đánh dấu một sự tiến triển của những mối liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán Công chứng viên lãnh hội một sứ mạng to lớn của một nhà thực hành về pháp luật, khác hẳn với nhiệm vụ của luật sư trong các hoạt động tố tụng, công chứng viên là người hướng dẫn áp dụng luật pháp
Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện Luật này, công tác công chứng đã
có được kết quả bước đầu đáng phấn khởi; trên toàn quốc đã hình thành hệ thống các Phòng công chứng nhà nước ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập ít nhất một Phòng công chứng nhà nước Công tác công chứng đã đáp ứng được một phần yêu cầu công chứng của công dân và tổ chức
Tuy nhiên, sự phát triển của các quan hệ gia đình đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển sôi động ở Lào đã làm cho bản thân luật này trở thành không đầy đủ, còn có những nét riêng biệt khác với công chứng của các nước khác là một số cơ quan khác cũng có nhiệm vụ thực hiện một phần chức năng công chứng Việc thực hiện các việc công chứng trong các
Trang 30cơ quan này đang có nhiều những bất cập cần phải được nghiên cứu để xác định lại cho phù hợp với chứng năng nhiệm vụ của cơ quan công chứng
2.2 Thực trạng pháp luật về công chứng nước CHDCND Lào
2.2.1 Chủ thể thực hiện công chứng
Sự ra đời của Luật Công chứng 1992, với các quy định về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tổ chức có thẩm quyền công chứng đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng ở Lào, là bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực công chứng Chủ thể thực hiện hoạt động công chứng là văn phòng công chứng (Điều 1 Luật Công chứng 1992)
Khác với các cơ quan có thẩm quyền công chứng khác, Phòng công chứng là cơ quan duy nhất chuyên trách về hoạt động công chứng Về địa vị pháp lý tuy được đặt dưới sự quản lý của giám đốc Sở Tư pháp nhưng Phòng công chứng khác hẳn với các phòng chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tư pháp ở những điểm quan trọng như sau: Phòng công chứng có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng, có con dấu riêng theo quy định của Chính phủ
Với vị trí như vậy, Phòng công chứng là cơ quan độc lập và được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng công chứng Thông qua hoạt động công chứng, các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng pháp luật Trong hệ thống bộ máy của Nhà nước thì Phòng công chứng là cơ quan nhà nước, thực hiện chức năng nhiệm vụ nhà nước là chứng nhân các việc công chứng theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức
Tuy hoạt động độc lập, song xuất phát từ công tác quản lý, cơ quan công chứng có những nét riêng, thể hiện tính độc lập tương đối: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập Phòng công chứng trên cơ sở đề nghị của giám đốc Sở Tư pháp; trong một tỉnh, thành phố có thể có nhiều Phòng công
Trang 31chứng, các Phòng công chứng độc lập với nhau trong hoạt động và có thẩm quyền địa hạt riêng Là cơ quan đặt dưới sự quản lý của giám đốc Sở Tư pháp nhưng Phòng công chứng khác các phòng chuyên môn của Sở Tư pháp ở chỗ Phòng công chứng không phải là cơ quan tham mưu giúp việc cho Sở Tư pháp; Phòng công chứng có tư cách độc lập, có vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng, là nơi trực tiếp giải quyết các việc công chứng; ngoài công chứng viên ra không ai được phép thực hiện các việc công chứng
Phòng công chứng không phải là cơ quan thực hiện theo chế độ thủ trưởng Ở Phòng công chứng người được giao thực hiện các hành vi công chứng là công chứng viên Khi thực hiện công chứng công chứng viên độc lập tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước Nhà nước về hành vi thực hiện công chứng của mình
Như vậy, khi thực hiện hành vi công chứng giữa công chứng viên và trưởng phòng công chứng là bình đẳng với nhau, không có quan hệ quản lý và
lệ thuộc Trưởng phòng công chứng nhà nước không chi phối hoạt động chuyên môn của công chứng viên Trưởng phòng công chứng là thủ trưởng về mặt hành chính, chứ không phải vai trò của công chứng viên trưởng như một số quốc gia quy định
Công chứng viên: công chứng là lĩnh vực hoạt động tư pháp chuyên sâu,
cho nên đòi hỏi phải có viên chức chuyên trách là công chứng viên để thực hiện công việc này
Các nhân viên của Phòng công chứng: Các nhân viên gồm nhân viên
nghiệp vụ công chứng và nhân viên hành chính Nhân viên nghiệp vụ công chứng phải có trình độ cử nhân luật, có nhiệm vụ giúp việc cho công chứng viên
Các nhân viên hành chính khác như kế toán, thủ quỹ, văn thư, đánh máy, lưu trữ trong đó kế toán phải là người trong biên chế nhà nước, phải đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát, hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan tài
Trang 32chính kế toán cấp trên; các nhân viên khác có thể làm theo chế độ hợp đồng lao động
2.2.2 Nội dung hoạt động công chứng
Muốn xác định một cách khoa học, hình thức, tổ chức cách thức hoạt động công chứng, trước hết, cần nắm bắt những tính chất, đặc điểm của hoạt động này Hoạt động công chứng được thể hiện ở hai nội dung khác nhau đó là hoạt động quản lý điều hành của Phòng công chứng và hoạt động thực hiện các việc công chứng do công chứng viên đảm nhiệm:
Hoạt động quản lý điều hành: Để thực hiện các việc công chứng, Nhà
nước ta lập ra các Phòng công chứng Phòng công chứng là cơ quan được Nhà nước giao thực hiện một chức năng nhất định, đó là chức năng công chứng Ngoài chức năng này, Phòng công chứng không thực hiện bất cứ chức năng nào khác Vì vậy, cơ quan công chứng không phải là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và không phải là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nên tổ chức công chứng không thể tổ chức giống như cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý hành chính nhà nước khác Cơ quan công chứng hoạt động độc lập tương tự như cơ quan Tòa án, Kiểm sát, Thi hành án Hoạt động công chứng phải tuân theo những quy định của pháp luật
Một vấn đề cần lưu ý rằng, hoạt động của cơ quan công chứng không phải là hoạt động chứng nhận các việc công chứng Cơ quan công chứng chỉ là bộ máy quản lý công chứng, bộ máy này có chức năng theo dõi, đánh giá hoạt động của công chứng viên, quản lý bản thân công chứng viên về các mặt bồi dưỡng nâng cao trình độ, đạo đức, phẩm hạnh, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các công chứng viên Bộ máy đó không thực hiện các hành vi công chứng
Hoạt động của Phòng công chứng có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động của trưởng phòng công chứng, trong việc phân công nhiệm vụ để thực hiện kế hoạch công tác Trưởng phòng công chứng thay mặt cơ quan trong quan
Trang 33hệ với các cơ quan, tổ chức khác; thực hiện chính sách cán bộ theo chế độ đã được phân công giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền; kiến nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên Báo cáo kịp thời những khó khăn vướng mắc và những vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện công chứng, xin ý kiến hướng dẫn chỉ đạo về tổ chức, nhân sự nghiệp vụ, thực hiện chế độ báo cáo các định kỳ 6 tháng hàng năm về tổ chức và hoạt động công chứng với giám đốc Sở
Tư pháp và Bộ trưởng Tư pháp
Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng công chứng được thực hiện thông qua các hình thức hoạt động của công chứng Hoạt động công chứng tương đối đa dạng, phong phú và phức tạp, bao gồm hoạt động của cơ quan công chứng và hoạt động chứng nhận các việc công chứng của công chứng viên Hoạt động quản lý điều hành của cơ quan công chứng thể hiện dưới các loại công việc như: Ra văn bản của cơ quan công chứng là hình thức hoạt động của công chứng nhà nước Văn bản ở đây là văn bản mang tính chất quản lý hành chính của cơ quan công chứng, không phải văn bản về chuyên môn do công chứng viên chứng nhận (hành vi công chứng) Văn bản loại này gồm: Văn bản về tổ chức, công văn giấy tờ hàng ngày do trưởng phòng công chứng ký nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý các hoạt động của công chứng viên, bảo đảm cho việc chấp hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ngoài ra, hoạt động công chứng còn thể hiện ở việc tuyên truyền giáo dục pháp luật; phối hợp với Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra giám sát các việc công chứng của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã
Phòng công chứng hiện nay được hiểu là cơ quan không có chức năng quản lý, chỉ đạo việc thực hiện công chứng, chứng thực; trưởng phòng công chứng chỉ quản lý điều hành hoạt động của công chứng viên; việc quản lý và chỉ đạo thực hiện các việc chứng thực ở cấp huyện thuộc thẩm quyền của giám đốc Sở
Trang 34Tư pháp Hiện nay về chuyên môn nghiệp vụ thì phòng công chứng đang chỉ đạo nghiệp vụ cho các chức danh thực hiện chứng thực ở cấp huyện như là một phòng chuyên môn của Sở Tư pháp Thực tế đã có nhiều Phòng công chứng ra các loại văn bản hướng dẫn nghiệp vụ công chứng cho tư pháp cấp huyện, xã Mặc
dù không có chức năng quản lý, song với cách thức tổ chức là một đơn vị thuộc
Sở Tư pháp như hiện nay thì hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ đối với cấp huyện cũng là việc làm cần thiết đối với các phòng công chứng hiện nay
* Công chứng viên - chủ thể thực hiện hành vi công chứng (Điều 9 Luật Công chứng 1992)
“Công dân Lào là người được bổ nhiệm làm nhân viên công chứng viên phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) 25 tuổi trở lên;
2) Có đào tạo hợp pháp cấp cao, hoặc tương đương, và đã có ít nhất hai năm kinh nghiệm liên quan đến công lý hay công tác pháp luật; hoặc có đào tạo trình độ trung cấp hoặc tương đương, đã có kinh nghiệm thực tế liên quan đến các công việc nêu trên ít nhất ba năm
3) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, nhiệt tình, trung thực, liêm khiết, khách quan;”
Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có nhiệm vụ: Phổ biến trình
tự, thủ tục thực hiện công chứng cho đương sự theo quy định của pháp luật Tiếp nhận kiểm tra các giấy tờ, tài liệu do đương sự xuất trình; trực tiếp thực hiện công chứng, ký văn bản công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về việc công chứng do mình thực hiện; giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa pháp lý của việc công chứng
Khi thực hiện công chứng, công chứng viên có quyền: Yêu cầu đương
sự xuất trình đủ các loại giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện công
Trang 35chứng; yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định hoặc làm tư vấn khi thấy cần thiết Từ chối thực hiện công chứng đối với các trường hợp sau đây: Việc không thuộc phạm vi hoạt động công chứng; yêu cầu công chứng trái pháp luật; việc liên quan đến bản thân mình, đến những người trong gia đình mình là: Vợ hoặc chồng, anh chị em ruột (kể cả anh chị em chồng, anh chị em vợ, anh chị em nuôi) cha, mẹ (kể cả cha mẹ vợ, cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi; ông bà nội, ông bà ngoại, con (con nuôi, con dâu, con rể); cháu (cháu của con trai, con gái, con nuôi)
Một vấn đề quan trọng cần phải được nhắc lại rằng: công chứng viên là một chức danh, hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm cá nhân về các hành vi công chứng của mình Hoạt động công chứng chủ yếu là hoạt động của công chứng viên
Pháp luật về công chứng của các nước trên thế giới hầu hết đều thừa nhận: công chứng viên là viên chức công, có nhiệm vụ đem lại tính đích thực cho các văn bản và hợp đồng công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân và thực hiện chức năng của mình một cách độc lập (kể cả công chứng nhà nước và công chứng "tự do") Tính hai mặt của chức năng công chứng là rất cơ bản Với
tư cách là viên chức nhà nước, công chứng viên đem lại cho đương sự một niềm tin, một sự an toàn trong các quan hệ giao dịch Với tư cách độc lập, công chứng viên bảo đảm cho hoạt động công chứng của mình thực sự có hiệu quả
* Nội dung thực hiện các việc công chứng
- Đối với Phòng công chứng được thực hiện: Công chứng hợp đồng
giao dịch có yếu tố nước ngoài; công chứng hợp đồng giao dịch liên quan đến bất động sản thuộc thẩm quyền địa hạt của Phòng công chứng; công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản có giá trị từ 50000 kip trở lên; công chứng bản dịch giấy tờ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Lào hoặc ngược lại; công chứng chữ ký của người nước ngoài, người Lào định cư ở nước ngoài trong các
Trang 36giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch ở trong nước và ở nước ngoài, chữ ký của công dân Lào trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch ở nước ngoài; nhận lưu giữ di chúc; các việc khác theo quy định của pháp luật Phòng công chứng được công chứng các việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã
Đối với cơ quan đại diện Lào ở nước ngoài: Cơ quan đại diện Lào ở
nước ngoài có thẩm quyền công chứng các việc công chứng như Phòng công chứng và các việc khác theo quy định của pháp lệnh lãnh sự trừ các việc giao kết hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, thế chấp bất động sản tại Lào
Phạm vi công chứng theo pháp luật công chứng của Lào đã bước đầu tạo ra được hành lang pháp lý rộng cho việc thực hiện các hành vi công chứng Những giao dịch không trái với pháp luật, đạo đức xã hội thì các cơ quan công chứng đều có quyền công chứng, đây là những quy định mới tiến bộ hơn so với những giới hạn về loại việc mà cơ quan công chứng được phép công chứng trước đây
2.2.3 Thủ tục thực hiện công chứng
Thủ tục công chứng là những quy định cần phải thực hiện khi công chứng hợp đồng, giao dịch Người yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để công chứng viên chứng nhận hợp đồng, giao dịch đó
Khi thực hiện hành vi công chứng, người có thẩm quyền phải thực hiện các bước sau đây:
- Tiếp nhận yêu cầu của đương sự hoặc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng: Đây là công việc trước tiên, người có thẩm quyền công chứng, chứng thực
phải xem xét các yêu cầu của đương sự xem có phù hợp với các quy định của pháp luật về công chứng, có trái với đạo đức và thuần phong mỹ tục của xã hội hay không? Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi công
Trang 37chứng, chứng thực có quyền từ chối chứng nhận nếu yêu cầu công chứng vi phạm những điều cấm của pháp luật hoặc không phù hợp với đạo đức của xã hội Trong giai đoạn này người thực hiện hành vi công chứng có quyền yêu cầu đương sự xuất trình các giấy tờ liên quan đến nội dung yêu cầu công chứng
- Lập văn bản công chứng: Lập văn bản công chứng là kết quả của việc
kiểm tra, xác minh tư cách của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật về công chứng, kiểm tra về nguồn gốc, quyền sở hữu tài sản; hướng dẫn cho đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình khi thực hiện yêu cầu công chứng Lập văn bản công chứng do người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng tự lập theo yêu cầu của đương sự hoặc do chính đương sự lập ra, công chứng viên hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng tiến hành kiểm tra lại xem đương sự xác lập hợp đồng hoặc tuyên bố nội dung, yêu cầu có phù hợp với ý chí, nguyện vọng của họ và có phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội hay không
- Ký văn bản công chứng: Sau khi đã hoàn tất về mọi thủ tục, công
chứng viên hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng kiểm tra lại nội dung văn bản lần cuối cùng, ký văn bản công chứng bao gồm cả chữ ký của đương sự và những người có liên quan ký tên hoặc điểm chỉ trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng và ngược lại công chứng viên hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng
ký tên trước mặt các đương sự và những người có liên quan
Văn bản công chứng chỉ có giá trị khi những người ký tên trong văn bản công chứng hoàn toàn đảm bảo đầy đủ về năng lực pháp luật, năng lực hành vi
và hoàn toàn tự nguyện, không bị chi phối bởi bất kỳ một lý do nào khác kể cả công chứng viên và người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng
- Lưu trữ và cấp bản sao văn bản công chứng: Lưu trữ văn bản công
chứng là công việc quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động công
Trang 38chứng và trong đời sống xã hội Hiện nay, pháp luật của ta quy định lưu trữ tất
cả các loại văn bản giấy tờ khi đã có dấu chứng nhận của công chứng nhà nước,
kể cả giấy tờ do cơ quan khác lập ra Vì vậy, số lượng lưu trữ văn bản hiện nay
ở các Phòng công chứng với số lượng rất lớn
Có thể thấy, lưu trữ văn bản công chứng là lưu trữ những văn bản do công chứng viên hoặc những người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng lập ra, văn bản do đương sự tự lập mà công chứng viên hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng chứng nhận Lưu trữ văn bản công chứng khác hoàn toàn với lưu trữ văn bản mang tính thị thực hành chính (bản sao) Vì các văn bản công chứng phải lưu giữ lâu dài, phải bảo đảm bí mật tuyệt đối, không thể cứ qua 5 năm là tiêu hủy như bản sao công chứng
- Cấp bản sao công chứng: Đây là thủ tục do công chứng viên và những
người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng thực hiện việc cấp bản sao cho đương sự bản sao của văn bản, hợp đồng do chính người chứng nhận lưu giữ
Pháp luật về công chứng của ta hiện nay chỉ quy định cho cơ quan đăng
ký hộ tịch đã bản chính cấp giấy tờ về hộ tịch bao gồm: Giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, giấy chứng từ và các giấy tờ khác về hộ tịch có quyền cấp bản sao giấy tờ đó cho đương sự; trường học, cơ sở đào tạo đã cấp bản chính văn bằng, chứng chỉ và các giấy tờ khác có quyền cấp bản sao giấy tờ đó
Việc không quy định cụ thể cho công chứng cấp bản sao công chứng đang là những bất cập lớn trong hoạt động công chứng hiện nay ở Lào
2.2.4 Giá trị công chứng
Như trên đã phân tích thì văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập, là sự thể hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng, nhằm phát triển rộng mạng lưới công chứng, xóa bỏ việc kiêm nhiệm chức năng công chứng của các cơ quan hành chính, nâng cao chất lượng hành chính Công