1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giáo dục cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục cho người khuyết tật thành phố hồ chí minh

81 375 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như đã nêu tại phần khái niệm trên được tiếp cận bằng các phương pháp định nghĩa khác nhau song chúng đều chỉ ra những đặc điểm chung của người khuyết tật dưới các khía cạnh: So với ngườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRƯƠNG LỆ CHÂU

PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 60380107

Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Hiền Phương

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Tôi tên : TRƯƠNG LỆ CHÂU

Sinh ngày : 20/11/1975 tại TP.HCM

Quê quán : 249 Cao Văn Lầu, Phường 2, Quận 6, TP.HCM

Hiện công tác tại: Công ty TNHH Tư vấn TM DV Hoa Ngọc Châu

Là học viên Lớp Thạc sĩ Luật học – Khoá 22 – Chuyên ngành Luật Kinh tế

Mã số học viên: CHHCM 22002

Tôi cam đoan luận văn tốt nghiệp “Pháp luật về Giáo dục cho Người khuyết

tật và thực tiễn thực hiện chế độ tại Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục cho Người khuyết tật Tp.HCM “ là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự

hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hiền Phương Các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở bất

kỳ đâu Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Xác nhận của Giáo viên hướng dẫn Hà Nội, ngày 29 tháng 07 năm 2016 Học viên thực hiện

Trang 3

Lời cám ơn

Được sự phân công của Khoa Luật kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội và

sự đồng ý của Giáo viên hướng dẫn em đã thực hiện đề tài “Pháp luật về Giáo dục cho Người khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại Trung tâm Hỗ trợ phát triển gíao dục hòa nhập cho Người khuyết tật Thành phố Hồ Chí Minh”

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường Đại học Luật Hà Nội đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của Quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến Quý Thầy cô Trường Đại Học Luật Hà Nội, đặc biệt là các Thầy cô ở Khoa Luật Kinh tế đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cám ơn Giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương đã tận tình hướng dẫn em thực hiện luận văn này Đồng thời xin gửi lời cám ơn đến Ban lãnh đạo, các Thầy cô, các Anh chị thuộc các phòng ban, đặc biệt là Thầy Nguyễn Thanh Tâm – Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển Giáo dục hòa nhập cho Người Khuyết tật TP.HCM tận tình hướng dẫn và cung cấp cho em những thông tin số liệu cần thiết trong suốt quá trình thực hiện luận văn để

em có cơ sở hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song buổi đầu mới quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế cũng như hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên không thế tránh khỏi những thiếu xót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý phê bình cũng như sự cảm thông của các Thầy cô Em xin chân thành cám ơn

Trân trọng !

Hà Nội, ngày 25 tháng 08 năm 2016

Học viên

Trang 4

Công ước 2006 : Công ước của liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật năm 2006

UNDP : Chương trình phát triển Liên hợp quốc

ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế

ADA : là viết tắt của các Khuyết tật đạo luật người Mỹ

Trung tâm : Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập cho người khuyết tật thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

Pháp luật giáo dục cho Người khuyết tật và thực tiễn thực hiện chế độ tại

Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục cho Người khuyết tật

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang

(72 trang)

Chương I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ

PHÁP LUẬT GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

07

1.1 Khái niệm, đặc điểm người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm người khuyết tật

1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật

07

08

1.2 Vai trò của pháp luật giáo dục đối với người khuyết tật 11

1.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật giáo dục cho người khuyết tật 12

1.4 Nội dung pháp luật giáo dục cho người khuyết tật

1.4.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật giáo dục đối với người

khuyết tật

1.4.2 Phương thức giáo dục người khuyết tật

1.4.3 Chế độ giáo dục đối với người khuyết tật

1.4.4 Trách nhiệm của một số chủ thể đối với giáo dục cho người khuyết

1.5 Quy định pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia về

giáo dục đối với người khuyết tật

1.5.1 Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật

23

23

Trang 6

cho người khuyết tật ở Nhật Bản

1.5.3 Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện pháp luật giáo dục về

người khuyết tật của Malaisia

1.5.4 Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật giáo dục

về người khuyết tật của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

1.5.5 Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật giáo dục

về người khuyết tật ở Mỹ

28

28

29

Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIÁO DỤC CHO NGƯỜI

KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TẠI TRUNG

TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO NGƯỜI

KHUYẾT TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Thực trạng pháp luật giáo dục đối với người khuyết tật

31

2.2 Thực tiễn thực hiện chế độ về giáo dục đối với người khuyết tật tại

Trung tâm Hỗ trợ phát triển Giáo dục hoà nhập cho Người khuyết tật

Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1 Sơ lược về Trung tâm Hỗ trợ phát triển Giáo dục hoà nhập cho

Người khuyết tập Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Chế độ giáo dục đối với người khuyết tật tại Trung tâm Hỗ trợ

phát triển Giáo dục hoà nhập cho người khuyết tập Thành phố Hồ Chí

Chương 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIÁO

DỤC ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật giáo dục cho người

khuyết tật

55

Trang 7

khuyết tật

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ giáo dục đối với

người khuyết tật tại Trung tâm Hỗ trợ phát triển Giáo dục hoà nhập cho

Người khuyết tật Thành phố Hồ Chí Minh

68

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người khi sinh ra, ai cũng có quyền sống, học tập, làm việc và mưu cầu hạnh phúc Đây là quyền tự nhiên cơ bản của con người, do tạo hóa đã ban tặng chứ không phải được một thể chế hay nhà nước nào quy định, có chăng đó chỉ là sự ghi nhận lại mà thôi Trong cuộc sống hàng ngày, rất dễ dàng bắt gặp sự bất bình

đ ng, càng thể hiện rõ hơn đối với những người không may mắn bị khiếm khuyết một phần cơ thể, mà ta còn gọi là người khuyết tật Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc một hay nhiều chức năng nào

đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm Do khuyết tật nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động và tham gia hoạt động xã hội Do

đó việc đảm bảo sự bình đ ng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về giáo dục, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối với người khuyết tật là nghĩa vụ của gia đình, xã hội và nhà nước

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm chăm sóc và giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội trong đó có NKT Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về giáo dục đối với NKT nhằm tạo điều kiện để NKT thực hiện quyền học tập của mình Quyền được giáo dục của công dân nói chung trong đó có NKT đã được

kh ng định trong Hiến pháp của nước ta, quyền này được cụ thể hóa trong các luật chuyên ngành như Luật giáo dục, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tr em… đặc biệt Luật người khuyết tật ra đời năm 2010 có hiệu lực tà ngày 01/01/2011 đã dành chương IV để quy định về giáo dục đối với NKT Đây là cơ sở để NKT thực hiện quyền học tập của mình Tuy nhiên những quy định này đã được thực hiện như thế nào, đem lại kết quả ra sao trên thực tế và có phản ánh đúng được nhu cầu học tập của NKT hay không là vấn đề cần phải quan tâm Trước tình hình đó, việc lựa chọn

đề tài “Pháp luật về giáo dục cho người khuyết tật – Thực tiễn thực hiện chế độ tại

Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập cho người khuyết tật Thành phố

Hồ Chí Minh” để nghiên cứu về vấn đề pháp luật giáo dục đối với người khuyết tật,

tìm hiểu thực trạng và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật giáo dục cho người khuyết tật

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề thực hiện pháp luật về người khuyết tật liên quan đến nhiều Bộ, ngành, nhiều cấp chính quyền, nhiều lĩnh vực do vậy trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật cũng như thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Cụ thể

- Dự án: Dự án phân tích, đánh giá chính sách pháp luật chăm sóc và bảo vệ

trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, năm 1999 của Bộ Lao động, thương binh và xã

hội

- Đánh giá việc thực hiện Bộ luật lao động đối với lao động là người tàn tật

và pháp lệnh người tàn tật- Nguyễn Diệu Hồng- Bộ Lao động, thương binh và

xã hội

- Nội dung và phương pháp giáo dục tr em có tật ở Việt nam- Viện Khoa

học giáo dục thuộc Bộ Giáo dục

- Đề tài: Các biện pháp tổ chức giáo dục hoà nhập giúp trẻ em khuyết tật thính

giác vào lớp 1, Luận án Tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Hoàng Yến

- Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện

nay, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Báo - Học viện Chính trị -

Hành chính Quốc gia

- Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp

người khuyết tật giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã

hội năm 2008

- Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp phụ nữ

khuyết tật năm 2008 của TW Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam

- Báo cáo thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật trong dạy nghề,

học nghề (Báo cáo năm 2008 của Cục việc làm – Bộ Lao động –Thương binh

và Xã hội)

- Báo cáo thực hiện các chính sách về việc làm cho người khuyết tật- nhìn từ

góc độ luật pháp Tham luận khoa học của Cục việc làm- Bộ Lao động-

Thương binh và Xã hội năm 2008 tại Hội thảo về chính sách việc làm đối với người khuyết tật

Trang 10

- Tổng kết tình hình thực hiện Quyết định của Thủ tướng năm 2005 về thực

hiện hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2005 – 2010 do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xây dựng năm 2009

Tất cả các công trình trên, dù tiếp cận dưới góc độ chính sách pháp luật, giáo dục, đào tạo người khuyết tật, chăm sóc sức kho người khuyết tật hoặc đánh giá quá trình thực hiện pháp luật lao động liên quan đến đối tượng là người khuyết tật trong quá trình thực thi pháp luật giáo dục, tìm việc làm và tiếp cận xã hội trong các lĩnh vực khác nhau thì cũng đã có những nội dung liên quan tới quy trình, các giai đoạn thực hiện pháp luật về người khuyết tật Tuy vậy hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách trực tiếp và có hệ thống về hoạt động thực hiện pháp luật về giáo dục cho người khuyết tật ở Việt nam

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là chế độ giáo dục đối với NKT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành không chỉ trong pháp luật giáo dục mà còn trong các Luật chuyên ngành như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tr em năm

2004, Luật thanh niên năm 2005, Luật người khuyết tật năm 2010 đồng thời cũng tiến hành so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ giáo dục đối với NKT, thực trạng thực hiện các quy định đó và hướng hoàn thiện về vấn đề này

Pháp luật giáo dục cho người khuyết tật có phạm vi rất rộng có liên quan đến nhiều văn bản luật khác nhau cũng như nhiều hoạt động của các cơ quan tổ chức Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là quy định pháp luật hiện hành về giáo dục cho người khuyết tật chủ yếu quy định trong Luật người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn Bên cạnh đó một số pháp luật khác cũng được nghiên cứu trong phạm vi giới hạn nhất định về thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục cho người khuyết tật được nghiên cứu tại Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập cho người khuyết tật TP.HCM Để có căn cứ khoa học khi đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về người khuyết tật, luận văn đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện pháp luật dựa trên những báo cáo tổng kết của Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập cho người khuyết tật Tp.HCM

Trang 11

4 Mục tiêu nghiên cứu

Từ những quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện chế độ giáo dục đối với người khuyết tật Theo mục đích trên, luận văn đã đi sâu tìm hiểu cơ sở lý luận về người khuyết tật và quy định của pháp luật về chế độ giáo dục đối với người khuyết tật; phân tích đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về chế độ giáo dục đối với người khuyết tật và thực trạng thực hiện những quy định này trên thực tế; xác định những phương hướng, đề xuất những nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện quy định về chế độ giáo dục đối với

người khuyết tật

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn có các mục tiêu sau đây :

Một là: Hệ thống hoá, khái lược hoá một số nội dung cả về lý luận và thực

tiễn liên quan đến người khuyết tật, tàn tật Trên cơ sở đó hình thành cơ sở lý luận

về thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở nước ta hiện nay, phân tích các hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về người khuyết tật đồng thời luận văn giới thiệu khái quát kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực xây dựng văn bản pháp luật và

tổ chức thực hiện pháp luật về người khuyết tật

Hai là: Phân tích đánh giá thực trạng người khuyết tật và hoạt động thực hiện

pháp luật về người khuyết tật, trong đó phân tích, đánh giá những thành tựu

và hạn chế, nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về người khuyết tật hiện nay

Ba là: Kh ng định các quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm hoạt động

thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở nước ta hiện nay Những giải pháp cần được xây dựng mang tính chất tổng thể và phù hợp với hoạt động quản lý nhà nước cũng như hoạt động thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay

5 Các câu hỏi nghiên cứu

1 Tại sao tác giả quan tâm đến đề tài pháp luật về giáo dục cho người khuyết tật ?

2 Nội dung pháp luật giáo dục cho người khuyết tật ra sao?

3 Thực trạng pháp luật giáo dục cho người khuyết tật tại Việt Nam như thế nào?

Trang 12

4 Thực tiễn thực hiện pháp luật giáo dục tại Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

5 Những thành tựu của Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

6 Những tồn tại và nguyên nhân của Trung tâm trong việc thực hiện chế độ

ra sao?

7 Những đề xuất để nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật tại Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử dụng và kết hợp một cách hợp lí các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp thu thập số liệu điều tra, phân tích, diễn giải, so sánh, hệ thống và tổng hợp để xử lý tài liệu thu thập, đồng thời khảo cứu thực tế tại Trung tâm để chứng minh cho những luận điểm được đưa ra trong bài luận văn, ngoài ra còn kết hợp tham khảo tài liệu trong và ngoài nước

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Giáo dục có ý nghĩa hết sức quan trọng Giáo dục không chỉ đem lại cho con người sự hiểu biết, kiến thức về thế giới xung quanh mà còn giúp con người hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục cũng giúp cho con người có được những phẩm chất tốt đẹp Do đó, pháp luật giáo dục càng có ý nghĩa nhân văn hơn đặc biệt

là đối với người khuyết tật, pháp luật về giáo dục càng có ý nghĩa quan trọng hơn Pháp luật giáo dục sẽ giúp người khuyết tật có được kiến thức, tri thức, sự hiểu biết

về pháp luật, về tự nhiên, về xã hội và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội Người khuyết tật lại là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Đặc biệt, có những người khuyết tật còn bị hạn chế về nhận thức, trí tuệ Do đó, việc ban hành pháp luật về giáo dục, ngoài việc học tập phục hồi các chức năng, còn giúp cho các đối tượng này cũng như phát triển về trí tuệ, sống có ích cho xã hội Pháp luật về giáo dục cũng giúp người khuyết tật có những kiến thức cơ

Trang 13

bản và đó chính là nền tảng để họ có thể tham gia học nghề, tìm kiếm việc làm và hoà nhập vào cộng đồng

Pháp luật về giáo dục giúp người khuyết tật có được kiến thức kỹ năng, sự hiểu biết nên sẽ giúp họ tự tin và chủ động hơn trong cuộc sống Một số người khi thấy mình bị khuyết tật thường có xu hướng bi quan Pháp luật về giáo dục sẽ bảo vệ

họ, giúp họ nhận thức được vấn đề và giúp họ có nghị lực để vượt lên trên mọi khó khăn của cuộc sống

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận thức lý luận về thực hiện pháp luật g i á o d ụ c và đề xuất những giải pháp cần thiết trong quá trình hoạch định chính sách, làm tài liệu tham khảo trong thực hiện pháp luật và góp vào trong quá trình hoàn thiện pháp luật giáo dục về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện nay

8 Bố cục – Nội dung đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận thì nội dung đề tài được trình bày thành ba chương với kết cấu như sau :

Chương 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIÁO DỤC ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUÂT GIÁO

DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.2 Khái niệm, đặc điểm người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm người khuyết tật

Hiện nay xung quanh vấn đề khái niệm người khuyết tật (NKT) vẫn còn chưa có

sự thống nhất và còn nhiều điểm khác nhau do những hoàn cảnh lịch sử kinh tế, văn hóa, xã hội và sự biến đổi qua các giai đoạn phát triển khác nhau, tùy thuộc vào nhận thức, thái độ và quan niệm của mỗi quốc gia và vì vậy rất khó để đưa ra một khái niệm hay một định nghĩa chung về NKT

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể hiểu khái quát chung về người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Định nghĩa người khuyết tật là người khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ…

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm

khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến

sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ Còn

theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn

tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như

thành viên khác Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống

Trên thế giới có hai từ chính chỉ “người bị khuyết tật”, đó là người tàn tật và

NKT Người tàn tật dùng để chỉ một người hoàn toàn không đủ khả năng và năng lực, đây là một từ mang nghĩa rất tiêu cực, NKT và tổ chức phi chính phủ quốc tế khuyến khích mọi người sử dụng thuật ngữ NKT để chỉ những người bị khuyết tật vì từ này mang nội hàm tích cực hơn Hiện nay quốc tế đã chuyển sang mô hình tiếp cận xã hội

Trang 15

để nhìn nhận sự khuyết tật và NKT Theo đó được ghi nhận trong khoản 1 Điều 2 Luật

Người khuyết tật năm 2010 “Người khuyết tật à người khiếm khuyết một hoặc nhiều

ộ phận cơ th hoặc suy giảm chức năng được i u hiện ưới ạng tật khiến cho o động, sinh hoạt, học tập gặp kh khăn Đoạn 2 Điều 1 Công ước về Quyền của người

khuyết tật năm 2007 quy định: “Người khuyết tật o gồm những người c khiếm

khuyết âu ài về th chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác qu n mà khi tương tác với những rào cản khác nh u c th phương hại đến sự th m gi hữu hiệu và trọn vẹn củ họ vào

xã hội trên cơ sở ình đẳng với những người khác

Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật NKT, có hiệu lực từ

01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn

tật” trước đây, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề

khuyết tật Theo quy định của Luật này thì NKT được hiểu là “người b khiếm khuyết

một hoặc nhiều bộ phận cơ th hoặc b suy giảm chức năng được bi u hiện ưới dạng

tật khiến cho o động, sinh hoạt, học tập gặp kh khăn Đây là sự thể hiện quan điểm

và nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về NKT; họ cũng được hưởng mọi quyền như người bình thường, họ có thể khuyết nhưng không phải đã tàn và phế, điều này thể hiện

sự thay đổi trong cách nhận thức của nhà làm luật Việt Nam, đồng thời sự thay đổi quan niệm này cũng thể hiện nỗ lực đóng góp của bản thân NKT khi vận động cho việc thay đổi trong nhận thức này

Như vậy, khái niệm NKT bao hàm cả yếu tố y tế và xã hội, khái niệm NKT trong Luật so với khái niệm người tàn tật nói trong Pháp lệnh có bước phát triển mới, đã tiếp cận với khái niệm NKT của Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật (2006)

mà Việt Nam đã ký kết Việc sử dụng từ ngữ “NKT” thay cho từ ngữ “người tàn tật” nhằm bảo đảm tính nhân văn, không gây mặc cảm cho chính NKT và tránh sự phân biệt

kỳ thị đối với NKT, sẽ hàm chứa được đầy đủ hơn đối tượng áp dụng và phù hợp với luật pháp quốc tế Theo đó vấn đề khuyết tật được nhìn nhận một cách toàn diện hơn ở

cả góc độ y tế và góc độ xã hội

1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật

Với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm NKT nói chung lại

có những nét đặc thù so với nhóm người không khuyết tật và mỗi nhóm khuyết tật dạng này lại có nét đặc thù tương đối so với nhóm NKT dạng khác Về phương diện pháp lý,

Trang 16

làm rõ những đặc điểm của NKT là một trong những cơ sở, căn cứ khoa học tác động đến việc ban hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với NKT nói chung, chế

độ chính sách về giáo dục đối với NKT nói riêng

Đặc điểm về sức khỏe

Sức khỏe là nguồn vốn vô cùng quý giá của con người, sức khỏe của NKT kém hơn so với người bình thường do khiếm khuyết một phần chức năng của cơ thể nên cần

được Nhà nước và xã hội quan tâm nhiều hơn Một thực tế khác không thể phủ nhận là

sự đa dạng của khuyết tật với những nguyên nhân hình thành khác nhau (do bẩm sinh,

do bệnh tật, do tai nạn, do chiến tranh ), những dạng khuyết tật khác nhau (khuyết tật vận động, khuyết tật cảm giác, khuyết tật trí tuệ…) và những mức độ nặng nhẹ khác nhau

Như đã nêu tại phần khái niệm trên được tiếp cận bằng các phương pháp định nghĩa khác nhau song chúng đều chỉ ra những đặc điểm chung của người khuyết tật dưới các khía cạnh:

So với người bình thường có đầy đủ các bộ phận trên cơ thể theo cấu tạo sinh học, khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi trong các quan hệ xã hội thì

người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết (thiếu, không c hoặc mất đi)

bộ phận nào đó trên cơ thể, bị suy giảm sức khỏe khó có thể phục hồi, bị hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức, tiếp thu các tư tưởng văn hóa và giáo dục như các chủ thể thông thường khác.

Nếu cùng có mặt bằng pháp lý như nhau, nhìn chung khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật sẽ hạn chế hơn đối với những đối tượng thông thường Đây là một trong những hệ quả kéo theo của đặc điểm khiếm khuyết Do bị khiếm khuyết về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà những người khuyết tật sẽ khó khăn khi thực hiện các công việc lao động, học tập, sinh hoạt, vui chơi giải chí, tham gia các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội khác kém hiệu quả hơn các đối tượng thông thường.

Cả Công ước về Quyền của người khuyết tật năm 2007 và Luật Người khuyết tật năm 2010 đều chỉ ra những dạng khuyết tật cơ bản Mặc dù ngôn ngữ biểu đạt là khác nhau, song theo tinh thần chung, người khuyết tật bao gồm:

Trang 17

Khuyết tật về thể chất, sức khỏe, vận động: bị hỏng một bên thận, không

có tay, chân,

Khuyết tật về giác quan và nói: suy giảm các giác quan như mù, điếc, khiếm thính, khiếm thị, không nhận được mùi vị

Khuyết tật về tâm thần: bị tâm thần, bại não

Khuyết tật về trí tuệ: bị thiểu năng

Việc phân loai này đã được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 và Điều 3 của Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật người khuyết tật Mỗi dạng khuyết tật có những đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lý, về khả năng, qua đó tác động đến các nhu cầu của bản thân và có ảnh hưởng qua lại, tác động đáng kể tới môi trường xung quanh làm xuất hiện những hệ quả pháp lý trong quá trình hòa nhập cộng đồng Sự phân chia thành các dạng tật và mức độ khuyết tật như vậy là

cơ sở để Nhà nước thực hiện chính sách phù hợp đối với NKT nói chung và chính sách

về giáo dục đối với NKT nói riêng

Một điều hiển nhiên là NKT bị hạn chế khả năng học tập Họ chỉ có thể học được khi có những điều kiện nhất định Song từ thực tế và qua nghiên cứu của nhiều nước đã chỉ rõ rằng nếu họ được giáo dục phù hợp, được giúp đỡ để thích nghi trong một môi trường giáo dục thuận lợi, NKT sẽ đạt được kết quả như những người bình thường khác bởi ngoài sự khiếm khuyết về cơ thể ra họ có đầy đủ các khả năng khác như tài năng, kỹ năng và họ cũng có mục đích, có khát vọng, có tính kiên nhẫn như tất

cả mọi người Để NKT học tập và đạt được kết quả tốt thì Nhà nước và nhà trường phải nhìn nhận được các loại hình giáo dục mà NKT có khả năng học và thích nghi, biết loại những yếu tố bất lợi để họ có điều kiện học tập phù hợp nhất tương ứng với từng loại dị

tật

Đặc điểm về tâm lý

Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được - ch ng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại

hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ

thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này

Trang 18

chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao

NKT là những người tổn thương nhất trong nhóm dễ bị tổn thương, là những người yếu thế trong xã hội do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần Do bị khuyết tật và nhận thức chưa đúng của xã hội nên họ thường phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía cộng đồng Nhiều người trong số họ thường bị chính những người thân trong gia đình, cộng đồng và xã hội gh lạnh NKT nặng dễ bị coi là “nghiệp chướng”, “đồ bỏ đi”; dẫn đến đa số NKT phải sống trong cảnh cô đơn và tự kỳ thị, cô lập với mọi người và thế giới xung quanh Họ cho rằng mình là người thừa, là gánh nặng cho gia đình và xã hội nên có tâm lý chán nản, thái độ bất cần vì có cố gắng nỗ lực cũng khó được ghi nhận Cản trở lớn nhất với NKT là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề của cuộc sống Do đó, để đảm bảo cuộc sống cho NKT thì phải bằng những chính sách phù hợp trong đó có chính sách về giáo dục, chính những chính sách này sẽ tạo cho NKT cơ hội để hòa nhập cộng đồng, thuận lợi trong việc học tập, tiếp thu kiến thức, đảm bảo cuộc sống và hơn cả là giải phóng sự ức chế về mặt tâm lý cho họ

Tuy nhiên điều này không phải là luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều NKT nghị lực sống, nỗ lực hòa nhập và phát triển đặc biệt cao Trên thực tế có những NKT đã đạt được những thành tích vượt trội so với những người lành lặn trên nhiều lĩnh vực như âm nhạc, nghệ thuật, văn chương

1.2 Vai trò của pháp luật giáo dục đối với người khuyết tật

Pháp luật giáo dục đảm bảo rằng người khuyết tật có tiếng nói trong cộng đồng của họ, tăng quyền cho họ để họ có thể thể hiện các nhu cầu và đóng góp ý kiến vào quá trình phát triển của địa phương Đảm bảo cho họ quyền bình đ ng như những người bình thường khác mà không bị phân biệt đối xử Tạo ra các thay đổi nhận thức tích cực trong cộng đồng về khả năng đóng góp cho cộng đồng của người khuyết tật, góp phần tạo nên một xã hội không rào cản và hòa nhập hoàn toàn cho người khuyết tật

Trang 19

Pháp luât giáo dục góp phần nâng cao ý thức về bản thân của người khuyết tật có được những tri thức, kiến thức, sự hiểu biết về tự nhiên, về xã hội và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội Giúp cho NKT có được những kiến thức cơ bản và nó sẽ trở thành nền tảng cần thiết và quan trọng để họ có thể tham gia học nghề và tìm kiếm việc làm Có nhiều NKT vận động nhưng đã say mê tìm tòi và học tập, nhờ những kiến thức tích lũy được mà họ có thể tìm kiếm việc làm và tự nuôi sống bản thân mình, không cần

sự hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội Góp phần cho việc huy động về lao động, sống có

ý nghĩa để phát triển kinh tế đất nước, bình ổn xã hội

Pháp luật giáo dục giáo dục giúp NKT tái hòa nhập vào cộng đồng Trong môi

trường học tập, NKT sẽ có điều kiện để giao tiếp với thầy cô cũng như bạn bè và những người khác Đây môi trường tốt nhất và nhanh nhất để NKT phát triển nhận thức và trí tuệ của mình Để họ cảm thấy luôn được quan tâm, hòa đồng không bị phân biệt đối xử hay xa lánh

Pháp luật về giáo dục còn thể hiện trách nhiệm, thái độ của nhà nước để người

khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong lĩnh vực giáo dục thông qua các chính sách, chủ trương của nhà nước

1.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật giáo dục cho người khuyết tật

Pháp luật là tiền đề, là cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Hệ thống pháp luật về người khuyết tật là cơ sở pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo vệ và bảo đảm quyền tiếp cận đời sống xã hội của người khuyết tật

Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước cho thấy nếu như hệ thống pháp luật về lĩnh vực nào đó không hoàn chỉnh thì không thể có hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như hoạt động thực hiện pháp luật Trong những năm vừa qua, mặc dù Luật người khuyết tật tác động mạnh mẽ tới nhận thức của cả xã hội cũng như tác động tới đời sống của người khuyết tật song vì thiếu những quy phạm cụ thể mà việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội cũng như tiếp cận giao thông công cộng của người khuyết tật hết sức khó khăn

Xuất phát từ vị trí, vai trò của người khuyết tật trong xã hội

Trước hết, cần nhận thức rằng NKT là một bộ phận không tách rời của toàn thể

xã hội, cộng đồng Phần lớn những khuyết tật gây ra không phải do lỗi của bản thân

Trang 20

NKT Ngay cả khi đó là lỗi trực tiếp của NKT thì khi phải chịu khuyết tật, bản thân họ cũng đã là những người gặp rủi ro, bất hạnh Ngoài ra, không ít NKT bị khuyết tật do chính những hy sinh cống hiến của họ đối với đất nước Đồng thời, những đóng góp hiện tại và tiềm năng có giá trị mà NKT cống hiến cho sự thịnh vượng và đa dạng của cộng đồng là những thành quả đáng được ghi nhận Những khó khăn và những rào cản trong cuộc sống không làm họ nản chí mà lại thôi thúc họ quyết tâm hơn vượt qua hoàn cảnh để tham gia hòa nhập vào xã hội, có rất nhiều tấm gương sáng của NKT vươn lên trong cuộc sống nói chung và trong học tập nói riêng Không thể không nhắc tới Louis Braille, tuy là người khiếm thị nhưng ông đã sáng tạo ra hệ thống chữ nổi Braille, được mệnh danh là người thắp sáng thế giới bóng đêm; tấm gương nỗ lực của thầy Nguyễn Ngọc Ký dùng chân viết lên số phận

Xuất phát từ yêu cầu thể chế hoá quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước đối với người khuyết tật

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, NKT luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội chăm sóc và giúp đỡ Trong thời gian qua, giáo dục và đào tạo tiếp tục được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư cho phát triển Ngay từ khi mới giành được độc lập, Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến quyền được tiếp cận với giáo dục của nhân dân Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đảng đề ra năm 1991 xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu Quan điểm này

được thể chế hóa trong Điều 39 Hiến pháp năm 2013: “Giáo ục và đào tạo là quốc

sách hàng đầu Đây là cơ sở tư tưởng cho việc hiện thực hóa quyền được tiếp cận với

giáo dục của nhân dân trong thời kỳ mới

Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980 và 1992 đều kh ng định NKT là công dân, thành viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân, được chung hưởng thành quả xã hội Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X quy định và Hiến pháp 2013 :

“Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn h và học nghề phù hợp (Điều 61) Như vậy, chế độ giáo dục đối với NKT nhằm hiện thực hoá đường

lối, chính sách của Đảng, tạo điều kiện và cơ hội cho NKT được phát triển một cách toàn diện

Trang 21

Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo về nhận thức, giáo dục của người khuyết tật

Giáo dục không chỉ là vấn đề lớn của NKT mà nó còn là vấn đề chung của toàn xã hội Quan điểm nhìn nhận là nếu NKT được học tập, trang bị kiến thức, kĩ năng thì sẽ nâng cao cơ hội hòa nhập cộng đồng, nâng cao nhận thức của bản thân, thay đổi nhận thức của xã hội, trang bị những điều kiện cần thiết để đảm bảo cuộc sống ổn định, điều

đó không chỉ có ý nghĩa về đời sống vật chất và tinh thần của họ, mà còn góp phần giảm bớt gánh nặng cho xã hội

Nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối

với người khuyết tật Hiến pháp quy định: "Người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi

không nơi nương tự được Nhà nước và xã hội giúp đỡ" và "Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn h và học nghề phù hợp" Đồng thời

kh ng định mọi thành viên, bao gồm cả người khuyết tật đều được nhà nước bảo đảm quyền công dân như nhau và đều được hưởng các thành quả chung của sự phát triển xã hội Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục nhấn mạnh: "Thực hiện các chính sách bảo trợ tr em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật" và "tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật

1.4 Nội dung pháp luật giáo dục cho người khuyết tật

1.4.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật giáo dục đối với người khuyết tật

Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trong giáo dục của người khuyết tật

Giáo dục đóng vai trò quyết định đối với người khuyết tật Giáo dục là con đường giúp họ phát triển tối đa khả năng cũng như tiềm năng cá nhân, để từ đó họ được sống với chân giá trị của mình và có ích cho xã hội Quyền được giáo dục phải được dựa trên cơ sở bình đ ng cơ hội, không phân biệt đối xử thông qua giáo dục hòa nhập thân thiện ở các cấp học, trình độ đào tạo và học tập suốt đời Do đó, người khuyết tật cũng có nhu cầu học tập để có kiến thức như những người bình thường khác Nhưng vì

bị khiếm khuyết nên việc học của họ trở nên khó khăn hơn người bình thường và các khiếm khuyết này rất đa dạng cho nên như cầu học tập của mỗi người là khác nhau Do

đó cần tạo điều kiện cho người khuyết tật thực hiện quyền học tập của mình, không mang tính chất bất bình đ ng và phân biệt đối xử Cụ thể theo quy định của pháp luật người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định về độ tuổi của giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh, được miễn giảm một số môn học;

Trang 22

được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo và các khoản đóng góp khác…bên cạnh đó người khuyết tật còn được cung cấp các phương tiện tài liệu trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng bảng chữ nổi Braille theo tiêu chuẩn quốc gia (Điều 27 Luật người khuyết tật)

Nguyên tắc hỗ trợ và tạo điều kiện cần thiết để người khuyết tật có thể tham gia học tập

Đây là nguyên tắc chi phối chế độ giáo dục đối với NKT là nguyên tắc để NKT

có thể tham gia học tập NKT cũng mang tư cách công dân bình đ ng như mọi người khác Vì vậy, giáo dục nói chung và học tập nói riêng cũng là một quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của NKT Trong khi đó, bản thân những NKT luôn gặp phải rất nhiều khó khăn trong cuộc sống và học tập Nắm rõ được điều này, pháp luật nước ta đã có những

hỗ trợ, chính sách để bù đắp những thiệt thòi, những khóa khăn của họ, tạo điều kiện cần thiết cho họ được tham gia học tập.

Đối với NKT, theo Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về bình thường hóa

các cơ hội cho NKT, trách nhiệm của các quốc gia là phải “thừ nhận nguyên tắc ảo

đảm các cơ hội ình đẳng trong giáo ục ti u học, trung học và đại học cho trẻ em,

th nh niên, người ớn khuyết tật trong những hoàn cảnh và điều kiện hội nhập Các quốc gi cần đảm ảm giáo ục cho NKT à một ộ phận hợp thành trong hệ thống giáo ục Việt Nam là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, đồng thời đáp ứng

nhu cầu học tập của NKT, Nhà nước ta đã kh ng định rằng học tập là một trong các quyền và nghĩa vụ của công dân Do đó, công dân có quyền được học tập đồng thời cũng có trách nhiệm phải học tập NKT cũng là công dân nên họ cũng có quyền được học tập và cũng có nghĩa vụ phải học tập Hơn nữa, Nhà nước ta lại chủ trương thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành (Điều 10 Luật giáo dục) nên đương nhiên NKT cũng sẽ được tiếp cận với cơ hội học tập Học tập

là quyền của công dân nhưng vì NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận

cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng nên việc học tập gặp nhiều khó khăn Do đó, cơ hội học tập đối với NKT thường ít hơn so với những người bình thường khác Chính vì vậy, cần phải có sự hỗ trợ và tạo điều kiện cần thiết để NKT có thể tham gia học tập và thực hiện được quyền học tập của mình Sự hỗ trợ này, không phải chỉ đơn thuần là sự

hỗ trợ của những người thân, gia đình NKT mà còn cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước, của xã hội, của cộng đồng Nhà nước và gia đình không chỉ hỗ trợ về tinh thần

Trang 23

cho NKT mà còn cần phải có những hỗ trợ về vật chất cho họ (như miễn, giảm học phí…) để họ có thể tham gia học tập Bên cạnh đó, bản thân NKT cũng cần phải có sự

cố g ng, nỗ lực, có nghị lực để vượt lên trên mọi NKT để tham gia học tập Có như vậy, NKT mới có thể thực hiện được quyền học tập của mình

Nguyên tắc đề cao và khuyến khích giáo dục hòa nhập cộng đồng

Hòa nhập cộng đồng là nguyên tắc hết sức quan trọng trong giáo dục đối với NKT Bản thân NKT khi thấy mình bị khuyết tật thường có xu hướng xa lánh cộng đồng bởi tâm lý tự ti mặc cảm Còn cộng đồng xã hội có thể do nhận thức chưa đầy đủ

và thiếu hiểu biết nên cũng có thái độ phân biệt, kỳ thị đối với NKT Họ xa lánh NKT, coi NKT chỉ là đối tượng cần bảo trợ, trợ giúp Chính vì vậy, để xóa bỏ rào cản giữa những NKT và người không khuyết tật cần phải thực hiện nguyên tắc hòa nhập cộng đồng Thực hiện việc hòa nhập cộng đồng trong giáo dục sẽ không chỉ tạo môi trường giúp NKT và người không khuyết tật hiểu biết nhau hơn mà còn giúp NKT phát triển nhận thức nhanh hơn Do đó, các phương thức giáo dục NKT cần phải hướng tới nguyên tắc này Cần phải tạo điều kiện tối đa để NKT hòa nhập vào cộng đồng theo chủ chương coi giáo dục hòa nhập là phương thức chủ yếu đối với người khuyết tật, phương thức giáo dục chuyên biệt chỉ nên áp dụng đối với những trường hợp đặc biệt, không thể áp dụng phương thức giáo dục hòa nhập

Giáo dục giành cho NKT cần luôn quan tâm và đề cao nguyên tắc này để tạo điều kiện tốt nhất cho NKT hòa nhập với xã hội Thực hiện công tác giáo dục cho NKT theo hai nguyên tắc cơ bản trên sẽ đem lại những hiệu quả tích cực trong giáo dục đối với NKT, giúp họ phát triển nhận thức, tri thức và hòa nhập nhanh chóng với cộng đồng

và xã hội

1.4.2 Phương thức giáo dục người khuyết tật

Giáo dục người khuyết tật được hiểu là một loại giáo dục đặc biệt vì nó giáo dục học sinh theo một cách thức "đặc biệt" khác với các phương pháp giảng dạy thông thường Một chương trình giáo dục đặc biệt sẽ được xây dựng hoặc điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của mỗi người khuyết tật Các giáo viên giáo dục đặc biệt sẽ cung cấp những dịch vụ có tính kết nối, liên tục

để các học sinh có nhu cầu đặc biệt được tiếp nhận những dịch vụ đó ở các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu của chúng

Trang 24

Ở phần lớn các nước trên thế giới, giáo viên giáo dục đặc biệt luôn tìm mọi cách

để điều chỉnh phương pháp và môi trường giảng dạy sao cho số lượng người khuyết tật được phục vụ trong môi trường giảng dạy tốt nhất đạt mức tối đa Người khuyết tật có thể yêu cầu được trợ giúp để có thể tiếp cận với những môn học quan trọng, được đến trường hoặc được đáp ứng những nhu cầu của bản thân Ví dụ, nếu một người khuyết tật đã được chẩn đoán là không viết được bằng tay thì người đó sẽ sử dụng các hình thức học tập thay thế như: sử dụng máy tính hoặc trả lời bằng miệng; nếu người khuyết tật bị quá tăng động, giảm tập trung khi học trong lớp đông người, thì người đó sẽ được chuyển sang một lớp học khác nhỏ hơn

Trên thế giới cũng như tại VN có rất nhiều phương thức giáo dục khác nhau dành cho người khuyết tật như giáo dục hoà nhập, giáo dục bán hoà nhập, giáo dục chuyên biệt, giáo dục tại nhà…Tuy nhiên theo Điều 28 Luật người khuyết tật các phương thức cơ bản nhất chủ yếu vẫn bao gồm giáo dục hòa nhập, giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật

Các dạng tật của NKT hết sức đa dạng, có khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ và các khuyết tật khác Chính vì vậy, cần phải xác định các phương thức giáo dục đối với từng đối tượng NKT cho phù hợp Việc xác định phương thức giáo dục phù hợp cho NKT sẽ không chỉ giúp cho NKT thực hiện được quyền học tập của mình mà còn giúp cho việc học tập đạt được hiệu quả

Cần nhấn mạnh thêm về ba phương thức được áp dụng trong giáo dục đối với NKT, đó là phương thức giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt và giáo dục bán hòa nhập, trong đó giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chung NKT với người không khuyết tật trong cơ sở giáo dục Giáo dục hòa nhập bắt đầu ở Việt Nam từ năm 1990 do Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục đặc biệt thuộc Viện khoa học Giáo dục Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo thực hiện Giáo dục hòa nhập thúc đẩy ý tưởng rằng với các phương pháp giáo dục tốt và có sự hỗ trợ của cộng đồng, tất cả các tr em đều được hưởng lợi từ việc học chung trong một lớp học bình thường Đây được xem là phương pháp hiệu quả để tạo ra cộng đồng, trường học và xã hội không phân biệt đối xử Vì vậy, Nhà nước khuyến khích NKT học tập theo phương thức này

Trang 25

Phương thức giáo dục hòa nhập thường được áp dụng đối với NKT có khả năng học tập được cùng với người không khuyết tật Điều này mang lại cho NKT cơ hội gia nhập xu hướng chính của cuộc sống bằng việc hướng họ đến việc lĩnh hội những kinh nghiệm từ những bạn bè bình thường đồng trang lứa, đồng thời cũng đem đến cho người bình thường có hội học tập và phát triển thông qua việc học hỏi kinh nghiệm từ những mặt mạnh và yếu của những bạn bè khuyết tật

Riêng giáo dục bán hòa nhập là phương thức giáo dục kết hợp giữa giáo dục hòa nhập và giáo dục chuyên biệt cho NKT trong cơ sở giáo dục Phương thức này cũng được thực hiện trong trường hợp chưa đủ điều kiện để NKT học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập

1.4.3 Chế độ giáo dục đối với người khuyết tật

Người khuyết tật cũng có nhu cầu học tập để có kiến thức như những người bình thường khác Nhưng vì bị khiếm khuyết nên việc học tập của họ khó khăn hơn so với những người bình thường Sự khiếm khuyết cũng như các dạng tật của người khuyết tật

cũng hết sức đa dạng Có người khiếm khuyết ( tật) về chân, tay; có người về mắt,

tai…Chính vì vậy, nhu cầu và khả năng học tập của mỗi người cũng rất khác nhau Do

đó, nhà nước cần tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu cầu

và khả năng của mình Chính vì vậy, cần phải có những quy định riêng dành cho người khuyết tật trong lĩnh vực giáo dục Những quy định riêng này chỉ có tính chất hỗ trợ và tạo điều kiện cho người khuyết tật thực hiện quyền học tập của mình chứ không mang tính chất bất bình đ ng giữa những người khuyết tật và người không khuyết tật hay mang tính chất phân biệt đối xử

Cụ thể, theo quy định của pháp luật, người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập Bên cạnh đó, người khuyết tật còn được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ

ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia (Điều

27 Luật người khuyết tật)

Trang 26

Theo quy định kể từ ngày 05/3/2014, Thông tư liên tịch số BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/2013 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính và

42/TTLT-BGDĐT-Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội quy định về chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật bắt đầu có hiệu lực Thông tư này áp dụng đối với người khuyết tật học tập trong các cơ sở giáo dục dạy người khuyết tật, các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục

hòa nhập, các tổ chức và cá nhân khác liên quan (không áp ụng đối với người khuyết

tật học tập tại các cơ sở ạy nghề) Một số nội dung chủ yếu của Thông tư là được ưu

tiên nhập học và tuyển sinh, được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định là 3 tuổi;

được hưởng chế độ tuyển th ng, xét tuyển th ng vào trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp Đối với tuyển sinh hệ đại học, cao đ ng, người khuyết tật đặc biệt nặng được xét tuyển th ng và được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng

khi đăng kí xét tuyển theo Quy chế tuyển sinh do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Được miễn, giảm một số nội dung trong chương trình giáo dục Được xét lên lớp và cấp

bằng tốt nghiệp Ngoài ra người khuyết tật còn được hưởng các Chính sách học bổng và

hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập

1.4.4 Trách nhiệm của một số chủ thể đối với giáo dục cho người khuyết tật

NKT là những người không may mắn phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Chính vì vậy, không chỉ gia đình NKT mà Nhà nước, cộng đồng và xã hội cũng cần phải có trách nhiệm đối với họ Trong lĩnh vực giáo dục đối với NKT, trách nhiệm này được đặt ra đối với Nhà nước; nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và nhân viên hỗ trợ giáo dục; các cơ sở giáo dục; trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập

Trách nhiệm nhà nước

Một trong những chủ thể có trách nhiệm chính trong giáo dục đào tạo đối với NKT đó chính là Nhà nước Với tư cách là chủ thể quản lý và với chức năng xã hội, Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành, Nhà nước phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo cho NKT thực hiện được quyền học tập của mình Cụ thể, Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho NKT nhằm giúp các đối tượng này phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, hòa nhập với cộng đồng Nhà nước có trách nhiệm ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho các trường, lớp dành cho NKT do

Trang 27

Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với các trường, lớp dành cho NKT do tổ

chức, cá nhân thành lập (Điều 63 Luật giáo dục)

Nhà nước là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc xóa bỏ rào cản đối với NKT bởi Nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật, Nhà nước là chủ thể

tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật đối với NKT và cũng là chủ thể có khả năng

xử lý vi phạm bằng các hình thức chế tài cụ thể đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với NKT Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chủ quản trong lĩnh vực giáo dục, là chủ thể đại diện cho Nhà nước để thực thi các quy định về NKT trong lĩnh vực giáo dục Bởi vậy đối với NKT, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm

cụ thể sau:

Thực hiện công tác quản lý nhà nước về giáo dục đối với NKT;

Quy định chuẩn quốc gia về ngôn ngữ ký hiệu và chữ nổi Braille cho NKT; Thực hiện quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với NKT và hệ thống các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập;

Đào tạo đội ngũ giáo viên, nhân viên hỗ trợ giáo dục, biên soạn các chương trình, tài liệu, giáo trình và sách giáo khoa giành cho đối tượng học là NKT; đồng thời cũng chỉ đạo nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các trang thiết bị dạy học phù hợp với từng dạng tật và mức độ khuyết tật của người học;

Trách nhiệm của nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và nhân viên hỗ trợ giáo dục

NKT là những người bị khiếm khuyết dưới dạng tật nên việc học tập của họ hết sức đặc thù Vì vậy, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục NKT ngoài những tiêu chuẩn chung của giáo viên còn cần phải có chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng riêng mới có thể tham gia giáo dục NKT Trách nhiệm của giáo viên, giảng viên, nhân viên trong giáo dục hòa nhập dành cho NKT là phải tôn trọng và thực hiện các quyền của NKT, có phẩm chất đạo đức tốt, yêu thương NKT, có năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ về giáo dục hòa nhập cho NKT Bên cạnh đó, nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên hỗ trợ phải thường xuyên tự bồi dưỡng, đổi mới phương pháp, học hỏi kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giáo dục cho NKT, tư vấn cho nhà trường và gia đình NKT trong việc hỗ trợ, can thiệp, xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục cho NKT (theo Điều

16 Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT)

Trách nhiệm về phía cơ sở giáo dục

Trang 28

Cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình công lâp, dân lập và tư thục (Điều 18 Nghị định số 75/2006/NĐ-CP) Cơ sở giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục NKT, NKT chỉ có thể thực hiện được quyền học tập của mình khi có các cơ sở giáo dục có điều kiện dạy và học phù hợp với khuyết tật của họ Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các cơ sở giáo dục ngại nhận NKT vào học Do

đó, để đảm bảo quyền lợi của NKT, pháp luật có quy định các cơ sở giáo dục cần phải

bảo đảm các điều kiện dạy và học phù hợp đối với người khuyết tật, không được từ chối tiếp nhận NKT nhập học trái với quy định của pháp luật (Điều 30 Luật người khuyết tật) Các cơ sở giáo dục bố trí các lớp học hòa nhập phù hợp với NKT, mỗi lớp học hòa nhập dành cho NKT ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông có nhiều nhất không quá

3 NKT cùng một loại tật, trường hợp đặc biệt hiệu trưởng có thể căn cứ và điều kiên thực tế của địa phương để quyết định nhận thêm NKT trong một lớp học, mỗi cơ sở giáo dục hòa nhập thành lập một tổ, nhóm chuyên môn giáo dục hòa nhập dành cho NKT gồm các cán bộ chuyên môn, kỹ thuật viên, giảng viên, giáo viên giáo dục hòa nhập cho NKT (Điều 7, 8 Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT)

Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục phải thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật, xây dựng kế hoạch hoạt động, đội ngũ giáo viên, giảng viên, nhân viên hỗ trợ cho NKT theo đơn vị lớp và khối lớp Đồng thời, phải phối hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức xã hội và các lực lượng cộng đồng để chăm sóc, giáo dục cho NKT; tạo điều kiện cho giáo viên, giảng viên, nhân viên tham gia học tập nâng cao chuyên môn về giáo dục cho NKT; các

cơ sở đào tạo sư phạm tuyển dụng NKT cùng một loại tật để đào tạo thành giảng viên chuyên trách giáo dục hòa nhập Cơ sở giáo dục có trách nhiệm ghi chép, bổ sung và lưu giữ đầy đủ, trung thực các thông tin về quá trình phát triển của người khuyết tật trong thời gian học tập tại cơ sở giáo dục

Trách nhiệm về phía trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, cụ thể

là Trung tâm Hỗ trợ phát triển Giáo dục hoà nhập cho Người khuyết tật TP.HCM

Để NKT có thể hòa nhập vào cộng đồng trong lĩnh vực giáo dục, ngoài giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở giáo dục còn cần phải có các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập là cơ sở cung cấp nội dung chương trình, thiết bị, tài liệu dạy và học, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ giáo dục, tổ chức giáo dục phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của người khuyết tật Đây một thành phần

Trang 29

mới trong việc dịch vụ người khuyết tật ở Việt Nam đã tiến hành hơn mười năm qua và

đã được qui định tại Điều 9 Quyết định 23/2006/QĐ-BGDĐT, Điều 31 Luật Người khuyết tật, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập có trách nhiệm

+ Phát hiện khuyết tật để tư vấn lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp;

+ Thực hiện biện pháp can thiệp sớm NKT tại cộng đồng để lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp;

+ Tư vấn tâm lý, sức khỏe, giáo dục, hướng nghiệp để lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp;

+ Hỗ trợ NKT tại gia đình, tại cơ sở giáo dục và cộng đồng;

+ Cung cấp nội dung chương trình, thiết bị, tài liệu dạy và học đặc thù phù hợp với từng dạng tật, mức độ khuyết tật

Mặc dù có đầy đủ các quy định về pháp luật nhưng thực tế cho thấy các Trung tâm hiện tại trên cả nước đã thực hiện các nhiệm vụ chưa đầy đủ, còn thiếu và yếu Song những kết quả của các hoạt động trên đã chứng tỏ tính hiệu quả, khả thi của mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Đây là mô hình thích hợp ở nước ta nhìn từ nhiều góc độ: quản lý nhà nước, nhu cầu giáo dục có chất lượng cho học sinh khuyết tật, đáp ứng được những yêu cầu của phụ huynh học sinh, tạo ra sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể và đặc biệt, đảm bào quyền học tập, học tập có chất lượng của hơn một triệu tr khuyết tật

Trách nhiệm về phía gia đình và bản thân người khuyết tật

Mặc dù bị khuyết tật NKT vẫn muốn có cuộc sống có ý nghĩa, nhận thức được tầm quan trọng của gia đình khuyết tật đối với chính NKT trong gia đình, Luật người khuyết tật đã quy định rất rõ về trách nhiệm của gia đình NKT là bảo vệ nuôi dưỡng chăm sóc; tạo điều kiện để NKT được chăm sóc sức khỏe và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; tôn trọng ý kiến của NKT trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân NKT và gia đình; thực hiện quy định về giáo dục, nâng cao

nhận thức của các thành viên trong gia đình về vấn đề khuyết tật, “có trách nhiệm tạo

điều kiện và cơ hội thuận lợi đ người khuyết tật được học tập và phát tri n theo khả năng của cá nhân” (Điều 28 Luật Người khuyết tật 2010), gia đình phối hợp với nhà

trường thực hiện chăm sóc, giáo dục cho NKT theo kế hoạch giáo dục cá nhân; tham gia các hoạt động ngoài nhà trường để giúp đỡ NKT hòa nhập với cộng đồng (Điều 27 Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT) Về phía bản thân mình, NKT có trách nhiệm

Trang 30

chăm lo rèn luyện, thực hiện nhiệm vụ học tập và rèn luyện theo chương trình và kế hoạch của cơ sở giáo dục, tham gia các hoạt động trong và ngoài nhà trường phù hợp với khả năng của mình; tôn trọng cán bộ, giáo viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và rèn luyện, thực hiện nội quy nhà trường; giữ gìn và bảo vệ tài sản chung; báo cáo tình hình sức khỏe, khả năng học tập cho người phụ trách lớp hoặc đề xuất nhu cầu hỗ trợ đặc biệt (Điều 18 Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT)

Trách nhiệm của tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật

Tổ chức của NKT là tổ chức xã hội được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật để đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên là NKT, tham gia xây dựng, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về NKT nói chung và giáo dục cho NKT nói riêng Tổ chức vì NKT là tổ chức xã hội được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động trợ giúp NKT, trong đó có trợ giúp về giáo dục

Các tổ chức của/vì NKT ở Việt Nam được thành lập muộn hơn so với hầu hết các tổ chức xã hội khác,với nhiều loại hình khác nhau như Hội người mù Việt Nam, Hội người khuyết tật cấp tỉnh/huyện, Hội bảo trợ người tàn tật và tr mồ côi Việt Nam; diễn đàn người khuyết tật… Các tổ chức này có trách nhiệm tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giáo dục cho NKT và hướng dẫn NKT thực hiện các quyền của mình, đồng thời tạo môi trường giáo dục thân thiện, tích cực thực hiện các hoạt động nhằm giúp đỡ NKT học văn hóa

1.5 Quy định pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia về giáo dục đối với người khuyết tật

1.5.1 Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật

Việt Nam ký kết tham gia Công ước 2006 ngày 22-11-2007 Tuy việc ký kết tham gia chưa làm phát sinh trách nhiệm thành viên Công ước nhưng qua đó cũng thể hiện được tinh thần, ý thức trách nhiệm của nhà nước VN đối với việc bảo đảm, thực thi quyền con người, quyền của NKT Điều đó cũng phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với NKT Sau đó, để VN trở thành thành viên chính thức của Công ước về quyền của NKT, Quốc hội khoá XIII đã phê

Trang 31

chuẩn Công ước tại kỳ họp thứ 8 vào ngày 28 tháng 11 năm 2014 Luật NKT 2010 ra đời thay thế cho Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998 là bằng chứng thể hiện bước chuyển lớn lao, khá căn bản về nhận thức và hành động thực tế của nhà nước và xã hội VN đối với vấn đề NKT Đó là chuyển từ cách thức tư duy nhìn nhận vấn đề NKT như việc nhân đạo, từ thiện sang tư duy về NKT trên cơ sở quyền con người

Công ước 2006 mở ra một hành lang pháp lí cùng với các văn bản pháp luật quốc tế khác, tạo cơ sở để bảo đảm NKT được tham gia vào hoạt động giáo dục Như

đã nói ở trên có thể thấy nội dung về quyền giáo dục được để cập trong công ước hầu hết đều mang tính định hướng và hướng dẫn, vì vậy mà không có từng nội dung cụ thể như trong Luật NKT 2010 của VN như quy định về tuyển sinh, nhập học như thế nào hoặc chương trình đào tạo ra sao Nhìn chung, Công ước 2006 ghi nhận NKT cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với các đặc điểm khiếm khuyết của mình, vì vậy đòi hỏi đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn giáo dục NKKT

Hầu hết các Công ước quốc tế chứa đựng những nguyên tắc mang tính chất hướng dẫn, định hướng cho các thành viên tham gia xem xét, ký kết, từ đó sẽ nội luật hóa trong pháp luật của nước mình Công ước 2006 cũng không ngoại lệ, cũng mang những quy định chung và các quy định mang tính định hướng giúp các thành viên tham gia có cơ sở để xây dựng mô hình thực hiện quyền giáo dục của NKT vào trong thực tế,

kể cả về mặt lý thuyết cơ sở Điều này được thể hiện qua lời mở đầu, các thừa nhận và quy định chung, đặc biệt quy định cụ thể tại Điều 24 của Công ước 2006, với những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Công ước 2006 thừa nhận và thực hiện quyền giáo dục của NKT có

định hướng rõ ràng Trước tiên, các quốc gia thừa nhận rằng mọi người đều có các quyền và tự do mà các công ước trước đó bảo vệ, không có sự phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào Từ trước khi Công ước 2006 ra đời, LHQ đã thông qua nhiều công ước khác làm cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền lợi của con người như: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và trong các Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo và hạ thấp nhân phẩm, Công ước về quyền tr em, và Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ

Trang 32

Bên cạnh đó, Công ước 2006 cũng lo ngại rằng, bất chấp nhiều cam kết và văn kiện nêu trên, NKT tiếp tục phải đối mặt với những rào cản đối với tư cách thành viên bình đ ng trong khi tham gia xã hội và những vi phạm quyền con người của họ ở khắp nơi trên thế giới Vì vậy mà thừa nhận rằng phân biệt đối xử chống lại bất kỳ người nào trên cơ sở sự khuyết tật là vi phạm phẩm giá vốn có của con người Mặt khác, NKT đang và sẽ đóng góp đáng kể cho phúc lợi chung và sự đa dạng của cộng đồng quanh

họ, và thừa nhận rằng NKT càng hưởng trọn vẹn các quyền và tự do cơ bản của con người và càng tham gia hoàn toàn vào xã hội thì họ càng có ý thức gắn bó, điều đó mang lại tiến bộ đáng kể cho sự phát triển xã hội về các mặt kinh tế, xã hội và nhân văn, cũng như cho công cuộc xoá đói giảm nghèo; và họ cũng có khả năng tự lực cánh sinh, trong đó có tự do lựa chọn, là hết sức quan trọng

Các quốc gia nỗ lực tăng cường việc NKT được hưởng trọn vẹn các quyền và tự

do cơ bản của con người, trong các trrường hợp NKT phải đối mặt với những điều kiện khó khăn khi bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức hoặc dưới những hình thức nghiêm trọng, trên cơ sở chủng tộc, màu da, sắc tộc, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc, bản xứ hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân, độ tuổi tác hoặc địa vị khác Ngoài ra nhấn mạnh rằng đa số NKT sống trong nghèo khó, do vậy thừa nhận rằng hết sức cần thiết phải giải quyết tác động tiêu cực của nghèo đói đối với tình trạng của NKT trên nguyên tắc hòa bình và an ninh trên cơ sở tôn trọng mục đích và các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương LHQ và các văn bản khác

Bên cạnh đó Công ước cũng đưa ra các định hướng nhằm thực hiện quyền giáo dục của NKT có hiệu quả Các quốc gia thành viên phải bảo đảm hệ thống giáo dục ở mọi cấp và học tập suốt đời cho NKT cùng với người không khuyết tật trên cơ sở bình

đ ng về cơ hội, sự giáo dục theo định hướng: phát triển trọn vẹn năng lực tiềm tàng của con người, nhận thức về nhân cách và phẩm giá, củng cố sự tôn trọng quyền con người, các tự do cơ bản và tính đa dạng của loài người; phát triển trọn vẹn tiềm năng về tính cách, tài năng, sáng tạo, cũng như những năng lực thể chất và tinh thần của NKT; tạo điều kiện cho NKT tham gia hiệu quả vào xã hội tự do

Thứ hai, các quốc gia bảo đảm tạo điều kiện thực hiện quyền giáo dục của

NKT trên thực tế: NKT không bị loại khỏi hệ thống giáo dục phổ thông trên cơ sở sự khuyết tật, và tr em khuyết tật không bị loại khỏi giáo dục tiểu học bắt buộc, hoặc giáo dục trung học, trên cơ sở sự khuyết tật; NKT có thể tiếp cận giáo dục tiểu học và trung

Trang 33

học cơ sở có chất lượng tốt và miễn phí trên cơ sở bình đ ng với những người khác trong cùng cộng đồng mà họ sinh sống; tạo điều kiện hợp lý cho NKT trên cơ sở nhu cầu cá nhân; NKT được nhận sự trợ giúp cần thiết trong hệ thống giáo dục phổ thông để được giáo dục hiệu quả; cung cấp các biện pháp trợ giúp cá biệt hóa có hiệu quả, trong môi trường thể hiện sự phát triển xã hội và khoa học kỹ thuật cao nhất, phù hợp với mục đích hoà nhập trọn vẹn

Ngoài ra, để bảo đảm biến quyền này thành hiện thực, các quốc gia thành viên phải tiến hành những biện pháp thích hợp để tuyển dụng giáo viên, trong đó có giáo viên khuyết tật, có trình độ về ngôn ngữ ký hiệu và/hoặc chữ Braille, đào tạo chuyên gia và nhân viên ở mọi cấp giáo dục Sự đào tạo này phải bao gồm nâng cao nhận thức

về NKT và sử dụng các cách thức, phương tiện và dạng giao tiếp tăng cường hoặc thay thế, kỹ thuật và cơ sở vật chất giáo dục để hỗ trợ NKT

Mặt khác, các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng NKT có thể tiếp cận giáo dục phổ thông cấp ba, dạy nghề, bổ túc và học tập suốt đời mà không có sự phân biệt nào và trên cơ sở bình đ ng với những người khác

Thứ ba, các biện pháp thực hiện quyền giáo dục của NKT Các quốc gia thành

viên tạo điều kiện cho NKT học tập những kỹ năng phát triển đời sống và xã hội để tạo thuận lợi cho họ tham gia giáo dục một cách trọn vẹn và bình đ ng, với tư cách thành viên của cộng đồng, trong đó có:

Tạo thuận lợi cho việc học chữ Braille, chữ viết thay thế, các cách thức, phương tiện và dạng giao tiếp hoặc định hướng tăng cường hoặc thay thế, kỹ năng di chuyển, và khuyến khích hỗ trợ đồng đ ng và hỗ trợ của chuyên gia;

Tạo thuận lợi cho việc học ngôn ngữ ký hiệu và khuyến khích phát triển bản sắc ngôn ngữ của cộng đồng người khiếm thính;

Bảo đảm giáo dục người khiếm thị, khiếm thính hoặc vừa khiếm thính vừa khiếm thị bằng những ngôn ngữ, cách thức và phương tiện giao tiếp thích hợp nhất cho người đó, và trong những môi trường thể hiện sự phát triển xã hội và khoa học kỹ thuật cao nhất

Ngoài ra, Công ước 2006 cũng chú trọng quan tâm đến các quyền của các nhóm đối tượng đặc thù là phụ nữ khuyết tật và tr em khuyết tật, vì phụ nữ và tr em khuyết tật thường dễ bị bạo hành, thương tổn hoặc lạm dụng, bị đối xử vô trách nhiệm hoặc bất cẩn, ngược đãi hay bóc lột Đặc biệt tr em khuyết tật cần được hưởng đầy đủ

Trang 34

các quyền và tự do cơ bản của con người một cách bình đ ng với các tr em khác, và nhắc lại các nghĩa vụ liên quan đến việc này của các quốc gia thành viên Công ước về Quyền tr em

Chính vì vậy mà quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp bảo đảm cho

họ được hưởng trọn vẹn và bình đ ng các quyền và tự do cơ bản của con người Ngoài

ra, quốc gia thành viên tiến hành các biện pháp thích hợp để bảo đảm cho phụ nữ có được sự phát triển đầy đủ, sự tiến bộ tối đa và quyền năng hoàn toàn, nhằm mục đích bảo đảm cho họ thực hiện và thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của con người

Đặc biệt đối với tr em khuyết tật thì lợi ích tốt nhất của tr phải được đặt lên hàng đầu Các quốc gia thành viên bảo đảm rằng tr em khuyết tật có quyền bày tỏ ý kiến một cách tự do về mọi vấn đề ảnh hưởng tới các em, ý kiến của tr em phải được cân nhắc thích đáng phù hợp với độ tuổi và sự trưởng thành của các em, trên cơ sở bình

đ ng với các tr em khác, bảo đảm cung cấp cho các em sự trợ giúp phù hợp với lứa tuổi và với tình trạng khuyết tật để các em thực hiện quyền đó

1.5.2 Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật giáo dục cho

người khuyết tật ở Nhật Bản

Đạo luật cơ bản về người khuyết tật Nhật Bản năm 1970 (sử đổi lần cuối vào

tháng 06/2004) đã quy định về giáo dục đối với NKT tại mục 14 phần II trong đó quy

định về trách nhiệm của Chính phủ và chính quyền địa phương trong việc để NKT được hưởng một nền giáo dục phù hợp với độ tuổi, khả năng và mức độ khuyết tật của họ Luật này không quy định cụ thể về các hình thức giáo dục, chính sách khuyến khích giáo dục đối với NKT, trách nhiệm cụ thể ở từng cấp học như pháp luật Trung Hoa mà chỉ quy định trách nhiệm chung có tác dụng định hướng cho hoạt động của Chính phủ

và chính quyền địa phương trong giáo dục đối với NKT Theo đó, Chính phủ và chính

quyền địa phương phải tiến hành các biện pháp cần thiết để cải thiện và đa dạng nội dung và phương pháp giáo dục để giúp NKT có thể được hưởng nền giáo dục phù hợp với độ tuổi, khả năng của họ, và mức độ khuyết tật; đồng thời phải đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và trang bị cơ sở vật chất cho các trường học cho giáo dục của NKT phải tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh khuyết tật và học sinh không khuyết tật thông qua việc tích cực triển khai trao đổi và hợp tác nghiên cứu

Trang 35

1.5.3 Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện pháp luật giáo dục về người

khuyết tật của Malaisia

Luật về người tàn tật ban hành năm 2002 đã dành riêng phần 2 để quy định về giáo dục với những quy định rất chi tiết trong đó nhấn mạnh rằng mọi tr em tàn tật dù

ở cấp độ nào cũng đều được hưởng sự giáo dục miễn phí trong một môi trường phù hợp

cho đến khi đủ 18 tuổi, và giáo dục cho người tàn tật nên được lồng ghép như là một

phần của giáo dục quốc gia Luật quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng

trong việc ban hành chính sách, chương trình giảng dạy linh hoạt, phù hợp, cung cấp

các phương tiện giảng dạy có chất lượng, đào tạo và hỗ trợ cho các giáo viên, đồng thời chuận bị một chương trình giáo dục toàn diện trong đó có quy định về việc cung cấp miễn phí sách và trang thiết bị, cấp học bổng cho NKT Luật cũng quy định phương thức giáo dục đặc biệt và giáo dục hòa nhập trong đó giáo dục hòa nhập là chính

Luật của Malayxia đã quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết về các chương trình học, phương pháp giảng dạy và các dịch vụ hỗ trợ đối với từng dạng khuyết tật ở từng cấp học, cụ thể: đối với người khiếm thị thì nên chú trọng đến hướng dẫn đọc và viết chữ nổi, xác định phương hướng và sự di chuyển, các kiến thức cơ bản về máy tính với phần mềm đọc màn hình…; đối với người khiếm thính nên nhấn mạnh vào phát triển kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp, đọc bài nói, luyện khả năng nghe và sử dụng nhịp nhàng tất

cả các kỹ năng giao tiếp, các giác quan; đối với những NKT vận động nên được giáo dục, học tập như những người bình thường khác tại các trường bình thường; đối với người thiểu năng trí tuệ, nên nhấn mạnh vào dạy các kỹ năng tự chăm sóc bản thân, hòa nhập xã hội, hướng nghiệp, dạy nghề và các kỹ năng sinh hoạt hàng ngày khác; đối với những người có vấn đề về hành vi như người bị bệnh tâm thần, người không có khả năng học tập, và những người bị đa tật, giáo trình nên bao gồm các hoạt động đặc biệt

và các kỹ thuật hướng dẫn làm bình thường hóa các hành vi cư xử, các kỹ năng học thuật về kỹ thuật và chức năng nhằm đưa những người này trở lại hòa nhập xã hội

1.5.4 Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật giáo dục về

người khuyết tật của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Pháp luật của cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật năm

2008 đã dành chương III quy định về giáo dục đối với NKT từ điều 21 đến điều 29 với những quy định khá chi tiết và cụ thể về chế độ giáo dục đối với NKT trong đó quy

Trang 36

định về trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, trường học và gia đình đối với giáo dục đối với NKT, các chính sách khuyến khích về giáo dục đối với NKT như miễn, giảm học phí đối với học sinh khuyết tật, phụ cấp đối với các giáo viên…; các các tổ chức giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học phổ thông, có trách nhiệm tiếp nhận và giáo dục NKT khi họ có đủ điều kiện tiếp nhận do nhà nước yêu cầu và không được từ chối

vì khuyết tật của họ

Có thể nói, pháp luật về chế độ giáo dục cho NKT của Trung Quốc là tương đối đầy đủ, các quy định khá chặt chẽ góp phần giải quyết những thách thức đang được đặt

ra cho Trung Quốc trong vấn đề giáo dục đối với NKT

1.5.5 Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật giáo dục về

người khuyết tật ở Mỹ

Theo định nghĩa của Đạo luật ADA này, một cá nhân có khuyết tật là người bị suy yếu về thể xác hoặc tâm thần làm hạn chế đáng kể một hay nhiều hoạt động quan trọng trong đời sống

Về chống phân biệt đối xử: ADA định nghĩa phân biệt đối xử để phù hợp với từng mục đích cụ thể, bao gồm giáo dục, giao thông và việc làm ADA không có một định nghĩa áp dụng cho tất cả các trường hợp hay tình huống khác nhau

Về chính sách ưu tiên: đạo luật này đưa ra khái niệm “khó khăn đặc

cách Khó khăn đặc cách sẽ cho phép miễn trừ việc tuân thủ một số dịch vụ và

các toà nhà đã tồn tại và sẽ gây ra khó khăn về mặt tài chính nếu như tuân thủ các quy định Tuy nhiên, Chính phủ cần có một cơ chế giám sát đánh giá nhằm ngăn ngừa việc lạm dụng “khó khăn đặc cách” bởi các tổ chức hay cá nhân

Về giáo dục: đạo luật ADA của Mỹ quy định tr em khuyết tật độ tuổi từ 3 đến

21 sẽ được học miễn phí Đạo luật ADA của Mỹ quy định việc sử dụng các trang thiết

bị trợ giúp học tập và các dịch vụ để tạo điều kiện tốt cho tr em khuyết tật được học tập Các quốc gia cần phải dạy học sinh khuyết tật theo hình thức đáp ứng ôn ngữ và nhu cầu giao tiếp của tr khuyết tật Ngoài ra tr khuyết tật được học ở những trường ít nghiêm ngặt hơn Điều đó có nghĩa tr khuyết tật được hoà nhập hoàn toàn vào hệ thống giáo dục, kể cả trường công và trường tư, với những tr không khuyết tật Tuy nhiên, nếu là tr có khuyết tật nặng và không thể tham gia đầy đủ vào các lớp học bình

Trang 37

thường, thì nhà nước cần tổ chức cho các em học ở các lớp học chuyên biệt để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của tr

Về giáo dục: Luật cần quy định chương trình giáo dục chuyên biệt cho người khuyết tật, miễn giảm học phí và một số môn mà người khuyết tật không đủ điều kiện

để học tập, cho phép họ được học tập chung với những người bình thường khác Luật cũng cần đề cập đến chương trình giáo dục hoà nhập cho tr em khuyết tật

KẾT LUẬT

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối đầy đủ, cụ thể về chế độ giáo dục đối với NKT, cơ bản đã thể chế hóa được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NKT, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan

có thẩm quyền, tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia tích cực vào việc chăm lo, trợ giúp cho NKT, tạo điều kiện để NKT thực hiện tốt hơn quyền được học tập của mình

như mọi công dân khác trong xã hội Các quy định của pháp luật Việt Nam về cơ bản là

không mâu thuẫn và phù hợp với các nguyên tắc và quy định của Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật, có có sự tương đồng với pháp luật về NKT của nhiều nước trong việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện các quyền của NKT Pháp luật đã quan tâm điều chỉnh mọi lĩnh vực trong đời sống của NKT trong đó có lĩnh vực giáo dục Qua những lần xây dựng, sửa đổi và bổ sung, phạm vi quyền của NKT ngày càng rộng hơn Nhờ vậy, những năm qua, đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của NKT trong xã hội được cải thiện một bước Đặc biệt với việc ban hành Luật người khuyết tật vào năm 2010, Việt Nam đã tiến một bước đầy ý nghĩa trong công cuộc bảo vệ quyền của NKT nói chung và quyền học tập của NKT nói riêng

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIÁO DỤC CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Thực trạng pháp luật giáo dục đối với người khuyết tật

Thuận lợi lớn nhất là dân tộc VN vốn có truyền thống nhân ái, thương yêu đùm bọc, trợ giúp, nâng đỡ người khuyết tật Đảng, nhà nước VN luôn quan tâm chăm lo phát triển các quyền con người nói chung, trong đó có quyền của người khuyết tật Hệ thống pháp luật về người khuyết tật ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, cơ bản đã thể chế hoá được các chủ trương, chính sách của Đảng đối với người khuyết tật và có

sự tương đồng với Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật Trong các quyền của người khuyết tật, quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí đã được kh ng định trong các văn bản pháp luật

Hiến pháp mới đặt cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo đảm và phát triển các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền giáo dục của người khuyết tật Với tư cách là thành viên Liên Hiệp Quốc, thành viên Hội đồng nhân quyền thế giới, VN cam kết mạnh mẽ việc bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền của NKT Công tác chăm sóc, hỗ trợ NKT vươn lên hoà nhập cuộc sống cộng đồng trong thời gian qua ở VN đã thu được nhiều kết quả khả quan, cuộc sống của nhiều NKT đã được cải thiện… Tất cả những yếu tố đó tạo thành điều kiện thuận lợi căn bản cho việc phê chuẩn và triển khai thực thi nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước

Dựa vào điều kiện kinh tế – xã hội của VN hiện nay, bộc lộ nhiều nguyên nhân làm cho việc thực hiện pháp luật giáo dục đặc biệt là trong lĩnh vực dạy nghề của NKT còn gặp nhiều khó khăn Nhìn chung nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp chính quyền về dạy nghề và tạo việc cho NKT còn chưa đầy đủ; hệ thống dạy nghề vừa yếu, vừa thiếu, chưa đủ khả năng đáp ứng công tác dạy nghề cho đối tượng Thêm nữa, nội dung chương trình, ngành nghề và hình thức đào tạo cũng chưa hợp lý, kết cấu quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình dành riêng cho NKT Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực kỹ thuật, sư phạm Chưa có số liệu thống kê đánh giá, phân loại số NKT theo mức độ, dạng tật, theo khả năng lao động để giúp cho công tác dạy nghề phù hợp với

Trang 39

khả năng học nghề, khả năng lao động, yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai Các ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với thị trường lao động, chủ yếu đào tạo ngắn hạn, ở trình độ bậc thấp

Từ năm học 2010 – 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tập huấn triển khai đại trà trên toàn quốc Ở Tp.HCM cũng được tổ chức triển khai tập huấn về kiến thức,

kỹ năng giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật đến các đơn vị trường học và giáo viên đứng lớp Qua 5 năm thực hiện nhận thấy: Với việc học sinh khuyết tật huy động đến trường học tập đã giúp cho các em bớt đi tâm lý mặc cảm, tạo được mối giao tiếp rộng rãi với cộng đồng Thực trạng giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ở ta hiện nay đối với bậc trung học chỉ tập trung giúp đỡ một số học sinh có hiện tượng khuyết tật nặng

về khiếm thị (mù), tổ chức giúp các em dùng chữ Braille để ghi chép và làm bài Nhưng khó khăn lớn nhất với đối tượng này là giáo viên bậc trung học không biết chữ Braille, nên khi học sinh làm bài xong (ở những nơi nào không có máy tính hỗ trợ phiên chữ Braille ra chữ Quốc ngữ), giáo viên bộ môn phải sử dụng giấy bút để nghe học sinh mù đọc bài làm của mình, giáo viên ghi chép lại để chấm Đối với những em bị khuyết tật

nặng về vận động ( iệt t y, iệt chân), những trường có tầng lầu, nhà trường đã tạo điều

kiện thuận lợi cho học sinh khuyết tật vào lớp - hầu hết các trường đều xếp những lớp

có học sinh khuyết tật nặng về vận động học ở tầng trệt Đối với học sinh khiếm thính

nặng (câm điếc) cũng gặp rất nhiều khó khăn, vì thầy cô chưa nắm được các thao tác kỹ

năng về ký hiệu để giúp các em nhận biết Đối với học sinh khuyết tật về trí tuệ cũng chưa được khảo sát như test IQ, nên kế hoạch giúp đỡ còn gặp lúng túng

Nhìn chung, các loại khuyết tật khác như khiếm thính (điếc các mức độ), khiếm thị (các oại cận, viễn, oạn), khuyết tật trí tuệ, khuyết tật ngôn ngữ, hội chứng down…

hầu như các đơn vị còn bỏ ngỏ, chưa xây dựng được kế hoạch tổ chức khảo sát, phân loại trên cơ sở khoa học để từ đó có các biện pháp giúp đỡ học sinh hòa nhập

Đến nay, các giáo viên trợ giúp học sinh hòa nhập thực hiện bằng tấm lòng, tình cảm, trách nhiệm, chưa có đơn vị nào căn cứ chế độ chính sách để chi hỗ trợ cho giáo viên đứng lớp dạy hòa nhập học sinh khuyết tật Trong thực tế thì chế độ chính sách đã được ghi rõ trong Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật và Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/2013 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính quy

Trang 40

định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật, đề nghị các sở, ngành có liên quan xây dựng và ban hành chính sách cụ thể cho học sinh khuyết tật và giáo viên dạy hòa nhập học sinh khuyết tật Đây là việc mà các sở ban ngành có liên quan cần phối hợp thực hiện để việc giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật có hiệu quả hơn, thể hiện tấm lòng nhân ái trong sáng đối với những thanh thiếu niên ch ng may gặp phải những bất hạnh thiệt thòi trong cuộc sống bớt đi mặc cảm

Một trong những phương thức giáo dục hiệu quả nhất vẫn là giáo dục hòa nhập

là một tư tưởng giáo dục nhân văn, phù hợp và hiệu quả cho mọi người khuyết tật, trong đó có tr em khuyết tật Giáo dục hòa nhập đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của người khuyết tật bằng các giảm thiểu các rào cản trong môi trường học tập Mục tiêu chung của giáo dục hoà nhập là xây dựng một môi trường giáo dục thân thiện, khả năng tiếp cận cao để moị tr được hưởng quyền học tập và được đối sử bình đ ng nhằm phát huy tối đa khả năng của mỗi người khuyết tật và hòa nhập xã hội

Trong những năm gần đây giáo dục hoà nhập ngày càng được quan tâm và xác định là hình thức giáo dục cơ bản đáp ứng nhu cầu giáo dục tr khuyết tật ở Việt Nam Giáo dục hoà nhập ở nước ta đã được triển khai hơn 20 năm và đã thu được những kết quả bước đầu như: huy động được càng nhiều tr em khuyết tật ra lớp, bồi dưỡng tập huấn năng lực cho đội nghũ cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục người khuyết tật Đặc biệt các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn giáo dục hoà nhập đã thu được nhiều kết quả

có ý nghĩa khoa học Bộ GD&ĐT đã có những định hướng và xây dựng Kế hoạch chiến lược giáo dục tr khuyết tật Việt Nam giai đoạn 2005-2015, tuy nhiên trong triển khai giáo dục hoà nhập nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều khó khăn, bất cập về: hệ thống chính sách GDHN, phương thức tổ chức, năng lực cán bộ quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên dạy hòa nhập, thiếu hệ thống hỗ trợ trong giáo dục hoà nhập …Giáo dục hòa nhập

tr khuyết tật đã được quan tâm thực hiện ở tất cả các bậc học cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông

Chính sách chế độ hỗ trợ người khuyết tật ban hành trong những năm qua đã tạo khung pháp lý về chăm sóc người khuyết tật, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng từ Trung ương đến cơ sở, cũng như tạo môi trường thuận lợi cho người khuyết tật tiếp cận học nghề, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản Nhờ vậy những năm qua đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã hội được cải thiện rõ rệt

Ngày đăng: 24/03/2018, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w