1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và thực tiễn thi hành tại tỉnh sơn la

74 339 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện về an

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRỌNG HẠNH

PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ

AN NINH TRẬT TỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

TẠI TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Dung

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: luận văn là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung Các

số liệu, kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn./

Xác nhận của Giáo viên hướng dẫn

TS.NGUYỄN THỊ DUNG

Tác giả

Nguyễn Trọng Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn đến TS Nguyễn Thị Dung - người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau Đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên trong đại gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu hoàn thành bài luận văn của mình./

Trang 4

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

DN : Doanh nghiệp LDN : Luật doanh nghiệp ĐKKD : Điều kiện kinh doanh ANTT : An ninh trật tự

GPKD PCCC

: Giấy phép kinh doanh : Phòng cháy chữa cháy

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

6 Những đóng góp của luận văn 4

7 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 1 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ 6

1.1.Một số vấn đề lý luận về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 6

1.1.1 Khái niệm kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 6

1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 7

1.1.3 Vai trò của các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự trong quản lý nền kinh tế 9

1.2 Tổng quan pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 11

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam 11

1.2.2 Nội dung tổng quát của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 18

1.2.3 Pháp luật về điều kiện kinh doanh của một số quốc gia trên thế giới 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ VÀ TÌNH HÌNH THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI SƠN LA 25

2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 25

2.1.1 Quy định về ngành nghề cần tuân thủ điều kiện về ANTT 25

Trang 6

2.1.2 Các quy định về điều kiện an ninh trật tự với các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện 28 2.1.3 Quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật

tự 39 2.1.4 Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 44

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự trên địa bàn Tỉnh Sơn La 48

2.2.1 Khái quát về các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về an ninh trật

tự trên địa bàn Tỉnh Sơn La 48 2.2.2 Các quy định của Tỉnh Sơn La hướng dẫn thực thi việc kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh 49 2.2.3 Đánh giá việc áp dụng pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở tỉnh Sơn La 53

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ 57

3.1 Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

ở Việt Nam 57

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về điều kiện ANTT để phù hợp với xu hướng đổi mới về điều kiện kinh doanh được quy định tại Luật Đầu tư 2014 57 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư và doanh nghiệp 58 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam nhằm thực hiện cải cách thủ tục đầu tư 58

3.2 Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam 59

3.2.1 Cần thống nhất văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh có điều kiện

về an ninh trật tự 59 3.2.2 Đảm bảo tính hợp pháp và sửa đổi nội dung của một số quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự 61

Trang 7

3.2.3 Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự 62 3.2.4 Xây dựng cơ chế giám sát và kênh thông tin phản hồi phù hợp để kiểm soát việc thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh 62 3.2.5 Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về các điều kiện an ninh trật tự cho các cơ sở kinh doanh và người dân 64

KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, điều kiện kinh doanh đã và đang ngày càng trở thành công cụ quản lý nhà nước quan trọng Nhà nước sử dụng điều kiện kinh doanh để điều tiết, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hướng đến bảo vệ lợi ích chung của xã hội và cộng đồng Kể từ khi hình thành và được ghi nhận chính thức trong Luật Doanh nghiệp 1999, các quy định về điều kiện kinh doanh đã có nhiều cải thiện, góp phần hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước trong các lĩnh vực, ngành nghề

có thể ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ môi trường và sức khoẻ của cộng đồng

Cùng với những thành quả đạt được, pháp luật về điều kiện kinh doanh nói chung và điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự nói riêng còn nhiều hạn chế như thiếu rõ ràng, minh bạch, hoặc còn những quy định tản mạn tại nhiều văn bản khác nhau; cơ chế kiểm soát, đánh giá việc ban hành, thực thi các điều kiện kinh doanh vẫn chưa được thực hiện thường xuyên và có hệ thống Những hạn chế trên đã làm giảm ý nghĩa của điều kiện kinh doanh trong quản lý nhà nước, mặt khác hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, nhiều trường hợp gây "bức xúc" trong doanh nghiệp trên địa bàn cả nước nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, việc tham gia Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ tạo ra sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam Nếu không có sự chuẩn bị tốt, các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều bất lợi

Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa và thực trạng của pháp luật về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự hiện nay, việc nghiên cứu, đánh giá nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự là

cần thiết và ý nghĩa Đó là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và tình hình thực tiễn thi hành tại Sơn La” làm nội dung bài luận văn Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả luận

văn muốn đi sâu phân tích, đánh giá, đề xuất các định hướng cải cách nhằm từng bước xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch cho các doanh

Trang 9

2

nghiệp, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật về điều kiện an ninh trật tự đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện ở địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng và

cả nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đề tài về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự chưa có nhiều công trình nghiên cứu, đa phần tập trung nghiên cứu về các điều kiện kinh doanh nói chung hoặc đi vào phân tích điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự với các hoạt động kinh doanh cụ thể, có thể kể đến một số công trình sau:

i Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Thực trạng và hướng hoàn thiện Luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2014), trường Đại học Luật Hà Nội

ii Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam Luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả Vũ Thị Hiền (2014), trường Đại học Luật Hà Nội

iii Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học (2015), trường Đại học luật Hà Nội

iv Pháp luật về điều kiện kinh doanh và quy định cụ thể đối với hoạt động kinh doanh karaoke, Khoá luật tốt nghiệp, tác giả Đỗ Thị Nga (2015), trường Đại học Luật Hà Nội

v Thực trạng giấy phép kinh doanh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 04 (2013)

vi Giấy phép và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam - Thực trạng và con đường phía trước (2006) Báo cáo của nhóm chuyên gia trong ban nghiên cứu của Chính phủ do TS Phạm Duy Nghĩa làm trưởng nhóm

vii Pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện Tác giả: TS Nguyễn Thị Yến, ThS Trần Bảo Ánh, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, số 04 (2013)

Như vậy, các bài viết, công trình nghiên cứu mới chỉ đưa ra những nội dung mang tính chất khái quát về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2015, hoặc đánh giá một hoạt động kinh doanh có điều kiện cụ thể Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích, đánh giá việc thực hiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Sơn

La, cũng như chưa có những giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện pháp luật kinh

Trang 10

doanh có điều kiện về an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La trong điều kiện hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng rõ những vấn đề lý luận

và thực tiễn của pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; phân tích vai trò quan trọng của các điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện; chỉ rõ những thành tựu đã đạt được và những khó khăn trong việc áp dụng, thực hiện; từ đó đưa ra những giải pháp về mặt pháp lý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực này

Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra của luận văn là:

Làm rõ được hệ thống các quy định của pháp luật về các điều kiện an ninh trật tự áp dụng với các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện

Chỉ rõ những điều kiện kinh tế - xã hội của Sơn La trong việc kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự Từ đó, đánh giá tình hình áp dụng các quy định pháp luật trong lĩnh vực này của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện trên địa bàn tỉnh Sơn La Phân tích được những thành tựu, những hạn chế, tồn tại trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tại Sơn La

Đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chế định về kinh doanh có điều kiện

về an ninh trật tự ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu và làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về các điều kiện an ninh trật tự đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện các quy định đó

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu hoạt động kinh doanh

có điều kiện về an ninh trật tự nói chung và trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng trong những năm vừa qua

5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận của các nguyên tắc, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh;

Trang 11

6 Những đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đã được công bố, luận văn tiếp tục nghiên cứu sâu thêm về hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Sơn La, luận văn dự kiến khi hoàn thành

sẽ có một số đóng góp mới như:

Hệ thống hoá, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học về cơ sở lý luận của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Sơn La;

Luận văn đưa ra những kết quả đạt được, những khó khăn trong quá trình thực hiện và chỉ ra những nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong các quy định hiện hành về điều kiện an ninh, trật tự áp dụng với các ngành nghề kinh doanh

có điều kiện; cũng như đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này tại địa bàn Sơn La

Từ đó, đề xuất một số giải pháp thiết thực góp phần sớm hoàn thiện các quy định pháp luật về điều kiện an ninh, trật tự áp dụng với các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện trên địa bàn; cũng như nâng cao hiệu quả pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện

Các kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học hoặc các nội dung khác có liên quan

Trang 12

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về kinh doanh có điều kiện về

an ninh trật tự và thực tiễn thực thi hành tại tỉnh Sơn La

Chương 3 Hoàn thiện pháp luật và năng cao hiệu quả thực thi pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

Trang 13

6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

VỀ AN NINH TRẬT TỰ

1.1.Một số vấn đề lý luận về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

1.1.1 Khái niệm kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

Điều kiện kinh doanh là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng mà pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định, bởi nội dung của điều kiện kinh doanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó

Với các góc độ nghiên cứu khác nhau thì điều kiện kinh doanh được hiểu theo các nghĩa khác nhau Cụ thể:

Theo từ điển Tiếng Việt, “điều kiện” có thể được hiểu là cái cần phải có

để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra Nếu hiểu theo nghĩa khác,

“điều kiện” còn là điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một công việc nào đó1 Như vậy, theo cách hiểu thông thường, điều kiện kinh doanh là những yêu cầu, đòi hỏi mà chủ thể kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh nhất định như sản xuất, phân phối, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận

Theo OECD, điều kiện kinh doanh nói chung là tập hợp đa dạng các công

cụ mà Chính phủ sử dụng để đặt ra các yêu cầu đối với công dân và doanh nghiệp2

Trong khoa học pháp lý, khái niệm về điều kiện kinh doanh tương đối

thống nhất Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: “Điều kiện kinh

doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thể hoá bằng những hành vi của nhânviên hành chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng ký hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể 3 ” Trong đó, hành vi hành chính có thể biểu

1 GS Hoàng Phê và đ.t.g (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr22)

2 Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương (2004), Thời điểm cho sự thay đổi - Đánh giá Luật danh nghiệp

và kiếng nghị, Hà Nội

3 Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế Tập 1: Luật doanh nghiệp ( Tình huống - Phân tích - Bình luận), tr 23-24, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006

Trang 14

hiện dưới dạng nhiều hình thức khác nhau, ví dụ thông qua một văn bản pháp quy ấn định những hạn chế cho người kinh doanh, thông qua hành vi cấp phép chấp thuận hoặc từ chối của cơ quan hành chính, thông qua hành vi giám sát của

cơ quan hành chính về việc tuân thủ điều kiện kinh doanh

Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư 2014 quy định về ngành nghề kinh doanh có

điều kiện như sau: “Ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề

mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng” Như vậy, có thể hiểu điều kiện kinh

doanh là những yêu cầu, đòi hỏi phải đáp ứng do Nhà nước quy định cho các chủ thể kinh doanh khi tiến hành kinh doanh những ngành, nghề cụ thể và được thể hiện dưới những hình thức nhất định

Tóm lại, dựa trên các quan niệm về điều kiện kinh doanh nói chung và

các ngành nghề kinh doanh có điều kiện nói riêng, có thể hiểu: kinh doanh có

điều kiện về ANTT là hoạt động kinh doanh những ngành nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành nghề đó phải đáp ứng điều kiện

vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm của kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự như sau:

Thứ nhất, phạm vi và đối tượng áp dụng của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự

Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh của công dân trong

đó có quyền tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh được ghi nhận và khuyến khích Xuất phát từ chức năng quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước chỉ đặt ra các điều kiện kinh doanh trong một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng nhất định Vì thế, điều kiện kinh doanh chỉ áp dụng trong phạm vi một số ngành nghề nhất định mà không đặt ra với tất

cả các ngành nghề kinh doanh và được quy định trong chính văn bản pháp luật quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện (ví dụ ngành nghề: kinh doanh khắc dấu, công cụ hỗ trợ…)

Trang 15

8

Điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự áp dụng đối với các chủ thể có đăng ký kinh doanh và hoạt động trong phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự Các chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân, tổ chức, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh, thực hiện hoạt động kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự

Thứ hai, về hình thức của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự

Điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự được thể hiện bằng những hình thức cụ thể, bao gồm:

i Giấy phép kinh doanh (GPKD)

ii Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

iii Chứng chỉ hành nghề (CCHN)

iv Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

v Xác nhận vốn pháp định

vi Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

vii Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành nghề đó mà không cần xác định, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Như vậy, mỗi một hình thức này có giá trị pháp lý khác nhau, được áp dụng theo từng trường hợp cụ thể Có điều kiện phải được đáp ứng trước khi đăng ký kinh doanh, có điều kiện phải đáp ứng sau khi đăng ký kinh doanh nhưng cũng có những điều kiện phải đáp ứng cả trước và sau khi kinh doanh

Thứ ba, mục đích của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự

Việc quy định điều kiện để kinh doanh đối với các lĩnh vực kinh doanh

có điều kiện về an ninh trật tự là thực sự cần thiết Mục đích cơ bản của việc quy định điều kiện kinh doanh là để đảm bảo rằng chủ thể kinh doanh ngành nghề đó sẽ không gây thiệt hại hay đe doạ gây thiệt hại đến những lợi ích mà nhà nước cần bảo vệ, đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn xã hội Bên cạnh đó, điều kiện kinh doanh giống như công cụ pháp lý để nhà nước kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của các chủ thể kinh doanh, nhằm định hướng sự phát triển của nền kinh tế theo quan điểm, chủ trương, chính sách của mỗi quốc gia

Thứ tư, chủ thể kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh

Trang 16

Chủ thể kinh doanh chỉ được phép kinh doanh khi đã đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, các điều kiện này còn có hiệu lực

áp dụng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh và được đảm bảo bằng cơ chế kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước Chủ thể kinh doanh không duy trì được các điều kiện trong quá trình kinh doanh

sẽ bị coi là kinh doanh trái pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Quy định như vậy mới có thể đảm bảo mục tiêu quản lý của nhà nước, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực có thể gây ra từ hoạt động kinh doanh của những ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự

1.1.3 Vai trò của các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự trong quản lý nền kinh tế

Ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế luôn luôn là cần thiết Nhà nước cần phải can thiệp vào các hoạt động của thị trường với các hình thức, mức độ khác nhau nhằm tạo ra một môi trường pháp lý trong đó các quy tắc ứng xử phù hợp với các nguyên tắc thị trường được thiết lập Một trong các công cụ để nhà nước quản lý hữu hiệu nền kinh tế chính là điều kiện kinh doanh.Vai trò của các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự được thể hiện ở các phương diện như sau:

Thứ nhất, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự góp phần giúp Nhà nước thực hiện việc điều tiết thị trường

Cơ chế kinh tế thị trường đã phát huy quyền tự chủ, sáng tạo trong kinh doanh của người dân, thúc đẩy sản xuất phát triển Tuy nhiên, bất kỳ nền kinh tế thị trường ở nước nào cũng tồn tại những mặt trái, mặt hạn chế Sự mở rộng các ngành nghề kinh doanh, trong đó có những ngành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề an ninh, trật tự xã hội, môi trường, đạo đức, thuần phong mỹ tục Đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp quản lý phù hợp Do đó, điều kiện kinh doanh được đặt ra sẽ có vai trò điều tiết và quản lý số lượng các ngành nghề này, không để nó phát triển một cách tràn lan

Không những vậy, trong hoạt động kinh doanh, vấn đề lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu Bởi vậy, trên thực tế có rất nhiều chủ thể kinh doanh chạy theo lợi nhuận mà có thể vượt qua những giới hạn về đạo đức kinh doanh,

Trang 17

10

vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, trật tự công cộng Lúc này, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự sẽ góp phần định hướng và thanh lọc các doanh nghiệp muốn kinh doanh trên thị trường Để được kinh doanh những ngành nghề này thì doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện

về an ninh trật tự Đây là những điều kiện rất quan trọng để chủ thể kinh doanh

có thể thực hiện tốt hoạt động kinh của mình (ví dụ yêu cầu về vốn, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu về phòng cháy chữa cháy ), từ đó giảm thiểu được rủi ro cho chính doanh nghiệp và rủi ro cho cả nền kinh tế

Mặt khác, trong nội dung của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự không chỉ đề cập đến vấn đề thành lập, hoạt động về mặt pháp lý mà còn liên quan đến quá trình, nội dung thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (ví dụ như điều kiện về nhân lực, yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, phòng ngừa

ô nhiễm môi trường ) Những nội dung này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp với chất lượng hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh và sự an toàn của nền kinh tế xã hội nói chung Từ

đó, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác

Thứ hai, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự là cơ sở cho các cơ quan

có thẩm quyền thực hiện được chức năng quản lý doanh nghiệp, tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế

Việc quản lý doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở pháp lý nhất định Dựa vào các điều kiện kinh doanh mà pháp luật quy định, các cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện chức năng quản lý của mình thông qua các công việc cụ thể:

i Ban hành văn bản hướng dẫn doanh nghiệp chấp hành hoặc phải cam kết thực hiện đúng và đầy đủ những điều kiện kinh doanh đó Bên cạnh đó, còn ban hành các "giấy phép con" như Giấy chứng nhận về phòng cháy và chữa cháy hoặc biên bản kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy

ii Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và duy trì các điều kiện về an ninh trật tự của các doanh nghiệp Nếu phát hiện sai phạm, thực hiện

xử lý các vi phạm này theo thẩm quyền

Trang 18

Như vậy, việc làm này sẽ góp phần giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, lành mạnh hoá hoạt động kinh doanh Nhờ đó, tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế

Thứ ba, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự góp phần quyết định cơ cấu ngành nghề kinh doanh

Điều kiện kinh doanh là do nhà nước đặt ra để điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh cần sự kiểm soát Nội dung của điều kiện kinh doanh vì thế cũng sẽ thay đổi theo từng giai đoạn, phụ thuộc vào quan điểm, tư duy quản lý của các cơ quan có thẩm quyền Nếu muốn hạn chế số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động trong nền kinh tế, nhà nước chỉ cần tăng

“độ khó” của điều kiện kinh doanh Ngược lại, nếu muốn thu hút nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh thì phải tạo ra sự thông thoáng trong quy định của điều kiện kinh doanh Việc Nhà nước đặt ra những điều kiện kinh doanh thống nhất, áp dụng cho mọi nhà đầu tư, hay là có những quy định khác biệt đối với mỗi loại nhà đầu tư, chẳng hạn nhà đầu tư trong nước phải đáp ứng một hệ thống điều kiện kinh doanh này, trong khi nhà đầu tư nước ngoài lại phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh khác sẽ ảnh hưởng trược tiếp đến môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư trong nước

1.2 Tổng quan pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam

Pháp luật về kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự

Quá trình hình thành và phát triển của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự có thể chia thành các giai đoạn khác nhau với nội dung, đặc điểm riêng gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của đất nước

Thứ nhất, giai đoạn trước năm 1999

Trang 19

12

Tính đến trước năm 1999, nền kinh tế nước ta trải qua hai giai đoạn phát triển nổi bật, đó là nền kinh tế kế hoạch tập trung và nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, thành phần kinh tế chủ yếu là kinh

tế quốc doanh và kinh tế tập thể Quyền tự do kinh doanh của các thành phần kinh tế dân doanh đã không được thừa nhận và tạo điều kiện để phát triển Mọi hoạt động kinh doanh đều phải “xin phép” và khi được “cho phép” mới được tiến hành kinh doanh Việc đăng ký kinh doanh và cấp phép kinh doanh không

có sự phân biệt rạch ròi, dù dưới tên gọi là “đăng ký kinh doanh” nhưng về bản chất bao gồm cả những quy định về điều kiện kinh doanh, được thể hiện dưới hình thức cấp giấy phép kinh doanh Điều 2 Nghị định 76/CP ngày 08/4/1974 của Hội đồng Chính phủ về điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và

phục vụ thuộc khu vực tập thể và cá thể quy định: “Tất cả các tổ chức tập thể

và cá thể kinh doanh công thương nghiệp thuộc các ngành nghề: sản xuất tiểu, thủ công nghiệp đều phải xin đăng ký kinh doanh và sau khi được cấp giấy phép kinh doanh mới được hoạt động ” Trong đó, điều kiện để được cấp giấy

phép kinh doanh phức tạp, rườm rà, là tập hợp các loại giấy tờ khác và đều phải

có sự xác nhận hoặc cho phép của cơ quan nhà nước như: Quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã công nhận điều lệ hay công nhận việc thành lập tổ chức; Giấy được phép sử dụng địa điểm để sản xuất, kinh doanh có chứng thực của chính quyền cơ sở Đa số quy định về điều kiện kinh doanh lúc này được thể hiện dưới dạng văn bản hành chính mang tính chỉ đạo của nhà nước cho phép hoặc hướng dẫn tiến hành các hoạt động kinh tế nhất định, can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986), Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng

xã hội chủ nghĩa Thể chế hoá đường lối này, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế tư nhân và tạo thành khung pháp lý cho sự phát triển của kinh tế tư nhân và là cơ sở cho sự hình thành của doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty Lúc này, ĐKKD mới trở thành công cụ cần thiết mà nhà nước quan tâm đến trong việc quản lý doanh nghiệp Pháp luật về ĐKKD nói chung và ĐKKD về an ninh trật tự lúc này mới được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn

Trang 20

LDN tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 đều đề cập đến những ĐKKD cơ bản Các văn bản này chủ yếu tập trung quy định về điều kiện để thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty Theo đó, nhà đầu tư phải đáp ứng được yêu cầu về vốn pháp định; yêu cầu về chuyên môn đối với người quản lý hoặc người được thuê quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty; chủ thể kinh doanh phải xin giấy phép thành lập ở UBND có thẩm quyền cấp phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng; đối với một số ngành nghề, chủ thể kinh doanh phải được sự cho phép của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, như: Khai thác các loại khoáng sản quý; sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn; sản xuất các phương tiện phát sóng truyền tin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, xuất bản; vận tải viễn dương và vận tải hàng không; chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; du lịch quốc tế

Riêng đối với điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự, pháp luật bắt đầu có những quy định để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh riêng đối với nhóm ngành nghề này Cụ thể: Nghị định 17- CP ngày 23 tháng 12 năm 1992 của Chính phủ

về việc quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt; Thông tư số 03/TT-BNV ngày 27 tháng 3 năm 1993 của Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định 17-CP; Quyết định 446/QĐ-BNV(C13) ngày 25 tháng 11 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ nội vụ ban hành thể lệ quản lý về an ninh trật tự đối với các ngành nghề kinh doanh đặc biệt Nhìn chung các văn bản này điều chỉnh về điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề đặc biệt là những nghề mà trong hoạt động kinh doanh có các điều kiện phương tiện liên quan nhiều đến bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Thời kỳ này, pháp luật mới chỉ quy định có 06( sáu) ngành nghề kinh doanh đặc biệt về an ninh trật tự bao gồm: Nghề cho thuê nghỉ trọ; nghề khắc con dấu; nghề in và sao chụp (photocopy); nghề sản xuất, sửa chữa súng săn; sản xuất đạn súng săn và cho thuê súng săn; nghề kinh doanh có sử dụng đến chất nổ, chất độc mạnh, chất phóng xạ; nghề giải phẫu thẩm mỹ (thay đổi hình dạng đặc điểm con người) Theo quy định của các văn bản pháp luật trên, nếu muốn kinh doanh những ngành nghề đặc biệt này thì ngoài giấy phép xin thành lập doanh nghiệp và giấy chứng nhận kinh doanh thì doanh nghiệp còn phải xin các giấy phép “con” khác như giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận

đủ điều kiện kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự để làm

Trang 21

14

nghề kinh doanh đặc biệt Đồng thời, trong qúa trình hoạt động kinh doanh phải chấp hành các quy định về an ninh, trật tự theo sự hướng dẫn, kiểm tra của

cơ quan Công an

Như vậy, trong giai đoạn này, các quy định về kinh doanh các ngành nghề đặc biệt về an ninh trật tự đã được cụ thể hoá và trở thành công cụ quan trọng giúp nhà nước quản lý các hoạt động kinh doanh, đảm bảo trật tự xã hội Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lối tư duy trong nền kinh tế tập trung bao cấp nhiều năm, kinh nghiệm quản lý thành phần tư nhân chưa nhiều nên các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh nói chung và điều kiện kinh doanh các ngành nghề về an ninh trật tự nói riêng trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế Nhìn chung trong thời gian này, quy định về ĐKKD vẫn còn sơ sài, chung chung, tản mạn ở nhiều quy định trong một văn bản Luật và chỉ hướng đến việc thành lập doanh nghiệp, chưa trú trọng đến việc kiểm soát hoạt động của các nhà đầu tư sau đăng ký kinh doanh Các quy định được đặt ra nghiêm ngặt nhưng thực tế là không cần thiết và bất hợp lý, áp dụng tràn lan, không vì mục tiêu bảo vệ trật tự công cộng, lợi ích xã hội và chủ yếu vì tâm lý mọi hoạt động kinh doanh đều phải được quản lý của cơ quan nhà nước

Thứ hai, giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2005

Để khắc phục hạn chế của Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật doanh nghiệp năm 1999 được ban hànhđã tạo bước ngoặt lớn trong việc cải cách khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó có các quy định về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự Khoản 2 Điều

17 của Luật doanh nghiệp 1999 quy định: “Doanh nghiệp có quyền hoạt động

kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh các ngành, nghề đó kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GPKD hoặc có đủ ĐKKD theo quy định” Nghị định 03/2000/NĐ - CP hướng dẫn

chi tiết một số điều của LDN năm 1999 đã khẳng định rõ ĐKKD được thể hiện dưới hai hình thức: GPKD do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; và các ĐKKD không cần giấy phép: các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh

Trang 22

Như vậy, với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự thì không cần giấy phép, tuy nhiên vẫn phải đáp ứng các điều kiện và thủ tục quy định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; Thông tư số 02/2001/TT-BCA ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Bộ công

an hướng dẫn thi thành NĐ 08/2001/NĐ-CP Theo đó, những ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự phải được cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về

an ninh trật tự hoặc cam kết thực hiện điều kiện về an ninh trật tự Như vậy, so với thời kỳ trước, giai đoạn này pháp luật đã mở rộng về phạm vi các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT Cụ thể, Thông tư số 02/2001/TT-BCA đã nâng số ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT từ 06 ngành lên thành 13 ngành Theo đó: nhóm những ngành, nghề kinh doanh có Giấy xác nhận đủ điều kiện về ANTT bao gồm 07 ngành là: nghề khắc dấu; nghề sản xuất, kinh doanh, sửa chữa cho thuê súng săn, sản xuất và kinh doanh đạn súng săn ( bao gồm cả súng hơi và đạn súng hơi); Nghề sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; Nghề sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; Nghề kinh doanh khí đốt, chất lỏng dễ cháy; Kinh doanh các toà nhà cao từ 11 tầng trở lên dùng làm khách sạn, nhà ở, văn phòng làm việc Nhóm những ngành, nghề kinh doanh phải cam kết thực hiện các quy định, điều kiện về ANTT gồm 06 ngành bao gồm: kinh doanh lưu trú; Hoạt động in; dịch vụ cầm đồ; kinh doanh karaoke; Kinh doanh vũ trường; kinh doanh xoa bóp massage)

Nhìn chung, xu hướng của pháp luật là đơn giản hóa điều kiện thành lập doanh nghiệp, tăng cường kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp sau đăng kí kinh doanh Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, quy định về điều kiện kinh doanh

về an ninh trật tự trong giai đoạn này vẫn có những bất cập nhất định, chưa đưa được ra cách hiểu thống nhất về điều kiện kinh doanh, chỉ đưa ra quy định chung,

số lượng các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT ngày càng nhiều, do vậy tạo đà cho hàng loạt các vấn nạn sách nhiễu, phiền hà từ phía cơ quan công quyền đối với doanh nghiệp

Thứ ba, giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014

LDN năm 2005 ra đời thay thế LDN năm 1999, vẫn tiếp tục duy trì những

Trang 23

Thời kỳ này các quy định của pháp luật về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện không được quy định thống nhất ở một văn bản mà được quy định tản mát ở rất nhiều văn bản khác nhau Chẳng hạn như đối với hoạt động kinh doanh

lữ hành nội địa cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa quy định ở Luật du lịch; đối với hoạt động khai thác và sử dụng nước biển cần phải có Giấy phép khai thác, sử dụng nước biển quy định tại Luật tài nguyên nước; đối với việc thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần cần Giấy phép quy định tại Luật ngân hàng nhà nước Chính điều đó dẫn đến thực tế

là có khoảng 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định phân tán tại 391 văn bản pháp luật, bao gồm 56 luật, 8 Pháp lệnh, 115 Nghị định, 176 Thông tư, 26 Quyết định của các Bộ trưởng và 2 văn bản của Bộ Các điều kiện kinh doanh được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức như giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định, giấy đăng ký, chấp thuận Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Cụ thể: (1) Có 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh; (2) Có 83 ngành nghề yêu cầu phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận; (3) Có 44 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề; (4) Có 11 ngành nghề yêu cầu vốn pháp định; (5) Có 345 ngành nghề yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền4 Đây là loại điều kiện kinh doanh

dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình xin cấp phép, cấp chứng nhận

Đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiều về ANTT, nhằm triển khai các quy định của LDN năm 2005 và khắc phục những hạn chế của các văn

4 http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=68

Trang 24

bản pháp luật quy định về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật

tự trước đây, các văn bản mới được ban hành Cụ thể: Nghị định 72/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện; Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05 tháng 10 năm 2010 của Bộ công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện Ngoài ra, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự còn được quy định tại các văn bản chuyên ngành quy định về điều kiện kinh doanh đặc trưng tương ứng với ngành nghề thuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản pháp luật đó Cụ thể: Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Nghị định số 25/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Thông tư số 30/2012/TT-BCA ngày 29 tháng 5 năm 2012 của Bộ công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Những quy định này đã góp phần tạo ra cơ sở pháp lý cho các chủ thể

áp dụng trên thực tiễn, không còn mờ mịt, phụ thuộc vào sự giải thích của nhiều

cơ quan địa phương như trước đây Tuy nhiên, thực trạng pháp luật về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế cần tiếp tục được nghiên cứu, khắc phục, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân và yêu cầu hội nhập của đất nước

Thứ tƣ, từ khi Luật DN 2014 và Luật Đầu tƣ 2014 có hiệu lực đến nay

Để khắc phục những hạn chế của Luật doanh nghiệp 2005 và đáp ứng yêu cầu cải cách để hội nhập quốc tế, Luật doanh nghiệp 2014 đã ra đời Cùng với Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế Hiện nay, Luật Đầu

tư năm 2014 là văn bản quy định về kinh doanh ngành nghề có điều kiện, cụ thể

Trang 25

18

gồm 267 ngành nghề (có danh mục cụ thể quy định tại phụ lục 2 của Luật) Theo những quy định mới này, nhiều ngành nghề trước đây bị cấm kinh doanh thì nay được quy định tại danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện (ví dụ: kinh doanh pháo, quân trang, quân dụng…), tức là được kinh doanh khi đáp ứng được các điều kiện pháp luật quy định Để tránh nguy cơ tuỳ tiện đặt ra điều kiện kinh doanh mới cho những ngành nghề kinh doanh, Luật Đầu tư 2014 cũng quy định rõ thẩm quyền quy định về ngành nghề kinh doanh có điểu kiện tại Điều 7 - Luật Đầu tư 2014: “Điều kiện đầu tư kinh doanh … được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh” “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ rà soát các ngành, nghề cấm đầu

tư kinh doanh, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung” (Điều 8 - Luật Đầu tư 2014 Điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian, chi phí tuân thủ của nhà đầu tư Chính phủ quy định chi tiết việc công

bố và kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh

Những quy định này đã hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp 2013, song cũng đang đặt ra những nhiệm vụ mới cho việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam hiện nay

1.2.2 Nội dung tổng quát của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

Với tư cách là một bộ phận của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự có nhiệm vụ là phải điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó kinh doanh ngành nghề

có điều kiện về an ninh trật tự Pháp luật về điều kiện kinh doanh về an ninh trật

tự không có quy định chung trong một văn bản mà tồn tại ở nhiều văn bản luật chuyên ngành khác nhau và có sự thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn phát

Trang 26

triển của kinh tế - xã hội Nhìn chung, pháp luật về kinh doanh ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam sẽ bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Quy định về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

- Quy định điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự và các hình thức của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự

- Quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự

- Quy định về quản lý nhà nước đối với điều kiện kinh doanh về an ninh trật

tự Cụ thể sẽ xác định thẩm quyền đặt ra các quy định về điều kiện kinh doanh về

an ninh trật tự; thẩm quyền, trách nhiệm cấp, hoặc xác nhận các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự; thẩm quyền xem xét, kiểm tra và xử lý các vi phạm điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự

1.2.3 Pháp luật về điều kiện kinh doanh của một số quốc gia trên thế giới 5

1.2.3.1 Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Mỹ 67

Mỹ tên đầy đủ là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America)

là một quốc gia cộng hòa lập hiến liên bang, gồm có 50 bang và một đặc khu liên bang Hệ thống pháp luật của Mỹ bao gồm hệ thống pháp luật liên bang, hệ thống pháp luật bang Do đó khi thực hiện hoạt động kinh doanh của quốc gia này, doanh nghiệp phải tuân thủ một loạt các quy định của địa phương, tiểu bang và của liên bang Pháp luật doanh nghiệp Mỹ cũng có những quy định về điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự gắn với các ngành nghề nhất định

Đa số các nhà nghiên cứu đều có đánh giá rằng, việc bắt đầu một doanh nghiệp ở Mỹ tương đối dễ dàng, vì họ quy định rất đơn giản, gọn nhẹ về thủ tục đăng ký kinh doanh Bên cạnh hệ thống đăng kí kinh doanh, nhà nước này thiết lập cơ chế xin giấy phép và chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền rất rõ ràng và

cụ thể để kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

5 Nguyễn Thị Huyền Trang (2014): "Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Thực trạng và hướng hoàn thiện" Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội

6BusinessUsa, Start a business in usa, http://business.usa.gov/start-a-business

7 The U.S Small Business Administration, Obtain Business Licenses & Permits,http://www.sba.gov/category/navigation-structure/startingmanaging-

business/starting-business/obtain-business-licenses-

Trang 27

20

Ở Mỹ có hai hệ thống cấp phép, đó là: Giấy phép và sự chấp thuận của Liên bang (Federal Licenses & Permits); Giấy phép và sự chấp thuận của tiểu bang (State Licenses & Permits) Hai hệ thống này song song tồn tại và chi phối đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đầu tiên bản thân doanh nghiệp đó phải đáp ứng được các yêu cầu để xin phép kinh doanh tại địa phương, tiểu bang - nơi mà doanh nghiệp có trụ sở Nếu như doanh nghiệp đó kinh doanh lĩnh vực, ngành nghề có sự kiểm soát của liên bang, thì doanh nghiệp chỉ được thực hiện hoạt động kinh doanh đó khi được chính quyền liên bang chấp thuận hoặc cấp GPKD Có thể kể đến một số ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự ở Mỹ mà doanh nghiệp phải xin giấy phép của liên bang như:

+ Các doanh nghiệp sản xuất, thỏa thuận và nhập khẩu vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ phải tuân thủ các yêu cầu cấp phép của Đạo Luật kiểm soát vũ khí Đạo luật được quản lý bởi Cục quản lý Rượu, thuốc lá, súng và chất nổ (ATF)

+ Doanh nghiệp Sản xuất năng lượng hạt nhân cũng như các doanh nghiệp tham gia vào việc phân phối và xử lý vật liệu hạt nhân phải xin giấy phép từ Ủy ban điều tiết hạt nhân Mỹ

Như vậy, đây đều là những ngành nghề mà sức ảnh hưởng từ bản chất của hoạt động kinh doanh hay quy mô của doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một bang mà cần phải có sự kiểm soát của liên bang để đảm bảo an toàn

và an ninh trật tự cho đời sống xã hội Đồng thời, bên cạnh giấy phép kinh doanh chính thì các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự luôn phải có

“giấy phép con” tuân thủ theo các văn bản pháp luật chuyên ngành và phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt về nhân sự, vốn pháp định, phòng cháy chữa cháy Bên cạnh đó, mỗi một địa phương, tiểu bang lại có quy định khác nhau về việc cấp giấy phép và cho phép kinh doanh đối với doanh nghiệp, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và chính sách của các nhà cầm quyền Có những nơi đòi hỏi doanh nghiệp phải có giấy phép chung, có những nơi quy định giấy phép theo ngành nghề kinh doanh, có những nơi quy định giấy phép theo loại hình doanh nghiệp Ví dụ: Ở Columbia: Hầu hết các cá nhân và các công ty kinh doanh tại Quận Columbia phải có GPKD cơ bản của DCRA (The Department of Consumer and Regulatory Affairs) cơ quan quản lý chung của quận, đảm bảo phúc lợi sức khỏe, an toàn và kinh tế của người dân thông qua chương trình cấp phép, kiểm tra,

Trang 28

tuân thủ và thực thi pháp luật Ngoài ra, Sở Y tế phát hành giấy phép chuyên ngành nhất định, Bộ Giao thông vận tải Quận quy định không gian công cộng và Văn phòng Phân vùng kiểm soát sử dụng đất

Bên cạnh GPKD cấp cho doanh nghiệp, ở quốc gia này cũng tồn tại cơ chế cấp phép cho cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến năng lực, chuyên môn của cá nhân này nhằm bảo đảm lợi ích công cộng Ở Mỹ có rất nhiều ngành nghề chịu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý Sự kiểm soát này thể hiện

ở ba hình thức:

+ Cấp phép: Đây là cơ chế bắt buộc đối với một số ngành nghề, chỉ khi có được giấy phép hành nghề này, thì cá nhân mới được phép hoạt động trên thực tế, nếu không có mà vẫn thực hiện hoạt động nghề nghiệp đồng nghĩa với việc họ đã

vi phạm pháp luật Để có được giấy phép hành nghề này, cá nhân đó phải đáp ứng những quy định, tiêu chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền, ví dụ như: bác sỹ, luật sư, y tá

+ Cấp giấy chứng nhận: Việc cấp giấy chứng nhận được đặt ra khi hoạt động

đó không có trong giới hạn của ngành nghề được cấp giấy phép, chủ thể thực hiện

có thể tự nguyện xin xác nhận là có chuyên môn liên quan đến lĩnh vực này từ các

cơ quan có thẩm quyền mà nhà nước chỉ định Ví dụ như: chứng nhận là nhà phân tích tài chính, chứng nhận bác sỹ có chuyên khoa hô hấp…

+ Đăng ký: Các cơ quan có thẩm quyền sẽ lập một danh sách, cung cấp những điều kiện nhất định để được có tên trong danh sách này, sau đó các chủ thể

có nhu cầu đăng ký tên và địa chỉ, trình độ với các cơ quan quản lý Và chỉ cần có khiếu nại của người tiêu dùng (khách hàng), hoặc việc thực hiện niêm yết công khai thông tin chưa đúng thì chủ thể đó có thể bị loại ra khỏi danh sách này Điều

đó đồng nghĩa với việc tiếp tục thực hiện kinh doanh sẽ là trái pháp luật

Ngoài những ĐKKD này, ở mỗi một bang, tùy từng thời kì khác nhau, doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các điều kiện khác mà cơ quan quản lý đưa ra chẳng hạn như: chứng minh vốn pháp định (ở bang Delaware, bang NewYork) , chứng minh khoản nợ của doanh nghiệp (ở Columbia),…

1.2.3.2 Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Singapore 8

8 Serving Singapore’s Business Community, starting your business,

http://www.enterpriseone.gov.sg/

Trang 29

22

Singapore tên chính thức là Cộng hòa Singapore, là một thành bang và đảo quốc tại Đông Nam Á Singapore là một trong các trung tâm thương mại, trung tâm tài chính lớn của thế giới Pháp luật doanh nghiệp của Singapore chịu ảnh hưởng nhiều của pháp luật Anh, (trừ những nội dung mang tính địa phương) cũng được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ đem lại hiệu quả hiệu chỉnh cao đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu thì việc thành lập doanh nghiệp, bắt đầu hoạt động kinh doanh ở Singapore khá thuận tiện và dễ dàng so với các nước cùng khu vực Chủ thể kinh doanh khi muốn thành lập doanh nghiệp thì nộp hồ sơ thông báo đến cơ quan có thẩm quyền về đăng kí kinh doanh, đó là Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp của Singapore Thủ tục này có thể được thực hiện hoàn toàn qua hệ thống đăng kí trực tuyến của Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp Cũng như nhiều nước trên thế giới, để thực hiện việc đảm bảo lợi ích nền kinh tế và yêu cầu của quá trình quản lý nhà nước, bên cạnh cơ chế đăng kí thành lập, Singapore cũng đặt ra quy định về ĐKKD trong một số những ngành nghề nhất định ví dụ như: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ khám chữa bệnh, Giao thông vận tải và lưu trữ, xuất nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh khách sạn, nhà trọ, hoạt động trong ngành giải trí… Theo pháp luật Singapore, để có thể đăng ký kinh doanh hoặc thực hiện kinh doanh trong một số ngành nghề cụ thể, doanh nghiệp phải được cấp giấy phép hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền Có ba loại giấy phép phổ biến ở Singapore, đó là:

- Giấy phép bắt buộc (Compulsory Licences)

Đây là loại giấy phép cấp cho doanh nghiệp kinh doanh Nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp mà chỉ một số loại doanh nghiệp nhất định đòi hỏi phải có giấy phép đặc biệt này trước khi họ có thể hoạt động Ví dụ: Trường tư, các công ty sản xuất video, công ty du lịch, các nhà phân phối rượu, người cho vay, các ngân hàng và các trung tâm chăm sóc trẻ em… Chủ thể kinh doanh sẽ cần phải có giấy phép này khi đăng ký kinh doanh với ACRA Hay nói cách khác, doanh nghiệp phải có giấy phép này thì mới được đăng ký kinh doanh Trong trường hợp này, có thể mất từ 14 ngày - 2 tháng để có được tất cả các giấy phép cần thiết, sự cho phép

Trang 30

và phê duyệt để tạo thành doanh nghiệp Điều đặc biệt, pháp luật Singapore tạo điều kiện tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho các chủ thể kinh doanh bằng cách cho phép

họ có thể đăng ký kinh doanh và nộp đơn xin giấy phép bắt buộc cùng một lúc bằng cách sử dụng dịch vụ cấp GPKD trực tuyến

- Giấy phép nghề nghiệp (Occupational Licences)

Nếu một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp (ví dụ như: dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ pháp lý…) thì đòi hỏi phải

có giấy phép nghề nghiệp Loại giấy phép này không cấp cho doanh nghiệp mà cấp cho cá nhân là người quản lý doanh nghiệp hoặc các nhân viên của doanh nghiệp đó Những ngành phổ biến, yêu cầu phải có giấy phép nghề nghiệp ở Singapore đó là: bác sỹ, luật sư, kiến trúc sư, kế toán… Giấy phép này sẽ được cấp bởi các tổ chức nghề nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý tương ứng

- Giấy phép hoạt động kinh doanh (Business Activity Licences)

Sau khi được thành lập, đi vào hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: cải tạo, dựng biển quảng cáo trên cơ sở của doanh nghiệp, thuê lao động nước ngoài, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, buôn bán những hàng hóa bị kiểm soát như rượu, thuốc lá… Doanh nghiệp chỉ được thực hiện hoạt động đó khi được cấp giấy phép hoặc được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ví dụ: Khi doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất, nhập khẩu, bắt buộc phải xin giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu qua TradeNet® - trang thông tin quản lý của Hải quan Singapore Họ sẽ phải kích hoạt tài khoản hải quan của mình trước khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa Khi đăng kí kinh doanh, chủ thể kinh doanh sẽ được cấp một trị số, đối với doanh nghiệp, trị số chính là số đăng kí kinh doanh cấp cho doanh nghiệp Chỉ khi có trị số, doanh nghiệp mới kích hoạt được tài khoản hải quan để xin phép nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa Hoặc khi doanh nghiệp muốn thực hiện hoạt động quảng cáo, nếu như là quảng cáo ngoài trời thì cần phải xin giấy phép xây dựng của cơ quan quản lý xây dựng ; nếu là quảng cáo các sản phẩm y tế thì cần phải xin giấy phép của cơ quan khoa học y tế…

Trang 31

24

Điều đặc biệt là các ĐKKD đều được Chính phủ Singapore công khai trên các trang thông tin điện tử chính thức, các doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ cấp phép EnterpriseOne kinh doanh trực tuyến để thực hiện việc xin những giấy phép cần thiết để thành lập và hoạt động Điều này rất hữu ích, các doanh nghiệp không phải mất thời gian để đến trực tiếp gặp các cơ quan có thẩm quyền

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ VÀ TÌNH HÌNH

THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI SƠN LA

2.1 Thực trạng pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự

2.1.1 Quy định về ngành nghề cần tuân thủ điều kiện về ANTT

Hiện nay, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự được quy định cụ thể tại Điều 3 Thông tư số 33/2010/TT-BCA Theo đó, các ngành nghề này bao gồm:

1 Sản xuất con dấu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang; dấu chức danh, dấu tiêu đề, dấu chữ ký và các loại con dấu khác

2 Sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp và Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) gồm hoạt động sản xuất, tái chế, bảo quản, mua, bán thuốc nổ công nghiệp và phụ kiện nổ công nghiệp, Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) để sử dụng cho mục đích dân dụng

3 Hoạt động sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) gồm dịch vụ nổ mìn và các ngành, nghề mà trong quá trình sản xuất, kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp hoặc Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên)

4 Sản xuất, kinh doanh, sửa chữa công cụ hỗ trợ, gồm các hoạt động sản xuất, lắp ráp, mua, bán công cụ hỗ trợ, phụ kiện của công cụ hỗ trợ, sửa chữa công cụ hỗ trợ

5 Sản xuất pháo hoa, gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa và nguyên liệu cho sản xuất pháo hoa

6 Cho thuê lưu trú, gồm các hoạt động kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ hoặc các hình thức cho thuê lưu trú khác cho khách nghỉ qua đêm hoặc theo giờ

Tổ chức, cá nhân cho công dân Việt Nam thuê nhà để ở, lao động, học tập không thuộc đối tượng điều chỉnh tại Nghị định số 72/2009/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này nhưng phải thực hiện theo quy định của Luật Cư trú

7 Cho tổ chức, cá nhân người nước ngoài thuê nhà để ở hoặc làm văn phòng

8 Hoạt động in, bao gồm chế bản in, in, gia công sau in và Photocopy mầu

Trang 33

11 Kinh doanh vũ trường, gồm các hình thức kinh doanh hoạt động khiêu

vũ tại các cơ sở kinh doanh đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

12 Kinh doanh dịch vụ xoa bóp (massage, tẩm quất), gồm các phương pháp vật lý trị liệu nhằm phục hồi và nâng cao sức khỏe con người (trừ các cơ

sở giải quyết việc làm cho người khuyết tật)

13 Kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài

14 Kinh doanh Casino

15 Kinh doanh dịch vụ đòi nợ

16 Kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng LPG (gas), gồm đại lý kinh doanh gas, các cửa hàng bán gas chai, trạm nạp gas vào chai và ô tô, trạm cấp gas

17 Sản xuất, kinh doanh thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu cờ hiệu, đèn, còi phát tín hiệu ưu tiên của xe cơ giới

18 Sửa chữa súng săn, gồm các hoạt động sửa chữa, thay thế các phụ kiện của các loại súng săn khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép

Như vậy, hiện nay có 18 ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT Nhìn chung pháp luật đã bao quát và quy định rõ ràng đối với từng ngành nghề phải đáp ứng các điều kiện về ANTT Các quy định này sẽ góp phần đảm bảo

an toàn, an ninh, trật tự xã hội Tuy nhiên, các quy định này cũng còn một số hạn chế, cần phải khắc phục Cụ thể:

Thứ nhất, một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT không còn phù hợp với thực tế

Trong tiến trình Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới, thì yêu cầu đối xử công bằng giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài ngày càng được đề cao Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập rất nhiều tổ chức thương mại lớn như WTO, ASEAN và mới đây nhất là ký Hiệp định TPP thì yêu cầu này càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Chính vì vậy, trong danh mục những ngành nghề cần tuân thủ

Trang 34

điều kiện về ANTT cũng phải đảm bảo yêu cầu này Hiện nay một số ngành nghề bắt đầu bộc lộ những điểm không phù hợp như: Cho tổ chức, cá nhân người nước ngoài thuê nhà để ở hoặc làm văn phòng; Kinh doanh trò chơi điện

tử có thưởng dành cho người nước ngoài Do đó, cần rà soát lại kỹ lưỡng danh mục những ngành nghề này

Thứ hai, xuất hiện thêm những ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng đến

an ninh, trật tự xã hội nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh

Nghị định 72/2009/NĐ-CP và Thông tư 33/2010/TT-BCA đã ra đời và điều chỉnh trong một thời gian khá dài, vì vậy để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới thì pháp luật cần phải bổ sung thêm một số ngành nghề phải đáp ứng điều kiện ANTT Chẳng hạn như hiện nay có rất nhiều ngành nghề, dịch vụ kinh doanh mới xuất hiện đe doạ đến an ninh trật tự nhưng pháp luật chưa điều chỉnh đến, vì vậy công tác quản lý gặp rất nhiều khó khăn Ví dụ như kinh doanh quán bar, kinh doanh súng bắn sơn, kinh doanh dịch vụ đặt cược; kinh doanh khí Bên cạnh đó, theo Luật đầu tư 2014, nhiều ngành nghề trước đây bị cấm kinh doanh nhưng hiện nay đã được chuyển sang danh mục những ngành nghề kinh doanh có điều kiện như pháo, mìn, quân trang, quân dụng Vì vậy, để phù hợp với Luật đầu tư 2014, thì cần thiết phải đưa những ngành nghề này vào danh mục những ngành nghề phải đáp ứng các điều kiện về ANTT

Thứ ba, các quy định của pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT chưa rõ ràng, cụ thể, gây khó khăn khi áp dụng

Các quy định hiện hành mới chỉ quy định chung chung về các ngành nghề cần đáp ứng điều kiện về ANTT Do không có sự giải thích rõ ràng nên quá trình áp dụng gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt Luật doanh nghiệp 2014 và Luật đầu tư 2014 đã có nhiều đổi mới trong hoạt động quản lý, vì vậy các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT cũng cần phải thay đổi cho phù hợp Chẳng hạn như hiện nay Luật doanh nghiệp 2014 đã có quy định mới về con dấu Theo

đó, doanh nghiệp có thể tự lựa chọn biểu tượng của con dấu Vì vậy Thông tư 33/2010/TT-BCA quy định rằng: “ hoạt động sản xuất con dấu bao gồm: Sản xuất con dấu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang; dấu chức danh, dấu tiêu

đề, dấu chữ ký và các loại con dấu khác” là chưa cụ thể, rõ ràng và phù hợp Hoặc là đối với hoạt động kinh doanh công cụ hỗ trợ, Thông tư 33/2010/TT-

Trang 35

28

BCA quy định rằng: “Sản xuất, kinh doanh, sửa chữa công cụ hỗ trợ, gồm các hoạt động sản xuất, lắp ráp, mua, bán công cụ hỗ trợ, phụ kiện của công cụ hỗ trợ, sửa chữa công cụ hỗ trợ” Tuy nhiên, đối với hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu , hoặc mua bán đạn sử dụng cho công cụ hỗ trợ thì pháp luật chưa điều chỉnh tới Do đó, trên thực tế gây khó khăn cho việc quản lý đối với nhóm công

cụ hỗ trợ này

2.1.2 Các quy định về điều kiện an ninh trật tự với các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện

2.1.2.1.Điều kiện về người đứng đầu doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 1 Thông tư số 33/2010/TT-BCA, người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phải có lý lịch rõ ràng

và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 3 Nghị định số 72/2009/NĐ-CP Các chủ thể này phải đáp ứng các điều kiện sau:

i Không thuộc trường hợp mà Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp, cấm thực hiện các hoạt động kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện về an ninh, trật tự

ii Người chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người nghiện ma túy

iii Người đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tố tụng đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử

iv Người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, xã, thị trấn; đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, bị phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù; được tạm hoãn đưa vào cơ sở chữa bệnh,

cơ sở giáo dục

v Người có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội do lỗi cố ý có mức án từ 10 năm trở lên hoặc các tội khác liên quan trực tiếp đến ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự mà chưa được xóa án tích; người đã

bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính

Trang 36

Bên cạnh những quy định chung tại Nghị định số 72/2009/NĐ-CP và thông tư số 33/2010/TT-BCA thì các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự còn phải tuân theo những điều kiện riêng được quy định tại những văn bản pháp luật điều chỉnh chuyên ngành Chẳng hạn như với ngành kinh doanh dịch vụ đòi nợ, chủ doanh nghiệp, người quản lý còn phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14 Nghị định 104/2007/NĐ-CP bao gồm:

Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

i Có trình độ học vấn từ đại học trở lên thuộc một trong các ngành: kinh

tế, quản lý, pháp luật, an ninh

ii Không có tiền án

iii Những người đã làm việc cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi

nợ khác đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải thoả mãn thêm điều kiện: trong ba năm trước liền kề, không giữ chức danh quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ

Hoặc đối với kinh doanh dịch vụ bảo vệ, chủ doanh nghiệp cũng phải đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 11 Nghị định số 52/2008/NĐ-CP, bao gồm:

“1.Người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và những người trong Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị; Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc và các sáng lập viên tham gia thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có đạo đức tốt, lý lịch rõ ràng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 4 Nghị định này;

b) Có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên thuộc một trong các ngành kinh tế, luật

2 Những người đã làm việc cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ khác đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh còn phải thoả mãn thêm điều kiện: trong ba năm trước liền kề không làm quản lý hoặc giữ chức danh chủ chốt của doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”

Như vậy, pháp luật đang quy định khá chặt chẽ đối với người đứng đầu doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự Bên cạnh những quy định về lý lịch thì người đứng đầu doanh nghiệp còn phải thoả mãn

Trang 37

30

những điều kiện về trình độ học vấn chuyên môn Quy định này là hợp lý bởi việc kinh doanh những ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự có ảnh hưởng lớn đến an toàn và an ninh trật xã hội, do đó những quy định chặt chẽ này sẽ giúp cho người đứng đầu, những người tham gia điều hành, quản lý, sáng lập doanh nghiệp có thể làm tốt công việc của mình Đồng thời, những quy định này sẽ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các cá nhân khi tham gia các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ kinh doanh nói riêng đồng thời bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng như của Nhà nước và xã hội

Tuy nhiên, hiện nay các quy định về người đứng đầu doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự cũng bộc lộ một số điểm hạn chế như sau:

Thứ nhất, các quy định về điều kiện đối với người đứng đầu doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự chưa thống nhất, còn tản mát

ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, khiến việc áp dụng và thực thi gặp nhiều khó khăn Theo Thông tư 33/2010/TT-BCA, hiện nay có 18 ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, mỗi ngành nghề lại có một văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh, do đó điều kiện về người đứng đầu các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề này lại phải đáp ứng các điều kiện khác nhau Chẳng hạn như Nghị định 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ; Nghị định 52/2008/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ bảo vệ; Nghị định 103/2009/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ vũ trường và karaoke Hơn nữa, trong thông tư 33/2010/TT-BCA chỉ quy định điều kiện đối với người đứng đầu doanh nghiệp là : “có lý lịch rõ ràng và không thuộc những trường hợp quy định tại Điều 3 Nghị định 72/2009/NĐ-CP”, tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, bên cạnh những quy định đó thì chủ doanh nghiệp còn phải đáp ứng các điều kiện về trình độ chuyên môn đối với từng hoạt động kinh doanh cụ thể Như vậy, với việc quy định không thống nhất, tản mát ở các văn bản khác nhau khiến cho quá trình thực thi, áp dụng trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn,

là cơ sở cho việc sách nhiễu về thủ tục khi thực hiện xin cấp phép và quản lý trong kinh doanh

Thứ hai, một số quy định về điều kiện đối với người đứng đầu doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự không cần thiết

Ngày đăng: 24/03/2018, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w